A Di Đà Kinh Hợp Giải

02/11/201112:00 SA(Xem: 92944)
A Di Đà Kinh Hợp Giải

A DI ĐÀ KINH HỢP GIẢI

Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa hợp dịch

Phần Một 

Lời Trần Tình

 Trong các kinh điển Đại Thừa được lưu truyền rộng rãi, xét về mức độ được giảng giải, trì tụng, có lẽ kinh Di Đà chỉ kém Tâm Kinh Bát Nhã. Từ trước đến nay, trong các tùng lâm, kinh Di Đà vẫn thường được tụng vào mỗi thời công phu tối và hầu như bất cứ vị Tăng Ni thuộc truyền thống Bắc Tông nào cũng đều thuộc lòng kinh Di Đà. Bổn Sư của mạt nhân kể rằng: Trong thời gian làm điệu, ngoài bản Sa Di Tỳ Ni, Hòa Thượng viện chủ bắt các điệu phải học thuộc lòng Di Đà đến nỗi có thể đọc từ chữ cuối ngược lên đầu kinh mà không vấp. Khi học chữ Hán, văn bản đầu tiên Hòa Thượng dùng để dạy các điệu cũng là kinh Di Đà. Khi Hòa Thượng còn tại thế, dù tụng kinh gì đi nữa, mỗi ngày đại chúng trong chùa đều phải tụng Di Đà ít nhất một lần

Tuy được lưu truyền, trì tụng rộng rãi trong khắp các tùng lâm, đối với Phật tử nói chung, kinh Di Đà vẫn là một kinh bị hiểu lầm nhiều nhất. Trong một lần trò chuyện với một Phật tử tu tại gia lâu năm, cũng tu hạnh Tịnh Độ, mạt nhân đã sững sờ khi nghe vị ấy nói: “Cháu tụng kinh gì hằng ngày? Kinh Di Đà hả? Mỗi ngày tôi tụng một quyển Pháp Hoa hay kinh Niết Bàn kia, chứ những kinh nhỏ, sơ cơ như kinh Di Đà, kinh Địa Tạng chỉ khi nào đi đám ma tôi mới thèm tụng đến mà thôi!” Tưởng chỉ mình vị ấy nghĩ như thế, nào ngờ phần lớn những đạo hữu thường gặp hằng tuần tại ngôi chùa gần nhà cũng đều cho rằng kinh Di Đà chỉ dành để đọc cho người chết nghe! Thật là đáng buồn, bản kinh quý báu, tâm huyết của đức Thích Tôn, diệu dược cho đời Mạt Pháp đã bị hiểu lầm, rẻ rúng đến thế ấy!

Sau này, khi đi nghe giảng, chúng tôi cũng rất ngạc nhiên khi thấy không ít vị xuất gia cũng tỏ vẻ coi thường kinh Di Đà. Theo họ, kinh Di Đà chỉ dành cho hạng ông già, bà cả, ít chữ trì tụng. Đối với những vị giảng sư thao thao thuyết giảng, tự hào làu thông kinh điển Tam Tạng ấy, kinh Di Đà chỉ là một thứ ngụ ngôn, một thứ phương tiện quyền biến, hay nói khó nghe hơn là một thứ bánh vẽ để dẫn dụ những hạng sơ cơ nhập đạo. Thậm chí có vị còn chê kinh Di Đà là kinh nặng tính van vái, cầu xin, quỵ lụy không thích hợp với Phật pháp hiện đại! Một thầy còn tuyên bố thẳng thừng: “Còn trẻ mà tu Tịnh Độ thì uổng quá! Tôi chỉ khi nào bịnh gần chết, không còn làm gì được nữa, mới đành chịu nằm niệm Phật! Người tu Tịnh Độ lúc nào cũng nghĩ đến cái chết, đôi vai trĩu nặng nỗi buồn. Thay vì cứ lẩm nhẩm niệm Phật, sao không quán tưởng cảnh giới mình đang sống đây chính là Cực Lạc”.

 Hậu quả tất nhiên là có không ít Phật tử mỗi Chủ Nhật đến chùa tụng một phẩm Pháp Hoa hay Kim Cang, niệm Phật dăm câu lấy có; thế là đã an tâm mình đã “mua sẵn vé” về cõi Cực Lạc, là đã tu nhiều lắm rồi! Chẳng ai bận tâm tìm hiểu giáo nghĩa kinh Di Đà chi cả. Người tự nhận mình là hạ căn chỉ mong khi chết được vãng sanh, nhưng mấy ai bận tâm đến Tín - Hạnh - Nguyện! Những người tự coi mình là bậc thượng căn thì nếu có ai khuyên nên niệm Phật sẽ cười mũi, bảo chỉ có tham thiền hay quán tưởng, trì chú mới là pháp xứng đáng để họ tu tập thôi. Tiếc thay, tuy nói thế, họ cũng chẳng dụng công tọa thiền, cũng chẳng dụng công quán tưởng, trì chú, chỉ luôn nhai nhải: “Duy Tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà! Cực Lạc là đây, lựa tìm đâu xa!”, rồi vẫn an nhiên mặc cho quang âm vùn vụt thoáng qua!

Pháp môn Tịnh Độ nói chung và kinh Di Đà bị hiểu lầm như thế có phải vì kinh Di Đà không được giảng giải cặn kẽ hay không? Hoàn toàn không, từ xưa đến nay, ngoài hai kinh Kim CangTâm Kinh, có lẽ kinh Di Đà đã được giảng và chú giải nhiều nhất. Tính cho đến hiện tại, đa số các vị giảng sư dù ít hay nhiều đều đã từng giảng qua bản kinh này. Điều đáng ngạc nhiên là ít có Phật tử nào chịu tìm đọc các bản chú giải kinh A Di Đà, đành phải hiểu kinh qua cách diễn giảng của các vị giảng sư không mặn mòi với pháp môn Tịnh Độ. Do quá nhiệt tình đề xướng pháp môn của tông phái mình, các vị giảng sư ấy đã nhìn kinh Di Đà qua lăng kính đầy thiên kiến, khiến thính chúng đã lầm càng lầm thêm. Điều đáng buồn là hai bản chú giải trác tuyệtDi Đà Yếu Giải và Di Đà Sớ Sao đã được phiên dịch sang Việt ngữ từ lâu, nhưng có mấy người chịu đọc kỹ càng! Bao lẽ tinh yếu, sâu xa, huyền diệu của kinh Di Đà đã được hai vị Tổ Sư Liên Trì và Ngẫu Ích phơi bày đến cùng cực. Theo mạt nhân thấy biết, mỗi khi giảng kinh, các vị giảng sư hoằng dương Tịnh Độ không ít thì nhiều đều phải dẫn trích ý kiến của nhị vị Tổ Sư.

 Năm 1984, trong một lần thọ Bát Quan Trai Giới, trong giờ nghỉ trưa, mạt nhân nghe một cụ đạo hữu lớn tuổi than vãn là đã tốn nhiều công đọc bản Sớ Sao, nhưng vẫn chưa thể lãnh hội nổi. Theo cụ, ý nghĩa của Sớ Sao quá uyên áo, quá phức tạp; tiếc thay từ ngữ, câu văn được dùng trong bản dịch lại quá cổ, dịch quá sát theo cú pháp Hán văn, nên rất khó cảm nhận được ý chỉ lời dạy của Tổ. Khi đọc qua Yếu Giải, tuy lời văn trong sáng, giản yếu hơn, cụ vẫn cảm thấy khó lãnh hội những phần Tổ luận về Chân Như, Thật Tướng... Cụ cho rằng để lãnh hội được phần nào hai bản chú giải trên, người đọc phải hiểu biết khá nhiều về Phật pháp cũng như phải hiểu được một số thuật ngữ chuyên môn của Hoa Nghiêm, Thiên Thai lẫn Duy Thức. Do thế, những người mới học Phật sẽ dễ chán nản, khó thể kiên nhẫn theo dõi toàn bộ hai bộ chú giải trên.

 Nghe lời than thở ấy, mạt nhân chợt suy nghĩ: sao mình không tổng hợp những lời giảng của các vị giảng sư cận đại Trung Hoa để tạo thành một cuốn chú giải kinh Di Đà dễ hiểu hơn, ngõ hầu các hành nhân sơ cơ, chưa biết nhiều về Phật pháp có thể đọc hiểu được. Khi đã có khái niệm căn bản về những thuật ngữ thường dùng trong kinh, nắm được ý chính của kinh Di Đà, họ sẽ lãnh hội được các bản Yếu Giải và Sớ Sao dễ dàng hơn.

 Ý định này nung nấu đã lâu, nhưng tháng ngày thoi đưa, mạt nhân vẫn chưa tìm được tài liệu vừa ý. Khi ấy, trong tay mạt nhân chỉ có Di Đà Kinh Bạch Thoại Giải của lão cư sĩ Hoàng Trí Hải. Tiếc thay, tác phẩm này chỉ là viết lại ý kinh theo thể văn Bạch Thoại, cũng như giải thích đôi ba thuật ngữ Phật giáo, để những người không quen đọc cổ văn Trung Hoa có thể hiểu được nội dung kinh Di Đà theo mặt văn tự, chứ không nêu lên kiến giảiđặc biệt. Đã thế, lời văn lại quá rườm rà, chỉ thích hợp cho độc giả Trung Hoa, không bõ công dịch sang tiếng Việt. Sau này được đọc thêm cuốn Di Đà Kinh Dị Giải của bà Hàn Anh, đổng sự trưởng Tịnh Tông Học Hội Đài Loan, thì cuốn này cũng chỉ là bản rút gọn tác phẩm của cụ Hoàng Trí Hải, nên cũng không gợi lên một sự hứng thú nào. Khi sang Mỹ, do bận rộn với sinh kế và việc học, ý nguyện xưa tưởng chừng như quên lãng hẳn.

 Ngẫu hợp sao, giữa năm 2002, đạo hữu Minh Lập đã gởi tặng một loạt những bản chú giải kinh Di Đà của các vị giảng sư cận đại như:

1) Phật thuyết A Di Đà Kinh Giảng Lục của pháp sư Đạo Nguyên.

2) Phật thuyết A Di Đà Kinh Bạch Thoại Giảng Giải của Nam Đình Hòa Thượng.

3) Phật thuyết A Di Đà Kinh Yếu Thích của Pháp Sư Bân Tông.

4) Phật thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải Thân Văn Ký do pháp sư Bảo Tịnh giảng.

Kế đó, đạo hữu Không Châu gởi tặng một loạt sách Tịnh Độ. Trong ấy, có cuốn A Di Đà Kinh Thông Tán Sớ của pháp sư Khuy Cơ đời Đường. Đã thế, đạo hữu Huệ Trang lại còn cho mượn cuốn Phật Thuyết A Di Đà Kinh Giảng Nghĩa của pháp sư Văn Châu. Trong một lần đi niệm Phật tại chùa Tịnh Độ, mạt nhân thỉnh được thêm cuốn Trùng Đính Nhị Khóa Hiệp Giải của pháp sư Hưng Từ soạn (trong cuốn này, phần Di Đà Kinh Huyền Nghĩa cũng chứa đựng nhiều kiến giải lý thú) và cuốn Tịnh Độ Tư Lương của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ (trong cuốn này, cụ Hoàng chỉ giảng sơ lược về kinh Di Đà qua bài viết A Di Đà Kinh Tông Yếu, Tín Nguyện Trì Danh).

Trước sự hiện hữu cùng lúc của bao nhiêu tác phẩm chú giải ấy, ý nguyện xưa chợt sống lại mạnh mẽ trong tâm trí. Tuy thế, mạt nhân vẫn băn khoăn không biết có nên tiến hành hợp dịch ý kiến chú giải của chư sư hay không, chỉ e mình sẽ làm một việc thừa thãi, vô ích. Sau khi thỉnh ý các vị đạo hữu Vạn Từ, Minh Tiến, Minh Lập, Huệ Trang và đều được hứa khả, khuyến khích, mạt nhân đánh bạo gạn lọc những ý chính trong những tác phẩm chú giải trên, chọn lấy những điểm đặc sắc, dịch thành một tác phẩm vụng dại, tạm đặt tên là A Di Đà Kinh Hợp Giải.

Xét trong các bản chú giải trên, bản chú giải của Pháp Sư Bân Tông chi tiết nhất, nhiều ý tưởng độc đáo nhất, phân chia chương mục rõ ràng nhất, lại có cả phần hiển lý giống như Sớ Sao, nên mạt nhân chọn bản này làm gốc. Bản chú giải của pháp sư Khuy Cơ quá nặng về Duy Thức học nên không thích hợp lắm cho người sơ cơ. Vì thế, mạt nhân chỉ chọn lấy những điểm thật đặc sắcdễ hiểu.

Bản của pháp sư Văn Châu tuy không có nhiều ý tưởng độc đáo, nhưng cách phân chia thành mười môn lớn để chú giải rất giống với cách thích kinh của tổ Liên Trì nên mạt nhân tuân thủ cách phán định và phân chia chương mục của Văn pháp sư.

Khi chọn dịch, những đoạn chư sư nhắc lại ý kiến của chư vị Liên Trì và Ngẫu Ích, mạt nhân đều lược qua không dịch; bởi lẽ, những ý đó đã được phô diễn trọn vẹn trong hai bản Yếu Giải và Sớ Sao. Để hiểu những tư tưởng đó, phải đọc trong ngữ cảnh của Sớ Sao và Yếu Giải mới thấy chúng sâu sắc, tinh yếu tuyệt diệu đến dường nào! 

cố gắng hết sức, nhưng với trí huệ nông cạn, trình độ Phật học thiển cận, chắc chắn trong quá trình chọn lọc, chuyển ngữ, không thể nào tránh khỏi những lỗi lầm lẽ ra không nên có. Chỉ mong dịch phẩm thô lậu này sẽ giúp cho những hành nhân sơ cơ có được đôi chút kiến thức sơ cấp để làm hành trang tham cứu ban đầu hòng lãnh hội được những điểm u huyền, tinh túy trong Yếu Giải và Sớ Sao.

Nếu như việc làm liều lĩnh này đem lại chút lợi lạc nào thì xin hồi hướng đến khắp pháp giới chúng sanh, những ai thấy nghe kinh Di Đà đều khởi lòng tin kính sâu xa, đều chăm tu Tịnh nghiệp. Nguyện tất cả những hành nhân đồng hạnh Tịnh nghiệp sẽ cùng được hội ngộ nơi quê hương Cực Lạc.

Phật lịch 2547, tiết Lập Thu, Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa kính bạch

 

A DI ĐÀ KINH HỢP GIẢI 

I. GIÁO KHỞI NHÂN DUYÊN (nhân duyên phát khởi giáo pháp)

 Kinh Pháp Hoa dạy: “Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyênxuất hiện trong thế gian... Muốn cho chúng sanh khai Phật tri kiến, khiến cho họ được thanh tịnh nên xuất hiện trong đời. Vì muốn chỉ bày cho chúng sanh tri kiến của Phật nên xuất hiện trong đời. Vì muốn cho chúng sanh ngộ được tri kiến của Phật nên xuất hiện trong đời. Vì muốn cho chúng sanh chứng nhập đạo tri kiến của Phật nên xuất hiện trong đời”.

 Vì nhân duyên nào mà không ai hỏi, Đức Phật lại tự giảng ra bản kinh này? Nhân duyên Phật giảng kinh này gồm hai loại: Tổng và Biệt. 

1. Tổng nhân duyên:

Tổng nhân duyên chẳng ngoài việc chỉ thẳng chúng sanh dùng tâm niệm Phật để nhập tri kiến Phật. Tri kiến Phật chính là chân tâm của chúng sanh; nhưng từ vô thỉ đến nay, chúng sanh do vì mê chân, chạy theo ngụy, chẳng nhận thức được bản thể thanh tịnh của tâm mình, nên tạo tác các nghiệp, trôi lăn mãi trong vòng luân hồi. Nay đức Thế Tôn dạy chúng sanh nhất tâm niệm Phật, tịnh niệm liên tục, tâm miệng xứng hợp với nhau thì sẽ thể hội “tâm này chính là Phật, Phật cũng chính là tâm này”, tâm và Phật chẳng hai. Đó chính là ý nghĩa chân thật của câu “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”. Niệm Phật đến mức “tâm, Phật chẳng hai” chính là “nhập Phật tri kiến’ vậy.

 

2. Biệt nhân duyên:

Gồm có mười loại:

a. Lòng từ bi nghĩ thương xót chúng sanh đời Mạt Pháp của đức Thế Tôn:

Cõi Sa Bà vốn sẵn đau khổ, nhưng đời Mạt Pháp, ngũ trược hỗn loạn, sự đau khổ ấy càng trầm trọng hơn nữa. Vì lòng thương xót chúng sanh đời Mạt Pháp, đức Thế Tôn đặc biệt nói ra pháp này để rộng cứu tế, ngõ hầu chúng sanh dẫu chẳng được gặp Phật, mà nếu gặp được pháp môn này, thâm tín tu hành, phát nguyện vãng sanh, niệm Phật chắc thật thì vẫn có thể vượt thoát tam giới, vãng sanh Cực Lạc.

b. Khai thị pháp môn phương tiện thù thắng:

chúng sanh cănvô lượng nên Đức Phật cũng phải thuyết ra vô lượng pháp môn; nhưng pháp môn Niệm Phậtphương tiện thù thắng nhất vì:

* Dù chẳng gặp Phật tại thế, vẫn thường được thấy Phật. Bởi lẽ, chúng sanh thâm tín pháp môn này, chuyên tâm niệm Phật, phát nguyện vãng sanh liền được vãng sanh, thân cận A Di Đà Phật

* Chẳng cần đoạn hoặc nghiệp vẫn thoát khỏi luân hồi: nhờ sức từ bi gia hộ của Phật A Di Đà, người chân thành niệm Phật sẽ được đới nghiệp vãng sanh (do lúc vãng sanh, hoặc nghiệp vẫn còn, chưa đoạn trừ hết nên gọi là “đới nghiệp”).
* Chẳng cần tu đủ các môn Ba La Mật khác, vì: Nhất tâm niệm Phật, bỏ hết muôn duyên, đó là Bố Thí Ba La Mật. Nhất tâm niệm Phật, các ác đều dứt, đó là Trì Giới Ba La Mật. Nhất tâm niệm Phật, tâm tự nhu hòa, chính là Nhẫn Nhục Ba La Mật. Nhất tâm niệm Phật, vĩnh viễn chẳng thoái đọa, đó chính là Tinh Tấn Ba La Mật. Nhất tâm niệm Phật, chẳng nghĩ đến điều gì khác, đấy chính là Thiền Định Ba La Mật. Nhất tâm niệm Phật, chánh niệm phân minh, chính là Bát Nhã Ba La Mật. Như vậy, nhất tâm niệm Phật là đầy đủ cả sáu Ba La Mật, nên không cần phải tu trọn lục độ, vạn hạnh.

 * Chẳng cần phải tu nhiều kiếp mà được giải thoát nhanh chóng: hễ nhất tâm niệm Phật cho đến mức nhất tâm bất loạn thì nhờ vào sức tiếp dẫn của đấng Từ Phụ, sẽ được vãng sanh Tịnh Độ, không còn vướng mắc trong vòng sanh tử nữa.

 Trí Độ Luận chép: “Có các Bồ Tát tự nghĩ mình vì báng bổ Đại Bát Nhã sẽ bị đọa vào ác đạo trong vô lượng kiếp, dẫu tu các hạnh khác vẫn chẳng diệt tội nổi. Sau gặp được bậc thiện tri thức dạy niệm Phật A Di Đà, liền diệt được chướng nạn, siêu sanh Tịnh Độ”.  

c. Phô bày chốn khổ, cõi vui khiến cho chúng sanh sanh tâm chán, ưa:

 Cõi Sa Bà này “thế gian vô thường, quốc độ mong manh, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã” (kinh Bát Đại Nhân Giác); ba khổ, tám khổ dẫy đầy, vô lượng họa hại. Dù kẻ phước đức tận hưởng vinh hoa phú quý, sự sự như ý, vẫn khó giữ mãi vẻ thanh xuân, tử thần đón sẵn. Tổ Thiện Đạo từng răn:

 Dẫu ai khoái lạc ngàn muôn,

 Rốt cục vô thường vẫn đến,

 Và:

 Vạn lượng gia tài đành bỏ mặc,

Thõng đôi tay trắng nhập u minh.

Cõi Sa Bà khổ sở thế đó, nhưng chúng sanh vẫn ngu si, tham luyến, chẳng biết là khổ, chẳng cầu xuất ly, nên đức Thế Tôn phải đặc biệt nói pháp môn Tịnh Độ, tán dương y báo, chánh báo thù thắng của cõi Cực Lạc để chúng sanh nhàm lìa Sa Bà, ham thích Cực Lạc, phát nguyện vãng sanh, khẩn thiết niệm Phật.

d. Hóa đạo hàng Nhị Thừa khiến họ được vãng sanh Tịnh Độ:

Hàng Nhị Thừa xem tam giới như lao ngục, coi sanh tử như oan gia, nhưng một khi đã liễu sanh thoát tử, chứng đắc Ngã Không, bèn sanh lòng đắm trước nơi quả vị, chẳng thể tiến hướng Bồ Đề. Vì thế, đức Thế Tôn phải nói ra pháp này để hóa đạo hàng định tánh Thanh Văn, khiến cho họ khi được nghe mười phương chư Phật dị khẩu đồng âm tán dương A Di Đà Phật, sẽ bỏ tâm đoạn diệt, tu hạnh Tịnh Độ, thành tựu Phật quả.

 

e. Khích lệ hàng sơ tâm thân cận Phật A Di Đà:

Hàng sơ tâm Bồ Đề tuy đã phát đại tâm nhưng tâm chưa kiên định, hễ gặp phải nghịch cảnh hoặc bạn ác sẽ khó tránh khỏi thoái thất tâm Bồ Đề. Hơn nữa, sanh tử chưa đoạn, hoặc nghiệp chưa trừ, khó tránh khỏi nghiệp lực lôi kéo, lại bị đắm chìm trong ngũ dục, trôi lăn trong sanh tử. Vì thế, Đức Phật dạy họ phải thân cận Phật A Di Đà. Bởi lẽ, được vãng sanh sẽ chứng ngộ Vô Sanh Nhẫn. Có chứng ngộ Vô Sanh Nhẫn thì mới có thể trở vào Sa Bà giáo hóa chúng sanh, viên mãn nguyện Bồ Đề. Bởi thế, Long Thọ Bồ Tát dù đã chứng Sơ Địa vẫn nguyện vãng sanh; thậm chí Phổ Hiền Bồ Tát, dẫu dùng mười đại nguyện vương giáo hóa chúng sanh, chung cục vẫn khuyên phát nguyện vãng sanh Cực Lạc.

 f. Khiến cho mọi căn cơ dù độn hay lợi đều được độ thoát cả:

 Pháp môn này độ trọn ba căn, gồm thâu lợi, độn, đúng như Ngài Sư Tử Phong tán dương:

 Dù gái hay trai tu được cả,

 Trí ngu thì cũng có phần đây!  

g. Hộ trì khiến cho chúng sanh chẳng bị thoái đọa:

 Chúng sanh đời mạt phước mỏng, chướng dày, huệ cạn, nghiệp sâu, tu hành vướng phải ma chướng trùng trùng, chánh kiến yếu ớt nên bị hãm vào lưới ma, bị ác nghiệp lôi kéo, khó bề khỏi đọa tam đồ. Nhờ trì danh niệm Phật, hành nhân liền được thấm đẫm từ ân nơi biển đại thệ của đức Di Đà, được đức Từ Tôn gia bị, được mười phương chư Phật cùng hộ niệm, viễn ly ma chướng, chóng sanh Tịnh Độ, vĩnh viễn thoát khỏi tam đồ, bát nạn (1).

 h. Do hữu niệm chứng nhập vô niệm:

 Chân Như tự tánh ai nấy sẵn có, vốn dĩ vô niệm. Tiếc là từ vô thỉ đến nay, do một niệm vọng động khiến cho bao tạp niệm trùng trùng, tạo tác mãi bao ác nghiệp, chết đây sanh kia, không lúc nào ngơi.

 Như sóng và nước vốn cùng một thể, chân cùng vọng danh khác thể đồng. Bởi đó, chân tâm lẫn vọng tâm chẳng ngoài một niệm hiện tiền của chúng ta. Nay pháp môn Niệm Phật đây dùng tịnh niệm trừ khử vọng niệm, dùng tế niệm thay thế thô niệm, dùng thiện niệm dứt ác niệm, dùng nhất niệm đối trị vạn niệm, tức là “dùng độc trị độc, dùng quân dẹp quân, dùng niệm dứt niệm”. Khi độc đã hết, giặc đã bình, thuốc lẫn quân còn dùng chi nữa! Bởi thế, khi đã niệm đến mức nhất tâm bất loạn, thì sẽ niệm mà vô niệm; đấy chính là chân niệm. Chân niệm ấy chính là chân như tự tánh, ta và Phật không còn phân biệt nữa!

 i. Dùng vãng sanh để ngộ nhập vô sanh:

 Về lý, tuy chúng sanh và Phật đồng một thể tánh, nhưng xét trên sự, thánh phàm cách biệt muôn trùng.

Xét ra: Khi sanh thì duyên sanh, nhưng pháp tánh chẳng hề sanh cùng với duyên. Khi diệt thì duyên diệt nhưng pháp tánh cũng chẳng bị diệt theo duyên.

Vì thế, nếu còn mê thì dù có nói là vô sanh nhưng vẫn sanh. Nếu luận theo pháp tánh thì dù có sanh nhưng vẫn là vô sanh. Vì mê muội, chúng sanh lầm thấy có sanh diệt. Do đã ngộ, chư Phật chỉ thấy vô sanh.

Đức Phật thương xót chúng sanh cõi này, nhận vọng là chân, mê tánh chạy theo cảnh, nên từ bi nói ra pháp môn Niệm Phật, khích lệ đại chúng vãng sanh. Nếu hành nhân niệm đến khi mọi vọng duyên đều tan sạch, tâm chỉ còn một khối, sẽ thể hội tâm ta chính là Phật A Di Đà, A Di Đà Phật chính là tâm ta; nào còn thấy sanh hay vô sanh nữa!

 j. Chỉ rõ con đường tắt trọng yếu trong đường tu hành:

 Trong các pháp tu hành, pháp môn Niệm Phật giản tiện, trực tiếp nhất; nhưng trong các pháp Niệm Phật, pháp Trì Danh lại càng trọng yếu, giản tiện hơn cả, nên được tôn xưng là “tiệp kính chi kính” (con đường tắt nhất trong các con đường tắt). Kinh đây giảng rõ: Chấp trì thánh hiệu chính là nhiều phước đức, nhiều thiện căn, liền được đới nghiệp vãng sanh. Được vãng sanh liền chứng ngay ba bậc Bất Thoái. So trong ba kinh Tịnh Độ, kinh này chú trọng cách thức tu tập giản yếu, hiệu quả nhất.

 Do những nhân duyên tổng và biệt nói trên, đức Thích Tôn đã giảng ra bộ kinh vi diệu hy hữu này.  

II. HIỂN THỂ (minh định thể tánh của kinh này)

 

 “Thể” là thể tánh (bản thể, bản chất). Thể tánh của một bản kinh được gọi là Giáo Thể, đôi khi còn gọi một cách tổng quát là Lý Thể. Theo đại sư Bân Tông: “Lìa hết thảy các tướng thì gọi là Tánh; chỗ hết thảy các nghĩa quy về gọi là Lý. Nghĩa trọng yếu của các pháp gọi là Thể”. Phô bày minh bạch yếu chỉ của một bản kinh, nêu rõ chỗ quy hướng của các giáo nghĩa được dạy trong kinh ấy thì gọi là “hiển thể”.

 Nói một cách khác, hiển thể một bản kinh chính là minh định chân lý sẽ được phô diễn bởi bản kinh ấy. Một bản kinh nếu không có Thể thì thành ra ma thuyết, ví như một kẻ chỉ có cái tên, chẳng có thân thể thật. Mỗi một câu, một chữ trong kinh Phật đều nhằm mục đích vận dụng ngôn ngữ, danh tự để người nghe lãnh hội được chân lý. Bởi vậy, muốn thể hội được huyền nghĩa của kinh, điều tiên quyết là phải nhận chân thể tánh của kinh ấy là gì.

 Nói chung, tất cả các kinh Đại Thừa đều lấy Thật Tướng làm Thể.

Thật Tướng chính là cái tâm hiện tiền của chúng ta, vô hình, vô tướng, chẳng sanh, chẳng diệt, rỗng rang, bao trùm vạn pháp, không sót một mảy gì. Muôn pháp sanh diệt chỉ là những điều hư vọng ảnh hiện trong tâm.

Chân tâm của ta dẫu suốt ngày ở trong vọng, nhưng luôn chân thường. Tâm ấy dẫu hằng tiếp xúc với muôn vật, muôn pháp, vẫn thường sáng tỏ, phân biệt mọi sự, mọi pháp rõ ràng không chướng ngại. Kinh thường diễn tả bằng câu “linh quang độc diệu, hồi thoát căn trần” (có thể tạm hiểu là: xét về bản thể, tâm ấy thiêng liêng, sáng suốt, duy nhất, chiếu rực, không vướng vào căn, trần. Gọi là thiêng liêngtác dụng nhận biết của tâm ấy luôn hiện hữu, không bị biến cải, không sai sót. Sáng suốt vì không bị trần cảnh làm ô nhiễm. Tâm ấy nhận thức rõ mọi pháp không ngăn ngại nên gọi bảo là chiếu rực. Tâm Phật và tâm chúng sanh đồng một thể nên gọi là duy nhất)

Thật Tướng có thể chia thành hai loại:

1. Vô Tướng Thật Tướng: lìa hết thảy tướng điên đảo, hư vọng chính là Thật Tướng chân như, bình đẳng.

2. Vô Bất Tướng Thật Tướng: trong các pháp sanh diệt, tồn tại một tánh bất sanh, bất diệt. Tướng sanh diệt hư vọng ấy chỉ là biệt tướng (tướng riêng của mỗi pháp). Những tướng sanh diệt hư vọng ấy dù thiên sai vạn biệt, nhưng đều không có thực thể, cho nên gọi là “vô tướng”. Nhưng tánh bất sanh bất diệt lại chân thật chẳng hư vọng, chúng sanh và Phật đồng một thể, thánh phàm chẳng hai. Cái Chân Như thật tánh bình đẳng ấy lại chẳng phải là vô tướng, nên gọi là “vô bất tướng”.

Để dễ hình dung xin mượn một thí dụ: sóng phát sanh từ nước, sóng chính là nước. Sóng có to nhỏ, nhưng tánh ướt chẳng đổi. Cũng thế, tánh Chân Như bình đẳng bất biến, nhưng tùy duyên có thể sanh khởi những tướng trạng sai biệt cho vạn vật, tùy duyên nhưng bất biến. Bởi thế, xét đến bản chất thì mọi tướng trạng sai biệt của vạn pháp, không tướng nào chẳng lấy tánh Chân Như bình đẳng làm thể.

Nếu xét tỷ mỉ, mỗi kinh lại lấy một khía cạnh của Thật Tướng làm thể. Chẳng hạn, kinh Hoa Nghiêm lấy “nhất chân pháp giới” làm thể, kinh Lăng Nghiêm lấy Như Lai Tạng Diệu Chân Như tánh làm thể.

Riêng về kinh Di Đà, chư sư cùng đồng ý kinh này lấy Thật Tướng làm tổng thể. Pháp sư Văn Châu giải thích:

“Kinh này chú trọng niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, đấy chính là Thật Tướng mà cũng chính là Chân Như. Vì thế, cũng giống như các kinh điển Đại Thừa khác, kinh này lấy Thật Tướng ấn làm giáo thể...

Nếu xét trên phương diện sự tướng niệm Phật, phải lấy sự trang nghiêm của y báo, chánh báo cõi Cực Lạc làm Thể.

Đối với bậc thượng căn lợi trí, từ hữu tướng niệm Phật, họ sẽ đạt đến vô tướng niệm Phật, hiểu thấu suốt một niệm hiện tiền chẳng phải ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa, chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, chẳng phải ngắn dài, vuông, tròn, thậm chí vô phi, bất phi, lìa hết thảy tướng tức là hết thảy pháp. Ngay khi đó, Pháp Thân hiển hiện, Tịch Quang hiển hiện, còn phân biệt gì là y báo, chánh báo trang nghiêm nữa! Bởi thế giáo thể của kinh này hoàn toànThật Tướng.

...Y báo, chánh báo trang nghiêm của cõi Phật Di Đà đều phát xuất từ Chân Như tự tánh, cho nên kinh này lấy Chân Như Bình Đẳng Thật Tướng làm Thể”.

Riêng về biệt thể, pháp sư Bân Tông cho rằng kinh này lấy bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh làm thể. Bân pháp sư giảng như sau:

“Vô sanh, vô diệt, thường hằng bất biến là Thường. Tịch diệt, vĩnh viễn an ổn, vĩnh viễn xa lìa các nỗi khổ là Lạc. Tự tại giải thoát, chân như vô ngại là Ngã. Lìa hết thảy trần, tuyệt các cấu nhiễm là Tịnh.

...Trước hết, minh định bốn đức của Y Báo:

- Cõi ấy không có thành, trụ, hoại không; ấy là Thường.

- Có lầu gác bảy báu, lưới giăng, cây báu mọc thành hàng, ao tắm, chim quý, thiên nhạc v.v... vô lượng trang nghiêm, mỗi mỗi đều vừa lòng thỏa ý. Đó là Lạc.

- Thế giới Cực Lạc trang nghiêm thù thắng, việc gì cũng như ý, mọi thứ hóa hiện, không có cảnh trái nghịch, luôn có niềm vui tùy thuận. Đó là Ngã (Ngã có nghĩa là Tự Tại).

- Thế giới Cực Lạc hoàng kim làm đất, bảy báu làm ao, tất cả mọi vật đều thanh tịnh trang nghiêm, có năm niềm vui thanh tịnh, không có nỗi khổ ngũ trược. Đó chính là Lạc.

Tiếp đến minh định bốn đức của Chánh Báo:

- Thọ mạng của Đức Phậtchúng sanh vãng sanh cõi ấy đều vô lượng, kéo dài bao kiếp chẳng tận. Đó là Thường.

- Hết thảy hữu tình sanh về cõi ấy liền được thân tâm tịch chiếu, vĩnh viễn không có phiền não. Đó chính là Lạc.

- Một phen đã vãng sanh cõi ấy, liền đoạn diệt được ngũ trụ (2), vĩnh viễn lìa khỏi nhị tử (phần đoạn và biến dịch sanh tử), được đại tự tại. Đấy chính là Ngã.

- Trong thế giới Cực Lạc, chúng sanh niệm Phật được vãng sanh về đấy đều là liên hoa hóa thân, thanh tịnh, nhiệm mầu thù thắng, tướng hảo trang nghiêm; tấm thân ô uế do tứ đại giả hợp thành của chúng sanh cõi Sa Bà làm sao so sánh được! Đấy chính là Tịnh.

 Lại nên biết rằng: tứ đức (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh) là tự tánh Di Đà, mà cũng chính là Phật tánh sẵn có của mỗi người chúng ta, còn gọi là Pháp Thân. Mê thì là chúng sanh, ngộ thì thành chư Phật. Nếu ai phát tâm niệm Phật, liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc, hoa nở gặp Phật, đắc Vô Sanh Nhẫn, thân chứng Pháp Thân.

Pháp Thân ấy bất sanh, bất diệt, chẳng đến, chẳng đi, chính là Thường đức. Pháp Thân rốt ráo tịch diệt, vĩnh viễn lìa khỏi sanh tử, tức là Lạc đức. Pháp Thân tự tại vô ngại, rốt ráo giải thoát, tức là Ngã đức. Pháp Thân tuyệt các cấu nhiễm, vốn sẵn thanh tịnh, tức là Tịnh đức...

Hơn nữa, kinh chép: ‘Đều được bất thoái chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề’ là nghĩa Thường. Lại chép: ‘Không có các điều khổ, chỉ hưởng các điều vui’ là nghĩa Lạc. Lại chép: ‘Tự nhiên đều sanh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Người ấy lúc mất tâm không điên đảo’ là nghĩa Ngã. Lại chép: ‘Nhất tâm bất loạn’ là nghĩa Tịnh”.

 

III. HIỂN MINH TÔNG THÚ (minh định tông thú của kinh này)

 

 Tông nghĩa là sùng phụng, là điều được kinh đề cao. Tông chính là đường lối trọng yếu để tu hành. Mục đích của tu hành là khế hội bản thể; do đó, Tông chính là mấu chốt để thực hiện mục đích ấy. Thú là chỗ Tông quy kết về.

 Trong phần trước đã biện minh về Thể, ấy là Tánh đức. Phần này luận về Tông Thú, đấy chính là Tu đức. Từ tánh khởi tu, toàn tu tại tánh. Tánh đức là điều ai cũng sẵn có, nhưng Tu đức là điều mỗi cá nhân phải nỗ lực tu tập để thành tựu.

 Kinh này lấy “Tín, Nguyện, Trì Danh” làm Tông; lấy việc “vãng sanh, viên chứng ba thứ Bất Thoái” làm Thú.

 Ba thứ Tín, Nguyện, Trì Danh (hay còn gọi là Tín, Nguyện, Hạnh) thường được gọi chung là Tư Lương. Đi xa cần phải dắt theo tiền bạc hòng chi dụng, đó gọi là Tư. Mang theo thức ăn, nước nôi, đó là Lương. Như vậy, Tư Lương chính là những phương tiện, vật dụng cần thiết cho bất cứ cuộc hành trình nào.

 Trong ba thứ Tư Lương nói trên, Tín là mấu chốt. Nếu niệm Phật tinh tấn nhưng vẫn chưa thể tin chắc mình sẽ được vãng sanh, chưa tin chắc vào bi nguyện của Phật Di Đà lẫn cõi Tịnh Độ thì chẳng thể phát nguyện chân thành, thiết tha. Nếu tín, nguyện không có thì chẳng thể duy trì hạnh Trì Danh lâu dài được! Nếu thật sự tin sâu, nguyện thiết thì tự nhiên sanh khởi diệu dụng Trì Danh.  

1. Tín:

Tín là đoạn trừ hết thảy ngờ vực, nhưng lòng tin ấy do sự hiểu biết phát xuất từ trí, chứ không phải là tin tưởng một cách mù quáng.

 Tín gồm có bảy điều sau:

 

a. Tin vào lời Phật dạy:

Tin rằng pháp môn Niệm Phật đây chẳng phải do tà ma, ngoại đạo, quỷ thần vọng thuyết, mà do chính kim khẩu của đức Thích Tôn đích thân giảng ra. Đức Phậtđại đạo sư của tam giới, là cha lành của bốn loài, là bậc quyết định không dối trá. Cổ đức đã nói: “Phật ngôn bất tín, thùy ngôn khả tín?” (chẳng tin lời Phật thì còn tin lời ai được nữa?) Do vậy, phải tin vào lời Phật, đừng nhận lầm kinh này chỉ là do Đức Phật giả lập phương tiện, Cực Lạccảnh giới tưởng tượng, để đến nỗi tạo tội báng pháp như “tăng” Nhật Liên (khai tổ Tân Pháp Hoa Tông của Nhật Bản) dám phỉ báng kinh A Di Đà này là ngụy tạo.

 Hơn nữa, pháp môn Niệm Phật được đề cập đến rất nhiều trong các kinh khác. Các pháp môn Tiểu Thừa, Quyền giáo đến thời Pháp Hoa - Niết Bàn đều bị bài xích, nhưng chưa hề thấy trong kinh điển nào Đức Phật lại chỉ trích pháp môn này là quyền tạm, là phương tiện cả!

Ngoài ra, khi Đức Phật thuyết kinh này, sáu phương chư Phật đều dị khẩu đồng âm xưng dương, tán thán. Ngay cả bản kinh được xưng tụng là “chúng kinh chi vương” (vua của mọi kinh) là kinh Pháp Hoa cũng chép: “Người tụng kinh này (kinh Pháp Hoa) khi mạng chung sẽ sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà”. Vua trong Tam Tạng, được thế gian xưng tụng là mẹ của các kinh, tức là kinh Hoa Nghiêm, ngay trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện cũng quy hướng vãng sanh Tịnh Độ. Kinh báu của nhà Thiền là kinh Lăng Nghiêm, trong chương Thế Chí Niệm Phật Viên Thông cũng dạy: “Nhớ Phật, niệm Phật, tương lai nhất định thấy Phật”.

Kinh Ban Châu Tam Muội chép: “Bồ Tát nhập tam muội này liền thấy A Di Đà Phật”. Kinh Mục Liên Sở Vấn chép: “Ta bảo cõi nước Vô Lượng Thọ dễ về, dễ sanh, mà không ai chịu tu hành vãng sanh, ngược lại còn thờ phụng 96 phái ngoại đạo. Ta bảo kẻ ấy [là hạng] không mắt, không tai!” Các kinh Bi Hoa, Đại Vân, Đại Tập, Quán Phật Tam Muội, Thập Trụ Đoạn Kết, Văn Thù Bát Nhã, Bảo Tích, Tọa Thiền Tam Muội... đều đề xướng pháp môn Niệm Phật.

Các bộ luận Đại Thừa cũng đề xướng pháp môn Niệm Phật, chẳng hạn như Đại Trí Độ Luận chép: “Niệm Phật diệt trừ được các thứ phiền não và các tội nghiệp từ đời trước... [cho đến] niệm Phật có đại phước đức, độ được chúng sanh.... phước đức của các tam muội khác chẳng bằng được phước đức của Niệm Phật Tam Muội”. Tỳ Bà Sa Luận gọi Niệm Phật là đạo dễ hành, mau thoát sanh tử. Luận chép: “Phật có vô lượng pháp môn, như đường đi trên thế gian có dễ, có khó. Đi bộ thì khó, ngồi thuyền thì dễ. Muốn dễ được sanh hãy nên mau niệm A Di Đà Phật”. Các bộ luận khác như Đại Thừa Khởi Tín Luận của Bồ Tát Mã Minh, Vãng Sanh Tịnh Độ Luận của Ngài Thế Thân, Thập Nghi Luận của tổ Trí Khải, Nhiếp Đại Thừa Luận, Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận... đều cực lực đề xướng pháp môn Niệm Phật.

Ngoài ra, trên thì như các vị thượng thủ Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Long Thọ, Mã Minh đều phát nguyện vãng sanh. Chư tổ sư như Ngài Lô Sơn Huệ Viễn, Bách Trượng thiền sư, Thanh Lương Quốc Sư (Ngài Trừng Quán), Linh Chi Nguyên Chiếu luật sư, Tử Bách Lão Nhân, U Khê đại sư, Trí Húc Linh Phong đại sư, Vân Thê Liên Trì đại sư, Hám Sơn đại sư... đều nhiệt thành hoằng truyền, tán dương Tịnh Độ.

Cận đại, bậc cao tăng nhà Thiền là Hư Vân Hòa Thượng, ngôi Thái Sơn Bắc Đẩu của Thiên Thai tôngĐế Nhàn pháp sư (xem tập Khai Thị Niệm Phật Khẩn Yếu), đại sư Thái Hư thuộc tông Duy Thức (xem Tịnh Độ Pháp Môn Tập), Hoằng Nhất đại sư bên Luật Tông (xem tác phẩm Nhân Sanh Tối Hậu) ngoài việc hoằng dương tông mình, đều cực lực xiển dương pháp môn Tịnh Độ.

