Chương 7. Hãy chiến thắng tự thân

23/09/20162:42 CH(Xem: 501)
Chương 7. Hãy chiến thắng tự thân

NHA TU THƯ VÀ SƯU KHẢO
VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH
In lần thứ hai 1970

 TRƯỚC SỰ NÔ LỆ CỦA CON NGƯỜI 
CON ĐƯỜNG THỬ THÁCH CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM 
TT THÍCH MINH CHÂU

Chương 7
Hãy chiến thắng tự thân

 

Chủ đề lễ Phật Đản tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm nay là: ĐỨC PHẬT, NHÀ ĐẠI GIÁO DỤC. Chúng ta hãy tìm hiểu Đức Phật dạy cho nhân loại những gì, hay gần ta hơn, Đức Phật dạy chúng ta những gì khi Ngài đứng trên bình diện một nhà đại giáo dục hoán cải con người theo hướng đi Ngài muốn cho chúng sanh.

I. Lời dạy đầu tiên của Ngài là muốn giáo dục con người, muốn cải thiện xã hội, phải có can đảmsáng suốt tìm hiểu sự thật, sự thật tâm linh, sự thật trí thứcđạo đức, sự thật xã hội, dầu sự thật ấy có xấu xa không tốt đẹp, nhất định không che đậy tuyên truyền nịnh bợ, không dối mình gạt người. Vị lương y cần phải hiểu thực trạng của bệnh mới mong chữa triệt gốc bệnh. Sự giáo dục con người chỉ hữu hiệu khi chúng ta thấy rõ thực trạng con ngườixã hội, khi chúng ta biết tôn trọng sự thật. Đó là lý do Ngài dạy 4 sự thật trong buổi thuyết pháp đầu tiên và Ngài khuyên Đại Đức La Hầu La chớ có nói dối dầu chỉ nói chơi. Nói một cách khác, đạo Phật không phải là đạo của con người nói dối, của những người sợ sự thật. Hòa bình giả hiệu, tự docông bằng giả hiệu không có chân đứng trong đạo Phật.

II. Lời dạy thứ hai của Ngài là con người là nơi tập trung của hai năng lực vật chấttâm linh, Rùpa và Nàma, Sắc phápTâm pháp. Nói con ngườiduy vật, tất phủ nhận năng lực tâm linh. Nói con là duy tâm, tất bỏ quên sức mạnh vật chất. Một sự giáo dục hữu hiệu phải là một sự giáo dục toàn diện vừa cả thân lẫn tâm, cả sắc pháp lẫn tâm pháp. Giáo dục theo đạo Phật gồm có giới học, định họctuệ học. Giới học là huấn luyện sắc thân con người, thúc liễm hành động con người để khỏi bị hoàn cảnh chi phối, khỏi bị ngoại duyên làm dao động. Định học là huấn luyện tâm linh con người, tập trung sức mạnh tâm linh trên đối tượng để sử dụng và phát huy định lực con người. Tuệ họctrực giác về bản chất của sự vật đưa đén sự giải thoát hoàn toàn của tâm linh, đến sự thực chứng chân lý tối hậu.

Theo tinh thần kinh Dhammacetiya trong bộ Majjhima Nikàya, chúng ta thấy rõ những người đầu bù tóc rối, áo quần xốc xếch, xanh xao đau yếu, gắt gỏm ồn ào, những người ấy theo ngoại đạo tà giáo hơn là theo Phật Giáo. Vì đức Phật dạy chúng ta đối trị cả hai tâm bệnh và thân bệnh, và người Phạt tử đúng theo nghĩa chân chính của nó phải là người lành mạnh về thể xác cũng như về tinh thần. Những tâm hồn bệnh hoạn, những tư tưởng hắc ám, những lập dị, những quái thai của thời đại không có chân đứng trong đạo Phật.

III. Lời dạy thứ ba của Đức Phậtvấn đề giáo dục con người không phải là vấn đề thuần đạo đức hay thiện ác như thường bị hiểu lầm. Đức Phật tìm hiểu sự phản ứng con người trước những đối tượng ngoại cảnh như: Sắc, thanh,hương, vị xúc v.v.... Một sinh viên đứng trước sắc đẹp của một nữ sinh mà tâm hồn như mê dại chứng tỏ sinh viên ấy bị chi phối, bị nô lệ bởi sắc đẹp. Một nữ sinh chỉ nghe nói me chua mà chảy nước miếng phải bỏ học mua ô mai ngậm cho đỡ thèm, nữ sinh ấy bị chi phối bởi vị chua, con bị nô lệ bởi ngoại cảnh. Dưới con mắt của Phật, giá trị hay mức độ giải thoát của con người tùy thuộc phản ứng con người trước ngoại cảnh. Và giáo dục đạo Phật ở nơi đây nhằm huấn luyện con người ra khỏi sự chi phối hay đúng hơn sự nô lệ của sự vật. Đạo Phật không bao giờ chủ trương dùng sắc đẹp, tiền bạc, danh lợi và dọa nạt đố chi và nô lệ hóa con người, dụ người vào đạo Phật. Đạo Phật chống lại mọi hình thức nô lệ, dầu chỉ là nô lệ tâm linh hay thần quyền. Chỉ những người, những chủ nghĩa ưa bị nô lệ hay ưa nô lệ hóa con người mới không ưa đạo Phật.

