5. Khổ Đau

12/11/201112:00 SA(Xem: 7212)
5. Khổ Đau

THIỀN TRONG
TÌNH YÊU VÀ CÔNG VIỆC
Nguyên tác: Everyday Zen — Love & Work
Tác giả: Charlotte Joko Beck
Biên tập: Steve Smith
Dịch Việt: Lương Thanh Bình

Article I. Chương 5: Đau khổ

Section 1.01 Nỗi Khổ Đau có thật và Đau khổ không thật.

Hôm qua tôi có ghé thăm một người bạn; bà vừa trải qua một cuộc giải phẩu lớn. Trong lúc chúng tôi nói chuyện, tôi có hỏi bà là, cái gì là một đề tài tốt cho một buổi pháp thoại, và bà đã cười rồi nói, “Kiên nhẫn và Nỗi đau.” Bà nhận ra rằng, nó thật là thú vị. Những ngày ngay sau khi cuộc thủ thuật hoàn tất, nỗi đau thì rõ ràng (nơi đau và không đau), sạch sẽ (giữa đau và không đau), sắc bén (giữa cảm giác đau và không đau); ngoài ra không có vấn đề gì khác. Trong khi cơ thể dần dần phục hồi, thì tâm cũng bắt đầu hoạt động — và sự chịu dựng bắt đầu. Tất cả sự suy nghĩ của bà, về những gì đã xảy ra, cũng từ từ kéo nhau về.

Một mặt của sự tu tập là, chúng ta ngồi không phải cho một mục đích gì cả. Nhưng mặt kia thì, chúng ta muốn siêu thoát nỗi khổ đau. Không chỉ thế, mà chúng ta còn muốn những người khác cũng vượt thoát đau khổVậy thì quá rõ ràng là, điểm trọng yếu trong sự tu tập của chúng ta là để tìm hiểu nỗi khổ đau là gì. Nếu chúng ta thật sự hiểu rõ “khổ đau” thì chúng ta thấy được cách tu tập, không chỉ lúc ngồi thiền mà là trong mọi lúc của cuộc đời còn lại. Chúng ta có thể hiểu đời sống hàng ngày của ta và thấy rằng, nó thật ra không phải là vấn đề gì cả. Cách đây vài tuần, có một người cho tôi một bài báo nói về nỗi khổ, và phần đầu của nó cô động về ý nghĩa ngôn từ của “Khổ”. Tôi thấy hứng thú với những ý nghĩa này; tự thân của chúng đã có tính cách giáo dục rồi.

Người viết bài báo này chỉ ra rằng, chữ “Khổ đau” (suffering) thì dùng để diễn tả nhiều thứ. Phần thứ hai của chữ, “fer” là bắt nguồn từ chữ động từ Latin “ferre” có nghĩa là “mang mễnh”. Còn phần đầu của chữ là “suf” thì bắt nguồn từ chữ “sub”, có nghĩa là phía dưới. Vậy có một cảm giác trong cái từ, “ở phía dưới”, “mang mễnh phía dưới”, “tất cả ở phía dưới” — “chịu đựng để chống đỡ cái gì từ phía dưới.”

Ngược lại, những từ ngữ như “sự đau đớn,” “nỗi buồn”, và “sự chán nản” lại mang sức diễn tả gợi hình hơn, có tính cách nặng trĩu hơn vào con người chúng taSự thật, từ ngữ “nỗi buồn” bắt nguồn từ chữ Latin “gravare” có nghĩa là “đè xuống.”

Cho nên có hai loại khổ. Một là loại, khi chúng ta cảm thấy như là, chúng ta đang bị đè nén; như là nỗi khổ xâm lấn chúng ta từ bên ngoài, như là chúng ta đang nhận một thứ gì đó như một hình phạt, làm cho ta khổ đau. Loại kia là loại vi tế, nó hiện hữu từ bao giờ, và chúng ta luôn luôn cưu mang nó (một là do điều kiện tạo ra và do ta cảm nhận ra được; loại kia thì ta mơ hồ về nó và đã có từ bao giờ). Sự khác biệt trong hiểu biết về khổ là điểm quan trọng thiết yếu để hiểu sự tu tập của chúng ta.

Tôi thỉnh thoảng phân biệt giữa “sự đau khổ” và “đau đớn”, nhưng bây giờ tôi muốn dùng từ ngữ “sự đau khổ” và phân biệt ra giữa cái mà tôi gọi là sự đau khổ không thật và sự đau khổ thật có. Hiểu biết được sự khác nhau thì rất ư là quan trọng. Nền tảng của sự tu tập, và Diệu đế thứ nhất (Khổ Đế) trong Tứ diệu đế, là lời của đức Phật, “Đời sống là khổ đau.” Ngài đã không nói, nó thỉnh thoảng khổ đau — mà là, cuộc sống là khổ. Tôi muốn phân biệt giữa hai loại khổ này.

Thường khi người ta nói, “Tôi chắc chắn có thể thấy rằng, đời sống là khổ đau khi mọi thứ không tốt xảy ra và không vui. Nhưng tôi thật sự không hiểu ra được, khi cuộc sống đang trên đà suôn sẻ và tôi cảm thấy rất là vui vẻ (thì đâu có khổ lúc này).” Khổ có nhiều cấp bực. Ví dụ, khi chúng ta không có được một thứ gì mình mong muốn, chúng ta đau khổ. Nhưng khi chúng ta có được nó rồi, chúng ta cũng khổ. Bởi vì, chúng ta biết rằng, nếu chúng ta có được thì chúng ta cũng có thể sẽ mất đi. Không cần biết chúng tasở hữu được nó hay là không; hay là nó có xảy ra cho chúng ta hay không. Chúng ta khổ bởi vì đời sống thì luôn luôn đổi thay (Vô thường). Chúng ta biết được rằng, chúng ta không thể nào bắt nắm được mãi những điều tốt đẹp, và chúng ta cũng biết rằng, ngay trong lúc những điều khổ đau của chúng ta biến mất, chúng cũng có thể sẽ quay trở lại với ta.

Từ ngữ “khổ đau” không cần thiết phải ám chỉ những kinh nghiệm to lớn đã gây ấn tượng sâu sắc; ngay cả một ngày tốt đẹp nhất cũng không tránh khỏi nỗi khổ đau. Ví dụ, bạn có thể đang có một buổi ăn sáng tuyệt vời chưa từng có bao giờ — dù cho bạn đã từng tưởng tượng, bạn có thể vừa gặp một người bạn mà bạn hằng mong muốn, hay bạn đi làm việc và mọi thứ xảy ra thật là trôi chảy. Chưa từng có một ngày nào thật tốt đẹp như ngày này; cho dù vậy, chúng ta biết rằng, trong những ngày sắp tới sự việc có thể xảy ra hoàn toàn trái ngược. Cuộc sống không cho chúng ta một sự bảo đảm nào cả; và cũng vì chúng ta biết thế, chúng ta luôn luôn cảm thấy không dễ chịubất an. Nếu chúng ta thật sự nghiên cứu hoàn cảnh của chúng ta từ quan điểm chung, thì đời sống là khổ đau, giống như là một môi trường dùng để tạo ra đau khổ.

Bây giờ thì bạn của tôi nhận biết được rằng, khi nào chỉ có cơn đau vật lý thì không có vấn đề gì mà phải bận lòng. Từ phút giây bà ấy bắt đầu có cảm nghĩ về cơn đau, thì bà bắt đầu có cảm giác chịu đựngtình trạng khốn khổ phát sinh. Sự kiện này nhắc lại cho tôi nhớ đến lời nói của thiền sư Hoàng Bá: “Cái tâm này không phải là tâm của tư tưởng khái niệm và nó hoàn toàn không có thể dạng gì cả. Cho nên Phật tánhtrạng thái khả năng cảm thọ vốn không khác. Nếu bạn có thể đưa tự thân siêu thoát tư tưởng nhị nguyên, thì bạn có thể liễu kết đại sự. Nhưng nếu bạn vẫn còn một tơ hào tư tưởng khái niệm, thì dù cho bạn có phấn đấu bao nhiêu vạn kiếp, bạn cũng sẽ không bao giờ đạt được một kết quả gì cả.”

Đó là sự vận hành của tâm, nó gầy dựng những giá trị khái niệm về mọi sự kiện chung quanh chúng ta, và đó cũng chính là vấn đề. Thật ra không có gì là sai đối với thực chất của khái niệm; nhưng khi nào chúng ta đem sự phán xét của mình về sự việc, gán lên cho nó, rồi mang nó gần với một mẫu mực tuyệt đối nào đó (đúng hay sai). Khi tới đây, chúng ta lại chỉ thấy có phần giá trị đúng/sai hay tốt/xấu mà ta gán cho, mà bỏ quên đi phần thực chất khái niệm mà nó đã có; cho nên chúng ta đau khổ. Đó là nỗi khổ đau không thật. “Thiên đường và địa ngục chỉ cách xa nhau có một sợi tơ tằm.”

Cái điểm mà tôi muốn thêm vào nơi đây là, sự việc xảy ra như thế nào cũng không có khác biệt gì: nó có thể không công bằng; nó có thể tàn khốc. Tất cả chúng ta đều đã trải qua những sự kiện không công bằng, ghê gớm, tàn khốc; và theo chiều hướng chung, chúng ta nghĩ, “Thật là không thể chịu đựng được!” Chúng ta phản kháng, chúng ta chống đối lại sự việc. Chúng ta thử làm theo lời Shakespeare nói: “Để khống chế cả hàng vạn vấn đề, chỉ bằng cách duy nhất là phản kháng để tiêu diệt chúng.”

Dĩ nhiên, nó thật là tốt đẹp nếu nó có thể bị tiêu diệt “Cung và tên là những vật không lành.” Ngày qua ngày, chúng ta chỉ gặp toàn là những sự kiện bất công, và chúng ta cảm thấy rằng, phương pháp duy nhất để giải quyết những công kích là phản kích; và đường lối chúng ta phản kháng là bằng tâm của mình. Chúng ta trang bị cho mình bằng sự giận dữ của mình, quan điểm của mình, sự tự cho mình là đúng của mình, giống như chúng ta mặc vào một chiếc áo chống đạn. Rồi chúng ta nghĩ, đây là phương châm để sống cuộc đời của mình. Bằng tất cả những thứ này, chúng ta càng tạo ra thêm sự phân cách, làm leo thang những sân hận, tạo cho mình và những người chung quanh trở nên khốn khổ hơn. Vậy, nếu phương pháp giải quyết này không kết quả, chúng ta làm cách nào để đối mặt với nỗi khổ đau của cuộc đời? Có một câu chuyện về vấn đề này.

