12. Phát Tâm Bồ Đề

06/01/201412:00 SA(Xem: 5724)
12. Phát Tâm Bồ Đề

Đức Đạt Lai Lạt Ma
TU TẬP TRÍ TUỆ SIÊU VIỆT
theo con đường bồ tát của Tịch Thiên
Phát tâm bồ đề (bài 12)
Bản dịch Việt: Đặng Hữu Phúc
Bản Anh: Practicing Wisdom. The Perfection of Shantideva’s Bodhisattva’s Way.
Translated and edited by Geshe Thupten Jinpa. Wisdom, 2005.

[Tu tập trí tuệ]

Các lợi lạc do tôn quý người khác

Ngài Tịch Thiên tuyên bố rằng tất cả hạnh phúchoan hỉ đều là các hệ quả của tôn quý an lạc của các hữu tình khác, trong khi tất cả các vấn đề, các bi kịch, và các tai họa đều là các hệ quả của các thái độ tự tôn quý bản thân. Ngài hỏi, chúng ta cần nói gì nói về điều này khi thấy các tính đức của Đức Phật, người tôn quý an lạc của các hữu tình khác, và vận mệnh của chúng ta trong trạng thái hiện nay? Chúng ta dễ dàng thấy điều này bằng cách so sánh những khiếm khuyết của các hữu tình bình thường với các tính đức giác ngộtrí tuệ của chư Phật. Trên căn bản của so sánh này, chúng ta có khả năng thấy các lợi lạc và các phúc đức của nguyện vọng tôn quý an sinh của các hữu tình khác và những sai lầm và các bất lợi của các thái độ tự tôn quý bản thân và tự kỉ.

Ngài Tịch Thiên hỏi, vì ta và các người khác đều cùng có ham muốn bẩm sinh hạnh phúc và thắng được đau khổ, tại sao chúng ta tìm kiếm lợi ích của chính chúng ta bằng sự hi sinh của các người khác -- ngay cả đến mức độ hoàn toàn không biết đến chúng? Tôi nghĩ ngài nói rất đúng. Giống như bạn, tất cả các hữu tình khác đều như nhau trong ước muốn hạnh phúc và thắng được đau khổ. Mỗi cá nhân chúng ta đều không hài lòng với bất kì mức độ hoan hỉhạnh phúc, và điều này đúng cho tất cả các hữu tình. Cũng như tôi, là một cá nhân, có quyền tự nhiên để hoàn thành lòng mong cầu căn bản này, tất cả các hữu tình khác cũng thế. Công nhận tính bình đẳng căn bản này là một điều quan trọng chính yếu.

Vậy sự khác biệt căn bản giữa ta và các người khác là gì? Mỗi cá nhân quan trọng và quý báu như thế nào không thành vấn đề, chúng ta chỉ nói về sự an lạc của một cá nhân. Đau khổ của họ có thể kịch liệt như thế nào không thành vấn đề, ở đây chúng ta vẫn quan tâm tới quyền lợi của một cá nhân đơn biệt. Trái lại, khi chúng ta nói về các hữu tình khác, từ ngữ khác này quy chỉ tới các hữu tình vô biên vô số. Trong trường hợp của khác này, ngay cả khi chúng ta đang giải quyết với các mức độ nhẹ nhàng của đau khổ, khi được tập hợp, chúng ta đang nói về sự đau khổ của một số lượng vô tận của các hữu tình. Thế nên, từ quan điểm về số lượng, sự an lạc của các hữu tình khác trở thành quan trọng hơn an lạc của bạn rất nhiều.

Ngay cả từ quan điểm quyền lợi tự thân của chính chúng ta, nếu các người khác hạnh phúchài lòng, kết quả chúng ta có thể hạnh phúc. Trên mặt khác, nếu các người khác ở trong trạng thái đau khổ kéo dài mãi, kết quả chúng ta cũng sẽ chịu đựng đau khổ từ số phận chung. Quyền lợi của các người khác thì được liên kết mật thiết với quyền lợi bản thân của chính chúng ta; điều này là đúng thực. Hơn thế nữa, căn cứ trên trải nghiệm cá nhân của chính chúng ta, chúng ta có thể quan sát rằng chúng ta càng nắm giữ quan niệm mạnh mẽ về ta -- tôn quý quyền lợi bản thân của chúng ta -- nhiều hơn thì các vấn đề tâm lícảm xúc của chính chúng ta càng lớn hơn.

Dĩ nhiên sự theo đuổi quyền lợi bản thân của chúng ta rất quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta cần một tiếp cận thực tiễn hơn, đó là, không lấy quyền lợi bản thân một các quá nghiêm trọng, nhưng tiêu dùng nhiều thời gian hơn nghĩ về an lạc của các hữu tình khác. Trong tâm cảnh vị thatrách nhiệm về các cảm thọan lạc của các hữu tình khác là, trong thực tế, một tiếp cận lành mạnh hơn trong sự theo đuổi các quyền lợi của chính chúng ta. Nếu chúng ta làm như thế, chúng ta sẽ thấy một thay đổi đáng chú ý. Chúng ta sẽ không còn dễ dàng bị các hoàn cảnh nho nhỏ làm cho nổi giận, nghĩ rằng mỗi mỗi sự vật ở trong rủi ro, và hành động dường như toàn thể hình ảnh, nhân cách, và hiện hữu của chúng ta bị đe dọa. Về một mặt khác, nếu chúng ta liên tục nghĩ về quyền lợi bản thân của chúng ta -- hoàn toàn không biết tới an lạc của các hữu tình khác -- kết quả ngay cả các hoàn cảnh vụn vặt có thể gây ra những cảm thọ sâu sắc về tổn thươngphiền nhiễu. Sự thật về điều này là một điều chúng ta có thể phán đoán từ trải nghiệm của chính chúng ta.

Về lâu dài, lưu xuất một tấm lòng tốt lành sẽ làm lợi ích cả cho chúng ta và các người khác. Trái lại tạo cơ hội phương tiện cho các tâm của chúng ta vẫn còn bị nô lệ bởi ích kỉ bản thân sẽ chỉ làm trường tồn các cảm thọ của chúng ta về bất mãn, thất vọng, và bất hạnh, cả trong phương diện tạm thời và cũng cả trong dài hạn. Chúng ta sẽ phí phạm cơ hội tuyệt vời này chúng ta hiện có -- sinh ra làm người, được trang bị với các khả năng thông minh có thể được sử dụng cho các mục đích tăng thượng. Thế nên thật là một điều quan trọng là có khả năng cân nhắc các hệ quả dài hạn và ngắn hạn. Cách tốt đẹp hơn là hãy làm cho hiện hữu làm người của chúng taý nghĩa hơn bằng cách thiền định trên tâm bồ đề -- nguyện vọng vị tha để đạt giác ngộlợi lạc tất cả các hữu tình.

Phát tâm bồ đề

Về phần tôi, tôi không thể tuyên bố đã thật chứng tâm bồ đề / tâm tỉnh biết (the awakening mind or bodhichitta). Tuy nhiên tôi có một lòng ngưỡng mộ sâu sắc tâm bồ đề. Tôi cảm thấy rằng sự ngưỡng mộ tâm bồ đề mà tôi có là sự giàu có của tôi và là một suối nguồn cho can đảm của tôi. Đây cũng là căn bản của hạnh phúc của tôi; nó có khả năng giúp tôi làm cho các người khác hạnh phúc, và nó là yếu tố làm cho tôi thấy hài lòngvui vẻ. Tôi dốc lòng tận tụy và cam kết với lí tưởng vị tha. Bất kể đau yếu hoặc khoẻ mạnh, càng già đi, hoặc ngay cả ở vào thời điểm chết, tôi sẽ vẫn tiếp tục cam kết với lí tưởng này. Tôi tin rất chắc chắn rằng tôi sẽ vẫn luôn luôn duy trì lòng ngưỡng mộ sâu sắc của tôi với với lí tưởng phát tâm bồ đề. Về phần bạn, các bạn của tôi, tôi cũng muốn kêu gọi các bạn cố gắng có khả năng an trú với tâm bồ đề. Hãy nỗ lực, nếu bạn có thể, lưu xuất một trạng thái vị thađại bi của tâm như thế.

Sự thật chứng hoạt sinh của tâm bồ đề đòi hỏi nhiều năm tu tập thiền định. Trong vài trường hợp, có thể cần đến các đại kiếp để có thật chứng này. Chỉ có một sự thông hiểu trí tuệ phân biệt về tâm bồ đề là gì, thì đó là một điều chưa đủ tốt. Có một cảm thọ trực giác, “Mong ước tất cả các hữu tình đạt trạng thái toàn giác” thì cũng không là đầy đủ. Những điều này không phải là một sự thật chứng tâm bồ đề. Nếu chỉ có như thế mà bạn vẫn xem là đủ tốt và đầy đủ, tôi nghĩ nó có thể khônggiá trị nhiều, ở đó có nhiều tu tập thâm mật về Pháp hay không? (Even so, I think it is worth of it, for what more profound practice of Dharma is there? || for what it’s worth: although it may not worth much; although it may not be true).

Như ngài Tịch Thiên khẳng định:

1:9. Khi tâm bồ đề sinh khởi, trong một tức thời một kẻ tả tơi bị trói buộc trong nhà tù của luân hồi thì được gọi là Con của đấng Thiện Thệtrở thành đáng tôn kính trong các thế giới của các vị trời và các con người.

1:10. Tâm bồ đề làm chuyển biến sắc tướng nhơ nhuốm này thành hình ảnh vô giá của viên ngọc của đấng Tối Thắng. Thế nên hãy giữ vững cam lộ diệu hảo, được gọi tên tâm bồ đề, nó tác dụng làm chuyển biến hoàn toàn.

Khi chúng ta nghĩ một cách hời hợt về tâm bồ đề, nó có thể hình như hoàn toàn đơn giản; ngay cả không thể được thấy tất cả những điều bó buộc của tâm bồ đề. Trái lại, các thiền định mật tông trên các mạn đà la và chư phật Thủ Hộ (deities) hình như huyền bí, và chúng ta có thể tìm thấy chúng thiết tha ấn tượng hơn (appeal). Tuy nhiên, khi chúng ta thực sự tham dự tu tập, tâm bồ đề thì không thể cạn kiệt. Trở thành tỉnh ngộ do biết thực tế (disillusioned) hoặc mất can đảm/ mất hi vọng [thấy xa xôi, khó đạt] (disheartened) là một kết quả của tu tập tâm bồ đề, thì không là một nguy hiểm, nhưng trái lại (whereas) trong các thiền định du già chư phật Thủ Hộ, tụng đọc các mantra, v,v…, có một nguy hiểm của trở thành tỉnh ngộ do biết thực tế, bởi vì chúng ta thường đi vào các tu tập như thế với lòng mong cầu hi vọng quá cao. Sau nhiều năm dài, chúng ta có thể nghĩ, “Mặc dù tôi đã thực hành thiền định du già chư phật Thủ Hộ và tụng đọc tất cả các mantra này, chẳng có một sự thay đổi đáng kể nào; tôi chẳng có bất kì các trải nghiệm huyền bí huyền diệu”. Loại tỉnh ngộ do biết thực tế này thì không có trong trường hợp tu tập tâm bồ đề.

Bởi vì sự thật chứng tâm bồ đề đòi hỏi một thời kì dài tu tập, một khi bạn có trải nghiệm chút ít, điều cần thiết tối quan yếu là bạn tuyên bố công khai sự đào luyện tâm bồ đề xuyên qua các cầu nguyện thệ nguyện (Since the realization of bodhichitta requires a long period of practice, once you have slight experience, it is vital that you affirm your cultivation of bodhichitta through aspirational prayers). Điều này cần được thực hiện với một vị đạo sư (guru) hoặc trong sự hiện diện của một biểu trưng của một vị phật. Một sự tu tập như thế có thể nâng cấp cao hơn khả năng của bạn về phát tâm bồ đề. Bằng cách thọ nhận bồ tát giới nguyện trong một nghi lễ đặc biệt, bạn tuyên bố công khai sự phát tâm bồ đề của bạn trong sự hiện diện của một vị thầy.

Phần thứ nhất của nghi lễ này là phát tâm bồ đề nguyện (generation of aspirational bodhichitta). Cái được thể hiện ở đây là bằng cách phát bản nguyện vị tha này để thành tựu trạng thái phật cho lợi lạc của tất cả các hữu tình, bạn nghiêm trang hứa (pledge) rằng bạn sẽ không từ bỏ nó hoặc để nó thoái hoá, không những chỉ trong đời sống này, nhưng cũng cả trong các đời sống tương lai. Vì là một cam kết, có những giới nhất định để được tuân theo. Phần thứ nhì là nghi lễ thọ lãnh các giới nguyện bồ tát (ceremony for taking bodhisattva vows). Điều này sẽ được thực hiện bởi một người đã được chuẩn bị cho các giới nguyện rồi bằng cách đã tham dự giai đoạn thứ nhất.

Đã tăng trưởng lòng nhiệt thành thực hiện các hạnh bồ tát, vậy thì bạn thọ nhận các giới nguyện bồ tát. Một khi bạn đã nhận giới nguyện bồ tát, bất kể bạn thích hoặc không, bất kể nó là lạc thú hoặc không, cái được đòi hỏi là một cam kết là sẽ giữ các giới nguyện quý báu như là chính đời sống của bạn. Để hình thành thệ nguyện đó, bạn phải có sự xác quyết vững chắc như một ngọn núi; bạn đang làm một thệ nguyện rằng từ giờ trở đi bạn sẽ tuân theo các giới nguyện của bồ tát và hướng dẫn đời sống bạn theo sự đào luyện bồ tát.

Dĩ nhiên một số độc giả không là các Phật tử đang tu tập, và ngay cả giữa các Phật tử đang tu tập, một số có thể không cảm thấy bị cam kết nhận các giới nguyện bồ tát, đặc biệt là phần thứ nhì [nghi lễ hiện hành không gồm trong sách này. Chú thích của bản Anh]. Nếu bạn cảm thấy lưỡng lự về khả năng tuân theo các giới nguyện bồ tát, kết quả tốt nhất bạn không nên làm thệ nguyện; bạn vẫn có thể phát tâm vị thamong ước tất cả các hữu tình có thể hạnh phúccầu nguyện rằng bạn có khả năng đạt toàn giác cho lợi ích của tất cả các hữu tình. Điều này sẽ là đủ; bạn sẽ đạt được phúc đức về phát tâm bồ đề, nhưng bạn không phải theo các giới nguyện. Và cũng, có it nguy hiểm hơn do vi phạm các giới nguyện. Thế nên, nếu bạn không nhận bất kì giới nguyện nào, bạn chỉ tăng trưởng tâm bồ đề nguyện. Bạn có thể là kẻ phán xét của chính bạn.

Nhiệt thành bởi trí tuệ, đại bi

Ngày nay trước hiện diện của Phật

Tôi phát tâm cầu đạt toàn giác

Cho lợi lạc tất cả hữu tình.

***

“Trong bao lâu hư không vẫn còn, trong bao lâu thế giới vẫn còn, tôi mong ước sống để trục xuất các sự khốn cùng của thế giới” (Tịch Thiên

_______________________

Chú thích

1. Bồ Đề Tâm (Phật Quang Đại Từ Điển. Thích Quảng Độ dịch. p.663, lược trích)

Phạm: bodhi-citta. Gọi đủ: A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm. Cũng gọi là Vô thượng chính chân đạo ý, Vô thượng bồ đề tâm, Vô thượng đạo tâm, Vô thượng đạo ý, Vô thượng tâm, Đạo tâm, Đạo ý, Đạo niệm, Giác ý. Tức là tâm cầu Bồ đề vô thượng (cầu thành Phật). Tâm bồ đềhạt giống sinh ra hết thảy chư Phật, là ruộng tốt nuôi lớn các pháp trong sạch. Nếu phát khởi tâm này mà tu hành tinh tiến, thì sẽ mau chóng được Bồ đề vô thượng. Cho nên biết tâm Bồ đề là chỗ bắt đầu của tất cả thệ nguyện chân chính, là gốc của Bồ đề, là chỗ dựa của đại biBồ tát học. Bồ tát Đại thừa trước hết cần phải phát tâm rộng lớn, gọi là phát tâm Bồ đề, phát tâm, phát ý; mới bắt đầu phát tâm, gọi là sơ phát tâm, tân phát ý. Người cầu sinh về Tịnh độ, cũng phải phát tâm Bồ đề.

Tâm Bồ đề nhờ vào nhiều duyên mà phát khởi.

Mật giáo chủ trương phát tâm là một trong năm lần chuyển biến của chữ A, và dựa vào ba thứ tâm bồ đề: Hạnh nguyện, Thắng nghĩa, Tam ma địa trong luận Bồ đề tâm mà lập bốn loại phát tâm:

1. Tín tâm, chỉ cho tâm đối với việc cầu Vô thượng bồ đề không một mảy may ngờ vực. Vì tâm này là nền tảng của muôn hạnh nên cũng gọi là Bạch tịnh tín tâm (lòng tin trắng sạch).