Đứng trước vấn đề thiện ác, Đức Phật không xem là một vấn đề thuần luân lý mà phải là vấn đề hiểu biết, nhận thức, một vấn đề lý tình. Theo đạo Phật, tham không hiểu nên theo nghĩa luân lý mà phải hiểu như một phản ứng của thân tâm trước vật mình có lòng tham. Phản ứng ấy tức là ôm vào trong mình những vật gì mình ưa thích. Sân cũng vậy, sân là phản ứng rất xa tự thân những vật gì mình không ưa thích. Và sở dĩ có tham, có sân vì hiểu lầm rằng có một cái ngã, cái Ta. Cái gì cái Ta ưa thích thì tìm mọi cách đem về cho mình, cái gì Ta ghét bỏ thì tìm mọi cách vất xa chúng ta. Vì vậy vấn đề thiện ác ở đây không còn là một vấn đề luân lý mà chỉ là một vấn đề hiểu lầm, một vấn đề si mê. Nói một cách khác, chỉ người ngu mới có tham, chỉ có người ngu mới sân. Theo A Tỳ Đàm học, Si (moha) bao giờ cũng đi với tham (Jobha),si (moha) bao giờ cũng đi với sân (dosa)....

sự giáo dục theo quan niệm đạo Phật chính là một vấn đề trí thức hay nói cho đúng hơn, một thái độ trí thức, đừng chấp nhận có cái ngã cái Ta đến nỗi hoàng toàn bị nô lệ bởi cái ngã cái Ta ấy. Trong Kinh Brahmajala, có một câu khiến chúng ta phải giựt mình. Đức Phật dạy:" Người ngu tán thán giới đức của Ta, chỉ có người trí mới tán thán trí đức của ta". Cho nên đạo Phật thường được gọi là đạo trí thức và những người không ưa đạo Phật phần lớn là người ngu, hay ưa ngu, hay các chánh sách, chủ nghĩa ngu dân và cuồng tín.

Thái độ trí thức ấy khiến Đức Phật giới thiệu một khía cạnh giáo dục thật rất đặc biệt, đó là sự hướng dẫn cá nhân tự mình có một thái độ do tự mình suy tư kinh nghiệmquyết định hơn là nhắm mắt theo Đức Phật hay lời Phật dạy.

Khi các hoàng tử Kalama đến hỏi Đức Phật nên tin lời dạy của các vị ẩn sĩ Bà La Môn nào khi những vị này tán thán giáo lý của mình và  bài xích giáo lý của người khác, Đức Phật khuyên không nên vội vã, thụ động hay vì tình cảm tin theo giáo lý nào. Đức Phật dạy các hoàng tử Kalama hãy tự mình suy tư chín chắn, sáng suốt và trầm tỉnh; dựa trên kinh nghiệm bản thân để đánh giá những lời dạy của các ẩn sĩ Bà La Môn.

Cũng với thái độ trên, Đức Phật từ chối không tự xem mình là vị lãnh đạo tối cao của giáo hội Tăng Già và không muốn dùng địa vị oai lực và trí đức của mình để biến các đệ tử mình thàn những bầy cừu non dễ dạy dễ bảo. Nói một cách khác, đạo Phật chống lại đường hướng giáo dục tạo con người thành những con vật máy móc bảo sao nghe vậy, những con người điện tử. Đạo Phật cũng không tán thành một lối giáo dục nô dịch quần chúng, biến con người thành những phản ứng máy móc của một quần chúng bị giựt dây. Cho nên, những Phật tử tập sự độc tài, muốn làm mưa làm gió trong Giáo hội, thật sự chưa hiểu đến a, b, c của đạo Phật, chứ đừng nói hiểu đạo Phật.

Tất cả những nét chính yếu về hướng đi và phương pháp giáo dục của đạo Phật vừa đề cập đến, cho chúng ta thấy rõ lời dạy của đức Phật nhằm mục đích duy nhất là làm phát triển những khả năng tốt đẹp của con người. Giáo dục đạo Phật tôn trọng sự thật, chữa trị thân bệnh và tâm bệnh , chống đối mọi hình thức nô lệ, phát huy thái độ  trí thức với chủ đích năng cao giá trị của con người. Và thái độ nâng cao giá trị con người ấy được thể hiện một cách hùng hồn nhất khi đức Phật dạy chỉ có con người mới giáo dục cho chính mình, chỉ có con người mới giải thoát cho chính mình, Đức Phật chỉ đóng vai trò một vị chỉ đường. Những lời dạy:" Các ngươi hãy cố gắng tự mình tinh tấn lên, đức Như Lai chỉ là một người chỉ đường""hãy tự thắp đuốc lên mà đi" "sự chiến thắng vĩ đại nhất là sự chiến thắng tự thân", những lời dạy này nói lên tin tưởng của Đức Phậtgiá trị và khả năng của con người và một nền giáo dục chân chánh phải là một nền giáo dục nhắm đến sự hướng thượng của con người.

Nhân ngày Phật Đản 2513 năm nay, tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, trong sự thành kính của con người bé nhỏ trước hình ảnh vĩ đại của đức Từ Phụ, chúng con xin dâng ở đây một vài cảm nghĩ suy tư để cúng dường kỷ niệm Ngài, nhà giáo dục duy nhất đã đặt lòng tingiá trị con người và khả năng hướng thiện, hướng thượng của con người.









Tạo bài viết
11/01/2013(Xem: 11121)
17/02/2016(Xem: 5555)
Trước hiểm họa mất nước mà nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chuẩn bị Dự luật thành lập ba đặc khu kinh tế:Vân Đồn-Quảng Ninh, Bắc Vân Phong-Khánh Hòa, Phú Quốc-Kiên Giang, thời hạn cho thuê đất có thể lên đến 99 năm như một sự đổ bộ của Trung Quốc với mục tiêu mở rộng ảnh hưởng và bành trướng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Bắc Kinh,
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.