Vào thưở xa xưa, có một người trai trẻ, mà cha của cậu là một nhà giáo xuất sắc vào thời bấy giờ, ông rất được mọi người ngưỡng mộ và kính trọng. Người trai trẻ này luôn được dạy dỗ bởi người cha bằng những lời dạy đầy trí tuệ, cho nên anh ta nghĩ mình đã học và biết hết tất cả những gì mình cần biết. Nhưng cha của anh lại nói, “Không, ta không thể dạy cho con những gì con cần phải biết. Người mà ta muốn con đi gặp là một vị thầy ở vùng quê, ông ta là một người mù chữ, và chỉ là một nông phu.” Người trai trẻ này thật không vui vẻ với sự quyết định này, nhưng anh vẫn ra đi theo lời người cha dặn bảo. Trên bước bộ hành một cách miễn cưỡng, anh cuối cùng rồi cũng đến ngôi làng, nơi mà người nhà quê này đang sống. Sự kiện xảy ra lúc đó là, người nông phu kia đang cưởi ngựa về từ một cánh đồng khác và ông nhìn thấy người trai trẻ này đang đi ngược chiều về hướng ông đang đi.

Khi người trai trẻ đến gần ông và cúi đầu chào ông, người thầy quê mùa kia nhìn xuống và nói, “Chưa được.”

Ngay sau đó người trai kia quì gối xuống và cúi đầu chào ông một lần nữa. Thế nhưng người thầy mộc mạc kia lại vẫn nói, “Chưa được.” Người con trai kia bèn quì xuống và cúi chào thấp ngang tầm gối ngựa, nhưng người thầy khó tính kia vẫn chưa hài lòng và vẫn nói, “Chưa được.” Cho nên lần này, người trai trẻ kia quì xuống cúi chào một lần nữa và đầu anh chạm vào móng chân ngựa. Người thầy nông phu kia mới nói với anh bạn trẻ kia, “Anh có thể trở về được rồi. Anh đã dụng được những gì anh cần phải học rồi.” Có thế thôi!

Cho nên chúng ta phải luôn ghi nhớ cái định nghĩa của từ “Khổ đau” cho đến khi chúng ta cúi đầu xuống và mang mễnh, chịu đựng nỗi khổ đau của cuộc đời — không phải là phản kháng nó, mà là hấp thụ nó và sống với nó — bằng không như thế, chúng ta không thể nào thấy cuộc đời của ta là gì. Điều này không có nghĩa là, chúng ta thụ động hay bị bó tay, mà là hành động từ quan điểm hoàn toàn chấp nhận nó (ngay cả từ ngữ “chấp nhận” cũng chưa hoàn toàn đúng xác nghĩa của trạng thái này) — nó chỉ là đơn giản thể nhập nỗi đau khổ. Nó không phải là vấn đề bảo vệ mình hay chấp nhận những thứ khác. Hoàn toàn mở rộng, hoàn toàn dễ cảm giác với đời, là (ngạc nhiên lắm phải không) phương cách hoàn hảo nhất để sống cuộc đời chúng ta.

Dĩ nhiên, nếu bạn giống như tôi thì bạn nên tránh xa nó càng lâu càng tốt — bởi vì đó là một vấn đề nói ra thì dễ nhưng làm thì rất ư là khó khăn muôn phần. Nhưng khi chúng ta làm, chúng ta sẽ biết được — từ tận cùng sâu thẳm tâm hồnchúng ta là ai và người khác là ai; những cách ngăn giữa ta và người khác không còn nữa.

Sự tu tập suốt cuộc đời còn lại của chúng ta chỉ là vậy thôi: Bao giờ chúng ta có những quan điểm hay nhận xét khắt khe về đời sống (bao gồm những thứ này, loại bỏ những thứ kia.. ). Chúng ta có thể đã chấp chặc nó qua nhiều thời gian (khó mà thay đổi trong thời gian ngắn), nhưng nếu chúng ta chân thành tu tập, sự tu tập có thể làm lung lay cái quan điểm đã bắt rễ đó; nó sẽ không còn đứng vững nữa. Khi chúng ta bắt đầu đặt câu hỏi cho quan điểm của mình; chúng ta có thể cảm nhận sự lúng túng, đảo lộn, khi chúng ta cố gắng bào chữa, khỏa lấp, rồi dần dần đi đến giai đoạn thiết lập một nền tảng cho sự thấu hiểu mới để đưa vào đời sống của mình. Đó chính là phần lớn của quá trình tu tậpCuối cùng, chúng ta trở nên sẳn lòng để kinh nghiệm nỗi khổ đau của mình thay vì phản kháng nó. Khi chúng ta làm được như vậy, quan điểmnhân sinh quan về cuộc sống dần dần xoay chiều. Rồi lần nữa, với nhân sinh quan mới chúng ta sống với nó một thời gian, và sự tu tập vẫn tiến triển đều đặncho đến khi một vòng chu kỳ mới bắt đầu.

Rồi lần nữa những khó khăn mới lại phát sinh, và chúng ta lại phải vùng vẫy, đi qua nó lần nữa. Cứ mỗi lần chúng ta trải qua — là mỗi lần chúng ta đi vào nỗi đau khổ và để cho nó hiện thânnhân sinh quan của chúng ta lại lớn ra hơn. Tương tự như là một cuộc leo núi. Ở mỗi vị thế chúng ta leo lên tới chúng ta thấy nhiều hơn. Cái nhìn kia không có khắc chế hay chống đối gì với những gì dưới kia — nó bao gồm tất cả — nhưng nó càng nới rộng ra hơn với mỗi chu kỳ leo lên cao hơn, phấn đấu hơn. Và chúng ta thấy càng nhiều, nhân sinh quan càng nới rộng, chúng ta biết những gì cần phải làm, hành động nào nên có.

Nói chuyện với nhiều người, tôi nhận thấy rằng, điều quan trọng nhất mà họ không hiểu là “khổ đau”. Dĩ nhiên tôi cũng không luôn luôn hiểu; tôi cố gắng tránh xa nó mãnh liệt hơn bất cứ ai khác nữa. Nhưng để có được sự hiểu biết theo lý thuyết về khổ ra sao, và tu tập với nó bằng cách nào, thì là một vấn đề hữu ích vô cùng tận, đặc biệt nhất là trong những kỳ tu họcChúng ta có thể hiểu tốt hơn về khóa tu và thế nào là cách áp dụng tốt nhất và thật sự tu tập.

Cái tâm tạo ra nỗi khổ không thật này, thường hay hoạt động liên tục trong những khóa tu. Không một ai có thể ngoại lệ cho vấn đề này. Tôi nhận ra tâm này vào đêm qua. Tôi có thể nghe tâm tôi phàn nàn: “Cái gì! Lại một khóa tu khác? Mình mới vừa hoàn tất một khóa vào cuối tuần rồi mà!” Tâm của chúng ta hoạt động như thế đó. Rồi khi thấy được sự vô lý đó, chúng ta tự nhắc nhở mình, “Tôi thật sự muốn những gì cho bản thân mình hay cho người khác?” Sau đó tâm ta êm lặng xuống lại.

Cho nên khi chúng ta tọa thiền, chúng ta chối từ một cách kiên nhẫn sự choáng ngợp của những tư tưởng này và quan niệm về bản thân; về sự việc; về người khác; và chúng ta luôn luôn quay lưng với một sự thật: Giây phút hiện tại. Làm như thế, sự tập trung và thiền định của chúng ta liên tục tiến sâu hơn. Cho nên trong tọa thiền, lời tuyên bố từ bỏ của đức Phật A Di Đà cũng là tu tập như là, ngoảnh mặt quay lưng từ những mộng tưởng của mình, mơ ước cá nhân, để sống với sự thật trong giây phút hiện tại. Trong khóa tu, mỗi phút giây mà chúng ta tu tập đều như thế, nó cho ta những gì mà những đường lối khác không thể cho ta, Tri thức hiện tiền về tự thân. Khi chúng ta đang đối diện trực quán với phút giây hiện tại; cũng chính là lúc chúng ta đối diện với nỗi khổ đau. Khi chúng ta thật sự sẳn lòng chấp nhận sống chung với nó, thể nhập với nó, thì khi đó chúng ta biết những thứ khác là cái gì, chúng ta là gì — mà không cần ai nói cho ta biết.

Đôi khi có người nói, “Thật là khó khăn quá.” Nhưng sự thật, không tu tập gì cả thì lại khó khăn hơn nhiều. Chúng ta thật ra đang tự dối lừa mình khi chúng ta không tu tập. Vậy hãy vui lòng làm cho sáng tỏ, rõ ràng với chính mình về những gì chúng ta cần phải làm cho xong để chấm dứt khổ đau; cũng từ tu tập với lòng can đảm, chúng ta mới có thể giúp người khác không còn sợ hãi và khổ đau. Chúng ta làm thế bằng một lối tu tập trí tuệ, kiên nhẫn, vững bềnChúng ta không bao giờ làm nó bằng sự phàn nàn, cay đắng, sân hận của chúng ta. Tôi không phải có ý là chúng ta phải đè nén chúng. Nếu chúng phát sinh, nhận biết chúng; bạn không cần phản đàn áp chúng. Chỉ nhận thức rồi lập tức trở về với hơi thở và thân của mình ngay lập tức, chỉ ngồi thế thôi. Khi chúng ta làm thế, không một ai trong chúng ta mà không nhận ra một phần thưởng từ tọa thiền ở vào đoạn cuối của khóa tu.

Section 1.02 Sự Từ bỏ (Buông xả)

Thiền sư Suzuki có nói, “Từ bỏ không phải là bỏ đi những gì trong cuộc đời này, mà là chấp nhận rằng, chúng rời khỏi ta.” Mọi vật đều vô thường; sớm hay muộn gì chúng cũng sẽ ra đi. Từ bỏ là một trạng thái của tự tại, chấp nhận mọi sự ra đi. Thật ra Vô thường là tên khác của hoàn mỹ. Lá cây rơi, mảnh vụn và rác rến chồng chất; từ những đống vụn vỡ xuất hiện hoa thơm, cỏ lạ, những thứ mà chúng ta nghĩ là đáng yêu chuộng. Sự hủy diệt thì cần thiết. Một trận cháy rừng thì cần thiết. Phương thức chúng ta cản trở những trận cháy rừng (do thiên nhiên) có thể không phải là một điều tốt. Nếu không có sự hủy diệt thì sẽ không có đời sống mới; và những kỳ diệu cuộc đời, sự thay đổi không ngừng, có thể không xảy ra. Chúng ta phải sống và rồi sẽ chết đi. Cái chu kỳ này, tự thân nó, đã là một sự hoàn mỹ.