2. Đại bi tâm, sau khi phát Bạch tịnh tín tâm, lại lập bốn thệ nguyện rộng lớn, tâm này cũng gọi là Hạnh nguyện tâm, Hạnh nguyện bồ đề tâm.

3. Thắng nghĩa tâm, trong các giáo pháp, chọn lựa giáo pháp chân thực. Tâm này cũng gọi là Thâm bát nhã tâm, Thắng nghĩa bồ đề tâm.

4. Đại bồ đề tâm, ngay lúc quyết định bỏ phần kém, chọn phần hơn, thì chư Phật mười phương liền hiện ở trước mặt để chứng minh, các ma thấy thế sợ mà rút lui. Đại bồ đề tâm này cũng gọi Tam ma địa bồ đề tâm.

Tuy chia ra bốn tâm như trên, nhưng vốn là một thể, cho đến lúc thành quả Phật cũng không giây phút nào rời nhau. Được như thế là nhờ tự hành hoá tha, thế gian xuất thế gian tu tam mật của chư tôn mà ra, nên gọi là Hữu tướng bồ đề tâm. Nhưng vì xưa nay vốn có tướng tức không tướng, cũng như hư không lìa tất cả tướng, nên khế hợp với Vô tướng bồ đề tâm.

2. Phát Bồ đề tâm (Kinh Hoa Nghiêm)

Này thiện nam tử! Bậc Bồ-tát phát lòng Vô-thượng Bồ-đề là:

Khởi lòng đại-bi cứu độ tất cả chúng sinh.

Khởi lòng cúng dường chư Phật, cứu cánh thừa sự.

Khởi lòng khắp cầu chính pháp, tất cả không sẻn tiếc.

Khởi lòng thú hướng rộng lớn, cầu Nhất thiết trí.

Khởi lòng đại từ vô lượng, khắp nhiếp tất cả chúng sinh.

Khởi lòng không bỏ rơi các loài hữu tình, mặc áo giáp kiên thệ để cầu bát nhã ba-la-mật.

Khởi lòng không siểm dối, vì cầu được trí như thật.

Khởi lòng thật hành như lời nói, để tu đạo Bồ tát.

Khởi lòng không dối với chư Phật, vì gìn giữ thệ nguyện lớn của tất cả Như Lai.

Khởi lòng nguyện cầu Nhất thiết trí, cùng tận kiếp vị lai giáo hoá chúng sinh không dừng nghỉ.

Bồ tát dùng những công đức Bồ-đề tâm nhiều như số bụi nhỏ cuả cõi Phật như thế, nên được sinh vào nhà Như Lai.

Phổ Hiền Bồ tát bảo:

Thiện nam tử! Bồ tátđiều phục giáo hoá tất cả chúng sinh nên phát Bồ-đề tâm.

trừ diệt khổ-tụ cho tất cả chúng sinh, nên phát Bồ đề tâm.

Vì đem cho tất cả chúng sinh sự an vui đầy đủ, nên phát Bồ đề tâm

Vì dứt trừ sự ngu tối cho tất cả chúng sinh, nên phát Bồ-đề tâm.

Vì đem lại lại Phật trí cho tất cả chúng sinh, nên phát Bồ-đề tâm.

cung kính cúng dường tất cả chư Phật nên phát Bồ-đề tâm.

tùy thuận lời dạy Như Lai khiến chư Phật hoan hỉ, nên phát Bồ-đề tâm.

Vì muốn thấy sắc-thân tướng hảo của tất cả chư Phật, nên phát Bồ-đề tâm.

Vì muốn vào trí-tuệ rộng lớn của tất cả chư Phật, nên phát Bồ-đề tâm.

Vì muốn hiển hiện các đức: lực, vô-úy của chư Phật, nên phát Bồ-đề tâm.

3. Kinh Hoa Nghiêm. Trụ xứ của Bồ tát 

Lúc bấy giờ, Bồ tát Di Lặc thâu nhiếp thần lực, bước vào lầu các, khảy móng tay rồi bảo Thiện Tài đồng tử như vầy: “Này thiện nam tử, hãy đứng dậy! Pháp tánh vốn như thế, do sự tích tụ và tập hợp của các nhân duyên nên hiện ra tướng như thế, tự tánh vốn như thế, không tự thành tựu, như mộng, như huyễn, như ảnh tượng”.

Ngay khi ấy, Thiện Tài vừa nghe tiếng khảy móng tay liền dậy khỏi tam muộiDi Lặc tiếp tục: “Ông có thấy không, những thần thông biến hóa của Bồ tát, những lưu xuất năng lực của Bồ tát, sự quảng bá những nguyện và trí của Bồ tát, niềm hoan hỉ tịnh lạc của Bồ tát, những công hạnh của Bồ tát, vô số trang nghiêm cõi Phật, những thệ nguyện vô thượng của các Như lai, giải thoát bất khả tư nghị của Bồ tát, ông có thấy và theo dõi thông suốt những điều đó chăng?”.

Thiện tài nói: “Bạch thánh giả, dạ có, ấy là do thần lực gia hộ của thiện tri thức. Bạch thánh giả, vậy môn giải thoát này gọi là gì?”.

Di Lặc: “Môn giải thoát này gọi là Trang nghiêm tạng (vyuhagarbha) trong đó, chứa đựng, ghi nhớ, không hề quên trí tuệ về hết thảy ba nghìn thế giới (Nhập tam thế nhất thiết cảnh giới bất vong niệm trí trang nghiêm tạng). Thiện nam tử, trong môn giải thoát này lại có bất khả thuyết môn giải thoát, chỉ có Bồ tát nhất sinh mới có thể chứng đắc”.

Thiện Tài: “Bạch thánh giả, những sự trang nghiêm này rồi đi về đâu?”.

Di lặc: “Đi về chỗ đến”.

Thiện Tài: “Từ đâu đến?”. 

Di Lặc: “Từ thần lực trí tuệ của Bồ tát mà đến; nương thần lực trí tuệ của bồ tát mà trụ. Không có chỗ đi, cũng không có chỗ trụ, không có tích tập, không có tăng gia, không có thường trụ, không có sở trước, không có sở y trên mặt đất hay giữa hư không.

“Này thiện nam tử; như Long vương làm mưa lũ; mưa không từ thân tuôn ra, không từ tâm tuôn ra, không có sự tích tập nào trong nó, nhưng mưa tuôn ra từ niệm lực của Long vương - và mưa tuôn khắp cả thế gian. Nó không thể nghĩ bàn. 

“Này thiện nam tử, những sự trang nghiêm mà ông đã thấy cũng vậy. Không từ bên trong mà có, không từ bên ngoài mà có nhưng nó có trước mắt ông, có từ oai thần của Bồ tát, vì thiện căn mà ông đã thành tựu.

“Này thiện nam tử, như nhà huyễn thuật làm trò huyễn hóa, chúng không từ đâu đến, không đi về đâu, nhưng hiển hiện trước mắt mọi người bởi vì ma lực của chú thuật.

“Cũng vậy, này thiện nam tử, nhưng sự trang nghiêm mà ông đã thấy, chúng không từ đâu đến, không đi về đâu, không tụ tập nơi đâu; chúng hiển hiện là do Bồ tát muốn tập học trí như huyễn bất khả tư nghì, và do đại oai lực của những nguyện và trí của Bồ tát”.

Thiện Tài: “Bạch thánh giả, ngài từ đâu đến”.

Di Lặc: “Bồ tát không đến không đi, như thế mà đến; Bồ tát không bước, không dừng, như thế mà đến; không sống không chết, không ở không qua, không rời không dậy, không cầu không thủ, không nghiệp không báo; không sinh không diệt, không thường không đoạn, như thế mà đến.

“Này nữa, thiện nam tử, Bồ tát đến như vầy: đến từ chỗ đại bi, vì mong điều phục hết thảy chúng sinh khỏi những khổ não; đến từ chỗ tịnh giới, vì muốn thọ sinh vào những nơi tùy thích; đến từ chỗ đại nguyện phải viên mãn, vì năng lực của những thệ nguyện xa kia; đến từ chỗ thần thông? vì muốn hiện thân theo sở thích chúng sinh đến từ chỗ không dao động, vì không hề lãng xa gót Phật; đến từ chỗ không thủ xả vì đi hay đến không nhọc thân và tâm; đến từ chỗ trí tuệ phương tiện vì để tùy thuận hết thảy chúng sinh; đến từ chỗ thị hiện biến hóa, vì tất cả hóa hiện đều như ảnh, như tượng.

“Như thế đó, này thiện nam tử, nhưng ông hỏi ta từ đâu đến. Này thiện nam tử, ta đến từ sinh quán xứ Ma la đề (Maladi). Đến đó để giảng pháp cho thanh niên tên Cù ba la (Gopàlaka) và hết thảy mọi người nơi sinh quán của ta tùy theo căn cơ của họ. Và cũng để đưa cha mẹ, thân quyến, Bà la môn, và mọi người vào con đường của Đại thừa...”
(D.S. Suzuki. Thiền Luận, quyển Hạ . Bản dịch Tuệ Sỹ .Trang 207-210)

PHỤ BẢN

Bản dịch Việt căn cứ chính yếu vào bản dịch Sanskrit -English:

Santideva. A Guide to the Bodhisattva Way of Life. Translated from the Sanskrit and Tibetan by Vesna A. Wallace and B. Alan Wallace. Snow Lion, 1997

Và có tham khảo bản dịch Sanskrit - English , và bản dịch Việt sau đây:

Santideva. The Bodhicaryavatara. Translated by Kate Crosby and Andrew Skilton. Oxford University Press. 1995.

Tịch Thiên . Nhập Bồ tát hạnh. Thích nữ Trí Hải. Saigon 1999.

Tịch ThiênCon đường Bồ tát 

Chương 1, 2, 3, 4 - (Bản dịch Đặng Hữu Phúc)

Chương 1. LỢI LẠC CỦA TÂM BỒ ĐỀ

Kính Lễ Đức Phật

KÍNH LỄ ĐỨC PHẬT

1. Kính lễ chư Thiện Thệ (= chư Phật), những vị có pháp thân, cùng với chư Bồ tát con của chư Thiện Thệ, và tất cả hiền giả đáng tôn kính, tôi sẽ trình bày vắn tắt một hướng dẫn về giới hạnh của chư Bồ tát con của chư Thiện Thệ hoà hợp với các kinh điển.

2. Không một điều nào nơi đây đã không được nói đến trước đây, tôi cũng không có tài viết các tụng. Thế nên tôi không tưởng tượng tôi có thể làm lợi lạc cho các người khác, và tôi viết bản này chỉ là để luyện tâm tôi.

3. Nhờ làm việc này, năng lực tín tâm của tôi làm tăng đào luyện công đức. Hơn thế nữa, nếu có một ai khác, có tính khí giống như của tôi, khảo sát bản này, nó có thể có ý nghĩa.

4. Thuận duyên để tu tập (leisures) và các cung cấp do hoàn cảnh (endowment), đều khó mà nhận được, nay đã có được, và chúng tạo nên an sinh cho thế giới. Nếu bạn không quan tâm và nhận lấy cơ hội tốt lành này, làm cách nào cơ duyên này duyên hội trở lại?

5. Giống như ánh chớp chiếu sáng bóng tối của một đêm nhiều mây trong một sát na, cũng như thế, do năng lực của Phật, các tâm của người ta có cơ hội chớp nhoáng hướng về phúc đức.

6. Như vậy, công đức vẫn mãi mãi yếu đuối như thế, trong khi năng lực của tính xấu thì lớn lao và cực kì xấu xaNếu không có Tâm Bồ Đề tuyệt vời, công đức nào khác sẽ thắng được nó?

7. Chư Đại Thánh Chủ (The Lords of Sages) (= chư Phật) thiền quán qua nhiều đại kiếp đã thấy chỉ Tâm Bồ Đề là một chấp thuận hỗ trợ và tùy thuận (a blessing) mà từ đó hoan hỉ đã được tăng tiến dễ dàng và vô số vô lượng hữu tình được cứu độ

8. Những kẻ mong muốn thắng được những khốn khổ của hiện hữu thế gian, những kẻ ước muốn trục xuất những bất hạnh, nghịch cảnh của các hữu tình, và những kẻ khao khát (trong nỗi phiền muộn vì không có) (yearn) để trải nghiệm hằng hà sa số các niềm vui không bao giờ nên buông bỏ Tâm Bồ Đề.

9. Khi Tâm Bồ Đề sinh khởi, trong một tức thời một kẻ tả tơi bị trói buộc trong nhà tù của luân hồi thì được gọi là Con của đấng Thiện Thệtrở thành đáng tôn kính trong các thế giới của các vị trời và người.

10. Tâm Bồ Đề làm chuyển biến sắc tướng nhơ nhuốm này thành hình ảnh vô giá của viên ngọc của đấng Tối Thắng. Thế nên hãy giữ vững cam lộ diệu hảo, được gọi tên Tâm Bồ Đề, nó tác dụng làm chuyển biến hoàn toàn.

11. Những người dẫn đường duy nhất của thế giới (= chư Phật), các tâm của chư vị đều là bất khả tư nghị, đã khảo sát giá trị tuyệt vời của Tâm Bồ Đề. Bạn muốn thoát khỏi các trạng thái hiện hữu thế gian, hãy nắm giữ vững chắc viên ngọc Tâm Bồ Đề.

12. Cũng như một cây chuối héo úa sau khi cho ra quả của nó, mỗi công đức khác cũng khuyết tàn. Nhưng cây Tâm Bồ Đề sinh ra quả mãi mãi, không héo úa, và chỉ tăng thêm tươi tốt.

13. Nhờ có sự thủ hộ (protection; gìn giữ che chở) của Tâm Bồ Đề, như do nhờ thủ hộ của một người năng lực mạnh mẽ, ngay cả sau khi phạm vào các tính xấu đáng sợ hãi, bạn tức thời thắng được các sợ hãi lớn lao. Tại sao các hữu tình vô minh không tìm kiếm nương tựa trong Tâm Bồ Đề.

14. Giống như đại hoả tai vào thời điểm hủy diệt của vũ trụ, Tâm Bồ Đề đốt cháy và tiêu hủy các tính xấu lớn trong một sát na. Ngài đại trí Di Lặc đã dạy các lợi ích không thể tính đếm được của Tâm Bồ Đề cho Thiện Tài (Sudhana) [trong kinh Hoa Nghiêm].

15. Vắn tắt, Tâm Bồ Đề này được biết là có hai loại: Tâm Bồ Đề Nguyện và Tâm Bồ Đề Hạnh (thực hành tích tập phúc tuệ tiến tới Bồ Đề).

16. Cũng như bạn tri nhận sự khác biệt giữa một người khao khát du hành và một người du hành, thế nên người trí nhận ra sự khác biệt tương ứng giữa Tâm Bồ Đề Nguyện và Tâm Bồ Đề Hạnh.

17. Mặc dù kết quả của Tâm Bồ Đề Nguyện là vĩ đại trong luân hồi, nó vẫn không giống như trạng thái liên tục của phúc đức của Tâm Bồ Đề Hạnh.

18. Từ thời điểm bạn thọ nhận Tâm Bồ đề với thái độ không thể đảo ngược để giải thoát vô lượng các hữu tình,

19. Từ thời điểm đó, một dòng không gián đoạn của phúc đức, tương đương với bầu trời, sinh khởi liên tục ngay cả khi bạn đang ngủ hoặc bị tán loạn.

20. Chính Đức Như Lai giảng giảichứng minh lạc của Tâm Bồ đề trong kinh “Diệu Tí thưa hỏi” (Subahuprccha; Question of Subahu) vì lợi lạc cho các hữu tình có khuynh hướng Tiểu thừa để hướng họ về Đại Thừa.

21. Một cá nhâný định tốt suy nghĩ, “Tôi sẽ xoá bỏ các bệnh nhức đầu cho các hữu tình”, sản sinh vô lượng phúc đức.

22. Vậy nghĩ thế nào về một cá nhân mong muốn nhổ đi tất cả đau đớn không thể so sánh của mỗi hữu tìnhban cho chúng vô lượng phẩm tính tốt lành?

23. Ai có một người mẹ hoặc người cha có lòng vị tha như thế? Các vị trời, các vị thánh, hoặc các Tạo Chủ Phạm (Brahmas của đạo Hindu) sẽ có lòng vị tha như thế?

24. Nếu những hữu thể này chưa bao giờ có ước muốn đó cho chính lợi ích của họ dù ngay cả trong chiêm bao của họ, làm cách nào có khả hữu họ có ước muốn đó cho lợi lạc của các người khác?

25. Làm cách nào có thể xuất hiện trên đời viên ngọc chưa từng có và cao quý này, một kẻ có lòng mong muốn cho lợi lạc của các người khác, trong khi các người khác cũng không hề mong muốn cho chính lợi lạc của họ?