Hãy thử nghĩ: Đại Tạng Kinh đầy dẫy kinh luận, ngữ lục tán dương Tịnh Độ, lịch đại hiền triết đích thân tu tập, thành tựu vãng sanh; vậy thì Cực Lạc có phải là cõi tưởng tượng hay không? Kinh Di Đà có phải là lời ngụ ngôn của đức Phật Thích Ca hay không?

 b. Tin vào Phật nguyện:

Chữ Phật ở đây chỉ đức A Di Đà Phật, nguyện là nguyện lực, tức biển thệ nguyện lực vô biên của đức A Di Đà Như Lai chân thật, không dối. Chúng ta phải tin rằng: Y báo, chánh báo trang nghiêm của cõi Cực Lạc chính là do lực dụng vĩ đại của Phật đại nguyện lực tạo thành. Trong quá khứ, Ngài đã phát thậm thâm hoằng nguyện, bao đời tu hành khổ hạnh, chẳng thoái thất tâm ban đầu, nguyện nguyện trang nghiêm Tịnh Độ, tạo thành thế giới Cực Lạc thù thắng khôn sánh. Phật là bậc đại thánh nhân, tuyệt đối không thệ nguyện hư huyễn. Bốn mươi tám nguyện của Từ Phụ Di Đà siêu tuyệt thệ nguyện của chư Phật, nên cổ đức tán thán: “Thập phương tam thế Phật, A Di Đà bậc nhất”.

 c. Tin vào cõi Phật:

Tin cõi Cực Lạc thù thắng trang nghiêm, vượt trỗi hết thảy các cõi Tịnh Độ trong mười phương. Mỗi mỗi sự tướng trong cõi ấy đều thù thắng khôn sánh, đều phát xuất từ lực dụng A Di Đà Như Lai đại thệ nguyện hải.

d. Tin vào pháp môn:

Tin pháp môn Niệm Phật độ khắp ba căn, thượng căn là bậc Đẳng Giác như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù v.v..., trung căn như chư tổ Tây Thiên, Đông Độ: Long Thọ, Mã Minh, Huệ Viễn, Ngẫu Ích, Liên Trì v.v... ; hạ căn như kẻ ngu phu, ngu phụ, ngũ nghịch, thập ác, chim vẹt, chim sáo v.v... Hễ ai chịu phát tâm niệm Phật cầu được vãng sanh thì đều được đới nghiệp vãng sanh, được Phật từ bi rủ lòng tiếp dẫn. Dẫu là hàng Đẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng thoát khỏi phạm vi tiếp độ của pháp môn này. Bởi thế, pháp môn Niệm Phật chính là tu trọn muôn hạnh, một câu hồng danh trọn đủ vạn đức. Hành nhân Tịnh Độ phải tin pháp môn này là tối thắng, tối diệu, bất tất phải tu kèm các pháp môn khác. Pháp môn này chắc chắn độ chúng sanh vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử, rốt ráo thành Phật. Dù hành nhân còn đầy dẫy phiền não vẫn có thể đới nghiệp vãng sanh, đắc bất thoái chuyển.

 e. Tin vào tự tâm:

Bổn tánh của chúng ta linh giác bất muội, chân tâm ta thường trụ bất biến, chẳng hề khác biệt gì với chân tâm của đức Di Đà. Nhưng từ vô thỉ đến nay, tâm ta bị phiền não che lấp, nên phải luân hồi sanh tử chẳng ngơi. Nhất tâm niệm Phật, dùng vạn đức hồng danh của Phật Di Đà huân tập tâm ta, sẽ tiêu diệt được nghiệp chướng trong ức kiếp sanh tử. Khi hoặc chướng đã tiêu trừ hết thì sẽ tự nhiên chứng đắc Chánh Giác.

Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Hết thảy chúng sanh vốn sẵn đủ tướng đức, trí huệ của Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí đều sẽ hiện tiền”. Bởi đó, duy tâm Tịnh Độ ai cũng có phần, đừng tự khinh mình là phàm phu, nghiệp nặng cấu dày, chẳng có duyên phận chi với cõi Cực Lạc. Tuy ta là phàm phu điên đảo mê hoặc, nhưng chân tâm này chẳng mất. Nếu một niệm hồi quang phản chiếu, giữ chắc Phật hiệu, quyết sẽ được vãng sanh. Tâm tánh chúng ta vốn chẳng thể nghĩ bàn, A Di Đà Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, sáu chữ hồng danh cũng chẳng thể nghĩ bàn. Dùng tâm chẳng thể nghĩ bàn trì niệm danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn để vãng sanh về cõi nước thù thắng do nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn tạo thành là chuyện thập phần xác đáng, còn ngờ chi nữa!

 f. Tin vào sự lý:

 Tin vào sự lý viên dung.

* Tin Sự là tin ở phía Tây thế giới Sa Bà này, cách đây mười vạn ức cõi Phật, quả thật có cõi Cực Lạc, chúng sanh cõi ấy không có các nỗi khổ, y báo, chánh báo trang nghiêm. Nếu chúng ta trong một đời này tin sâu, nguyện thiết, chắc thật trì danh, sẽ chắc chắn được liên hoa hóa sanh, vĩnh viễn thoát khỏi khổ nạn, đắc đại giải thoát.

 Nếu có kẻ cật vấn:

- Đại Thừa Bát Nhã dạy hết thảy pháp là không. Nếu hết thảy đã là không, sao còn có thuyết “thật có cõi Tây Phương Cực Lạc?” Kinh luận còn dạy: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” thì làm sao ở ngoài tâm thức, lại có thể có tịnh độ của chư Phật được?

Đáp:

- Ôi chao! Lời nạn ấy thật là vì chưa hiểu rõ đạo lý “viên dung nhất thật” của nhà Phật vậy! Phải biết rằng nhà Phật nói “không” đó là để phá chấp, tức là đối với Có mà nói Không. Nhưng Có mà chẳng phải Có mới là Diệu Hữu, Không chẳng phải là Không mới là Chân Không. Nên biết rằng hết thảy pháp đều do nhân duyên sanh, vốn chẳng có tự tánh. Duyên sanh bèn có, duyên diệt thành không. Do vô tự tánh nên bảo hết thảy pháp là không. Do vì duyên sanh nên bảo hết thảy pháp là có. Bởi vậy mới bảo là Chân Không chẳng lìa Diệu Hữu, Diệu Hữu chẳng ngại Chân Không. Thế nên duy tâm chẳng ngại Tịnh Độ, Tịnh Độ cũng chẳng phương ngại gì đến cái Không của duy tâm. Nếu bảo: “Duy tâm tịnh độ, tịnh độ duy tâm” thì còn đúng; chứ khăng khăng chỉ có chân không, chẳng hề có Tịnh Độ, thì sẽ thành ra mâu thuẫn.

Hơn nữa, một niệm hiện tiền của chúng ta chẳng thể cùng tận, mười phương thế giới do tâm ta biến hiện cũng chẳng thể cùng tận. Kinh dạy: “Hư không vô tận, thế giới vô tận”. Thế nên chẳng những chỉ cõi Tây Phương Cực Lạc tồn tại, mà cõi thế giới Lưu Ly ở phương Đông, vô lượng các thế giới cũng mỗi mỗi đều chắc chắn tồn tại.

* Tin Lý là:

Một niệm tâm hiện tiền của chúng ta đây xét theo chiều dọc thì trùm khắp ba đời, xét theo chiều ngang thì chứa trọn mười phương. Bởi thế mới nói: “Vô biên cõi nước, tự - tha chẳng cách mảy lông”. Mười vạn ức cõi nước khác gì ở ngay trước mắt! Phật tâm bao gồm khắp tất cả, tâm ta cũng bao gồm khắp tất cả, cõi nước cũng bao trùm khắp tất cả, như ánh sáng của ngàn ngọn đèn đặt trong một căn nhà, trùng trùng giao thoa, soi sáng lẫn nhau chẳng hề trở ngại. Y báo, chánh báo, chủ - bạn cõi Tây phương đều hiện bóng trong một niệm tâm hiện tiền của chúng ta. Toàn thể sự chính là lý, toàn bộ vọng chính là chân, toàn thể Tha chính là Tự, nào nhọc phải tìm cầu tự tánh đâu xa, chính nội tâm là Phật Di Đà.

Nhưng chẳng nên chấp lý bỏ sự, cũng chẳng thể chấp sự mê lý. Chấp lý phế sự thì lý chẳng thể viên dung. Chấp sự mê lý thì công hạnh chẳng cao. Nhưng thà cứ chấp sự mà siêng năng tu tập ắt sẽ chẳng uổng công, quyết được vãng sanh! Nếu chấp lý, hoàn toàn không dụng công thực hành, chỉ e mắc phải họa Thiên Không. Bởi vậy, nếu có thể viên dung giải ngộ lý sự một cách sâu xa thì mới là tận thiện, tận mỹ vậy!

g. Tin vào nhân - quả:

Cái có khả năng sanh trưởng là Nhân, giống như hạt giống; cái do nhân ấy được thành tựu gọi là Quả. Lại nữa, việc làm ban đầu là Nhân, cảm thọ hậu báo là Quả. Nhân nào, quả nấy là lẽ tự nhiên. Mọi việc trên thế gian này không việc gì chẳng do Nhân mà kết thành Quả cả.

Nay ta phát một niệm chân tâm, niệm Phật là Nhân, quyết định vãng sanh thế giới Cực Lạc, rốt ráo thành Phật là Quả. Dẫu tán tâm xưng danh vẫn kết thành hạt giống Như Lai, vãng sanh Tịnh Độ; huống hồ là niệm được nhất tâm bất loạn, lẽ nào chẳng được vãng sanh ư?

2. Nguyện:

Nguyện là phát nguyện vãng sanh. Dẫu có lòng tin sâu đậm, nhưng nếu chẳng phát nguyện vẫn khó lòng thành tựu, chẳng đạt được lợi ích thực sự. Cũng như bệnh nhân nghe bác sĩ bảo có thứ thuốc nọ rất hay, cũng tin tưởng là thứ thuốc ấy rất tuyệt, nhưng chẳng chịu uống thuốc. Đã không chịu uống thuốc, còn mong lành bệnh sao được!

Đã biết Sa Bà là khổ, là nhơ uế, thì cần phải buông bỏ, phải chán lìa. Đã biết Tây Phương là vui, là thanh tịnh, thì phải nên cầu, nên ưa thích. Đấy mới chính là mục đích của hành nhân Tịnh nghiệp.

Nguyện gồm có sáu điều:

a. Nguyện bỏ hết thảy các phiền não tham, sân, si... nhất tâm cầu sanh Cực Lạc.

b. Nguyện từ nay trở đi vĩnh viễn chẳng khởi các ác nghiệp để khỏi đọa vào tam ác đạo, cầu sanh Cực Lạc

c. Nguyện bao nhiêu thiện nghiệp đã tạo chẳng vì cầu sanh trong cõi trời người thọ hưởng phú quý, chuyên tâm nhất ý hồi hướng, nguyện cầu vãng sanh Cực Lạc.

d. Nguyện dù gặp phải tai nạn, nghịch cảnh, bệnh khổ đến thế nào đi nữa, trọn chẳng thay đổi tấm lòng niệm Phật.

e. Nguyện bao nhiêu công đức do trì giới, bố thí, tụng kinh, lễ Phật... đều hồi hướng về Tịnh Độ, để làm trợ duyên cho việc vãng sanh.

f. Nguyện pháp giới hết thảy chúng sanh cùng phát tâm niệm Phật, cùng sanh Cực Lạc.

Nói tóm lại, nguyện tâm tha thiết, vãng sanh chẳng khó gì! Nếu chẳng phát nguyện, hoặc nguyện tâm chẳng tha thiết sẽ trọn chẳng được sanh về thế giới Cực Lạc. Dẫu có lòng tin thì lòng tin ấy cũng chỉ là hư dối, chẳng thọ hưởng lợi ích thật sự nào; bởi thế phải nên phát nguyện chân thành, tha thiết.

3. Trì Danh: 

 Trì là chấp trì (nắm giữ), Danh là danh hiệu. Vì sao cần phải trì danh? Trì niệm một câu hồng danh A Di Đà Phật thì sẽ được đầy đủ mọi đức, thâu tóm trăm hạnh (đấy là vì danh hiệu A Di Đà bao gồm vạn đức, trong phần giải thích danh hiệu A Di Đà sẽ luận rõ hơn). Đấy là do công đức chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà Như Lai vậy. Nếu chỉ đủ tín nguyện mà chẳng chân thật tu trì vẫn chẳng được vãng sanh; khác nào bánh vẽ chẳng thể đỡ đói, khác nào suốt đời đếm của báu cho người, tự mình chẳng được lợi lạc gì!

 Trong bốn pháp niệm Phật (Thật Tướng, Quán Tưởng, Quán Tượng, Trì Danh), Trì Danh là pháp tu rộng rãi nhất (vì mọi căn cơ đều tập được), hạ thủ dễ dàng, nhanh chóng, là pháp tu phương tiện bậc nhất trong các pháp phương tiện, là pháp viên đốn tối cực, là pháp vô thượng liễu nghĩa. Kinh này chuyên dạy pháp Trì Danh, nên chúng ta phải tận lực trì danh chẳng phân biệt ngày đêm, chẳng luận bận, rảnh, chỉ khăng khăng chấp trì sáu chữ Di Đà hồng danh chẳng quên, thì sẽ tự nhiên đạt được nhất tâm bất loạn, lâm chung quyết định được Phật tiếp dẫn vãng sanh. Nếu tâm niệm Phật lơ là, hời hợt, quyết chẳng được vãng sanh. Dù chẳng được vãng sanh, vẫn gieo trồng thiện căn thành Phật trong đời tương lai. Bởi thế cổ đức bảo: “Tán xưng vi Phật chủng, chấp trì đậu bất thoái” (tán tâm xưng danhchủng tử Phật, chấp trì [danh hiệu] sẽ đạt được bất thoái).

 Hành nhân niệm Phật phải có tín tâm kiên cố, chẳng bị hết thảy tà ma, ngoại đạo, tà sư khuấy động, đến nỗi hủy báng đánh mất đạo tâm. Đại nguyện phải kiên cố, chẳng bị lay động bởi nghịch cảnh, danh lợi, quyền thế, đến nỗi thoái thất đạo tâm. Trì danh phải chuyên tâm thiết tha, đừng nên tạp tu, lơ là, chớ có hễ gặp chuyện bất như ý liền buông xuôi chẳng niệm.

IV PHƯƠNG TIỆN LỰC DỤNG

 Lực dụng còn gọi là công dụng hay gọi tắt là Dụng của một bộ kinh. Hiệu quả thành tựu do việc tu hành gọi là Công, những ứng dụng phong phú từ việc thành tựu ấy gọi là Dụng. Hết thảy kinh điển nếu khôngcông dụng mầu nhiệm (diệu dụng) thì còn có ai chịu nhọc nhằn tu hành nữa ư?

Mỗi một bản kinh có một lực dụng riêng biệt. Chẳng hạn như Lăng Nghiêm lấy “ly ái đắc độ” (lìa ái nhiễm được độ thoát) làm dụng, kinh Bát Nhã lấy “thoát khổ phá vọng” làm dụng. Kinh này lấy “vãng sanh Cực Lạc, đắc bất thoái chuyển” làm dụng.

1. Luận về vãng sanh:

Do hành nhân niệm Phật có siêng - lười, định - tán, sự - lý, mê - ngộ, đới nghiệp - bất đới nghiệp sai khác, nên vãng sanh về bốn cõi Tịnh Độ sai khác, phẩm vị đại lược chia thành chín phẩm vãng sanh.

- Nếu chấp trì danh hiệu, nhưng chưa đoạn được Kiến hoặcTư hoặc, đới nghiệp vãng sanh, thì chỉ có thể sanh vào Đồng Cư Tịnh Độ, thấy hóa thân của Phật A Di Đà, nghe giảng ba mươi bảy đạo phẩm sanh diệt, ngộ được Phật tánh thiên không. Đây là căn tánh được hóa độ bởi Tạng Giáo. Lại tùy theo tín tâm sâu hay cạn, nguyện lực lớn hay nhỏ, công hạnh siêng hay lười mà phân thành ba bậc chín phẩm.

- Nếu trì niệm danh hiệu đến mức sự nhất tâm bất loạn, tùy phần đoạn được một trong hai thứ Kiến HoặcTư Hoặc, sẽ sanh về cõi Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ, thấy được Liệt Ứng Thân của Phật A Di Đà, nghe giảng ba mươi bảy đạo phẩm vô sanh, ngộ được chân không Phật tánh. Đây là căn tánh được hóa độ bởi Thông Giáo.

- Nếu niệm đến mức lý nhất tâm bất loạn, phá rỗng toang từ một phẩm cho đến bốn mươi mốt phẩm vô minh thì sẽ sanh về cõi Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ, cũng chứng được một phần Thường Tịch Quang Tịnh Độ, thấy Thắng Ứng Thân của Phật A Di Đà, nghe giảng vô lượng ba mươi bảy đạo phẩm, ngộ trung đạo Phật tánh. Đây là căn tánh được hóa độ bởi Biệt Giáo.

- Nếu đã đoạn sạch hết vô minh, thì sẽ rốt ráo sanh về cõi Thường Tịch Quang Tịnh Độ, thấy Pháp Thân Phật, nghe giảng vô tác ba mươi đạo phẩm, giác ngộ Trung Đạo Phật tánh viên mãn. Đây là căn tánh được hóa độ bởi Viên giáo.

Điều cần lưu ýTịnh Độ tuy phân bốn cõi như thế, nhưng chẳng phải thật sự có bốn cõi Tịnh Độ riêng biệt. Cùng một cõi Tịnh Độ, do mức độ chứng đắc khác nhau mà thấy thành bốn cõi Tịnh Độ.

Ba bậc chín phẩm vãng sanh như Quán kinhkinh Vô Lượng Thọ đã rộng giảng.

Theo Ngài Quán Nguyệt Tử Hưng Từ Pháp Sư phán định trong Nhị Khóa Hiệp Giải, chín phẩm vãng sanh có thể phán định theo biểu đồ sau:

Phẩm vị vãng sanh

Công hạnh

Đoạn hoặc

Địa vị

Viên giáo

Biệt giáo

Thượng thượng

Đại Thừa hạnh

Phá Kiến, Tư hoặc

Thập Tín

Đạo Chủng Tánh Thập Hướng

Thượng trung

Bát Tín, Cửu Tín

Tánh Chủng Tánh Thập Hạnh

Thượng hạ

Từ Thất Tín trở xuống

Tu tập tánh Thập Trụ

Trung thượng

Nhị thừa hạnh

Đã chế phục hoặc

Quán Hạnh ngũ phẩm

Thập Tín

Trung trung

Trung hạ

Thiện hạnh thế gian

Hạ thượng

Chỉ làm ác

Chưa đoạn hoặc

Danh tự

 

Hạ trung

Hạ hạ

2. Luận về bất thoái chuyển:

Thoái chuyển nghĩa là lui sụt công hạnh, đánh mất đạo tâm ban đầu. Người vãng sanh cõi Cực Lạc sẽ chứng được ba loại bất thoái chuyển:

1. Vị bất thoái: Người đới nghiệp vãng sanh về cõi Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ, gởi thân nơi hoa sen, vĩnh viễn chẳng còn bị đọa trở lại vào nhân gian nữa, nên địa vị sẽ không bị lui sụt.

2. Hạnh bất thoái: Đã đoạn được Kiến hoặc, Tư hoặc, cũng phá được cả Trần Sa hoặc thì mới sanh lên cõi Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ, hướng thẳng đến cực quả, vĩnh viễn chẳng lui sụt xuống cõi Đồng Cư.

3. Niệm bất thoái: Phá vô minh, hiển Pháp Thân, sanh lên cõi Thật Báo Trang Nghiêm, chứng đắc một phần cõi Tịnh Quang của Như Lai, tâm tâm lưu nhập vào biển Nhất Thiết Trí.

Lại còn có một loại gọi là Cứu Cánh Bất Thoái, nghĩa là chẳng cần biết là tán tâm, định tâm, tin hay không tin v.v... chỉ cần niệm một câu A Di Đà hoặc nghe danh hiệu Ngài thoảng qua tai, dẫu trong đời này chưa được vãng sanh thì trong trăm ngàn vạn kiếp sau, rốt ráo cũng nhờ công đức ấy sẽ được độ thoát, sẽ được vãng sanh. Khác nào kẻ nuốt chất kim cang vào bụng chẳng thể tiêu trừ nổi, công đức niệm Phật cũng giống như thế!

Tóm lại, do căn cơ là lợi hay độn, do nghiệp là nặng hay nhẹ, do hạnh có sâu hay cạn sai khác mà đạt quả báo địa vị có hơn kém, cao thấp như thế. Nhưng cứ hễ đã được vãng sanh thì sẽ vĩnh viễn chẳng bị thoái chuyển, sẽ thành tựu quả Bồ Đề rốt ráo viên mãn. Kẻ đới nghiệp vãng sanh sanh vào cõi Đồng Cư liền chứng Vị Bất Thoái, thọ mạng dài lâu vô tận nên có thể trong một đời chứng được Nhất Sanh Bổ Xứ. Hễ đã được sanh về cõi Đồng Cư, chắc chắn sẽ tiến lên ba cõi kia. Nói cách khác, một phen đã chứng được Vị Bất Thoái, sẽ lần lượt chứng được hai thứ Bất Thoái kia.

Như vậy, được vãng sanh cõi Cực Lạc thì không hạnh nào chẳng thành tựu, không việc gì chẳng hoàn thành. Lực dụng như thế, thiên kinh vạn quyển chưa hề thấy có. Nếu chẳng phải là do đại nguyện lực của Phật A Di Đà, làm sao có được công đức chẳng thể nghĩ bàn như vậy? Xin hãy siêng gắng tu tập để khỏi cô phụ tấm lòng bi mẫn vô lượng của đấng Từ Phụ!

V. TẠNG GIÁO SỞ NHIẾP (phân định kinh này thuộc về tạng nào, thời giáo nào)

Tạng có nghĩa là tích chứa, tàng trữ. Giáo pháp một đời đức Phật đã thuyết được kết tập thành tạng. Tạng có hai loại: Nhị TạngTam Tạng.

 - Nhị TạngBồ Tát tạngThanh Văn tạng.

 - Tam TạngKinh Tạng, Luận TạngLuật Tạng.

1. Phán định về Tạng:

Kinh này từ đầu đến cuối không đề cập đến việc trì giới, cũng chẳng luận nghị, chỉ chuyên dạy niệm Phật, phát nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ nên phải thuộc về Kinh Tạng.

Kinh này lại hoằng dương Đại Thừa, tuyên dương đấng Giáo Chủ cõi Cực Lạc, dù dạy chúng sanh chán khổ ưa vui, cầu sanh Cực Lạc, nhưng cốt yếu là để gặp Phật nghe pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn rồi sẽ trở lại Sa Bà, giáo hóa chúng sanh. Đấy đều là hạnh Bồ Tát, cho nên kinh này phải thuộc về Bồ Tát Tạng.

2. Phán định giáo tướng:

Những lời chư Phật, chư thánh giảng dạy được gọi là Giáo. Việc phân định, xếp loại thứ tự thánh giáo của đức Như Lai thường được gọi là “phán định giáo tướng” hay gọi tắt là “phán giáo”.

 * Theo đại sư Khuy Cơ, tính cho đến thời Đại Sư, đã có những thuyết phán giáo sau đây:

a. Thuyết Nhất Thời Giáo: do Ngài Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi (Tàu dịch là Giác Thọ) đời Bắc Ngụy đề xướng. Nghĩa là tuy giáo pháp của đức Phật chỉ có một thời, nhưng vì có hai ý nghĩa bất đồng nên tựa hồ có nhiều giáo pháp:

 a.1. Giáo đồng căn dị: Như nước mưa chỉ có một vị, nhưng ba loại dược thảo, hai loại cây cối được thấm nhuần sai khác. Tức là giáo pháp vốn chỉ là một, nhưng chúng sanh ngộ giải bất đồng, do căn cơ chúng sanh khác nhau nên tựa hồ có nhiều giáo pháp khác nhau.

 a.2. Lý đồng chứng dị: Lý tuy chỉ một nhưng sự chứng đắc của tam thừa có sai khác, như cùng một dòng sông, ba loài thú cùng lội qua, chân đạp xuống nước sâu cạn sai khác.

b. Thuyết Tiệm Đốn Giáo: do Ngài Đàm Vô Sấm đời Tống lập ra.

 b.1. Đốn giáo là những thuyết như nhị không, tam tánh, tam vô tánh, bát thức, nhị vô ngã v.v...

 b.2 Tiệm giáo là những giáo pháp như Tứ Đế, Duyên Sanh, Ngũ Giới, Bát Giới v.v...

c. Thuyết Tam Thời Giáo (còn gọi là Tam Giáo): do Ngài Chân Đế Tam Tạng Pháp Sư thời Lương đề xướng. Tam thời giáo là:

 c.1. Hữu giáo: trong vòng 7 năm đầu kể từ khi thành Phật, đức Thế Tôn nói ra Hữu giáo, dùng pháp Thanh Văn để độ các vị như năm anh em Kiều Trần Như, Xá Lợi Phất, Ca Diếp v.v... 

 c.2. Không giáo: Từ năm thứ tám đến năm thứ ba mươi tám, Đức Phật chuyên giảng về học thuyết Bát Nhã. Đó là Không Giáo.

 c.3. Phi hữu phi không giáo: Từ năm thứ 39 cho đến khi Phật nhập Niết Bàn, Ngài chuyên giảng về giáo pháp phi hữu phi không như các kinh Pháp Hoa, Lăng Già, Tư Ích...

d. Thuyết Tứ Thời Giáo: do Khuất Đa Cấp Đa Tam Tạng đề xướng; chia một đời giáo hóa của đức Như Lai thành bốn thời:

 d.1. Sanh không giáo: tức là thời gian trong 12 năm đầu sau khi thành Phật, đức Thế Tôn giảng thuyết các bộ kinh giảng về nhân không như A Hàm... 

 d.2. Pháp không giáo: Từ năm thứ 13 đến năm thứ 38, Phật giảng các bộ kinh dạy về pháp không như tám bộ Bát Nhã v.v...

 d.3. Pháp tướng giáo: Từ năm thứ 39 đến năm thứ 49, Phật giảng các kinh như Lăng Già, Tư Ích, Pháp Hoa v.v... chỉ bày các pháp như bách pháp, tam tánh, tam vô tánh, bát thức, nhị vô ngã v.v... Do chú trọng đến phân chia danh mục, số loại của các pháp nên gọi là Pháp Tướng.

 d.4. Quán hạnh giáo: tức là thời gian giảng về pháp môn Pháp Giới Quán của kinh Hoa Nghiêm...

e. Thuyết Ngũ Thời Giáo: do Lưu Cư Sĩ đời Tấn đề xướng, chia giáo pháp thành năm thời:

 e.1. Nhân thiên giáo: là những giáo pháp được giảng trong 21 ngày sau khi Đức Phật thành đạo; gồm các giáo pháp như Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện v.v... vì thính chúng chưa có thiện căn xuất thế. Thuyết này bị Ngài Giác Thọ (Bồ Đề Lưu Chi) bắt bẻ: “Kinh Đề Vị nói nhóm năm trăm người lái buôn như Đề Vị v.v... thọ Ngũ Giới, Phật dạy họ trước hết phải sám hối các tội Ngũ Nghịch, Thập Ác. Thế Tôn dạy: ‘Tứ đại vốn tịnh, cái Ta vốn tịnh’, Đề Vị liền đắc Vô Sanh Nhẫn; năm trăm người lái buôn đắc Nhu Thuận Nhẫn. Lẽ nào đấy chỉ là giáo pháp thuộc nhân thiên ư?”

 e.2. Sanh không giáo: tức là giáo pháp Nhị Thừa được giảng trong mười hai năm đầu tiên.

 e.3 Pháp không giáo: là những giáo pháp được giảng trong mười tám năm kế đó.

 e.4. Câu không giáo: tức là thời gian giảng tám bộ Bát Nhã.

 e.4. Phi hữu phi không giáo: tức là thời gian từ năm thứ 49 sau khi Đức Phật thành đạo trở đi. Thời gian này Ngài giảng các kinh như Lăng Già, Pháp Hoa v.v...

 Đại Sư Khuy Cơ chỉ nêu ra các giáo như thế nhưng không khẳng định kinh này thuộc về giáo nào trong những thuyết trên. Tuy thế, những thuyết phán giáo trên đây không được phổ biến và vận dụng rộng rãi bằng hai thuyết Ngũ Thời Bát Giáo của tông Thiên ThaiNgũ Giáo của tông Hoa Nghiêm.

a. Ngũ thời Bát giáo:

a.1. Bát giáo:

Bát giáo gồm “hóa nghi tứ giáo” (bốn phương pháp hóa độ thuận theo căn cơ) và “hóa pháp tứ giáo” (bốn phương pháp giáo hóa dựa theo mức độ giải ngộ).

Hóa nghi tứ giáo gồm: Đốn, Tiệm, Bất Định, Bí Mật. Hóa pháp tứ giáo gồm Tạng (Tiểu Thừa), Thông (bao gồm cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa, nhưng mới chỉ là những giáo pháp sơ khởi của Đại Thừa), Biệt (giáo pháp Đại Thừa dành riêng cho hàng Bồ Tát), và Viên (những giáo pháp viên dung vô ngại, hàm nhiếp trọn vẹn tất cả các giáo pháp, là giáo pháp cao tột nhất trong các giáo pháp Đại Thừa).

a.2. Ngũ thời:

- Thời Hoa Nghiêm: Phật hiện thân to lớn, giảng kinh Hoa Nghiêm cho những bậc căn cơ Đại Thừa viên đốn, chuyên giảng về Viên Giáo, nhưng đôi chỗ có kèm Biệt giáo.

- Thời A Hàm: Phật hiện thân trượng sáu, giảng pháp cho thính chúng căn cơ Tiểu Thừa, chỉ dạy về Tạng GiáoNhị Thừa Tiểu Quả.

 - Thời Phương Đẳng: đối với căn cơ Tiểu Thừa, Phật giảng Tạng Giáo; đối với căn cơ Đại Thừa, Phật dạy Viên, Thông, Biệt Giáo.

 - Thời Bát Nhã: dù kiêm thuyết lý tánh quyền hiện, nhưng chủ yếu là Thật Lý viên mãn của Viên Giáo.

 - Thời Pháp Hoa - Niết Bàn: quy nhiếp Tam Thừa về Nhất Thừa, khai thị tri kiến Phật.

b. Ngũ Giáo

Tức là:

- Tiểu (Tiểu Thừa): chỉ giảng pháp không, chưa giảng Ngã Không.

- Thỉ (Đại Thừa Thỉ Giáo): căn cứ trên sự sanh diệt của tám thức, kiến lập những giáo nghĩa sanh tử, Niết Bàn, bàn rộng pháp tướng, nhưng chỉ mới luận đôi phần về pháp tánh. Tuy đã giảng về Tam Thừa, nhưng chưa hứa khả hàng định tánh Thanh VănNhất Xiển Đề có khả năng thành Phật. Vì chưa bàn cùng tột giáo lý Đại Thừa nên gọi là Thỉ (bắt đầu).

- Chung (Đại Thừa chung giáo): bàn cùng tận giáo nghĩa Đại Thừa, căn cứ vào bát thức của Như Lai Tạng tùy duyên bất biến để lập giáo nghĩa, chú trọng đến pháp tánh, nhưng chỉ luận đôi chút về pháp tánh, chưa giảng chi tiết. Dù có giảng pháp tướng đi nữa, cũng đều quy về pháp tánh. Chung Giáo công nhận Xiển Đề có khả năng thành Phật.

- Đốn: Chỉ luận về Thật Tướng. Một niệm bất sanh thì gọi là thành Phật. Không cần bận tâm đến thứ tự tu tập từng bước nên gọi là Đốn (nhanh chóng).

- Viên: Viên Giáo bao trùm cả bốn giáo trên, viên dung đầy đủ muôn pháp, duyên khởi vô ngại, pháp giới vô tận, không còn phân biệt giữa sự và lý nữa nên gọi là Viên (trọn vẹn).

3. Phán định giáo tướng của kinh này:

Nếu xét theo cách phán giáo của tông Hoa Nghiêm, kinh này thuộc về Viên Giáo lẫn Đốn Giáo. Xét theo cách phán giáo của tông Thiên Thai, kinh này tuy nằm trong thời Phương Đẳng, nhưng lại thuộc về Viên Giáo.

Bởi Tạng giáoThông Giáo chẳng đề cập đến danh hiệu chư Phật ở phương khác, nên kinh A Di Đà chẳng thể thuộc về Tạng và Thông giáo.

Người niệm Phật lại có thể vượt ngang ra khỏi ba cõi, vãng sanh Cực Lạc, đồng chứng ba thứ bất thoái nên kinh này phải thuộc về Đốn Giáo.

Trong năm thời, thời Hoa Nghiêm nhằm lúc Phật mới thành đạo, Ngài vì hàng pháp thân đại sĩ giảng giải cảnh giới Như Lai, chúng Thanh Văn ngồi dự pháp hội như đui, như điếc, chẳng lãnh hội được gì. Kinh này lại chuyên dạy chúng sanh đời mạt, ác thế ngũ trược, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, nghĩa là: đối tượng được hóa độ của kinh này là hết thảy hữu tình, nên kinh này không thể nào thuộc về thời Hoa Nghiêm được.

Trong thời A Hàm, Phật chuyên dạy pháp Tiểu Thừa. Thế nhưng kinh này luận về công đức trang nghiêm y báo, chánh báo cõi Cực Lạc, cũng như ý chỉ huyền nhiệm rốt ráo thành Phật, nên cũng không thể nào thuộc về thời A Hàm được.

Trong thời Bát Nhã, Đức Phật chuyên luận về những pháp mà Bồ Tát phải học. Kinh này chẳng phân biệt căn cơ chúng sanh, bất cứ ai nếu chí thành niệm Phật đều có thể được vãng sanh. Bởi đó, kinh này chẳng thể thuộc về thời Bát Nhã.

Thời Pháp Hoa khai quyền hiển thật (vạch rõ những pháp phương tiện, trực chỉ thật lý Nhất Thừa), khai thị tri kiến Phật; thế nhưng kinh này chỉ chuyên dạy Trì Danh, nên chẳng thuộc về thời Pháp Hoa được.

Bởi những lẽ trên, kinh này phải thuộc về thời Phương Đẳng.

Hơn nữa, kinh Di Đà bao hàm diệu lý viên đốn, trước thì thông tiếp kinh Hoa Nghiêm, sau thì thông tiếp kinh Pháp Hoa; cho nên phán định kinh này thuộc về thời Phương Đẳng rất hợp lý

VI. CĂN TÁNH SỞ BỊ (những căn tánh được tiếp độ bởi kinh này)

 Những nghĩa lý được diễn giảng trong kinh này tuy là chí viên, chí đốn, là pháp để giáo hóa Bồ Tát, nhưng cũng là pháp kiêm dạy Nhị Thừa. Bất luận căn cơ là thượng, trung hay hạ đều có thể niệm Phật, đều được vãng sanh. Chỉ trừ kẻ chẳng tin, chẳng nguyện, chẳng hạnh là đành chịu vô phần. Nếu có tín, hạnh, nguyện thì dù đang ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vẫn là căn cơ sẽ được hóa độ bởi kinh này.

 Kinh chép: “Vì vậy, này Xá Lợi Phất! Các ông đều phải nên tin nhận lời ta và lời chư Phật nói” là khuyến tín. Lại chép: “Nếu có kẻ tin hãy nên phát nguyện sinh sang cõi ấy” là khuyên phát nguyện. Lại chép: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu hoặc một ngày... hoặc bảy ngày nhất tâm bất loạn” là khuyên nên hành trì.

VII. BỘ LOẠI SAI BIỆT

 Thuộc cùng một Bộ là những kinh cùng phô diễn một tông thú, nhưng diễn giảng rộng lược khác nhau. Thuộc cùng một Loại là những kinh có tông thú liên quan mật thiết với nhau.

 Xét về Bộ, hai kinh cùng Bộ là kinh này và kinh Vô Lượng Thọ (không đề cập đến kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ vì nó chỉ là bản dịch khác của kinh này).

 Cùng Loại với kinh A Di Đà đây có kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Cổ Âm Thanh Vương, A Di Đà Kệ Kinh.

 Được xếp vào Phi Bộ Phi Loại là những kinh có nói kèm đến pháp môn Tịnh Độ như kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Lăng Nghiêm, Văn Thù Sở Thuyết Bát Nhã, Bi Hoa, Quán Âm Bồ Tát Thọ Ký, Phật Thuyết Như Huyễn Tam Ma Địa Vô Lượng Ấn Pháp Môn ...

 Nếu kể cả những kinh Mật Giáo dạy thần chú, cách lập đàn, vẽ mạn đà la, quán tưởng Phật A Di Đà thì phải kể thêm:

1. Vô Lượng Thọ Như Lai Tu Quán Hạnh Cúng Dường Nghi Quỹ do Ngài Bất Không dịch vào đời Đường, chủ yếu dạy cách quán tưởng và các nghi thức cúng dường.

 2. Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú do Ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào đời Lưu Tống (bản này chỉ ghi bài thần chú)

 3. Cửu Phẩm Vãng Sanh A Di Đà Tam Ma Địa Tập Đà Ra Ni kinh do Ngài Bất Không dịch vào đời Đường.

4.. Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh do Ngài Pháp Thành dịch vào đời Đường.

5. Vô Lượng Thọ Đại Trí Đà Ra Ni, do Ngài Pháp Hiền dịch vào đời Triệu Tống. Kinh này chỉ có bài chú. Bản dịch khác của kinh này đầy đủ hơn là kinh Đại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà Ra Ni.

VII. DỊCH TRUYỀN CẢM THÔNG (các bản dịch, bản được lưu truyền, những sự cảm ứng do tụng trì kinh này)

A. Các bản dịch:

Từ Phạn ngữ, dịch sang Hán văn có hai bản dịch:

 1. Bản thứ nhất mang tên Phật Thuyết A Di Đà Kinh, do Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch vào thời Dao Tần (394-415).

 2. Bản thứ hai mang tên Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh do Ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch vào đời Đường.

 Hai bản dịch này đại đồng tiểu dị, bản dịch của Ngài Huyền Trang chi tiết hơn, nhưng kém phần bóng bẩy hơn so với bản dịch của Ngài La Thập. Hiện tại, bản được lưu truyền rộng rãi hơn cả là bản dịch của Ngài La Thập (thường gọi là bản Tần dịch).

 Ngoài hai bản dịch này, hiện còn một bản hội tập hai bản kinh trên do cư sĩ Hạ Liên Cư soạn. Ngoài Tịnh Độ Cư Sĩ Lâm Trung Hoa, bản hội tập này không được sử dụng phổ biến cho lắm. Theo Chúng Kinh Mục Lục, vào đời Lưu Tống, kinh này cũng được Ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch với tựa đề Tiểu Vô Lượng Thọ Kinh nhưng đã thất truyền.

 Khi chú giải các kinh này, từ xưa đến nay, các nhà sớ giải kinh đều dùng bản của Ngài La Thập. Ngay cả đại đệ tử của pháp sư Huyền Trang là Ngài Khuy Cơ khi sớ giải kinh cũng dùng bản của Ngài La Thập, có lẽ vì bản này phổ biến hơn cả.

 B. Các bản chú giải:

Từ xưa đến nay, kinh này được chú sớ rất nhiều, nhưng bị thất truyền rất nhiều. Hiện tại, chỉ còn giữ lại được một số bản chú giải như sau:

 1. A Di Đà Kinh Nghĩa Ký, 1 quyển, do Ngài Trí Khải soạn thuật vào đời Tùy.

 2. A Di Đà Kinh Nghĩa Thuật, 1 quyển, do Ngài Huệ Tịnh soạn vào đời Đường.

 3. A Di Đà Kinh Thông Tán Sớ, 3 quyển, do Ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường.

 4. A Di Đà Kinh Sớ, 1 quyển, do Ngài Khuy Cơ đời Đường soạn.

 5. A Di Đà Kinh Sớ, 1 quyển, do Ngài Hải Đông Nguyên Hiểu người xứ Tân La soạn.

 6. A Di Đà Kinh Sớ, do Ngài Trí Viên soạn vào đời Tống.

 7. A Di Đà Kinh Nghĩa Sớ do Ngài Linh Chi Nguyên Chiếu đời Tống soạn.

 8. A Di Đà Kinh Cú Giải do Ngài Tánh Trừng soạn vào đời Nguyên.

9. A Di Đà Kinh Lược Giải của Ngài Đại Hựu thời Nguyên.

 10. A Di Đà Kinh Sớ Sao do Ngài Vân Thê Liên Trì soạn vào thời Minh.

 11. A Di Đà Kinh Lược Giải Viên Trung Sao, 2 quyển, do Ngài U Khê Truyền Đăng soạn.

12. A Di Đà Kinh Yếu Giải do Ngài Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc soạn vào cuối đời Minh.

 13. A Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng Nghĩa của Viên Anh Pháp Sư đời Thanh.

14. A Di Đà Kinh Thiệt Tướng của Ngài Tịnh Đĩnh soạn.

 15. A Di Đà Kinh Trực Giải Chánh Hạnh của Liễu Căn Toản soạn.

 16. A Di Đà Kinh Lược Chú của Ngài Tục Pháp soạn.

 17. A Di Đà Kinh Trích Yếu Dị Giải do Ngài Chân Tung soạn.

 18. A Di Đà Kinh Ước Luận của cư sĩ Bành Tế Thanh soạn vào đời Thanh.

 19. A Di Đà Kinh Thích và A Di Đà Kinh Chú của Trịnh Trừng Đức và Đặng Trừng Nguyên hợp soạn.

 20. A Di Đà Kinh Tiên Chú của cư sĩ Đinh Phước Bảo (ông này cũng là tác giả của bộ Phật Học Đại Từ Điển).

Từ bản A Di Đà Kinh Sớ Sao, Ngài Trí Nguyện tổng kết những lời giảng của chư cổ đức đời Minh soạn ra ba tác phẩm: A Di Đà Kinh Sớ Sao Sự Nghĩa, A Di Đà Kinh Sớ Sao Vấn Biện, A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa.

Ngài Đạt Mặc (không rõ thời đại) soạn lời Sao cho cuốn Yếu Giải của Tổ Trí Húc, đặt tên là A Di Đà Kinh Yếu Giải Tiện Mông Sao,

 Trong các bản chú giải kinh trên đây, bản Yếu Giải của Ngài Ngẫu Ích được Tổ Ấn Quang tán dương như sau: “Lý sự đều đạt đến chỗ tuyệt diệu, kể từ khi Phật thuyết kinh này đến nay, Yếu Giải là bản chú giải bậc nhất, khéo léo nhất, xác thực nhất. Ví dù cổ Phật xuất thế chú giải lại kinh này cũng chẳng thể hay hơn được nữa”. Vì thế, trong các bản chú giải kinh A Di Đà, tác phẩm A Di Đà Kinh Yếu Giải được lưu truyền mạnh mẽ nhất.

 Cho đến hiện tại, chư tôn cổ đức vẫn tiếp tục diễn giảng kinh A Di Đà và trước tác rất nhiều tác phẩm mới để phu dương mật nghĩa của kinh này nhưng kiến giải đa phần vẫn dựa theo hai tác phẩm Yếu Giải và Sớ Sao là chính.

 C. Sự cảm ứng của việc trì kinh

Từ xưa đến nay, người trì tụng kinh này được cảm ứng rất nhiều, xin lược thuật một vài chuyện:

Theo Trí Độ Luận, có một vị tỳ kheo trì tụng kinh A Di Đà, lúc sắp mạng chung, bảo đệ tử rằng: “A Di Đà Phật cùng các thánh chúng đều đến đón ta”. Mất rồi, đệ tử làm lễ trà tỳ, thấy cuống lưỡi của vị tỳ kheo ấy chẳng cháy, hình dáng, màu sắc vẫn tươi nguyên như khi còn sống.

Ông Đường Thế Lương đời Tống tụng kinh Di Đà đến mười vạn biến. Một ngày nọ bảo người nhà: “Phật đến đón ta”. Nói xong, làm lễ mà tịch. Đêm ấy có kẻ đi buôn, ngụ bên núi Đạo Vị, mộng thấy ánh sáng lạ lùng ở Tây Phương, phan, hoa vần vũ, âm nhạc réo rắt, trên không rền vang tiếng nói: “Ông Đường Thế Lương đã sanh về Tịnh Độ”.