Tất cả những thay đổi này, bằng bất cứ cách nào, không phải là những gì chúng ta có trong tâm. Động cơ làm cho chúng ta không đánh giá cao sự hoàn mỹ của vũ trụ, là vì tham vọng cá nhân muốn tìm một phương cách để gìn giữ những gì mà chúng ta cho là rực rỡ, huy hoàng sẽ mãi mãi ở lại với mình. Nghe qua thì có vẻ là mắc tức cười, nhưng đó là những gì chúng ta luôn đang làm. Sự kháng cự lại dòng thay đổi thì lại không thích hợp với luật hoàn mỹ của thế gian — chính là tính chất vô thườngNếu thế gian không vô thường (luôn thay đổi) thì nó không thể hoàn mỹ như-nó-là. Mặc dù vậy, thứ cuối cùng chúng ta thích vẫn là tính vô thường của chính mình. Ai là người không trải qua, một sợi tóc bạc màu và nghĩ, “ố-ồ!” Cho nên, cuộc chiến lan rộng không ngừng trong lịch sử sinh tồn của loài ngườiChúng ta khước từ nhìn nhận sự thật xảy ra chung quanh chúng taChúng ta không thật sự thấy đời sống chút nào cả. Mọi sự chú tâm của chúng ta thì ở nơi khác. Chúng ta bị lôi cuốn vào trận chiến không đoạn cuối với nỗi sợ hãi của mình, cho mình, và sự tồn tại của mình. Nếu chúng ta muốn nhìn thấy cuộc đời, chúng ta phải lưu ý tới nó. Nhưng kỳ lạ thay, chúng ta không thích làm chuyện đó, chúng ta chỉ hứng thú trong trận đấu tranh để bảo tồn chính mình mãi mãi. Dĩ nhiên nó là một trận đấu tranh đầy dẫy âu lo và vô hiệu quả, một trận chiến không thể nào khả thắng. Người thắng luôn luôn là tử thần — cánh tay phải của Vô thường.

Những gì chúng ta muốn từ đời sốngchúng ta đang sống là, người khác dàn xếp và ca ngợi cho sự vinh quang của mình. Chúng ta muốn người bạn đời bảo đảm sự an ninh của chúng ta, tạo cho chúng ta cảm giác tuyệt vời, cho chúng ta những gì chúng ta muốn, có thế nỗi bồn chồn của ta có thể lắng dịu trong thời gian ngắn. Chúng ta tìm bạn, mà những người ấy ít nhất chia cắt đi một phần nỗi lo sợ của chúng ta, nỗi lo sợ mà chúng ta không muốn có, dù chỉ một ngày. Chúng ta không muốn thấy nó. Điều tức cười là, những người bạn của chúng ta không dễ bị chúng ta gạt gẫm; họ thấy rõ ràng những gì chúng ta đang muốn từ họ. Tại sao họ lại thấy rõ ràng thế? Bởi vì, họ cũng làm giống như chúng ta (cùng một mánh khóe). Họ không hứng thú về cố gắng của chúng ta đang muốn trở thành trung tâm vũ trụ. Nhưng chúng ta lại cứ dấy động chiến tranh không ngừng nghĩ. Chúng ta luôn luôn bận rộn một cách hỗn loạn. Khi những mưu đồ cá nhân để thắng trận chiến không có kết quả, chúng ta thử tìm hòa bình trong chiêu bài của tôn giáo. Có người hứa rằng, phần thưởng sẽ làm bạn trở nên giàu sangChúng ta đang cố vớt vát một người nào đó nói với chúng ta, “Đừng lo, mọi việc sẽ trở nên tuyệt vời cho bạn.” Ngay cả tu thiền, chúng ta cố gắng tìm một lối tắt để chúng tathể đạt được một thắng lợi cá nhân.

Nhiều người thường hay nói với tôi, “Joko, tại sao bà lại làm cho sự tu tập trở thành quá khó khăn thế? Tại sao bà không đưa ra một điều kỳ diệu nào cả?” Nhưng từ quan điểm của cái Ngã hạn hẹp, tu tập chỉ có thể khó khăn. Tu tập là dùng để tiêu diệt hoàn toàn cái Ngã nhỏ bé kia, và cái Ngã kia biết thế nên nó không thích một tí nào cả. Nó không thể nào đón chào sự tiêu diệt này với sự hoan hỉ. Cho nên không có gì là tuyệt diệu cho cái Ngã nhỏ nhoi kia, ngoại trừ chúng ta muốn bị phỉnh phờ.

Bề mặt kia của sự tu tập thì trái lại: Khi cái Ngã nhỏ bé — bao gồm sân hận, tham vọng, phàn nàn, tráo trở, thao túng tự thân — bị tiêu diệt, thì điều kỳ diệu lại xuất hiện: lạc thú và lòng tự tin chân chính. Chúng ta bắt đầu hưởng được cái cảm giác quan tâm đến người khác mà không đòi hỏi bất cứ gì đền trả. Đây là lòng từ bi chân chánh. Chúng ta có được nó bao nhiêu tùy thuộc vào mức độ cái Ngã nhỏ bé kia bị thu nhỏ bấy nhiêu. Khi nó chết, vào lúc này hay khi khác, cũng là lúc chúng ta nhìn thấy được cuộc sống là gì. Đôi khi, chúng ta có thể hành động một cách tự nguyện và giúp đỡ người khác. Lúc tình trạng này tiến triển hơn, nó cũng làm phát sinh lòng hối hận, bởi vì lúc ấy chúng ta nhận diện ra rằng, chúng ta gần như mọi lúc gây tác hại cho bản thân và người khác. Chúng ta ân hậnbản chất của sự ân hận này là niềm hân hoan trong sạch.

Vậy chúng ta hãy nhận thức rằng, sự phấn đấu của chúng ta trong khóa tu là để hoàn thiện bản thân: chúng ta muốn được giác ngộ, chúng ta muốn sáng tỏ, chúng ta muốn trạng thái bình thản, chúng ta muốn trí tuệ. Trong khi buổi tọa thiền của chúng ta đi dần vào phút giây hiện tại thì ta lại nói, “Thật rõ là chán! những xe cộ chạy qua, hai gối của tôi đau không chịu được, bụng của tôi đang gào thét…” Chúng ta không có hứng thú với sự hoàn mỹ của vũ trụ vô hạn. Thật ra, sự hoàn mỹ của vũ trụ vô biên có thể là người đang ngồi bên cạnh chúng ta, người mà đang thở một cách ồ ề hay đang xuất hạn mồ hôi. Sự toàn mỹ chính là điều kiện không thuận tiện này đây: “Tôi không có được những thuận lợi gì cả.” Ở vào bất cứ phút giây nào, sự việc luôn xảy ra theo chiều hướng của nó. Nhưng chúng ta lại không tiếp nhận như thế; chúng ta thấy nhàm chán. Mọi chú tâm của chúng ta theo đuổi những thứ khác. “Bỏ qua cái sự thật gì đó đi! Tôi đến đây để được giác ngộ thôi!”

Nhưng thiền là một pháp tu tập tế nhị: ngay cả khi chúng ta đấu tranh, chống đối, bóp méo vấn đề, những khái niệm của chúng ta về vấn đề có chiều hướng hủy diệt bản thân nó. Không cần biết chúng ta như thế nào, dần dần chúng ta bắt đầu hứng khởi với những gì sự tu tập thật sự như thế nào, nó trái ngược lại với ý tưởng của chúng ta đã có về cái phương phápchúng ta nghĩ nó nên ra sao. Cái tiêu điểm mấu chốt của tu tập chính là khoảng thời gian va chạm vào những tham vọng của mình — về sự đồi bại cá nhân, sự tự đề cao của mình, lòng ham muốn thao túng hoàn cảnh của mình. Khi giây phút này xảy ra thường xuyên trong đời sống của chúng ta: là những phút giây khi chúng ta cảm thấy cau có, ganh tị, khích động — sự va chạm giữa phương cách tôi muốn nó ra sao và đường lối nó xảy ra như thế nào. “Tôi ghét cách thở ồn ào của cô ta. Làm sao tôi có thể chánh niệm được về hiện tại khi cô ta làm thế?” “Tôi phải tu tập ra làm sao, trong khi những đứa trẻ hàng xóm đang chơi nhạc ầm ĩ?” Mỗi phút giây cho chúng ta một cơ hội quí báu. Ngay cả trong những lúc êm lặng nhất — đến mức như không có gì xảy ra cả trong ngày — chúng ta cũng vẫn có nhiều cơ hội để nhận thấy sự va chạm giữ những gì ta muốn và những gì nó đang xảy ra, khác ra sao.

Sự tu tập tốt luôn nhắm vào mục đích làm sáng tỏ những nhận thức sai lầm của chúng ta, cho nên không có gì trong kinh nghiệm tâm-sinh lý của ta là bí ẩn cả. Chúng ta không chỉ muốn hiểu biết cơn giận của mình, mà chúng ta còn cần phải biết phương cách riêng của mình để đối diện nó. Nếu một sự phản ứng phát sinh lúc không có chánh niệm, thì chúng ta không thể nào quan sát được cơn giận và nhìn thấy lúc nó ra đi. Mỗi một phản ứng ngăn ngừa (và chúng taít nhất một lần trong mỗi năm phút) là thực hành. Nếu chúng ta thực hành với tư tưởngcảm xúc, là những cơ nguyên tạo thành sự phản ứng đó, thì chúng ta có thể tiếp diện với cái tuyệt đối hay sự thiêng liêng hay bạn muốn gọi là bất cứ tên gì bạn muốn. Trong quá trình tu tập đúng đắn chúng ta luôn luôn biến chuyển từ thói quen tự ngã (bám víu vào phản ứng theo tiềm thứcbản năng) sang hành động gần gũi với sự vận hành của vũ trụ; dòng năng lượng (sự vận hành) này thay đổi vũ trụ hàng triệu lần trong một giây. Trong đời sống hiện tượng, những gì chúng ta thấy đều vô thường; ngoài ra thì thuộc về lãnh vực khác; chúng ta sẽ không cho nó một cái tên. Khi chúng ta tiến đều trong tu tậpchúng ta càng gần nguồn năng lực của vũ trụ hơn và sự chết cũng mất đi sức chi phối.