26. Làm cách nào bạn có thể đo lường phúc đức của viên ngọc của tâm, hạt giống của sự hoan hỉ của thế giới và là pháp cam lộ (= pháp vị thanh tịnh) cho sự đau khổ của thế giới?

27. Chỉ thuần có ý định vị thaphúc đức lớn hơn cúng dường chư Phật, vậy nỗ lực cho hạnh phúc trọn vẹn của tất cả các hữu tình thì phúc đức nhiều hơn như thế nào?

28. Những người ham muốn thoát khổ chạy nhanh tới thẳng đau khổ. Với chính ham muốn cho hạnh phúc, do ngu si vô trí chúng phá hủy hạnh phúc của chính chúng dường như nó là một kẻ thù.

29. Bồ tát thoả mãn tất cả những người đang đói khát mong hạnh phúc bằng những niềm vui hoan hỉ, và loại bỏ tất cả các sầu muộn của những người bị phiền não trong nhiều cách.

30. Bồ tát trục xuất ngu si vô trí. Ở nơi nào khác có một thánh giả như thế? Ở nơi nào khác có phúc đức như thế?

31. Ngay cả bạn đền đáp một hành động tốt lành, bạn cũng được khen ngợi chút ít, như thế có thể nói gì về một bồ tát có hành động tốt đẹp dù không được thỉnh cầu.

32. Thế giới vinh danh bạn là người công đức khi bạn tặng một món quà cho một số ít người, ngay cả nếu nó chỉ thuần là sự trao tặng chớp nhoáng và bôi bác (momentary and contemptuous donation) với các thức ăn đơn sơ và giúp no được nửa ngày.

33. Nghĩ gì về bạn khi bạn mãi mãi ban cho vô số hữu tình sự thoả mãn đầy đủ tất cả các khao khát mà họ không có, sự thoả mãn đầy đủ không cạn kiệt cho tới khi chấm dứt của các hữu thể vô biên như hư không?

34. Đức Phật đã tuyên bố, “Kẻ nào sinh tâm niệm nhơ nhuốm trong trái tim kẻ đó chống lại một ân nhân, Con của Đấng Tối Thắng, sẽ ở trong các địa ngục nhiều đại kiếp như số lượng tâm niệm nhơ nhuốm đã có”. 35. Nếu tâm của bạn có xu hướng tốt lành, bạn sẽ sản sinh kết quả lớn hơn. Ngay cả khi có một ác hạnh bạo lực lớn lao chống lại chư Bồ tát Con của chư Tối Thắng, công đức của chư Bồ tát sinh khởi tức thời.

36. Tôi kính lễ các thân của những người có viên ngọc qúy báu của tâm đã sinh khởi. Tôi về nương tựa những người là các mỏ của hoan hỉ, ban hạnh phúc tới ngay cả các kẻ làm hại mình.

________________

Chương 2. SÁM HỐI NGHIỆP TỘI

1. Để giữ gìn viên ngọc của tâm, tôi xin cúng dường tới chư Như Lai, tới viên ngọc không nhơ nhuốm của Pháp tối thắng, và tới chư Bồ tát con của chư Phật, những đại hải của các tính đức tuyệt hảo.

2. Có bao nhiêu hoa, quả, và cỏ thuốc, và có bao nhiêu viên ngọc trên thế giới, và nước trong mát,

3. Những núi ngọc, những miền đất rừng, những nơi chốn vui vẻ và tĩnh lặng, những cành leo tươi sáng trang điểm bằng các đoá hoa trang nhã, và các cây có các cành nặng chĩu quả ngọt,

4. Những hương thơm và những hương đốt, những cây thoả điều ước, những cây có ngọc, những hồ nước tô điểm với các hoa sen, những tiếng hót vui thích của các con ngỗng hoang trong thế giới của chư thiên và các cõi trời khác.

5. Những mùa màng do mọc hoang, những mùa màng do trồng trọt, và các thứ khác chúng trang điểm chư tôn đức, tất cả những thứ này đều là vô chủ và trải khắp hư không,

6. Tôi đem tới tâm và dâng tới đấng Tối Tôn của chư Thánh giả cùng với các Bồ tát con của đấng Tối Tôn. Nguyện những lễ vật đáng qúy này, chư vị đại từ bi, thương xót tôi, nhận các cúng phẩm này.

7. Tôi không có phúc đức, nên hoàn toàn nghèo khó. Tôi không có gì khác để dâng cúng các ngài. Thế nên, nguyện chư Thủ Hộ (Protectors), quan tâm tới an sinh của mọi người khác, chấp nhận cúng phẩm này, bởi năng lực của chính các ngài cho lợi lạc của tôi.

8. Tôi dâng toàn thể thân tâm tôi tới Chư Tối Thắng và chư Bồ tát con của chư Tối Thắng. Thưa chư Hữu Thể Vô Thượng, hãy chấp nhận tôi! Tôi cung kính tận tụy đem hết thân tâm phục vụ các hành hoá của chư vị.

9. Sống cách tuyệt sợ hãi về hiện hữu thế gian nhờ sự thủ hộ (=gìn giữ che chở) của chư vị, tôi sẽ phục vụ các hữu tình. Tôi sẽ hoàn toàn thắng vượt trên các nết xấu vô đạo đức trước đây của tôi, và từ nay cho tới tương lai tôi sẽ không tạo nghiệp tội nữa.

(Being free from fear of mundane existence due to your protection, I shall serve sentients beings; I shall completely transcend my earlier vices, and henceforth I shall no sin more)

10. Trong những phòng tắm hương thơm dịu dàng, có những cột trụ mĩ lệ sáng chói với các viên ngọc, những dù lọng lấp lánh với các viên ngọc trai, và nền bằng pha lê trong suốtlóng lánh,

11. Tôi tắm chư Như Lai và chư Bồ tát con của chư Như Lai với nhiều bình nạm các viên ngọc kì diệu và chứa hoa hương thơm trang nhã và nước, theo các bài hátâm nhạc từ nhạc cụ.

12. Tôi lau khô các thân của chư vị với các tấm vải ướp hương thơm, tinh khiết, êm ái; tiếp đến tôi dâng chư vị các y phục màu sắc mĩ lệ và hương thơm dịu dàng.

13. Tôi trang điểm Phổ Hiền, Di Lặc, Văn Thù, Quan Thế Âm và chư vị khác với các y phục cõi trời, mềm mại, mỏng nhẹ, và màu sắc và với các viên ngọc quý nhất.

14. Với hương thơm toả một ngàn triệu thế giới, tôi thoa thân thể của chư Đại Thánh Chủ đang bừng sáng với sự rực rỡ của vàng ròng tinh khiết.

15. Tôi cúng dường chư Đại Thánh Chủ quang vinh nhất với các cụm hoa hương thơm kì diệu và trang nhã -- các hoa mạn đà la (mandarava) , các hoa sen màu lam, và các hoa khác -- và với các tràng hoa kết hợp tuyệt đẹp.

16. Tôi dâng hương chư vị với những vầng mây hân hoan của hương đốt có hương thơm toả khắp và cay. Tôi cúng dường chư vị các bữa tiệc gồm có nhiều loại thức ănthức uống.

17. Tôi dâng lên chư vị các đèn ngọc, đặt trên các đoá sen vàng, và tôi rải các cụm hoa đẹp trên nền nhà thoa hương thơm.

18. Tôi dâng lên chư vị có tâm từ bi các cung điện rực rỡ, hân hoan với các bài hát ca ngợi, toả sáng với các các vòng hoa ngọc trai và các bảo châu và được trang hoàng tại các lối vào trong bốn hướng.

19. Tôi mang tới tâm các lọng che của chư Đại Thánh Chủ, kết hợp tinh vi bằng châu ngọc mĩ lệ được nâng lên cao tuyệt vời với các cán bằng vàng, hình dáng trang nhã và có châu ngọc viền quanh.

20. Sau đó, nguyện các đám mây hân hoan của các cúng phẩm dâng lên cao, và các đám mây âm nhạc do nhạc cụ hợp tấu làm thích thú tất cả các hữu tình.

21. Nguyện các mưa hoa, các mưa châu ngọc, v.v… tiếp tục rơi trên tất cả các hình ảnh, các bảo tháp (reliquaries), và tất cả các châu ngọc của Pháp tối thắng.

22. Cũng như Văn Thù và chư Bồ tát cúng dường chư Tối Thắng, tôi cúng dường chư Như Lai, chư Thủ Hộ, cùng với chư Bồ tát con Phật cũng như thế.

23. Với các tán ca là các cung điệu của hải triều, tôi xưng tán chư Đại hải của Công Đức (= chư Phật). Nguyện các đám mây của các hoà điệu của các tán ca lên tới chư vị theo cùng một cách.

24. Với những đỉnh lể số lượng nhiều như các vi trần trong tất cả các Quốc độ Phật, tôi kính lễ chư Phật hiện diện trong tất cả ba thời, kính lễ Pháp, và kính lễ chư Thánh Tăng.

25. Cũng như thế, tôi kính lễ tất cả các tháp thờ Phật và các xứ an trú của Bồ tát. Tôi cũng đỉnh lễ các vị thầy và các thành tựu giả đáng ca ngợi.

26. Tôi về nương tựa nơi Phật cho tới ngày tôi giác ngộ, tôi về nương tựa Pháp và toàn thể chư Bồ tát.

27. Tôi chắp hai tay thỉnh cầu Chư Toàn Giác hiện diện khắp mười phưong và chư Bồ tát đại bi.

28. Bất kì tội nào tôi, một kẻ ích kỉ xấu tính (a brute), đã phạm hoặc đã làm cho các người khác phạm trong đời này và các đời khác suốt từ luân hồi vô thủy,

29. Và bất kì sự vật gì mà tôi vui vẻ hân hoan một cách ngu si vô trí, do làm như thế nên tôi hại tôi -- tội lỗi đó tôi thành thật nói ra, thắng nó bằng sám hối.

30. Bất kì xúc phạm gì do bất kính, tôi đã phạm, với thân, ngữ, và tâm chống với Tam Bảo, chống với các người mẹ và các người cha, và chống lại các thầy tâm linh và các người khác,

31. Và bất kì các nết xấu dễ sợ nào tôi, một tội phạm, bị nhơ nhuốm với nhiều lỗi lầm, đã làm, thưa chư Đạo Sư, tôi thành thật nói ra tất cả chúng.

32. Làm cách nào tôi trốn thoát nó? Hãy cứu tôi gấp! Nguyện cái chết không lặng lẽ đến sớm với tôi trước khi các nết xấu của tôi đã biến mất [xuyên qua sám hối].

33. Tử thần không phân biệt giữa các sám hối đã được làm và đã không được làm. Kẻ khoẻ mạnh hoặc kẻ đau yếu đều không tín nhiệm tên phản bội này, vì nó giống như một cú sấm sét lớn, bất ngờ.

34. Tôi đã phạm nhiều nết xấu vì chuyện bạn bè và kẻ thù. Điều này tôi đã không nhớ ra: “Tôi phải ra đi, bỏ mọi người lại đằng sau”.

35. Các kẻ thù của tôi sẽ không ở lại, các bạn của tôi cũng sẽ không ở lại. Tôi sẽ không ở lại. Không sự vật gì sẽ ở lại.

36. Bất kì cái gì được trải nghiệm sẽ phai mờ đối với kí ức. Giống như một trải nghiệm trong một chiêm bao, mỗi sự vật đã đi qua sẽ không được thấy lại.

37. Ngay cả trong đời này, khi tôi đã đứng bên cạnh, nhiều bạn bè và kẻ thù đã ra đi, nhưng tội ghê gớm bị dẫn dụ bởi chúng vẫn còn ở lại trước mặt tôi.

38. Như vậy, tôi đã không quan tâm rằng tôi thì phù du. Do ngu si vô trí, tham và sân, tôi đã tạo tội trong nhiều cách.

39. Ngày và đêm, thời gian còn lại của đời người giảm đi không ngừng, và không tăng thêm. Vậy tôi sẽ không chết?

40. Mặc dù nằm đây trên giường và nhờ cậy vào các thân nhân, tôi một mình phải chịu đựng cảm thọ trạng thái bị cắt mất sức sống.

41. Đối với một cá nhân bị các sứ giả của Tử Thần túm bắt, thân nhân giúp được gì, và bạn bè giúp được gì? Vào thời điểm đó, chỉ một mình phúc đức là một sự thủ hộ, và tôi chưa tu tập phúc đức.

42. Thưa chư Thủ Hộ, tôi, coi thường và không ý thức về nguy hiểm này, khi đã thực hiện nhiều nết xấu do tham ái đối với đời sống thoáng qua này.

43. Bạn hoàn toàn tiều tuỵ trong khi bị dẫn ra pháp trường ngày hôm nay để bị cắt các chi. Bị phơi nắng khô héo với khát nước và với hai mắt tội nghiệp đáng thương, bạn nhìn thế giới một cách khác hẳn.

44. Có phải khi thấy các sắc tướng kinh khiếp của các sứ giả của Tử Thần bạn bị trấn áp nhiều hơn là khi bạn bị tiêu hủy bởi cơn sốt của khủng bố và vãi các chất bài tiết làm bẩn cả thân ?

45. Thấy lâm nguy tôi liếc nhìn nhiều lần tìm kiếm sự thủ hộ trong bốn phương. Kẻ tốt nào sẽ thủ hộ tôi thoát khỏi sợ hãi lớn lao này?

46. Thấy bốn phương đều không có sự thủ hộ, tôi lại mê mờ. Tôi sẽ làm gì trong trạng thái sợ hãi lớn lao này?

47. Ngay bây giờ tôi về nương tựa chư Thủ Hộ của thế giớinăng lực vĩ đại, tới chư Tối Thắng, nỗ lực thủ hộ thế giới và xoá đi mọi nỗi sợ hãi.

48. Cũng thế, tôi dốc lòng về nương tựa Pháp do chư Phật chứng ngộ, là pháp tận diệt được nỗi sợ hãi luân hồi, và về nương tựa nơi chư Bồ tát thánh chúng.

49. Trong cơn sợ hãi run rẩy, tôi dâng thân tâm tôi lên Phổ Hiền, và do ý chí của tôi, tôi cũng dâng thân tâm lên Văn Thù.

50. Hoảng hốt, tôi bi ai cầu cứu đấng Thủ Hộ Quán Thế Âm, hành hoá của ngài lưu xuất đại bi, ngài có thể thủ hộ tôi, một kẻ tội phạm.

51. Tìm kiếm thủ hộ, tôi dốc lòng cầu khẩn Hư Không Tạng cao quý, Địa Tạng, và tất cả chư Bồ tát Đại Bi.

52. Tôi kính lễ Kim Cương Thủ (Vajri/Vajrapani), chỉ thấy hình ảnh ngài các sứ giả của Tử Thần và các hữu thể thâm độc khác hoảng hốt đào tẩu bốn phương.

53. Sau khi tôi làm ngơ lời khuyến cáo của chư Phật, trong kinh hoàng, tôi về nương tựa nơi ngài giờ đây khi tôi đối diện nỗi sợ hãi này. Xin chư Phật hãy làm biến mất nhanh chóng nỗi sợ hãi của tôi.

54. Ngay cả bạn sợ hãi một bệnh tật chóng qua, bạn sẽ không thờ ơ lời khuyên của thầy thuốc; vậy có sợ nhiều hơn khi bạn bị phiền não bởi bốn trăm lẻ bốn bệnh tật,

55. Trong các bệnh tật chỉ có một bệnh có thể hủy diệt tất cả những người sống trong châu Thiệm bộ phương Nam (Jambudvipa) và một dược phẩm đối trị nó thì không được tìm thấy trong bất kì miền nào.

56. Nếu tôi làm ngơ lời khuyến cáo của vị Thầy Thuốc Nhất Thiết Trí ngài nhổ hết mọi đau đớn, tôi thật xấu hổ tôi là một kẻ cực kì ngu si vô trí biết bao!

57. Nếu tôi đứng rất cẩn thận ngay cả trên một bờ đá dốc nhỏ, vậy làm cách nào cẩn thận nhiều hơn khi trên một vực sâu muôn thuở cả ngàn do tuần (= địa ngục A tì).

58. Thật là phi lí khi tôi sống thoải mái, không lo âu, nghĩ “Đúng thế ngày hôm nay cái chết sẽ không tới”. Thời điểm khi tôi sẽ không hiện hữu là không thể tránh được.

59. Ai có thể cho tôi sự không sợ hãi? Tôi sẽ trốn thoát cách nào? Tôi chắc chắn sẽ không hiện hữu. Tại sao tâm tôi thoải mái không lo âu?

60. Giá trị gì còn ở lại với tôi từ những trải nghiệm trước kia, chúng đã bị biến mất, và tôi vẫn miệt mài trong trải nghiệm trước kia, làm ngơ các lời giáo huấn của các vị thầy tâm linh? 

