Những Quan Điểm Khác Nhau Trong Đạo Phật Vào Thời Ấn Độ Cổ Xưa

23/10/20143:21 CH(Xem: 2458)
Những Quan Điểm Khác Nhau Trong Đạo Phật Vào Thời Ấn Độ Cổ Xưa
NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU
TRONG ĐẠO PHẬT VÀO THỜI
ẤN ĐỘ CỔ XƯA
Người dịch: Vương Thị Minh Tâm
Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn
Nguyên tác:
DISSENT AND PROTEST
IN THE ANCIENT INDIAN BUDDHISM
Tác giả: Đ.Đ –TS. Thích Nghiêm Quang

blankMục lục
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1: LỜI DẪN
Chương 2: LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT VÀ NGƯỜI BIỆT GIÁO
I. Quan điểm chung
II. Cuộc đời Đức Phật trong tạng kinh Pali
Thành lập Tăng già
Tăng già, nhà nước, và hàng cư sĩ
III. Đề Bà Đạt Đa, kẻ biệt giáo đầu tiên
– Quan hệ của Đức PhậtĐề Bà Đạt Đa
Chân dung Đề Bà Đạt Đa trong tạng kinh Pali
Chân dung Đề Bà Đạt Đa trong truyền thuyết
Đề Bà Đạt Đanăng lực siêu nhiên
Đề Bà Đạt Đa, nguyên nhân của sự ly giáo
Nghiên cứu để tìm ra chân dung thực của Đề Bà Đạt Đa
Chương 3: SỰ BẤT ĐỒNG VÀ PHẢN KHÁNG TRONG HỘI ĐỒNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO ĐỆ NHẤT
I. Quan điểm chung
II. Quan điểm của các học giả phương Tây về Giáo hội đệ nhất
Quan điểm phê phán của Finot và Obermiller về quan điểm của Oldenberg
Thẩm định quan điểm của Finot
Nghiên cứu về giả thuyết của Oldenberg
Quan điểm của Poussin về Giáo hội đệ nhất
– Sự phê phán trong quan điểm của Poussin
III.Quan điểm truyền thống về Giáo hội đệ nhất
Sơ lược tiểu sử Tăng thống
Nguyên nhân tổ chức Giáo hội đệ nhất
– Sự loại bỏ ngài A Nan
– Những lỗi nhỏ của ngài A Nan
Sự kiện Kiều Phạm Ba Đề
IV.Biên bản lưu của Giáo hội
Tứ binh luật kinh
Ngũ giáo luật kinh
– Kinh luật tạng
V. Những người biệt giáo
Chương 4: SỰ BẤT ĐỒNG VÀ PHẢN KHÁNG TRONG HỘI ĐỒNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO ĐỆ NHỊ
I. Quan điểm chung
II. Lịch sử Giáo hội Phật giáo đệ nhị
III. 10 điều luật trong kinh Pali và Tây Tạng
– Tiểu sự luật
IV.Quan sát về 10 điều luật
V. Vài điều khó hiểu trong Giáo hội – động cơ đứng sau Giáo hội
Nghi vấn về ban lãnh đạo Giáo hộiquan điểm của các học giả về tính lịch sử
VI. Đại Thiên – người phản kháng
Chương 5: KIỂM TRA LẠI CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ SỰ TIẾP CẬN VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ LY GIÁO TRONG THỜI CỔ ĐẠI ẤN ĐỘ
I. Quan điểm chung
II. Phân tích việc thành lập kinh Pali và Đại thừa
– Cấu trúc của Kinh Pali
– Sự thành lập Kinh Đại thừa
Phật kinhĐại thừa kinh
III.Phương pháp được đề nghị để tiếp cận người phản kháng trong đạo Phật thời Ấn Độ cổ đại
Chương 6: KẾT LUẬN
Lời cám ơn chân thành của
tôi xin gởi đến:
- Giáo sư K.T.S Sarao
- Thượng tọa TS. Satyapala, Trưởng khoa Phật Học, Đại học Delhi.
- HT. Thích Từ Mẫn, vị ân sư.
- Cố TT. Thích Minh Lãm.
- Tăng chúng Việt Nam.
- Các huynh đệ, và tất cả những người bạn, người thân yêu mà tôi không thể kể hết,
đã giúp tôi trên con đường tu học.
Nguyện tất cả chúng ta đều trọn thành Phật đạo.
Delhi, tháng Ba năm 2004,
Tỳ Kheo Thích Nghiêm Quang
– Trần Đông Nhật.

Lời giới thiệu

Trong bất cứ một cộng đồng nào đều có nhiều tầng lớp khác nhau, nhiều chủng loại con người khác nhau sống cùng trong đó, thì chắc chắn luôn có sự hiện diện của nhiều mặt tư tưởng khác nhau, phát sinh nhiều vấn đề liên quan.

Vì vậy để gìn giữ một cuộc sống yên bình cho một cộng đồng, con người phải có nhiều phương pháp để hòa giải mọi sự khác biệt. Xuyên suốt trong lịch sử của loài người, đã có rất nhiều lời đề xuất để giải quyết, thậm chí phải sử dụng đến phương sách bạo động, chẳng hạn như chiến tranh, xung đôt nhằm giải quyết sự khác biệt.

Trong tập sách này, Đại Đức Tiến sĩ Thích Nghiêm Quang đã mạnh dạn tìm đến và nghiên cứu một phương cáchđạo Phật đã sử dụng trong lịch sử sinh thành để giải quyết những vấn đề như vậy. Đây là một công trình nghiên cứu có thể là đầu tiên về những sự chống đối và phản kháng, đặc biệt trong cộng đồng Phật giáo.