Một chướng ngại vật to lớn cho sự thấy là thiếu hiểu biết rằng, tất cả sự tu tập đều có những trở ngại to lớn của nó. Cái giới hạn của lòng miễn cưỡng sẽ vẫn còn tồn tại cho đến bao giờ cái tự ngã bị hoàn toàn tiêu diệt. Chỉ có đức Phật mới không có sự đề kháng bên trong, và tôi không nghĩ là trong loài người ngày nay có được bao nhiêu người. Cho đến cuối cuộc đời, chúng ta luôn luôn có những sự đề kháng tự thân mà chúng ta cần phải học biết.

Trở ngại to lớn thứ hai là thiếu trung thực về tự thân trong từng phút giây (không luôn luôn đối diện với con người thật của mình). Thật là khó nhìn nhận, “Tôi đang bị quả báo,” hay là, “Tôi đang bị trừng phạt,” hoặc là, “Tôi đang tự thị.” Loại trung thực này thì rất khó làm. Chúng ta không bao giờ muốn chia sẽ với người khác những gì chúng ta thấy về bản thân mình; nhưng không có điều gì xảy ra mà chúng ta không nên không chú tâmChúng ta phải công nhận rằng, chúng ta luôn chạy đuổi theo lý tưởng hoàn mỹ hơn là học biết sự bất toàn của chính mình. 

Trở ngại thứ ba chúng ta bao giờ cũng có là, chúng ta dễ bị ảnh hưởng làm cho mất tâm tập trung khi đi đến một ngưỡng cửa (thấy cảnh giới) trong một buổi tọa thiền. Chúng chỉ là những pháp hữu vi cũng giống như những thiện pháp khác — nó không bền — không thật quan trọng ngoại trừ chúng ta biết mang nó áp dụng vào đời sống của mình. 

Chướng ngại thứ tư là chúng tahiểu biết quá giới hạn về tiến trình tu tậpchúng ta đang bắt tay vào. Chúng ta nghĩ là chỉ cần nổ lực trong khoảng thời gian nào đó để hoàn thành vấn đề này như là xây xong một căn nhà, hay học xong một chương trình khoa học nào đó mà thôi. Cái công việc mà chúng ta đang làm thì không phải vô khả thi, mà cũng không quá khó khăn, nhưng nó thì không đoạn cuối.

Chướng ngại thứ năm là chúng ta không có đủ Chánh tín. Phần lớn những người bỏ nhiều thời gianthiền viện thì thay thế những buổi pháp thoại, tham luận phật pháp, đọc ngữ lụckinh điển, cho chính sự tu tập. Chúng ta nói càng ít về tu tập thì càng tốt hơn. Những buổi trình pháp là lúc duy nhất tôi nói về tu thiền. Và tôi không nói về Pháp. Tại sao lại nói về nó? Việc làm của tôi là nhận biết ra tôi vi phạm nó ra làm sao. Bậc cổ đức có nói, “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri.” Có nghĩa là, “Người biết thì không nói, còn người nói thì không thật biết.” Khi chúng ta nói về sự tu tập trong mọi thời, sự đàm luận của chúng ta cũng là một dạng của Chướng ngại cho sự tu tập của mình, đang được biện hộ bởi hình thức trao đổihọc hỏi. Nó giống như là một nhà lý thuyết suông muốn cứu vớt nhân loại hằng đêm trong buổi ăn tối. Họ chỉ nói, nói, và nói — nhưng những lời nói kia làm được những gì? Đối cực lại với đó là mẹ Teresa. Tôi không nghĩ bà nói gì nhiều bởi vì bà bận rộn với việc đang làm.

Tu tập trí tuệ là luôn luôn làm việc với một điều chính: Nỗi sợ hãi ở ngay trên cái nền của sự tồn tại nhân loại, sự sợ sệt là Tôi không là gì cả. Dĩ nhiên tôi không là gì cả, nhưng đó là điều tối hậu tôi muốn biết. Bản chất của tôi là vô thường trong thể nhân sinh thay đổi không ngừng mà bề ngoài trông có vẻ thật. Tôi sợ thấy ra tôi là cái gì: chỉ là một dạng năng lượng luôn thay đổi. Nhưng tôi không muốn như thế. Cho nên, tu tập đúng là đối diện với sợ hãiSợ hãi có rất nhiều thể dạng phát sinh từ sự suy tư liên tục, suy đoán, phân tích, tưởng tượng. Với tất cả các hoạt động như thế, chúng ta tạo ra một vầng mây bao phủ để bảo vệ an toàn cho tự thân qua sự tu tập giả vờTu tập chân chính thì không an toàn chút nào cả; nó là tất cả những thứ khác ngoại trừ an toàn. Nhưng chúng ta thì không thích như thế, cho nên chúng ta bị ám ảnh với sự phấn đấu một cách bồn chồn của mình để đạt đến cái viễn ảnh mơ mộng cá nhân. Loại tu tập ám ảnh đó, tự nó cũng là một đám mây ngăn che giữa chúng tasự thật. Điều quan trọng là thấy sự việc bằng lối nhìn Vô ngã: nhìn sự việc như-nó-là. Khi những bình phong đang che đậy kia bị rớt xuống rồi, thì chúng ta cần gì phải đặt tên nó. Chúng ta chỉ cần sống và kinh nghiệm nó (cuộc sống). Và khi chúng ta từ giả cõi đời này, thì chúng ta tự tại ra đi, không có một vấn đề gì cả.

Section 1.03 Không sao cả.

Giác ngộ là phần cốt lõi của mọi tôn giáo. Nhưng chúng ta có cái nhìn rất khác biệt về lãnh vực này. Chúng ta đánh giá trạng thái giác ngộ đồng dạng với cảnh giới thật là tĩnh tịch, tốt đẹp, hoàn mỹ, êm ã, thỏa mãn. Nhưng nó không phải là thế.

Tôi sẽ đặt một số câu hỏi về trạng thái khó chịu rõ ràng. Tôi không có nói rằng, đừng nên cố gắng ngăn ngừa những trạng thái này, đừng nên thay đổi chúng. Tôi không có nói, chúng ta không nên có những cảm giác mạnh hay ưa chuộng chúng. Tuy nhiên, từ những ví dụ này, chúng ta khởi đầu cho vài manh mối; khi chúng ta có manh nha thì chúng ta có thể thấy rõ hơn những gì chúng ta đang làm trong tu tập. Những câu hỏi là:

  • Nếu có người cho tôi biết, “Joko, bà chỉ sống được một ngày nữa thôi.” Tôi có chấp nhận được không? Hay nếu ai đó nói với bạn như thế, thì bạn sẽ chấp nhận ra sao?
  • Nếu tôi bị một tai nạn khốc liệt, và mất đi hai chân hay/và hai tay. Tôi có chấp nhận được không? Nếu xảy ra cho bạn, bạn sẽ chấp nhận ra sao?
  • Nếu tôi sẽ không bao giờ còn nhận được những lời khuyến khích thân thiện, tử tế của một người nào nữa. Tôi có chấp nhận được không?
  • Nếu vì một lý do gì đó, tôi bị phải nằm liệt trên giường và bị cơn đau hành hạ cho đến hết cuộc đời còn lại. Tôi có chấp nhận được không?
  • Nếu tôi làm một việc thật là ngu xuẩn trong một hoàn cảnh thật tệ hại. Tôi có chấp nhận được không?
  • Nếu mối tình mà tôi luôn hằng mơ ước sẽ không bao giờ trở thành hiện thực. Tôi có chấp nhận được không?
  • Nếu vì một lý do nào đó, tôi không còn gì cả và trở thành một người hành khất, không có đủ ăn và không nơi chốn ở. Tôi có chấp nhận được không? Còn bạn thì sao?
  • Nếu tôi phải chia tay với những gì hay những người thân thương nhất của tôi. Tôi có chấp nhận được không?

Bây giờ tôi không thể trả lời “Không sao cả” cho bất kỳ một câu hỏi trên. Nếu bạn là người thành thật, tôi không nghĩ là bất cứ ai trong chúng ta có thể trả lời như thế. Nhưng trả lời được “Không sao cả” là một trạng thái chứng ngộ cao, nếu chúng ta hiểu được ý nghĩa ra sao về một vấn đề gì như thể nào mà vẫn “Không sao cả.” Cho một điều kiện trở nên “Không sao cả”, nó không có nghĩa là, tôi không kêu gào, hay không than khóc, hay không phản đối, hay không căm ghét nó. Hát ca và nhảy múa là âm giai của Pháp; và la hét cùng rên rỉ cũng là cung điệu của Pháp. Cho những sự việc này trở nên “Không sao cả” đối với tôi, không có nghĩa là, tôi sẽ vui mừng về chúng. Vậy, nếu nó như thế thì “Không sao cả” có nghĩa là gì? Trạng thái giác ngộ là gì? Khi không còn sự phân cách tồn tại giữa bản thânhoàn cảnh điều kiện trong đời sống của chính mình, bất kỳ nó có xảy ra thế nào, thì hãy như-nó-là.

Dĩ nhiên, tôi đưa ra một nhóm vấn đề theo chiều hướng đặt biệt khó chịu cho chúng ta. Thay vì tôi nên hỏi, “Nếu bạn phải nhận một tỉ đô la, bạn có chấp nhận được không?” Và bạn có thể nói, “Vâng!” Nhưng để có một tỉ đô la cũng cho thấy mức độ khó khăn tương đương như để trở thành một người ăn mày. Trong mỗi trường hợp trên, câu hỏi là “Ta sẽ hành xử ra sao để sống với hoàn cảnhđời sống mang đến cho ta?” Đó không có nghĩa là một sự chấp nhận mù quáng. Nó không có nghĩa là, nếu bạn bị bệnh, thì bạn sẽ không tận hết khả năng để khang phục; nhưng đôi khi, sự việc tiến triển không thể tránh khỏi thì sao — có khi ta hoàn toàn đành phải bó tay. Thế thì đành vậy “Không sao cả” phải không?