Đời Tống, kẻ thảo dân Bằng Mân, thuở trẻ thích săn bắn. Một ngày nọ, đi săn gặp một con rắn to liền cầm giáo xông đến đâm. Khi ấy, rắn đang núp một gộp đá lớn, toan mổ một con bò vàng. Bằng Mân xô đá đè chết rắn. Khi được tái sanh, rắn nhiều phen tính trả thù, nhưng họ Bằng đã tu sám, niệm Phật đã lâu nên rắn chẳng làm gì được. Đến một ngày nọ, ông thỉnh các bạn đồng tu Tịnh nghiệp tụng kinh Di Dà, ngồi chắp tay qua đời.

Đời Tống, pháp sư Trí Tiên, hiệu Chân Giáo, trụ trì chùa Bạch Liên, suốt mười ba năm hướng về Tây niệm Phật, trong 12 thời chưa từng thiếu sót công phu. Một chiều nọ, Sư mỉm cười, sai quán đường hành nhân tụng kinh A Di Đà. Tụng chưa xong, Sư đã an nhiên tọa hóa.

Ngài Thích Xử Khiêm đời Tống chuyên tu Tịnh Độ. Một tối nọ, tụng kinh A Di Đà xong, Ngài khen ngợi Tịnh Độ rồi bảo với đại chúng rằng: “Tôi đã đạt vô sanh mà sanh Tịnh Độ”. Liền như nhập thiền định, lặng lẽ mà hóa.

Đời Tống, bà lão họ Chung ở quận Gia Hòa, mỗi ngày tụng kinh Di Đà mười biến, niệm Phật chẳng bỏ sót ngày nào. Một ngày nọ bà bảo con: “Ta thấy hoa sen trắng vô số, thánh chúng đến đón ta”. Rồi ngồi ngay ngắn, lặng lẽ qua đời.

Hoài Ngọc thiền sư người Đài Châu, chuyên mặc áo vải, ngày ăn một bữa, thường ngồi chẳng nằm, tinh tấn niệm Phật, tụng kinh Di Đà đến ba mươi vạn biến. Một ngày kia thấy Tây Phương thánh chúng nhiều như cát sông Hằng. Một vị tay cầm đài bạc, theo cửa sổ mà vào. Sư hỏi: “Tôi một đời tinh tấn, thề lấy được đài vàng, sao lại như thế này?” Đài bạc liền ẩn mất. Sư càng cảm khích, tinh tấn gấp bội. Hăm mốt ngày sau, thấy Phật hiện chật cả không trung, bèn bảo đệ tử: “Kim đài đã đến đón, ta sanh về Tịnh Độ đây!” Rồi đọc kệ, mỉm cười mà tịch.

Năm Đại Lịch thứ chín đời Nguyên, Tử Hoa thiền sư trụ tại chùa Quán Âm ở Nhuận Châu, tụng kinh Di Đà suốt sáu tháng, chợt mắc bệnh. Đêm ngửi thấy mùi hương, nghe tiếng âm nhạc, trên không có tiếng bảo: “Sự vui thô thiển đã qua, sự vui tinh tế sẽ tiếp nối. Ngài sẽ vãng sanh”. Chẳng lâu sau, sư niệm Phật viên tịch, mùi hương ngào ngạt suốt mấy ngày chẳng tan.

Ngay cả cầm thú cũng được lợi lạc do việc trì kinh này. Quán công ở chùa Chánh Đẳng tại Hoàng Nham, có nuôi một con nhồng (tên một loài chim), thường dạy nó niệm Phật chẳng ngớt. Về sau, con nhồng chết đứng trong lồng. Quán công đem chôn, ít lâu sau, trên mộ chim mọc lên một đóa hoa sen tím. Bới đất để tìm gốc sen, thấy hoa sen ấy mọc ra từ lưỡi con nhồng.

 Sự cảm ứng của kinh Di Đà rất nhiều, chẳng thể thuật trọn. Chúng ta là hạng phàm phu khổ não chúng sanh, muốn thoát ly biển khổ, mong vượt khỏi tam giới, thật phải nên buông bỏ vạn duyên, nhất tâm niệm Phật thì đương nhiên sẽ hữu cầu tất ứng, vô cảm bất thông vậy!

Phần Hai

IX. TỔNG THÍCH KINH ĐỀ (giải thích chung về danh hiệu của bản kinh

 

A. Kinh danh sai biệt (những tên gọi khác nhau của kinh)

 

Kinh này mang tên là Phật Thuyết A Di Đà Kinh, nhưng trong kinh văn ghi rõ kinh này tên là “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh” (kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn, được hết thảy chư Phật hộ niệm). Vì thế, Ngài Huyền Trang dịch là Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh.

 

B. Lập danh phương thức (cách thức đặt tên kinh)

 

Phàm tên kinh được đặt không ngoài vận dụng ba yếu tố: nhân, pháp, dụ. Ba yếu tố ấy dùng riêng lẻ hay ghép với nhau, tạo thành bảy loại như sau:

1. Đơn nhân lập danh (chỉ dùng người để đặt tên): như Phật thuyết A Di Đà Kinh, Ương Quật Ma La Kinh v.v...

2. Đơn pháp lập danh: như Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh, Thật Tướng Bát Nhã kinh, Đại Thừa Lý Thú Lục Ba La Mật Kinh...

3. Đơn dụ lập danh (chỉ dùng thí dụ để đặt tên): như Phạm Võng Kinh, Bửu Tích kinh, Bửu Vân kinh... thuần dùng thí dụ để đặt tên kinh.

4. Nhân pháp lập danh: như Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện kinh, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh, Văn Thù Sở Vấn Bát Nhã kinh,Thắng Thiên Vương Bát Nhã Kinh v.v...

5. Pháp dụ lập danh: như Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh (Kim Cang là dụ, Bát Nhã Ba La Mật là pháp), Diệu Pháp Liên Hoa Kinh...

6. Nhân dụ lập danh: như Như Lai Sư Tử Hống Kinh. Như Lai là nhân, Sư Tử Hống là dụ.

7. Nhân pháp dụ lập danh: như Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Đại Phương Quảng là pháp, Phật là nhân, Hoa Nghiêm là dụ. Một ví dụ là Như Lai Đại Phương Tiện Nhất Thừa Thắng Man Sư Tử Hống Kinh cũng dùng cả ba nhân, pháp, dụ để đặt tên kinh.

Kinh A Di Đà này chỉ dùng nhân để đặt tên.

 

C. Biệt thích kinh đề (giải thích riêng về tên kinh này)

 

Tên kinh gồm có hai phần: Thông và Biệt. Thông là “Kinh”, biệt là “Phật Thuyết A Di Đà”.

 

C.1. Phẫu tự biệt thích (giải thích theo lối phân tích từng chữ trong tên kinh) 

 

Kế tiếp đây là phần giải thích từng chữ trong tên gọi của kinh:

1. Phật:

 

Chữ Phật phải hiểu theo bốn khía cạnh: Sự, lý, nhân, quả.

 

1.1. Ước về Sự: Phật là hiệu chung của mười phương tam thế hết thảy chư Phật. Nói chính xác, Phật là một trong mười hiệu của chư Phật Thế Tôn. Trong kinh này, chữ Phật riêng chỉ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

1.2. Ước theo Lý: Phật gọi đủ theo tiếng Phạn là Phật Đà, thường dịch là Giác Giả (bậc giác ngộ) hay còn dịch là Đại Giác. Giác bao hàm ba nghĩa: tự giác, giác tha, và giác hạnh viên mãn.

Hiểu theo nghĩa thông thường, Giác là giác ngộ, hàm nghĩa Phật là người giác ngộ. Thế sao không dịch là Giác Nhân mà lại dịch là Giác Giả? Chữ Giả có nghĩa rộng hơn, ngụ ý bao gồm hết thảy hữu tình chứ không chỉ hạn cuộc trong loài người. Kinh nói: “Phàm hết thảy những ai có tâm (tri giác) đều sẽ có thể thành Phật”. Bởi thế, nếu dịch là Giác Nhân thì hóa ra chỉ riêng nhân loại mới có khả năng thành Phật! Trong kinh Pháp Hoa nói: long nữ tám tuổi thành Phật, chẳng lẽ lại gọi vị Phật ấy là giác long hay sao?

Vị thánh nhân ấy giác ngộ chân lý vũ trụthật tướng của nhân sinh. Chân lý vũ trụThật Tướng của nhân sinh thật ra chẳng ngoài duyên khởi tánh không. Hết thảy hữu tình mê muội nơi duyên khởi tánh không, nhận lầm vũ trụ thật có vạn pháp, thân do tứ đại giả hợp là thật có, nên mê say đắm đuối, trầm luân sanh tử. Đức Phật nhận thức minh bạch duyên khởi tánh không nên đốn phá vô minh, siêu xuất sanh tử.

- Tự Giác: ngoài thì giác ngộ hết thảy các pháp đều là huyễn hóa, vô thường, là pháp sanh diệt; trong thì nhận rõ ai nấy đều có Phật tánh thường trụ bất sanh bất diệt.

- Giác Tha: chúng sanh chẳng được giải thoát chỉ vì chưa giác ngộ, Đức Phật chẳng nỡ riêng mình thọ hưởng sự giải thoát an vui mà bỏ mặc chúng sanh chìm đắm trong biển khổ sanh tử. Vì thế, Ngài vận dụng mọi phương tiện thiện xảo để khiến đại địa chúng sanh đều được giác ngộ như mình.

- Giác Hạnh Viên Mãn: Tự Giáchuệ mãn, Giác Tha là phước mãn.

* Huệ mãn là từ lúc ban sơ phát Bồ Đề tâm, nương vào Thỉ Giác trí (3) để đoạn trừ trọn vẹn ba thứ kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc, chứng ngộ trọn vẹn ba trí, thấu rõ nguồn cội bản tâm nên trí huệ viên mãn. Đó là “huệ mãn”.

* Phước mãn là sau khi tự giác, bèn nương vào tối thượng thừa, chỉ lấy việc lợi sanh làm sự nghiệp, lấy hoằng pháp làm việc nhà, trải ba A-tăng-kỳ kiếp tu trọn lục độ, vạn hạnh, khai thị pháp giới hữu tình, công đức viên mãn nên gọi là “phước mãn”. 

Tự Giác là khác với phàm phu si mê bất giác, Giác Tha là khác với Nhị Thừa chỉ chuyên tự giác; Giác Hạnh Viên Mãn là khác với Bồ Tát chỉ mới đạt phần chứng (chứng ngộ chưa trọn vẹn). Nói cách khác, thành đạotự giác, giáo hóa chúng sanhgiác tha, tự giácgiác tha đạt đến mức triệt để tối cực nên gọi là “giác hạnh viên mãn”.

Hơn nữa, tự giác là luận trên phương diện Lý Trí, giác tha là luận về phương diện Bi hạnh, giác mãn là “tri hành hợp nhất”, lấy tự lợi, lợi tha, phước huệ viên mãn làm mục đích duy nhất.

Vì sao chỉ mình Đức Phật đầy đủ ba ý nghĩa giác ngộ ấy? Vì Nhị Thừa thiên chấp Thiên Không chân lý nên tự giác chưa viên mãn, công đức của Bồ Tát chưa trọn vẹn (phước chưa đủ), đồng thời vẫn còn chút phần vi tế vô minh, sở chứng chưa viên mãn (huệ chưa viên mãn) nên chẳng thể sánh bằng Phật được!

 

1.3. Ước về nhân: chữ Nhân chỉ nhân địa (quá trình tu nhân, ở đây chỉ nhân địa hiện tại).

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật trong vô lượng kiếp nhiều như vi trần từ trước, do vì giáo hóa chúng sanh cõi này nên thị hiện tu nhân trong cõi Sa Bà. Đức Thế Tôn đã thị hiện giáng sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni làm thái tử dòng họ Thích Ca. Năm mười chín tuổi, thị hiện xuất gia, sáu năm tu hành khổ hạnh tại núi Già Da (tại thôn Tư Na, ở phía nam sông Ni Liên Thiền), hàng phục ma quân, thành đạo, giáo hóa chúng sanh. Đến rằm tháng Hai năm Ngài tám mươi tuổi, cơ duyên hóa độ đã mãn, bèn thị hiện Niết Bàn tại rừng Ta La Song Thọ.

 

1.4. Ước về Quả: tức là rốt ráo chứng đắc cực quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Trong phần giảng về kinh văn, sẽ giải thích tỉ mỉ ý nghĩa chữ A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

 

2. “Thuyết”: có nghĩa là giảng nói. Ý nói: kinh này do chính nơi kim khẩu của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tuyên thuyết.

Thuyết còn có nghĩa là Duyệt (vui vẻ). Thấy đã đến lúc cơ duyên thành thục để diễn nói bản hoài cứu độ chúng sanh, biết rõ chúng sanh đời mạt sẽ do pháp môn này mà được độ thoát, cho nên Phật vui sướng, không ai thỉnh mà tự giảng ra bản kinh này.

 

3. A Di Đà: dịch là Vô Lượng Quang hay Vô Lượng Thọ. Đức Phật ấy quang minh vô lượng, thọ mạng vô lượng. Thật ra công đức, trí huệ, thần thông v.v... của Ngài mỗi mỗi đều vô lượng, nhưng ở đây lấy quang minhthọ lượng làm tiêu biểu.

 Có hai thứ vô lượng: Vô lượng vô lượng (nghĩa là vô lượng tuyệt đối, hoàn toàn không thể nào tính đếm được) và hữu lượng vô lượng (vô lượngthể tính đếm được, tức là một con số rất lớn như kinh Hoa Nghiêm một trăm lạc xoa (một trăm ngàn) là một câu chi, câu chi lần câu chi làm một a du đa.... cho đến a tăng kỳ lần a tăng kỳ làm một a tăng kỳ chuyển. A tăng kỳ chuyển lần a tăng kỳ chuyển làm một vô lượng. Như vậy, con số vô lượng rất lớn, nhưng vẫn là hữu hạn vì vẫn có thể tính đếm được).

 Pháp Thân của Phật A Di Đà vô thỉ vô chung (không có khởi đầu, không có kết thúc), Báo Thân của Ngài hữu thỉ vô chung, đều thực sự là “vô lượng vô lượng”. Còn như Ứng Thân của Phật, ứng hiện tùy theo căn cơ, khi duyên hóa độ đã hết liền diệt. Đó là hữu thỉ hữu chung. Ứng Thân của Phật A Di Đà tuy thọ mạng vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp nhưng vẫn có ngày nhập diệt, đó là ý nghĩa của chữ “hữu lượng vô lượng”.

 Pháp Thân của Phật A Di Đà thường trụ bất biến, đấy chính là ý nghĩa “vô lượng thọ”. Căn Bản Trí của Phật chiếu khắp mười phương; đấy chính là ý nghĩa “vô lượng quang”. Như vậy, vô lượng thọvô lượng quang của Phật cũng là kết quả của sự tu tập. Kinh chép, trong quá khứ vô lượng vô biên kiếp về trước, tỳ kheo Pháp Tạng từng làm Chuyển Luân Thánh Vương, nghe đức Thế Tự Tại Vương Phật thuyết pháp, bèn phát nguyện xuất gia, được đặt pháp danhPháp Tạng, phát bốn mươi tám nguyện, tận lực tu tập những hạnh khó làm trong vô lượng kiếp nhằm trang nghiêm y báochánh báo của cõi Phật. Do đó, đến khi nhân viên quả mãn, thành Đẳng Chánh Giác, Ngài cảm được thọ lượng, quang minh mỗi thứ đều vô lượng, nên được hiệu là A Di Đà.

 Lại nữa, lúc chúng ta niệm Phật, từng câu phân minh, tương ứng với Phật, đó chính là ý nghĩa chữ Quang. Từng câu không gián đoạn, nhất tâm bất loạn, đấy chính là ý nghĩa chữ Thọ. Quang là trí của Như Lai, Thọ là lý của Như Lai. Trí chiếu soi Lý, Lý hiển thị Trí, Lý - Trí nhất như, quang - thọ chẳng hai. Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ, niệm niệm chiếu soi cùng tột, niệm Phật đến mức như thế thì Quang lẫn Thọ luôn hiển hiện nơi tự tâm.

 Nếu phán định theo thuyết Lục Tức Thành Phật của tông Thiên Thai thì:

- Chúng sanh luôn sẵn đủ Quang lẫn Thọ nơi tự tâm nhưng mê muội chẳng hề chứng biết. Đấy gọi là Xứng Lý Tức Quang Thọ (tức là chỉ có Quang lẫn Thọ về mặt Lý, chưa thực sự chứng ngộ).

- Nghe hiểu pháp môn Tịnh Độ, hiểu ý nghĩa của danh hiệu Phật A Di Đà. Đấy là Danh Tự Tức Quang Thọ.

- Đã nghe biết, tin hiểu, bèn chấp trì danh hiệu, đấy là Quán Hạnh Tức Quang Thọ. 

- Những phiền não, cấu trược thuộc về phần thô đã đoạn thì gọi là Tương Tự Tức Quang Thọ.

- Phá được một phần vô minh, hiển hiện tự tánh Phật, thì gọi là Phần Chứng Tức Quang Thọ.

- Phá sạch toàn bộ vô minh, lý trí viên mãn đến cùng cực, đấy là Cứu Cánh Tức Quang Thọ.

 

4. Kinh: gọi đủ là Khế Kinh, tiếng Phạn là Tu Đa La. Khế nghĩa là “khế hợp” (phù hợp, tương xứng), bao hàm ý nghĩa: Trên khế hợp với đạo lý của chư Phật đã nói, dưới khế hợp với căn cơ của tất cả chúng sanh được độ.

Chữ Kinh có năm nghĩa:

- Xuất sanh: Nếu chúng sanh tu hành đúng theo lời Phật dạy thì sẽ sanh khởi được tất cả nhân quả của thiện pháp. Đấy là ý nghĩa của chữ Xuất Sanh. 

- Hiển thị: Kinh của Đức Phật thuyết có khả năng chỉ rõ các pháp xuất thế gian, sự, lý, tánh, tướng, nhân, quả, tu, chứng v.v... Đấy là ý nghĩa của Hiển Thị

- Dũng tuyền (suối phun): Mỗi một chữ trong kinh chứa đựng hết thảy pháp, dung hàm vô lượng nghĩa, như nước vọt ra từ mạch suối, dù có dùng bao nhiêu vẫn chẳng cạn. Đấy là ý nghĩa của Dũng Tuyền.

- Thằng mặc (mực thước): Kinh Phật giảng giải đạo lý khiến cho chúng sanh phân biệt được đâu là tà, đâu là chánh, hiểu rõ sự lý, biết nhân rõ quả, bỏ ác tu thiện, như thợ mộc dùng dây nhúng mực để đo lường sự cong ngay của cây gỗ trước khi cưa đục cho đúng.

- Kết man (kết thành tràng hoa): Kết man là dùng chỉ xỏ các bông hoa thành tràng để tạo ra vật trang sức đẹp đẽ. Kinh Phật xuyên suốt sự, lý, nhân quả, khiến chúng chẳng bị lạc mất. Đấy là ý nghĩa của chữ Kết Man.

Thông thường, chữ Kinh thường được hiểu theo nghĩa “quán nhiếp thường pháp”:

- Quán là xâu kết lại, dính kết lại theo thứ tự, là thâu tóm, hệ thống hóa, tập hợp lại những pháp đã thuyết giảng, chẳng để bị tản mác.

- Nhiếp là giống như nam châm hút mạt sắt. Kinh điểncông năng thu hút những chúng sanh có khả năng hóa độ chẳng để cho họ bị đọa lạc.

- Thường là đạo lý chẳng biến đổi trong suốt cả ba đời. Những pháp Phật đã thuyết đều phát xuất từ lòng đại bi vô tận, giảng ra những pháp phù hợp với pháp tánh, bàn luận đến những điểm cùng tột vi diệu của chân lý, nên thường gọi là “xứng tánh cực đàm”. Những pháp đức Phật đã giảng đều là lý chân nghĩa thật, dẫu ngàn đời muôn kiếp, vĩnh viễn chẳng thể thay đổi được, nên gọi là Thường.

- Pháp nghĩa là mười pháp giới đều phải tuân theo khuôn phép ấy. 

Kinh còn có thể hiểu là đường lối; nghĩa là Kinh chính là con đường để tu hành thành Phật. Có thuyết nói Kinh còn có nghĩa là thuyền bè, ngụ ý: kinh Phật có thể dẫn dắt, độ chúng sanh vượt khỏi biển sanh tử.

Kinh Phật được gọi là “Khế Kinh” vì gồm đủ bốn điều khế hợp: khế sự, khế lý, khế giáo, khế cơ.

 

a. Khế sự:

Đức Phật dùng Phương Tiện Quyền Trí giảng giải nhân quả của trời người, các pháp tu chứng của Nhị Thừa v.v... đều tương xứng với sự tướng thế tục, nên gọi là Khế Sự.

 

b. Khế lý

Phật dùng Thật Trí giảng ra đệ nhất đế lý. Bất cứ điều nào Đức Phật đã giảng xét về sự hay lý đều xứng hợp với Đệ Nhất Nghĩa Đế nên gọi là Khế Lý.

 

c. Khế giáo:

Khế giáo là dù thị hiện trong cõi ngũ trược ác thế để thuyết pháp lợi sanh, chúng sanh căn tánh ương ngạnh khó độ, những giáo pháp của Đức Phật đã thuyết đều hoàn toàn giống hệt như những giáo pháp của mười phương chư Phật đã thuyết.

Trong hội Hoa Nghiêm, khi chư Bồ Tát trước sự chứng minh của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca, giảng về thứ tự tu chứng Thập Hạnh, Thập Trụ, Thập Hồi Hướng v.v... xong thì có các đại Bồ Tát nhiều như số vi trần trong bất khả thuyết các cõi Phậtmười phương, đồng danh đồng hiệu hiện ra tán dương: “Lành thay! Lành thay! Hàng Phật tử các ông! Nói ra những pháp chân thật chẳng dối... Trong cõi nước của chúng tôi cũng thuyết pháp này, thậm chí văn tự, danh tự, câu chữ cũng đều tương đồng”.

 

d. Khế cơ:

Cơ là căn cơ của chúng sanh. Căn tánh của chúng sanh tuy có đại, tiểu bất đồng, nhưng cứ nương theo kinh tu tập thì không ai là chẳng được lợi ích. Đấy gọi là “khế cơ”.

 

 Trong tựa đề Phật Thuyết A Di Đà Kinh đây, Phật là đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là vị đã chứng cực quả, là chủ thể thuyết pháp. A Di ĐàCực Lạc giáo chủ, là bậc chứng ngộ cực quả được đề cập đến. Phật Thích Ca và Phật Di Đà cùng chứng cực quả, vì sao Phật Thích Ca lại phải thuyết ra pháp này để xưng tán Phật A Di Đà? Đó là vì cõi Sa Bà uế ác, y báo lẫn chánh báo cõi này đều do vọng tưởng hoặc nghiệp chiêu cảm, huyễn khởi sanh tử vô cùng, khó tìm được chỗ cậy nhờ, nương tựa. Dù đức Phật Thích Ca mẫn niệm ứng cơ nhiếp hóa, nhưng khi duyên hóa độ đã hết, liền nhập diệt, chúng sanh không cách nào gặp gỡ được nữa. Còn y báo, chánh báo cõi Cực Lạc đều là do những công đức sẵn có trong bản tâm thanh tịnh hiển hiện, hữu tình, vô tình cõi Cực Lạc đều thuyết pháp bất tuyệt. Chúng sanh nghe pháp ấy tăng trưởng đạo tâm, phiền não tiêu trừ, quyết chứng Bồ Đề. Bởi những lẽ ấy, Phật Thích Ca phải tán dương cõi Cực Lạc và Phật A Di Đà, đấng giáo chủ cõi ấy, để chúng sanh phát tâm ưa thích, nhàm chán sanh tử, phát nguyện vãng sanh, vĩnh thoát khổ hải.

 

 D. Giáo lý hạnh quả phán thích (phán định về giáo lý hạnh quả của kinh này)

 

1. Định nghĩa:

 

 Những lời dạy bảo của thánh nhân được lưu truyền lại gọi là Giáo. Chỉ thú, nghĩa lý của những lời dạy ấy là Lý. Từ Lý khởi tu là Hạnh. Do hạnh quyết định chứng đắc là Quả.

 Bất cứ bộ kinh nào của Phật đã thuyết ra đều có đủ bốn phần Giáo, Lý, Hạnh, Quả này. Nếu không có đủ bốn phần này, chúng sanh do đâu mà tuân theo lời dạy để hiểu rõ Lý, từ lý khởi hạnh tu tập mà chứng cực quả. Hóa ra, những lời giảng thuyết ấy biến thành hý luận hư huyễn hay sao?

 

2. Phán định:

 

Trong kinh này, toàn bộ kinh văn từ câu “như thị ngã văn” cho đến câu “tác lễ nhi khứ” là thuộc về Giáo. Giáo pháp được phô diễn bởi kinh này là giáo pháp phương tiện tối thắng, chí diệu viên đốn.

Lý được hiển thị bởi kinh này chính là lý Thường - Lạc - Ngã - Tịnh.

Pháp môn Trì Danh Niệm Phật dạy trong kinh này chính là Hạnh.

Do tu tập pháp môn này sẽ chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Đó chính là Quả.

 

E. Kinh đề tổng luận (luận chung về tên kinh này) 

 

Trong kinh này, Phật là thuộc về Lý, về Quả, tức là Pháp Thân đức. A Di Đà là Hạnh. Kinh này đặc biệt chỉ dạy diệu hạnh Trì Danh, đấy tức là Bát Nhã đức. Chữ Thuyết và chữ Kinh thuộc về Giáo, tức là Giải Thoát Đức.

Nếu phối hợp với Tam Bát Nhã để giải thích thì: Phật là Thật Tướng Bát Nhã, A Di ĐàQuán Chiếu Bát Nhã, Thuyết và Kinh là Văn Tự Bát Nhã.

Tên gọi của kinh này có những nghĩa lý như thế, văn nghĩa của kinh này cũng có vô lượng nghĩa như thế, chẳng thể luận bàn trọn vẹn được.

 

F. Phiên dịch kinh nhân (người phiên dịch kinh)

 Dao Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch

 

1. Dao Tần:

 

Trong lịch sử Trung Hoa có nhiều triều đại cùng mang danh xưng là Tần nên để phân biệt, ta thường thêm họ của người sáng lập vương triều ấy vào trước tên triều đại.

 Vào đời nhà Chu, Chu Hiếu Vương phong đất Thiểm Tây cho Phi Tử, đặt hiệu cho đất phong là Tần. Phi Tử là hậu duệ của Bá Ích, rất tinh thông về thuật luyện ngựa nên được nhà vua rất yêu quý. Hậu duệ của Phi Tử là Doanh Chính thôn tính lục quốc, thống nhất Trung Hoa, lập ra nhà Tần, xưng đế hiệu là Tần Thủy Hoàng Đế, truyền được ba đời. Đấy là nhà Doanh Tần (246-206 trước công nguyên). 

 Đến thời Tam Quốc, Tư Mã Viêm thôn tính Đông Ngô, Bắc Ngụy, Tây Thục; lập ra nhà Tấn. Truyền đến đời Tấn Nguyên Đế (húy là Tư Mã Duệ 317-323), triều đình suy yếu, các tướng lãnh nổi lên cát cứ mỗi phương, lập ra những triều đại song hành với nhà Đông Tấn. Sử gọi là thời Nam Bắc Triều. Phương Nam có bốn triều đại của Hán tộc là Tống, Tề, Lương, Trần. Phía Bắc có nhà Hậu Ngụy (chia làm Đông Ngụy và Tây Ngụy), Bắc Tề, Bắc Lương, Tiền Triệu, Tiền Tần, Hậu Tần, Lưu Tống, Tiền Yên, Hậu Yên... Đông Ngụy bị nhà Bắc Tề diệt, Bắc Tề và Tây Ngụy bị nhà Bắc Chu soán ngôi.

 Nhà Tiền Tần còn gọi là Phù Tần, do Phù Kiên lập ra ở đất Quan Trung. Vì Quan Trung thuộc đất Thiểm Tây (đất Tần cũ), nên xưng quốc hiệu là Tần. Do tham vọng, Phù Kiên xua quân đánh chiếm Đông Tấn, nhưng bị thất trận. Trên đường rút lui, Phù Kiên bị một bộ tướng là Dao Trành hạ sát, soán đoạt vương vị. Dao Trành vẫn xưng quốc hiệu là Tần. Sử gọi là triều đại ấy là nhà Hậu Tần hay Dao Tần.

 Nhà Hậu Tần truyền được ba đời, tổng cộng 34 năm. Ngài La Thập dịch kinh ở kinh đô Trường An (thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay) của nhà Hậu Tần dưới thời Dao Hưng, nên Ngài đề thời đạiDao Tần

 

b. Tam Tạng Pháp Sư:

 b.1. Tam Tạng:

Tam Tạng là danh xưng chung của hết thảy kinh điển Phật giáo.

Hiểu tổng quát, Tam là số lượng (ba thể loại: Kinh, Luật, Luận). Tạng là hàm tàng (chứa đựng), ngụ ý: về mặt hình thức, Tam Tạng hàm chứa rất nhiều văn tự, quyển, bộ; về mặt thực chất, Tam Tạng hàm chứa hết thảy nghĩa lý.

Hiểu chi tiết, toàn bộ kinh điển Phật giáo được chia thành ba tạng:

- Kinh Tạng: ghi chép toàn bộ những lời thuyết pháp của đức Thế Tôn

- Luật Tạng: ghi chép những cấm giới dành cho thất chúng Phật tử do Phật đã chế lập.

- Luận Tạng: là những điều biện luận về giáo lý giữa Phật và chư đại đệ tử, cũng như những trước thuật của lịch đại tổ sư nhằm xiển minh giáo nghĩa. 

Những điều được thuyết minh trong Tam Tạng không ngoài tam học: Giới, Định, Huệ. Kinh Tạng minh thị nhất tâm, hiển thị pháp tánh nên thuộc Định học. Luật tạng thúc liễm tam nghiệp nên thuộc về Giới học. Luận tạng phân biện tà chánh, nên thuộc về Huệ học.

 

b.2. Pháp sư:

Chữ Pháp Sư có thể giải thích theo ba mức độ:

 

* Giải thích theo mặt chữ:

Pháp nghĩa là quy tắc, Sư nghĩa là đạt đến trình độ bậc thầy. Mọi sự phải có quy tắc làm khuôn mẫu thì mới có thể hợp tình, xứng lý. Một vật phải qua tay nhà nghề bậc thầy gọt giũa, đào luyện mới có thể đạt đến mức tận thiện, tận mỹ.

 Học Phật cũng thế. Nếu dùng những quy tắc Phật pháp để chỉ đạo hành vi của mình lẫn người, khiến cho mọi hành vi đều xứng hợp với khuôn mẫu chánh đáng; dùng gươm trí huệ Phật pháp chạm trổ, gọt giũa nhân cách của mình lẫn người thì cả mình lẫn người mới trở thành những con người tận thiện tận mỹ. Bậc có khả năng làm được như vậy gọi là Pháp Sư.

 

 * Căn cứ theo Phật pháp để giải thích:

Pháp là chánh pháp do đức Phật đã giảng. Sư nghĩa là khuôn phép. Người xuất gia tinh thông Tam Tạng, đáng làm khuôn phép cho trời người noi theo thì được gọi là Pháp Sư.

 

* Căn cứ trên hạnh tự lợi, lợi tha:

 Nếu tự mình có thể tuân phụng Tam Tạng giáo pháp của chư Phật thì gọi là Sư. Dùng giáo pháp ấy để tu trì cho chính mình thì gọi là Tự Lợi Pháp Sư. Diễn thuyết những giáo pháp ấy để hóa độ, dìu dắt chúng sanh thì gọi là Lợi Tha Pháp Sư.

 Ngài Cưu Ma La Thập được tôn xưng là Tam Tạng Pháp Sư vì không những Ngài thông suốt tinh tường cả ba tạng mà còn là bậc thật tu Giới Định Huệ, là bậc pháp sư tự mình phụng trì Phật pháp, lại còn có khả năng dùng Phật pháp hóa độ, dìu dắt chúng sanh, đầy đủ hạnh tự lợi, lợi tha, kham làm bậc gương mẫu cho cả trời lẫn người noi theo.

 

 c. Cưu Ma La Thập:

 

Đọc cho đủ âm phải là Cưu Ma La Kỳ Bà (Kumarajiva), Hán dịch là Đồng Thọ, hàm ý: tuổi nhỏ nhưng đã có đức hạnh của một bậc lão thành. Cha Ngài là Cưu Ma La Viêm, dòng dõi đời đời làm tướng quốc ở Trung Thiên Trúc. Ông La Viêm chẳng muốn làm Tể Tướng bèn xin vua cho phép đi thăm các nước, đi đến xứ Quy Tư (hoặc còn đọc là Cưu Ty, nay là huyện Khố Xa, Tân Cương).

 Quốc vương Quy Tư hâm mộ đức hạnh, học vấn của Ngài nên thỉnh ông làm quốc sư, gả em gái cho. Họ sinh được người con tài danhPháp Sư La Thập.

 Năm bảy tuổi, Sư theo mẹ lên chùa lễ Phật, thấy một cái bát sắt đặt trước tượng. Sư cầm giở lên xem, chợt nghĩ: “Mình còn nhỏ làm sao đủ sức giở nổi cái bát to như thế này?”, bèn cảm thấy bát nặng giở lên không nổi. Do vậy, Ngài đại ngộ diệu chỉ “vạn pháp duy tâm”. Chẳng lâu sau, cha mất, Ngài theo mẹ xuất gia. Từ năm lên chín tuổi, Sư đã theo mẹ đi khắp các xứ trong Thiên Trúc học đạo. Thoạt đầu, Ngài học các kinh luận Tiểu Thừa với Ngài Bàn Đầu Đạt Đa (Bandhudatta) xứ Kế Tân. Rồi theo Ngài Tu Lê Da Tô Ma (Suryasoma) học kinh Đại Thừa, theo Ngài Tỳ Ma La học Luật.

 Ngài La Thập thông minh dị thường, mỗi ngày tụng thuộc cả ngàn bài kệ, nên nhanh chóng bác thông Tam Tạng, thâm đạt nghĩa lý Đại Thừa. Ngài tinh thông cả những ngoại điển như Tứ Vi Đà, Ngũ Minh v.v... Pháp Sư biện tài vô ngại lại thêm học thức siêu tuyệt nên từng hàng phục nhiều tay ngoại đạo trứ danh đương thời. Bởi đó, danh tiếng Ngài chấn động khắp toàn xứ Ấn Độ. Khi các quốc vương Tây Vực thỉnh Ngài thuyết pháp, họ thường bày pháp tòa sư tử bằng vàng, thỉnh Ngài đăng tọa, rồi quỳ gối nghe giảng. 

 Khi lâm chung, mẹ Ngài dặn dò: “Duyên hóa độ của con ở tại phương Đông, Phật pháp tại đó sẽ nhờ con mà được hưng thịnh”. Tuân theo di huấn, Ngài trở về phương Đông, trụ tại nước Quy Tư, được quốc vương rất mực ưu đãi, kính trọng.

 Khi ấy, Phù Kiên đã chiếm cứ Thiểm Tây, lập ra nhà Tiền Tần. Người dân trong nước ấy mỗi đêm thường thấy ở phương Tây Nam có hào quang ngất trời, ai nấy đều lấy làm lạ. Quan Thái Sử tâu với vua: “Phương Tây Nam có bậc đại trí huệ thánh giả. Theo phương hướng mà suy, vị ấy ắt đang ở trong nước Quy Tư”. Vua bảo: “Ta nghe tiếng Pháp Sư Cưu Ma La Thập đã lâu. Ngài trí huệ hơn người, học vấn xuất chúng. Ông nên đem binh qua đó thương nghị với vua xứ Quy Tư, được thì tốt. Không được thì diệt luôn nước ấy”.

 Nói xong, vua sai Lữ Quang lãnh mấy vạn binh rầm rộ kéo sang Quy Tư. Nhận thấy Quy Tư binh ít, thế cô, khó lòng bảo tồn đất nước, Ngài La Thập khuyên quốc vương nên để cho Ngài theo Lữ Quang sang Trung Hoa. Trong khi ấy, nhân dịp Phù Kiên chinh phạt Đông Tấn thất bại, Dao Trành làm phản giết chết vua, tự xưng đế. Lữ Quang đi đến Lương Châu, nghe tin đó, bèn chiếm cứ Lương Châu, tự xưng là Tam Hà Vương, đặt quốc hiệu Lương. Trong thời gian bị giữ tại Lương Châu, Pháp Sư La Thập dành trọn thời gian học hỏi văn hóa, triết học Trung Quốc.

 Sau khi Dao Trành chết, Dao Hưng kế vị, bèn cử binh công hãm Lương Châu, tiêu diệt vây cánh của Lữ Quang, đón được Ngài La Thập về Tần, tôn làm Quốc Sư, dành riêng vườn Tiêu Dao làm đạo tràng dịch kinh cho Ngài La Thập. Người tham dự đạo tràng dịch kinh có khi lên đến cả ba ngàn người. Những vị hữu danh là Tăng Triệu, Tăng Duệ, Đạo Sanh, Đạo Dung, thường được xưng tụng là “Thập môn tứ kiệt” (bốn tay kiệt hiệt dưới trướng Ngài La Thập). Những bản kinh Ngài dịch được lưu hành rộng rãi nhất là Pháp Hoa, Duy Ma Cật, Kim Cangkinh A Di Đà này.

Lúc gần viên tịch, Pháp Sư từng phát nguyện: “Nguyện những bản kinh luận tôi dịch được lưu truyền rộng rãi trong thế gian. Nếu những bản dịch ấy không trái với Phật ý, thì sau khi tôi chết, dù thiêu thân lưỡi tôi vẫn không nát”. Ngài viên tịch vào ngày 12 tháng Tám năm Hoằng Thỉ thứ mười lăm (sách Nhị Khóa Hiệp Giải ghi là năm Hoằng Thỉ thứ 18), thọ 74 tuổi. Khi đại chúng cử hành lễ trà tỳ nhục thân Ngài ở vườn Tiêu Dao, toàn thân cháy tan, riêng cái lưỡi còn nguyên vẹn, màu sắc tươi nhuận như khi sống. Tương truyền, Ngài là bậc dịch kinh của cả bảy đức Phật.

 

3. Dịch:

 

Dịch là phiên dịch, tức là chuyển dịch ý nghĩa từ tiếng Phạn sang Hoa văn. Ở Trung Hoa vào thời cổ, vua đặt các chức quan ở bốn phương đặc trách việc chuyển dịch ngôn ngữ của các lân quốc sang tiếng Hán. Chức quan này ở phương Nam gọi là Tượng, ở phương Bắc gọi là Dịch, ở phương Tây gọi là Địch Đề, ở phương Đông gọi là Ký.

Kinh Phật từ phương Tây Trung Hoa truyền vào, lẽ ra phải dùng chữ Địch Đề, nhưng sao lại dùng chữ Dịch? Ấy là do hai vị Ca Diếp Ma ĐằngTrúc Pháp Lan là những bậc dịch kinh tiên khởi của Trung Hoa đã theo đường phương Bắc vào Tàu. Các bản dịch của hai Ngài được quan đặc trách ngôn ngữ phương Bắc phê duyệt nên dùng chữ Dịch. Từ đó, các thế hệ sau đều tuân theo cách gọi này.

Bản kinh A Di Đà này được Ngài La Thập dịch vào ngày mồng Tám tháng Hai năm Hoằng Thỉ thứ tư (402) tại chùa Thảo Đường.

 

X. CHÁNH THÍCH KINH VĂN (phần giải thích kinh văn)

 

Người đầu tiên đề xướng khái niệm phân chia kinh văn thành ba phần: Tự, Chánh Tông, Lưu Thông là Ngài Thích Đạo An (313-385). Đương thời, Ngài bị các bậc học giả đả kích quyết liệt. Họ công kích Ngài là tự thị thông minh, thiện tiện phân chia kinh văn khiến thánh giáo bị rối loạn.

Mãi đến đời Đường, khi bản Phật Tâm Địa Luận của Thân Quang Bồ Tát được truyền vào Tàu, trong luận ghi rõ: “Phàm là kinh Phật, chẳng luận Đại Thừa, Tiểu Thừa, đều có đủ ba phần”, các học giả đương thời mới mô phỏng theo cách Ngài Đạo An đề xướng để giải thích kinh điển.

Tự phần trình bày duyên do phát khởi bản kinh, Chánh Tông là phần xiển minh yếu chỉ của kinh, Lưu Thông là phần tường thuật danh đề, sự lưu truyền của kinh.

Từ “như thị ngã văn” cho đến “kim hiện tại thuyết pháp” là Tự Phần.

Từ “Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?” cho đến “nguyện sanh bỉ quốc” là phần Chánh Tông.

Từ “Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả tán thán A Di Đà Phật” cho đến “tác lễ nhi khứ” là phần Lưu Thông.

 

A. TỰ PHẦN

Gồm hai phần: Thông tự (chứng tín tự) và Biệt Tự.

 

1. THÔNG TỰ:

1.1. Lục chủng thành tựu:

 

Gọi là Thông vì kinh nào cũng gồm đủ sáu điều. Sáu điều như thế nhằm xác chứng bản kinh này đích xác từ kim khẩu của Đức Phật thuyết ra, nên còn gọi là Lục Chủng Thành Tựu (sáu điều thành tựu): Tín Thành Tựu, Văn Thành Tựu, Thời Thành Tựu, Chủ Thành Tựu, Xứ Thành Tựu và Chúng Thành Tựu.

Biển cả Phật pháp do tín tâm mà được vào; nên nếu khôngtín tâm thì làm sao pháp hội thành tựu được? Vì vậy, Lục Chủng Thành Tựu lấy Tín làm đầu.

Trong các căn, nhĩ căn của chúng sanh tại cõi Sa Bà này lanh lợi nhất, nên để hóa độ chúng sanh, Đức Phật phải thuyết pháp. Nếu không có kẻ nghe, pháp hội cũng chẳng thể thành tựu được, nên phải có Văn Thành Tựu.

Đã thuyết pháp thì phải có thời gian thuận tiện, gặp lúc thời tiết khắc nghiệt hay khi đang ly loạn, pháp hội cũng chẳng thể thành tựu. Vì thế phải có Thời Thành Tựu.

Nếu không có người đứng đầu thuyết pháp thì dù có đủ cả năm nhân duyên kia, pháp hội vẫn không thể thành tựu được. Vì thế, phải có Chủ Thành Tựu.

Nếu không có nơi chốn để thuyết pháp thì pháp hội cũng chẳng thể thành tựu. Vì thế phải có Xứ Thành Tựu.

Giảng kinh, thuyết pháp để cho đại chúng nghe. Nếu khôngđại chúng nghe pháp thì giảng pháp cho ai. Vì thế phải có Chúng Thành Tựu.

 

1.2. Tiền ngũ chủng thành tựu (năm thứ thành tựu đầu)

 

Chánh kinh:

 

Như thị ngã văn: Nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên.

 

 Giải:

Câu kinh này không phải là lời Đức Phật nói mà là do người kết tập kinh thêm vào. 

“Như thị” là Tín Thành Tựu, “ngã văn” là Văn Thành Tựu.

 

1.2.1 Như thị:

Chữ “như thị” ngụ ý việc gì đúng đắn, đáng tin tưởng được. Việc gì đáng tin thì gọi là Như Thị, chẳng đáng tin gọi là Bất Như Thị.

Chẳng khác là Như, chẳng sai là Thị. Nghĩa là sau khi Đức Phật diệt độ, khi kết tập kinh điển, Phật dạy sao, Ngài A Nan cứ trùng tuyên đúng như thế, chẳng sai khác mảy may. Đó là Như. Lời Phật dạy sao, Ngài lập lại không thiếu sót mảy may nên gọi là Thị.

Hơn nữa, khi kết tập Kinh Tạng, đại chúng cung thỉnh: “Tôn giả nghe như thế nào xin hãy nói đúng như thế ấy”; Ngài A Nan đáp: “Tôi sẽ nói đúng như thế, đúng như tôi đã được nghe”. Vì thế đầu kinh dùng chữ Như Thị để tiêu biểu ý tín thuận.

