Vô Niệm Vô Sanh

17/04/201412:00 SA(Xem: 11751)
Vô Niệm Vô Sanh

VÔ NIỆM VÔ SANH
__________________________________

Thưa ban biên tập,

Một vị giảng sư Phật Giáo và một vị Cư sĩ viết nhiều bài về Phật Pháp loan tải trên một trang web Phật giáo đều cho rằng:

Tu Phật mà cầu vô niệm là tu sai bởi vì vô niệm thì làm sao “biết” để tư duy chân lý và những gì phi chân lý…và chẳng những vô niệm là tu sai mà nghĩ rằng tu cầu đến vô sanh cũng là lầm lẫn. Trên thế gian này có cái gì mà không biến chuyển vận hành? Nói cách khác tất cả đều là sanh diệt…Tu hành cần có những giờ phút "tĩnh tâm" nhưng tĩnh tâm, không được hiểu đó là những phút giây VÔ NIỆM. VÔ SANH là một ý niệm mà người tu Phật phải từ bỏ dứt khoát. Vô sanh đồng nghĩa với "đoạn diệt". Tự mình làm cho mình "rớt" vào hàng ngũ của ngoại đạo "đoạn kiến" là cách tu sai lạc, đáng thương!..”

Vậy xin ban biên tập cho biết ý kiến của hai vị pháp sư này.

Trước hết ý tưởng (hay là sao chép) của vị Cư sĩ là từ lời dạy trong giáo án Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương của vị giảng sư Phật giáo dạy trường Cao Trung Phật Học tỉnh Đồng Nai.

Thật ra vị giảng sưvị cư sĩ nói ở trên đã hiểu một cách sai lạc về Vô Niệm, Vô Sanh. Từ và nghĩa Vô Niệm đã được nhiều thiện tri thức thảo luận từ năm 2002 trên diễn đàn Phật Pháp Thư Viện Hoa Sen, nay chỉ xin tóm lược để giải đáp câu hỏi nêu trên của Đạo hữu:

1 Khi trả lời một câu hỏi về Vô Niệm, Hòa ThượngThích Duy Lực đã khai thị trong một buổi pháp thoại tại Từ Ân Thiền Đường như sau:

“Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ giải thích: Vô niệm chẳng phải không có bản niệm, ngoài bản niệm ra không được mống khởi niệm gì khác, mới gọi là vô niệm, chứ chẳng phải tuyệt luôn bản niệm, nếu bản niệm tuyệt là chết. Dù người chết, bản niệm cũng y nguyên không mất, vì đó là bản thể của tự tánh, chẳng đồng như gỗ đá. Nhiều người hiểu lầm cho vô niệm là trăm tư tưởng đều dứt, ấy là sai. Ngài Lục Tổ giải thích thêm: Lục căn tiếp xúc lục trần, sanh ra lục thức, không nhiễm không chấp thật tức vô niệm.” Hễ thấy cái gì thì chấp cái đó, nghe được cái gì chấp vào cái đó, là có niệm. Thấy như không thấy, nghe như không nghe, chẳng phải là không biết, biết mà không chấp thật (không dính mắc), mới là vô niệm. Kỳ thật, vô niệm tức vô tướng, vô tướng tức vô trụ, mặc dù danh từ có ba, sự thật chỉ là một. Ngài Lục Tổ sợ người hiểu lầm, nên đã hai lần giải thích về vô niệm. (Trích: Duy Lực Ngữ Lục)

2 Trong bản dịch Kinh Pháp Bảo Đàn Hòa Thượng Thích Minh Trực dịch như sau: Sao gọi là vô niệm? Biết cả thảy các pháp mà lòng không nhiễm vương, dính níu, ấy là vô niệm.”