Có lẽ bạn không tán đồng với quan điểm này mà tôi vừa mới đưa ra. Một người mà có được trạng thái “Không sao cả” thì không còn là một con người nữa. Theo cách nói đó, thì bạn rất là đúng; loại hành xử đó không phải là con người bình thường nữa. Hoặc chúng ta có thể nói họ là con người thật đúng nghĩa. Chúng ta có thể nói thế nào cũng được. Nhưng một người không có ác cảm với hoàn cảnhđiều kiện chung quanh, thì vốn không phải là lối hành xử dễ dàng gì, nhất là đối với loại người mà chúng ta từng biết. Tôi có biết vài người gần như giống như vậy. Đây là một trạng thái giác ngộ: trạng thái của một người, mà người đó có thể cởi lòng ra một cách chân thành, ôm lấy bất cứ biến chuyển cuộc đời, dù cho là tốt hay xấu. Tôi không đang nói về một vị thánh; tôi đang nói về một lãnh vực (thường là đứng trước một thử thách to lớn) tự tại. Ví dụ, chúng ta thường hay kinh ngạc về vấn đề chúng ta sẽ chết như thế nào. Điểm trọng yếu là, không phải ta học làm sao để chết một cách can đảm, mà là học: không cần chết một cách can đảmChúng ta có thể nghĩ về nó trong một chừng mực nào đó, nhưng đa phần chúng ta mong muốn trở thành một thứ gì đó chứ không phải là chính ta hiện tại. Có một quan điểm thú vị thật sự là: Không nên học cách để lừa đảo những hoàn cảnh khác nhau (có nghĩa là: trong hoàn cảnh này thì làm cách này; còn hoàn cảnh kia thì làm cách kia, giống như là đã có kế hoạch trù định sẵn trước), mà là học “Không cần một quan điểm nhất định nào cho một hoàn cảnh tương ưng.”

Phần lớn những pháp trị liệudự định điều chỉnh những nhu cầu và mong muốn của tôi cho tới của bạn, để thúc đẩy sự đồng cảm giữa chúng ta. Nhưng giả sử tôi không có bất kỳ sự phản bác nào đối với những nhu cầu và mong muốn của tôi hay của bạn — tất cả đều hài hòa như nó là — thì cái gì cần phải điều chỉnh đây? Bạn có thể muốn nói rằng, một người mà có thể trả lời bất cứ câu hỏi trên với “Không sao cả!” là một người quái đản. Tôi thì không nghĩ như thế. Nếu bạn gặp một người như thế, bạn sẽ không thấy có một điều gì là bất ổn cả. Bạn có thể cảm nhận ra một sự bình lặng mênh mông phát ra từ con người này. Một người có rất ít tư lợi, luôn hài lòng với những gì trong hiện tại, với mình, với mọi người và mọi sự kiện chung quanh một cách chân thành. Bạn sẽ tìm thấy người như thế rất ư là hòa điệu và lân mẫn vào đúng những tình cảnh thích hợp, hoặc không hoàn toàn đồng tình những lúc cần thiết phải như thế. Người này biết sự khác biệt, biết phải làm gì, bởi vì người đó sẽ là bạn.

Vậy tôi mong bạn suy nghĩ lại: những gì là căn bản cho bạn để có thể đáp lại những điều kiện của cuộc sống bằng “Không sao! Tôi không phàn nàn gì cả”? Đó không có nghĩa là bạn vĩnh viễn không còn đảo lộn nữa, mà là có một nền tảng làm chổ dựa khi đối diện với mọi hiện tượng đổi thay trong đời sống, và bạn vẫn có thể điềm tỉnh, “Không sao!” Những gì chúng ta đang làm trong sự tu tập của mình (dù cho bạn có biết hay không; hoặc là bạn có muốn hay không) là học hỏi để biết cái nền tảng này, sự thật này, để giúp cho chúng ta có thể nói đúng lúc: “Không sao!” Hoặc tương tự như những lời cầu nguyện với đức Chúa trời: Ước muốn của người sẽ được toại.

Một cách để đo lường sự thực hành của chúng ta là, nhận xét xem cảm nghĩ của chúng ta có cởi mở nhiều hơn với đời sống ra sao. Dĩ nhiên, khi nó thì bình thường thì chúng ta không có gì để nói, nhưng nó vẫn là sự tu tập của chúng ta. Khi việc gì khả dĩ hài lòng với ta, chúng ta chấp nhận mọi thứ về nó; chúng ta chấp nhận sự phản kháng, sự đấu tranh, sự bối rối của mình; thật ra chúng ta không đi đến đâu được cả theo lối nhìn sự việc của chúng ta như thế. Và đang lúc chúng ta vui lòng về những thứ ấy, thì tất cả những phiền trược kia (đấu tranh, đau đớn, mơ hồ) cũng vẫn đang tiếp tục diễn ra. Đây chính là cơ hội cho tu tập. Trong khi chúng ta tọa thiền băng ngang qua nó, thì sự hiểu biết tăng dần hơn: “Đúng rồi! Tôi trải qua những thứ này và tôi không thích chúng — mong rằng tôi có thể vượt thoát khỏi — và rồi, nó cũng không đến đổi tệ hại lắm.” Một bước tiến xa. Ví dụ: Bạn có thể sống hạnh phúc với người bạn đời của bạn, và nghĩ, “À! người này đúng là người thích hợp nhất cho tôi!” Thình lình anh ấy hay cô ấy rời bỏ bạn; nỗi khổ đau sắc nét phát sinh và kinh nghiệm khổ đau kia rồi cũng phôi pha đi. Suốt quá trình tu thiền, chúng ta xây đắp một con đường đi vào công án này, nghịch lý này và dùng nó để chống đỡ đời sốngChúng ta biết càng nhiều về những gì xảy ra, thì ngược lại chúng ta càng ghét cáu chúng bấy nhiêu; và cũng chừng bấy nhiêu ấy chúng ta phải đấm đá với chúng — để đi đến cái “Không sao cả!” Tôi đang làm cho sự tu tập trở nên khó khăn phải không? Nhưng quả thật tu tập thì thật là khó khăn. Lạ đời thay, những người tu tập thế này lại là những người sống rất yêu đời giống như Zorba the Greek. Vì không kỳ vọng gì từ đời sống nên họ có thể hưởng thụ nó. Khi những cố sự xảy ra, đa phần người ta cho là rất thảm hại; những người này có thể cũng vẫy vùng, tranh đấu và náo động, nhưng (có khác nhiều người khác) họ vẫn có thể lạc quan — Không sao cả!

Trừ khi chúng ta hoàn toàn hiểu sai về tu thiền là gì, chúng ta càng cảm thông nhiều hơn những khó khăn, mệt mỏiđau đớn, dù là chúng ta không thấy thích chúng. Và cũng đừng quên những phút giây thần kỳ của khóa tu: để rồi sự vui sướng và sự hiểu rõ giá trị của chúng, có thể làm cho chúng ta bàng hoàng sửng sốt. Đối với lối tu tập như thế, sự thặng dư sẽ vung bồi cho Trí tuệ. Tôi thì không hứng thú lắm về kinh nghiệm chứng ngộ so với việc tăng trưởng thêm Trí tuệ trong tu tập. Bởi vì khi nó phát triển, cuộc đời của ta sẽ thay đổi một cách triệt để. Dù là, nó có thể không đổi thay theo chiều hướng mà chúng ta mong muốn. Chúng ta sẽ trưởng thành hơn trong sự hiểu biết và sự cảm kích về nét hoàn mỹ của mỗi phút giây hiện tại trong đời sống: cơn tê đau ở gối và lưng, sự ngứa ngáy nơi đầu mũi, sự xuất hạn. Chúng ta trầm tĩnh đủ để nói, “Không sao!” Sự thần diệu của tọa thiền là sự cảm biết thần kỳ của sự hiểu rõ giá trị “phút giây hiện tại.”

Thật là khó khăn cho tôi, nếu tôi không còn nghe nhận được những lời lẽ chân tình và thân thương. Tôi có chấp nhận được chăng? Dĩ nhiên là không, nhưng chính gì “không” đó mà tôi cần phải tu tập. Nếu tôi bị bắt cóc ở một quốc gia hoang dãbị giam vào ngục tối, thì sự tu tập sẽ là gì? Những sự kiện trầm trọng không thường xảy ra cho phần lớn của chúng ta. Nhưng ở trong phạm vi hạn hẹp hơn, thiên tai thì luôn xảy ra và chúng ta có thể hình dung được đời sống của chúng ta có thể bị thay đổi lớn hoặc hủy diệt hoàn toànLúc ấy trên ngã rẽ cuộc đời chúng ta bắt buộc phải lựa chọn cho mình một hướng đi: một là chúng ta trực diện đối mặt cùng thảm họa và biến nó thành sự tu tập cho chúng ta; hai là, chúng ta thêm lần nữa trong cuộc đời, trốn chạy và không học được gì từ cố sự, chỉ nối kết thêm cho những khó khăn mình đã có trong quá khứ? Nếu chúng ta muốn một cuộc sống hòa bình và giá trị, chúng ta cần những gì? Chúng ta cần có một khả năng (thứ này cần học chậm chạpmiễn cưỡng) để kinh nghiệm cuộc sống của mình như-nó-là. Trong mọi thời, tôi không muốn làm vậy, và tôi tin rằng bạn cũng thế. Nhưng đó là những gì mà chúng ta đến đây để học. Ngỡ ngàng thay, chúng ta đang học nó. Phần lớn trong chúng ta thì lạc quan hơn sau khi khóa tu kết thúc. Có thể là “cuối cùng thì cũng xong, mệt quá!” nhưng không chỉ có thế. Sau khóa tu học, chỉ thả bước theo con đường cũng đủ nghe lòng thanh thản; nó không thanh thản trước khóa nhưng lại có cảm giác sau đó. Cái thái độ này có thể không kéo dài. Ba ngày sau, chúng ta lại quay về đường mòn của tâm thức, đi tìm những giải đáp kế tiếp. Tuy vậy chúng ta có học một ít về những điều bất ổn của lối tìm kiếm này. Càng kinh nghiệm nhiều hơn, cuộc sống càng nới rộng với trạng thái “Không sao!”, chúng ta sẽ có ít khuynh hướng lánh xa nó (cuộc đời và những hiện tượng tốt/xấu) hơn, để mong cầu tìm một ảo ảnh của Chân, Thiện, Mỹ.

Section 1.04 Thảm họa

Theo tự điển, Thảm họa là “một tác phẩm văn hoa hay nghệ thuật sân khấu mô tả một nhân vật chính nào đó bị vướng mắc vào sự đấu tranh có tác động lớn vào nền tảng đạo đức nhưng kết quả đi đến điêu tàn hay sự thất vọng sâu xa.” Từ quan điểm thông thường này thì “đời sống” là một thảm họa — nhưng chúng ta lại bỏ phí cả cuộc đời mình, cố gắng một cách tuyệt vọng để lẩn trốn thảm họa (“đời sống”) này. Mỗi người chúng ta là nhân vật chính của cái sân khấu nhỏ của mình. Mỗi người chúng tacảm tưởng là mình đang đối diện với một cuộc đấu tranh đạo đức lớn lao. Thế nhưng không một ai chịu nhìn nhận điều này — vì cuộc chiến này sẽ kết thúc đời ta trong điêu tàn và đổ nát không thể nào tránh được. Bên cạnh những biến cố bất ngờ mà chúng ta đụng độ trong cuộc đời mình, còn có một “biến cố” ở cuối con đường đời mà không một ai có thể tránh khỏiChúng ta đành chịu. Từ phút giây đời sống hữu vi bắt đầu nó đã đi dần theo chiều hướng để đến điểm cuối cùng rồi. Theo quan điểm cá nhân thì rõ ràng đây là một thảm họa. Cho nên, chúng ta đã hoang phí cuộc đời mình cho cuộc đấu tranh vô nghĩa là, cố gắng tránh cái kết cuộc đó. Chính cuộc đấu tranh không đúng chỗ đó mới là một thảm họa thật sự. 