Chữ Như Thị còn có thể hiểu theo hai nghĩa Thông và Biệt như sau:

a. Về Thông nghĩa, chữ Như Thị chỉ về Thật Tướng. Xét về Lý, Thật Tướng xưa nay chẳng biến đổi là Như. Xét về Thể, Thật Tướng lìa hết thảy hư vọng, hý luận. Đó là Thị. 

b. Nếu ước theo Biệt nghĩa, mỗi kinh lại hàm nghĩa Như Thị khác nhau. Trong kinh này Nhất Tâm Bất Loạn là Như, Quyết Định Vãng Sanh là Thị.

Hơn nữa, tâm chẳng khác Phật, Phật chẳng khác tâm nên gọi là Như. Tâm này chính là Phật, Phật ấy chính là tâm này nên gọi là Thị. Tâm và Phật tuy có tên gọi sai khác nhưng đồng nhất thể, duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà nên gọi là Như Thị.

Nếu ước theo chúng sanh niệm Phật thì đạt được nhất tâm bất loạn là Như, lâm chung quyết định vãng sanh Cực Lạc là Thị.

Nếu ước theo cảnh giới Cực Lạc thì cõi Cực Lạc chẳng có bốn tướng biến đổi “thành, trụ, hoại, không” nên là Như; cảnh giới Cực Lạc thù thắng trang nghiêm, chân thật chẳng hư huyễn nên gọi là Thị.

Hơn nữa, xét theo chánh báo, chúng sanh cõi Cực Lạc liên hoa hóa thân, thọ mạng vô lượng, chẳng giống với huyễn thân của chúng sanh cõi Sa Bàsanh tử; cho nên gọi là Như. Hoa nở gặp Phật, chứng ngộ tự tánh nên gọi là Thị.

Nếu ước theo đức Di Đà Như Lai mà nói thì bốn mươi tám nguyện độ khắp chúng sanh, trải bao nhiêu kiếp tu hành đúng như thệ nguyện, trước sau trọn chẳng đổi dời nên gọi là Như. Nay đã thành tựu, thỏa mãn sở nguyện, tạo thành cõi Cực Lạc để độ khắp chúng sanh niệm Phật, từ khi thành Phật đến nay đã là mười kiếp, thật chẳng phải là chuyện hư vọng nên gọi là Thị.

Hơn nữa, y báo, chánh báo cõi Cực Lạc đều là chơn thường bất biến nên gọi là Như, những sự thù thắng trang nghiêm trong cõi Cực Lạc, không điều gì chẳng phải do công đức nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà tạo thành và do tâm niệm của chúng sanh niệm Phật trong mười phương chiêu cảm nên gọi là Thị.

Hơn nữa, pháp môn Niệm Phật thù thắng bậc nhất, không có pháp nào hơn được nổi nên gọi là Như. Tuân lời Phật dạy, niệm Phật cầu sanh, quyết định không sai nên gọi là Thị.

 

 1.2.2. “Ngã văn”

 

“Ngã văn” là Văn Thành Tựu, ngụ ý: pháp như thế ấy, đích thân A Nan tôi được nghe đức Phật nói.

Phàm những lời Đức Phật đã giảng, Ngài A Nan đều lãnh hội, chẳng quên một câu nào, nên Đức Phật từng tán thán: “Phật pháp như biển cả dốc trọn vào trong tâm của A Nan”.

 Chữ Ngã ở đây là Ngài A Nan tự xưng, thuận theo thế tục mà nói. Nếu có kẻ bắt bẻ: “Phật pháp coi Ngã Chấp là căn bịnh chấp trước lớn và là căn bản của mọi sự ác. Ngài A Nan đã chứng Tứ Quả sao còn chấp ngã tướng như vậy?” Xin trả lời: Ngã có nhiều thứ bất đồng:

 - Vọng ngã: Phàm phu trong tam giới, đối với sắc thân tứ đại chẳng phải là Ngã mà vọng chấp là Ngã.

 - Thần ngã: ngoại đạo tà kiến vọng chấp năm ấmThần Ngã.

 - Giả ngã: Nhị Thừa hiểu rõ Ngũ Ấm chẳng phải là Ngã, nhưng giả nói có Ngã.

 - Chân ngã: chư Phật, Bồ Tát thân chứng Pháp Thân, gọi là Chân Ngã.

- Tự tại ngã: Từ quả khởi dụng, hoằng pháp lợi sanh, gọi là Tự Tại Ngã.

 Ngài A Nan đã chứng Tứ Quả, đã đoạn sạch phiền não trong tam giới, đã trừ khử được ngã chấp lầm lạc của phàm phu, không còn dính mắc nơi tà kiến chấp ngã của ngoại đạo, nên chỉ giả xưng Ngã giống như các hàng Bồ Tát. Kinh Pháp Hoa chép: “Ta cùng A Nan ở chỗ Phật Không Vương đồng thời phát Bồ Đề tâm”, cho thấy Ngài A Nan chỉ quyền hiện làm bậc Tiểu Thừa, chứ công hạnh của Ngài thật cao thâm khôn lường. Trong kinh này, Ngài thuận theo thế tục giả xưng là Ngã. Đấy là phương tiện quyền biến độ sanh của bậc Pháp Thân đại sĩ đó thôi.

 Hơn nữa, Ngài A Nan xưng Ngã, chẳng nói là Vô Ngã là vì các nguyên nhân sau:

 - Vì dễ nói: Nếu nói là Vô Ngã thì trong ba thứ Uẩn, Xứ, Giới, thứ nào là đối tượng lãnh thọ kinh này?

 - Thuận theo thế gian mà nói Ngã.

 - Tránh cho đại chúng sơ cơ khỏi hoảng hốt khi nghe nói Vô Ngã. Đại chúng nghe nói Vô Ngã sẽ chấp: Ai sẽ là người tu học?

 Nếu vậy, tại sao không nói rõ là “A Nan tôi nghe” mà lại chỉ chép là “ngã văn?”

 Vì các lý do sau đây:

 - Chẳng trái với thế tục: Tuy kinh đề cao Chân Đế, nhưng trong Tự Phần chẳng dùng văn tự trái nghịch với Tục Đế. Về lý tuy phô bày diệu nghĩa, nhưng lời lẽ chẳng tách rời lời lẽ thông tục. Nói chung là: Tuy hiển thị Chân Đế nhưng chẳng rời Tục Đế vậy. 

 - Chữ Ngã có nghĩa là “tự tại”. Tập Tạng Truyện ghi: “Có ba A Nan: Một là A Nan Đà (Khánh Hỷ) trì Thanh Văn Tạng; hai là A Nan Bạt Đà (Hỷ Hiền) trì Độc Giác Tạng; ba là A Nan Già La (Hỷ Hải) trì Bồ Tát Tạng”. Thật ra chỉ có một vị A Nan, tùy theo đức mà lập ra ba tên như thế. Ngài A Nan đa văn, tích tập tam huệ (Văn, Tư, Tu), văn nghĩa đều trọn đủ, lại tổng trì Tam Tạng một cách tự tại. Nếu xưng danh thì đối với các pháp sẽ chẳng được tự tại (vì còn hạn cuộc vào một pháp nhất định). Vì thế, Ngài phải xưng là Ngã để trọn đủ nghĩa “tự tại”.

 - Chữ “Ngã” ngụ ý là đích thân. Thế gian hay nói “đích thân tôi nghe thấy” sự như thế đó. Nếu viết là “A Nan nghe” ắt sẽ có kẻ nghi là Ngài A Nan chỉ nghe nói lại, chứ không phải đích thân Ngài được nghe từ nơi Thế Tôn.

 Nhĩ căn nhận lãnh âm thanh gọi là Văn (nghe). Tai nghe nhưng lại bảo là “ngã văn” vì Ngã là chủ thể, Nghe là công dụng của nhĩ căn, mà thân lại chính là tổng thể của sáu căn. Vì thế, dựa theo tổng thể mà nói nên chép là “ngã văn”.

 Hơn nữa, chữ Văn nhấn mạnh tầm quan trọng của Văn Huệ: Muốn chứng đạt thâm lý, trước hết phải nghe pháp. Cõi Sa Bà này dùng âm thanh làm Phật sự nên phải dùng Văn Huệ để huân tập. Do Văn Huệ huân tập nên Tư Huệ, Tu Huệ mới phát khởi được công dụng để thành tựu đạo xuất thế.

 Hiểu ở mức độ sâu hơn, Ngã ở đây là Chân Ngã nơi tự tánh. Dùng cái chân ngã nơi tự tánh để lắng nghe diệu pháp Tịnh Độ chẳng thể nghĩ bàn. Phải biết rằng: nhĩ căncông dụng thô phù, chỉ lãnh nạp được những thanh trần thô phù, đó chưa phải là “nghe” một cách chân thật. Ở đây, ta dùng tánh nghe chân thật nơi chân tâm để lắng nghe nên gọi là “ngã văn”. 

 

1.2.3. Tín văn duyên do (nguyên do phải có Tín Thành TựuVăn Thành Tựu)

 Tín Thành TựuVăn Thành Tựu nhằm phát khởi tín tâm nơi thính giả. Tín tâmphát khởi mới có thể y giáo tu hành, đạt được lợi ích chân thật.

 Nói tổng quát, đầu các kinh phải đề bốn chữ “như thị ngã văn” vì:

 

a. Tuân thủ lời di chúc của Phật:

 

Hết thảy kinh điển đều do đích thân Đức Phật thuyết ra; nhưng lúc Phật còn tại thế kinh điển chưa được ghi chép lại. Khi Phật sắp nhập Niết Bàn, Ngài A Nan bi cảm, khóc lóc thảm thiết. Trưởng lão A Na Luật khuyên A Nan nên nén lòng, hỏi Phật bốn điều: “Lúc Phật còn tại thế, chúng con nương vào Phật mà trụ. Khi Phật đã nhập diệt rồi, nên nương vào đâu? Lúc Phật còn tại thế, lấy Phật làm thầy, Phật nhập diệt rồi, lấy gì làm thầy? Phật còn tại thế, Ngài tự điều phục ác tánh tỳ kheo; nay Phật mất đi, làm sao điều phục? Hết thảy kinh giáo Đức Phật đã thuyết, đến khi kết tập nên để thế nào, để cho hậu thế dốc lòng tin tưởng?”

Phật dạy: “Nên lấy giới làm thầy, y theo Tứ Niệm Xứ mà trụ. Bọn tỳ kheo khác nên dùng biện pháp mặc tẫn để trị phạt (“mặc tẫn” là im lặng, không chuyện trò, giao thiệp với họ để cô lập họ). Đầu hết thảy các kinh nên để “như thị ngã văn nhất thời Phật tại mỗ xứ dữ đệ tử nhược can câu” (tôi nghe đúng như thế này: Một thời Đức Phật ngự tại chỗ mỗ), cùng với bao nhiêu đệ tử nhóm họp).

 

b. Đoạn nghi hoặc:

 

Lúc kết tập kinh điển, A Nan lên pháp tòa, đột nhiên tướng hảo trang nghiêm giống hệt như Phật, khiến cho thính chúng phát khởi ba thứ nghi vấn: Một là nghi Phật sống lại, hai là nghi Phật từ phương khác đến, ba là nghi A Nan đã thành Phật. Khi Ngài A Nan xướng to “như thị ngã văn”, ba mối nghi ấy đều trừ sạch.

 

c. Dứt tranh cãi:

 

Khi kết tập, Ngài A Nan thị hiện mới chứng Sơ Quả, đức hạnh còn thua các trưởng lão A La Hán khác, huống hồ là các bậc địa thượng Bồ Tát (địa thượng Bồ Tát là các vị Bồ Tát đã chứng từ Sơ Địa trở lên)? Nếu chẳng nói “như thị ngã văn’, ắt sẽ có vị bắt bẻ, cho rằng những kinh pháp đó do A Nan tự ý nói ra. Nay nói những pháp ấy đều do đích thân Ngài nghe từ Đức Phật thì đại chúng đều công nhận A Nan là bậc đa văn đệ nhất, nghe qua tai chẳng hề quên mất, nên sẽ không tranh biện nữa.

 

d. Khác với kinh điển ngoại đạo:

 

Kinh ngoại đạo thường bắt đầu bằng hai chữ “A Ưu”. A là không, Ưu là có. Họ dùng hai chữ ấy với ngụ ý có và không đều đủ cả chẳng khuyết. Nay dùng sáu thứ thành tựu để giúp người học Phật phân biệt giữa kinh Phật và kinh ngoại đạo.

 

1.2.4. Nhất thời

 

“Nhất thời” là Thời Thành Tựu (thời tiết nhân duyên chưa đến thì chưa ban đại pháp, đúng thời mới thuyết pháp nên gọi là Thời Thành Tựu).

Thời không có thực thể nhất định, chỉ là từ sự mà đặt tên, chẳng hạn như thời thuyết pháp, thời làm việc v.v... Đức Phật thuyết pháp trên cõi trời, hoặc ở long cung, hoặc nơi chốn quỷ. Do xứ sở sai khác nên thời gian cũng chẳng đồng nhất. Chẳng hạn năm mươi năm trên cõi người chỉ bằng đúng một ngày nơi cõi Tứ Thiên Vương, ở Nam Thiệm Bộ Châu vừa đúng ngọ, Bắc Câu Lô Châu đã sang canh ba; lịch pháp của Đông phương khác với lịch Tây Phương. Bởi thế chẳng thể xác quyết là năm tháng nào, ngày giờ nào.

Hiểu theo Duy Thức, chữ Thời có hai nghĩa:

 - Một là “đạo lý thời”: Trong từng sát na, ngũ uẩn của người nói lẫn kẻ nghe sanh diệt liên tục, thành ra dường như có trước, có sau, nên mới giả lậptam thế. Cứ mỗi một khoảng sanh diệt ấy gọi là Nhất Thời vậy.

 - Hai là “duy thức thời”: nơi tâm thức của người nói, kẻ nghe sanh khởi tướng trạng ba thời. Do tâm tưởng phân biệt của chúng sanh mà thấy có thời gian dài ngắn, khi sự việc kết thúc thì gọi là “nhất thời”. Khác nào như nằm mộng tưởng là đã trải qua nhiều đời, tỉnh giấc mới biết toàn là những sự biến hiện trong tâm chứ chẳng có cảnh thật. Tâm của người nghe sanh khởi ý niệm tam thế cũng như vậy.

 Như vậy, cứ mỗi khi người nghe căn cơ thuần thục sẽ cảm được Đức Phật thuyết pháp. Đức Phật từ bi ứng cơ, nói và vừa xong thì gọi là Nhất Thời.

 

 1.2.5. Phật:

 Phật là Chủ Thành Tựu (nếu thuyết pháp không có người làm chủ thì biết nhờ vào ai để khai hiển giáo pháp). Phật ở đây là đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Đức Phật đầy đủ ba thứ giác như phần trên đã giảng. Ngài là bậc đại giác thánh nhân, công đức viên mãn tột bậc.

 

 1.2.6. “Tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên”:

 

Đây là Xứ Thành Tựu.

a. “Tại” có nghĩa là trụ. Pháp thân chư Phật vô trụ, vô bất trụ. Pháp thân vốn vô hình vô tướng nên bảo là “vô trụ”. Tâm lượng bao trùm trọn khắp pháp giới nên bảo là “vô bất trụ”. Báo thân chẳng trụ, hễ gặp đại căn cơ cảm phát thì trụ, như trong hội Hoa Nghiêm Phật hiện thân Tỳ Lô Giá Na (Hán dịch là Quang Minh Biến Mãn) để thuyết giáo pháp viên đốn. Ứng thân cũng chẳng trụ, toàn là do căn cơ của chúng sanh cảm ứng mà được thấy, tùy từng loại chúng sanh mà thấy thân Phật khác nhau.

Ứng thân ứng hiện theo căn cơ để thuyết pháp thì giả gọi là Trụ. Chẳng hạn như đức Bổn Sư trụ thế tám mươi năm, khi căn cơ hóa độ đã hết, ứng thân liền diệt. Nay trong kinh này, Phật trụ tại nước Xá Vệ, ngự trong vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc.

b. Xá Vệ là tên một thành phố, gọi cho đúng là Thất Lợi La Phiệt Tất Để, chính là đô thành của nước Kiều Tát La (Hán dịch là Công Xảo). Kiều Tát La là một trong mười sáu nước lớn ở Trung Ấn Độ thời ấy. Ở đây nói “Xá Vệ Quốc” là gọi tên nước theo kinh đô vậy. 

Xá Vệ, Hán dịch là Văn Vật hoặc Phong Đức, ngụ ý sản vật tươi tốt, dồi dào nổi danh khắp các nước. Nước có nhiều của cải sản vật là Phong, dân trong nước có nhiều người giải thoát đa văn là Đức. Theo kinh Kim Cang Bát Nhã, thuở xưa có hai anh em tu tiên đắc quả tại đó nên thành ấy được mang tên là Xá Đề Bà (cách phiên âm khác của chữ Xá Vệ). Cách thành ấy sáu dặm có một hoa viên lớn, thuộc quyền sở hữu của thái tử Kỳ Đà.

c. Chữ Kỳ trong “Kỳ thọ” chỉ thái tử Kỳ Đà (còn phiên âm là Thệ Đa - Jeta, nên vườn Kỳ Đà còn gọi là Thệ Đa Lâm. Thái tử là con vua Ba Tư Nặc (Hán dịch là Hòa Duyệt hay Thắng Quân). Kỳ Đà nghĩa là Chiến Thắng vì khi vua Ba Tư Nặc giao tranh cùng lân quốc, chiến thắng hồi triều nhằm đúng lúc Thái Tử sanh ra nên đặt tên con như thế. Thọ là cây cối.

Cấp Cô Độc là tên một vị Trưởng Giả, là một đại thần của vua Ba Tư Nặc, tên thậtTu Đạt Đa (còn gọi tắt là Tu Đạt, Hán dịch là Thiện Thí). Cấp có nghĩa là chu cấp, chẩn tế. Trẻ nhỏ không cha gọi là Cô, người già không con gọi là Độc. Già không vợ gọi là Quan, già không chồng gọi là Quả. Đó là bốn hạng người khốn khổ trong xã hội. Ở đây chỉ dùng hai chữ “Cô Độc” để bao gồm cả hai loại kia, cũng như tất cả những người bần cùng, khốn khổ khác. Ông Tu Đạt Đa thường đem của cải chu cấp, cứu giúp những người nghèo cùng khốn khổ, cô đơn, nên được mỹ hiệu là Cấp Cô Độc.

Khi Đức Phật còn ngự tại nước Ma Kiệt Đà, chưa đến Xá Vệ, ông Tu Đạt Đa vì cưới vợ cho con phải qua thành Vương Xá, ở tại nhà trưởng giả San Đàn Na, thấy ông San Đàn Na nửa đêm thức dậy, đốc thúc gia nhân sửa soạn tiệc chay. Ông Tu Đạt Đa hỏi bạn: “Ngài muốn thỉnh quốc vương đến nhà hay là làm tiệc chúc thọ vậy?” Ông kia đáp: “Đâu phải! Tôi muốn thỉnh Phật Đà đến cúng dường”. Tu Đạt Đa nghe đến hai chữ Phật Đà, lông trên thân dựng cả lên, trong lòng khoan khoái, hỏi: “Phật Đà là ai?” San Đà Na liền thuật tỉ mỉ các công đức của Phật.

Tu Đạt Đa nghe xong, thiện căn đời trước lập tức phát khởi, hoan hỷ, náo nức, sanh lòng kính mộ sâu xa, liền hỏi Phật đang ở đâu? Khi biết đức Thế Tôn đang ở Trúc Lâm Tinh Xá, ông mong được đến gặp Phật ngay. Phật biết tâm ông khát ngưỡng thiết tha nên từ bi phóng đại quang minh khiến đêm đen sáng trưng như ban ngày. Theo ánh sáng, ông tìm đến Trúc Lâm cách nhà trưởng giả San Đàn Na hơn năm mươi dặm.

Trong khi đi đường, ông thấy miếu thờ trời bèn tạt vào làm lễ. Ánh quang minh liền tắt phụt. Tu Đạt Đa sanh lòng hổ thẹn, ánh Phật quang lại rạng ngời như cũ, Đến nơi, ông thấy Phật đang đi kinh hành trong sân. Thấy tướng hảo trang nghiêm của Phật, ông càng thêm kính ngưỡng, nhưng chưa biết lễ kính thế nào. Khi ấy, Thủ Đà Thiên trên hư không liền hóa ra bốn người đến trước Thế Tôn đầu mặt lạy chân Phật, nhiễu theo chiều phải ba vòng, hồ quỳ, chắp tay thưa hỏi. Tu Đạt Đa theo đúng cách thức đó lễ Phật.

Phật giảng pháp Tứ Đế, ông xiết bao hoan hỷ, cảm ngộ, chứng đắc quả Tu Đà Hoàn, bèn thỉnh Phật quang lâm Xá Vệ. Phật bảo phải có tinh xá để chứa đựng chúng Tăng, ông bèn thỉnh Phật chỉ dạy cách thức kiến thiết tinh xá. Phật sai Ngài Xá Lợi Phất theo ông qua Xá Vệ để hướng dẫn việc lập tinh xá.

Xem khắp trong nước, Ngài Xá Lợi Phất thấy chỉ mỗi hoa viên của thái tử Kỳ Đà là nơi thích hợp hơn cả. Tu Đạt Đa bèn đến xin mua lại hoa viên của Thái Tử, Thái Tử nghe vậy bèn nói giỡn: “Nếu khanh đem vàng lót kín đất, ta sẽ nhượng cho khanh”. Trưởng giả tức thời chở vàng đến lót kín vườn. Cảm động trước tấm chân thành ấy, Thái Tử Kỳ Đà xin dâng cúng cây trong vườn để góp công đức. Theo kinh Hiền Ngu, Đức Phật bảo A Nan: “Khu rừng vườn này do ông Tu Đạt mua, cây cối hoa cỏ trong rừng thuộc sở hữu của thái tử Kỳ Đà. Hai người đồng tâm cùng lập tinh xá nên đặt tên nơi này là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên”.

 Khu tinh xá này ở phía Nam thành Xá Vệ, gồm mười hai ngôi chùa, bảy mươi hai giảng đường, ba ngàn sáu trăm phòng ốc, năm trăm lầu gác, được kiến lập đúng vào lúc Đức Phật đã thành đạo được sáu năm.

 

 1.2.7. Tiền ngũ chủng thành tựu đích hiển lý (thuyết minh về mặt lý năm điều thành tựu trên)

 

“Như thị” biểu thị tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ: không khiếm khuyết là Như, ai cũng sẵn có là Thị; đấy là nghĩa “tự tánh Di Đà”. Chẳng lìa ngay đương xứ là Như, toàn thể không gì là chẳng sai sót là Thị, đấy là nghĩa “duy tâm Tịnh Độ”. 

 “Ngã văn” là tự tánh thấu suốt cùng tột mười phương. “Nhất thời” là sáu căn quy nguyên, Thể và Dụng dung hợp lẫn nhau. Phật ngự tại Kỳ Viên biểu thị tự tánh chẳng lìa đương xứ. Giảng pháp này tại nước Xá Vệ là nước thù thắng, biểu thị pháp môn Tịnh Độ rộng lớn sâu xa, là pháp tối thượng. Trong vườn ấy, cây thuộc về Thái Tử Kỳ Đà nên cây cối nơi ấy cũng thù thắng, biểu thị pháp môn Tịnh Độ lợi lạc quần sanh, khiến họ vĩnh viễn lìa khỏi nhiệt não. Vườn ông Cấp Cô Độc là ngôi vườn thù thắng trong các tịnh xá thời đó, biểu thị Tịnh Độ thù thắng trang nghiêm, chúng sanh nhờ đó luôn hưởng thọ các sự an lạc.

Hơn nữa, thái tử Kỳ Đà thuộc giòng dõi thù thắng, biểu thị người được vãng sanh Tịnh Độ rốt ráo thành Phật, tiếp nối giòng dõi Phật. Trưởng giả Tu Đạt là hạng người thù thắng, biểu thị người sanh trong Tịnh Độ đều là bậc thượng thiện nhân.

 

 1.3. Chúng thành tựu

 1.3.1. Thanh Văn chúng (chúng Thanh Văn)

 1.3.1.1. Minh hiển tiêu số (nêu rõ đức hạnh và số lượng của chúng Thanh Văn)

 

 Chánh kinh:

 

Dữ đại tỳ kheo tăng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu.

 (Cùng với chúng đại tỳ kheo tăng một ngàn hai trăm năm mươi vị cùng họp lại).

 

 Giải:

 Từ câu “Đại tỳ kheo tăng” cho đến “chư thiên đại chúng” là thuộc về Chúng Thành Tựu. Phải nêu rõ đại chúng nghe pháp gồm những ai là vì:

 - Để chứng tín: không phải riêng mình Ngài A Nan được nghe pháp này mà còn có những vị như thế hiện diện, chứng thực tính chân xác của kinh.

 - Để minh định rõ đại chúng nghe pháp, ai là Quyền, ai là Thật. Phật Địa Luận chép: “Hóa thân Phật thuyết pháp trong uế độ thì Thanh Văn là thật, Bồ Tát là quyền. Báo thân Phật thuyết pháp trong Tịnh Độ thì Bồ Tát là thật, Thanh Văn là quyền”. Cõi Sa Bà này là uế độ, đương nhiên chúng Bồ Tát là quyền.

 Thính chúng nghe pháp gồm có năm loại: một là chúng đạo hạnh cao quý, hai là chúng bi tâm rộng lớn, ba là các chư thiên ưa thích Phật pháp, bốn là nhân loại trong Dục giới, năm là chúng phi thiên, a tu la v.v...

 Ở đây chúng Thanh Văn là những bậc đức hạnh cao quý nên được nêu trước hết.

 Hỏi: Vì sao trong các kinh khác đều kể rõ có thiên long bát bộ nghe pháp, kinh này chỉ nói đến ngũ chúng?

 Đáp: Pháp môn Tịnh Độ đây, nếu chẳng phải là bậc thượng đức, thượng hiền thì chẳng thể nào tin nhận nổi. Vì thế chỉ nêu năm chúng, chẳng nêu các chúng khác.

 Năm chúng đây lại có thể chia thành hai loại: nội hộ chúng và ngoại hộ chúng. Nội hộ chúng là Thanh Văn, Bồ Tát; ngoại hộ chúng là chư thiên, nhân loại, phi thiên...

 Theo Phật Địa Luận, chúng Thanh Văn được nêu trước chúng Bồ Tát vì những nguyên nhân sau đây:

 - Hình tướng bất đồng: Thanh Văn là bậc xuất gia, hình tướng giống như Phật, trì xuất gia giới. Bồ Tát không giống như vậy.

- Xét về nơi chốn có gần hay xa: Thanh Văn gần Phật, Bồ Táthóa độ chúng sanh nên không thể thường xuyên gần gũi Phật được.

 - Giới đức sai khác: Thanh Văn xuất gia trì giới xuất gia, Bồ Tát chẳng giống vậy vì phải tùy thuận để hóa độ chúng sanh.

- Muốn cho hàng Bồ Tát chẳng sanh tâm kiêu mạn đối với chúng Thanh Văn.

 

“Một ngàn hai trăm năm mươi người” là nói về số lượng của các vị đại đức xuất gia. “Dữ” nghĩa là cùng với.

Dùng chữ “Đại” để phân biệt với tiểu, hàm ý những vị hiện diện trong pháp hội này chẳng phải là hạng tiểu căn cơ, sơ tâm tỳ kheo. Trong tiếng Phạn, Đại là Ma Ha. Chữ Ma Ha gồm có đến ba nghĩa: lớn, nhiều, thù thắng. Nay chỉ dùng chữ Đại để đại diện cho cả ba đức.

 - Các tỳ kheo được trời người kính ngưỡng, đức cao trọng vọng nên gọi là Đại, hàm nghĩa chẳng phải là Tiểu đức. Chẳng hạn như Ngài Mục Liên là thầy của Đế Thích, Ngài Ca Diếp là thầy của Phạm Vương.

 - Trí huệ sâu thẳm, thông đạt thấu suốt nội điển, ngoại tịch, nên bảo là Đa, tức chẳng phải là kẻ học thức kém cỏi.

 - Hơn hẳn chín mươi sáu thứ ngoại đạo nên bảo là Thắng, chẳng phải là căn cơ hèn kém vậy.

 

Bồ Tát Long Thọ lại bảo chữ Đại được dùng ở đây để ngầm nêu năm nghĩa:

 - Số đại: vì có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ kheo dự pháp hội.

 - Ly đại: vì đã đoạn được đại chướng (phiền não).

 - Vị đại: vì họ đều là bậc đại A La Hán.

- Danh đại: tên tuổi lẫy lừng khắp nơi.

- Thức đại: được bậc đại nhânđại chúng cùng biết đến.

 

Các vị tỳ kheo dự hội đây đều là hạng mật hạnh Bồ Tát, thị hiện hình tướng Thanh Văn để hóa độ chúng sanh. Các Ngài là bậc thường du hóa cõi Phật, trang nghiêm tịnh độ, trên thì vận dụng trí để cầu thượng quả, dưới thì vận lòng bi để tiếp độ chúng sanh.

 

Chữ “tỳ kheo” (còn phiên âm là Bật Sô hay Bí Xu) có năm nghĩa:

 

a.Khất sĩ:

Khất là cầu xin. Đức Phật chế định tỳ kheo phải hành hạnh khất thực (tiếng Phạn là Phần Vệ), vì có năm điều lợi ích: trừ tâm kiêu mạn; giúp thế nhân gieo trồng phước điền; chẳng bị việc kinh doanh làm phiền lụy; chẳng sanh khởi ý niệm cất chứa, tham cầu; rảnh rang để nhất tâm chuyên tu.

 “Khất” còn có nội nghĩa và ngoại nghĩa. Nội nghĩa là khất pháp nơi Đức Phật để nuôi dưỡng huệ mạng, ngoại nghĩa là khất cầu nơi đàn việt (thí chủ) để duy trì sắc thân

 

b. Phá ác:

Phá là trừ diệt, Ác là kiến hoặc, tư hoặc phiền não. Như vậy, “phá ác” là diệt ác pháp phiền não, diệt ác nhân sanh tử trong tam giới.

 

c. Bố ma:

Hễ có người phát tâm xuất gia, Ma vương nghe biết rất sợ hãi, chỉ sợ người ấy thành đạo xuất thế khiến ma chúng bị giảm bớt. Vì thế, gọi là Bố Ma (làm cho ma sợ hãi).

 

d. Trì tịnh giới.

 

e. Tịnh mạng:

Đã thọ giới nên những hành vi, ngôn ngữ, ý niệm chẳng còn phát khởi từ tham tâm nữa cũng như chẳng dùng những phương cách dâm tà để nuôi sống thân mình. 

 

“Tăng” gọi đủ là Tăng Già, dịch là Hòa Hợp Chúng. Hòa Hợphai nghĩa Lý Hòa và Sự Hòa:

- Đồng chứng vô vi giải thoát là Lý Hòa.

- Sự Hòa gồm sáu điều: Thân hòa đồng trụ (thân hòa hợp cùng trụ một chỗ), khẩu hòa vô tranh (miệng hòa hợp không tranh cãi), ý hòa đồng duyệt (ý hòa hợp vui vẻ cùng nhau), kiến hòa đồng giải (cùng hòa hợp chia sẻ kiến giải với nhau), giới hòa đồng tu (cùng hòa hợp giữ giới với nhau), lợi hòa đồng quân (hòa hợp chia xẻ lợi dưỡng đồng đều cho nhau). Đủ sáu điều hòa hợp như thế mới đáng gọi là Tăng.

 

“Một ngàn hai trăm năm mươi người”: Khi Đức Phật mới thành đạo, độ năm anh em Kiều Trần Nhưvườn Lộc Uyển (năm vị này có quan hệ huyết thống với Phật. Mã Thắng, Tiểu Hiền, Ma Ha Namanh em họ bên nội; Thập Lực Ca Diếp, Kiều Trần Nhưanh em họ bên ngoại). Tiếp đó, độ con trai của trưởng giả Da Xá và bạn bè (Da Xá đây là con trai của một vị trưởng giả họ Câu Lê ở thành Tỳ Xá Ly thuộc nước Ba La Nại, nên gọi là Da Xá trưởng giả tử), tổng cộng là năm mươi lăm người.

Tiếp đó, ở rừng Mộc Qua, độ thầy trò Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, tất cả là năm trăm người. Độ thầy trò Già Da Ca Diếp ở núi Tượng Đầu và thầy trò Na Đề Ca Diếp bên sông Ni Liên Thiền, tổng cộng là 500 người (Ca Diếp là họ, Ưu Lâu Tần Loa là rừng Mộc Qua, Già Da là núi Đầu Voi, Na Đề tức là tên gọi khác của sông Ni Liên Thiền. Ba anh em nhà này cùng theo ngoại đạo thờ lửa, tên đặt theo chỗ ở. Đức Thế Tôn độ họ sau khi Ngài đã thành đạo được ba năm).

 Kế tiếp hóa độ thầy trò của các ông Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên gồm hai trăm người.

 Tính chung lại tất cả gồm một ngàn hai trăm năm mươi lăm người. Ở đây chỉ kể “một ngàn hai trăm năm mươi người” là tính tròn.

 Hỏi: Phật độ vô lượng chúng sanh, sao lại chỉ nêu tên một chúng này?

 Vì nhiều lý do: họ là những người quy hướng Phật giáo trước tiên, được chứng đắc thánh quả trước tiên, vì họ thường theo hầu Phật.

 “Câu”cùng lúc họp lại. 

 

1.3.1.2. Biểu vị thán đức (nêu địa vị, khen ngợi đức)

 

Chánh kinh:

 

Giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức.

 (Đều là đại A La Hán, [đức hạnh, nhân phẩm, đạo học của họ đều] được mọi người hay biết (công nhận)).

 

Giải:

Câu “Đại A La Hán” là nêu địa vị, câu “chúng sở tri thức” nhằm tán thán đức của các vị ấy.

Chữ “giai thị” ngụ ý: một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ kheo trên đây, không vị nào chẳng phải là Đại A La Hán.

Quả vị của chúng Thanh Văn gồm có bốn bậc:

- Sơ Quả Tu Đà Hoàn (Hán dịch là Dự Lưu), vừa mới dự vào dòng thánh.

- Nhị Quả Tư Đà Hàm (Hán dịch là Nhất Vãng Lai hay Nhất Sanh): trong chín phẩm Tư Hoặc của Dục Giới, mới chỉ đoạn được sáu hoặc nên còn phải thọ sanh trong nhân gian hay cõi trời một lần nữa.

- Tam Quả A Na Hàm (Hán dịch Bất Lai): đã đoạn sạch chín phẩm Tư Hoặc trong Dục Giới, chẳng cần phải tái sanh trong Dục Giới nữa.

- Tứ Quả A La Hán (Hán dịch là Vô Sanh): không còn bị thọ sanh trong tam giới nữa.

Muốn chứng Tứ Quả thì phải đoạn bốn địa vị trong Sắc Giới, bốn địa vị trong Vô Sắc Giới. Mỗi địa vị có 9 phẩm Tư Hoặc, tổng cộng là phải đoạn 72 phẩm Tư Hoặc, và phải đoạn cả 88 Sử (Kiến Hoặc) ở Dục Giới mới chứng đắc Tứ Quả. Kiến HoặcTư Hoặc chính là căn bản để thọ sanh trong tam giới nên phải đoạn sạch Kiến HoặcTư Hoặc thì mới khỏi phải sanh trong tam giới nữa.

Từ Sơ Quả cho đến Tứ Quả đều gọi là Thanh Văn. Thanh Văn là những vị nghe giáo pháp Tứ Đếnhập đạo. Những thánh chúng Thanh Văn hiện diện trong pháp hội này đều là bậc Tứ Quả, tức là đạt địa vị tối cực trong chúng Thanh Văn nên gọi là Đại.

 

A La Hán có hai loại:

- Định tánh A La Hán: khăng khăng bảo thủ Chân Không, chìm đắm trong tịch diệt, đắc quả chút ít đã cho là đủ thì gọi là Định Tánh, là tiểu căn.

- Hồi tâm A La Hán: nếu hồi tiểu hướng đại, phát Bồ Đề tâm, chẳng cầu tự lợi thì gọi là hồi tâm A La Hán.

 

Chúng A La Hán trong pháp hội này toàn là bậc hồi tâm A La Hán nên gọi là Đại.

 

Thêm nữa, lại có ba loại A La Hán:

- Huệ giải thoát: tu Tánh Niệm Xứ, chỉ duyên theo chân lý, chỉ chứng địa vị vô học, đắc Diệt Tận Định.

- Câu giải thoát: tu Cộng Niệm Xứ, kiêm tu sự tướng, đắc Diệt Tận Định, đầy đủ tam minh, bát giải thoát).

- Vô ngại giải thoát: Tu Duyên Niệm Xứ, duyên theo Phật pháp trong Tam Tạng, thông đạt kinh điển thế gian, xuất thế gian một cách vô ngại.

 

Bậc A La Hán trong pháp hội đây đều là bậc Vô Ngại Giải Thoát nên gọi là Đại.

 

“A La Hán” là tiếng Phạn, gồm có ba nghĩa:

 

a. Ứng Cúng:

 

Ứng có nghĩa là tương ứng, hoặc xứng đáng nhận lãnh. Cúng là cúng dường. A La Hán là bậc phạm hạnh đã lập, siêu xuất tam giới, đáng thọ lãnh sự cúng dường, tôn kính của trời người, nên gọi là Ứng Cúng. Vì sao trong mười danh hiệu của Phật cũng có danh xưng Ứng Cúng? Đó là vì Phật là bậc đáng được hết thảy thế gian: trời, người, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát cúng dường. Phật là bậc Đại Ứng Cúng, A La Hán chỉ là Tiểu Ứng Cúng.

 

b. Sát Tặc:

 

Sát là giết chết, đoạn diệt. Tặc là trộm cướp. Dùng trộm cướp để ví cho Kiến Hoặc, Tư Hoặc thường cướp đoạt pháp tài công đức của chúng sanh, khiến họ vĩnh viễn trầm luân trong sanh tử luân hồi. Bậc A La Hán đã đoạn sạch phiền não Kiến Hoặc, Tư Hoặc, nên gọi là Sát Tặc.

 

c. Vô Sanh:

 

Việc làm (tức sự nghiệp đoạn trừ phiền não) đã xong, đã thoát khỏi nỗi khổ sanh tử, nên gọi là Vô Sanh.

 

Tỳ kheo là nhân, A La Hán là quả. Do nhân khất sĩ, tịnh mạng, tịnh giới nên được Ứng Cúng. Chống cự lại phiền não (Phá Ác), đạo đã thành, ác đã phá, là nhân của Sát Tặc. Xuất gia thọ giới có nhân Bố Ma nên nay đạo thành, chứng đắc địa vị La Hán, nên được quả Vô Sanh.

 

“Chúng sở tri thức”: Chúng tức là đại chúng trời, người. Hai chữ “tri thức” có nhiều cách giải thích:

- Nghe danh ngưỡng mộ đức là Tri; gặp tận mặt, nghe dạy dỗ là Thức.

- Nghe danh gặp mặt là Tri, hiểu tâm rõ tánh là Thức.

- Biết mặt là Tri, biết đức là Thức.

- Nếu chỉ nghe danh mà chưa gặp mặt thì mới là Tri, chưa phải là Thức. Tuy gặp mặt mà chẳng nghe danh thì mới là Thức, chứ chưa phải là Tri. Nếu do nghe danh mà ngưỡng đức, đã gặp mặt lại nghe dạy dỗ, lại còn biết rõ tâm tánh của người ấy thì gọi là Tri Thức

Đây là những cách giải thích dựa trên phương diện đại chúng mà luận. Lại còn có cách giải thích chữ “tri thức” ở một mức độ cao hơn như sau:

“Hiểu sâu chân lý là Tri, thông đạt pháp tướng một cách sâu rộng là Thức”.

Như vậy, những bậc A La Hán được nêu ở đây đều là những vị đức cao trọng vọng, kham làm tròng mắt cho trời - người, hỗ trợ Đức Phật giáo hóa chúng sanh, tiếng tăm lẫy lừng khắp nơi, là bậc được khắp đại chúng hay biết, nên gọi là “chúng sở tri thức”.

Nếu luận về Lý của câu kinh này thì:

Đại tỳ kheo Tănglý trí nhất như (tức là ý nghĩa “hòa hợp”). Một ngàn hai trăm năm mươi người cùng nhóm là các công đức đều tụ tập lại. Đại A La Hán biểu thị: tự tánh tùy duyên (tức là ý nghĩa Ứng Cúng), tâm nguyên vốn vắng lặng (tức là ý nghĩa Sát Tặc), tự tánh bất biến (tức là ý nghĩa Vô Sanh). Tri thức biểu thị tự tánh chẳng mê, tâm nguyên vốn sáng ngời.

 

 1.3.1.3. Lệ danh thượng thủ (nêu tên các vị thượng thủ)

 

 Chánh kinh:

 

Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà.

 

 Giải:

 

“Trưởng lão”: Đức cao, học rộng là Trưởng, tuổi tác cao là Lão. như vậy, Trưởng Lão là tiếng để tôn xưng bậc đức hạnh lẫn tuổi tác đều cao. Có bốn loại trưởng lão:

 a. Pháp lạp trưởng lão là hạng xuất gia lâu năm (pháp lạp là tuổi xuất gia. Cứ mỗi một năm xuất gia tính là một lạp. Hạ lạp là tuổi tính theo mỗi lần an cư kiết hạ. Nay thường đồng nhất hai tuổi này)

 b. Học đức trưởng lão là bậc học vấn sâu xa, rộng rãi.

 c. Pháp tánh trưởng lão là bậc đạo quả cao siêu.

d. Niên kỷ trưởng lão là bậc xuất gia tuổi đời đã cao.

Trong kinh này, dù là bậc đức trọng tuổi cao hoặc bậc đức trọng nhưng tuổi đời còn trẻ đều dùng hai tiếng “trưởng lão” để tôn xưng.

Mười sáu vị tôn giả được nêu tên trên đây đều xứng đáng gọi là “trưởng lão”, chứ chẳng phải mình Ngài Xá Lợi Phất đáng được gọi như vậy.

 

1) Xá Lợi Phất (đọc đủ là Xá Lợi Phất Đát La):

 

Ngài là người Nam Thiên Trúc, con của bà la môn Đề Xá. Tên thậtƯu Ba Đề Xá, gọi theo họ mẹ là Xá Lợi Phất. Xá Lợi là tên một loài chim, Tàu dịch là Thu Lộ, Phất là con. Xá Lợi Phất nghĩa là con bà Xá Lợi (Tàu thường dịch nghĩa chữ Xá Lợi Phất thành Thu Tử hoặc Thân Tử. Gọi là Thân vì bà mẹ Ngài hình dung yểu điệu, xinh đẹp phi thường. Gọi là Thu vì mắt bà đẹp và trong suốt, long lanh như mắt chim Thu Lộ). Ấn Độ thường gọi tên con theo tên mẹ để biểu thị lòng tôn kính cùng cực, không gọi thẳng tên thật ra.

Tôn giả trí huệ phi thường, khi còn trong thai mẹ đã khiến mẹ tranh biện giỏi hơn người. Ông anh Câu Hy La mỗi khi tranh luận với bà luôn bị thua cuộc. Cha Ngài Xá Lợi Phất là hạng giàu có, học rộng, không kinh sách nào không tham cứu. Khi cấn thai Ngài, bà Xá Lợi mộng thấy có một dị nhân, thân mặc giáp trụ, tay cầm kim cang xử, đập nát các ngọn núi, rồi đứng dưới một ngọn núi khác. Cha Ngài Xá Lợi Phất giải mộng: “Bà sẽ sanh ra một đứa con trai, trí huệ học vấn đứng đầu thế gian, ngôn ngữ không úng tắc”.