3 Tổ Huệ Năng đã chỉ rõ: "Đối trên các cảnh, tâm không nhiễm gọi là vô niệm, đối trên niệm thường lìa các cảnh, chẳng ở trên cảnh mà sanh tâm". Tổ không có nói là phải diệt trừ hết niệm, tổ nói thêm: "một niệm dứt tức là chết, rồi sẽ sanh nơi khác" tức là tổ biết rằng suy nghĩ là cái chức năng tự động của bộ óc con người, chỉ khi chết thì mới hết suy nghĩ.

opening_the_hand_of_thought__approach_to_zen4 Một thiền sư Nhật bản đương thời là thiền sư Kōshō Uchiyama, thuộc dòng Tào Động, có viết cuốn sách "Opening the Hand of Thought, Approach to Zen" trong đó sư có trình bày về pháp tu Vô niệm như sau:

" Khi chúng ta tọa thiền (zazen) có nghĩa là mọi ý nghĩ phải ngưng bặt và đầu óc trống rỗng phải không? Không, dĩ nhiên là không phải thế. Khi mà chúng ta còn sống thì các ý nghĩ khởi lên là điều tự nhiên, ngày cả khi tọa thiền cũng vậy. Điều quan trọng là để chúng tự đến và đi mà ta không theo đuổi chúng hoặc dẹp trừ chúng."

"Nếu niệm khởi phải gắng để dẹp nó không? Nếu làm như vậy tức là chúng ta lập ra ý nghĩ là phải dẹp niệm đó". Lấy một thí dụ trong cuộc sống là lái xe hơi. Khi chúng ta lái xe mà trong đầu suy nghĩ đủ thứ chuyện thì sẽ bị rối loạn, căng thẳng và nguy hiểm cho việc lái xe. Muốn giữ cho an toàn thì cần phải thư dãn và tỉnh giác. Tọa thiền là để cho bản thể biểu hiện một cách tự nhiênthanh tịnh. Niệm khởi là điều tự nhiên. Nhưng khi chúng ta bám vào niệm đó, chạy theo chúng thì là chúng ta đang suy nghĩ. Thế nào là buông xả các niệm? Khi chúng ta suy nghĩsuy nghĩ về một cái gì đó. Nghĩ về cái gì là dùng ý nghĩ để bám vào cái đó. Không bám vào cái đó tức là buông xả. so sánh những trạng thái biến đổi trong tâm ta như là quang cảnh thiên nhiên: có những lúc trời xanh quang đãng, có lúc mây mù, có lúc mưa bão … những cảnh đó đến rồi tự nó đi, không có gì ta phải bận tâm dính mắc."

Hay nói một cách khác: "Khi mắt thấy một vật, chỉ thấy vật ấy. Khi tai nghe một tiếng, chỉ nghe tiếng ấy. Khi mũi ngửi một mùi, chỉ ngửi mùi ấy. Khi lưỡi nếm món gì, chỉ nếm món đó. Khi có cảm xúc trên da hay trên thân, chỉ biết đến cảm xúc ấy. Và khi một ý nghĩ, một đối tượng tâm linh, khởi lên trong tâm, như một tư tưởng xấu chẳng hạn, chỉ biết tư tưởng ấy. Điều này có nghĩa là không nên để cho tư tưởng phân biệt xấu, tốt, ưa thích hay ghét bỏ sanh khởi. Ưa thích cái gì có nghĩa là ham muốn cái ấy, không ưa thích cái gì có nghĩa là ghét bỏ cái ấy. Ham muốn hay ghét bỏ đều là ô nhiễm phát sinh từ tâm tham, sân và si. Không để các ô nhiễm này dấy lên trong tâm, tức là không dính mắc." (trích sách: Phật Pháp Trong Đời Sống (Tâm Diệu)

5 Còn Vô Sanh, trong kinh Đại Thừa cũng như Nguyên Thủy nói rất rõ ràng. Cho rằng “Vô sanh đồng nghĩa với "đoạn diệt". Tự mình làm cho mình "rớt" vào hàng ngũ của ngoại đạo "đoạn kiến" là cách tu sai lạc, đáng thương!..” là hiểu không đúng, hiểu một cách sai lạc. Đức Phật Thích Ca đã phá hai kiến chấp của ngoại đạo này là (1) chấp thường tức là chấp có một linh hồn bất diệt, và 2) chấp đoạn tức là chấp rằng chết là hết, không còn tồn tại sau khi chết, cũng có nghĩa là không có nhân quả, luân hồi, không có tội phước, đúng sai, phải quấy, đạo đức gì cả vì chết là hết. Chấp thường, chấp đoạn cũng là chủ trương của chủ nghĩa Duy Vật (metarialism)