61. Khi buông bỏ các thân nhân và các bạn bè của tôi và thế giới này của sự sống, tôi sẽ đi riêng một mình tới một nơi khác. Tất cả các bạn bè và kẻ thù của tôi có lợi ích gì không?

62. Trong trường hợp đó, chỉ có quan tâm này là có nghĩa lí cho tôi ngày và đêm: Cách nào sẽ bảo đảm tôi trốn thoát được đau khổ do các quy kết của bất thiện hạnh đó.

63. Bất kì nết xấu gì, bất kì hành động gì sai trái với tính tự nhiên [trong có mười bất thiện] (prakrtyavadya; natural misdeeds), và bất kì hành động gì sai trái bởi sự cấm chỉ [sai trái vì đã thọ giới cấm chỉ] (prajnapty-avadya; misdeeds by prohibihition) tôi, một kẻ ngu si vô trí, đã tích tập,

64. Bị kinh sợ đau khổ, tất cả các sai trái này tôi thành thật nói ra, đứng với hai tay chắp lại trong sự hiện diện của chư Thủ Hộkính lễ một lần nữa.

65. Nguyện chư Đạo sư biết về các tội lỗi của tôi cùng với trạng thái bất chính hư xấu của tôi (my iniquity). Thưa chư Thủ Hộ, tôi nguyện không phạm ác hạnh này nữa.

 ______________

Chương 3. TÂM BỒ ĐỀ NGUYỆN

1. Tôi cảm thấy vui mừng trong công đức của tất cả các hữu tình, chúng làm giảm và làm dứt đau khổ của luân hồi. Nguyện những người đau khổ được cư trú trong hạnh phúc

2. Tôi cảm thấy vui mừng trong sự giải thoát của các hữu tình cách tuyệt đau khổ của luân hồi, và tôi hân hoan trong trạng thái Bồ táttrạng thái Phật của chư Thủ Hộ (= chư Phật).

3. Tôi hân hoan trong các biểu trưng đại hải của Tâm Bồ Đề của chư đạo sư; Tâm Bồ Đề làm hài lònglợi lạc tất cả các hữu tình.

4. Tôi chắp hai bàn tay, thỉnh cầu chư Phật trong tất cả các phương đốt lên ánh sáng Chánh Pháp cho những kẻ lâm vào đau khổ do mê lầm.

5. Tôi chắp hai bàn tay, cung kính thỉnh cầu chư Tối Thắng muốn nhập niết bàn, các ngài có thể ở lại suốt vô lượng đại kiếp, và thế giới này có thể không ở lại trong bóng tối.

6. Tôi nguyện công đức do tôi nhận được do thực hiện tôn kính, sám hối, tùy hỉ công đức, làm giảm và làm dứt mọi đau khổ của các hữu tình.

7. Tôi nguyện là thuốc và thầy thuốc cho các người bệnh. Tôi nguyện là y tá điều dưỡng cho tới khi bệnh của chúng không bao giờ tái hiện.

8. Tôi nguyện thắng được các phiền não của đói và khát với các thức ăn thức uống nhiều như mưa tuôn. Tôi nguyện trở thành thức ăn thức uống trong những thời gian có nạn đói.

9. Tôi nguyện là kho vô tận cho các người khốn cùng. Tôi nguyện hiện diện và giúp họ bằng nhiều cách trợ giúp.

10. Vì lợi ích hoàn thành an sinh của tất cả các hữu tình, tôi sẵn lòng từ bỏ thân thể, các thọ dụng, và tất cả các công đức của tôi trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai.

11. Từ bỏ tất cả là niết bàn, và tâm tôi tìm kiếm niết bàn. Nếu tâm tôi phải từ bỏ tất cả, điều tốt hơn là tôi bố thí chúng cho tất cả hữu tình.

12. Vì lợi lạc cho tất cả hữu tình, tôi không xem thân này là lạc thú. Hãy để hữu tình đánh nó, chửi nó, và bôi bẩn nó.

13. Hãy để họ chơi đùa với thân tôi. Hãy để họ cười chê nó, và đùa bỡn nó. Nó có là gì đâu đối với tôi? Tôi đã cho họ thân này.

14. Hãy để họ nhờ tôi làm các việc sinh ra hạnh phúc của họ. Bất kì ai cầu viện tới tôi, nguyện cầu viện đó không bao giờ đem đến thất vọng (Let them have me perform deeds that are conducive to their happiness. Whoever resorts to me, may it never be in vain).

15. Đối với những ai đã cầu viện tới tôi và có một tâm niệm giận dữ hoặc không tốt, nguyện chính cầu viện đó luôn luôn là nguyên nhân cho sự hoàn thành mọi mục đích của họ. (For those who have resorted to me and have an angry or unkind thought, may even that always be the cause for their accomplishing every goal).

16. Nguyện những ai tố cáo sai về tôi, những ai hại tôi, và những ai đùa bỡn tôi tất cả đều chia sẻ về bồ đề.

17. Tôi nguyện là người thủ hộ cho những ai không có các người thủ hộ, một người dẫn đường cho các khách lữ hành, và một chiếc thuyền, một cái cầu, và một con tàu cho những ai ước muốn qua sông.

18. Tôi nguyện là một ngọn đèn cho những ai tìm kiếm ánh sáng, một cái giường cho những ai tìm kiếm nghỉ ngơi, và là một người giúp việc cho những ai cần người giúp việc.

19. Đối với tất cả các hữu tình , tôi nguyện là viên ngọc như ý (wish-fullfilling gem), bình của duyên lành (a vase of good fortune), một thần chú linh diệu (efficacious mantra), một thuốc thần (great medication), cây như ý, và một con bò sữa tặng điều ước (a wish-granting cow).

20. Cũng như trái đất và các nguyên tố khác (nước, lửa, không khí) đều hữu ích trong nhiều cách đối với vô lượng hữu tình cư trú khắp hư không vô tận,

21. Thế nên tôi nguyện trong nhiều cách là nguồn tài nguyên của đời sống cho các hữu tình hiện diện khắp hư không cho tới khi họ đều được giải thoát.

22. Cũng như chư Thiện Thệ thời xưa đã phát Tâm Bồ Đề, và cũng như chư vị tuân theo tu tập học giới của chư Bồ tát,

23. Thế nên tôi sẽ phát Tâm Bồ Đềlợi lạc của thế giới; và thế nên chính tôi sẽ thực hiện đúng đắn những tu tập này.

24. Vui mừng phát Tâm Bồ Đề trong cách này, một người thông minh nên nuôi dưỡng Tâm Bồ Đề để hoàn thành mong ước của mình.

25. Nay đời sống của tôi là quả hải của vạn đức. Phúc lành được hiện hữu cõi người. Ngày hôm nay tôi được sinh vào gia đình chư Phật. Bởi vì đó tôi là một người con của Phật.

26. Như vậy, bất kì tôi làm giờ đây phải hoà hợp với gia đình chư Bồ tát, và không giống như một nhơ nhuốm trên gia dình thanh tịnh này.

27. Cũng như một người mù có thể tìm được một viên ngọc trong đống rác, thế nên Tâm Bồ Đề sinh khởi cách nào đó trong tôi.

28. Tâm Bồ Đềcam lộ của đời sống được sản sinh để chấm dứt cái chết trong thế giới. Nó là kho vô tận loại bỏ nghèo khó của thế giới.

29. Nó là dược phẩm tối thượng làm giảm bệnh tật của thế giới. Nó là cây để nghỉ ngơi cho các hữu tình bị kiệt sức đang lang thang trên các nẻo đường của hiện hữu thế gian.

30. Nó là cây cầu mọi thời mọi nơi (universal bridge) cho tất cả các lữ hành để vượt qua khỏi các trạng thái khốn khổ của hiện hữu. Nó là mặt trăng đang mọc của tâm làm an dịu các phiền não của thế giới.

31. Nó là mặt trời rực rỡ trục xuất bóng tối vô minh của thế giới. Nó là bơ tươi mới rút ra từ sữa Diệu Pháp.

32. Đối với đoàn khách lữ du hành trên các nẻo đường hiện hữu thế gian, và đói khát một bữa ăn của hạnh phúc, nó là một bữa tiệc của hạnh phúc thoả mãn tất cả tân khách là các hữu tình viễn phương.

33. Ngày hôm nay tôi mời thế giới tới trạng thái Thiện Thệhạnh phúc tạm thời. Mong chư thiên, chư a tu la và các kẻ khác hân hoan trong sự hiện diện của tất cả chư Thủ Hộ!

__________________

Chương 4. THỰC HÀNH TÂM BỒ ĐỀ

1. Như vậy, sau khi phát Tâm Bồ Đề trong an định, Bồ tát con chư Tối Thắng phải luôn luôn nỗ lực tinh tấn không thiếu trách nhiệm trong tu học của mình.

2. Mặc dù bạn đã có cam kết, điều tốt là bạn xem xét lại nên làm hay không một việc mà bạn đã khinh suất quyết định làm, và không được xem xét chu đáo.

3. Nhưng tôi có được buông bỏ Tâm Bồ Đề Nguyện đã được khảo sát bởi chư Phật đại trí và chư Bồ tát con Phật là có vô lượng công đức, cũng như bởi chính tôi theo các khả năng tốt nhất của tôi?

4. Nếu, đã hứa như thế, tôi không thể-hiện vào hành động, vậy tôi đã dối gạt các hữu tình đó, nơi tái sinh tương lai của tôi là gì?

5. Kinh nói rằng một cá nhân chỉ nghĩ định cho đi một vật tầm thường nhưng không cho, thế nên trở thành một ngạ qủy

6. Hơn thế rất nhiều, tôi đang dối gạt toàn thể thế giới sau khi lớn tiếng và chân thành mời toàn thế giới hạnh phúc vô thượng, tái sinh tương lai của tôi sẽ là gì?

7. Chỉ có bậc Nhất thiết trí (=Phật) nhận biết luật nhân quả bất khả tư nghị của những người ngài giải thoát ngay cả khi họ buông bỏ Tâm Bồ Đề.

8. Thế nên, đối với một Bồ tát, tội buông bỏ Tâm Bồ Đề là nặng nhất trong tất cả các tội, vì nếu Bồ tát phạm một tội như thế, Bồ tát làm phương hại an sinh của tất cả hữu tình.

9. Nếu một kẻ nào gây trở ngại cho công đức của Bồ tát, dù chỉ một sát na, cũng sẽ bị đọa ác đạo không cùng tận, bởi vì kẻ đó làm giảm thiểu an sinh của các hữu tình.

10. Xoá bỏ hoàn toàn an lạc của chỉ một hữu tình, bạn sẽ bị hủy diệt. Nhiều hơn biết bao nếu là các hữu tình cư trú trong khắp hư không?

11. Như vậy, do có năng lực của các tội đọa và năng lực của Tâm Bồ Đề, bạn loanh quanh trong luân hồi, và chậm đạt các Địa Bồ tát.

12. Thế nên, tôi nên cung kính hành động chiếu theo cam kết của tôi. Nếu tôi không nỗ lực tiến hành ngay giờ này, tôi sẽ đi từ các cõi thấp xuống các cõi thấp hơn.

13. Vô lượng chư Phật đã đi qua đây, tìm kiếm mỗi hữu tình, nhưng xuyên qua lỗi lầm của chính tôi, tôi không vào trong giáo pháp cứu độ của chư Phật.

14. Nếu nay tôi vẫn tiếp tục như thế này, như tôi hiện nay, tôi sẽ nhiều lần đến các trạng thái khốn khổ của hiện hữu, bệnh, chết, cưa cắt, hủy hoại, v.v…

15. Khi nào tôi sẽ gặp được sự xuất hiện cực kì hiếm có của Như Lai, tín tâm, hiện hữu làm người, và khả năng tu tập công đức,

16. Khoẻ mạnh, hàng ngày đủ ăn, và không có nghịch cảnh thiên tai? Đời sống thì trôi qua chớp nhoáng và dối gạt, và thân thể thì dường như là vay mượn.

17. Tôi có các hành vi như thế, chắc chắn không đạt trở lại trạng thái làm người. Khi không đạt đến một trạng thái làm người, chỉ có nết xấu; và làm cách nào có thể có sự hỗ trợ tùy thuận.

18. Nếu tôi không làm công đức ngay cả khi tôi có khả năng làm, vậy thì tôi sẽ làm gì khi tôi bị choáng váng trọn vẹn bởi các đau khổ của các trạng thái hiện hữu khốn khổ?

19. Nếu một kẻ không làm công đức nhưng tích tập tội, thì trải qua cả ngàn triệu đại kiếp cũng không nghe đến cái tên “trạng thái hiện hữu tốt lành”.

20. Thế nên, Đức Thế Tôn đã tuyên bố rằng hiện hữu làm người thì cực kì khó đạt, giống như một đầu con rùa ngoi lên chui vào được cái lỗ hổng của một cái gông trôi giạt trên đại hải mênh mông.

21. Một kẻ cư trú trong địa ngục Vô gián một đại kiếp vì hệ quả của một nết xấu tạo trong một sát na đơn biệt. Vậy có thể nói gì về một trạng thái hiện hữu tốt lành, vì tội đã được tích tập từ thời gian vô thủy?

22. Trải nghiệm xong các quả đó, kẻ đó vẫn không được giải thoát. Thế nên, trong khi trải nghiệm nó, kẻ đó tạo thêm nết xấu.

23. Khi nhận được thuận duyên như thế, nếu tôi không tu tập công đức, vậy thì không tính nhị tâm nào lớn hơn điều này (no duplicity greater than this), và không có ngu si vô trí nào lớn hơn điều này.

24. Nếu tôi nhận định được điều này nhưng vẫn bị ngu si sa vào lười biếng, kết quả là khi tôi được mệnh lệnh bởi sứ giả của Diêm Vương (Yama), tôi sẽ ở lại lâu dài trong lo âu.

25. Lửa địa ngục không thể chịu đựng nổi sẽ thiêu đốt thân tôi một thời gian dài, và sau đó lửa của hối hận sẽ tra tấn tâm bất trị của tôi một thời gian dài.

26. Tôi đã nhận được những điều lợi lạc khó được, và dầu nhận biết điều đó, tôi bị dẫn trở lại tới cũng các địa ngục đó.

27. Tôi không có ý muốn trong chuyện này, dường như bị bùa chú. Tôi không biết tôi bị ai làm bùa chú hoặc ai cư trú trong tôi.

28. Các kẻ thù tỉ dụ tham và sân đều không có tay, chân, v.v…. Chúng cũng không dũng cảm, cũng không khôn ngoan. Làm cách nào chúng làm tôi nô lệ chúng?

29. Chúng đặt vị trí trong tâm tôi, tàn phá tôi, trong khi chúng vẫn an lập vững vàng; và tôi không nổi giận về việc tôi kiên nhẫn với tình trạng đáng xấu hổláo lếu này.

30. Nếu tất cả chư thiên và các con người là các kẻ thù của tôi, ngay cả vậy, chúng sẽ không thể đem tôi tới ngọn lửa của địa ngục Vô gián được.

31. Lửa địa ngục Vô gián đốt tiêu núi Tu Di đến không còn tro. Các phiền não tinh thần, các kẻ thù quyền lực mãnh liệt, trong tức thời ném tôi vào đó.

32. Về tuổi thọ của các kẻ thù khác thì không kéo dài như thế, vô thủy, vô chung như tuổi thọ của các kẻ thù của tôi, các phiền não tinh thần.

33. Mọi người trở thành có vẻ cư xử biệt đãi khi được săn sóc với lòng từ bi, nhưng khi các phiền não tinh thần này được khen ngợi, chúng gây ra đau khổ nhiều hơn nữa.

34. Làm cách nào tôi có thể sống vui sướng trong luân hồi khi những kẻ thù luôn luôn sống dai, những kẻ là nguyên nhân duy nhất của các dòng nước và các thiên tai lũ lụt, cư trú một cách không sợ hãi trong tâm tôi?

35. Làm cách nào tôi có thể sung sướng nếu các tên canh gác nhà tù luân hồi, những tên sát nhân và những tên đồ tể trong các địa ngục, v.v…vẫn ở trong cái lồng tham vẫn cư trú ở trái tim của tôi?

36. Thế nên, trong bao lâu những kẻ thù này không bị hủy diệt trước mắt tôi, tôi sẽ không buông bỏ nhiệm vụ của tôi. Những kẻ quyền quý kiêu mạn, nổi giận khi ai gây một xúc phạm nhỏ, sẽ không ngủ cho tới khi họ giết người kia.

37. Vào đỉnh cao của một trận chiến, sẵn sàng tàn sát những kẻ trong bóng tối và những kẻ là chủ thể tự nhiên với đau khổ xuyên qua cái chết, những kẻ bị phiền não với các thương tích từ vô số các cây giáo và mũi tên không quay lưng lại mà không hoàn thành mục đích của họ.