Năm lên tám tuổi Ngài đã thông suốt tất cả sách vở thuộc hệ thống Tứ Vi Đà, từng chiết phục các luận sư khắp mười sáu nước. Vừa xuất gia bảy ngày đã thông đạt hết các Phật pháp.

Thuở trẻ, tôn giảđệ tử của học giả San Xà Na, là bạn đồng học thân thiết nhất của Ngài Mục Liên. Sau khi thầy mất, Ngài cùng tu với Mục Liên trong vùng rừng núi phụ cận thành Vương Xá. Nghe danh đức Thế Tôn đã lâu, Ngài từng muốn đến thân cận, nhưng chưa được ai tiến dẫn. Một ngày nọ Ngài gặp tỳ kheo Mã Thắng dung nghi siêu tục, liền hỏi: “Thầy Ngài là ai?” Mã Thắng đáp: “Thích Ca Thế Tôn”.

Xá Lợi Phất nghe vậy rất vui, liền bảo: “Thường nghe nói đến Thế Tôn đức hạnh cao dày, khéo nói diệu pháp, Ngài có thể vì tôi nhắc lại vài câu diệu pháp chăng?” Đáp: “Tôi tuổi còn trẻ, theo học Phật chưa lâu, làm sao dám thuật lại những nghĩa uyên áo của Đức Phật đã nói được”. Xá Lợi Phất kèo nài: “Xin hãy từ bi lược nói pháp yếu”. Mã Thắng liền đọc bài kệ:

Các pháp từ duyên sanh,

Các pháp theo duyên diệt,

Đức Phật đại sa môn,

Thường nói như thế đấy.

Nghe xong, Xá Lợi Phất cảm ngộ sâu xa, tâm sanh hoan hỷ, khen ngợi không ngớt, về thuật cùng Mục Liên, bèn cùng các đệ tử đến chỗ Phật xuất gia.

Trong các đệ tử Phật, Ngài là bậc trí huệ đệ nhất. Kinh A Hàm chép: “Trong Phật pháp của ta, người trí huệ vô cùng, dứt sạch các mối nghi thì ông Xá Lợi Phất là bậc nhất”. Trong kinh này chỉ nêu một đức, chứ không phải Ngài Xá Lợi Phất không đủ các đức khác. Cũng không phải các vị khác không có trí huệ, kinh chỉ nêu lên những điểm sở trường, sở hảo của các vị mà thôi. Nay Phật thuyết giảng pháp môn Tịnh Độ khó tin bậc nhất, nếu chẳng phải là hạng đại trí huệ thì làm sao có thể tin tưởng sâu xa vô ngại được. Kinh nêu tên Ngài Xá Lợi Phật đầu tiên để biểu thị lấy trí huệ làm đầu vậy.

 

2) Ma Ha Mục Kiền Liên:

 

Ngài Mục Liên là người nước Xá Vệ, con của phụ tướng đại thần. Ma Ha dịch là Đại. Mục Kiền Liên dịch là Thái Thúc Thị, đó là họ của Ngài. Tổ tiên Ngài ẩn trong núi tu đạo, lấy bắp (Ngài Khuy Cơ bảo là đậu xanh) làm thức ăn nên thành họ. Tên thật của Ngài là Câu Luật Đà (tên một loài cây, dịch là Vô Tiết Thọ: cây không có lóng; cha mẹ Ngài cầu con nơi thần cây ấy mà được nên đặt tên ấy). Dòng họ này có rất nhiều người xuất gia nên thêm chữ Đại trước họ để phân biệt.

Ngài là người thần thông bậc nhất trong các đệ tử Phật, từng hàng phục rồng độc, đem năm trăm người họ Thích giấu lên cung trời khi vua Tỳ Lưu Ly sát hại dòng họ Thích v.v... Kinh A Hàm chép: “[Trong những] bậc thần thông lẹ làng nhất trong Phật pháp của ta, bay đến mười phương thì Mục Kiền Liên bậc nhất”. Ngài là bậc hiếu thuận vô song, từng vào U Minh cứu mẹ, tiến độ mẹ sanh thiên, phát khởi Vu Lan thắng hội. Luận Trí ĐộXá Lợi PhấtMục Kiền Liên là hai vị đại tướng quân chầu chực bên Phật. Xá Lợi Phất là mẹ đẻ của chúng sanh, Mục Kiền Liên là mẹ nuôi.

 

3) Ma Ha Ca Diếp:

 

Tàu dịch là Đại Quy Thị, tức là họ Đại Quy. Chữ Ca Diếp còn được dịch là Ẩm Quang vì thân Ngài thường phóng quang minh sáng rực, lấp mất các ánh sáng khác. Thuở xưa kia, cách đây 91 kiếp, trong đời Phật Tỳ Bà Thi; sau khi Đức Phật nhập diệt, tứ chúng đệ tử lập tháp thất bảo. Lúc ấy, Ngài Ca Diếp làm thợ bạc. Lâu ngày, vàng thếp pho tượng Phật ấy bị tróc lở. Có một nữ nhân bần cùng đến nỗi cơm không đủ ăn, thường lui tới chiêm lễ tượng Phật. Trong khi lễ bái, cô thấy vàng trên mặt tượng đã bị tróc hết; cô thầm nguyện: “Nếu tôi có tiền, nhất định tôi sẽ thếp vàng lại tượng”.

Một ngày nọ, cô nhặt được một đồng vàng trên đường. Cô vội đem đồng tiền ấy đến nhờ anh thợ bạc thếp tượng. Người thợ bạc ngạc nhiên hỏi: “Sao cô không dùng tiền vàng này mua y phục, thức ăn sẽ được rất nhiều, mua cả nhà cửa cũng được mà”. Cô gái đáp: “Tôi từng phát nguyện sẽ thếp vàng tượng Phật. Tiền này tôi chẳng dám dùng đâu, chỉ cần ông giúp tôi thếp vàng tượng Phật là tôi đã mãn nguyện rồi!”

Người thợ bạc quá cảm động trước tấm lòng thành của cô nên tình nguyện thếp vàng tượng Phật chẳng lấy công; lại nguyện đời đời thường làm vợ chồng, thân sáng như vàng ròng, luôn hưởng thọ sự vui thù thắng, đồng tu phạm hạnh. Do nhân lành ấy, họ đời đời được thân ánh sáng vàng ròng, lại còn có quang minh sáng hơn cả ánh sáng mặt trời. Đến khi Đức Phật giáng thế, cả hai cùng được xuất gia trong Phật pháp. Người nam là Ngài Đại Ca Diếp, người nữ chính là Ca Diếp tỳ kheo ni.

Trong các chùa Trung Hoa thường tạc hình hai vị thị giả đứng hầu bên Phật Thích Ca. Vị trẻ tuổi là Ngài A Nan. Vị già cả, mặt nhân, râu tóc bạc phơ là Ngài Ca Diếp. Tượng Ngài thường tạc ôm tay thành quyền, chứ không chắp tay, vì tương truyền, thân Ngài có quang minh chói rực, đặc biệt là mười đầu ngón tay càng chói sáng hơn hết. Nếu Ngài chắp tay, ánh sáng từ mười đầu ngón tay túa ra sẽ làm lóa mắt người đến lễ Phật khiến họ không mở mắt ra được. Vì thế, Phật khai phương tiện, cho phép Ngài ôm quyền chứ không cần phải chắp tay khi đứng hầu.

Ngài là người nước Ma Kiệt Đà, con của trưởng giả Ni Luật Đà, gia tư giàu có không ai hơn. Vợ chồng ông Ni Luật Đà, giàu có nhưng không con. Nghe đồn, thần cây Tất Đa La rất thiêng nên đến cầu nguyện nơi cây ấy bao năm vẫn không thấy linh ứng gì. Bực tức, họ giận dữ bảo: “Nay chúng ta sẽ tận lực thờ cúng trong vòng bảy ngày, nếu khônglinh nghiệm gì sẽ đốt tiêu cây này”. Thần cây hoảng sợ cầu cứu lên Phạm Vương. Phạm vương xem khắp thế giới này không thấy ai đáng làm con ông ta cả. Nhân thấy có một Phạm thiên (là thân đời thứ 91 của Ngài Ca Diếp) sắp mạng chung, liền khuyên nên đầu thai vào nhà ông Ni Luật Đà. Do vậy, khi sinh Ngài cha mẹ đặt tên là Tất Đa La vì từng cầu con nơi thần cây ấy.

Trong đệ tử Phật, Ngài là bậc Đầu Đà đệ nhất. Đến tuổi già vẫn tinh tấn, Phật thương Ngài già cả, bảo hãy xả hạnh Đầu Đà, Ngài chỉ cười rồi vẫn thực hành như cũ. Đức Phật khen ngợi: “Vẫn còn người hành hạnh Đầu Đà thì pháp của ta sẽ tồn tại lâu dài”. 

 Chữ Đầu Đà dịch nghĩa là Đẩu Thấu, tức là dùng mười hai khổ hạnh để đãi sạch, gột sạch trần lao:

a. Ở a-lan-nhã (nơi tịch tịnh, không ồn náo).

 b. Thường hành khất thực.

 c. Khất thực theo thứ tự (không phân biệt chọn lựa nhà để khất thực).

 d. Ngày chỉ ăn một bữa.

 e. Ăn có chừng mực, ăn ít.

 f. Sau giờ ngọ không uống các thứ tương (nước trái cây ép).

 g. Mặc y phấn tảo.

 h. Chỉ có ba y. 

i. Ngồi nơi mồ mả.

j. Ngủ dưới gốc cây.

k. Ngồi nơi đất trống.

l. Chỉ ngồi không nằm.

Tam Tạng kinh điển còn tồn tại đến ngày nay là nhờ Ngài: Sau khi Phật nhập Niết Bàn, Ngài Ca Diếp bèn triệu tập thánh chúng, kết tập kinh điển. Hiện Ngài còn đang nhập định trong núi Kê Túc, chờ khi Đức Phật Di Lặc đản sanh trong nhân gian sẽ dâng y tử kim của Đức Phật Thích Ca lên Phật Di Lặc, rồi mới dùng Hỏa Quang tam muội thiêu thân, nhập Vô Dư Niết Bàn.

Theo kinh Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi, Đại Phạm thiên vương đến Linh Sơn, dâng hoa Ưu Bát La sắc vàng lên Phật, thỉnh Phậtchúng sanh thuyết pháp. Đức Thế Tôn lên tòa, giơ cành hoa cho đại chúng xem, trăm vạn nhân thiên đều ngơ ngác, chỉ mình Kim Sắc Đầu Đà (Ngài Ca Diếp) mỉm cười. Thế Tôn bảo: “Ta có chánh pháp nhãn tàng, Niết Bàn diệu mạng, Thật Tướng Vô Tướng nay giao phó cho Ma Ha Ca Diếp”. Vì thế, Ngài là Sơ Tổ lãnh thọ tâm ấn của Phật.

 

d) Ma Ha Ca Chiên Diên 

 

Còn phiên là Ma Ha Ca Đa Diễn Na, Hán dịch là Văn Sức, ý nói lời lẽ bóng bảy. Vị tôn giả này dung mạo đoan chánh hơn người, giỏi biện luận, sở trường về luận nghị. Mở miệng thốt ra câu nào cũng bóng bảy văn nhã, óng chuốt phi thường khiến cho thính giả ưa thích, khâm phục. Đức Thế Tôn từng khen ngợi: “Trong những người thuyết pháp, ông Ca Diên đúng là bậc nhất”. Trong các đệ tử Phật, Ngài được tôn xưng là bậc Luận Nghị đệ nhất.

Ngài từng bị kẻ ngoại đạo theo thuyết Vô Thần Luận cật vấn: “Kẻ ác chết đi thọ khổ theo lẽ phải trở về báo lại. Nay chết đi không thấy trở về, cứ suy theo đó thì không có cái lý thọ sanh đời sau vậy”. Tôn giả bảo: “Như người mắc tội trong đời, bị giam trong ngục tối, gông xiềng, trói xích, có trốn về được không?”

Ngoại đạo lại hỏi: “Nếu vậy thì người thiện chết đi thì được sanh lên trời, sao cũng chẳng thấy trở về?” Tôn giả đáp: “Như người rớt xuống hầm xí, có chịu trở xuống nữa hay không? Ông phải biết là thế gian ác trược, muốn thoát ra đã chẳng phải là dễ dàng gì, đã lên trời rồi còn ai muốn trở xuống nữa chứ?” Qua đó, có thể thấy tài biện luận của tôn giả như thế, vì vậy, kinh Tăng Nhất A Hàm tán dương: “Người khéo phân biệt nghĩa, phu diễn đạo giáo chính là ông Ca Chiên Diên vậy!”

 

e) Ma Ha Câu Hy La:

 

Còn phiên là Ma Ha Câu Sắt Sỉ La, Hán dịch là Đại Tất (đầu gối to), vì đầu gối Ngài rất lớn. Tôn giả chính là cậu ruột Ngài Xá Lợi Phất, thường ngày tranh luận với em gái thường thắng, nhưng khi bà này có mang Ngài Xá Lợi Phất, ông nhiều phen thua cuộc ê chề. Do vậy, phát phẫn tự nghĩ: “Cháu mình còn trong thai đã khiến mẹ nó giỏi đến thế thì khi ra đời, mình làm sao cãi thắng được, chẳng thẹn thùng lắm ư?” Ông bèn bỏ về Nam Thiên Trúc, suốt mười tám năm học tụng kinh điển Vệ Đà, không rảnh để cắt tóc, cắt móng tay, nên còn được gọi là Trường Trảo Phạm Chí (đạo sĩ móng tay dài). 

Mãi đến khi thành tài, về lại quê hương thì cháu đã xuất gia. Ông bảo: “Cù Đàm có đức hạnh gì mà dám làm thầy của cháu ta?” Ông bèn đầu đội chậu lửa, mình khoác lá sắt, tóc rũ chấm đất, móng tay dài cả thước dư, xông vào Phật hội, kiếm Phật tranh luận đòi cháu. Lòng hiu hiu tự đắc không coi ai ra gì. Chợt thấy Thế Tôn, ông liền hoạnh họe: “Thu phục được cháu ta, ngươi dùng pháp gì để dạy dỗ vậy, hãy lôi ra tranh biện xem sao?”

Phật hỏi: “Ông lấy gì làm tông?” Câu Hy La đáp: “Ta lấy việc chẳng thọ hết thảy pháp làm tông”. Đức Phật bảo: “Ông lấy ‘chẳng thọ hết thảy pháp làm tông’ thì là đã thọ rồi”. Ông bị thua nhưng vẫn kiêu mạn, Đức Phật liền hiện thần lực khiến lá sắt bó chặt lấy ông, chậu lửa thiêu đảnh. Ông ngất đi tỉnh lại mới phục, dốc lòng sám tạ, xin xuất gia với Phật. Phật bảo: “Thiện lai tỳ kheo!” liền thành Tăng tướng. Tôn giả do ngộ lý Khôngđắc đạo quả, nên còn hiệu là Ngộ Không.

Sau khi xuất gia, chỉ trong vòng ba năm, tôn giả thông đạt pháp tạng. Vì tôn giả học rộng mọi thứ, xem khắp các sách vở, biện tài thao thao như sóng cuộn, vấn đáp lanh lợi nên được tôn là bậc Vấn Đáp đệ nhất.

 

f) Ly Bà Đa:

 

Hán dịch là Tinh Tú, hoặc Thất Tinh (sao Thất), hoặc Tuệ Tinh. Cha mẹ Ngài cầu con nơi sao ấy nên đặt tên như vậy. Ngài còn có tên là Giả Hòa Hợp. Nguyên nhân là do một đêm kia, Ngài trú tại một ngôi đình vắng, có một con quỷ vác một cái tử thi đi đến. Chốc sau lại có một con quỷ lớn khác đi đến, toan cưỡng đoạt cái xác ấy, giành giật rầm rĩ mãi. Tiểu quỷ bất đắc dĩ nhờ Ngài Ly Bà Đa phán xử. Ngài cứ tình thật phán xử. Đại quỷ cáu quá, xé toạc tay chân Ngài nuốt ăn, tiểu quỷ bèn lấy tay chân của tử thi thế vào.

Đến sáng, Ngài Ly Bà Đa sanh phiền não sâu nặng, tự nghĩ thân này nào phải là thân ta. Giả sử thân này thực là của ta thì chính mắt ta thấy đại quỷ xé tay chân mình ăn mất rồi. Lại nghĩ: nếu thật là thân của người khác, thì sao tay chân này vẫn hành động theo ý mình. Vì thế bèn hỏi người qua lại: “Ông có thấy tay tôi, chân tôi chăng?” Có một vị tỳ kheo nghĩ người này dễ độ, bèn đọc bài kệ:

 Vốn thân người khác thế,

 Tạm giả hòa hợp dùng.

 Ngài Ly Bà Đa liền giải ngộ nghĩa lý tứ đại giả hợp, nhận thức hết thảy sự lý một cách rõ ràng, liền theo tỳ kheo đó về chỗ Phật cầu xuất gia. Trong các đệ tử, Ngài được xưng tụng là bậc Vô Đảo Loạn bậc nhất vì những Phật pháp mà Ngài nói ra, quyết địnhchính xác, không lầm loạn. Ngài cũng là bậc Tri Huyễn đệ nhất.

 

 g) Châu Lợi Bàn Đà Dà:

 

Còn phiên là Châu Lỵ Bàn Đặc, Hán dịch là Kế Đạo hoặc Lộ Biên Sanh (đẻ bên đường). Anh Ngài tên Bàn Đà Già (dịch là Đại Lộ Biên), em tên là Châu Lợi Bàn Đà Già. Phong tục ở Tây Vực là khi sắp sanh, sản phụ thường về nhà bố mẹ ruột. Khi đang trở về, giữa đường bà mẹ Ngài chuyển dạ sanh ra hai Ngài nên đặt tên như thế.

Theo kinh Tăng Nhất, anh Ngài đã theo Phật xuất gia từ trước, đắc thánh quả. Khi cha mẹ mất, Kế Đạo bèn cũng theo đi xuất gia, nhưng tánh Ngài cực kỳ ngu độn. Xuất gia đã nửa năm, cả năm trăm vị La Hán xúm vào dạy dỗ, Ngài vẫn không thể trì tụng nổi nửa bài kệ sau:

 Thủ khẩu nhiếp ý thân mạc phạm,

 Như thị hành giả đắc độ thế.

 Chánh niệm quán thời dục cảnh không,

 Vô ích chi khổ đương viễn ly.

 (Giữ miệng, thâu ý, thân đừng phạm,

 Người hành như thế, độ được đời.

Lúc chánh niệm quán, dục cảnh rỗng,

Sẽ xa lìa được khổ vô ích)

 Học suốt cả ba năm vẫn chưa thuộc nổi, nhớ câu trước quên câu sau, nhớ được câu sau liền quên ngay câu trước. Người anh bực quá, quở trách, buộc em hoàn tục. Do thiện căn thâm hậu, lúc đương khóc lóc ngoài cửa, bịn rịn chẳng đi, gặp đức Thế Tôn lân mẫn dạy niệm hai chữ “tảo chửu” (quét dọn). Thế mà vẫn cứ nhớ chữ này quên chữ kia. Nhưng nhờ Ngài vẫn cứ siêng gắng, chẳng lười, nên lâu ngày hốt nhiên chứng ngộ: “Tảo Chửu nghĩa là trừ dơ khiến cho sạch. Như vậy là đức Thế Tôn muốn ta đoạn trừ những dơ bẩn phiền não trong thân”. Nhờ thế, đắc quả A La Hán.

Theo kinh Ngũ Bách Đệ Tử Bản Khởi, tôn giả trong đời trước do xua lợn qua sông, dùng dây buộc chặt miệng nó khiến hơi thở không thông, con lợn bị chết ngộp giữa giòng. Vì thế, Ngài bị quả báo ám muội. Thêm nữa, trong thời Phật Ca Diếp, Ngài là một vị Tam Tạng Pháp Sư, do tiếc pháp chẳng hóa độ chúng nên cảm ác báo ấy. Ác nghiệp đời trước mãi đến đời này mới hết, do chứng ngộ được công dụng của việc quét dọn tịnh thất, giải ngộ nguyên nhân của thân nên đoạn ngu, phát huệ.

Trong kinh Lăng Nghiêm, tôn giả tự bạch: “Con thiếu tụng trì, không có tánh Đa Văn, nghe pháp xuất gia, nhớ giữ một câu kệ của Như Lai. Trong một trăm ngày, nhớ được câu trước quên câu sau. Phật thương con ngu si, dạy con ở yên, điều hòa hơi thở ra vào. Khi ấy, con quán sát hơi thở một cách vi tế, hiểu cùng tận, sanh trụ, dị diệt, các hành, sát na. Tâm con đột nhiên được được đại vô nghi, cho đến lậu tận, thành A La Hán”. Như thế, tu hành đừng sợ độn căn, chỉ e chẳng thể phát tâm kiên trì tu tập

Trong các đệ tử, Ngài là bậc Nghĩa Trì bậc nhất.

 

h) Nan Đà:

 

Còn gọi là Tôn Đà La Nan Đà, Hán dịch là Hoan Hỷ. Thật ra, Tôn Đà La (Hán dịch là Diễm: đẹp đẽ) chỉ là tên vợ. Gọi Ngài như vậy để phân biệt với ông Phóng Ngưu Nan Đà. Nan Đà là em ruột Đức Phật, con của bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di). Ngài có ba mươi tướng hảo, hình mạo gần tương tự như Đức Phật, nhưng thấp hơn Đức Phật chừng bốn ngón tay, thân cũng sắc vàng.

Trong lễ cưới của Ngài, Đức Phật biết thời cơ Nan Đà được hóa độ đã đến, bèn đến vương cung khất thực. Khi thọ trai xong, Ngài trao bát cho Nan Đà cầm. Vì kính mộ Phật, Ngài Nan Đà bưng bát hầu Phật về đến tinh xá. Đức Phật dạy Ngài xuất gia, Nan Đà cũng đành tuân theo.

Tuy đã xuất gia, nhưng tâm ông vẫn tưởng nhớ đến người vợ xinh đẹp khôn nguôi, chẳng thể chuyên tâm nhập định được. Đức Phật liền thị hiện thần thông đưa ông lên cung trời xem các thiên nữ để trừ dẹp tâm niệm tham luyến sắc đẹp phàm phu của Tôn Đà La, cũng như đưa xuống địa ngục, chỉ cho ông thấy những gông cùm đang chờ sẵn đó. Vì thế, Ngài Nan Đà giác ngộ tham dục là nguồn gốc chiêu cảm khổ báo.

Tuy thế, tập khí tham dục vẫn chưa thể trừ bỏ ngay được. Đức Phật dạy Ngài pháp quán chú mục nhìn vào chót mũi có vết trắng để nhiếp tâm. Kinh Lăng Nghiêm chép lời Ngài tự nói: “Lúc đầu, tôi quán sát kỹ trong hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở trong mũi ra vào như làn khói, thân tâm sáng suốt bên trong, thấu suốt trọn vẹn khắp cả thế giới đều rỗng rang, thanh tịnh hệt như lưu ly. Tướng khói dần tiêu, hơi thở thành màu trắng, tâm khai lậu tận, các hơi thở ra vào biến thành quang minh, chiếu mười phương cõi, đắc A La Hán”.

Đương thời, có một ngoại đạo lõa thể trứ danh trong xứ Ma Kiệt Đà, thường tranh luận đạo pháp với Ngài Xá Lợi Phất, kính mộ sự huyền diệu của Phật pháp, đã sẵn mang ý niệm xuất gia. Một ngày nọ, gặp phải Ngài Nan Đà, bèn thốt lên: “Vị tỳ kheo loắt choắt mà còn thâm trí bác học đến thế, huống hồ là người tướng mạo đường đường đến thế này” (Ngài Xá Lợi Phất thân hình thấp bé). Do đó, kẻ ngoại đạo bèn theo đi xuất gia

Trong các đệ tử Phật, Ngài là bậc Nghi Dung đệ nhất.

 

i) A Nan Đà:

 

Còn phiên âm là A Nan, Át Nan, Hán dịch là Khánh Hỷ. Ngài là em con chú của Phật, nghĩa là: Ngài A Nan là con thứ hai của Bạch Phạn Vương (còn phiên âm là Hộc Phạn Vương). Lúc vua Tịnh Phạn được tin Đức Phật đã thành đạo, đồng thời nghe tin em mình là vua Bạch Phạn cũng sanh được một hoàng tử, cho sứ sang nhờ anh đặt tên. Vua Tịnh Phạn vui mừng nên đặt tên cho hoàng tử mới sinh là A Nan.

Năm 20 tuổi, Ngài theo Phật xuất gia. Khi được chọn làm thị giả, Ngài bèn cầu thỉnh Phật đem hết những pháp môn đã giảng trong 20 năm vì mình trùng tuyên lại một lượt. Nghe xong, Ngài A Nan ghi nhớ trọn vẹn. Vì thế tôn giả Ca Diếp nói: “Nước trong biển cả Phật pháp rót hết vào trong tâm A Nan”. Lúc Phật nhập diệt rồi, Ngài bèn chủ trì công cuộc kết tập Kinh Tạng. Vì thế, trong hàng đệ tử Phật, Ngài được xưng tụng là bậc Đa Văn đệ nhất.

Trong đời quá khứ, Ngài từng làm một vị trưởng giả giàu có lớn. Nhân thấy một sa dihóa duyên nên không thể tụng đọc nhiều bài kệ được, Ngài bèn phát tâm ủng hộ cúng thí thực phẩm, thức ăn để vị sa di ấy rảnh rỗi chuyên tâm học tập kinh điển. Trưởng giả còn phát nguyện: “Nguyện khi chú tiểu này thành Phật, tôi sẽ làm vị đệ tử đa văn của Ngài, tất cả giáo pháp Ngài đã thuyết ra tôi đều có thể nhớ kỹ”. Do vậy, trong kiếp này, Ngài được thỏa nguyện.

Tên Ngài đôi khi còn được dịch là Vô Nhiễm, vì những khi theo hầu Phật vào thiên cung, long cung v.v... thuyết pháp, tâm Ngài không hề nhiễm trước nơi sắc cảnh. Nữ giới được Đức Phật chấp thuận cho xuất gia làm ni cũng nhờ Ngài đặc biệt thỉnh cầu. Đức Phật chế ra Bát Kính Pháp, khi bà Kiều Đàm Diđồ chúng chấp thọ pháp ấy, Phật mới hứa khả cho họ được làm tỳ kheo ni. Trong các ni viện Trung Hoa, thường thờ Ngài A Nan và Ngài Kiều Đàm Di tại Tổ Đường để tưởng niệm ân đức là vì lẽ đó.

Ngài A Nan được coi là tổ truyền tâm ấn thứ hai của Thiền Tông. Vua A Xà Thế rất sùng bái Ngài, từng ước định khi nào Ngài nhập diệt, phải cho người đến báo với vua. Khi Ngài A Nan sắp nhập diệt, cho người đến báo tin, nhằm lúc vua đang ngủ trưa, kẻ hầu chẳng dám đánh thức. A Nan chờ mãi không được, bèn vọt thân lên hư không, hiện nhiều tướng thần thông biến hóa, rồi dùng lửa tam muội thiêu thân. Xá lợi rơi xuống lất phất như mưa, rải khắp hai bờ sông Hằng. Nguyên thời ấy mọi người rất tín phụng xá lợi, thường tranh giành nhau, thậm chí dấy động can qua. Vì thế, Ngài nhập diệt, lưu xá lợi trên không cho rơi đều xuống hai bên sông Hằng để ai cũng có cơ hội nhặt được xá lợi. A Xà Thế ngủ dậy, nghe báo tin, vội vã chạy đến sông Hằng, thấy Ngài đã nhập diệt, nghẹn ngào kêu khóc, cơ hồ muốn ngất xỉu, rồi đành lễ bái, thu thập xá lợi, trở về nước dựng tháp cúng dường.

 

j) La Hầu La

 

Còn phiên âm là La Vân, La Hỗ La, Hán dịch là Chấp Nhật hoặc Phú Chướng (ngăn che), hàm nghĩa:

- Chướng tự: đời quá khứ, La Hầu La làm một vị lão tăng tu hành, gần chỗ Ngài tu luyện có một cái hang chuột. Mỗi lúc vị lão tăng tịnh tọa, con chuột thường chạy ra, chạy vào lăng xăng khiến vị lão tăng không thể yên tâm tịnh tọa được. Bực quá, nhưng không thể phạm sát giới, Ngài bèn dùng tấm da dày bịt kín hang chuột, khiến chuột bị kẹt trong đó suốt sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, sợ chuột chết đói, Ngài lại dở tấm da ra cho chuột được ra ngoài như cũ nên đời này phải ở trong thai sáu năm mới sanh.

- Chướng Phật: Lúc Phật còn là Thái Tử, phụ vương chẳng chấp thuận cho Ngài đi xuất gia, Thái Tử bảo: “Nếu đạt được ba điều chẳng già, chẳng bệnh, chẳng chết, con sẽ không đi xuất gia”. Tịnh Phạn Vương không biết làm sao, bảo: “Nếu ngươi có con, ta sẽ cho ngươi đi xuất gia”. Tương truyền, Thái Tử từng lấy tay xoa bụng bà Da Du Đà La, ước nguyện: “Hãy chóng có con!” Bà Da Du liền cấn thai. Nhờ vậy, Thái Tử mới được xuất gia. Nhân vì Phật bị chướng ngại như thế chẳng sớm được xuất gia nên mới gọi là “chướng Phật”.

- Chướng mẫu: Sau khi Đức Phật xuất gia đã sáu năm rồi, Ngài La Hầu La mới được sanh ra, Tịnh Phạn Vương nghi ngờ bà Da Du đã lén làm điều bất chánh nên phẫn nộ toan giết chết. Da Du tự tin mình trong trắng, nhưng oan uổng khó phân, bèn xin được nhảy vào hầm lửa tự sát. Khi ấy, bà bồng con, ngửa mặt lên trời phát đại thệ: “Nếu tôi làm điều sai quấy, mẹ con tôi cùng bị lửa thiêu, chết chẳng hối. Nếu đúng là con Thái Tử, xin trời làm chứng”. Nói rồi, bồng con nhảy xuống hầm lửa. Thật là chẳng thể nghĩ bàn, lửa đỏ hóa thành sen hồng, lại có thiên nhân đỡ lấy thân bà Da Du, hai mẹ con không bị tổn hại gì. Khi ấy, Tịnh Phạn Vương và toàn dòng họ Thích chính mắt trông thấy việc ấy, nên mới tin là thực. Người trong nước cũng thôi xì xào. Vì thế, gọi là “chướng mẫu”.

Trong quá khứ, có hai vương tử, anh tên Nhật, em tên Nguyệt. Sau khi phụ vương băng hà, anh lên nối ngôi, sau nhàm chán vinh hoa, phú quý, nhường ngôi lại cho vương tử Nguyệt, theo Phật xuất gia, tinh trì cấm giới, không chút thiếu sót. Một ngày nọ, do đêm tối, dùng lộn tịnh bình của người khác, bèn đánh chuông nhóm Tăng sám hối. Chúng Tăng thấy lỗi ấy quá nhẹ nên chẳng chịu cho ông tác pháp sám tạ. Ông càng ưu sầu hơn nữa, bèn vào cung bẩm với Nguyệt vương, xin sám hối tội trộm cắp. Nguyệt vương chẳng muốn trái ý anh nên sai tả hữu giam anh vào một căn phòng. Khổ nỗi vua ham mê dục lạc, quên bẵng chuyện ấy, cả sáu tháng không xử đến. Kiếp này, Nguyệt vương thành Ngài La Hầu La, do tội báo trên, cảm quả phải ở trong thai sáu năm.

Theo Ngài Khuy Cơ, Thái Tử Tất Đạt Đa chỉ vào bụng vợ, vợ liền có mang, biểu thị đứa con sanh ra sẽ khác phàm chúng, là tướng linh dị đặc biệt. Sáu năm trong thai biểu thị sanh ra thể chất khác lạ. Quốc vương nghi báng, quần thần gièm pha, mẹ con gieo mình vào lửa không cháy, lửa đó hóa ao sen, vua tôi mới biết đức Thích Ca đã lìa nhiễm dục từ lâu, hiển thị La Hầu La ngầm tu mật hạnh.

Năm lên 9 tuổi, Phật sai Ngài Mục Liên về đón La Hầu La cho thí phát xuất gia làm sa di. Ngoài mặt, La Hầu La làm ra vẻ như một vị vương tử quen thói nuông chiều, bướng bỉnh, nhưng trong thì dụng công tinh tấn tu hạnh Bồ Tát không ai bằng, chứng đắc Tứ Quả rất sớm. Bởi thế, Ngài được ca ngợi là vị thánh tăng Mật Hạnh bậc nhất. Đức Phật từng tán thán: “Mật hạnh của La Hầu La chỉ mình đức Phật biết nổi, người khác chẳng biết được”.

 

k) Kiều Phạm Ba Đề:

 

Còn phiên là Cấp Phòng Bát Để, Hán dịch là Ngưu Ty (trâu nhơi) hoặc Ngưu Tướng. Do trong đời quá khứ, Ngài làm một tiểu sa di, nhân thấy một vị lão tăng không răng niệm Phật, tụng kinh, liền cười ghẹo là trông giống như trâu đang nhai cỏ. Lão tăng ấy đã chứng quả A La Hán, liền bảo sa-di phải chí tâm sám hối. Tuy lúc ấy, sa-di đã chí tâm sám hối, nhưng vẫn bị mắc quả báo làm trâu năm trăm đời. Dù phải làm thân trâu, nhưng nhờ sức trì giới, tu phước nên luôn làm trâu chúa. Nay tuy xuất gia chứng quả, dư báo vẫn chưa hết, miệng luôn nhai nhóp nhép như trâu nhơi nên mang tên ấy.

Đức Phật sợ đại chúng chỉ thấy tướng xấu ấy, không biết đến đức của Ngài mà khinh bỡn, cười ghẹo, phải mang lấy tội khiên, nên bảo tôn giả ngự trên cõi trời Đao Lợi, ở trong vườn Thi Lợi Sa tu tập Thiền Định, thọ sự kính phụng của chư Thiên. Vì vậy, trong các đại đệ tử của Phật, tôn giả Kiều Phạm Ba Đề là bậc Thọ Thiên Cúng bậc nhất.

Khi tôn giả Ca Diếp triệu tập thánh tăng kiết tập kinh điển lần thứ nhất, Ngài sai một A La Hán trẻ tuổi lên cung trời, thỉnh Ngài Kiều Phạm Ba Đề trở xuống nhân gian tham gia hội nghị kiết tập. Tôn giả nghe Đức Phật và Ngài Xá Lợi Phất đều đã nhập diệt, bèn hóa một dòng nước tuôn từ cõi trời chảy xuống hạ giới. Trong nước, vang ra tiếng nói: 

Kiều Phạm Ba Đề xin kính lễ,

Thập phương thánh chúng đại đức Tăng

Voi chúa đi rồi, voi con theo,

Thế Tôn nhập diệt, tôi cũng tịch.

Nói xong, liền bay lên hư không hiện thần thông, nhập Hỏa Quang tam muộitịch diệt. Xá lợi từ trên không rơi xuống, chư thiên nhặt lấy dựng tháp cúng dường.

 

l) Tân Đầu Lô Phả La Đọa:

 

Tân Đầu Lô dịch là Bất Động, Phả La Đọa dịch là Lợi Căn. Bất Động là tên, Lợi Căn là họ. Nhân vì có đến mười tám họ cùng tên Lợi Căn, nên lấy tên Ngài đặt trước họ để phân biệt. Tôn giả căn tánh thông lợi bậc nhất, chẳng bị ngoại cảnh lay động nên có tên Bất Động.

Luật Tỳ Nại Da chép:

“Trưởng giả Thọ Đề lấy cái bát bằng gỗ chiên đàn đặt trên đầu một cột phướn cao chót vót, thách mọi người rằng: ‘Ai dùng thần lực lấy được bát ấy thì sẽ dâng tặng’. Tôn giả liền hiện thần thông lấy được bát xuống. Ngài bị đức Phật quở trách, vì Phật đã cấm dùng thần thông bừa bãi để mê hoặc chúng sanh. Vì thế, Phật cấm tôn giả nhập diệt, phải lưu thân trong thế gian để thọ cúng dường hòng làm ruộng phước rộng lớn cho người, trời”.

Tôn giả tuân lời Phật răn, chẳng nhập Niết Bàn, hằng trụ tích trong núi Ma Lợi Chi; hễ ai thành kính thiết trai, tôn giả sẽ ngầm đến ứng cúng. Vì thế, trong các đệ tử Phật, tôn giả Tân Đầu Lô Phả La Đọa là bậc Phước Điền đệ nhất. 

Trong bộ tượng 18 La Hán thờ tại các chùa miếu lớn, Ngài Tân Đầu Lô thường được tạc thành hình một vị lão tăng rất gầy, lông mày bạc trắng dài rủ xuống quá đầu gối. Tương truyền, thời Ngũ Đại, Ngô Việt Vương Tiền Lưu tin Phật pháp rất mực, thiết trai ngàn vị Tăng, để trống ghế ở vị trí chủ tọa để đợi hàng thánh giả giáng hạ. Quả nhiên Ngài Tân Đầu Lô tóc bạc mày dài từ trên hư không hạ xuống, thọ cúng dường.

Theo Luật Tứ Phần, Ngài Tân Đầu Lô Phả La Đọa vốn là đại thần của vua Ưu Điền nước Câu Diễm Di. Vị này sớm đã quy y với Đức Phật, làm vị tại gia đệ tử từ lâu. Vua Ưu Điền rất tín phụng Phật pháp nên đồng ý cho Ngài Tân Đầu Lô xuất gia. Lúc tiễn đưa, vua quỳ gối thỉnh tôn giả hãy chuyên tâm nhất ý tu hành. Không lâu sau, Ngài đã chứng đắc quả A La Hán.

Vua Ưu Điền càng thêm kính trọng tôn giả, thường lui tới cúng dường. Ngài Tân Đầu Lô theo đúng pháp nhà Phật, không ra nghênh đón, cũng không hoàn lễ, cũng không tiếp đãi, mời mọc các quan theo hầu vua. Họ bèn dùng lời lẽ gièm xiểm, bảo tôn giả là hạng chẳng biết đến quân thần, xui vua tìm cách giết đi. Vua tín tâm chưa triệt để nên cũng ôm lòng căm tức.

Một ngày nọ, vua lại thống lãnh quần thần đến tham bái tôn giả. Tôn giả nhảy xuống khỏi thiền sàng, cười toe toét tiếp đón vua. Vua càng bực bội hỏi tôn giả: “Đại đức vốn khó động, sao hôm nay lại ra nghênh đón ta vậy?” Tôn giả bảo: “Trong quá khứ, hoàng thượng do tín tâm mà đến, nên tôi dùng lễ nghi nhà Phật tiếp đón. Hôm nay vua ôm lòng ác tìm đến. Nếu tôi chẳng tiếp đón, vua ắt sẽ giết tôi, khiến vua tội ác càng tăng vậy”. Vua Ưu Điền thẹn thùng, kinh ngạc, bèn thưa: “Lành thay! Đệ tử ngu độn, lầm nhận lời tiểu nhân, chẳng biết phàm thánh. Kính xin tôn giả cho con được sám hối!”

Tôn giả đáp: “Lành thay! Vua thoát khỏi tội địa ngục, nhưng nỗi khổ mất nước thật khó tránh khỏi!” Quả nhiên, ít lâu sau, vua cùng lân quốc giao tranh bị thất bại, thân bị giặc bắt cầm tù cả mười hai năm.

 

m) Ca Lưu Đà Di:

 

Hán dịch là Hắc Quang hoặc Hắc Diệu do thân hình Ngài thô đen, mặt đen ngòm, nhưng thường tỏa ánh sáng chiếu sáng trong đêm tối. Đó là do quả báo thuở xưa để mình trần thắp đèn trước tượng Phật mà ra. Do để mình trần nên thân thô đen; do thắp đèn cúng nên thân có ánh sáng.

Tôn giả thân đen đúa, có ánh sáng, đi đêm không cần thắp đèn, khiến ai gặp phải cũng kinh hãi. Nhân tôn giả tướng trạng quái lạ, nhiều người sợ không dám cúng dường nên thường không đủ no. Có lần, tôn giả đến một nhà nọ khất thực vào buổi tối. Người con dâu đang mang thai mang cơm rau ra cúng dường. Lúc ánh chớp vừa lóe lên, thấy hình trạng tôn giả đen đúa, to thô lại tỏa sáng, cô ta sợ quá tưởng gặp quỷ, ngã lăn ra ngất xỉu, đến nỗi bị sẩy thai. Vì lẽ đó, Phật cấm các đệ tử không được đi đêm.

Tôn giảsứ giả của Phật, rất khéo giáo hóa, nên Ngài Ca Lưu Đà Di được xưng tụng là bậc Giáo Hóa đệ nhất.

 

n) Ma Ha Kiếp Tân Na

 

Hán dịch là Phòng Tú (sao Phòng). Phòng là ngôi sao thứ tư trong Nhị Thập Bát Tú (Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm...) Cha mẹ Ngài cầu con nơi sao ấy nên đặt tên như vậy. Ngài cũng thông hiểu thiên văn bậc nhất nên được xưng tụng là bậc Tri Tinh Tú đệ nhất.

Có thuyết nói: khi chưa xuất gia, Ngài đi đường gặp mưa phải đụt mưa trong nhà người thợ gốm. Đức Phật biết tôn giả căn cơ đã thuần thục, bèn hóa thành một vị Tăng đến xin ngủ nhờ. Đêm ấy Phật vì tôn giả thuyết pháp, tôn giả bèn xin theo Phật xuất gia, chứng quả La Hán. Nhân vì ngủ đêm tại nhà người thợ gốm, gặp Phật nhập đạo, nên gọi tên là Phòng Tú (Tú còn có nghĩa là ngủ đêm).

 

o) Bạc Câu La:

 

Hán dịch là Thiện Dung. Tôn giả vẻ mặt nghiêm túc, đoan chánh, do bố thí mà được quả báo như thế. Trong Bạc Câu La Kinh, Ngài từng nói: “Ta từ lúc vào trong Chánh Pháp học đạo đến nay, suốt tám mươi năm chưa từng mắc bệnh gì dù chỉ là bị nhức đầu trong khoảng khảy ngón tay. Chưa từng bao giờ nghĩ đến uống thuốc, dù chỉ là dùng một miếng quả Ha Lê Lặc”. Trong thời Tỳ Bà Thi Phật, Ngài làm một người nghèo, cúng một quả Ha Lê Lặc cho vị Tăng đang bị nhức đầu hành hạ khiến bệnh được lành, nên cảm được quả báo ngũ bất tử. Ngũ bất tử là:

Lúc sơ sinh hiện ra hình tướng quái lạ là một khối thịt. Cha mẹ kinh hãi cho là quái vật bèn bỏ vào nồi rang cho chết, vẫn không sao. Lại bỏ vào nồi luộc lên vẫn không chết. Lại quăng xuống nước cho chết ngộp vẫn không chết. Lại bị cá nuốt vào bụng vẫn không chết. Khi con cá ấy bị bắt, đem mổ bụng cá, đứa bé hiện ra, chẳng bị dao cắt phải. Đó là ngũ bất tử. Ông chài bèn nuôi Ngài đến khi khôn lớn, theo Phật xuất gia.

Trong quá khứ, Ngài làm một vị tỳ kheo, từng phát nguyện: chẳng nhìn mặt nữ nhân, chẳng nhận y do nữ nhân may, chẳng nhận cơm từ tay nữ nhân. Mẹ Ngài nhớ con tha thiết, bèn vào chùa thăm. Vị tăng chẳng vui, sai người đưa mẹ ra khỏi chùa. Bà mẹ căm tức, cho là đứa con phạm tội ngũ nghịch, bèn phát ác nguyện: “Nguyện đời sau tôi làm mẹ nó hành hạ đủ thứ”. Quả nhiên, ứng vào lời nguyện này, Ngài bị năm thứ hành hạ khổ sở.