BBT/TVHS

Ý KIẾN PHẢN HỒI CỦA TÁC GIẢ:

VÔ NIỆM VÔ SANH
(Phần chót)

Trước hết chúng tôi xin cám ơn ban biên tập TVHS đã cho phép chúng tôi đóng góp thêm vài ý kiến nhỏ để cho vấn đề được sáng tỏ.

1)Danh từ “Vô Niệm” nếu được hiểu theo ý nghĩa thông thường là không có ý niệm, không có tư tưởng nào phát hiện trong tâm cả. Nếu hiểu theo định nghĩa này thì trên thế gian này có người nào đã đạt đến trình độ đó chưa? Ngày xưa chính Đức Phật và 1250 vị A la hán khi nhập vào thiền định (tứ thiền) thì ý thức bị diệt, không còn tác động được nữa. Các Ngài chỉ còn sống trong tỉnh thức nghĩa là trong thời điểm đó các Ngài biết rất tỏ tường, sáu căn vẫn sáng tỏ, nhưng không tác ý được nữa cho nên toàn bộ tư tưởng, lời nói cho đến hành động đều bị diệt nghĩa là không còn suy nghĩ, nói năng hay cử động tay chân cho đến khi xuất thiền. Lúc đó tâm các Ngài hoàn toàn thanh tịnh và đây là con đường giải thoát, chứng nhập chân lý. Thế thì tuy ý thức không còn hoạt động, nhưng sáu căn vẫn còn sáng tỏ tức là các Ngài vẫn còn biết, còn tư tưởng chớ đâu có phải là vô niệm.

Bây giờ trong Kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng định nghĩa “Vô Niệm” như sau:” Vô niệm là đối với niệm mà không niệm, đối trên các cảnh mà tâm không nhiễm” nghĩa là khi sáu căn đối diện với cuộc đời (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà tâm không dính mắc, không khởi tà niệm tham, sân, si thì đây là vô niệm. Thế thì vô niệm bên Thiền tông chính là Chánh niệm bên Nguyên thủy rồi. Mỗi trường phái dùng một danh từ khác nhau để diễn giải ý tưởng của trường phái mình, nhưng bên trong ý nghĩa đâu có khác gì nhau. Đức Phật không dạy vô niệm mà chỉ dạy chánh niệmvô ngã để có giải thoát. Tại sao? Bởi vì khi sáu căn tiếp xúc với thế gian thì mắt vẫn thấy sắc, tai vẫn nghe âm thanh, mũi vẫn ngửi mùi, lưỡi vẫn nếm thức ăn, thân vẫn có cảm xúc tức là đối cảnh mà vẫn vô tâm hay là “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nhưng chỉ thấy biết một cách khách quan, không cộng ngã kiến vào thì không bao giờ có khổ vui mà chỉ có an lạc. Tại sao? Bởi vì: “Chư Pháp tùng bổn lai, Thường tự tịch diệt tướng” nghĩa là các pháp từ xưa đến nay, tánh chúng thường vắng lặng, không hạnh phúc và cũng chẳng có khổ đau. Nói cách khác tất cả các Pháp từ Căn như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý đến Trần như sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cho đến sáu Thức đều là tự tánh thanh tịnh bản nhiên nghĩa là tự tánh của thiên nhiên là vậy (như thị), không khổ, không vui. Vì thế khi nói khổ đau hay hạnh phúc là có sự hiện diện của bản ngã trong đó nghĩa là tôi khổ hay tôi hạnh phúc rồi. Thí dụ cành hoa tự nó không đẹp, không xấu, không thơm, không thúi cho nên người biết đạo thì nhìn cành hoa là cành hoa thì tâm an lạc. Ngược lại, nếu cho cành hoa là đẹp thì trong tâm đã có sự so sánh, phân biệt. Tại vì mình cho nó đẹp, mình nghĩ nó đẹp…tức là có tự ngã. Thế thì đau khổ là không được như ý mình muốn còn hạnh phúcthỏa mãn được ý muốn của mình. Nói cách khác thỏa mãn được Cái Ta thì gọi là hạnh phúc, ngược lại không thỏa mãn được Cái Ta thì gọi là đau khổ chớ trên thế gian này không có cái gì là khổ đau hay hạnh phúc cả. Do đó khi không còn sống với bản ngã thì người đó trở về sống với thực tánh pháp thì gọi là giải thoát thế thôi.

Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài dạy chúng sinh chớ vội tin những gì Ngài nói huống chi là kinh luận của các tông phái đời sau viết ra. (Believe nothing, no matter where you read it or who has said it, not even if I have said it, unless it agrees with your own reason and your own common sense. Buddha).

Ban biên tập TVHS viết rằng:”Nếu niệm khởi phải gắng để dẹp nó không? Nếu làm như vậy tức là chúng ta lập ra ý nghĩ là phải dẹp niệm đó”. Lấy một thí dụ trong cuộc sống lái xe hơi. Khi chúng ta lái xe mà trong đầu suy nghĩ đủ thứ chuyện thì sẽ bị rối loạn, căng thẳng và nguy hiểm cho việc lái xe. Muốn giữ cho an toàn thì cần phải thư giản và tỉnh giác”.

Thế thì vô niệm mà quý vị giải thích ở câu trên chính là tỉnh thức chánh niệm chớ là gì! Do vậy, trên thế gian này không có cái gì là vô niệm cả mà chỉ có chánh niệm. Danh từ Vô Niệm là do Thiền tông đặt ra chớ không phải do Đức Phật chế vì thế người học đạo cần phải sáng suốt để thấy con đường mình đi chớ không phải tin suông vào văn tự.

2) Ban biên tập TVHS viết rằng:””Cho rằng “Vô sanh đồng nghĩa với đoạn diệt. Tự mình làm cho mình “rớt” vào hàng ngũ của ngoại đạo “đoạn kiến” là cách tu sai lạc, đáng thương” là hiểu không đúng, hiểu một cách sai lạc”.

Trong phần Tập đế của Tứ Diệu đế, Đức Phật đã giải thích rõ ràng biện kiến như sau:

Biện kiến: có nghĩa là lý luận một chiều. Đây là nói về những người có lý luận độc đoán. Họ nghĩ rằng lý luận của họ là đúng nhất bất chấp là lý luận ấy thực sự có đúng hay không. Có hai loại biện kiến thường thấy là:

-Thường kiến: là họ lý luận rằng khi chết rồi, cái Ta vẫn còn tồn tại mãi mãi. Người chết sẽ sanh ra người, còn súc vật chết sẽ trở lại làm súc vậtthánh nhân chết sẽ trở lại làm thánh nhân. Vì tin tưởng như vậy, nên đối với họ, có tu hay không tu cũng như nhau. Họ không sợ tội ác, nên chẳng cần làm thiện.

-Đoạn kiến: đối với nhóm nầy, thì họ nghĩ rằng chết là hết. Một khi chúng ta tắt thở, nhắm mắt xuôi tay thì không còn gì tồn tại nữa. Lúc đó tội cũng không mà phước cũng chẳng còn. Họ luôn luôn tâm niệm rằng:”Tu nhơn đức già đời cũng chết, hung hăng bạo ngược tận số cũng chẳng còn”. Vì tin tưởng như thế, nên luật nhân quả luân hồi đối với họ không còn ý nghĩa gì cả thành thử họ mặc tình làm điều tội lỗi.

Vì thế “Vô sanh” nghĩa là không còn tái sinh nữa tức là đoạn kiến chớ còn là gì nữa.