38. Vậy kết quả là gì khi tôi hăng hái hủy diệt các kẻ thù tự nhiên của tôi (si mê phiền não), chúng là nguyên nhân vĩnh cửu của tất cả các khốn khổ? Ngày hôm nay, ngay cả nếu tôi bị vây với một trăm khốn khó, tại sao tôi mỏi mệt và nản chí?

39. Nếu chúng xem các thương tích từ các kẻ thù của chúng như là các trang điểm, không có lí do hiển nhiên, chỉ do duyên hội mà có; vậy thì tại sao những đau khổ -- hiển nhiênkẻ thù của hữu tình và của tôi -- gây khốn đốn cho tôi khi tôi tiến lên hoàn thành một mục tiêu tuyệt vời hủy diệt đau khổ lại không được xem như là là các trang điểm? [Dịch theo Vesna A. Wallace & B. Alan Wallace]

(If they wear scars from their enemies for no reason as if they were ornaments, then why do sufferings trouble me when I am set to accomplish a great goal?)

39. Tuy không có chính nghĩa chúng biểu lộ các thương tích từ kẻ thù trên tứ chi của chúng, dường như chúng là các huân chương. Vậy thì, tại sao khi tôi nỗ lực hoàn thành Đại Chính Nghĩa, tôi lại để các đau khổ của tôi áp chế tôi? [Dịch theo Kate Crosby & Andrew Skilton]

(Without cause they display the wounds from the enemy on their limbs, as if they were decorations. Why then, when I am striving to fulfill the Great Cause, do I let my sufferings oppress me?)

40. Nếu các ngư phủ, các người hạ tiện ngoại đẳng cấp (outcasts; Skt. candalas), các nông dân, và các kẻ khác, tâm của họ chỉ thuần lo kiếm sống, chống cự các thiên tai do lạnh và nóng, vậy tại sao tôi không chịu đựnglợi lạc cho an lạc của thế giới?

41. Trong khi tôi đã hứa giải thoát các hữu tình xuyên qua mười phương hư không cách tuyệt các phiền não tinh thần của họ, tôi đã không giải thoát chính tôi cách tuyệt với các phiền não tinh thần.

42. Không nhận biết các giới hạn của tôi, tôi đã hứa vào thời điểm đó, dường như tôi thì phi lí một chút. Thế nên, tôi sẽ không bao giờ bỏ cuộc chiến đấu đánh bại các phiền não tinh thần.

43. Tôi sẽ cương quyết thành công trong vấn đề này; và nhất định phản công, tôi sẽ lâm chiến, không chống gì khác nhưng chỉ chống lại các phiền não tinh thần quan liên đến sự loại bỏ các phiền não tinh thần.

44. Hãy để nội tạng của tôi thấm máu đào và đầu tôi rơi lăn lóc, nhưng không có một phương tiện nào làm tôi sẽ cúi đầu lễ các kẻ thù của tôi, các phiền não tinh thần. (Let my entrails ooze out and my head fall off, but by no means shall I bow down to my enemies, the mental afflictions).

45. Ngay cả nếu bị lưu đày, một kẻ thù có thể nhận được một trú xứ và các bộ hạ trong một nước khác từ đó hắn trở về với toàn thể sức mạnh của hắn. Nhưng kẻ thù là các phiền não tinh thần không có được con đường như thế.

46. Một khi phiền não cư trú trong tâm tôi đã bị trục xuất, nó sẽ đi đâu, và ở đâu nó sẽ nghỉ ngơi dưỡng sức và mưu định tiêu diệt tôi? Yếu đuối trong tinh thần, tôi không tiếp tục nỗ lực làm các việc khó khăn. Các phiền não tinh thần đều yếu ớt ẻo lả (frail), và con mắt trí tuệ có thể đánh bại chúng.

47. Các phiền não tinh thần không hiện hữu trong các đối tượng giác quan, cũng không trong các năng lực giác quan (căn), cũng không ở giữa hư không, cũng không ở bất kì nơi nào khác [không ở nội thân, ngoại cảnh, giữa thân và cảnh]. Vậy chúng hiện hữu ở đâu, và quấy động toàn thế giới? Đây chỉ là một huyễn tượng. Hãy giải thoát trái tim se thắt đang sợ hãi của bạn, và đào luyện sự nỗ lực phấn đấu làm các việc khó khăn vì lợi lạc cho trí tuệ. Tại sao bạn muốn tra tấn chính bạn trong các địa ngục không có lí do hiển nhiên.

48. Tư duy cẩn thận trước khi quyết định theo cách này, tôi sẽ nỗ lực áp dụng các giáo pháp như chúng đã được giải thích. Làm cách nào một cá nhân có thể được chữa hết bệnh bởi dược phẩm phục hồi sức khoẻ nếu họ lang thang xa hẳn lời khuyên của thầy thuốc?

Chương 9. TRÍ TUỆ SIÊU VIỆT

1. Đức Phật giảng dạy tất cả các tinh yếu giáo phápmục đích cho trí tuệ siêu việt. Thế nên muốn chấm dứt đau khổ, bạn phải tăng trưởng trí tuệ siêu việt.

2. Chân lí này được công nhận là hai loại: chân lí quy ước thế tụcchân lí tối hậu. Tính thật tại tối hậu thì ở ngoài phạm vi của trí tuệ phân biệt. Trí tuệ phân biệt được gọi là tính thật tại quy ước thế tục.

(This truth is recognized as being of two kinds: conventional and ultimate. Ultimate reality is beyond of the intellect. The intellect is called conventional reality)

3. Quan liên tới hai chân lí, con người được thấy là hai loại: thiền gia (= có chánh định) và người bình thường. Quan điểm thế giới của các người bình thường bị thay thế do không xác thực và lỗi thời (superseded) bởi quan điểm của các thiền gia (= có chánh định).

4. Do trí tuệ phân biệt có khác nhau, trí tuệ quán chiếu của các thiền giachánh định bậc thấp bị thiền giachánh định bậc cao làm thành không xác thực, bằng các phương pháp hữu hiệu của các sự tương tợ (huyễn tượng, ảo ảnh sóng nắng, phản chiếu của thành càn thát bà,…) được cả hai bên chấp thuận (không có hiện hữu tự tính), bất kể họ mục đích chứng minh gì.

5. Các người bình thường thấy và tưởng tượng các sự vật là thật và không là huyễn. Trong phương diện này, có sự bất đồng ý kiến giữa các thiền giachánh định và các người bình thường.

6. Ngay cả các đối tượng của tri nhận trực tiếp (direct perception; hiện lượng) tỉ như sắc (thanh, hương, vị, xúc, pháp), đều được an lập do đồng ý chung (consensus), không phải do nhận thức giá trị chính xác (verifying cognition). Đồng ý chung đó là sai trái, vì là thoả thuận tổng quát rằng, tỉ dụ các sự vật thanh tịnh là không thanh tịnh.

7. Đấng Thủ Hộ /Đấng Gìn Giữ Che Chở dạy các sự vật (uẩn, xứ, v.v…có tính sát na sinh diệt, vô thường) để giúp mọi ngườihội thông hiểu tính không.

[Nghi vấn:] Nếu các sự vật này là sát na sinh diệt không tính cách tối hậu, nhưng chỉ tính cách quy ước thế tục, điều này là mâu thuẫn.

8. [Nhà Trung Quán:] Không có sai lầm trong chân lí quy ước thế tục của các thiền giachánh định. Họ thấy tính thật tại/pháp tính, trái lại người bình thường không thấy. Nói khác đi, người bình thường sẽ làm thành vô hiệu các nhận thức về phụ nữbất tịnh.

9. [Nghi vấn:] Làm cách nào có thể tích tập phúc đức bởi vì Đấng Tối Thắng tương tợ một huyễn tượng, trong cùng một cách nếu ngài là hiện hữu thực hữu?

[Nghi vấn:] Nếu một hữu tình tương tợ một huyễn tượng, tại sao tái sinh sau khi chết?

10. [Nhà Trung Quán:] Cả đến một huyễn tượng tồn tại kéo dài theo tập hợp các duyên của nó. Tại sao một hữu tình phải hiện hữu thực hữu chỉ thuần vì tương tục của nó tồn tại một thời gian dài? 

11. [Nhà Duy Thức:] Nếu thức không hiện hữu, không có tội trong sự giết một người huyễn.

[Nhà Trung Quán:] Trái lại, khi bạn được sinh ra với huyễn tượng của tâm thức, bất thiệnphúc đức sinh khởi.

12. [Nhà Duy Thức:] Một tâm huyễn thì không khả hữu vì thần chú và các thứ tương tợ không có khả năng sản sinh tâm huyễn.

[Nhà Trung Quán:] Các huyễn tượng khác nhau sinh khởi bởi vì các duyên khác nhau. Không nơi nào một duyên đơn nhất có công năng sản sinh mọi sự vật.

13. [Nhà Duy Thức:] Nếu bạn có thể được giải thoát một cách tối hậumặc dầu vậy chuyển cư các cõi một cách quy ước thế tục, lúc đó ngay cả Đức Phật sẽ chuyển cư các cõi. Vậy điểm chủ yếu để theo con đường bồ tát là gì?

14. [Nhà Trung Quán:] Một huyễn tượng không chấm dứt khi các duyên của nó không bị phá hủy. Bởi vì sự bất tương tục của các duyên của nó, nó không sinh khởi ngay cả một cách quy ước thế tục.

15. [Nhà Duy Thức:] Dù là một nhận thức lầm lẫn không hiện hữu, một huyễn tượng được nhận biết xác định bởi cái gì?

15. [Yogacarin] When even a mistaken cognition does not exist, by what is an illusion ascertained?

16. [Nhà Trung Quán:] Nếu đối với ông một huyễn tượng bản thân không hiện hữu, cái gì được tri nhận? Dù cho chính nó là một phương diện của tâm, trong tính thật tại nó hiện hữu là một cái khác hẳn.

[Madhyamika:] If for you an illusion itself does not exists, what is apprehended? Even if it is an aspect of the mind itself, in reality it exists as something different]

[Tụng này 16b, trong Panjika p.187, của Prajnakaramati (Bát Nhã Thủ Huệ) đọc là: Trong tính thật tại, nó hiện hữu là một cái gì khác hẳn phương diện đối nội của tâm, nó là chủ thể nhận thức || The Panjika p.187, “In reality, it exists as something other than the inner (Skt. antara) aspect of mind, which is the apprehender (Skt. grahaka)” -- Chú thích của bản Việt]

17. [Nhà Duy Thức:] Nếu tâm chính nó là một huyễn tượng, nếu như thế cái gì được tri nhận bởi cái gì?

[Nhà Trung Quán:] Đấng Thủ Hộ của Thế giới đã khẳng định rằng tâm không tri nhận tâm. Cũng như một thanh gươm không thể cắt chính nó, cũng thế tâm không thể tri nhận tâm.

18. [Nhà Duy Thức:] Tâm chiếu sáng chính nó, cũng như một ngọn đèn chiếu sáng.

[Nhà Trung Quán:] Một ngọn đèn không chiếu sáng chính nó, vì nó không bị bóng tối che lấp.

19. [Nhà Duy Thức:] Một đối tượng màu lam không cần đến cái khác (= cái màu lam) để cho nó màu lam, trong khi pha lê lại cần. Thế nên một sự vật có thể hoặc không thể xuất hiện do sự tùy thuộc vào một sự vật khác.

20. [Nhà Trung Quán:] Màu lam của một vật màu lam thì không được xem là nguyên nhân tạo nó thành màu lam, giống như trong trường hợp pha lê không có màu lam do nhân duyên nên có màu lam. Chính màu lam có thể làm cho một vật màu lam được không?

21. [Nhà Duy Thức:] Người ta nói rằng một ngọn đèn chiếu sáng một khi điều này được nhận thức với tính biết (awareness). Nói tâm chiếu sáng một khi điều này được nhận thức với cái gì?

22. [Nhà Trung Quán:] Nếu không có người tri nhận (thì) bất kể tâm đang chiếu sáng hoặc không chiếu sáng, kết quả là chẳng có lợi ích để thảo luận điều này, cũng như thảo luận về vẻ đẹp của con gái của một phụ nữ vô sinh.

23. [Nhà Duy Thức:] Nếu tính biết tự nhận thức không hiện hữu, cách nào tâm thức được hồi tưởng?

[Nhà Trung Quán:] Sự hồi tưởng đến từ quan liên của nó tới một sự vật khác được trải nghiệm, tương tự chuyện chất độc do chuột cắn.

 [Con gấu khi ngủ không hữu thức khi bị chuột cắn, nó hồi tưởng chuyện bị cắn lúc nó tỉnh dậycảm thấy sưng do vết cắn nên hồi tưởng khi chất độc thâm nhập cơ thể nó].

23. [Yogacarin:] If self-cognizing awareness does not exist, how is consciousness recalled?

[Madhyamika:] Recollection comes from its relation to something else that was experienced, like a rat’s poison.

24. [Nhà Duy Thức:] Tâm chiếu sáng chính nó, bởi vì tâm có các duyên khác nên tri nhận.

[Nhà Trung Quán:] Sử dụng thuốc thoa mắt thần kì có thể nhìn thấy bình châu báu trong lòng đất nhưng vẫn không nhìn thấy chính thuốc thoa.

[Theo bản văn Panjika p.192, “các duyên khác” là tâm được cung cấp các tri thức về tương lai và với các tri nhận vượt ngoài giác quan tỉ dụ tính biết về các tâm niệm của các người khác. ĐHP]

25. Cách thức trong đó sự vật được thấy, nghe, hoặc nhận thức thì không là cái bị luận bác ở đây, nhưng sự phân biệt hữu niệm hoá về hiện hữu thực hữu của nó, là nguyên nhân của đau khổ, thì bị bác bỏ ở đây.

26. Nếu bạn tưởng tượng rằng một huyễn tượng chẳng khác với tâm, cũng chẳng chẳng khác với tâm, trong trường hợp đó nếu nó là một sự vật hiện hữu thực hữu, vậy cách nào nó có thể là chẳng khác? Nếu nó là chẳng khác, trong trường hợp đó nó không hiện hữu thực hữu.

(26. If you fancy that an illusion is neither different from the mind nor non-different, then if it is a really existing thing, how can it not be different? If it is not different, then it does not really exist || then: 1. the result is, was, etc. that; 2. if that is so)

27. Cũng như huyễn tượng có thể được thấy mặc dầu nó không hiện hữu thực hữu, thế nên tâm không hiện hữu thực hữu cũng có thể được thấy với quan sát viên.

[Nhà Duy Thức:] Sinh tử luân hồicăn bản trong tính thật tại, hoặc nếu khác nó sẽ tương tợ hư không.

28. [Nhà Trung Quán:] Cách nào một sự vật không hiện hữu có bất kì tính hữu hiệu bằng cách đặt căn cứ trên một cái gì thực hữu? Bạn đã tiếp cận tâm là một thể đơn nhất biệt lập.

29. Nếu tâm chẳng có bất kì một đối tượng được nhận thức, kết quả là tất cả các hữu tình đều sẽ là chư như lai. Như vậy, điều tốt đẹp nào đạt được khi phỏng đoán không bằng chứng chỉ có tâm hiện hữu?

30. [Nhà Duy Thức:] Ngay cả nếu công nhận tính tương tợ với huyễn tượng, làm cách nào một phiền não tinh thần chấm dứt, bởi vì ái dục với một huyễn nữ (illusory woman) sinh khởi ngay cả ở nơi kẻ kiến tạo huyễn nữ?

31. [Nhà Trung Quán:] Bởi vì kẻ kiến tạo huyễn nữ chưa xoá bỏ các tập khí của các phiền não tinh thần đối với các đối tượng của trí tuệ nên khi thấy huyễn nữ, tập khí về tính không của kẻ đó vẫn yếu kém.

32. Bằng cách làm các tập khí về tính không lớn dần, tập khí về hiện hữu bị giảm đi; và sau khi bạn quen với sự kiện không sự vật gì hiện hữu thực hữu, ngay cả quan điểm đó giảm đi. 

33. [Nhà Duy Thức:] Nếu quan niệm một hiện tượng không hiện hữu thực hữu không thể được tri nhận, kết quả là, một phi-thực thể khôngcăn bản, làm cách nào có thể đứng trước tâm?

34. [Nhà Trung Quán:] Khi một thực thể và một phi thực thể cũng đều chẳng còn ở lại trước tâm, kết quả là, vì không có một khả hữu khác, không có các đối tượng, tâm trở thành tĩnh lặng.

35. Cũng như một viên ngọc như ý hoặc một cây như ý thoả mãn các mong cầu, cũng thế hình ảnh của Đấng Tối Thắng được thấy, bởi vì bản nguyện của ngài và các đệ tử của ngài.

36. Khi một nhà thần chú chuyên trị chất độc từ trần sau khi hoàn thành một thanh gỗ được chú nguyện, nó hoá giải các chất độc và các thứ tương tự, ngay cả một thời gian dài sau khi ông từ trần.