Tôn giả Bạc Câu La là bậc thiểu dục tri túc. Nơi tháp tự nhiên vọt ra một đồng tiền, Ngài chẳng đoái hoài. Thân không bao giờ khoác y dày, thế mà không bao giờ bệnh tật. Lại do quá khứ Ngài nghiêm trì giới bất sát nên cảm được chín mươi mốt kiếp trường thọ. Trong đời này, Ngài thọ được 160 tuổi. Trong các đệ tử Phật, Ngài được xưng tụng là bậc Thọ Mạng đệ nhất.

 

p) A Nậu Lâu Đà:

 

Còn phiên là A Na Luật Đà, A Nê Luật, A Nê Lâu Đậu, Hán dịch là Vô Bần, Như Ý hay Vô Diệt. Do trong đời quá khứ, vào lúc đói kém nặng nề, Ngài dâng bát cơm nấu bằng hột cỏ Bại (một thứ cỏ, hột gần giống hột Cao Lương) cúng dường một vị Bích Chi Phật tên là Phi Lật Tra nên cảm được quả báo bảy lần sanh lên trời làm thiên vương, bảy lần sanh trong nhân gian làm đế vương. Tiếp đó, trong kiếp nào cũng được sở cầu như ý, của cải không bao giờ thiếu thốn. Trong suốt cả chín mươi mốt kiếp chẳng bao giờ phải chịu cảnh nghèo cùng nên có tên là Vô Bần.

Tôn giả Vô Bần là em họ của Phật, tánh ham ngủ. Mỗi khi nghe Phật thuyết pháp, Ngài thường hôn trầm ngủ gật. Đức Phật muốn cảnh tỉnh nên quở trách nặng nề:

Ô hay sao lại ngủ?

Giống ốc, hến, trai, nghêu

Ngủ một giấc ngàn năm,

Chẳng nghe danh hiệu Phật!

Tôn giả bị quở trách liền phát phẫn, tinh tấn, suốt cả bảy ngày đêm tinh tấn, mắt chẳng tạm nhắm, nên mù cả hai mắt. Đức Phật từ bi dạy Ngài tu tập pháp Nhạo Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam Muội. Chẳng bao lâu tôn giả chứng đắc Thiên Nhãn Thông, xem cõi tam thiên đại thiên thế giới rõ ràng như trái Am Ma La đang đặt trong lòng bàn tay (Am Ma La là một thứ trái ở Ấn Độ, dịch nghĩa là Vô Cấu Thanh Tịnh, hình dáng từa tựa trái cau, ăn vào trừ được chứng phong lãnh, người Ấn Độ thích cầm trái này trong tay).

Lại nữa, trong quá khứ, Ngài từng làm một người thợ săn toan trộm viên ngọc gắn trên bạch hào của tượng Phật. Người thợ săn dùng mũi tên khêu đèn cho cháy sáng hơn, nhưng chợt thấy tướng hảo của Phật, bèn phát tâm thù thắng, vứt bỏ cung tên, thề chẳng hại mạng. Do sức thiện căn khêu đèn ấy nên nay đắc Thiên Nhãn Thông.

Ngài được xưng tụng là bậc Thiên Nhãn đệ nhất. 

 

1.3.1.4. Tiểu kết:

 

Chánh kinh:

 

Như thị đẳng chư đại đệ tử.

(Mười sáu vị tôn giả và mỗi mỗi vị trong số 1250 vị tỳ kheo không nêu rõ tên đều là đại đệ tử của Phật)

 

Giải:

Chữ “như thị” chỉ mười sáu vị tôn giả vừa được nêu tên ở phần trên. Chữ “đẳng” chỉ những vị còn lại. “Chư” nghĩa là chẳng phải một.

“Đại” ý nói các vị này bổn nguyện lớn, phát đại tâm, thần thông lớn lao, tu hành lớn lao, chứng quả lớn lao. Đúng như kinh Pháp Hoa chép:

“Đạo Bồ Tát tu hành,

Do khéo học phương tiện,

Chẳng thể nghĩ bàn nổi.

Biết chúng ưa tiểu pháp,

Lòng sợ hãi đại trí,

Vì thế, các Bồ Tát,

Làm Thanh Văn, Duyên Giác,

Hóa hiệntam độc,

Lại hiện tướng tà kiến,

Đệ tử ta thế đó:

Phương tiện độ chúng sanh”.

Cũng như lời nguyện dũng mãnh của tôn giả A Nan trong kinh Lăng Nghiêm:

Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập,

Chung bất ư thử thủ Nê Hoàn

(Đời ác ngũ trược con thề sanh vào đó trước hết, ở trong đấy vĩnh viễn chẳng nhập Niết Bàn).

“Đệ tử”: học vấn kém hơn thầy là Đệ, kiến giải do thầy phát sanh nên gọi là Tử. Dùng ý anh em, cha con trước sau để biểu thị ý tiên giác, hậu giác. Hết thảy trí huệ, đạo pháp đều do Phật chỉ bày, nuôi dưỡng nên coi Phật như cha. Làm đệ tử Phật tức là nguyện làm người tiếp nối dòng Phật. Những vị A La Hán đây “nội bí Bồ Tát hạnh, ngoại hiện Thanh Văn thân” (trong ngầm tu hạnh Bồ Tát, ngoài hiện tướng Thanh Văn), chẳng phải là hạng căn cơ nhỏ kém, số lượng chẳng phải là chỉ có một hai vị, cho nên kinh mới chép: “Chư đại đệ tử”.

 

1.3.2. Chư Bồ Tát chúng

1.3.2.1. Minh loại (nêu rõ thứ loại)

 

Chánh kinh:

 

Tinh chư Bồ Tát Ma Ha Tát.

(cùng các vị Bồ Tát Ma Ha Tát)

 

Giải:

Chữ Tinh có nghĩa là “cùng với”, ý nói: ngoài các vị Thanh Văn tham dự pháp hội, còn có các Bồ Tát cũng cùng đến nghe pháp.

“Bồ Tát”: nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa, dịch là Giác Hữu Tình. Giác là giác ngộ, Hữu Tình là tiếng để gọi chung lục đạo chúng sanh. Bất cứ loại sanh mạng nào có tri giác, tình cảm, ý thức, có sự hoạt động tinh thần đều gọi là “hữu tình”. Sở chứng giống như Phật nên gọi là Giác. Vô minh chưa đoạn trừ sạch nên gọi là Hữu Tình.

Nếu xét trên phương diện tự lợilợi tha thì:

- Bản thân mình là chúng sanh đã chứng được giác đạo, đó là tự lợi.

- Đem giác đạo mình đã chứng ấy để giác ngộ hết thảy chúng sanh, đó là lợi tha.

- Thượng cầu Phật đạo (Phật là Giác), hạ hóa chúng sanh (chúng sanhhữu tình). Đó là tự lợi lẫn lợi tha.

Bồ Tát đã chứng được một phần giác ngộ của Như Lai, nhưng vẫn còn một phần vô minh chưa sạch. Nghĩa là trong tám thức điền của bậc Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phần sanh tướng vô minh chưa phá được, đối với Trung Đạo hãy còn một phần chưa chứng ngộ trọn vẹn, vì thế gọi là Giác Hữu Tình.

Lại nữa, Bồ Tát bi trí song vận, tự tha kiêm lợi, dùng trí để trên cầu sự giác ngộ của Phật đạo, dưới dùng lòng bi để hóa độ hết thảy chúng sanh. Cầu chứng Phật đạotự lợi, hóa độ hữu tìnhlợi tha.

Bồ Tát là bậc trọn đại từ bi, hàng Thanh Văn, Độc Giác chỉ riêng cầu sự an lạc giác ngộ cho chính mình nên không thể nào sánh bằng Bồ Tát. Bồ Tát coi hết thảy chúng sanh trong đại địa như con đỏ, coi nỗi khổ của chúng sanh là nỗi khổ của chính mình, bình đẳng tế độ, chẳng phân biệt là ta hay người, chẳng lựa thân sơ, phổ nguyện hết thảy chúng sanh đều được thoát khổ, cùng được giải thoát, nên thường y theo Tứ Thánh Đế để phát nguyện. Tu trọn Lục Độ vạn hạnh để chứng thành Phật quả.

 

“Ma Ha Tát”: Ma Ha là Đại, Tát tức là Bồ Tát. Nói cách khác, Ma Ha Tát là các vị đại Bồ Tát, chẳng phải là hàng tiểu Bồ Tát thuộc Quyền Giáo Tiểu Thừa, mà là hàng đại Bồ Tát trong Thật Giáo đã phá vô minh, thấy được Pháp Thân. Hơn nữa, các Ngài là những vị đại căn cơ, có đại trí, tin đại pháp, thấu hiểu đại lý, tu đại hạnh, trải bao đại kiếp, chứng đại quả. Phải đủ cả bảy điều như thế mới đáng gọi là Đại Bồ Tát.

Hai chữ Bồ Tát đôi khi còn dịch là Đại Đạo Tâm Chúng Sanh, nghĩa là bậc phát đại tâm Bồ Đề, cứu độ chúng sanh.

 

1.3.2.2. Tiêu danh (nêu tên)

 

Chánh kinh:

 

Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát.

 

Giải:

a) “Văn Thù Sư Lợi”:

 

Đôi khi còn phiên là Mạn Thù Thất Lợi, dịch nghĩa là Diệu Đức vì Ngài đã chứng tam đức (Pháp Thân đức, Bát Nhã đức, Giải Thoát đức) vi diệu giống như Phật, từng làm thầy của bảy đức Phật. Chư kinh còn xưng tụng Ngài là “Chư Phật chi mẫu”, hàm ý: từ trí huệ thanh tịnh chứng đắc diệu quả. Hoặc còn dịch là Diệu Thủ vì trong các hàng đại Bồ Tát, Ngài được xưng tụngđức hạnh bậc nhất.

Văn Thù Sư Lợi còn được dịch là Diệu Cát Tường: Trong ba thứ hoặc (Kiến hoặc, Tư hoặc, Trần Sa hoặc) và hai thứ sanh tử (phần đoạn và biến dịch), nếu đoạn được một phần phiền não hoặc dứt được một phần sanh tử, chứng được một phần Pháp Thân thì được gọi là Cát Tường, nhưng chưa thể gọi là Diệu. Nhưng vị Bồ Tát đây đã dứt trọn vẹn tam hoặc, vĩnh viễn xóa sạch hai thứ sanh tử, thành tựu trọn vẹn ba đức, nên hiệu là Diệu Cát Tường.

Thêm nữa, những ai trông thấy hình tướng của Ngài, nghe danh hiệu Ngài, đều phát Bồ Đề tâm, vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ luân hồi, thật là tốt lành chẳng thể nghĩ bàn, nên Ngài hiệu là Diệu Cát Tường.

Hơn nữa, lúc Bồ Tát này đản sanh, có mười thứ điềm tốt lành xuất hiện:

- Quang minh đầy nhà.

- Cam lộ ngập sân.

- Mặt đất phun lên thất bảo.

- Thần nhân mở toang kho tàng.

- Gà đẻ ra chim phượng con.

- Heo sanh ra heo con có tướng rồng.

- Ngựa đẻ ra kỳ lân.

- Trâu sanh ra bạch trạch (bạch trạch là một con vật tượng trưng cho điềm lành).

- Thực phẩm biến thành hạt vàng.

- Voi mọc sáu ngà.

Kinh Bi Hoa thuật bổn nhân của Bồ Tát như sau: “Đối trước Bảo Tạng Phật phát hoằng thệ nguyện, được Phật thọ ký hiệu là Văn Thù”.

Nếu luận về bổn quả, theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, trong quá khứ Ngài đã thành Phật hiệu là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Theo kinh Ương Quật Ma La, trong kiếp hiện tại, Ngài thành Phật trong thế giới Hoan Hỷ ở phương Bắc, hiệu là Hoan Hỷ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật. Nghe được danh hiệu này trừ diệt được bốn trọng tội. Theo kinh Bi Hoa và pháp hội Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký trong kinh Bảo Tích, Ngài sẽ thành Phật trong thế giới Ly Cấu ở phương Nam, hiệu là Phổ Hiện Như Lai. Ai nghe được danh hiệu này sẽ tiêu diệt được tội Ngũ Vô Gián.

Nay vì hỗ trợ sự nghiệp độ sanh của đức Thích Ca Mâu Ni Phật nên thị hiện làm Bồ Tát. Chứ thật ra Ngài đã thành Phật từ lâu, nên mới có thể chứng trọn vẹn ba đức, đoạn trừ viên mãn ba Hoặc và hai thứ sanh tử.

 

“Pháp vương tử”: Nghĩa đen là con đấng Pháp Vương. Đây là một mỹ hiệu của các đại Bồ Tát. Pháp Vương tức là Đức Phật. Vương có nghĩa là người đứng đầu không ai hơn. Đức Phật là đấng thuyết pháp khắp thế gian, xuất thế gian không ai hơn nên được gọi là Pháp Vương.

Vương còn có nghĩa là Tự Tại. Kinh chép: “Ta là pháp vương, tự tại trong các pháp”. Chỉ mình Phật được gọi là Pháp Vương. Chữ “Tử” (con) chỉ Bồ Tát. Theo Phật Địa Luận: “Từ miệng Chánh Pháp của Phật sanh ra, tiếp nối thân Phật chẳng đoạn tuyệt, nên gọi là Pháp Vương Tử”. 

Hơn nữa, Tử có hai nghĩa:

- Sở sanh (được sanh bởi): trí huệ, đạo quả của Bồ Tát được phát sanh bởi Đức Phật. Kinh chép: “Từ Phật hóa sanh, sanh ra từ miệng Phật”.

- Kế thừa: công nghiệp cha sáng lập, con kế thừa, phát triển. Hết thảy Bồ Táttrách nhiệm gánh vác Chánh Pháp của Như Lai, kế thừa gia nghiệp của Đức Phật. Sự nghiệp của Phật chính là sự nghiệp thuyết pháp độ sanh.

Bồ Tát địa vị gần với Diệu Giác giống như con trưởng của Phật, khác nào hoàng thái tử sẽ kế vị ngôi vua nên gọi là Pháp Vương Tử. Theo Kinh Khê đại sư: “Trong các vị pháp vương tử, Ngài Văn Thù đức cao tột nên các kinh đều gọi Ngài là Thượng Thủ”.

Hơn nữa, bản thân Ngài đã là Phật, thị hiện thân Bồ Tát độ sanh, như vậy là “bổn tích xứng hợp”, nên gọi là Pháp Vương Tử.

Trong kinh Hoa Nghiêm Ngài là Căn Bản Sư; trong kinh Pháp Hoa, Ngài là Chư Phật Sư, trong kinh Lăng Nghiêm Ngài là Trạch Pháp Sư (vị thầy chọn lựa pháp cho tứ chúng tu tập), trong kinh này Ngài là Ảnh Hưởng Chúng (thánh chúng tham dự pháp hội để chứng tín, tạo ảnh hưởng, khiến cho pháp môn này được hoằng truyền rộng rãi). Ngài là bậc Trí Huệ đệ nhất trong hàng đại Bồ Tát.

Không phải ngẫu nhiên hai vị Xá Lợi PhấtVăn Thù được nêu đầu tiên trong hàng thính chúng. Pháp môn trì danh niệm Phật này rất khó tin, khó lãnh hội. Nếu chẳng phải là bậc đại trí huệ thì chẳng thể nào tín ngưỡng, tuân hành nổi.

 

b) A Dật Đa Bồ Tát:

 

Tức là Di Lặc Bồ Tát, lẽ ra phải gọi đủ là A Dật Đa Di Đa La Bồ Tát. A Dật Đa là tên, Di Lặc là họ. Di Lặc dịch là Từ Thị (họ Từ), A Dật Đa dịch là Vô Năng Thắng (không ai thắng nổi, không ai hơn). Tuy vậy, có thuyết nói A Dật Đa là họ, Từ Thị mới là tên.

Quá khứ, Bồ Tát được gặp Đại Từ Như Lai, phát tâm xuất gia, chứng đắc Từ Tâm tam muội, nên được hiệu là Từ Thị. Cho đến khi thành Phật, Ngài vẫn dùng danh hiệu này.

Lại nữa, trong quá khứ, Ngài từng làm vua từng làm vị quốc vương từ ái tên là Đàm Ma Lưu Chi, từ tâm cứu thế, nên được dân chúng tôn xưng là Từ Thị. Từ đấy đến nay, Ngài thường được gọi là Từ Thị.

Ngoài ra, trong quá khứ, Ngài từng làm một vị Bà La Môn, tên là Nhất Thiết Trí, trong tám ngàn năm tu tập hạnh Từ.

Trong đời Phật Phất Sa, Ngài cùng đức Thích Ca cùng phát Bồ Đề tâm, thường tu tập Từ định.

Theo kinh Bi Hoa, Từ Thị Bồ Tát phát nguyện trong kiếp đao binh thường ủng hộ chúng sanh, đấy là lòng Từ tột bực của Bồ Tát, không ai hơn được nổi, nên Ngài hiệu là Vô Năng Thắng.

Trong đời hiện tại, khi Ngài sanh ra đã có đủ ba mươi tướng đại trượng phu, thân như vàng tía, phong thái đoan nghiêm. Bà mẹ Ngài tánh tình nóng nảy, cáu kỉnh, nhưng từ khi mang thai Ngài trở nên từ tâm lợi vật, từ ái khoan hòa. Thầy bói bảo: “Đấy là nhờ đức của đứa con”. Vì thế, Ngài được đặt tên là Di Lặc. Hiện Di Lặc Bồ Tát đang ở trong nội viện trên cung trời Đâu Suất, làm một vị Bổ Xứ Bồ Tát, trong tương lai sẽ kế vị đức Phật Thích Ca Mâu Ni, làm vị Phật thứ năm trong ngàn Đức Phật của Hiền kiếp.

Hiện tại nay Đức Phật Thích Ca thành Phật khi tuổi thọ con người trăm tuổi. Cứ một trăm năm, con người giảm một tuổi thọ, giảm như thế cho đến khi con người chỉ còn thọ 10 tuổi. Nhân loại khi đó tánh tình cực ác, dù nhánh cây hay cọng cỏ lọt vào tay đều thành vũ khí giết hại nhau. Do quá cực khổ, con người bèn hướng thiện, nên tuổi thọ lại tăng dần. Cứ một trăm năm, tuổi thọ lại tăng thêm một năm.

Tăng đến khi con người thọ được tám vạn năm, Ngài sẽ hạ sanh trong nhân gian, thành đạo dưới cội cây Long Hoa trong vườn Long Hoa (Cây ấy có hình dáng như rồng cuộn, khi đức Thế Tôn thành đạo, cây mới trổ hoa nên gọi là Long Hoa). Sáng ngồi đạo tràng, tối đã thành Phật; ba lượt chuyển pháp luân, độ chúng sanh khắp ba căn nên gọi là “Long Hoa tam hội”. Những người đã từng gieo căn lành sâu dày trong pháp của Đức Phật Thích Ca mới được dự các hội thuyết pháp ấy.

 Tương truyền, thời Lương Võ Đế, Ngài từng hóa hiện làm Phó Đại Sĩ, được hoàng đế tôn kính tột bậc. Vào thời Ngũ Đại, Ngài từng thị hiện ở huyện Phụng Hóa tỉnh Triết Giang, xước hiệu là Bố Đại hòa thượng (hòa thượng túi vải), tai to, bụng lớn, tay cầm chiếc túi vải, gặp ai cũng khuyến hóa, xin được thứ gì đều bỏ trong chiếc túi vải. Ngài thường ngâm:

Phi thị tắng ái thế thiên đa,

Tồn tế tư lương nại ngã hà?

Khoan khước đỗ bì tu nhẫn nhục,

Hoát khai tâm địa nhậm tùng tha

(Nào phải người đời lắm ghét ưa,

Nghĩ suy cho kỹ Ngã đâu là?

Chiếc bụng to đùng nên nhẫn nhục,

Rỗng rang tâm địa bởi đâu mà!)

 

Lại nói:

Di Lặc, chân Di Lặc,

Phân thân thiên bách ức,

Thời thời thị chư nhân,

Thời nhân tự bất thức.

(Di Lặc, chân Di Lặc,

Phân thân ngàn trăm ức,

Luôn luôn dạy mọi người,

Mà ai nào hay biết)

 Như vậy, Ngài Di Lặc thường thị hiện trong thế gian độ sanhphàm phu nhục nhãn chẳng nhận biết được Ngài.

 

c) Càn Đà Ha Đề Bồ Tát:

 

Dịch là Bất Hưu Tức (chẳng thôi nghỉ). Phật đạo sâu xa, chẳng phải là hàng tiểu căn, tiểu hạnhthể đạt đến mục đích nổi, mà phải là hạng bao kiếp siêng năng, gắng công chẳng ngừng, chẳng nghỉ mới có thể thượng thành Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.

Vị Bồ Tát này thường tu vạn hạnh, rộng độ chúng sanh, trải hằng hà sa kiếp chưa từng ngừng nghỉ. Kinh Tư Ích chép: “Lấy hằng hà sa kiếp làm một ngày, lấy 30 ngày làm một tháng, lấy mười hai tháng làm một năm, qua một trăm mười vạn ức kiếp mới được gặp gỡ một Đức Phật. Gặp gỡ hằng hà sa Đức Phật như thế, hành các phạm hạnh, tu tập các công đức, sau đó mới được thọ ký, tâm chẳng ngơi nghỉ nên hiệu là Càn Đà Ha Đề”.

 

d) Thường Tinh Tấn Bồ Tát:

 

Thường là thường hằng (chẳng gián đoạn), Tinh là tinh cần (siêng năng, chuyên ròng), Tấn là tiến lên. Thuần nhất chẳng tạp là Tinh, hướng đến trước chẳng lui sụt là Tấn, rốt ráo tinh tấn. Vị Bồ Tát này bao kiếp tu phạm hạnh phổ độ chúng sanh, một dạ tấn tu chẳng thay đổi, nên gọi là Thường Tinh Tấn.

Kinh Đại Bảo Tích chép: “Vị Bồ Tát này vì một chúng sanh trải qua vô lượng kiếp khuyến hóa chẳng bỏ. Nếu như người ấy vẫn chưa lãnh thọ sự giáo hóa thì chưa từng có một niệm buông bỏ người ấy”.

 

Các vị Bồ Tát tham dự pháp hội rất đông, vì sao chỉ nêu tên bốn vị Bồ Tát này? Ấy là do pháp môn Tịnh Độpháp môn chẳng thể nghĩ bàn, không là bậc đại trí không thể nào lãnh ngộ nổi, nên nêu tên Bồ Tát Văn Thù đầu tiên (Văn ThùThật Trí, Xá Lợi PhấtQuyền Trí). Pháp môn Niệm Phật này là pháp yếu để độ sanh, cần phải được lưu truyền rộng rãi trong muôn kiếp. Thế nên, Di Lặc Bồ Tát đương lai hạ sanh cũng tham dự pháp hội này để trong tương lai, nơi Long Hoa tam hội, sẽ lại trùng tuyên pháp yếu để pháp này được lưu truyền vô tận.

Pháp môn Trì Danh này chẳng có yếu quyết nào khác ngoài việc buông xuống vạn duyên, giữ mỗi một niệm chấp trì danh hiệu, trong mười hai thời thường siêng tinh tấn, trọn chẳng ngưng nghỉ, thì tự nhiên công phu sẽ được thuần thục, lâm chung quyết định vãng sanh. Vì thế, nêu tên hai vị Bất Hưu Tức, Thường Tinh Tấn.

Các vị đại sĩ đã đạt địa vị Đẳng Giác hoặc Diệu Giác như thế còn thân cận Phật A Di Đà, hâm mộ pháp môn Tịnh Độ; cớ sao bọn phàm phu chúng ta lại dám chê bỏ, lộng ngôn là pháp dành cho kẻ căn cơ hạ liệt, ngu phu ngu phụ thực hành, múa mép khua lưỡi bài xích để đến nỗi rước lấy tội ương, hoặc chẳng chịu phát nguyện, thọ trì, đánh mất lợi ích lớn? Đáng tiếc quá lẽ!

Nếu xét về Lý, Diệu Thủ (Văn Thù) chính là Tín, Tín làm đầu trong vạn hạnh (Tín phát xuất từ Trí, chứ không phải là lòng tin mù quáng, mê muội). Kinh Hoa Nghiêm chép: “Tín là nguồn đạo, là mẹ công đức”. Cầu sanh Tịnh Độ ắt phải lấy Tín làm đầu. Từ Thị tượng trưng cho Nguyện, nguyện trong kiếp đao binh luôn ủng hộ chúng sanh. Thường Tinh Tấn và Bất Hưu Tức tượng trưng cho Hạnh. Tinh là chẳng tạp, tức là “nhất tâm bất loạn”, một dạ trì danh chẳng tạp tu các pháp môn khác. Tấn là chẳng lui sụt, tức là “bất thoái chuyển”. Bất Hưu TứcThường Tinh Tấn ý nghĩa tương đồng. 

 

1.3.2.3. Tiểu kết

 

Chánh kinh:

 

Dữ như thị đẳng chư đại Bồ Tát.

(Cùng với các vị đại Bồ Tát giống như thế đó).

 

Giải:

“Dữ” là cùng với. Hai chữ “như thị” chỉ bốn vị Bồ Tát vừa nêu trên.Ngoài những vị ấy ra còn có vô lượng những vị Bồ Tát khác dự hội nhưng chẳng nêu tên, nên dùng chữ “đẳng”.

 

1.4. Thiên nhân chúng (đại chúng trời, người)

 

Chánh kinh:

 

Cập Thích Đề Hoàn Nhân đẳng vô lượng chư thiên đại chúng câu.

(Cùng với Thích Đề Hoàn Nhân, vô lượng chư thiên đại chúng cùng tụ họp).

 

Giải:

Đoạn kinh này minh thị ngoài hai chúng Thanh VănBồ Tát, còn có vô lượng hết thảy đại chúng trời, người cùng đến dự hội, biểu thị pháp môn Tịnh Độ quảng đại viên mãn, không căn cơ nào chẳng được thâu nhiếp.

“Thích Đề Hoàn Nhân”: gọi đủ theo tiếng Phạn là Thích Ca Đề Bà Nhân Đạt La, Hán dịch là Năng Thiên Chủ hoặc Năng Vi Chủ. Thích Ca là họ, Đề Bà là trời (Đề Bà đôi khi phiên âm thành Đề Hoàn), Nhân Đạt La là chúa, là đế vương.

Ông này là vua cõi trời Đao Lợi, thường gọi tắt là Đế Thích. Trời Đao Lợi thường dịch là Tam Thập Tam thiên, tức là tầng trời thứ hai trong sáu cõi trời trong Dục Giới. Cõi trời này nằm ngay trên đảnh núi Tu Di, rộng tám vạn do tuần, chính giữa là thành Thiện Kiến, là chỗ đặt cung điện của Đế Thích (thường gọi là Thiện Pháp Đường thiên). Bốn phía, bốn góc mỗi nơi có bốn vị trời. Bốn lần tám thành ba mươi hai, cộng chung với vua Đế Thích thành 33 vị trời nên gọi là Tam Thập Tam Thiên.

Trong quá khứ, trong thời Phật Ca Diếp, Đế Thích là một vị bần nữ, thấy tháp Phật Ca Diếp hư nát bèn phát tâm tu bổ tháp tượng cho thật cao rộng trang nghiêm, dốc sạch của cải để tận lực kiến tạo, vẫn chưa đủ. Bà bèn khuyến hóa 32 người khác cùng phát tâm hỗ trợ. Do bởi thắng phước ấy, đạt được quả báo thù thắng, sanh làm Đao Lợi thiên chúa, 32 người kia làm thiên chúa trong ba mươi hai cõi trời phụ.

Trong tương lai, Đế Thích sẽ thành Phật hiệu là Vô Trước Tôn Như Lai.

 

“Đẳng”: dưới thì tính đến chư thiên trời Tứ Thiên Vương, trên thì tính đến chư thiên các tầng trời Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại v.v... Thậm chí các vị trời ở Sắc Giới thiên, Vô Sắc Giới thiên, cùng tất cả chư thiên trong các thế giới khác nhiều như vi trần trong mười phương. Số lượng quá nhiều nên bảo là “vô lượng chư thiên”.

Cần lưu ý: trong Phật giáo, Thiên (trời) chỉ là một trong sáu loại chúng sanh, có nhiều phước báo, tự nhiên hóa sanh, không cần cha mẹ sanh dưỡng, có sanh mạng, thọ mạng dài lâu nhưng có hạn định nhất định, còn lệ thuộc trong sanh tử luân hồi.

 

“Đại chúng” là chữ để phiếm chỉ: Từ những hạng thính chúng như trên đã kể: đại tỳ kheo tăng, đại Bồ Tát, vô lượng chư thiên cho đến tứ chúng, trời, rồng tám bộ trong mười phương.

Thanh Văn chúng thường theo hầu Phật nên được nêu trước, Bồ Tát chúng thực hành Trung Đạo nên nêu ở giữa, chư thiênngoại hộ của Phật còn thuộc về địa vị phàm phu nên kể sau cùng.

Hơn nữa, nêu trước Thanh Văn rồi đến Bồ Tát là để đối ứng giữa Tiểu ThừaĐại Thừa. La Hán, Bồ Tátchư thiên đại chúng là nêu sự đối ứng giữa thánh và phàm. Hai điều này biểu thị pháp môn Tịnh Độ nhiếp thọ trọn ba căn, không sót một ai.

 Phần Ba

1. BIỆT TỰ (Phát khởi tự)

 

Chánh kinh:

 

Nhĩ thời Phật cáo trưởng lão Xá Lợi Phất: “Tùng thị Tây Phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc. Kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp”.

(Lúc bấy giờ, Phật bảo trưởng lão Xá Lợi Phất:

- Từ đây [đi về] phương Tây qua khỏi mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Cõi ấy có một vị Phật hiệuA Di Đà nay hiện đang thuyết pháp)

 

Giải:

Các bộ kinh khác phải đợi thỉnh Phật mới giảng thuyết. Còn trong kinh này, vì Cực Lạc là chỗ nương về của chúng sanh trong cửu giới, hồng danh Di Đà chính phương tiện nhiệm mầu nhất để liễu thoát sanh tử. Nhị Thừa mấy khi được nghe, lục đạo chúng sanh chẳng hề hay biết. Bởi lẽ đó, đức Thích Tôn quán sát nay đã đến lúc căn cơ chúng sanh nhờ nghe pháp Tịnh Độđược giải thoát, nên Phật ứng cơ, vận dụng lòng Vô Duyên Từ, không ai hỏi tự giảng ra pháp môn Trì Danh Niệm Phật.

 

Chữ “nhĩ thời” chỉ thời thành tựu trong sáu thứ thành tựu, tức là trong lúc Phật sắp thuyết giảng kinh này.

 

“Cáo”: kẻ trên bảo người dưới là Cáo. Kẻ dưới thưa cùng người trên gọi là “bạch”, nhằm biểu thị sự tôn kính.

 

Vì sao Đức Phật không ai hỏi lại tự nói kinh này? Đó là vì pháp môn này viên diệu chẳng thể nghĩ bàn, mấy ai biết đến, nên không ai có thể phát khởi thỉnh vấn được. Đức Thế Tôn mẫn niệm chúng sanh vô cực, Phật trí soi xét căn cơ chúng sanh chẳng lầm, đại chúng do nghe pháp này sẽ đạt lợi ích lớn lao. Đức Phật cũng sẵn biết chúng sanh đời mạt sẽ nhờ pháp này mà được độ thoát nên chẳng đợi ai cầu thỉnh, bèn giảng ngay vào y báo, chánh báo của cõi Tịnh Độ. Vì thế kinh này được xếp vào thể loại Vô Vấn Tự Thuyết trong mười hai bộ loại kinh vậy.

 

Các đệ tử của Phật hiện diện trong pháp hội rất nhiều, vì sao Phật lại chỉ gọi Ngài Xá Lợi Phất để dạy? Ấy là vì Xá Lợi Phất là bậc đương cơ của kinh này. Xét ở mức độ sâu hơn thì là vì:

 

a) Pháp môn Tịnh Độ chẳng thể nghĩ bàn, rất khó tin, chẳng phải bậc đại trí huệ sẽ không thể nào tin nhận, không chút nghi ngờ.

 

Vì thế, Đức Phật gọi ngay Ngài Xá Lợi Phất để dạy. Cũng như trong hội Bát Nhã, Ngài Tu Bồ Đề là bậc Giải Không đệ nhất, nên Phật gọi Tu Bồ Đề để dạy. Hơn nữa, Đức Phật nói với bậc đương cơ để dạy chung tất cả đại chúng chứ không phải chỉ giảng riêng cho mình Ngài Xá Lợi Phất.

Người tu pháp môn Tịnh Độ nếu dùng Trí để phát khởi lòng tin thì lòng tin ấy là Chánh Tín; nếu dùng Trí để phát nguyện thì nguyện ấy sẽ thành hoằng nguyện, nếu dùng Trí để khởi hạnh thì hạnh ấy chính là diệu hạnh. Bởi Trí trọng yếu như thế, nên Phật mới đặc biệt gọi Ngài Xá Lợi Phất để giảng pháp môn này.

 

b) Để trọn đủ Tứ Tất Đàn:

 

Tất nghĩa là phổ cập, Đàn là Đàn Na, tức bố thí. Phật dùng bốn pháp để thí cho khắp tất cả, nên gọi là Tứ Tất Đàn.

- Xá Lợi Phấtđại đệ tử của Phật, thường được nhắc đến đầu tiên trong các kinh; nên đương nhiên phải gọi Ngài giảng dạy để đại chúng đều hoan hỷ. Đó là Thế Giới Tất Đàn.

- Xá Lợi Phất là bậc trí huệ đệ nhất, đại chúng cùng khâm ngưỡng. Ngài Xá Lợi Phất tin tưởng pháp này thì đương nhiên đại chúng cũng sẽ tín phụng, khiến họ được lợi ích sanh khởi thiện pháp. Đấy là Nhân Tất Đàn.

- Phật dạy Ngài Xá Lợi Phất là để khiến cho những kẻ chẳng tin vào Tịnh Độ nẩy lòng hổ thẹn, vứt bỏ tà kiến, khiến họ được lợi ích diệt ác. Đấy là Đối Trị Tất Đàn.

- Vì sách tấn kẻ tu tập tiểu pháp, khiến cho họ hồi tiểu hướng đại, cầu sanh Tịnh Độ, rốt ráo thành Phật. Đó là làm cho họ được lợi ích nhập lý. Đấy chính là Đệ Nhất Nghĩa Đế Tất Đàn vậy.

 

Câu “tùng thị Tây Phương” chỉ rõ xứ sở. Tùng là do, chữ Thị chỉ thế giới Sa Bà này. Do Cực Lạc ở phương Tây nên gọi là Tây Phương. Câu “quá thập vạn ức Phật độ” chỉ rõ khoảng cách. Quá là trải qua, đi qua. Vạn là mười ngàn. Mười vạn là một Ức.

Mỗi thế giới Phật nhỏ lớn không đồng, nhỏ nhất là một tam thiên đại thiên thế giới. Chẳng hạn, cõi Sa Bà này chỉ gồm một tam thiên đại thiên thế giới.

Thế nào là một tam thiên đại thiên thế giới?

Trong thế gian, ngọn núi cao nhất là núi Tu Di (Tàu dịch là Diệu Cao). Núi này cao hơn mặt biển tám vạn do tuần (một do-tuần thường được hiểu là bốn mươi dặm) và phần ngập trong nước biển cũng là tám vạn do tuần. Vì thế gọi là Cao. Núi này thuần do các thứ báu hợp thành nên gọi là Diệu.

Quanh bốn phía núi Tu Dibốn đại hải, gọi là Hương Thủy Hải. Bao quanh đại hải lại có núi thuần bằng vàng gọi là Kim Sơn. Bọc lấy những núi ấy là những biển chứa đầy nước mặn. Bọc lấy những biển nước mặn ấy là những rặng núi lớn, gọi là Đại Thiết Vi sơn. Phía Đông núi ấy có Đông Thắng Thần Châu, phía Tây có Tây Ngưu Hóa Châu. Phía Nam có Nam Thiệm Bộ Châu. Phía Bắc có Bắc Câu Lô Châu. Quả địa cầu ta đang ở đây thuộc về Nam Thiệm Bộ Châu. Bốn châu, núi Thiết Vi, Kim Sơn, Hương Thủy Hải, biển nước mặn thuộc phạm vi soi sáng của một mặt trời, mặt trăng.

Gộp cả chín núi, bốn biển, bốn đại bộ châu cùng các cõi trời lên đến tầng trời Lục Dục Thiên là một tiểu thế giới. Một ngàn tiểu thế giới và tính lên đến trời Nhị Thiền là một tiểu thiên thế giới. Một ngàn tiểu thiên thế giới và tính gộp lên đến trời Tam Thiền là một trung thiên thế giới. Một ngàn trung thiên thế giới và tính lên đến trời Tứ Thiền là một đại thiên thế giới. Do ba lần lũy tính, mỗi lần là 1.000, nên gọi là Tam Thiên Đại Thiên thế giới

Từ thế giới Sa Bà này đi thẳng về phương Tây, qua khỏi mười vạn ức thế giới Phật như thế sẽ đến thế giới Cực Lạc. Thế giới ấy y báo, chánh báo thù thắng trang nghiêm khôn sánh, vĩnh viễn thoát khỏi các nỗi khổ, an lạc bậc nhất, hết thảy sự vui trong cảnh trời, cõi người không thể nào sánh bằng sự vui trong cõi Phật ấy nên gọi là Cực Lạc.

Hơn nữa, mười phương cõi Phật, cõi nào cũng có bốn cõi (Phàm Thánh Đồng Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thật Báo Trang NghiêmThường Tịch Quang), đều phân ra tịnh uế sai biệt. Riêng cõi Cực Lạc cả bốn cõi đều tịnh. Cõi Cực Lạc là do công đức hạnh nguyện xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn của Đức Phật A Di Đà tạo thành, khắp cả mười phương cõi Phật không có cõi nào giống như thế, là cõi nhiệm mầu độc nhất vô nhị như thế nên gọi là Cực Lạc.

Phải qua mười vạn ức cõi Phật mới đến được Cực Lạc, như vậy có phải là xa quá hay chăng?

Ước về Sự, tuy cách xa mười vạn ức cõi, nhưng cứ như kinh Pháp Hoa đã thuyết minh: Nếu dùng một bụi nhỏ để đánh dấu những cõi Phật đã đi qua thì con số mười vạn ức cõi Phật có thấm vào đâu!

Lại theo kinh Hoa Nghiêm, Hoa Tạng thế giới có hình dạng như cái tháp báu úp ngược, phía trên to, phía dưới nhỏ, gồm tất cả 20 tầng. Mỗi tầng lại có vô số thế giới Phật nhiều như vi trần. Cõi Sa Bà đây của chúng ta nằm ngay trong tầng 13 của Hoa Tạng thế giới, thật chỉ là một mảy trần trong vi trần sát độ thế giới Phật. Cực LạcSa Bà cùng nằm trong tầng thứ 13. Cứ so sánh với số vi trần sát độ thì Cực Lạc chỉ cách Sa Bà mười vạn ức cõi, chẳng đáng coi là xa xôi chi cả! Cực Lạc chỉ là thế giới vui sướng nằm trong Hoa Tạng thế giới, Sa Bà cũng chỉ là một thế giới khổ sở thuộc trong Hoa Tạng mà thôi!

Ước về Lý, Cực Lạc nào cách tấc gang. Một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta xét về chiều dọc thì tột cùng ba đời, theo chiều ngang thì trùm khắp mười phương. Mười phương hư không vi trần cõi nước vốn chỉ là cảnh được hiện trong một niệm tâm của ta. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Hư không sanh trong đại giác như một bọt nước trong biển cả”. Vi trần cõi nước hữu lậu đều nương vào hư không mà sanh. Hư không vốn đã là không, huống hồ là các cõi? Do pháp giới duy tâm nên tự tâm vốn sẵn đủ Cực Lạc, vậy thì cần chi phải lo ngại là gần hay xa nữa ư?

Chỉ vì chúng ta chấp trước điên đảo đến nỗi vọng tưởng che lấp nên chẳng thể chứng đắc. Nếu có thể phát khởi một niệm chân tâm niệm Phật, niệm đến nhất tâm bất loạn, chứng đắc bổn tâm thì sẽ phát sanh được cõi Cực Lạc ngay nơi tự tâm, thấy được đức Di Đà ngay nơi tự tánh. Cực Lạc vốn chẳng lìa tự tâm, đúng như chư Tổ thường nói: “Toàn sự tức là Lý, toàn vọng chính là chân, tánh - tu bất nhị, tự - tha viên dung”, nào còn phải so đo là gần hay xa chi nữa!

Đối với nhục nhãn của phàm phu, mười vạn cõi Phật chừng như quá xa, nhưng một khi tịnh nghiệp thành tựu, lúc lâm chung tâm được định thì ngay trước mắt liền thấy Cực Lạc. Cổ đức nói: “Lâm chung cảnh Tây phương, rõ ràng ngay trước mắt”, chính là ý này vậy.

Hơn nữa, người chưa đủ tín căn sâu xa, đối với câu kinh “quá thập vạn ức Phật độ hữu thế giới danh viết Cực Lạc” khó lòng chẳng thể sanh nghi, phân vân: sao biết được qua khỏi mười vạn ức cõi Phậtthế giới Cực Lạc? Nay xin tạm lấy chuyện trước mắt để phá nghi: Trước khi ngành hàng hải, hàng không phát triển, khi nghe nói có năm châu, bốn biển, không ít kẻ cho đó là chuyện hư huyễn!

Nghe Đức Phật nói có vô lượng thế giới, mắt ta nào thấy. Nay nhờ thiên văn học phát triển, ta mới biết cứ mỗi một tinh túmột thế giới. Mắt trần của chúng ta có thấy được vi trùng hay không nếu không dùng đến kính hiển vi, có thấy được những tinh cầu nếu không dùng đến viễn vọng kính hay không? Cứ lý đó mà suy, trong vô lượng thế giới mười phương ắt phải có một thế giới Cực Lạc, nhưng mắt tục phàm phu không thấy được, chỉ có Phật nhãn mới thấy biết rõ ràng mà thôi!

Đức Phật vốn đủ Nhất Thiết Chủng Trí, hiểu rõ chân lý vũ trụ, dù là pháp xuất thế hay thế gian, không pháp nào Ngài chẳng hiểu rõ. Khắp mười phương thế giới, Phật nhãn nhìn thấu suốt tất cả, huống hồ chỉ có mười vạn ức cõi Phật, Ngài lại chẳng nhìn thấy rõ hay sao?

 

Câu “kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà” nêu rõ chánh báo (Chánh báo là chỉ về thân, mỗi chúng sanh đều thọ thân sai khác, đó gọi là Chánh. Tùy theo nghiệp lực mỗi người mà thọ thân thù thắng hay hèn kém nên gọi là Báo). Đức Thế Tôn tự xướng lên danh hiệu Phật A Di Đà để phát khởi, nghĩa là: xác quyết thật có chánh báo như vậy hòng phát khởi lòng tin chân xác nơi chúng sanh, khiến họ chuyên ròng, chân thành niệm Phật.

 

Chữ “kỳ độ” chỉ thế giới Cực Lạc. Đã có thế giới, ắt phải có Đức Phật hóa độ trong ấy nên bảo là “hữu Phật”.

 

“Hiệu A Di Đà”: xưng tên căn cứ theo đức thì gọi là “hiệu”. Câu này nêu rõ vạn đức hồng danh của đức giáo chủ cõi Cực Lạc.

 

“Kim hiện tại thuyết pháp”: Đây chính là phong cách độ sanh. “Kim” nghĩa là ngay hiện thời, ngụ ý: ngay trong lúc Đức Phật Thích Ca đang thuyết pháp đây. Nói “hiện tại” để phân biệt với quá khứ, vị lai, hàm nghĩa: ngay trong lúc Thích Ca Mâu Ni Phật đang giảng kinh này, Phật A Di Đà cũng đang thuyết pháp ngay trong cõi Cực Lạc. Bởi thế mới nói là “kim hiện tại thuyết pháp”.