Giả sử chúng ta sống gần đại dương, trong một vùng khí hậu ấm, nơi mà chúng ta có thể tắm biển quanh năm, nhưng cũng nơi đó lại cũng là vùng có nhiều cá mập. Nếu chúng ta là những người bơi lội thông minh, chúng ta sẽ nghiên cứu xem nơi nào của bãi biển là nơi mà cá mập thường hay lai vãng, rồi chúng ta tránh xa nơi ấy. Nhưng cá mập thì luôn luôn là cá mập (nhám nhúa và láu cá), sớm muộn gì một con trong đàn sẽ tản mạn vào nơi ta hay bơi lội để thăm viếng chúng taChúng ta thì có bao giờ ngờ là, nếu một con cá mập không chộp được ta thì ngọn thủy triều vẫn có thể. Chúng ta có thể đã bơi lội cả đời mà chưa từng gặp một con cá mập, nhưng lo sợ về chúng thì có thể làm những ngày bơi lội trở nên mất sinh khívui tươi.

Mỗi người chúng ta đều hình dung ra được con cá mập trong cuộc đời của chúng ta ở đâu, và chúng ta đã phí gần hết năng lực đời mình để âu lo về chúng. Thật hợp lý khi ta cẩn thận đối với những tai nạn vật lý; chúng ta mua bảo hiểm, chúng ta cho con cái chích ngừa, chúng ta cố gắng giảm bớt độ mở trong máu. Tuy thế, những sai số vẫn len lén đi vào tư tưởng của chúng ta. Những dung sai đó là gì?

Sự khác biệt là gì giữa sự đề phòng hợp lý và sự lo lắng liên miên, cho tới nổi đầu óc quay cuồng? Có một dụ ngôn trong kinh Phật: một người đàn ông đang bị một con cọp rượt. Trong cơn tuyệt vọng, anh ta nhảy bổ lên một vách đá của một cái hố to và chụp lấy một chùm vây leo. Trong khi con cọp trên cao kia đang nhe móng vuốt muốn vói tới anh, nhìn xuống dưới vách đá; hởi ôi! một con cọp khác (cọp đâu mà nhiều đến thế?) đang ngẩn đầu chờ cho anh mỏi mệt rồi buông tay. Trên kia bên bờ vách đá, thì lại đang có hai con chuột tinh nghịch đang gặm mòn dần chùm dây leo mà anh ta đang bám víu. Trong giây phút chỉ mành treo chuông kia, anh chợt thấy một chùm dâu (trông thật ngon) gần đó, anh một tay giữ lấy chùm giây leo, còn tay kia với hái chùm dâu và ăn lấy nó. Chùm dâu thật ngọt ngào làm sao ấy! Rồi kết cuộc của người đàn ông kia ra sao? Dĩ nhiên chúng ta cũng biết. Những gì xảy ra cho người ấy có là một thảm họa hay không?

Nên nhớ rằng, người kia bị đuổi bắt bởi một con cọp, anh ta không phải đang nằm đó và nói, “Ồ, tạo hóa thật đẹp tuyệt vời. Chúng ta là cùng một thể, làm ơn ăn tôi đi.” Câu chuyện không nói về nét khờ khạo — mặc dù ở một mức độ nào đó, người kia và con cọp là một (không phải sau khi ăn anh ta xong!). Người kia đã cố gắng tự bảo vệ (bằng cách chạy và nhảy xuống vách đá) với hết khả năng, cũng như tất cả chúng taTuy thế, nếu chúng ta ở trong tình trạng của người đàn ông kia, chúng ta hoặc là hoang phí phút giây còn lại của đời mình (để bồn chồn, hoảng sợ, kêu cứu) hay là để hưởng thụ cái giá trị của nó (cái phút giây thời gian đó chớ không phải chùm dâu!). Biết đâu mỗi phút giây không phải là phút giây cuối cùng phải không? Không có phút giây nào khác hơn là phút giây này.

Chăm sóc Tâm và Thân của ta là điều rất ư hợp lý; vấn đề phát sinh là chúng ta áp đặt thêm vào nó một định danh độc đáo. Một vài cá nhân trong lịch sử nhân loại xem cái mệnh danh tương tựa như là tất cả đời sống trong vũ trụ này như chính là họ. Theo họ vốn không có thảm kịch, bởi vì theo họ không có kẻ thù hiện hữu. Nếu chúng ta và cuộc sống là một — không cần biết là ai, là cái gì, hoặc nó làm gì — không là vai chính, không là kẻ địch, không là bi kịch.. thì chùm dâu kia có thể thưởng thức được rồi.

Khi sự tu tập của chúng ta đều đặn, liên tục, có cường độ, chúng ta bắt đầu cảm được những sai lệch về định danh của thân và tâm. Dĩ nhiên, chúng ta thấy điều này ở nhiều mức độ khác nhau và có số người không thấy gì cả. Nó không phải là khả năng lãnh hội tri thứcVật lý học hiện đại làm sáng tỏ phương diện này là, chúng ta là “Một”, nghĩa là chúng ta chỉ là một dạng khác của năng lượng mà thôi, và đó thì không khó khăn gì để thấu hiểu một cách tri thức. Nhưng là một nhân sinh với tâm, thân, và cảm giác, chúng ta biết được bao nhiêu về những tế bào trong cơ thể của chính mình?

Khi những danh phù với tâm và thân của chúng ta nới rộng ra tới một mức độ nào đó ta có thể thấy như-nó-là, chúng ta lúc đó sẽ trở nên cởi mở hơn để nghĩ đến người khác, mặc dù chúng ta không hoàn toàn tán đồng với họ, thậm chí chúng ta còn phải đối kháng lại với họ. Thay đổi thái độ có thể bao gồm cả những quan điểm đối nghịch của người khác. Khi sự việc xảy ra như thế, sẽ không còn một vai chính phản kháng lại kẻ địch.

Tu tập là để thấy sâu suốt hơn vào cái định danh hư cấu này, đây là một căn bệnh khái niệm đã cưỡng chế mọi hành động của chúng ta từ bao đời. Trong quá trình tu thiền, chúng ta có một cơ hội quí giá để đối diện với chính mình, để thấy cái bản chất của tư duy sai lầm; do sự sai lầm này đã tạo ra cái ảo tưởng của một cái Ngã riêng biệt.

Cái tâm xảo quyệt vô cùng tận của con người có thể vận hành rất năng động khi không gặp trở lực nào; nhưng dưới sự tấn công của thiền tập, ngồi bất động trong nhiều giờ, tính lừa đảotrốn tránh trách nhiệm của tâm phải bị phơi bày rõ ràng. Sự căng thẳng được tạo ra bởi cái tâm lừa đảo kia cũng bắt đầu bị ảnh hưởngSự kiện này kéo chúng ta về, để nhận thức rằng không có gì bên ngoài ta đang công kích ta cả. Chúng ta chỉ bị đột kích bởi tư tưởng của mình, nhu cầu của mình, luyến đắm của mình, tất cả đều được sinh ra từ cái định danh của chúng ta, với sự trợ giúp của cái tư duy lệch lạch của chúng ta. Từ những hiện tượng này thay phiên nhau tạo thành một cuộc sống gần như khốn khổ và tơi tả (không trọn vẹn). Tọa thiền mỗi ngày, chúng ta có thể trốn tránh (ngoài giờ ngồi) được sự nhật thức này, nhưng nếu chúng ta tu thiền tám giờ một ngày thì thật là khó mà trốn chạy được; càng tu tập càng nhiều thì nó càng khó hơn.

Khi chúng ta tu tập một cách kiên nhẫn (bằng cách kinh nghiệm hơi thở của mình, chú tâm về quá trình tư duy) thì sự nhận thức sẽ phát sinh từ trong từng tế bào của bản thân, chứ không phải xảy ra theo lề lối tri thức. Đường lối tư tưởng lệch lạc sẽ bị tan biến như làn mây dưới sức nóng của mặt trời; khi ấy chúng ta nhìn thấy ra ở giữa nỗi đau khổ của chúng ta có những chập thời gian của sự cởi mở: khoảng trống và niềm vui mà chúng ta chưa từng biết trước đây.

một lần, một người nào đó đã khẳng định với tôi, “Những thứ đó vẫn không thể nào giải quyết được vấn đề của sự chết. Chúng ta vẫn phải chết.” Tất nhiên là chúng ta sẽ cũng phải chết. Nhưng nếu trong một giây trước ngưỡng cửa của tử thầnchúng ta vẫn có thể nói được, “Ồ! Chùm dâu thế mà lại thật là ngon!” — như vậy thì đâu còn có vấn đề gì đâu. Nếu con cá mập ăn chúng ta, thì con cá mập có được một bữa ăn ngon, vậy thôi! Rồi có lẽ, trong lúc ấy người ngư phủ lại đang lưới rập con cá mập. Từ quan điểm của con cá mập mà nói, thì đó là một thảm họa, nhưng từ góc độ đời sống của con người thì sao lại là không phải.

Tôi không đề xuất ra một tiêu chuẩn mới nào cả để cho chúng ta theo đuổi. Người đàn ông chạy trối chết từ nanh vuốt của con cọp, run rẩy trong sợ hãi, hữu vi phápChúng ta là gì? Thì cũng là hữu vi pháp. Vậy trong khi bạn tọa thiền, và cũng như khi bạn đang đấu tranh, hay trong lúc cảm thấy bất hạnh, hoặc là đang trong cơn bối rối, thì hãy là vậy (hữu vi pháp!). Nếu bạn đang hạnh phúc, thì hãy là vậy — nhưng đừng bám víu vào nó. Có được như thế trong mỗi phút giây, chính là chỉ hòa nhập với những gì của phút giây-đó-là. Với lối tu tập kiên nhẫn như thế, chúng ta sẽ thấy ra cái tình trạng sai lệch của định danh cá biệt của mình, nó đã và đang luôn buộc chặt lấy với thân và tâm ta; từ đó chúng ta bắt đầu hiểu biết.