37. Cũng giống như thế, thanh gỗ chú nguyện của Đấng Tối Thắng, hoàn thành chiếu theo bồ tát đạo, thật hiện viên mãn tất cả các hạnh, dù cho là khi Bồ tát đã nhập niết bàn.

38. [Nhà Tiểu Thừa:] Tỏ lòng tôn kính được dâng hiến tới một sự vật không có tâm thức, cách nào có thể có kết quả được?

[Nhà Trung Quán:] Bởi vì giáo pháp dạy rằng tỏ lòng tôn kính kết quả đều như nhau bất kể ngài hiện diện hoặc ngài nhập niết bàn.

39. Theo các bản kinh, các hiệu quả của tỏ lòng tôn kính hiện hữu, bất kể phương diện quy ước thế tục hoặc phương diện tối hậu, thì có kết quả trong cùng một cách tỏ lòng tôn kính dâng hiến tới một đức Phật hiện hữu thực hữu.

 40. [Nhà Tiểu Thừa:] Giải thoát đến từ lí hội thông hiểu Bốn Chân Lí Cao Quý, vậy tri nhận tính khôngmục đích gì?

[Nhà Trung Quán:] Bởi vì một bản kinh khẳng định rằng không có Giác ngộ khi không có đạo lộ này.

41. [Nhà Tiểu Thừa:] Đại Thừa thì không được chứng tỏ là xác thực.

[Nhà Trung Quán:] Kinh của bạn được chứng tỏ là xác thực theo cách nào?

[Nhà Tiểu Thừa:] Bởi vì nó được chứng tỏ là xác thực bởi cả hai bên chúng ta.

[Nhà Trung Quán:] Vậy từ khởi đầu bạn đã không chứng tỏ nó xác thực.

42. Hãy thể hiện tín thành và tôn kính với Đại Thừa như khi bạn thể hiện với Tiểu Thừa. Nếu một sự vật là đúng thực bởi vì nó được chấp thuận bởi hai bên khác nhau, vậy thì các kinh Veda và các học phái tương tự [học phái Vaisesika của triết học Nyaya] sẽ cũng là đúng thực.

43. Nếu bạn chống đối vì cho rằng các kinh điển Đại Thừa bị tranh luận, kết quả là bạn bác bỏ các kinh điển của chính bạn bởi vì các nhóm dị giáo luận bác chúng và bởi vì các người Phật giáo và các người khác luận bác các phần của các kinh điển của bạn.

44. Bạn có thể chủ trương giáo pháp có gốc rễ của nó trong a-la-hán tăng; nhưng a-la-hán tăng thì không ở trên một căn bản an lập vững chắc [do chấp thủ hiện hữu tự tính của các hiện tượng. ĐHP]. Đối với những người tâm của họ là chủ thể để chấp thủ trên hiệu hữu tự tính, thì niết bàn cũng không ở trên một căn bản an lập vững chắc.

45. Nếu phản đối của bạn là sự giải thoát đó đến từ sự loại bỏ các phiền não tinh thần, vậy thì sự giải thoát sẽ phải xảy ra tức thời sau đó. Vậy mà bạn có thể thấy năng lực của nghiệp trên những người này*, ngay dù họ không có các phiền não tinh thần.

[Panjika, p.208, những người này*: “Trong thánh giả Maudgalyayana (Mục kiền liên), thánh giả (Angulimala)]

46. Nếu bạn nghĩ rằng trong bao lâu không có ái thì không có chấp thủ trên tái sinh, vậy tại sao ái của họ, dù cho cách tuyệt các phiền não tinh thần, có thể không hiện hữu trong trạng thái vô trí?

[Panjika p.208. “Bởi vì vô trí (ajnana; lack of knowledge) là cách tuyệt các phiền não tinh thần”. Điểm chủ yếu ở đây là theo Luận Câu Xá (Abhidharmakosa), có hai loại vô trí: phiền não và phi-phiền não (two types of delusions: afflictive and non-afflictive). Như vậy, ngài Tịch Thiên đang gợi ý cả hai ái phiền nãoái phi phiền não có thể tương tợ, và các a-la-hán thanh văn có thể là chủ thể đối với ái phi phiền não. * Chú thích bản dịch Việt]

47. Ái có nguyên nhân của nó trong thọ, và [các vị bạn xem là A-la-hán] họ có thọ. Tâm có các đối tượng tinh thần, tâm phải trụ trên một sự vật hoặc một sự vật khác.

[theo Panjika, p.209, trên một sự vật hoặc một sự vật khác quy chiếu hoặc tới Bốn Chân Lí Cao Quý, v.v…đó là các lãnh vực của tham / tham ái, hoặc tới các kết quả của thiền định trên Bốn Chân Lí Cao Quý. *Chú thích của bản dịch Việt].

48. Nếu khôngthực chứng tính không, tâm thì bị chế ngựsinh khởi trở lại, như trong vô tưởng định (asamjnisamapatti; non-cognitive meditative equipoise). Thế nên, bạn nên thiền định trên tính không.

(Without emptiness, the mind is constrained and arises again, as in non-cognitive meditative equipoise. Therefore, one should meditate on emptiness)

[Panjika, p.209, giải thích tụng này: Không có tính không, đó là để tính không sang một bên, tâm, hoặc tâm thức, có các đối tượng tinh thần bị chế ngự bởi vòng thòng lọng của tham đối với đối tượng của nó. Mặc dầu tâm thì bất hoạt một thời gian do năng lực của chánh định (samadhi), nó sinh khởi trở lại. *Chú thích của bản dịch Việt] .

49. Nếu bạn ghi nhận tất cả các lời tương ứng với các bản kinh là các lời của Đức Phật, vậy tại sao bạn không tôn kính Đại Thừa, trong đó đa số các phần thì tương tự với các kinh của bạn?

50. Nếu toàn thể là sai bởi vì không đồng ý với một bộ kinh [Kinh Bát Nhã], tại sao không xem toàn thể là được dạy bởi đấng Tối Thắng bởi vì một bộ kinh Đại Thừa thì tương tự với các bản kinh Tiểu Thừa?

51. Ai sẽ không chấp nhận các giáo pháp mà các vị lãnh đạo như Đại Ca Diếp (Mahakasyapa) còn chưa thấu hiểu, [để theo ý kiến bạn] chỉ bởi vì bạn không lí hội thông hiểu chúng?

52. Các bồ tát thành tựu xuyên qua cách tuyệt tham và sợ, tiếp tục ở trong luân hồi để làm các điều tốt cho các người khổ đau do vô trí. Đó là một kết quả của tính không.

53. Thế nên, không còn khả hữu nào để biện bác tính không, vậy bạn nên thiền định về tính không ngay tức thời.

54. Vì tính không là thuốc giải cho bóng tối của các che lấp phiền nãonhận thức, bạn đang mong cầu nhất thiết trí, sao không lập tức thiền định trên tính không?

55. Hãy để sợ sinh khởi với một cái gì sản sinh đau khổ. Tính không làm bình tĩnh và không sợ. Vậy tại sao nỗi sợ về tính không sinh khởi?

56. Nếu có một cái gì được gọi là ‘Tôi’, nỗi sợ có thể đến từ bất kì nơi nào. Nếu không có ‘Tôi’, sẽ có nỗi sợ của ai?

57. Răng, tóc, và móng tay không là tôi, và xương, máu, dịch nhầy, đàm dãi, mủ, hoặc bạch huyết cũng không là tôi.

58. Dầu mỡ của thân không là tôi, mồ hôi, chất béo, hoặc nội tạng cũng không là tôi. Xoang trống của nội tạng cũng không là tôi, các chất bài tiết hoặc nước tiểu cũng không là tôi.

59. Thịt không là tôi, gân cơ, sức nóng, khí cũng không là tôi. Các lỗ mở của cơ thể cũng không là tôi, bất kì cách nào, sáu thức (thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, và ý thức) cũng không là tôi.

60. Nếu tính biết âm thanh là tôi, lúc đó âm thanh sẽ luôn luôn được nghe. Nhưng nếu không có đối tượng của tính biết, nó nhận thức cái gì bởi vì do cái nó nhận thức mà nó được gọi là tính biết?

61. Nếu cái không nhận thức là tính biết, một miếng gỗ sẽ là tính biết. Thế nên điều chắc chắn không có tính biết khi không có đối tượng của nó.

62. Tại sao tính biết nhận thức sắc tướng (form) nhưng lại không nghe?

[Nhà Số Luận:] Bởi vì không có âm thanh nên không có tính biết về âm thanh.

63. [Nhà Trung Quán:] Làm thế nào một cái có bản chất của nhận thức về âm thanhnhận thức về sắc tướng? Một cá nhân có thể được xem là một người cha [của A] và là một người con [của B], nhưng không trong phương diện tính thật tại tối hậu.

64. Bởi vì sattva (joy; hỉ), rajas (suffering; ưu), và tamas (confusion; ám) cũng chẳng phải là cha, cũng chẳng phải là con. Hơn nữa, bản chất của nó không được thấy là tương quan đến nhận thức về âm thanh.

65. Nếu sự vật đồng nhất [nhưng] có ngụy trang khác, giống như một diễn viên, người đó thì không thường hằng. Nếu người đó có các bản chất khác nhau, kết quả sự thống nhất này của người đó thì từ trước tới nay không hề có.

66. Nếu một ngụy trang khác không phải là chân thực, vậy thì hãy miêu tả sắc tướng bản chất của nó. Nếu nó là bản chất của tính biết, vậy thì nó sẽ thể hiện rằng tất cả mọi người sẽ là đồng nhất.

67. Cái có ý chí và cái không có ý chí sẽ là đồng nhất, bởi vì hiện hữu của chúng sẽ là đồng nhất. Nếu sự khác biệt là giả, vậy thì cái gì sẽ là căn bản cho sự tương tự?

68. Cái không có tính nhận thức không là “Tôi”, bởi vì nó không có tâm thức, giống như tấm vải và thứ tương tự. Nếu nó có tính nhận thức bởi vì nó có tâm thức, kết quả là khi nó ngừng nhận thức về bất kì sự vật gì, nó sẽ biến mất (=vô thường) [trong khi ngã của nhà Naiyayika là bất thức, thường hằng]

69. Nếu Ngã không là chủ thể có biến dịch, công dụng của tâm thức của nó là gì? Như vậy, điều này ám chỉ rằng hư không, không có tâm thức và không có tính hoạt động, có một Ngã.

70. [Phản đối:] Nếu không có ngã, sự liên quan giữa một hành nghiệp và kết quả của nó là điều không thể có, vì nếu tác giả của một hành nghiệp chết, ai sẽ có kết quả?

71. [Nhà Trung Quán:] Khi cả hai chúng ta đã đồng ý rằng một hành nghiệp và kết quả của nó có các căn cứ khác nhau và rằng Ngã khôngảnh hưởng trong vấn đề này, kết quả là không có điểm gì để tranh luận về điều này.

72. Cá nhânnguyên nhân không thể được xem là được sinh ra với kết quả. Điều được tỏ rõ là sự hiện hữu của tác giảthọ giả của các hệ quả tùy thuộc trên sự thống nhất của tương tục tâm thức của họ.

73. Tâm quá khứ hoặc tâm tương lai không phải là ‘tôi’, vì nó không hiện hữu. Nếu tâm hiện tại là ‘tôi’, kết quả là khi nó biến mất, ‘tôi’ không hiện hữu nữa.

74. Cũng như thân cây chuối khi tách thành các bẹ là không còn gì, cũng cùng một cách ‘tôi’ thì không hiện hữu khi được tìm kiếm một cách phân tích.

75. [Nghi vấn:] Nếu không hữu tình hiện hữu, có đại bi cho ai?

[Nhà Trung Quán:] Có đại bi để cho bạn thực hiện bồ tát hạnh do bị phóng chiếu xuyên qua vô trí thấy có các hữu tình tạo thiện hạnh, ác hạnh nên cần cứu độ [= do vô trí tin vào có người cứu độ, người được cứu độ thế nên nỗ lực thực hiện bồ tát hạnh]

76. [Nghi vấn:] Nếu khônghữu tình, bồ tát hạnh là của ai?

[Nhà Trung Quán:] Đúng là không có hữu tình theo chân lí tối hậu. Nỗ lực là cũng nhờ ở vô trí [theo nghĩa thế tụcngười cứu độ, người được cứu độ]. Tuy nhiên, để làm giảm bớt đau khổ, bạn không làm ngơ không nghĩ đến vô trí liên quan với bồ tát hạnh của bạn như thế nào.

[bạn phải lí hội thông hiểu không có người cứu độ, người được cứu độ, tỉ dụ để giảm bớt đau khổ do đại bị ái kiến: cứu đến bao giờ mới xong;tỉ dụ thái độ người được cứu độ]

Bản dịch Việt: ý hai tụng 75, 76 cũng là:

“Xa lià chấp đoạn thường

Pháp thế gian như mộng

Trí chẳng trụ hữu vô

khởi tâm đại bi

Biết nhân pháp vô ngã

Phiền nãonhĩ diệm

Thường trong sạch vô tướng

khởi tâm đại bi” (Kinh Lăng già)

77. Theo bất cứ cách nào, chấp thủ vào ‘tôi’, đó là một nguyên nhân của đau khổ, gia tăng do vô trí về Ngã. Nếu đây là kết quả không thể tránh được của chấp ngã, thiền định trên tính vô ngã là điều tốt nhất.

78. Thân không phải là bàn chân, bắp chân, đùi. Cũng không phải là hông, bụng, lưng, ngực hoặc cánh tay.

79. Nó không phải là bàn tay, thân mình, hoặc nách, cũng không phải vai. Thân cũng không phải là cổ, hoặc đầu. Vậy, ở đây cái gì là thân?

80. Nếu thân này hiện hữu một cách bộ phận trong tất cả các bộ phận này, và các bộ phận của nó hiện hữu trong các bộ phận của chúng, ở đâu thân được thấy bởi chính thân?

81. Nếu thân ở vị trí trong tính toàn thể của nó trong hai bàn tay và các chi khác, sẽ có nhiều thân như số bàn tay và các chi.

82. Thân cũng không ở bên trong, cũng không ở bên ngoài. Làm thế nào thân có thể ở trong hai bàn tay và hai chi khác. Thân thì không cách biệt với hai bàn tay và các thứ. Vậy, làm thế nào nó có thể tìm thấy được?

83. Như vậy, thân không hiện hữu. Tuy nhiên, bởi vì vô trí, có cảm tưởng thân liên quan tới hai bàn tay và các thứ, bởi vì hình thể chuyên biệt của chúng, cũng như có cảm tưởng có một cá nhân khi thấy một cái trụ.

84. Trong bao lâu một tập hợp các duyên kéo dài, thân được thấy như một cá nhân. Cũng như thế, trong bao lâu nó kéo dài liên hệ với bàn tay, và v.v…thân tiếp tục được thấy trong chúng.

85. Cũng như thế, bởi vì nó là kết hợp các ngón chân, ngón chân nào sẽ là một bàn chân? Cũng áp dụng như một ngón chân, bởi vì nó là kết hợp của các khớp, và cũng như, đối với một khớp, bởi vì sự phân chia của nó thành các bộ phận của nó.

86. Ngay cả các bộ phận có thể được chia thành các vi trần/nguyên tử, và một vi trần/nguyên tử có thể được phân chia tới các phương hướng chánh của nó. Phân chia của phương hướng chánh là hư không bởi vì nó là không có các bộ phận. Thế nên, một vi trần/nguyên tử không hiện hữu.

87. Kẻ tuệ quán nào sẽ bị tham luyến vào sắc tướng khi sắc tướng chỉ tương tợ một chiêm bao? Bởi vì thân (đàn ông /đàn bà) không hiện hữu, vậy ai là một người đàn bà và ai là một người đàn ông?

88. Nếu đau khổ hiện hữutự tính, tại sao nó không áp chế niềm hân hoan? Nếu thức ăn ngon lành và các thứ tương tự là một lạc thú, tại sao chúng không làm vui lòng kẻ bị sầu não và v.v…?

89. Nếu lạc thú không được trải nghiệm bởi vì nó bị yếu thế do một cái gì mạnh mẽ hơn nhiều, làm cách nào nó có thể là một cảm thọ, khi nó không có bản chất của trải nghiệm?

90. [Chống đối:] Chắc chắnđau khổ trong trạng thái vi tế trong khi trạng thái thô sơ của nó bị chấm dứt.

[Nhà Trung Quán:] Nếu nó đơn giản là một lạc thú khác, lúc đó trạng thái vi tế đó là một trạng thái vi tế của lạc thú.

91. Nếu đau khổ không sinh khởi khi các duyên hội cho cái đối nghịch của nó sinh khởi, vậy không phải một “cảm thọ” là một khái niệm giả tạo bởi cấu trúc của tưởng?

92. Thế nên, sự phân tích này được tạo lập như là một thuốc giải cho khái niệm sai lạc đó. Bởi vì các tĩnh chỉ sinh khởi từ lĩnh vực của các cuộc điều tra đều là thực phẩm của các thiền gia chánh định.