Hơn nữa, chữ “hiện tại” đây không phải chỉ riêng lúc đức Thích Ca đang thuyết pháp mới bảo là hiện tại, mà ngay cả trước khi đức Bổnxuất thế (10 kiếp trước), vẫn gọi là “hiện tại”; bởi lẽ trước khi Đức Phật Thích Ca giáng thế, Phật A Di Đà đã ngày ngày thuyết pháp trong cõi Cực Lạc. Dù đức Thích Ca đã diệt độ, cho đến nay và cho đến tột cùng đời vị lai, Đức Phật Di Đà vẫn đang ngày ngày thuyết pháp bên cõi kia, nên vẫn bảo là “hiện tại”. Như vậy, hai chữ “hiện tại” thông cả quá khứ lẫn vị lai. Chẳng những mình Đức Phật Di Đà thuyết pháp mà nước, chim, cây cũng đều rộng diễn diệu pháp.

Lại nữa, trong thế giới Sa Bà, cõi nước có những kiếp thành, trụ, hoại, không, chúng sanh có tướng sanh diệt. Trong cõi Cực Lạc, về y báo thì cõi nước bất hoại, về chánh báo thì thọ mạng vô lượng, không lúc nào A Di Đà Phật chẳng vì chúng sanh thuyết pháp. Nay Phật đã nhập diệt, đức Di Lặc chưa ra đời, thắng duyên Tịnh Độ khó gặp, nay được gặp thật là hãn hữu, chúng ta phải nên phát nguyện cầu sanh hòng mau chứng Bồ Đề, khỏi phụ bạc tấm lòng đau đáu tha thiết của hai đấng Từ Phụ.

Theo Ngài Khuy Cơ, chữ Pháp trong “thuyết pháp” có thể hiểu là riêng chỉ pháp môn Trì Danh Niệm Phật.

 

Kinh này lấy Tín Nguyện Hạnh làm tông chỉ, nên trong đoạn kinh nào cũng phô bày rõ tông chỉ ấy. Ngay trong phần Phát Khởi Tự đây, cũng lấy ý Khuyến Tín, Khuyến Nguyện, Khuyến Hạnh để phát khởi:

- Câu “hữu thế giới danh viết Cực Lạc, hữu Phật hiệu A Di Đà” là lời Đức Phật đích thân nói ra, phải nên tin tưởng, đừng hồ nghi. Ấy là Khuyến Tín.

- Phật nói đến cõi “Cực Lạc” là ý muốn chỉ bày cõi Tịnh Độ nhiệm mầu hòng người nghe phát nguyện cầu sanh. Ấy là Khuyến Nguyện.

- Nêu danh hiệu A Di Đà chính là chỉ rõ vạn đức hồng danh, ngõ hầu người nghe phát tâm xưng niệm. Ấy là Khuyến Hạnh.

 

Vì sao Đức Phật lại chọn Thanh Văn làm đương cơ để giảng pháp này? Ấy là vì Bồ Tát đã dứt trừ hạt giống phiền não, vị nào cũng đều đã an trụ trong các cõi tịnh (dù ở trong uế độ, tâm vẫn không phân biệt nên cõi các Ngài trụ dù là uế cũng thành tịnh), nhưng Thanh Văn do vẫn còn phân biệt nên thấy cõi có tịnh, uế sai khác. Để sanh lòng hâm mộ, ưa thích cõi Tịnh cho Thanh Văn, Phật bèn giảng cho Thanh Văn pháp này.

 

Nếu luận về mặt Lý của đoạn kinh này thì:

- Chữ “nhĩ thời” biểu thị thể - dụng ngầm khế hợp nhau. “Phật cáo Xá Lợi Phất” là từ thể khởi dụng. Chữ “tùng thị” ám chỉ thân ngũ uẩn (chữ Thị chỉ thế giới Sa Bà, mà Sa Bàngũ trược, cũng đồng như sắc thân ngũ uẩn), “Tây phương” ám chỉ tâm thanh tịnh kiên cố (phương Tây thuộc hành Kim, thể tánh của Kim là kiên cố).

- “Quá thập vạn ức Phật độ” nghĩa là đoạn trừ mười vạn ức phiền não (“quốc độ” hàm nghĩa chướng ngại, Cực Lạc cách xa mười vạn ức cõi Phậtchúng sanh bị mười vạn ức phiền não che lấp. Đoạn trừ mười vạn ức phiền nãothành Phật).

- “Hữu thế giới” biểu thị tự tánh tột cùng chiều dọc, bao trọn chiều ngang (Thế có nghĩa là cùng tột ba đời, Giới là bao trọn mười phương).

- Câu “danh viết Cực Lạc” ám chỉ cứu cánh Niết Bàn (lìa khổ sanh tử được hưởng niềm vui giải thoát tột bực, ấy chính là Niết Bàn).

 

Như vậy, từ nơi thân Ngũ Uẩn này, phát khởi một niệm tâm kiên cố thanh tịnh để tu pháp Niệm Phật, niệm đến nhất tâm bất loạn, công phu đến mức rốt ráo, đoạn trừ được hết thảy phiền não, chướng ngại, thì tự nhiên chứng được lý bất sanh bất diệt của tự tánh. Đấy chính là đại an lạc Niết Bàn rốt ráo.

 Câu “kỳ độ hữu Phật” biểu thị trong sắc thân Ngũ Uẩn này có một vị chủ nhân ông (chân tánh), Độ là sắc thân, Phật là chân tánh. “Hiệu A Di Đà”: chân tánh ấy chính là Pháp Thân.

Câu “kim hiện tại thuyết pháp” biểu thị Pháp Thân tùy duyên diệu dụng, thời thời hiển hiện, chưa hề có khoảnh khắc nào xa lìa đúng như thường nói: “Thấy sắc - thanh, đại dụng hiện tiền”. Mặc áo ăn cơm, những hành vi thường ngày như biết lạnh biết đói, thậm chí trong hết thảy sự, có chỗ nào lìa khỏi chân tánh này đâu! Thế nhưng ta nào có nhận thức được chân tánh pháp thân này. Đáng tiếc thay! 

Đã hiểu được lý như vậy, thì càng nên dũng mãnh tinh tấn tu hành Tịnh nghiệp, đừng ta thán:

Phật tại thế thời ngã trầm luân,

Kim đắc nhân thân Phật diệt độ!

(Phật còn tại đời, ta trầm luân,

Nay được thân người, Phật đã diệt)

Mà phải tâm niệm:

Thử thân bất hướng kim sanh độ,

Tiện đãi hà thời độ thử thân? 

(Kiếp này chẳng độ thân này được,

Đợi đến khi nào mới độ đây?)

 

 B. CHÁNH TÔNG PHẦN

1. TƯỜNG TRẦN Y CHÁNH TRANG NGHIÊM DĨ KHẢI TÍN (trình bày rõ y báo, chánh báo trang nghiêm nhằm phát khởi lòng tin)

 1.1. TỔNG THÍCH CỰC LẠC DANH NGHĨA (giải thích chung về ý nghĩa của danh hiệu Cực Lạc

 1.1.1. ƯỚC CHÚNG SANH CHÁNH BÁO (xét theo chánh báochúng sanhgiải thích tên cõi Cực Lạc)

 

 Chánh kinh:

 

Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc.

 (Xá Lợi Phất! Cõi ấy vì sao tên là Cực Lạc? Chúng sanh trong cõi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng các sự vui, nên gọi là Cực Lạc).

 

Giải:

 Trong đoạn này, Đức Phật tự hỏi tự đáp về ý nghĩa của tên gọi Cực Lạc. Trước hết, Phật căn cứ trên chánh báochúng sanh để giải thích chữ Cực Lạc.

 “Kỳ quốc chúng sanh”: Chúng sanh ở đây là những người đã niệm Phật đã vãng sanh về cõi Cực Lạc. Chữ Chúng Sanh dịch từ chữ Phạn “Tát Đỏa” (sattva), dịch theo trường phái Tân dịchHữu Tình.

Gọi là “chúng sanh” vì do các nghĩa sau đây:

- Do các duyên hòa hợp mà sanh: Chúng sanh cõi Sa Bà ngoài phải nhờ tứ đại hòa hợp để tạo thành sắc thân, trong phải nhờ bốn pháp Thọ, Tưởng, Hành, Thức tạo thành tâm pháp. Chúng sanh chỉ là giả danh, ngũ uẩn là thật pháp.

 - Phải trải qua nhiều kiếp sanh tử nên gọi là “chúng sanh”, nghĩa là thường phải luân hồi trong lục đạo

 Đó là chúng sanh hiểu theo nghĩa thông thường. Gọi người trong cõi Cực Lạc là “chúng sanh” chỉ là thuận theo giả danh mà gọi. Họ là những người lấy liên hoa thanh tịnh làm thân, tâm tịch tịnh, chiếu triệt mọi sự.

 

Cõi Cực Lạc rốt ráo không có các nỗi khổ nên bảo là “vô hữu chúng khổ”. Chữ “Chúng” nghĩa là chẳng phải chỉ có một thứ. Khổ nghĩa là bức bách, não loạn.

 

Khổ có nhiều thứ:

 

a) Tam khổ

 

- Khổ khổ: thọ thân có sanh, lão, bệnh, tử (thân là khổ quả). Đã thế còn đèo bồng thêm những nỗi khổ như: Oán tắng hội ngộ khổ (khổ vì oán ghét mà phải gặp gỡ), ân ái biệt ly, sở cầu chẳng thỏa, và vô vàn các nỗi khổ khác. Đã khổ lại càng thêm khổ nên gọi là Khổ Khổ.

 

- Hoại khổ: Sa Bà rốt cục sẽ hoại diệt, không có gì là vĩnh cửu cả, không có sự vui chân thật, dù có chút vui đi nữa, nhưng chẳng phải là rốt ráo. Dù những thứ lạc định cao quý như Ly Sanh Hỷ Lạc, Định Sanh Hỷ Lạc, Ly Hỷ Diệu Lạc cũng chỉ là lạc định hữu lậu. Khi đã hưởng hết phước lạc ấy, chư thiên các trời Tứ Thiền cũng vẫn phải bị đọa lạc. Vì thế gọi là Hoại Khổ.

 

- Hành khổ: Hành là dời đổi không ngừng, sanh diệt trong mỗi sát na. Các pháp biến đổi vô thường, sanh ra khổ não nên gọi là Hành Khổ. Chẳng hạn như chư thiên thuộc Tứ Không thiênVô Sắc giới, tuy đã chứng đắc tứ không định, thọ tám vạn bốn ngàn đại kiếp, không có thân sắc chất, hưởng niềm vui trong Không định, nhưng khi mất định lực lại bị đọa xuống. Ngay cả trong khi đang hưởng thọ lạc thú Không Định, họ vẫn phải chịu nỗi khổ do các ấm: Thọ, Tưởng, Hành biến đổi không ngừng.

 

Xét ra, Dục giới đủ tam khổ, Sắc giới thiếu Khổ Khổ, Vô Sắc giới chỉ chịu mỗi Hành Khổ.

 

b) Bát khổ:

 

Gồm bốn nỗi khổ nơi thân (sanh, lão, bệnh, tử) và bốn nỗi khổ nơi tâm (khổ vì cầu chẳng được, khổ vì yêu thương phải bị chia lìa, khổ vì oán ghét mà cứ phải gặp gỡ, khổ vì năm ấm lừng lẫy). Khổ vì năm ấm lừng lẫy nghĩa là những phiền não trong thân tâm nung đốt. Bảy nỗi khổ đầu là Biệt, khổ thứ tám là Tổng (bảy nỗi khổ đầu chẳng ngoài phạm vi của Ngũ Uẩn).

 Ngoài ra còn có thiên tai, địch họa, nóng, lạnh, mưa dầm, sét đánh, bị rủa xả, nhục mạ, châm chọc, khích bác, bỡn cợt, khinh khi, áp bức... Chẳng thể nào kể cho đủ hết những nỗi khổ trên thế gian này được.

Hễ là người sanh trong cõi Sa Bà này đều phải chịu đựng ba khổ, tám khổ như vậy, trên từ quốc vương dưới đến kẻ tiện dân, không một ai tránh khỏi những nỗi khổ đó. Riêng chúng sanh cõi Cực Lạc vĩnh viễn không phải chịu đựng những nỗi khổ sở đó.

 

“Đản thọ chư lạc”: Chỉ toàn hưởng những điều vui sướng nên bảo là “đản thọ” (chỉ hưởng). Chẳng phải chỉ có một sự vui nên bảo là “chư lạc”. Cõi Sa Bà này lắm khổ, ít vui, mà muốn có những niềm vui ấy phải lao tâm khổ trí mới tạm đạt được, nhưng chẳng dễ gì duy trì lâu dài. Rốt cục vẫn có ngày bị mất đi. Bởi thế tục ngữ thường bảo: “Cực lạc sanh bi” (vui quá hóa buồn). Trong cõi Cực Lạc, hết thảy thứ thọ dụngthân tướng mỗi mỗi đều thù thắng trang nghiêm, chẳng hề có chút sự khổ ải nào, luôn có vô lượng điều vui. Vì thế kinh chép: “Đản thọ chư lạc”.

Tạm kể những niềm vui trong cõi Cực Lạc như sau:

 

a) Tam Lạc:

- Thanh tịnh vô lụy lạc: không có thân thô trược, không có ái dục nhiễm trước; tức là không có Khổ Khổ.

- Y chánh thường nhiên lạc: thọ mạng vô lượng, cõi nước chẳng biến hoại. Đấy chính là không có Hoại Khổ.

- Chánh trí bất động lạc: an trụ vào chân lý bất sanh bất diệt. Đấy chính là không có Hành Khổ.

 

b) Bát Lạc: 

 - Liên hoa hóa sanh thân lạc: hóa sanh trong thai sen, không phải chịu cảnh đau khổ nằm trong thai ngục chín tháng mười ngày, tức là không có Sanh Khổ

 - Tướng hảo trang nghiêm lạc: thân kết tụ bằng công đức trang nghiêm, vĩnh viễn không bị biến đổi, hư hoại; tức là không có Lão Khổ.

 - Tự tại thanh thái lạc: thân thanh tịnh, vĩnh viễn thoát khỏi đau bệnh khốn khổ. Tức là không có Bệnh Khổtứ đại chẳng điều hòa.

 - Thọ mạng vô lượng lạc: tuổi thọ bằng Phật, bất sanh, bất diệt. Tức là không có Tử Khổ, tứ đại phân ly.

 - Hân dục như ý lạc: y phục, thức ăn vật dụng hễ nghĩ đến liền có, chẳng phải nhọc công tạo tác, may sắm. Tức là không có Cầu Bất Đắc Khổ.

 - Hải chúng thường tụ lạc: các vị thiện nhân thanh tịnh tụ tập nhiều như biển cả, mãi mãi làm bạn bè thân thiết của nhau. Tức là không có Ân Ái Biệt Ly Khổ.

- Thượng thiện câu hội lạc: các bậc thượng thiện nhân yêu kính lẫn nhau, tức là không có Oán Tắng Hội Ngộ Khổ.

- Thân tâm tịch tịnh lạc: thân thanh tịnh, tâm hằng tịch chiếu, tức là không có Ngũ Ấm Xí Thạnh Khổ.

 

Nói chung: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, mọi nỗi khổ vui của kiếp người chẳng qua đều do mỗi người tự tạo. Chúng sanh cõi Sa Bà niệm niệm điên đảo nên chiêu cảm y báo, chánh báo đều uế trược. Thế nên mới có Ngũ Trược, Tam Khổ, Bát Khổ, cho đến vô lượng các thứ nghiệp cảm khổ sở. Tâm chúng sanh trong cõi Cực Lạc luôn là chánh niệm, nên chiêu cảm y báo, chánh báo thanh tịnh. Thế nên chỉ có tam lạc, bát lạc cho đến vô lượng các thứ pháp tánh lạc.

Nói như vậy, ắt sẽ có kẻ nạn rằng cõi Cực Lạc có thuộc trong tam giới chăng? Ngài Khuy Cơ bảo: “Do vô dục nên chẳng phải là Dục Giới. Do ở trên đất nên chẳng phải là Sắc Giới. Do có hình tướng nên chẳng phải là Vô Sắc Giới. Trong không uế chủng, ngoài cảm cảnh tịnh, vượt khỏi tứ lưu, vĩnh viễn thoát ngoài tam giới, nên chẳng bị trói buộc trong các giới”.

 

“Cố danh Cực Lạc”: Đây là câu tiếp ý để kết lại. Ý nói: do vì cõi kia chỉ hưởng các sự vui, không hề có những nỗi khổ, cho nên cõi ấy mới có tên gọi là Cực Lạc.

Nếu dùng tam giới để so sánh thì: ba ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) chỉ thuần khổ không vui; loài người, a tu la khổ nhiều vui ít; chư thiên tuy vui nhiều, khổ ít, nhưng khó giữ nổi sự vui ấy trường cửu bất hoại. Chỉ mỗi cõi Tây Phương thuần vui không khổ, vĩnh viễn chẳng biến cải, nên đấy là cõi vui rốt ráo. Do đó, chỉ cõi ấy mới xứng gọi là Cực Lạc. Thêm nữa, do so sánh với Khổ nên mới có Lạc. Nếu không có khổ thì dĩ nhiên chỉ thuần các điều vui.

Nhưng nếu ước về Lý mà nói thì nếu đã không có các khổ tức là đã không nhiễm, không nhiễm thì còn gì để so sánh nữa mà nói là tịnh? Tức là tịnh uế tương đồng, khổ lạc bình đẳng. Do toàn là sự vui chân thật như thế nên gọi là Cực Lạc.

 

Hỏi: Bồ Tát phát tâm lợi người, chẳng chấp lấy niềm vui Niết Bàn, chẳng buông bỏ chúng sanh khổ sở, không có tướng lấy vui, bỏ khổ thì mới xứng hợp với đạo Đại Thừa. Nay người niệm Phật một bề chán khổ ưa vui, bỏ khổ cầu lạc, đấy chẳng phải là đạo phàm phu, Tiểu Thừa hay sao? Nếu vậy sao xứng gọi là pháp môn viên đốn?

 Xin đáp: Chưa đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn ắt sẽ chưa thể rộng làm Phật sự cứu độ chúng sanh. Ví như chiếc xe yếu nhỏ chẳng kham chở nặng, chim cánh yếu ớt khó lòng bay cao. Nếu cứ gắng gượng làm, chẳng những vô hiệu quả, chỉ e mình lẫn người đều bị mắc họa! Vì thế, trước cần phải cầu sanh Tịnh Độ, gặp Phật, nghe pháp, chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, đạt đại trí huệ, đại biện tài, đầy đủ các oai lực thần thông, mới hòng trở vào thế giới này cứu tế chúng sanh.

 Cứ đó mà suy: Bỏ khổ chính là vì muốn cứu khổ cho chúng sanh, đấy chính là tâm đại bi của Bồ Tát. Cầu vui là vì muốn ban vui cho chúng sanh. Đấy chính là tâm đại từ của Bồ Tát. Như vậy còn dám bảo là hạng Nhị Thừa chỉ biết riêng cầu điều tốt lành cho chính mình nữa chăng? 

 

Nếu hiểu theo Lý, “bỉ độ” là tự tánh, “danh vi Cực Lạc” là chỉ Niết Bàn. “Kỳ quốc chúng sanh” là chỉ người đã chứng đắc tự tánh. “Vô hữu chúng khổ” nghĩa là đã đoạn trừ hết thảy phiền não, “đản thọ chư lạc” là đạt được giải thoát dài lâu. “Cố danh Cực Lạc” nghĩa là: Do đã chứng đắc tự tánh, đã đoạn sạch kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc phiền não, đã đạt được sự giải thoát dài lâu, nên gọi đó là Niết Bàn.

 

1.1.2. ƯỚC QUỐC ĐỘ Y BÁO (ước theo y báo để giải thích danh hiệu Cực Lạc)

 

 Chánh kinh:

 

Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng la võng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo, châu táp vi nhiễu. Thị cố bỉ quốc danh vi Cực Lạc.

 (Lại nữa Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc bảy tầng lan can, bảy tầng lưới mành, bảy tầng hàng cây, đều là bốn báu, vây quanh khắp cả. Vì thế cõi ấy tên là Cực Lạc).

 

Giải:

 Đoạn kinh này là căn cứ trên phương diện y báo để giải thích danh hiệu Cực Lạc.

 “Hựu” có nghĩa là lại. Đoạn trên đã giảng về chánh báo, trong đoạn này, Phật dựa theo y báo để giải thích, nên Ngài lại gọi vị đương cơXá Lợi Phất lần nữa.

 “Lan thuẫn”: Những thanh lan can đặt theo chiều ngang gọi là Lan, theo chiều dọc là Thuẫn.

Chữ “la võng” chỉ lưới báu. La có nghĩa là kết lại: dây vàng, chân châu, trăm ngàn thứ báu khác nhau trang nghiêm kết hợp lại thành màng lưới. Khắp bốn phía màng lưới ấy treo các linh báu, quang minh, màu sắc hoa lệ, chói lọi, choáng cả mắt người.

“Hàng thọ”: hàng là bày lớp, sắp theo thứ tự, hàng lối không tạp loạn.

Lan thuẫn là những vật để trang nghiêm lầu gác. Hàng thọ là những thứ để trang hoàng cho mặt đất, la võng là những thứ để trang hoàng trên không trung. Mỗi thứ đều có bảy tầng. Ý nghĩa của “bảy tầng” sẽ được giải thích rõ trong phần sau.

Màu sắc của đất báu cõi Cực Lạc thù thắng khôn sánh. Phía ngoài tất cả các cung điện, lầu gác đều có một tầng lan thuẫn vây quanh. Ngoài mỗi tầng lan thuẫn lại có một tầng hàng cây, phủ lên trên chúng là bảy tầng lưới báu. Phía ngoài hàng cây lại có một tầng lan thuẫn, phía trên lan thuẫn lại che một tầng lưới báu, tầng tầng xen kẽ như thế cho đến bảy tầng. Hoặc một tầng lan thuẫn bao quanh hai hàng cây, phủ bởi hai tầng lưới báu. Lần lượt phối hợp như thế, mỗi mỗi đều trang nghiêm.

Mỗi thứ hàng cây, lưới báu, lan thuẫn đều do bốn báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành nên bảo là “giai thị tứ bảo” (đều là bốn báu). Chẳng hạn như, cây báu thì do thuần bằng một thứ báu, hay hai thứ báu cho đến bốn thứ báu hợp thành. Hoặc rễ vàng, lá bạc, hoa lưu ly, quả pha lê.... Nên biết rằng nói “do bốn báu hiệp thành” đó cũng chỉ là khái lược đó thôi, chứ thật sự thì là do vô lượng trùng trùng vô tận thứ báu hợp thành vậy.

“Châu táp vi nhiễu” là bao quanh trọn khắp bốn phía. Những hàng cây báu, lan thuẫn báu, lưới báu ấy không những chỉ bao bọc quanh các cung điện, lầu gác, mà quanh vườn rừng, ao chuôm v.v... đều có các thứ cây báu, lưới báu, lan thuẫn bao quanh như thế. Chẳng những chỉ nơi Phật, Bồ Tát ở mới trang nghiêm như thế mà bất cứ chỗ nào trong cõi Cực Lạc cũng đều được trang nghiêm tráng lệ như thế. Toàn cõi thế giới đều được trang nghiêm hoa lệ, tuyệt mỹ như thế đó nên bảo là “châu táp vi nhiễu”. Những sự trang nghiêm kỳ ảo như vậy đều do nguyện lực thù thắng chẳng thể nghĩ bàn của đức Từ Phụ A Di Đà tạo thành.

“Thị cố bỉ quốc danh vi Cực Lạc”: Đây chính là câu tiếp nối ý trên để kết lại. Ý nói do có những thứ lan thuẫn, lưới báu, cây báu thù thắng trang nghiêm tuyệt mỹ như thế, chẳng gì có thể so sánh nổi, diễn tả nổi, cho nên cõi Phật A Di Đà mới mang tên là Cực Lạc. Trong các kinh Vô Lượng ThọQuán kinh đã diễn tả rất chi tiết các sự trang nghiêm ấy. Nên nhớ những điều được tường thuật trong kinh này chỉ mang tính khái lược. Chẳng hạn Vô Lượng Thọ kinh nói có trăm ngàn tầng, kinh này chỉ nói bảy tầng. Quán kinh nói giữa các tầng lưới báu, hiển hiện cung điện trời, cây báu phóng quang, hoa báu phủ kín, tỏa ngát các mùi hương kỳ diệu, chim thiêng dập dìu, hót tiếng hòa nhã... Tuy hai kinh diễn tả chi tiết hay đại lược khác nhau, ý nghĩa về sự trang nghiêm vẫn như nhau không khác.

 

Xét về Lý:

- “Bảy tầng” biểu thị bảy khoa đạo phẩm (tứ niệm xứ, tứ chánh cần, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chánh đạo phần). Bảy tầng còn có nghĩa là khi đã vãng sanh về cõi ấy thì chẳng còn phạm phải những lỗi họa do ba nghiệp nơi thân, bốn nghiệp nơi miệng nữa.

- “Bốn báu” ngụ ý bốn đức (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh).

- “Lan thuẫn” biểu thị tự tánh về chiều dọc cùng tột ba đời, về chiều ngang trùm khắp mười phương.

- “Bảo võng” (lưới báu) biểu thị tự tánh bao la pháp giới.

- “Hàng thọ” biểu thị tự tánh trưởng dưỡng thiện căn.

- Chữ “bỉ quốc” (cõi ấy) ngầm chỉ tự tánh (tự tánh sẵn đủ hết thảy công đức vô vi, như cõi ấy là cõi an vui bao thứ trang nghiêm).

- “Cực Lạc thế giới” biểu thị cảnh giới của pháp thân (cõi Cực Lạc mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới Pháp Thân hay cảnh giới Niết Bàn cũng mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn).

 

 1.2. BIỆT THỊ Y CHÁNH TRANG NGHIÊM (giảng riêng về sự trang nghiêm nơi y báo, chánh báo)

 1.2.1. Y Báo trang nghiêm (sự trang nghiêm nơi y báo)

1.2.1.1. Trì các hàng thọ (ao, gác, hàng cây)

 1.2.1.1.1. Chánh trần (phần tường thuật)

 

 Chánh kinh:

 

Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, hữu thất bảo trì; bát công đức thủy sung mãn kỳ trung. Trì để thuần dĩ kim sa bố địa.

 (Lại này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạcao bảy báu. Nước tám công đức đầy ắp trong đó. Đáy ao thuần dùng cát vàng để phủ).

 

Giải:

 Trong phần trước, đức Thế Tôn đã giải thích về danh hiệu Cực Lạc dựa trên hai phương diện y báochánh báo. Trong phần này, Phật giảng rõ hơn về những cảnh thọ dụng trang nghiêm của y báo, chánh báo.

 “Thất bảo trì”: Nói “thất bảo trì” để phân biệt với những cái ao chỉ do đất đá tạo thành trong cõi Sa Bà này. Ao cõi Cực Lạc do bảy thứ báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não hợp thành nên gọi là “thất bảo trì” (ao bằng bảy báu).

Thật ra, theo kinh Vô Lượng Thọ, các ao ấy hoặc thuần bằng một chất báu tạo thành, hoặc do hai, ba cho đến bảy thứ báu xen lẫn nhau tạo thành, giống như những hàng cây báu vậy. Kích thước mỗi cạnh của ao ấy từ bốn mươi, năm mươi dặm tăng dần cho đến tám vạn bốn ngàn dặm, to như biển cả. Kinh Thụy Ứng Bản Khởi chép: “Các ao ấy rộng hẹp, sâu cạn từ mười do tuần cho đến trăm ngàn do tuần. Bên bờ ao có những cây chiên đàn, hoa, lá rũ xuống, mùi thơm ngào ngạt”. Do trong kinh này Phật chỉ lược giảng nên không nêu rõ từng chi tiết như thế.

 Những ao báu ấy chính là nơi thai sen sẽ nở để những người niệm Phật được sanh vào Cực Lạc, mà cũng là nơi để người cõi Cực Lạc tắm gội trong ấy. Có vô lượng vô số các ao như vậy.

Nước trong những ao ấy có đủ tám công đức: Trừng tịnh (lắng trong, tinh khiết); thanh lãnh (trong trẻo, mát lạnh); cam mỹ (ngon ngọt), khinh nhuyễn (nhẹ nhàng, mềm mại); nhuận trạch (tươi tắn, thấm nhuần), an hòa (êm ả, không chảy xiết, gầm réo); trừ cơ khát (uống vào hết đói, khát); trưởng dưỡng thiện căn (tăng trưởng, nảy nở các căn lành).

 

 “Sung mãn kỳ trung”: Sung là sung túc, nghĩa là chẳng bị khô cạn. Mãn là đầy ắp, nhưng không dâng tràn ngập như nước trong cõi thế gian này. Chữ “kỳ trung” ý nói: trong các ao bảy báu như vừa nói. Thứ nước có đủ tám công đức ấy tuyệt chẳng thể thấy trong cõi Sa Bà này, chỉ trong cõi Cực Lạc mới có thứ nước tám công đức luôn đầy ắp trong các ao bảy báu, chưa từng khô cạn, cũng chẳng hề gây ngập lụt, chảy tràn bờ.

Nước trong cõi Sa Bà này, hễ khuấy liền sủi bọt, chảy qua chỗ bẩn liền dơ, chẳng thường “trừng tịnh”. Ánh nắng hun liền nóng, lửa nấu liền sôi nên chẳng thường “thanh lãnh”. Hễ mưa lớn ắt ngập lụt, hễ chảy xiết thì hung hiểm nên chẳng thường “an hòa”. Hễ lẫn lộn tạp chất thì bị đổi vị, đổi màu, gặp lúc khô hạn liền khô cạn nên chẳng thường “nhuận trạch”. Hễ gần biển thì mặn, tù đọng lâu ngày sẽ trở thành hôi thối nên chẳng thường “cam mỹ”. Gặp chỗ úng tắc liền biến thành tù đọng, gặp lạnh bị đóng băng nên chẳng thường “khinh nhuyễn”. Uống nhiều nước sẽ bị trướng bụng, ngâm nước nhiều sẽ bị bệnh nên chẳng thường “trừ cơ khát”. Lại chẳng thể tăng trưởng thiện căn.

Nước trong cõi Cực Lạc có đủ tám đức mầu nhiệm, dù qua bao nhiêu kiếp, tánh đức của nước ấy chẳng hề biến đổi mảy may. Bởi những lẽ đó, nước trong cõi Cực Lạc được xưng tụng là “công đức thủy”.

Nên biết rằng: kinh A Di Đà nói nước trong cõi Cực Lạc có tám đức, chứ thật ra, nó còn có nhiều đức tánh mỹ diệu thù thắng khác, xin tạm kể ba đức theo kinh Vô Lượng Thọ:

 

a) Nước có thể tùy thuận theo ý muốn: “Nước tám công đức lặng trong đầy ắp, thanh tịnh, thơm sạch. Các thượng thiện nhân vào ao bảy báu để tắm gội cho thân thể trong sạch, ý muốn nước ngập đến chân, muốn ngập đến gối, đến eo, đến nách, đến cổ và rưới lên thân, thảy đều như ý. Muốn nước rút xuống, nước liền rút xuống. Điều hòa, lạnh, ấm không gì là chẳng vừa ý, mở mang tinh thần, sung sướng tấm thân, gột rửa cấu nhơ trong tâm. [Nước] trong sáng, lặng sạch, sạch dường như không có hình chất vậy”.

 

b) Nước có khả năng thuyết pháp: “Nước chảy không chậm, không nhanh, an tường, thong thả chảy đi, sóng vỗ vang ra vô lượng tiếng mầu nhiệm tự nhiên: tiếng niệm Phật, hoặc tiếng niệm Pháp, hoặc tiếng niệm Tăng, tiếng tịch tịnh, tiếng Vô Ngã, tiếng Ba La Mật, cho đến các tiếng mầu nhiệm, xứng theo lòng muốn, không ai nghe mà không phát tâm thanh tịnh, thành thục thiện căn, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển vô thượng Bồ Đề”.

 

c) Tắm xong đạo pháp sẽ tăng tiến.

 

Nước là loài vô tình mà có được những công năng như thế thì thật là điều chẳng thể nghĩ bàn vậy!

 

“Trì để thuần dĩ kim sa bố địa”: dùng thuần cát làm bằng mạt vàng để phủ đáy ao. Đây cũng là nói vắn tắt; vì như kinh Đại Bổn chép: “Có ao thuần bằng một chất báu, cát phủ đáy ao cũng thuần bằng một chất báu. Ao bằng vàng ròng dùng bạc trắng làm cát phủ đáy. Ao thủy tinh dùng lưu ly làm cát phủ đáy... Ao bằng hai chất báu tạo thành, cát phủ đáy ao cũng bằng hai chất báu, cho đến bảy báu cũng giống như thế”. Quán kinh cũng chép: “Vàng ròng làm kênh, phía dưới đều dùng kim cang nhiều màu để làm cát phủ đáy”.

 

Xét về Lý:

- Thất bảo tượng trưng cho Thất Thánh Tài (Tín, Giới, Văn, Xả, Huệ, Tàm, Quý. Năm thứ đầu như của báu, hai thứ sau như người gìn giữ của cải. Chúng sanh do chẳng giữ gìn nên cực bần cùng. Thánh nhân do giữ gìn những đức tính ấy nên chúng được gọi là Thánh Tài).

- Nước tám công đức biểu trưng Bát Thánh Đạo.

- Đáy ao trải cát vàng biểu thị Chân Như triệt để bất biến.

 

Chánh kinh:

 

Tứ biên giai đạo, kim, ngân, lưu ly, pha lê hiệp thành. Thượng hữu lâu các, diệc dĩ kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não nhi nghiêm sức chi.

(Bốn phía có thềm bậc, đường đi do vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Phía trên lại có lầu, gác, cũng dùng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não để trang hoàng).

 

Giải:

 

“Tứ biên giai đạo”: Đông, Tây, Nam, Bắc bốn phía là ý nghĩa của chữ Tứ. Biên là bờ ao. Chỗ có tầng, cấp gọi là Giai. Chỗ bằng phẳng để đi từ chỗ này qua chỗ khác thì gọi là Đạo. Bên bờ ao có cấp bậc để dễ lên xuống, có đường để đi qua lại. Dù là thềm bậc hay lối đi đều bằng bốn báu gộp lại thành. Những chất báu ấy hoặc xen kẽ nhau, hoặc dùng thuần một thứ nối tiếp nhau.

“Thượng hữu lâu các”: Chữ “thượng” có ba cách hiểu: phía trên ao báu, phía trên chỗ thềm bậc, lối đi, và trên hư không. Nhà có nhiều tầng gọi là Lâu; lầu cao gọi là Các.

“Diệc” có nghĩa là cũng.

“Dĩ” là dùng.

“Nghiêm sức” nghĩa là trang hoàng hết sức trang nghiêm, hoa lệ.

Ý nói: Không những riêng ao bằng bảy báu, lối đi, thềm bậc dùng bốn báu ghép thành, mà ngay cả những lầu đài, đền gác cũng dùng vàng, bạc v.v... bảy thứ báu để trang hoàng, đủ mọi màu sắc, hình dáng. Những lầu gác dùng làm chỗ cư ngụ cho các bậc thượng thiện nhân, hoặc dùng để ngoạn cảnh, để nghỉ ngơi, hoặc dùng làm nơi thuyết pháp. Người vãng sanh cõi Cực Lạc sẽ gởi chất trong hoa sen nơi ao bốn báu. Khi hoa sen nở, sẽ theo các thềm bậc, đường đi lên bờ, vào ở trong các lầu gác báu, rồi gia nhập pháp hội, gặp Phật, nghe pháp.

Kinh Đại Bổn nói chi tiết hơn như sau: “Giảng đường, tinh xá, cung điện, lầu, gác của Đức Phật A Di Đà đều bằng bảy báu, hơn hẳn chỗ ở của vị Thiên Đế cõi trời Lục Dục đây cả trăm ngàn vạn lần. Thậm chí các cung điện, lầu gác hình sắc tương xứng, cao thấp, lớn, nhỏ, bằng một thứ báu, hai thứ báu cho đến vô lượng thứ báu”.

Quán kinh cũng chép: “Vàng ròng [trải] trên mặt đất, trong mỗi một thứ báu có năm trăm ánh sáng nhiều màu. Ánh sáng ấy [hình dáng] như hoa, hợp thành đài quang minh, lầu gác ngàn vạn, do trăm thứ báu hợp thành.... Hai bên lầu gác đều có lọng hoa, vô lượng nhạc khí, tám thứ gió mát (gió từ tám phương) lay động các nhạc khí ấy diễn nói các âm thanh Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã”.

Trong kinh đây chỉ nói đại lược là “bảy báu”, chứ không thuật đủ các thứ báu.

 

“Kim, ngân, lưu ly, xa cừ, mã não, xích châu, mã não”:

Vàng, bạc là hai thứ thường thấy trong cõi này nên không cần giải thích.

* Lưu Ly là tiếng Phạn, nói cho đủ là Phệ Lưu Ly (Vairudya), Hán dịch là Thanh Sắc Bảo (chất báu có màu xanh nước biển), vì nó có màu xanh biếc. Còn dịch là Bất Viễn Sơn vì ngọn núi sanh ra chất báu này không xa thành Ba La Nại cho lắm, nên được mang tên là Bất Viễn Sơn. Theo Ngài Khuy Cơ, Lưu Ly có đến năm màu khác nhau.

* Pha Lê cũng là tiếng Phạn, nói cho đủ là Tốt Pha Chí Ca (sphatika), đôi chỗ còn phiên là Phệ Chi Ca hay Phả Chi Ca. Tàu dịch là Thủy Ngọc vì trông nó từa tựa như thủy tinh; có ba màu: đỏ, trắng, xanh dương.

* Xa Cừ nói cho đủ là Mâu Sa Lạc Yết Lạp Bà (musàragalva), Hán dịch là Thanh Bạch Gián Sắc (màu xanh, trắng xen kẽ) hoặc Thanh Bạch Sắc Bảo, dựa trên màu sắc mà đặt tên. Lại còn gọi là Đại Bối vì lấy từ vỏ một loại trai lớn trong biển. Hình dạng của nó giống như cái niềng bánh xe.

* Xích Châu: do một loài trùng có màu đỏ sanh ra. Do sắc nó đỏ tươi nên có tên như thế.

* Mã Não: tiếng Phạn là A Thấp Ma Yết Lạp Bà (Ashmagarbha), dịch là Mã Não Bảo, màu chất này giống như màu óc con ngựa nên mới đặt tên như thế. Lại còn dịch là Chử Tạng. Mã Não được phân biệt ra làm hai loại: Sơn Mã Não và Thủy Mã Não. Có thuyết nói Mã Não chính là một loại Thạch Anh (quartz) kết tinh. 

Trong thất bảo, vì sao lại lấy Vàng làm đầu? Vì có bốn nghĩa:

- Thể chất của vàng rất kiên cố (không bị biến chất dù có giồi, mài, nung, đập, chôn vùi chẳng hư nát).

- Tánh vàng lại mềm mại.

- Màu vàng tỏa sắc rực rỡ.

- Vàng được coi là rất giá trị.

Bảy thứ báu vừa kể trên chỉ là mượn danh hiệu cõi này để tạm diễn tả, chứ mỗi thứ báu đều thù thắng, siêu việt hơn các thứ báu cùng tên trong cõi này đến trăm ngàn vạn lần.

Có kẻ bắt bẻ: “Vua Nghiêu ở chòi tranh, vua Vũ tránh nơi cung thất, Nhan Hồi ngụ trong xóm nghèo. Cổ thánh tiên hiền chỉ quý ở đức, chẳng trọng xa hoa, sao riêng Phật, thánh cõi Tây Phương lại chẳng làm như thế? Đấy có phải là tham ưa cảnh hoa lệ, vọng cầu hướng ngoại đó chăng?”

Xin đáp: Ôi! Cật vấn như vậy là vẫn chưa hiểu thấu bi tâm của đấng A Di Đà nên mới nghi như vậy! Phải biết rằng: Phật vì lợi sanh thương vật, mở ra phương tiện lớn lao hòng thích hợp với mọi cơ nghi, dùng đại hạnh nguyện vô lượng công đức để trang nghiêm cõi Tịnh Độ Cực Lạc ngõ hầu chúng sanh biết khổ, cầu vui, chán uế ưa tịnh, phát tâm tu hành niệm Phật để rồi rốt ráo sẽ thành Phật. Đến như tự tánh vốn sẵn đủ hằng sa công đức, đầy đủ bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, thì dù thất bảo trang nghiêm vẫn chưa đủ là vi diệu thù thắng nữa là!

Làm như vậy chẳng qua là “trước dùng dục để lôi kéo, sau sẽ khiến cho nhập Phật trí”. Đấy chính là một diệu pháp phương tiện để dẫn độ chúng sanh. Liên Trì đại sư từng bảo: “Ví như đang ở trong cõi đói lạnh, chợt nghe có chốn no ấm, đang ở lâu trong chốn tối tăm, chợt thấy cảnh quang minh, ai mà không thân tâm hớn hở, mau mau bỏ cái cũ chọn lấy cái mới cơ chứ! Nếu được vãng sanh, rốt cục sẽ được giải thoát. Hãy nên biết phương tiện tiếp dẫn như thế đó!”

 

Xét về Lý:

- “Tứ biên giai đạo” biểu thị giảng dạy bốn phương pháp niệm Phật.

- “Lầu gác” biểu thị chân trí an trụ trong lý Vô Sanh.

 

Chánh kinh:

 

Trì trung liên hoa đại như xa luân. Thanh sắc thanh quang; hoàng sắc hoàng quang, xích sắc xích quang; bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết.

(Hoa sen trong ao to như bánh xe. Màu xanh, ánh sáng xanh. Màu vàng ánh sáng vàng. Màu đỏ ánh sáng đỏ. Màu trắng ánh sáng trắng, vi diệu hương khiết).

 

Giải:

Ao báu là chỗ để thác sanh vào Cực Lạc. Hoa sen là nơi để gởi chất. Hoa sen hàm nghĩa ly cấu thanh tịnh. Chẳng những các ao do bảy báu tạo thành, mà những hoa sen mọc trong ấy cũng do thất bảo tạo thành: rễ bám trong cát vàng, hoa xòe trên mặt nước tám công đức, quang minh, màu sắc chói ngời, vi diệu thơm sạch, khác hẳn với hoa sen nảy từ chốn bùn lầy, nước đọng trong cõi Sa Bà.

Câu “đại như xa luân” diễn tả kích thước, hình dáng hoa sen, ý nói: hoa sen trong ao báu cõi Cực Lạc to như bánh xe vàng của Chuyển Luân Thánh Vương thường dùng (bánh xe vàng của Chuyển Luân Thánh Vương to một do tuần. Chuyển Luân Thánh Vương tức là Kim Luân Vương, đứng đầu trong bốn loại Luân Vương, cai trị bốn đại châu. Thấp nhất là Thiết Luân Vương chỉ cai trị một châu Nam Thiệm Bộ).

Nói “to bằng bánh xe” là chỉ nói về hoa sen có kích thước nhỏ nhất. Quán Kinh chép: “Trong mỗi một ao, có sáu mươi ức hoa sen bằng bảy báu tròn trịa, to đúng mười một do tuần”. Do thân tướng của chúng sanh trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư có khác biệt nên hoa sen phải to nhỏ tương xứng, chứ không thể có kích thước nhất định được. Sở dĩthân tướng khác biệt là do trong lúc tu nhân vãng sanh, có chuyên gắng hay lười nhác sai khác, nên chiêu cảm được thân thù thắng hay kém cỏi khác biệt.

Thêm nữa, “xa luân” chẳng những dùng để mô tả hình dạng của hoa mà còn nhằm để biểu thị phẩm đức của hoa. Bánh xe (luân) có ba công năng: vận chuyển, nghiến nát, phi hành:

- Bánh xe có công năng chuyên chở. Cũng thế, hoa sen cõi Cực Lạccông năng chuyên chở người niệm Phật trong mười phương thoát khỏi biển khổ sanh tử, sanh về Cực Lạc, chuyển phàm thành thánh.