Tôi cho rằng sự nghiên cứu này cho ra một giá trị, đồng thời cũng là tiếng nói gợi mở về một thách thức lớn lao cho thế giới tiến bộ của chúng ta ngày nay từ những chân lýĐức Phậtđạo Phật đã tạo ra cùng lịch sử con người. Mong sao: Bình yên cho mỗi người và cho mọi ngườihạnh phúcđạo lý của tất cả chúng ta.


Với những vấn đề nêu trên, tôi thành thật muốn chia sẻ những suy xét cẩn trọng, và những điều thú vị trong tác phẩm này đến với bạn đọc.

Sài Gòn, tháng 10 năm 2008,
Giáo Sư – TS. LÊ MẠNH THÁT
Phó Viện Trưởng, Học viện Phật giáo Việt Nam.

Lời nói đầu

Đạo Phật là một tôn giáo toàn cầu, sống động đầy tính khoa học mà chưa có một tôn giáo nào có thể vượt qua. Một tôn giáo không mang tính riêng lẻ khi đem lại lợi ích cho toàn nhân loại.

Sau khi giác ngộ, đức Phật đã đi khắp Ấn Độ trong 45 năm để thuyết giảng giáo pháp mà Người đạt được. Lời dạy của Người được lưu giữ trong Tam Tạng Kinh. Đức Phật đã mang hòa bình đến cho Ấn Độ, một xã hội đầy chia rẽ, mâu thuẫn và nhiều đẳng cấp trong thời đại phong kiến ở thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Lời dạy của Người là chánh Pháp luôn mang tính thực tế, xuyên suốt từ đó cho đến ngày nay. Từ nơi chánh Pháp, chúng ta có thể áp dụng để từ bỏ mọi điều xấu xa trong các lãnh vực xã hội, kinh tế, đạo đức, v.v…

Do tính lý thuyết trong sáng đó, đạo Phật trở thành một trường phái thanh cao, hài hòa, tượng trưng cho sự bình đẳng, dân chủ, và tự do ngôn luận. Lời Phật dạy không chỉ là triết lý căn bản mà còn là sự chỉ dẫn thực tiễn, khẳng định tầm quan trọng và hữu ích cho đời sống hàng ngày của chúng ta. Chỉ những người nào sống hết lòng với kinh Phật sẽ cảm nhận sự sâu sắc đó. Phương pháp tu tập của Người là quá trình tự quan sátnghiên cứu. Triết lý của Người được miêu tả như một lời nhắc bảo: “Hãy đến để thấy” và “hãy nhận biết bằng chính mình”. Và do vậy, triết lý này được xem nhưphương tiện giúp chúng ta đạt đến giác ngộ. Khi con người đã đạt đến mục đích tối thượng thì kinh Phật sẽ là một bè gỗ được bỏ lại phía sau.

Mục đích trình bày trong cuốn sách này là miêu tả những quan điểm khác nhau của sự phản kháng và chống đối trong đạo Phật ở thời cổ đại Ấn Độ. Giáo sư Sarao đã nói rằng: “Tách ra không có nghĩa là sa sút mà chính là phát triển”. Rõ ràngchủ đề này rất rộng lớn so với sự hạn chế trong một cuốn sách, vì vậy tôi đã cố gắng nghiên cứu để trình bày với bạn đọc theo một cách có thể nhất. Tư liệu đều thu thập từ kinh điển truyền thống và kể cả các công trình nghiên cứuthời đại ngày nay.

Đạo Phật được nhận định là một tôn giáo không mang tính riêng lẻ và xa cách xã hội. Chúng ta có thể nhìn thấy kinh điển Phật giáo đã phản ánh sự thành lập và phát triển Tăng chúng. Ngay từ buổi ban đầu, tu sĩ Phật giáo có khuynh hướng xa rời xã hội. Tuy nhiên Đức Phật phản đối khuynh hướng này. Trong quá trình thành lập Tăng Già, Đức Phật đã tính đến địa lý, văn hóa, ngôn ngữ và các tầng lớp theo từng địa phương của các Tăng sĩ. Ngay khi Giáo hội vừa được phát triển thì trong tổ chức của Tăng Già đã bắt đầu rối ren, và mất đi tư tưởng chính thống của một tổ chức cộng đồng lý tưởng. Luật Tăng thống và luật Ly giáo là một chứng cứ.

Trong đó, sự chống đối và phản kháng của Đề Bà Đạt Đa ở thời Đức Phậtnguyên nhân chia rẽ trong Giáo hội.

Sau đó là các luận điểm chính yếu sẽ được phân tích qua từng chi tiết trong cuốn sách này, cũng như các giới hạn của những nghiên cứu trước đây liên quan đến Giáo hội như là một biểu tượng của sự ly giáo hoặc sự chia rẽ trong Phật giáo.

Tôi cho rằng sự chống đối và phản kháng trong đạo Phật thời xa xưa là một biểu tượng dân chủ trong Tăng chúng. Quả là hợp lý để nói rằng đạo Phật là một tôn giáo có tổ chức đầu tiên đặt nền tảng trên nguyên tắc bình đẳng trong thời Ấn Độ cổ xưa.

Delhi, tháng Ba năm 2004,
Tỳ Kheo Thích Nghiêm Quang Kính bút.
pdf_download_2
XEM CHI TIẾT NỘI DUNG: Những Quan Điểm Khác Nhau Trong Đạo Phật PDF

Tạo bài viết
11/01/2013(Xem: 12037)
17/02/2016(Xem: 6473)
Ngày 9/12/2018 vừa qua Câu lạc bộ Nhân Sinh đã tổ chức Khóa tu “Tuổi trẻ có gì vui” tại Tu viện Khánh An 2, xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai với sự tham gia của hơn 250 bạn trẻ. Khóa tu diễn ra dưới sự hướng dẫn của sư Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng các vị Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.