93. Nếu có một khoảng cách giữa một năng lực giác quan (a sense-faculty; căn) và đối tượng của nó (trần), tiếp xúc giữa hai thì ở đâu? Nếu không có khoảng cách, chúng sẽ là đồng nhất. Trong trường hợp đó, cái gì sẽ tiếp xúc với cái gì?

94. Một vi trần (nguyên tử) không thể xâm nhập một vi trần khác, bởi vì nó không có không gian rỗng thông và nó có cùng kích thước như vi trần khác. Khi không có sự xâm nhập, không có sự trộn lẫn; và khi không có sự trộn lẫn, không có sự tiếp xúc.

95. Trong thực tế, chúng là các vi trần không có kích thước (vi trần không có các cực vi bốn phía và trên dưới), làm cách nào để chúng có tiếp xúc? Hãy chứng tỏ rõ ràng nếu vi trần không kích thước (the partlessness) có thể được quan sát khi có tiếp xúc?

96. Thức không có sắc tướng (form), để có tiếp xúc với thức là điều bất khả; cũng là một điều bất khả đối với một kết hợp [cơ quan giác quan và đối tượng], bởi vì thức không là một sự vật hiện hữu tự tính, như đã được điều tra trước đây.

97. Như vậy, khi không có tiếp xúc, làm cách nào cảm thọ có thể sinh khởi? Cái gì là lí do cho sự nỗ lực sử dụng cảm thọ này? Ai có thể bị tác hại bởi cái gì?

98. Nếu không có kẻ trải nghiệm cảm thọ, và nếu cảm thọ không hiện hữu, vậy thì sau khi lí hội thông hiểu tình thế này, tại sao, khát ái ơi, mi không bị tan tác?

99. Tâm có một bản chất tương tợ chiêm bao và tương tợ huyễn tượng, tâm thấy và cảm động.

100. Cái duyên hội xảy ra trước thì được nhớ lại nhưng không được trải nghiệm bởi cái sinh khởi sau. Nó không trải nghiệm chính nó, nó cũng không được trải nghiệm bởi một cái khác.Bởi vì cảm thọ sinh khởi cùng với tâm, nó thì không được tri nhận bởi tâm.

101. Không có kẻ trải nghiệm cảm thọ (không có thọ giả). Bởi vì điều này, trong tính thật tại, không có cảm thọ. Như vậy, trong gói tập hợp vô ngã này, ai có thể bị tác hại bởi cảm thọ không thực hữu này.

102. Tâm thì không có vị trí trong các căn/năng lực cảm giác (sense faculties), cũng không trong sắc tướng (form) và các đối tượng cảm giác khác (other sense-objects), cũng không ở khoảng giữa chúng. Tâm cũng không được tìm thấy bên trong, bên ngoài, cũng không bất kì đâu khác.

103. Tâm thì không ở trong thân, cũng không bất kì nơi khác, cũng không trộn lẫn, cũng không đứng riêng một nơi nào, là bản vô, nghĩa là không hiện hữu tự tính [= không một vật / bản vô /chân như / như như]. Thế nên, các hữu tình do bản chất đều được giải thoát [= đều là niết bàn tịch tĩnh].

(That which is not in the body nor anywhere else, neither intermingled nor somewhere separate, is nothing. Therefore, sentient beings are by nature liberated.|| Translated from Sanskrit by Vesna A. Wallace and B. Alan Wallace).

[Chú thích của bản dịch Việt * Theo Panjika, pp.245-246, của Bát Nhã Thủ Huệ (950-1030) -- tâm thì không ở trong thân cũng không ở nơi nào khác ngoài thân, tâm cũng không trộn lẫn giữa hai cái này, thân và sự vật bên ngoài, cũng không li cách với thân và hiện diện ở một nơi khác, về phương diện tối hậu là bản vô/chân như, đó là, nó không hiện hữu một cách tự tính. Nó chỉ được tượng trưng bởi cấu trúc của tưởng. Tâm luân hồi cho ấn tượng tương tự một huyễn tượng bởi vì nó chẳng có một bản chất tự tính. Bởi vì lí do đó, các hữu tình được giải thoát do bởi bản chất, bởi vì niết bàn bản tính (prakrti-nirvana; natural nirvana), nó có tướng trạng của không có bản chất tự tính, thì luôn luôn hiện diện trong các dòng tâm thức của tất cả các hữu tình.]

[According the Panjika, pp.245-246, the mind that is not in the body nor somewhere else outside the body, that is neither intermingled between the two, the body and the ouside thing, nor separate from the body and present somewhere else, is ultimately nothing, that is it does not truly exist. It is only presented by mental fabrication. The samsaric mind appears like an illusion because it lacks an intrinsic nature. For that reason, sentient beings are liberated by nature, because the natural nirvana (prakrti-nirvana), which has the characteristic of the absence of intrinsic nature, is always present in the streams of consciousness of all beings.|| A Guide to Boddhisattva Way of Life. Translated from Sanskrit and Tibetan by Vesna A. Wallace and B. Alan Wallace]

[What is not in the body nor elsewhere, neither intermingled nor separate anywhere, that is nothing. Therefore living beings are inherently liberated.|| Translated from Sanskrit by Kate Crosby and Andrew Skilton] 

104. Nếu nhận thức (cognition) là có trước khi có đối tượng của nhận thức, nó sinh khởi trong sự tùy thuộc trên cái gì? Nếu nhận thức sinh khởi đồng thời với đối tượng của nhận thức, nó sinh khởi trong sự tùy thuộc trên cái gì?

105. Nếu nhận thức sinh khởi sau khi có đối tượng của nhận thức, nhận thức sẽ sinh khởi từ cái gì? Trong cách này, điều được xác định là không hiện tượng nào bắt đầu hiện hữu.

106. [Chống đối:] Nếu đúng là các pháp vốn vô sinh, thì chân lí quy ước thế tục (xem các pháp có sinh diệt…) không hiện hữu, làm cách nào có thể có hai chân lí? Nhà Trung Quán nói chân lí quy ước thế tục hiện hữu theo một chân lí quy ước thế tục khác [tâm nhị nguyên đối đãi], vậy làm cách nào có thể có một hữu tình được giải thoát?

107. [Nhà Trung Quán:] Một hữu tình được giải thoát là một sự ý niệm hoá [chứng đắc]trong tâm của một cá nhân khác, và một hữu tình được giải thoát không hiện hữu do chân lí quy ước thế tục về hữu tình đó [do vô sở đắc]. Sau khi một sự vật được xác định chính xác, nó hiện hữu trong tính thật tại quy ước thế tục; nếu không, nó không hiện hữu trong tính thật tại quy ước thế tục.

[* Chú thích bản dịch Việt -- Đối chiếu với Kinh Kim Cương:

“Tu Bồ đề! ý ông thế nào? Như laichứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng? Như Laithuyết pháp chăng? Tu Bồ Đề đáp: Như con hiểu nghĩa của Phật nói thì chẳng có pháp nhất định gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng chẳng có pháp nhất định cho Như Lai thuyết. Tại sao? Vì pháp của Như Lai thuyết đều chẳng thể chấp thật, chẳng thể nói là pháp, là phi pháp hay phi phi pháp.Tại sao? Vì tất cả hiền thánh đều dựa theo pháp vô vi mà nói có sai biệt .” (Bản dịch Thích Duy Lực) ]

108. Cả hai, khái niệm và cái được khái niệm đều hỗ tương tùy thuộc, cũng như mỗi một phân tích đều được diễn tả bằng cách quy chiếu tới cái đã được tri nhận một cách phổ biến.

109. [Phản đối:] Nhưng nếu bạn phân tích bằng các phương pháp của sự phân tích mà chính phương pháp phân tích lại được phân tích, kết quả có một sự trở lui vô hạn, bởi vì sự phân tích đó có thể cũng được phân tích.

110. [Nhà Trung Quán:] Khi đối tượng của sự phân tích được phân tích, không một căn bản nào để phân tích còn sót lại. Vì không có một căn bản nào, nó không sinh khởi, và điều đó được gọi “niết bàn”.

111. Đối với một người cả hai sự phân tích (tâm) và đối tượng của sự phân tích (cảnh) đều hiện hữu thực hữu thì ở trong một lập trường cực kì không vững. Nếu một đối tượng hiện hữu do năng lực của nhận thức (power of cognition), làm cách nào bạn đi tới [kết luận] sự hiện hữu thực hữu của nhận thức?

112. Nếu nhận thức hiện hữu do năng lực của đối tượng của nhận thức, làm cách nào bạn đi tới [kết luận] sự hiện hữu thực hữu của đối tượng của nhận thức? Nếu sự hiện hữu của chúng là do năng lực hỗ tương của chúng, chúng cũng không thể hiện hữu.

113. [Phản đối:] Nếu không có con thì không được gọi là cha, nếu không có cha, làm cách nào có thể được gọi là con.

[Trung Quán:] Cũng như không có con thì không có cha, tương tự, cả hai sự nhận thức (tâm) và đối tượng nhận thức (cảnh) đều không hiện hữu.

114. [Phản đối:] Chồi cây sinh khởi từ hạt giống. Hạt giống được chỉ rõ bởi chồi cây đó. Tại sao nhận thức sinh khởi từ đối tượng nhận thức lại không minh xác sự hiện hữu thực hữu của đối tượng đó của nhận thức?

115. [Nhà Trung Quán:] Hiện hữu của một hạt giống được minh xác do một nhận thức thì không giống như do chồi cây. Làm cách nào nhận thức sự hiện hữu của một nhận thức, khi nó minh xác đối tượng của nhận thức.

116. Người bình thường quan sát các nguyên nhân xuyên qua tri nhận trực tiếp, khi thấy các bộ phận của một hoa sen, tỉ dụ cọng … đều được sinh ra bởi nhiều nguyên nhân.

117. [Vấn:] Cái gì làm ra các nguyên nhân?

[Nhà Trung Quán:] Các nguyên nhân đi trước.

[Vấn:] Làm cách nào một nguyên nhân cho ra một hiệu quả?

[Nhà Trung Quán:] Bởi vì năng lực của các nguyên nhân đi trước.

118. [Nhà Chính Lí Luận - Nhà Thắng Luận (Nyaya- Vaisesika):] Tự Tại Thiênnguyên nhân của thế giới.

[Nhà Trung Quán:] Vậy hãy giải thích Tự Tại Thiên là ai. Nếu ngài là các nguyên tố, hãy là như thế; nhưng vậy tại sao tranh giành một cái chỉ thuần là tên gọi?

119. Hơn nữa, trái đất và các nguyên tố khác không phải là một; chúng thì vô thường, bất hoạt, và không linh thánh. Chúng có thể bị bước chân đạp lên và nhơ nhuốm. Đó không là Tự Tại Thiên.

120. Hư không không là Tạo Chủ vì nó thì bất hoạt. Nó cũng không phải là Ngã, bởi vì điều đó đã bị bác bỏ. Làm cách nào có thể miêu tả được về sự tạo lập không thể nghĩ bàn của Vị Không Thể Nghĩ Bàn?

121. Ngài mong muốn sáng tạo cái gì? Nếu [ngài mong muốn sáng tạo] một Tự Ngã, có phải là Tự Ngã đó, bản chất của trái đất và các nguyên tố khác, và Tự Tại Thiên không thường hằng? Nhận thức là do từ đối tượng của nhận thức và là không có sự khởi đầu.

122. Hạnh phúcđau khổ là kết quả của hành động. Hãy nói, vậy thì ngài đã sáng tạo cái gì? Nếu nguyên nhân không có sự khởi đầu, làm cách nào các hiệu quả của nó có một sự khởi đầu?

123. Nếu ngài không tùy thuộc bất kì một sự vật gì khác, tại sao ngài không tạo lập liên tục? Không có bất kì thứ gì không được tạo lập bởi ngài, như thế ngài sẽ tùy thuộc vào cái gì?

124. Nếu Tự Tại Thiên tùy thuộc vào một tập hợp các duyên, kết quả là ngài không là nguyên nhân. Ngài không thể tự kềm chế không sáng tạo khi có một tập hợp các duyên, ngài cũng không thể sáng tạo khi không có tập hợp các duyên.

125. Nếu Tự Tại Thiên sáng tạo mà không có ham muốn sáng tạo, kết quả là ngài thì tùy thuộc vào một sự vật khác với ngài. Ngay cả nếu ngài ham muốn sáng tạo, ngài tùy thuộc vào ham muốn đó. Toàn năng của Tạo Chủ là từ ở đâu?

126. Những người chủ trương các vi trần (nguyên tử) thì thường hằng đã bị luận bác trước đây. Các nhà Số Luận (Samkhyas) xem chất thể tối sơ (primal substance) là nguyên nhân thường hằng của thế giới:

127. Các thành tố của vũ trụ -- sattva, rajas, và tamas (hỉ, ưu, và ám) -- vẫn ở trạng thái quân bình, được gọi là chất thể tối sơ. Vũ trụ được giải thích bởi sự mất quân bình của chúng.

128. Một sự vật đơn nhất có ba bản chất là phi lí, thế nên nó không hiện hữu. Tương tự, các thành tố vũ trụ không hiện hữu, vì mỗi thành tố sẽ gồm ba thành tố.

129. Trong khi ba thành tố này phi hiện hữu, [nhưng ông xem là chúng hiển lộ thành vạn hữu], sự hiện hữu của âm thanh và các đối tượng giác quan khác [có ba đức hỉ, ưu, và ám] là bất khả. Thêm nữa, các sự vật vô tình-thức như tấm vải, v.v… có ba đức hỉ, ưu, và ám cũng là điều bất khả.

130. Nếu ông tranh luận các sự vật có bản chất của các nguyên nhân, có phải các sự vật đã không được phân tích? Đối với ông, hỉ, ưu, ám đều là nguyên nhân, nhưng [chúng ta thấy] tấm vải, v.v… đều không là một kết quả của nguyên nhân đó.

131. Hạnh phúc và các cảm thọ khác có thể do từ các sự vật tỉ dụ tấm vải, nhưng trong khi không có chúng, sẽ không có hạnh phúc và các cảm thọ khác. Hạnh phúc và các cảm thọ khác chẳng bao giờ được thấy thường hằng.

132. Nếu các hiển lộ của hạnh phúc hiện hữu thực hữu, tại sao cảm thọ này không được nhận thức [liên tục, vì nó thường hằng]? Nếu ông nói nó trở thành vi tế, làm cách nào nó là thô và vi tế?

133. [Chống đối:] Nó thì vi tế do rời khỏi trạng thái thô của nó. Sự thô và sự vi tế của nó là vô thường.

[Nhà Trung Quán:] [Chúng là vô thường] Tại sao ông không xem mọi sự vật là vô thường, cũng trong cách đó?

134. Nếu trạng thái thô không khác với hạnh phúc, vậy thì sự vô thường của hạnh phúchiển nhiên. Nếu ông nghĩ rằng một sự vật phi hiện hữu không sinh khởi bởi vì nó không có một sự hiện hữu bất kì gì cả, kết quả là ông đã chấp thuận, dù trái ý muốn của ông, sự sinh khởi của một sự vật hiển lộ mà nó đã là phi hiện hữu.

135. Nếu ông chấp nhận rằng hiệu quả thì hiện diện trong nguyên nhân , vậy thì một kẻ ăn thức ăn sẽ là đang ăn phân, và hạt cây bông vải sẽ được mua với giá tiền một tấm vải và sẽ được mặc như là quần áo.

136. Nếu ông biện luận rằng người bình thường không thấy điều này bởi vì ngu si vô trí, nhưng điều này cũng đúng cho cả [Kapila, thầy của ông] kẻ nhận biết tính thật tại.

137. Ngay cả người bình thường nhận biết điều đó. Tại sao họ không thấy nó? Nếu ông biện luận rằng người bình thường không có nhận thức giá trị chính xác, vậy thì tri nhận của họ về sự vật hiển lộ là sai.

138. [Nhà Số Luận:] Nếu nhận thức giá trị chính xác không là nhận thức giá trị chính xác, vậy thì không phải là nó được xác định một cách dối gạt sao? Trong tính thật tại, tính không của các hiện tượng thì không được xác định xuyên qua nhận thức giá trị chính xác đó.

139. [Nhà Trung Quán:] Nếu không tìm kiếm khám phá một sự vật được tưởng tượng, sự phi hiện hữu của nó thì không được nhận biết. Thế nên, nếu một sự vật là dối gạt, sự phi hiện hữu của nó hiển nhiên là dối gạt.

140. Như vậy, khi trong một chiêm bao, một đứa con trai đã chết, tâm niệm “Nó không hiện hữu” ngăn ngừa trước sự sinh khởi của tâm niệm về sự hiện hữu của nó, và điều đó cũng là hư giả.