- Bánh xe lăn đến đâu, sẽ nghiến nát vật gì nó lăn qua. Cũng vậy, hoa sen cõi Cực Lạc là chốn để người niệm Phật gởi chất, một khi đã được vãng sanh cõi Cực Lạc thì dĩ nhiên phiền não đã bị nghiến nát.

- Bánh xe vàng của Luân vương có thể bay đi mười phương. Cũng vậy, hoa sen cõi Cực Lạc có thể bay đến mười phương tiếp dẫn người niệm Phật vãng sanh cõi Cực Lạc. Đấy chính là ý nghĩa “phi hành”.

Bốn câu “thanh sắc thanh quang...” diễn tả sự thù thắng của những hoa sen đó. Hoa nào tỏa quang minh màu đó, khác nào châu ngọc lóng lánh, ánh sáng rực rỡ. Hoa sen cõi Cực Lạc do thất bảo hợp thành chói lọi khôn sánh, nên mới chói rực quang minh.

Hoa sen màu xanh gọi là Ưu Bát La (Utpala), hoa vàng tiếng Phạn là Câu Vật Đầu (Kumuda), hoa sen đỏ là Bát Đầu Ma (Padma), hoa sen trắng là Phân Đà Lợi (Pundarika).

Do thân của những vị được vãng sanh cõi Cực Lạcquang minh nên thai sen cũng phát quang minh rực rỡ. Thật ra, những hoa sen ấy hoặc chỉ có một màu, hoặc có nhiều màu, vô lượng quang minh, màu sắc.

Ở đây chỉ nói bốn màu là nói giản lược. Kinh Vô Lượng Thọ nói rộng hơn nhưng cũng chỉ đề cập đến vài màu như xanh, vàng, đỏ, trắng, huyền, son, tía v.v... Quang minh chói ngời màu sắc, màu sắc rực rỡ tỏa sáng khác nào mặt trời, mặt trăng. Trong mỗi mỗi hoa lại phóng ra ba trăm sáu mươi ngàn ức quang minh v.v... Như vậy, mỗi hoa senvô lượng màu sắc, mỗi màu lại chiếu rọi ra vô tận quang minh. Quang minh, màu sắc trùng trùng phản chiếu lẫn nhau. Mỗi quang minh hàm chứa vô lượng màu, mỗi quang minh lại dung hàm vô lượng quang minh. Chẳng thể suy lường, hình dung được nổi!

Những hoa sen ấy vừa để trang nghiêm cõi Cực Lạc, vừa làm thai bào cho những người được vãng sanh Cực Lạc. Do chúng sanh vãng sanh Cực Lạc đã đoạn dâm dục nên chẳng còn phải thọ thai do cha mẹ sanh thành, nên đều là liên hoa hóa sanh. Chúng sanh trong mười phương, hễ nghe đến pháp môn Niệm Phậttín nguyện phụng hành thì trong ao bảy báu nơi Cực Lạc liền nảy sanh một đóa sen báu, có ghi tên người ấy. Hoa sen ấy thuận theo niệm lựcnảy nở, tùy theo công hạnh của người niệm Phật sẽ thù thắng hay kém cỏi. Nếu người niệm Phật chuyên gắng, nỗ lực thì hoa sen ngày càng tươi tốt, xinh đẹp bội thường. Nếu lười biếng, buông lung hoặc giữa đường buông bỏ thì hoa sen sẽ ngày một tàn tạ, thậm chí héo rũ, rồi biến mất.

Nếu một đời tinh tấn, chuyên tinh niệm Phật thì lúc lâm chung liền được vãng sanh, thọ sanh trong hoa sen báu thanh tịnh. Như vậy gọi là “liên hoa hóa sanh”. Khi hoa nở sẽ gặp Phật, liền ngộ Vô Sanh. Theo Quán kinh, tùy theo công đức tu hành sâu cạn, hành nhân sẽ vãng sanh trong chín phẩm sen, hoa sẽ nở chậm hay lâu. Cũng vì tất cả hành nhân vãng sanh Cực Lạc sẽ thọ sanh trong hoa sen nên Cực Lạc thường được gọi là Liên Bang, pháp môn Tịnh Độ được gọi là Liên Tông, người đồng tu Tịnh nghiệp gọi là Liên Hữu.

Hỏi: Người niệm Phật trong mười phương thế giới rất đông, làm sao có đủ hoa sen trong ao bảy báu để họ gởi thân được?

Đáp: Phải nhớ là cõi Cực Lạc do công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà tạo thành, nên chẳng giống như cõi thế gian này có sắc chất chướng ngại. Khác nào trăm sông, ngàn suối, vạn khe đổ vào biển cả, biển cả vẫn chẳng dâng trào. Muôn vạn hình bóng soi vào trong gương, gương vẫn chẳng chướng ngại. Ao báu chốn Cực Lạc khác nào biển cả, như gương. Người cầu được vãng sanh khác nào trăm sông, vạn suối, giống như muôn hình ảnh mà thôi. Vậy thì còn lo chi sẽ không có chỗ, sẽ bị chướng ngại lẫn nhau nữa ư!

 

Câu “vi diệu hương khiết” lược tả bốn đức của hoa sen. Hoa sen trong cõi Sa Bà này có đủ bốn đức:

- So với các hoa khác, hoa sen tinh tế hơn, xinh đẹp, cao quý, đài các, nhưng không diêm dúa. Đó là Vi.

- Trong một đóa hoa sen có đủ cả nhân lẫn quả. Các loài hoa khác phải nở hoa rồi mới kết quả. Hoa sen thì gương sen chính là quả. Hoa vừa ra búp đã sẵn có quả, thật là chẳng thể nghĩ bàn. Đấy chính là ý nghĩa của chữ Diệu.

- Hoa sen có mùi thơm u nhã, dịu dàng, khiến tinh thần sảng khoái, tâm tưởng nghĩ đến chuyện thanh cao. Đó chính là ý nghĩa của chữ Hương.

- Hoa sen mọc lên từ bùn nhưng chẳng nhuốm bùn. Đấy chính là Khiết.

Thế nhưng hoa sen cõi Cực Lạc còn thù thắng vượt trội hơn nữa. Màu sắc, quang minh đã vượt xa chốn khác, mùi hương của hoa sen cõi Cực Lạc càng đặc biệt diệu kỳ hơn nữa.

Hoa sen cõi Cực Lạc có những đặc tính sau:

- Do thất bảo hợp thành, không chốn nào được như thế, nên bảo là Vi.

- Màu sắc đã vô lượng, lại còn có thể phóng quang, nên bảo là Diệu.

- Mùi hương thơm ngát lạ lùng, bốn mùa chẳng biến đổi, nên bảo là Hương.

- Phát sanh từ nước có đủ tám công đức, trọn không bị nhiễm bẩn, nên bảo là Tịnh.

Hơn nữa, quang minh, màu sắc dung nhiếp lẫn nhau, kích thước không hạn định, nên bảo là Vi. Là chỗ gởi thân cho người vãng sanh, dẫu nhiều vô lượng vẫn không trở ngại lẫn nhau, nên bảo là Diệu. Hương thơm nhiệm mầu ngào ngạt, mùi thơm thanh khiết lan tỏa khắp chốn, nên bảo là Hương. Không hề diêm dúa, thể chất thanh tịnh, nên gọi là Khiết.

Lại nữa, có hoa nhưng không có sắc chất, nên bảo là Vi. Nhiều hoa nhưng không hề chướng ngại lẫn nhau, nên bảo là Diệu. Tỏa mùi thơm ngào ngạt khắp chốn, nên bảo là Hương. Chẳng nhiễm trần cấu vì không có sắc chất, tinh khiết bậc nhất, nên bảo là Khiết.

Ngài Nam Đình Hòa Thượngpháp sư Văn Châu lại giảng ý nghĩa bốn chữ “vi diệu hương khiết” như sau:

“Chữ Vi có bốn nghĩa:

a) U vi (ẩn kín): Do rễ hoa ngập chìm dưới đáy ao, mắt chẳng thấy được, nên bảo là “u vi”.

b) Ẩn vi: Chẳng sanh trưởng trên cao nguyên hay trên đất bằng, chẳng đua chen hương sắc cùng các loại hoa khác, nên bảo là “ẩn vi”.

c) Tế vi: Mỗi cánh sen có tám vạn bốn ngàn đường vân giống như nét vẽ của trời, nên bảo là “tế vi”.

d) Tinh vi: do thất bảo hợp thành, trân kỳ, lộng lẫy, cao sang, nên bảo là “tinh vi”.

Với các ý nghĩa u vi, ẩn vi thì hoa sen cõi này cũng có, riêng tế vi và tinh vi chỉ mỗi hoa sen Cực Lạc mới có.

Chữ Diệu có mười hai nghĩa:

a) Trổ hoa liền có quả, chẳng phải đợi đến khi hoa tàn mới kết quả, đấy chính là “nhân quả đồng thời diệu”.

b) Nhiễm mà chẳng nhiễm, chẳng nhiễm mà nhiễm, đấy là “cấu tịnh song phi diệu” (dơ sạch cùng mất).

c) Cánh hoa bọc lấy hạt, hạt nằm la liệt giữa gương hoa. Đấy chính là “tổng biệt tề chương diệu” (chung và riêng cùng phô bày).

d) Sáng xòe ra, đêm khép lại, đấy chính là “ẩn hiển tùy nghi diệu”.

e) Hoa lớn có trăm ngàn vạn đóa hoa sen vây quanh làm quyến thuộc. Đấy chính là “chủ bạn tương tham diệu” (chủ và bạn quây quần, ảnh hưởng lẫn nhau)

f) Ba phẩm thượng, trung, hạ; mỗi phẩm lại chia thành ba phẩm nữa. Tùy theo tu nhân trong đời trước thế nào sẽ thọ sanh trong phẩm hoa ấy, chẳng lẫn lộn. Đấy chính là “thắng liệt phân minh diệu” (hơn kém rạch ròi).

g) Lớn từ một do tuần đến trăm ngàn vạn ức do tuần, đấy chính là “tiểu đại vô định diệu” (lớn nhỏ không nhất định).

h) Chẳng hề có cảnh Xuân nở Thu tàn, lúc nào cũng đẹp đẽ như mới. Đấy chính là “hàn thử bất thiên diệu” (lạnh nóng chẳng thay đổi).

i) Thuần sắc, thuần quang, tạp sắc, tạp quang, đấy chính là “thái tố giao huy diệu” (hoa nhiều màu lẫn hoa thuần một màu chen nhau tỏa sáng).

j) Hoa sen sanh trưởng từ Cực Lạc nhưng thường có thể hiện đến cõi này để tiếp đón người sẽ được vãng sanh. Đấy chính là “động tịnh nhất nguyên diệu” (động và tịnh cùng một nguồn).

k) Chư Phật và thánh chúng ngồi xếp bằng trên hoa. Chúng sanh niệm Phật, gởi thân trong hoa. Đấy chính là “phàm thánh kiêm thành diệu” (phàm lẫn thánh cùng thành tựu).

l) Người phương này niệm Phật, hoa liền đề tên. Siêng, nhác vừa khác, tươi héo liền phân, đấy chính là “cảm ứng minh phù diệu” (sự cảm ứng ngầm tương hợp).

Về Hương thì chia thành “uế trung hương” và “hương trung hương”:

- Hoa sen cõi Sa Bà đây sanh trưởng từ bùn nhơ nhưng chẳng nhiễm, mùi hương thanh đạm, u nhã, đấy chính là Uế Trung Hương. 

- Hoa sen cõi Cực Lạc, quang minh lẫn màu sắc đều khác lạ, mùi hương cành khác, ngào ngạt, nồng nàn, vượt hơn hẳn hết thảy các mùi hương khác. Đấy chính là Hương Trung Hương.

Về chữ Khiết cũng chia ra làm Cấu Trung Khiết và Khiết Trung Khiết:

- Hoa sen cõi này mọc lên từ bùn nhưng chẳng nhơ, rạng rỡ thanh tịnh. Đấy chính là Cấu Trung Khiết (sạch trong nhơ).

 - Hoa sen cõi Cực Lạc bắt rễ từ cát vàng, sanh từ nước tám công đức, thể chất là diệu bảo, khác với những loài hoa cỏ tầm thường, khiết tịnh không sánh nổi. Đấy chính là Khiết Trung Khiết”.

 

Xét về Lý:

“Hoa sen” biểu trưng tự tánh thanh tịnh; “phóng quang” biểu trưng bản thể của tự tánh tịch tịnh nhưng thường chiếu. Hoa sen có bốn màu:

- Màu xanh thuộc hành Mộc, thuộc về mùa Xuân. Mùa Xuân tươi non khởi đầu một năm, biểu thị tâm là gốc của vạn vật, tức là Pháp Thân đức. Xuân về, hết thảy cỏ cây đâm chồi, nẩy lộc, biểu trưng trí huệ có thể chiếu soi hết thảy chân lý, đó chính là Bát Nhã đức. Mùa Xuân thời tiết ôn hòa, ai nấy đều ưa thích. Đó chính là ý nghĩa an lạc, hay nói cách khác là Giải Thoát đức.

- Màu vàng thuộc hành Thổ, nằm ở vị trí trung ương, thuộc về chủ vị. Như vậy, màu vàng biểu thị Trung Đạo hay chủ vị; biểu thị tâm là gốc của vạn pháp. Đấy chính là Pháp Thân đức. Màu vàng là màu của đất, mà đất có công năng sanh trưởng vạn vật, biểu thị Chân Trí chiếu soi hết thảy lý, tức là Bát Nhã đức. Đất là nơi mọi người chúng ta an trụ, biểu thị sự an trụ trong Niết Bàn, đấy chính là Giải Thoát đức.

- Màu đỏ thuộc hành Hỏa ở phương Nam. Mùa Hạ là lúc vạn vật phát triển sung mãn nhất, biểu thị tự tánhvô lượng công đức thù thắng, đấy chính là Pháp Thân đức. Hỏa (lửa) có quang minh, biểu thị tự tánh có đủ hết thảy quang minh trí huệ; đấy chính là Bát Nhã đức. Lửa cháy tiêu hết thảy vạn vật, biểu thị trí huệcông năng đoạn hoặc, tức là Giải Thoát đức.

- Màu trắng: thuộc về hành Kim ở Tây phương, tương ứng với mùa Thu. Bản chất của Kim là kiên cố, biểu thị tự tánh thường trụ bất biến. Đấy chính là Pháp Thân đức. Sắc của nó chói lọi, biểu thị tự tánh có đủ hết thảy trí, đấy chính là Bát Nhã đức. Tánh của hành Kim nhu nhuyễn, biểu thị tự tánh an lạc tự tại, tức là Giải Thoát đức.

Thêm nữa, sắc trắng biểu thị Pháp Thân thanh tịnh, khí Thu dìu dịu biểu thị tự tánh tịch diệt, trời Thu mát mẻ, trong trẻo biểu thị tự tánh an hòa.

Ngài Khuy Cơ cho rằng bốn màu sắc của hoa sen nói ở đây nhằm biểu thị người sanh trong Tịnh Độ thành tựu bốn điều: tâm không siểm khúc, chẳng nói lời hư dối, chứng tứ Niết Bàn, đắc tứ trí. Pháp sư Đạo Nguyên lại cho rằng bốn loại hoa sen nhằm tượng trưng cho bốn mươi địa vị trong Chánh Định Tụ tức là: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi HướngThập Địa

Hoa sen biểu thị pháp thân ly cấu thanh tịnh. “Đại như xa luân” (to như bánh xe) biểu thị Báo Thân viên mãn trang nghiêm. Các quang minh biểu thị tự tánh có đủ vô lượng quang minh. “Vi diệu hương khiết” biểu thị tứ đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

 

1.2.1.1.2. Kết thành

 

Chánh kinh:

 

 Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ thành tựu như thị, công đức trang nghiêm.

 (Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế đấy).

 

Giải:

 Đấy chính là đoạn văn để kết lại.

 Đại lược, câu văn trên hiển thị ý: Tất cả những cảnh sắc thù thắng trong cõi Cực Lạc như thế đó đều là do đại bi, đại nguyện, đại hạnh, vô lượng của Phật Di Đà cảm thành. Nguyện hạnh, công đức là nhân, trang nghiêm là quả. Có nhân như thế ắt phải có quả như thế!

 “Thành tựu” nghĩa là hạnh viên mãn, nguyện được thỏa. Đức Di Đà nay đã thành Phật, nguyện của Ngài đã viên mãn, thành tựu không dối.

 Chữ “như thị” chỉ tất cả các sự trang nghiêm đã nói ở phần trên: ao báu, nước tám công đức, lầu gác, hoa sen v.v...

 “Công đức”: đại nguyện hạnh chẳng thể nghĩ bàn và những điều tu thành của đức Di Đà gọi là Công Đức. Nếu chỉ chăm lo những điều phước thiện thế gian thì đó chỉ là công đức hữu lậu, còn kém cỏi. Trang nghiêm tự tánh chính là công đức vô lậu, rất thù thắng. Nay công đức của Đức Phật A Di Đà là do vận dụng những hạnh nguyện chẳng thể nghĩ bàn tạo thành nên công đức ấy thật vô lậu thù thắng, chẳng thể nghĩ bàn.

 “Trang nghiêm”: Trang là tráng lệ, nghiêm là nghiêm sức (trang hoàng đẹp đẽ). Diệu cảnh Tây Phương chính là đối tượng được trang nghiêm, được thành tựu, còn đại nguyện hạnh của đức Di Đà chính là chủ thể thực hiện sự trang nghiêm, sự thành tựu ấy. Cõi Cực Lạc mỗi mỗi đều trang nghiêm khôn sánh là do lúc Phật Di Đà còn tu nhân đã phát ra đại nguyện rộng lớn, đã trải qua bao kiếp tu hành đại hạnh. Sự trang nghiêm ấy là do vô lượng công đức xứng tánh tạo thành (xứng hợp với chân như tự tánh vốn sẵn đủ các công đức nên gọi là “xứng tánh công đức”).

 Nếu xét về Lý, câu “thành tựu như thị công đức trang nghiêm” hiển thị tự tánh đầy đủ hết thảy công đức. Người niệm Phật nếu tín nguyện niệm Phật sẽ trong niệm niệm ngộ nhập chân tánh, đầy đủ các công đức trang nghiêm như vậy. 

 

1.2.1.2. Hoa, nhạc, kim địa (hoa trời, nhạc trời, đất bằng vàng ròng)

 1.2.1.2.1. Chánh thị diệu cảnh (diễn bày cảnh mầu nhiệm

 

Chánh kinh:

 

Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thường tác thiên nhạc, hoàng kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn đà la hoa.

 (Lại này Xá Lợi Phất! Cõi nước Đức Phật ấy, thường trỗi nhạc trời. Vàng ròng làm đất. Ngày đêm sáu thời, mưa xuống hoa mạn đà la cõi trời).

 

Giải:

 Phần này diễn tả cảnh ngũ trần thượng diệu được hưởng thọ bởi những người đã vãng sanh Cực Lạc.

 “Thiên nhạc” chính là thanh trần (tức là những thứ được cảm nhận bởi tai – nhĩ căn).

“Kim địa” chính là sắc trần (đối tượng cảm nhận của mắt), “thiên hoa” chính là sắc trầnhương trần. Rải hoa, đi kinh hành chính là xúc trần.

“Phạn thực” (dùng cơm) là vị trần.

Nước, chim, gió, cây vang ra pháp âm chính là thanh trần.

 Trong đoạn kinh văn vừa dẫn trên, ta thấy: trên thì thiên nhạc rền trời, dưới thì đất bằng vàng ròng óng ánh, nào là hoa trời phơi phới rơi xuống, trên dưới sáng ngời. Chẳng những tai nghe tiếng nhạc du dương, mà mắt cũng thấy hoa trời thanh thoát, dạo gót trên đất vàng óng ả; quả đáng gọi là Cực Lạc chẳng ngoa.

 

 Trước hết kinh đề cập đến thanh trần:

 “Thường tác thiên nhạc”: Có hai loại thiên nhạc:

 a) Chư thiên chi nhạc: tức là các loại âm nhạc do chư thiên trong tam giới thường tấu lên để dâng hiến đức giáo chủ cõi Cực Lạc và các thánh chúng.

b) Thiên nhiên nhạc: nghĩa là loại âm nhạc tự nhiên vang ra tiếng, không cần người diễn tấu như kinh Đại Bổn chép: “Cũng tự nhiên có vạn thứ âm nhạc, không tiếng nhạc nào là không thanh tịnh, trong trẻo, thông suốt, vi diệu, trong sáng, thanh nhã, hết thảy các thứ âm thanh trong thế gian chẳng sánh được nổi”. Quán kinh cũng chép: “Các loại nhạc khí treo trên hư không như tràng báu của trời, chẳng đánh mà tự phát ra tiếng, chưa hề gián đoạn”.

Âm nhạc cõi Cực Lạc đã không phải nhọc công diễn tấu, âm vận, thanh điệu lại diệu tuyệt, trang nhã, vượt hẳn âm nhạc thế gian cả một trời một vực.

Trong hai chữ “thường tác” thì: Luôn như thế, chẳng biến đổi là Thường; gõ, khảy là Tác. “Thường tác” lại có hai ý:

a) Thời thường (nghĩa là thường có luôn, nhưng không luôn luôn): Ý chỉ các loại nhạc do chư thiên thường diễn tấu. Chư thiên thường tấu nhạc cúng dường, nhưng không phải lúc nào cũng tấu nhạc cả.

 b) Vĩnh thường (vĩnh viễn có mãi): tức là các loại thiên nhiên lúc nào cũng diễn tấu, ngày đêm sáu thời không lúc nào bị gián đoạn cả.

 Do bởi những nghĩa ấy nên bảo là “thường tác thiên nhạc”.

 

“Hoàng kim vi địa” (vàng ròng làm đất): Câu này nói đến sắc trần thượng diệu. Trong kinh đây chỉ nói một cách giản lược là “hoàng kim” bởi lẽ hoàng kim đứng đầu thất bảo. Chứ thật ra, theo kinh Vô Lượng Thọ, mặt đất cõi Cực Lạc hoặc thuần bằng một thứ báu hoặc do nhiều chất báu hợp thành, chẳng hề nhất định. Sở dĩ vàng ròng cùng bảy báu xen kẽ làm đất là do chúng sanh cõi Cực Lạc tâm niệm thanh tịnh, nên cảm được đất báu bằng phẳng, nhu nhuyễn, đẹp đẽ đến thế.

 “Trú dạ lục thời” (ngày đêm sáu thời): Trú là ban ngày, Dạ là ban đêm. “Lục thời” là ngày và đêm đều có ba thời: sơ, trung, hậu, gộp thành sáu thời, nên bảo là “trú dạ lục thời”. Cũng có sách giải thích là ngày và đêm, mỗi buổi đều có sáu thời. Chẳng hạn, các giờ Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân là sáu thời ban ngày. Có thuyết cho rằng: cõi Cực Lạc khi hoa nở là ngày, hoa khép lại là đêm.

 Thật ra, nói ngày hay đêm cũng là chỉ thuận theo phương này mà nói để thính chúng dễ lãnh hội đó thôi. Chứ thật ra cõi Cực Lạc không hề tối tăm, thân ai cũng có quang minh, cần chi phải có mặt trời, mặt trăng soi sáng!

 “Vũ thiên mạn đà la hoa”: Vũ nghĩa là rơi xuống, tuôn xuống. Chữ Thiên ở đây chỉ chư thiên.

Mạn Đà La là tên một loại hoa ở cõi trời, Hán dịch là Thích Ý (đẹp ý) hay Diệu Hảo. Vì loài hoa này cả sắc lẫn hương đều diệu mỹ tuyệt vời nên có tên như thế. Ngoài ra, hoa gọi là Thích Ý: Vì các vị thánh chúng thuộc địa vị Tam Hiền, Thập Thánh cõi Cực Lạc (thường gọi là Giáo Nội Phàm Phu) vẫn còn có tâm phân biệt, nên hoa Mạn Đà La đây sẽ tùy theo tâm ý của từng người mà biến hiện đẹp đẽ sai khác. Có chỗ còn dịch Mạn Đà La là Bạch Hoa vì hoa này khiết bạch khôn sánh.

Ở đây, Phật cũng nói giản lược, chỉ nêu một loại hoa, chứ thật ra phải nói là “trời mưa xuống bốn thứ hoa” mới phù hợp với câu “thành chúng diệu hoa” (đựng các hoa đẹp ấy).

 Bốn thứ hoa là: Mạn đà la (bạch hoa), mạn thù sa (hoa đỏ), ma ha mạn đà la, ma ha mạn thù sa. Trong các loại hoa cõi trời, bốn loại vừa kể thù thắng nhất nên chư thiên thường rưới bốn loại hoa này để cúng dường chư Phật và Bồ Tát. Vì thế kinh mới chép là “trú dạ lục thời, thường vũ thiên mạn đà la hoa”. Bất cứ lúc nào chư thiên thường rải xuống các loại hoa mầu nhiệm như vậy để biểu thị ý tán thán, cúng dường. Theo kinh Vô Lượng Thọ, hoa rơi xuống tụ lại thành từng loại theo đúng màu sắc không tạp loạn. Gió cuốn hoa cũ, đất nứt ra thâu lấy, lại mưa hoa mới để trang nghiêm đất báu.

 Bốn loại hoa trời vừa nói trên có những đức tánh sau: 

 - Nghiêm tịnh cõi nước: biểu thị chúng sanh cõi ấy dùng thiện pháp để trang hoàng thân mình.

 - Hoa nở tung, thấy rõ cả đài: biểu thị pháp chân thật thù thắng hơn pháp của Nhị Thừa

- Trước là hoa, sau là quả: biểu thị nhân quả trước sau của người vãng sanh trong cõi ấy.

- Mùi hương lan xa, ai ngửi thấy cũng vui thích, biểu thị người sanh về Tịnh Độ, hương thơm giới đức tỏa ngát mười phương.

Hơn nữa, kinh đây chỉ nói trời mưa hoa Mạn Đà La (bạch hoa) nhằm biểu thị: người sanh về Tịnh Độ chỉ có bạch nghiệp.

 

1.2.1.2.2. Trì hoa cúng Phật (cầm hoa cúng Phật)

 

Chánh kinh:

 

 Kỳ độ chúng sanh thường dĩ thanh đán, các dĩ y kích thành chúng diệu hoa, cúng dường tha phương thập vạn ức Phật. Tức dĩ thực thời, hoàn đáo bổn quốc, phạn thực, kinh hành.

 (Chúng sanh cõi ấy thường mỗi sáng sớm, đều dùng y kích đựng các diệu hoa, cúng dường mười vạn ức Phật ở những phương khác. Cho đến giờ ăn, trở về nước mình, dùng cơm, kinh hành).

 

Giải:

 

“Kỳ độ chúng sanh” (chúng sanh trong cõi ấy): chữ Chúng Sanh chỉ tất cả những người niệm Phật đã sanh trong cõi Cực Lạc. Trừ mình Đức Phật được xưng tụng là bậc Đại Giác, từ hàng Bồ Tát trở xuống đều gọi là “chúng sanh”.

 

“Thường dĩ thanh đán”: Ở đây, chữ Dĩ có nghĩa là “vào lúc”. Ý nói: thường vào lúc sáng sớm. “Thanh đán” có nghĩa là lúc mới vừa rạng sáng. Lúc ấy, phương Đông có những tia sáng chiếu rọi, nên bảo là “thanh đán”. Nói “thường dĩ” là hàm ý: ngày nào cũng làm như thế, chẳng hề mỏi lười, cứ vào rạng sáng là cầm hoa đi cúng Phật để tỏ lòng kính mộ tột bậc vậy.

 

“Các dĩ y kích thành chúng diệu hoa” (ai nấy đều dùng y kích đựng các diệu hoa): “Các” có nghĩa là mỗi người đều làm như thế. “Dĩ” là dùng, lấy. Có hai cách giải thích chữ “y kích”:

a) Là một thứ vật dụng để đựng hoa trong cõi Cực Lạc (giống như cái đãy đựng hương hay giỏ đựng hoa trong thế gian này).

 b) Y kích có nghĩa là vạt áo; vì xét theo tự dạng, “kích” chính là vạt áo, tà áo.

Pháp Sư Bân Tông cho rằng cách giải thích thứ hai xác đáng hơn vì: “Lúc thiên hoa vừa rơi xuống, liền cầm ngay vạt áo hứng lấy, sao còn phải đợi tìm đồ đựng. Dùng ngay vạt áo hứng hoa, khi rải hoa sẽ buông vạt áo. Tự nhiên, tiện lợi nào bằng? Đấy cũng là một điều khoái ý của cõi Tịnh Độ”.

“Thành” (chữ thạnh (thịnh) đọc theo âm bằng) có nghĩa là chứa đựng. Chữ “chúng” đã minh xác nào phải chỉ dùng “y kích” để đựng có mỗi một loại hoa mạn đà la mà thôi đâu! Do hương sắc thù thắng chẳng thể nghĩ bàn nên bảo là “diệu”. “Hoa” ở đây là thiên hoa, chẳng cần ai phải chăm bón, tưới tắm, cứ tự nhiên kết nụ, khai hoa. Những hoa ấy màu sắc chói ngời, mùi hương u khiết. Khi rải lên, quang sắc của hoa chói ngời ngời, hương xông ngát mũi; hết thảy mọi loài danh hoa trong thế gian này chẳng thể nào bén gót nổi. Vì thế thiên hoa được gọi là “diệu hoa”.

Thật ra, chúng sanh cõi Cực Lạc chẳng chỉ hứng lấy hoa trời mà còn hứng cả hoa của những cây báu, vì chúng cũng thường rưới muôn hoa xuống mặt đất. Hương sắc của những hoa cây báu ấy cũng dị thường trân quý, rất đáng dùng để cúng Phật.

 

“Cúng dường tha phương thập vạn ức Phật”: Cúng là dâng, Dường là cung kính. Như vậy, “cúng dường” có nghĩa là kính dâng lên. Có ba thứ cúng dường:

a) Tài cúng dường: sắp dọn các thứ hương, hoa, thức ăn dâng cúng Tam Bảo.

b) Kính cúng dường: dùng tâm chí thành tán thán, lễ bái Tam Bảo.

c) Hạnh cúng dường: còn gọi là Pháp Cúng Dường. Có nghĩa là tâm chân thành, kiên cố, đứng như pháp thọ trì, tinh tấn tu hành.

Nói tỉ mỉ hơn có đến năm mươi thứ cúng dường, nhưng e quá rườm rà nên không thuật đủ ở đây.

Nay dâng hoa cúng Phật, xét về Sự tuy thuộc về Tài Cúng Dường, nhưng trên Lý đã đủ cả ba loại cúng dường. Bởi lẽ hành động ấy đã hàm ý vui vẻ ca ngợi, tán thán Phật đức, nghe pháp, thọ trì vậy.

“Tha phương”: Các chúng sanh cõi ấy coi Cực Lạc là quê hương nên gọi là “bổn quốc”, gọi các cõi Phật khác là “tha phương” (phương khác).

“Thập vạn ức Phật”: dù là thập, hay vạn hoặc ức cũng chỉ là những con số ước lệ hòng diễn tả số nhiều đến cùng cực, chứ nào phải nhất định chỉ có mười vạn ức đó ư! Chữ Phật trong câu này chỉ chư Phật trong mười phương thế giới.

Chúng sanh cõi Cực Lạc hứng lấy diệu hoa nào phải để nhìn ngắm, hưởng thụ suông, mà là để rộng vun bồi cội đức, rộng tu hạnh cúng dường. Vì thế, trước hết, họ dâng cúng lên đức Bổn Sư cõi ấy là Phật A Di Đà; sau đấy, mới lần lượt ngồi cung điện bảy báu hay ngự hoa sen báu, bay qua các cõi Phật trong mười phương cúng dường chư Phật. Ở mỗi nơi đều trần thiết cúng phẩm lớn lao, lắng nghe tin nhận diệu pháp. Số lượng các cõi nước Phật họ đi qua nhiều hay ít tùy theo nguyện lực, chứ chẳng phải chỉ có mười vạn ức cõi Phật mà thôi!

 

“Tức dĩ thực thời hoàn đáo bổn quốc”: câu này nói lên sự phi hành cúng dường của chúng sanh cõi Cực Lạc thật là thần tốc; đến lúc thọ trai buổi sớm đã kịp đi đến mười phương cúng dường xong, trở về cõi Cực Lạc. Rạng sáng hứng lấy hoa ra đi, đến giờ thọ trai sáng đã về, khoảng thời gian ấy thật là ngắn ngủi. Nếu chẳng do sức nhiệm mầu của thần túc, dễ hồ đi về nhanh chóng đến mức ấy ư? Khoa học hiện đại đoan quyết: mỗi một giây, mặt trời xoay được mấy vạn dặm. Nhưng nếu đem so với sức thần túc của các vị thượng thiện nhân cõi Cực Lạc, tốc độ của mặt trời chẳng thấm vào đâu!

Sức thần túc ấy do tịnh nghiệp của họ tự chiêu cảm, mà cũng là do đại nguyện lực của Phật A Di Đà cảm thành. Bởi lẽ đức Di Đà đã phát nguyện ai sanh trong cõi Cực Lạc cũng đều thuộc vào Chánh Định Tụ, trụ trong ba bất thoái chuyển. Do vậy, chúng sanh cõi Cực Lạc đương nhiên sẽ có đủ lục thần thông.

Thần Túc thông còn gọi là Thân Như Ý Thông, có ba diệu dụng:

 

a) Năng vận thần lực (thần lực có khả năng chuyên chở): Phi hành tự tại, đến mọi nơi một cách cực kỳ nhanh chóng.

b) Chuyển biến thần lực: Có thể chuyển biến từ một sang nhiều, từ lớn thành nhỏ và ngược lại.

c) Thánh như ý thần lực: sự biến hóa không lường, hóa hiện vô cùng.

 

“Phạn thực” nghĩa là cúng dường chư Phật xong, trở về cõi Cực Lạc, gặp đúng lúc thọ trai buổi sớm, bèn theo chúng dùng cơm. Do thần lực của Phật, chúng sanh cõi Cực Lạc khi ăn cơm dùng toàn các thứ quý báu như thất bảo làm bát đựng, cơm trăm vị tùy ý hiện tiền, chẳng cần phải nấu nướng, bày biện, dọn dẹp. Cứ ăn xong là tự nhiên biến mất, chẳng phải nhọc lòng rửa ráy, phơi phóng, úp cất chi cả. Mà thật ra cũng không có ăn nữa, chỉ nhìn thấy tâm đã no đủ rồi.

Kinh Thụy Ứng Bản Khởi cũng chép: “Những người vãng sanh, nếu lúc muốn ăn thì ứng khí (bát đựng thức ăn) bằng thất bảo tự nhiên hiện ra trước mặt, cơm trăm vị tự nhiên đầy ắp. Tuy là có thức ăn, nhưng thật sự không ăn, chỉ thấy sắc, ngửi mùi đã tưởng là ăn. Tự nhiên no đủ, thân tâm nhu nhuyễn, chẳng tham đắm vị. Ăn xong biến mất, đến thời lại hiện ra”.

Nghe vậy, ắt sẽ có kẻ vấn nạn rằng: người cõi Cực Lạc thân có quang minh, trọn không có nhật, nguyệt soi sáng, thì biết lúc nào là lúc thọ trai? Ngài Khuy Cơ đáp: “Chuông vàng tự gióng, khánh ngọc vang xa, chúng thánh vân tập, tự nhiên đến hội”.

Không những chỉ thức ăny phục, các vật cần dùng vừa tưởng nghĩ đến đã hiện ra, không hề phải nhọc công cầu tìm, lo liệu.

Những sự sung sướng về cái ăn, cái mặc trong cõi Cực Lạc như vừa kể thật ra chỉ hiện hữu trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ. Bởi lẽ chúng sanh trong cõi này là hạng đới nghiệp vãng sanh, tập khí vẫn còn, nên mới có những ý niệm uống ăn, mặc dùng như thế. Chứ còn ba cõi trên không còn tập khí, nên cũng không còn thấy có những tướng trạng này, mà thường dùng Thiền Duyệt làm thức ăn vậy.

 

“Kinh hành”: tức là đi nhiễu xung quanh, đi vòng quanh. Hiểu theo nghĩa hẹp, kinh hànhđi vòng quanh điện đường, tháp thờ Phật, hay chỉ nhiễu quanh bàn Phật. Kinh hànhtác dụng giúp thân thể điều hòa, không bị trì trệ, điều tâm cho khỏi phóng dật.

Chúng sanh cõi Cực Lạc thọ trai xong, ai nấy tùy ý đi dạo: hoặc tản bộ bên đất vàng ròng, hoặc đi vòng quanh ao báu. Người thích niệm Phật liền niệm Phật, kẻ chuộng tham thiền sẽ tham thiền, tùy ý vui sướng tấn tu. Thật là phong độ giải thoát của một cõi Tịnh Độ, đáng khiến cho phàm nhân phải ngưỡng mộ xiết bao!

Trong cõi Cực Lạc, mọi trần cảnh đều là lạc cảnh, người Cực Lạc tiếp thọ trần cảnh, nhưng chẳng hề bị trần cảnh nhiễu loạn đạo tâm. Bởi lẽ cái gọi là “trần cảnh” đó cũng chỉ là thuận theo phương này mà gọi là trần cảnh. Chứ thật ra, chúng đều là những cảnh sắc thanh tịnh vô biên, tâm chúng sanh cõi ấy cũng thanh tịnh vô biên.

Nếu chúng ta có thể tịnh tâm niệm Phật, nhất niệm hồi quang phản chiếu thì trần cảnh cõi này cũng sẽ biến thành tịnh cảnh; đúng như Liên Trì đại sư đã dạy: “Cầm thìa, buông đũa, miệng miệng chẳng lìa. Giở gót, động thân, bước bước đạp lên. Lẽ đâu lại vùi đầu ăn uống, để luống qua một đời, dạo nước chơi non, nhọc nhằn muôn dặm” (ý nói: Phải luôn luôn nhớ Phật, niệm Phật trong mọi hành vi, cử chỉ, mọi thời khắc, đừng để luống uổng thời gian vô ích).

Hễ tịnh tâm niệm Phật thì Tịnh Độ, Sa Bà nào hai. Vọng niệm khởi lên ắt Đông Độ, Tây Phương cách tuyệt!

 

1.2.1.2.3. Kết thành trang nghiêm (kết lại về sự trang nghiêm)

 

Chánh kinh:

 

Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.

 

Giải:

Đây là đoạn văn kết thán (kết lại lời khen ngợi). Hai chữ “như thị” chỉ các thứ thiên hoa, thiên nhạc... vừa nói ở trên. Mỗi một thứ sự vật diệu kỳ như thế, không thứ nào chẳng phải là do nguyện hạnh của Phật A Di Đà cảm thành.

 Nếu đem so với bổn nguyện của Phật A Di Đà, thì “đất bằng vàng ròng” chính là kết quả của lời nguyện thứ 32 “quốc độ trang hoàng đẹp đẽ”; “phạn thực” chính là kết quả của lời nguyện 38 “y thực tự nhiên tùy ý hiện đến”; “tức dĩ thực thời, hoàn đáo bổn quốc” (ngay vào đúng lúc ăn liền trở về nước mình) chính là kết quả của lời nguyện thứ 23 “cúng dường chư Phật” và lời nguyện thứ 9 “đều được thần túc”) v.v...

 

Xét về Lý:

- “Thiên nhạc” biểu thọ định - huệ dung hòa.

- “Hoàng kim vi địa” (vàng ròng làm đất) biểu thị tự tánh vạn kiếp thường hằng chân thực, tâm địa bình đẳng bất biến.

- “Thiên vũ diệu hoa” (trời mưa diệu hoa) biểu thị tự tánh khai giải rạng ngời (lúc mê tánh thì giống như hoa còn búp, chưa nở. Lúc ngộ, giống như hoa đã nở tung); đồng thời hàm ý: dùng tịnh hoa thiên nhiên tự tánh để trang nghiêm tâm địa.

- “Thành hoa cúng Phật” (đựng hoa cúng Phật) biểu thị tự tánh trang nghiêm. Dùng tịnh hoa tự tánh để cúng dường chư Phật sẵn có nơi tự tánh.

- “Tha phương” biểu thị tùy duyên diệu dụng.

- “Thập vạn ức độ” biểu thị tự tánh dung thông, trùm khắp. Đến giờ ăn trở về biểu thị tự tánh chẳng đến, chẳng đi, mà cũng là vừa đến vừa đi.

- “Bổn quốc” biểu thị tự tánh thường trụ.

- “Phạn thực” biểu thị ý trưởng dưỡng huệ mạng.

- “Kinh hành” biểu thị ý tự tánh sẵn lưu lộ vô ngại.

 

1.2.1.3. Hóa cầm diễn pháp (các loài chim do Phật biến hiện ra diễn thuyết diệu pháp)

 1.2.1.3.1. Lệ điểu danh (nêu tên các loài chim)

 

Chánh kinh:

 

Phục thứ Xá Lợi Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Vũ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng chi điểu.

 (Lại nữa Xá Lợi Phất! Cõi ấy thường có các thứ chim kỳ diệu, nhiều màu: Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Vũ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, chim Cộng Mạng).

 

Giải:

 Đoạn này thuyết minh lần nữa về thanh trần kỳ diệu trong cõi Cực Lạc, thể hiện ý hữu tình thuyết pháp.

 

“Phục” có nghĩa là lại, lần nữa. “Thứ”tiếp theo.

Nói “phục thứ” nhằm hàm ý: trên đã minh thị các thứ diệu cảnh, tiếp theo đây sẽ tường thuật các thứ chim biến hóa, gió thổi cây thuyết pháp v.v...

 

“Thường hữu”: trong sáu thời luôn luôn có các sự việc như thế.

 

“Chủng chủng kỳ diệu”: chẳng phải chỉ có một loại. Do số loại quá nhiều nên bảo là “chủng chủng”. Hình dáng các loài chim ấy rất lạ lùng, đẹp đẽ nên bảo là “kỳ”. Tiếng chim hót vang thành tiếng thuyết pháp nên bảo là “diệu”. Những loài chim ấy có nhiều màu nên bảo là “tạp sắc”.

Như vậy, các loài chim cõi Tây Phương không màu nào chẳng có, không hình dáng nào chẳng tồn tại. Hình dạng, màu sắc đã phong phú lại đẹp tuyệt vời.

 

 Bạch Hạc: loài chim này mỏ, cổ và chân đều dài, cánh xòe ra rất rộng, bay nhanh, tiếng kêu trong vắt, vang đi rất xa. Trong các giống hạc, loài hạc trắng, mào son là quý nhất.

 

Khổng Tước (chim công): trông giống như con Trĩ. Thân dài hơn ba thước, cánh ngắn nhỏ, chim trống rực rỡ, hoa lệ. Lông đuôi cực dài, lúc xòe ra dựng lên như cái quạt lớn, sắc biếc, có những điểm vàng viền xanh trông như những con mắt to. Giống chim này sống ở những nước thuộc nhiệt đới như Ấn Độ, Thái Lan v.v...

 

Anh Vũ (két, vẹt): loài chim này có nhiều màu: vàng, xanh đọt chuối, hồng, trắng, xám, tía... Loại mỏ hồng, lông hồng được coi là quý nhất. Mỏ nó to ngắn, phần trên khoằm xuống trùm phần dưới, lưỡi to dày, chân có hai ngón đưa ra trước, hai ngón quặp ra sau. Giống này học được tiếng người. Cổ thi có câu:

Hàm tình dục thuyết cung trung sự,

Anh vũ tiền đầu bất cảm ngôn

(Nặng lòng toan kể chuyện cung đình,

Chú vẹt đậu đó thôi đành lặng thinh)

 

Xá Lợi: Tàu dịch là Thu Lộ, là một loài chim mắt rất đẹp. Có chỗ còn dịch loài chim này là Xuân Lộ.

 

Ca Lăng Tần Già: Hán dịch