Thảm họa luôn luôn cần đến một vai chính bị lôi cuốn vào một cuộc tranh đấu. Nhưng chúng ta không bắt buộc phải là nhân vật chính đó, đang bị vương vấn vào một cuộc tranh đấu không lối thoát bằng vũ lực bên ngoài chúng ta. Sự phân tranh xuất phát từ sự diễn dịch của chính chúng ta, sẽ bị chấm dứt trong hoang tàn chỉ khi nào chúng ta nhìn nó theo chiều hướng đó (hữu vi pháp!). Trong Tâm Kinh có nói, “Vô vô minh diệc vô vô minh tận. Nãi chílão tử diệc vô lão tử tận. Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Vô trí diệc vô đắc.” Người đàn ông bị cọp rượt kia cuối cùng rồi cũng bị cọp ăn thịt (dĩ nhiên là con chờ phía dưới kia). “Không sao cả.” Nhứt thiết hữu vi pháp đều không bền vững…

Section 1.05 Tâm quan sát

 “Ai đó?” Trời hỏi. “Tôi đây.”

“Đi chỗ khác đi.” Trời nói. Một chút sau…

“Ai đó?” Trời hỏi. “Là Ông.”

“Vào đi.” Trời trả lời.

Cái mà chúng ta thường hay nghĩ về như một cái “Ta” thì có rất nhiều hình thái. Có cái Tâm suy nghĩ, cái Tâm cảm xúc, cái Tâm hoạt động dùng để làm việc. Gồm lại tất cả để tạo nên một cái “Ta” khả năng diễn tả của chúng ta. Không có điều gì trong phạm trù này mà chúng ta không thể mô tả. Ví dụ, chúng ta miêu tả chức năng vật lý của mình như là: đi tản bộ, về nhà, ngồi xuống. Về cảm xúc: chúng ta có thể thường hay diễn đạt tình trạng chúng ta cảm thấy thế nào; khi chúng ta kích động hay giận dữ, chúng ta có thể nói rằng cảm xúc của ta đang dâng cao, tột đỉnh, và hạ xuống theo cường độ. Và chúng ta cũng có thể diễn tả tư tưởng của mình. Những khía cạnh của cái “Ta” đó là những tác nhân quan trọng nhất của đời sống chúng ta: Một bản Ngã có thể suy nghĩ, cảm xúc, và hành động.

Có một khía cạnh khác nữa của cái Ngã là, chúng ta từ từ tiếp xúc với nó khi chúng ta tu thiền: Tâm quan sát. Nó có giá trị rất quan trọng đối với một vài phương pháp trị liệu của người Tây phương. Thật ra, khi xử dụng đúng cách thì những pháp trị liệu kia sẽ có hiệu năng rất cao. Nhưng chính những phương thức trị liệu này cũng không nhận ra được sự khác biệt rốt ráo giữa Tâm quan sát và những tâm khác; hoặc là họ không hiểu cặn kẻ hết đặt tính những khía cạnh của các tâm này. Tất cả những phần có thể diễn tả thì rất ư là hạn chế. Những nét đặt trưng mà họ biết được cũng rất là trực tuyến; đến và đi theo phạm trù thời gian. Nhưng tâm quan sát thì không thể nào áp đặt trong cách xếp loại đó được, không cần biết chúng ta thử bằng cách hay góc độ nào. Tâm quan sát không thể tìm và không thể diễn tả. Nếu chúng ta tìm kiếm nó, chúng ta sẽ không thấy gì hết. Vì không có thấy gì hết nên chúng ta khó có thể khả dĩ biết về nó, chúng ta có thể nói, là nó nằm trên một tọa trục khác biệt.

Trong tu tập, chúng ta quan sát — hoặc gom tâm lại hay nhìn vào trong — càng nhiều (lâu dài) càng tốt vào cái tâm có khả năng diễn đạt của mình. Những pháp trị liệu tâm lý (của Tây phương) cũng làm tương tự như thế nhưng chỉ ở một chừng mực (thời gian và chiều sâu) nào đó thôi; còn tu thiền thì tiếp tục diễn tiến trong nhiều năm, vun đắp cái tâm quan sát triệt để hơn (đi vào mức vi tế) so với những pháp trị liệu kia. Trong khi chúng ta tu thiền, chúng ta phải quan sát rằng, chúng ta làm việc như thế nào, chúng ta ân ái ra sao (không phải làm bằng cách nào mà là trong trạng thái tâm ra sao), chúng ta có mức độ tỉnh giác như thế nào khi dự một buổi họp mặt, chúng ta có tâm trạng cởi mở ra sao trong những hoàn cảnh khác biệt với những người xa lạ. Không có bất cứ gì về bản tâm và thân có thể bỏ xót dưới sự khảo sát tường tận. Đó không có nghĩa là chúng ta phải đình chỉ tất cả những hoạt động bình thường khác. Ngay cả khi chúng ta hoàn toàn bị cuốn hút trong cuộc sống hàng ngày, quá trình quan sát vẫn tiếp tục. Bất cứ lãnh vực nào về ta mà chưa được quan sát tường tận, thì phương diện ấy vẫn còn ở trong điều kiện không rõ ràng, mơ hồ, bí ẩn. Nó (những gì không lọt vào trong tầm của sự quán sát rốt ráo của chúng ta) thì chừng như vẫn còn những vùng xám đối với ta, giống như nó vận hành theo chiều hướng riêng của nó mà ta không hề hiểu biết gì. Bao giờ chúng ta bị mắc kẹt vào tầm hoạt động của nó, nó sẽ mang chúng ta đi sâu vào vùng không gian tăm tối.

Ở một lúc này hay vào một khi khác, tất cả chúng ta có thể bị đưa vào tầm hoạt động của một cơn giận nào đó (Cơn giận này có thể là sự bực tức, ganh tị, phiền muộn, hay là sự chán nản.) Trong nhiều năm tu thiền, chúng ta dần dần khám phá ra cái cấu thể của cơn giận và những tư tưởng cảm xúc khác. Trong một giai đoạn nào đó của cơn giận, chúng ta cần phải biết tất cả những tư tưởng liên quan đến sự kiện. Những tư tưởng này tuy là không thật nhưng chúng có sự ràng buộc với những cảm giác, sự cảm xúc của những biến chuyển vật lý (căng bắp thịt, co gân) của thân. Chúng ta cần phải quan sát nơi mà các bắp thịt co rút và nơi nào thì không. Có một số người, cơn giận thể hiện trêm mặt, một số thì căng cứng phía sau lưng, lại có người thì phản ứng khắp toàn thân. Biết càng nhiều chi tiết như thế — khả năng quan sát mạnh — thì những bí ẩn về cảm giác sẽ ít đi, và chúng ta ít bị chúng khống chế.

Có vài phương pháp để thực hành. Một là phương pháp (1) dùng sự tập trung hoàn toàn hay toàn diện (thường hay dùng phổ biến trong các trung tâm thiền) như là ta nhận một công án; thiền sinh tham (nghiền ngẫm) nó với tất cả mọi nỗ lực để công phá nó. Theo phương pháp này, những gì chúng ta thật sự làm là, đàn áp những tư tưởngcảm xúc không cho nó có cơ hội khởi sinh vì tâm bận bịu luôn với đề mục. Vì chúng không là thật, chúng ta giả sử rằng, không hại gì khi đàn áp chúng. Và đúng như thế, nếu chúng ta kiên trìquán sát đầu đủ lâu, chúng ta đôi khi có thể đột phá Vô minh mà đập tan cái Ngã. Một phương pháp (2) khác là chúng ta áp dụng ở đây (ở thiền viện này) là, một cách chậm chậm, mở rộng thân và tâm ra với sự kỳ diệu của cuộc đời bằng cách lưu ý tỉ mỉ tới bản chất của phút giây hiện tại. Từ từ chúng ta trở nên điêu luyện và hiểu biết nhiều, để rồi chúng ta có thể bắt gặp các hiện tượng ở lúc nó khởi sinh. Ví dụ như, chúng ta nhận thức được ngay, khi chúng ta không thích một người nào đó, thì ta bệu mép trái của mình không được bình thường. Theo pháp tu này, mọi hiện tượng trong đời sống — sự kiện tốt lẫn xấu, cơn khích động, sự nản lòng, nỗi thất vọng, cơn bực bội của chính mình — đều trở thành lúa (hiện tượng) cho cái máy xay (tâm quan sát). Chứ không phải là chúng ta đi lục lạo tìm tòi những mâu thuẫnvấn đề; những thiền sinh vững chãi thì rất hoan nghênh chúng (những hiện tượng), bởi vì chúng ta có thể học rất nhiều kinh nghiệm từ chúng, khi bản chất của chúng được sáng tỏ, tự dolòng bi mẫn sẽ tăng trưởng hơn.

Pháp thứ ba (3) là thay thế những tư tưởng không tốt bằng những tư tưởng thiện lành (theo tôi thì đường lối này không mang lại năng suất cao (tuy vẫn có kết quả). Ví dụ như: nếu chúng ta đang giận một điều gì, chúng ta nên dừng lại và nghĩ đến một tình cảm tốt đẹp của đối tượng hay của một hiện tượng khác. Với điều kiện thay đổi có thể giúp chúng ta cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng phương pháp này khó mà chịu nổi sức ép của cuộc đời, và tráo đổi một điều kiện với một điều kiện tốt hơn chỉ là một hình thức tránh né, chúng ta bỏ lỡ cơ hội tu (học) tập. Điểm mấu chốt là, không phải cảm giác thiện thì tốt hơn cảm giác bất thiện, mà là tất cả tư tưởngcảm giác đều Vô thường, thay đổi, và không thật (theo chánh pháp). Chúng không thật có trên bất kỳ góc độ nào. Trạng thái tự tại của chúng ta có được từ sự hiểu biết được tích lũy qua nhiều năm quan sátkinh nghiệm những tư tưởngcảm giác tự ngã (và tác nhân khởi sinh ra chúng) là không thật. Chúng không có thực chất; nhưng nếu chúng ta không thấy được bản chất không thật của chúng (cho chúng là thật) thì chúng trở nên tai hại cho chính mình. Khi chúng ta nhận biết được điều này, chúng ta có thể từ bỏ chúng. Làm được như thế, tự nhiên chúng ta đi vào được phạm trù siêu thế.