141. Thế nên, với sự phân tích này, không sự vật nào hiện hữu không có một nguyên nhân, nó cũng không được bao hàm trong các duyên cá biệt hoặc các duyên nguyên nhân kết hợp.

142. Không sự vật nào đến từ một sự vật khác, không sự vật nào trụ lại, và không sự vật nào đi. Sự khác biệt giữa một huyễn tượng và cái mà người ngu xem là thật là gì?

143. Hãy khảo sát điều này: Cái được tạo lập do huyễn tượng và cái được tạo lập do các nguyên nhân, chúng đến từ đâu và chúng đi đâu?

144. Làm cách nào có thể có hiện hữu thực hữu trong một sự vật giả tạo, giống như một phản chiếu, nó được tri nhận chỉ trong nối kết với một sự vật khác và không được tri nhận trong sự không nối kết của nó?

145. Đối với một sự vật hiện hữu rồi, nó cần gì đến một nguyên nhân? Nếu một sự vật không hiện hữu, nó cần gì đến một nguyên nhân?

146. Một sự vật không hiện hữu sẽ không là chủ thể để thay đổi, ngay cả với hàng triệu nguyên nhân. Làm cách nào một sự vật trong trạng thái đó có thể hiện hữu? Cái gì khác có thể đi vào trạng thái hiện hữu?

147. Nếu một sự vật không là một sự vật hiện hữu vào thời gian nó là một sự vật phi hiện hữu, [vậy] khi nào một sự vật hiện hữu trở thành hiện hữu. Vì sự vật phi hiện hữu sẽ không biến mất cho tới khi sự vật hiện hữu chưa được sinh.

148. Khi một sự vật phi hiện hữu chưa biến mất, không có cơ hội cho một sự vật hiện hữu. Một sự vật hiện hữu không trở thành phi hiện hữu vì như thế nó sẽ có hai bản chất.

149. Như vậy, chẳng có diệt tận, cũng chẳng có đi vào hiện hữu vào bất kì thời gian nào. Thế nên toàn thể vũ trụ này không sinh khởi hoặc diệt tận.

150. Các trạng thái của hiện hữu đều giống như các chiêm bao; trên sự phân tích, chúng thì tương tự các cây chuối. Trong tính thật tại, không có sự khác biệt giữa những người đạt niết bàn và những người không.

151. Khi tất cả các hiện tượng đều rỗng thông không có hiện hữu tự tính, cái gì có thể được và cái gì có thể mất? Ai sẽ được vinh danh hoặc sẽ bị khinh miệt bởi ai?

152. Từ nơi nào hạnh phúc hoặc đau khổ đến? Cái gì là vui và cái gì là buồn ? Khi điều tra về bản chất tối hậu của nó, cái gì đang khát ái và cái đó đang khát ái về cái gì?

153. Do sự điều tra, thế giới của các hữu tình là gì, và ai sẽ chết một cách thực hữu nơi đây? Ai sẽ ở đó và ai đã ở đó? Ai là một thân nhân, và ai là bạn của ai?

154. Mong ước những kẻ ngu si giống như tôi nhận thức được mỗi mỗi sự vật giống như hư không. Họ cuồng nộ với phương tiện tranh luậnhoan hỉ với cảm giác hân hoan chiến thắng.

155. Tìm kiếm hạnh phúc riêng của chúng với các ác hạnh, chúng sống một cách khốn khổ với nỗi đau thương, vất vả, tuyệt vọng, và cắt và đâm lẫn nhau.

156. Sau nhiều lần tái sinh vào các trạng thái hiện hữu phúc đứctrở thành quen thuộc với các lạc thú tái diễn, chúng chết và rơi vào các trạng thái hiện hữu khốn khổ trong lo sợ lâu dài và ghê gớm.

157. Có nhiều vực sâu trong hiện hữu thế gian, nhưng không có chân lí về tính không ở đó. Có sự xung khắc hỗ tương giữa vô minh [chấp thủ thực hữu] và thông hiểu tính thật tại [pháp tính]. Tính thật tại không thể là giống như điều này [hiện hữu thực hữu].

158. Có các đại hải bất khả so sánh, đầy bạo lực, và không biên giới của đau khổ. Năng lực thì hiếm có ở đó; và tuổi thọ thì ngắn ở đó.

159. Ở đó, vận dụng phương tiện các nghề nghiệp để sống lâu và khoẻ mạnh, trong đói khát, mệt nhọc, và mòn mỏi, trong giấc ngủ và các tai biến bất hạnh, và trong các giao tiếp vô bổ với các người ngu si.

160. Cuộc đời trôi qua mau chóng và không đạt kết quả mong cầu. Ở đó thật là khó phân biệt được thiện hạnhác hạnh. Ở đó làm cách nào có một cách để ngăn trước được các tán loạn do thói quen?

161. Cũng ở đó, Ma [Ma phiền não] cố gắng ném chúng vào các trạng thái thiểu não tang thương. Ở đó bởi vì có quá nhiều đạo lộ sai lầm, nên khó vượt qua được sự hoài nghi.

162. Các thuận duyên cho tu tập (leisure) thì khó mà có trở lại. Sự xuất hiện của Phật là cực kì hiếm có. Sự tràn ngập phiền não tinh thần thì khó lòng ngăn trở. Than ôi đau khổ tiếp nối mãi.

163. Ôi, đáng thương quá những hữu tình trôi giạt trong dòng nước lũ đau khổ, những kẻ khốn khổ trong lối sống này, vẫn không nhận định được tình trạng thiểu não tang thương của họ.

164. Hoàn toàn giống như kẻ [tu khổ hạnh tịnh hoá cơ thể] dìm mình vào trong nước nhiều lần nhưng lại đi vào trong lửa nhiều lần, như thế chúng xem chúng có phúc lành, mặc dầu chúng cực kì khốn khổ.

165. Vì họ sống như thế này, giả vờ rằng họ không là chủ thể đối với già và chết, khi các tai biến bất hạnh đến, với cái chết đi đầu [nên trước nhất họ bị giết chết và kết quả là họ rơi xuống các trạng thái hiện hữu khốn khổ].

166. Như vậy, khi nào tôi có thể cung cấp các cứu độ cho những kẻ bị ngọn lửa đau khổ hành hạ, với các hiến tặng hạnh phúc phóng thẳng từ các đám mây phúc đức của tôi?

167. Khi nào tôi sẽ một cách cung kính giảng dạy tính khôngsự tích tập phúc đức -- trong các phương diện của chân lí quy ước thế tục và không có sự cụ thể hoá (= chấp thật) -- tới những kẻ tri kiến bị cụ thể hoá (= chấp thật)?

________________________

CHÚ THÍCH

1. Thiện Thệ: Trong 10 hiệu của Phật thì thứ nhất là Như Lai, thứ 5 là Thiện Thệ. Như lai nghĩa nương theo đạo như thực, khéo đến thế giới Sa bà này; Thiện thệ nghĩa là thực sự đến bờ bến kia, không còn lui lại biển sinh tử nữa. Hai từ Như laiThiện thệ được sử dụng để nêu tỏ cái đức đi, đến tự tại của chư Phật. ( Phật Quang Đại Từ Điển . p.5840)

2. Thiện thệ (Sugata): Prajnakaramati trong Panjika, p.1 , định nghĩa chư Thiện thệ trong bốn cách:

(1) là các vị đã xoá bỏ các sự che lấp của các phiền não tinh thần (klesyadyavaraprahanam gatah)

(2) là các vị đã thực chứng tính vô ngã của tất cả các hiện tượng (prasatam sarva -dharma-nihsvabhavata-tattvam gata adhigatah)

(3) là các vị đã đi, không trở lại một lần nào (apunaavrttya gatah) bởi vì các vị hoàn toàn xóa sạchvô minh (avidya; spiritual ignorance) là hạt giống chấp thủ “tôi” (ahamkara), và bởi sự xoá bỏ vô minh chư Thiện Thệ khác biệt hẳn với các vị Nhập Lưu/ Dự Lưu ( srotapanna; Stream-enterers; tu đà hoàn), các vị Nhất lai (sakrdagamin; Once-returners; tư đà hàm), và các Bồ tát;

(4) và các vị đã đạt đến sự xoá bỏ hoàn toàn các tập khí nghiệp (vasana; karmic imprint) không còn bất kì dư báo nào (without any remainder), và do nhờ trạng thái viễn li trọn vẹn này, chư Thiện Thệ khác biệt hẳn các vị Bất Hoàn (anagamin; Non-returners; a na hàm), các Thanh Văn (sravakas), và các vị Độc Giác (Pratyekabuddhas).

3. phúc đức (Skt. punya; Tibetan: bsod nams; merit) được quý mến sâu rộng trong Phật giáo là một sự vật được tích tập trong giòng tâm (mind-stream) của bạn trong trạng thái là kết quả của các hành hoạt công đức, và nó thì bị giảm bớt bởi các hành động phi công đức tỉ dụ các hành tác ác ý, tà tâm. Nó là suối nguồn của an lạc trong luân hồi, và sự tích tập của nó là một yếu tố cần thiết trong mục đích đạt niết bàn. Như vậy, nó có ý nghĩa của “năng lực tâm linh”, cộng thêm vào “phúc đức” (merit) và “công đức” (virtue).

4. Chương 1, tụng 25: theo Panjika , p.15 thì “viên ngọc chưa từng có và cao quý này” là quy chỉ một hữu tình.

5. Chương 1, tụng 34: theo Panjika, p.18, một nguồn của trích dẫn này là: Gunaratnasamuccaya; Công đức bảo tích tinh yếu)

6. Chương 2, tụng 1: theo Panjika, p. 12, viên ngọc của Pháp tối thượng là tướng trạng của kinh điển và các thực chứng tâm linh (agamadhigama-laksana).

7. Chú thích của bản Anh. Trong toàn tác phẩm này, ngài Tịch Thiên nói về “Skt. papa” (Tibetan: sdig pa), (nghiệp tội/tội nghiệp); Các độc giả Tây Phương hiện đại thường bác bỏ sự giới thiệu từ ngữ SIN (tội) vào các bản dịch Phật giáo trên các căn cứ là nó chất chứa nặng nề thêm các sai biệt hình bóng thần họctâm lí học từ lịch sử các tôn giáoxã hội Tây Phương. Họ tranh biện, từ ngữ này thì liên kết sít sao với sự thưởng phạt/ sự phán xét thần thánh, sự có tội, và sự sợ hãi, nó nên cùng được tránh sử dụng trong các bài viết Phật giáo.

Trong bản dịch này chúng tôi [dịch giả bản Anh] dịch thuật ngữ Skt. papa thành cả hai: sin (nghiệp tội/tội nghiệp) và vice ( nết xấu/ tính xấu…). Mặc dầu cũng có thể dịch là misdeed, fault, offence, transgression, hoặc wrongdoing (hành tác sai trái, lỗi lầm, vi phạm…) nhưng không từ ngữ nào theo sát ý niệm Phật giáoTịch Thiên phân biệt giữa các thuật ngữ papa (nghiệp tội), apatti (tội đọa), và dosa (fault, tội lỗi; bane, tai họa) trong hai tác phẩm của ngài, Con đường Bồ tátĐại thừa tập Bồ tát học luận. Trong khi Skt. papa quy chỉ về mọi hành nghiệp phi công đức (akusala-karma; non-virtuous deed), Skt. apatti (tội đọa) chỉ quy chỉ vào các tội đọa (downfalls) do sai trái vượt khỏi các giới điều (transgression of precepts); và Skt. dosa quy chỉ các nhóm lỗi lầm rộng hơn, gồm cả các tính nết làm thiệt hại và không chỉ là các hành tác phi công đức. Như vậy các thuật ngữ vi phạm (offence), sai trái với các giới điều (transgression), và lỗi lầm (fault) không có cùng nghĩa như Skt. papa. Từ Anh ngữ misdeed và wrong doing (hành tác sai trái) có nghĩa tương đối hợp lí với nghĩa của papa, nhưng hãy quan tâm ngài Tịch Thiên nhấn mạnh vào tiến trình sám hối (confessing) và tịnh hoá (purifying) papa để tránh các hệ quả thảm hại/thảm khốc của nó (its dire consequences), tỉ dụ tái sinh trong địa ngụctừ ngữ Anh ngữ thông dụng SIN có vẻ tương ứng sít sao nhất với thuật ngữ papa ( tội nghiệp/ nghiệp tội) của tiếng Phạn.

8. Skt. papa (nghiệp tội) nguyên văn -- cái gì đem bạn xuống thấp. Skt. punya (phúc đức) đối nghĩa với Skt.papa. Punya cái gì đem bạn lên cao. Nó là công đức hay phúc đức tinh thần. Phúc đức dẫn đến hạnh phúc. Nghiệp tội dẫn đến đau khổ.

9. Chương 2, tụng15, theo Panjika, p.26, hoa mạn đà la là một loại hoa được tìm thấy ở cõi của chư thiên.

10. Chương 2, tụng 13, tụng 22 -- theo Panjika, p. 28” Chư tối tôn giữa chư Thủ Hộ của thế giới, Văn Thù, Phổ Hiền, và Di Lặc, chư Bồ tát đều là chư vị đại sư của của mười Địa ( dasa-bhumi)

11. Chương 2, tụng 25, -- theo Panjika, p. 28, tuyên bố các tháp thờ (Skt. caitya; shrines) quy chỉ các tháp thờ Phật (Skt. stupas), trong có xá lợi hoặc không, và “các nơi an trú” (resting-places), quy chỉ các nơi Phật đản sinh, xuất gia, thành đạo, nhập niết bàn, như được thuật trong các kí mục Kinh Bản sinh (Jataka), Kinh Thí dụ (Avadana).

12. Chương 2, tụng 26 -- theo Panjika, p. 29, giải thích rằng về nương tựa nơi (going for refuge) nghĩa là tuân giữ các mệnh lệnh của quy y đó, nghĩa là không làm sai trái vượt khỏi các mệnh lệnh của vị mà bạn quy y.

13. Chương 4, tụng 47 -- theo Panjika, p.47, “Đây chỉ là một huyễn tượng”, vì lí do này (hence), trên quy kết về không có một gốc rễ, [các phiền não tinh thần] đều rỗng thông trong bản chấtngoại lai / khách trần (Skt. agantuka; adventitious).

--------------

Lời cuối:

Thưa quý độc giả,

Bản dịch pháp thoại của Đức Đạt Lai Lạt Ma “Tu tập trí tuệ siêu việt theo con đường Bồ tát của Tịch Thiên” đến đây là hoàn tất.

Về các sai lạc của bản dịch, người dịch mong độc giả từ bi chỉ giáo, hoan hỉ thư về phucdang143@hotmail.com

Chân thành cảm tạ thuvienhoasen.org và hoagiacngo.com đã đăng bản dịch này.

Xin ghi nhớ đoá hoa lòng của hoagiacngo.com giúp hữu tình và người dịch vui về mãi mãi với tính Bản Phật Phổ Hiền:

“Ra đi khắp bốn phương trời

Tìm ai mỏi gót muôn đời còn xa

Ta về gặp lại tình ta

Dấu chân viễn mộng chỉ là phù vân”

(Thiền sư Viên MinhPHÙ VÂN)

Mong độc giả và người dịch đều có các thuận duyên thân tâm, tinh tấn tu học theo con đường Bồ tát.

“Hè đi quẩy gánh nắng theo

Thu về bước nhẹ heo heo núi rừng

Kìa Đông rảo bước sau lưng

Cây khô trẩy gánh tưng bừng hoa Xuân” (TP)

***

Kính thư

Đặng Hữu Phúc (Sydney - Australia -- tháng 12 / 2013)


Tạo bài viết
07/03/2015(Xem: 7326)
17/08/2015(Xem: 4230)
09/05/2012(Xem: 46389)
01/02/2011(Xem: 103680)
06/04/2018(Xem: 3933)
11/09/2012(Xem: 50405)
14/09/2011(Xem: 63495)
05/03/2013(Xem: 23997)
Tác phẩm 'Phật tử cầu nguyện' của nhiếp ảnh gia Trần Tuấn Việt vào top 70 hình ảnh xuất sắc nhất 2018 của tạp chí danh tiếng National Geographic (Mỹ). "Bức ảnh Phật tử nguyện cầu cho thấy các Phật tử bắt đầu cầu nguyện khi mặt trời lặn trên đường chân trời, kéo dài trong ba giờ. Ánh sáng nến lung linh, huyền ảo làm cho buổi cầu nguyện thật thiêng liêng và ấm áp"
Biến đổi khí hậu không phải là mối quan tâm của chỉ một hoặc hai quốc gia. Đó là một vấn đề ảnh hưởng đến tất cả nhân loại và mọi sinh vật trên trái đất này. Nơi tuyệt đẹp này là ngôi nhà duy nhất của chúng ta. Chúng ta phải hành động nghiêm túc ngay bây giờ để bảo vệ môi trường của chúng ta và tìm ra các giải pháp xây dựng đối với việc nóng lên toàn cầu".