Ngày xưa Đức Phật chọn con đường trung đạo để xiễn dương đạo Phật nghĩa là thường kiến Ngài cũng phá mà đoạn kiến Ngài cũng phá. Tại sao? Giáo lý Phật Đà dựa trên thuyết “Duyên Khởi” và chân lý Vô Ngã. Khi Đức Phật thuyết giảng chân lý Vô Ngã cho nhóm ông Kiều Trần Như thì Ngài đã khẳng định rằng tất cả mọi hiện tượng trong thế gian này đều không ngừng tác tạo. Vì là do nhân duyên, nhân này quả nọ, mà thành chớ không có một vật thể nào tự chúng có được nên tất cả mọi hiện tượng đó không có thực thể, không có tự tánh tức là Vô Ngã. Con người chúng ta cũng thế, không có cái gì gọi là Cái Tôi hay Cái Của Tôi tức là Vô Ngã. Đức Phật gọi Cái Tôi chỉ là một ảo giác do tâm thức biến hiện. Sự sai lầmcon người luôn đồng hóa ngũ uẩn (thân, tâm) là Tôi cho nên họ luôn bám chặt vào nó như là một cá thể vững bền. Sự bám vúi đó chính là nguyên nhân đem lại biết bao nỗi khổ đau trong kiếp sống này và mãi mãi về sau. Vì thế dựa theo chân lý Vô Ngã thì làm gì có “vô sanh” cho nên nói vô sanh không là đoạn kiến hay tà kiến thì là gì?

Con đường trung đạo dựa theo thuyết Duyên Khởi là trong cái sinh đã ngầm chứa sự hủy diệt và trong cái chết đã ngầm chứa (kết duyên) cho sự sinh mới nghĩa là sinh ra rồi sẽ bị diệt và diệt rồi để sinh ra cái mới và cứ thế chu kỳ sinh sinh diệt diệt tiếp diễn không ngừng mà Phật giáo gọi là luân hồi. Vì thế từ vô ngãcon người phải chịu sự biến hóa của luật vô thường để phải sinh tử luân hồi trong bao kiếp sống. Do đó vô sanh tức là đoạn diệt nếu không phải là lý luận của ngoại đạo thì là gì?

Ngày xưa Đức Phật và các vị A la hán khi chứng tứ thiền thì các Ngài đắc quả “vô sanh” nghĩa là các Ngài vĩnh viễn không còn tái sinh làm con người để phải chịu sinh tử khổ đau. Ngược lại phàm nhân thì phải chịu tái sinh nghĩa là tạo nhân thì chính mình phải thọ lãnhthế đạo Phật mới nói có luân hồi.

Lê Sỹ Minh Tùng

Tạo bài viết
23/11/2013(Xem: 15085)
26/04/2013(Xem: 27653)
17/04/2013(Xem: 28022)
10/06/2012(Xem: 44783)
Trung tâm Thiền San Francisco (San Francisco Zen Center - SFZC) đưa ra thông tin cuối tháng 8 qua rằng, trung tâm này sẽ xây dựng một cộng đồng dân cư dành riêng cho người hưu trí - tin trên tờ Lion’s Roar cho biết.
Rừng Amazon - lá phổi xanh của Trái Đất đang bị đe dọa. Cách để cứu rừng Amazon, cứu lấy sự tồn vinh của nhân loại chính là hạn chế... ăn thịt.
Âu Châu nầy mỗi năm có 4 mùa rõ rệt. Đó là Xuân, Hạ, Thu và Đông. Mùa Xuân thường bắt đầu sau những tháng ngày lạnh giá của tháng Giêng, tháng Hai... Lúc ấy cây cỏ xanh tươi, cây cối đâm chồi nẩy lộc và muôn hoa đua sắc thắm. Chim đua nhau chuốt giọng trên cành, ong bướm tha hồ bay liệng đó đây để đón Chúa Xuân sang. Khung cảnh ở đây mấy mươi năm nay đều như thế. Mùa Hè bắt đầu với những đêm hầu như không bao giờ tối, và những ngày mới bắt đầu đón nhận ánh thái dương có khi từ hai hay ba giờ sáng cũng là chuyện thường tình.