Phạm trù siêu thế gian — thiên đường hay tịnh độ — mở ra khi chúng ta không còn bị vướng chấp trong Tự ngã: khi không còn là “Tôi đây,” mà là “Là anh”, hay “Là ngài.” Tôi là tất cả khi không còn sự ngăn cách. Đây là đời sống của lòng Từ Bi chân chính và không một ai sống được với nó trong mọi thời. Trong lối tu tập với cái nhìn chằm chằm, thì trong lúc chúng ta đối diện người khác mà cũng vừa thực dụng, đó cũng chính là lúc chúng ta có thể bỏ một bên những tư tưởng, tình cảm để thật sự nhìn vào đôi mắt người khác, chúng ta nhận ra một trạng thái Vô ngãChúng ta thấy sự diệu kỳ, và chúng ta thấy ra người này cũng là chính mình. Đây là liều trị liệu phi thường, nhất là cho mối quan hệ của loài người, cho những ai thiếu thiện cảm với nhauChúng ta thấy trong một giây phút những gì về người kia là: họ Vô ngã cũng như chúng ta, tất cả chúng ta là sự kỳ diệu.

Trong một khóa tu học ở nhiều năm trước, tôi có thực tập lối nhìn mắt với một người đàn bà trẻ, bà nói cuộc đời của bà trở nên sụp đổ sau cái chết của người cha. Bà nói rằng, không có việc gì bà có thể làm khả dĩ mang lại sự bình yên qua sự mất mát kia. Trong sáu-mươi phút, chúng tôi nhìn vào mắt nhau. Nhờ vào sự tu tập, tôi có đủ khả năng giữ cho cái nhìn của tôi vững và không gián đoạn một cách dễ dàng. Khi bà bị dao động thì tôi có thể kéo bà trở về. Ở giai đoạn chót bà bật khóc. Tôi ngạc nhiên về cái gì sai, nhưng bà nói, “Cha tôi thật ra không mất! Tôi đâu có mất ông. Không sao, tôi tìm thấy sự bình an cho mình rồi.” Bà đã thấy bà là ai và cha của bà là ai. Cha của bà không phải là cái thân xác đã chết đi. Trong sự kỳ diệu, bà đã biết chấp nhận.

Chúng ta có thể tu tập quan sát mình khi bắt đầu lên cơn giận: tư tưởng phát sinh, thân thể biến chuyển, nhiệt độ và sức căng thay đổi. Thông thường chúng ta không thấy cái gì xảy ra cả, bởi vì khi chúng ta đang giận, chúng ta đồng hóa mình với khát vọng cho mình là “đúng” của mình. Thành thật mà nói, chúng ta không còn hứng thú gì với sự tu tập trong lúc này. Chúng ta thật là nông nổi trong khi giận dữ; và khi cơn giận lên cao chúng ta thấy rằng, thật là khó khăn mà tu tập với nó. Lợi ích của Tu tập là có kết quả với những cơn giận thông thường xảy ra trong mọi ngày; khi chúng ta thực tập với chúng mỗi khi chúng phát sinh, để cho chúng ta học hỏi; để rồi khi cơn giận lớn hơn ập đến, mà thường hay dồn dập chúng ta một cách phũ phàng, thì chúng ta có thể ít bị choáng ngợp hơn. Cứ như thế rồi theo thời gian, chúng ta có thể bị nó thao túng ít dần đi, ít dần đi.

Có một công án cũ về một vị sư, người đi đến thầy của mình và nói, “Tôi là người rất dễ giận, thầy từ bi giúp cho con.” Người thầy nói, “Đem cái giận của ông ra cho tôi xem.” Vị sư kia nói, “A! Bây giờ thì con đâu có giận. Con làm sao có thể chỉ nó cho thầy.” Người thầy nói, “Vậy rõ ràng nó không phải là ông, vì đôi khi nó không có ở đó.” Chúng ta là người có nhiều mặt, nhưng nhiều mặt này lại không phải là chúng ta.

Có người hỏi tôi, “Quan sát có là lối tu tập nhị biên không? Bởi vì khi chúng ta quan sát thì có cái quan sát và cái bị quan sát.” Thật ra thì nó không phải nhị nguyên. Vai quan sát thì Không. Thay vì có một quan sát viên, chúng ta nên nói là chỉ có sự quan sát. Không có người nghe, mà chỉ có sự nghe. Không có người thấy mà chỉ có sự thấy. Nhưng chúng ta không hoàn toàn bắt được vấn đề đó. Nếu chúng ta thực hành đúng mức, bất kể ra sao, chúng ta học được là, không những chỉ là người quan sát thì Không, mà đối tượng bị quan sát cũng Không. Đến giai đoạn này, người quan sát (hay là chứng nhân) đã bị phân hóa. Đây là giai đoạn cuối cùng của sự tu tập; chúng ta không cần lo về cái này. Tại sao người quan sát cuối cùng bị sụp đổ? Khi rỗng không nhìn thấy rỗng không, thì chúng ta có gì? Chỉ là sự kỳ diệu của cuộc đời. Con ngườihiện tượng không còn phân cách nữa; chỉ có thực chất của đời sống (dòng trôi chảy cuộc đời): nghe, chạm, thấy, ngửi, suy tư. Chỉ có tình thươnglòng bi mẫn: không phải “Tôi đây” mà là “Là Anh.”

Thế cho nên, phương pháp mà tôi nhận thấyhiệu quả nhất là phương pháp giúp tăng thêm sức mạnh khả năng quan sát. Bất cứ khi nào chúng ta đang giận dữ thì chúng ta mất đi khả năng đó. Chúng ta không thể giận dữ được nếu chúng ta đang quan sát, bởi vì người nhân chứng đúng nghĩa thì không bao giờ bị lôi cuốn vào sự kiện đang xảy ra. “Rỗng không” cũng không thể giận dữ. Vậy nếu chúng ta có thể là chứng nhân, thì chúng ta xem bất cứ vở kịch nào với sự chú ý và đồng tình, nhưng không thể giận dữ. Tôi chưa may mắn gặp được một người nào có thể quan sát trọn vẹn trong mọi thời cả. Nhưng có sự khác biệt lớn lao giữa hai người, một người có thể quan sát tâm mình phần lớn thời gian và người kia thì ít khi quan sátMục đích của sự tu tập là tăng thêm khoảng trống khách quan (thời gian quan sát). Mặc dù, nó nghe có vẻ hấp dẫn — giống như pháp tu thiền thì nghe hấp dẫn — nhưng nó lại không tạo ra người hấp dẫn; mà còn hoàn toàn trái ngược nữa kia. Khi chúng ta đi đến giai đoạn mà chứng nhân bị phân hóa, chúng ta mới bắt đầu biết đời sống là gì. Nó không phải là một điều đáng sợ, ngược lại, nó có nghĩa là, khi tôi nhìn vào một người, tôi chỉ nhìn thôi; tôi không có cộng thêm mười-ngàn tư tưởng vào “cái tôi đang thấy”. Đó là không gian của lòng bi mẫnChúng ta không phải cố gắng tìm kiếm nó. Đó là thật tánh của chúng ta khi cái Ngã vắng bóng.

Chúng ta thường hay ở vào trong trạng thái không tự nhiên. Với tất cả những khó khăn trong đời sống, chúng ta có cơ hội nhận diện bản tâm mà không loài sinh vật nào khác có được. Con mèo là một kỳ quan của cuộc đời, nhưng chính con mèo đâu biết được điều đó, nó chỉ sống vậy thôi. Nhưng loài người thì khác, chúng ta có được khả năng nhận biết ra điều đó. Theo sự hiểu biết của tôi, chúng ta chỉ là sinh vật duy nhất trên mặt quả địa cầu này có khả năng này thôi. Có được khả năng — có thể gọi là thiên phúchúng ta nên cảm kích vô tận rằng chúng ta có cơ hội để nhận thức đời sống là gì và chúng ta là ai.

Cho nên chúng ta cần phảikiên nhẫn — không chỉ trong khóa tu mà là mỗi ngày trong cuộc sống — để đối diện với những vấn đề thử thách: quan sát một cách tỉ mỉ tất cả khía cạnh của đời mình, để có thể thấy ra bản chất của nó, cho đến khi người quan sát thấy không còn gì nữa, ngoại trừ chỉ còn lại đời sống như-nó-là, thì tất cả mọi điều đều là kỳ diệu. Tất cả chúng ta đều có thể có phút giây như vậy. Sau khóa tu, chúng ta có thể ngắm nhìn cành hoa trong giây phút mà không bị định kiến bóp méo. Sự tu tập của chúng ta mở cửa ra và đưa ta đến gần với đời sống của mình hơn. Đó là những gì mà chúng ta hiện hữu trên cõi đời này để làm. Tất cả những kỷ luật tôn giáo căn bản đều nói giống như nhau: người, vật, sự kiện, đèn, cỏ, con đường, tôi và tất cả những thứ khác đều là Một. Trong khi chúng ta tu tập, chúng ta từ từ nới rộng sự nhận thức này.

Khóa tu là nơi huấn luyện. Tôi chỉ hứng thú về những gì các bạn sẽ làm khi bạn tìm thấy mình đang trong cơn khủng hoảng, trong hai tuần lễ kể từ bây giờ. Khi ấy bạn sẽ hiểu cách nào để tu tập hay không? Quan sát tư tưởng của bạn, kinh nghiện bản thân, thay vì bị những suy nghĩ lo âu mang bạn đi lang bạt, hãy cảm nhận sự co thắt cơ bắp nơi bụng mình, đứng vững ngay giữa cơn khủng hoảng. Những gì tạo cho đời sống trở nên đáng sợ chính là vì, chúng ta thả trôi tự thân hòa trộn trong những rác rến đang bị lôi cuốn trong luồng lốc xoáy. Chúng ta vốn không phải làm thế. Hãy tọa thiền vững vàng

Tạo bài viết
30/07/2013(Xem: 21488)
Được tin lũ chồng lũ, bão số 8, bão thế kỷ sắp tràn về miền Trung khốn khổ, tốc độ trên 200/km, hơn vận tốc của xe trên free way, nghĩa là nơi nào bão qua là nơi đó không còn dấu vết sự sống, ôi thương đau khủng khiếp.
Sáng hôm qua, (ngày 18 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 4 xã Hải Thiện, Hải Lăng, Hải Ba, Hải Dương, Hải tại Tỉnh Quảng Trị. Xã Hải Thiện phát 170 phần quà, xã Hải ba & Hải Lăng 180 phần quà, xã Hải Dương 150 phần quà. Thật may mắn cho đoàn là cả ngày trời không mưa nên công việc cứu trợ được thuận duyên và thành tựu viên mãn.
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo