Chương 03 Trí Năng, Uy QuyềnThông Minh

08/09/201112:00 SA(Xem: 2882)
Chương 03 Trí Năng, Uy Quyền Và Thông Minh

J. KRISHNAMURTI
GIÁO DỤC
Ý NGHĨA CỦA SỐNG
Education and the Significance of Life
Lời dịch: Ông Không
[www.thuvienhoasen.org]
– Tháng 8-2011

CHƯƠNG III

TRÍ NĂNG, UY QUYỀN

 THÔNG MINH

 

D

ường như nhiều người chúng ta đều nghĩ rằng qua dạy học mọi con người biết đọc và biết viết, chúng ta sẽ giải quyết được những vấn đề con người của chúng ta; nhưng ý tưởng này đã chứng thực là sai lầm. Những người tạm gọi là có giáo dục không là những người hợp nhất, yêu hòa bình, và họ cũng phải chịu trách nhiệm cho sự hỗn loạnđau khổ của thế giới.

 Loại giáo dục đúng đắn có nghĩa sự thức dậy của thông minh, sự nuôi dưỡng của một sống tổng thể, và chỉ sự giáo dục như thế mới có thể sáng tạo một văn hóa mới mẻ và một thế giới hòa bình; nhưng để sáng tạo loại giáo dục mới mẻ này, chúng ta phải có một khởi sự trong sáng trên một nền tảng hoàn toàn khác hẳn.

 Với thế giới đang rệu rã quanh chúng ta, chúng ta bàn luận những lý thuyết và những chủ đề chính trị hão huyền, và đùa giỡn cùng những đổi mới bên ngoài. Liệu việc này không thể hiện sự không chín chắn hoàn toàn về phần của chúng ta, hay sao? Một số người có lẽ đồng ý rằng đúng như thế, nhưng họ sẽ tiếp tục làm chính xác như họ luôn luôn làm – và đó là điều kinh hoàng của sự tồn tại. Khi chúng ta nghe một sự thật và không hành động theo nó, nó trở thành một thuốc độc trong chính chúng ta, và thuốc độc đó lan tràn, tạo ra những phiền muộn, mất cân bằng và không lành mạnh thuộc tâm lý. Chỉ khi nào sự thông minh sáng tạo được thức dậy trong cá thể mới có thể có một sống hòa bình và hạnh phúc.

 Chúng ta không thể thông minh bằng cách chỉ thay đổi một chính phủ cho một chính phủ khác, một đảng phái hay giai cấp cho một đảng phái hay giai cấp khác, một người trục lợi cho một người trục lợi khác. Sự cách mạng đổ máu không bao giờ có thể giải quyết được những vấn đề của chúng ta. Chỉ một cách mạng sâu thẳm bên trong mà thay đổi tất cả những giá trị của chúng ta mới có thể tạo ra một môi trường khác hẳn, một cấu trúc xã hội thông minh, và một cách mạng như thế có thể được sáng tạo chỉ bởi bạn và tôi. Không trật tự mới mẻ nào sẽ sinh ra nếu chúng ta, một cách cá thể, không phá vỡ những rào chắn thuộc tâm lý riêng của chúng ta và được tự do.

 Trên giấy chúng ta có thể vẽ những bản thiết kế cho một Không tưởng hoàn hảo, một thế giới mới mẻ hoành tráng; nhưng sự hy sinh của hiện tại cho một tương lai không biết được sẽ không bao giờ giải quyết được bất kỳ vấn đề nào của chúng ta. Có quá nhiều yếu tố đang can thiệp giữa hiện tại và tương lai, đến độ không người nào có thể biết tương lai sẽ ra sao. Việc gì chúng ta có thể và phải làm nếu chúng ta nghiêm túc, là giải quyết những vấn đề của chúng ta ngay lúc này, và không trì hoãn chúng đến tương lai. Vĩnh cửu không ở trong tương lai; vĩnh cửu là ngay lúc này. Những vấn đề của chúng ta tồn tại trong hiện tại, và chỉ trong hiện tại chúng mới có thể được giải quyết.

 Những người chúng ta mà có nghiêm túc phải tái sinh; nhưng có thể có sự tái sinh chỉ khi nào chúng ta phá vỡ những giá trị đó mà chúng ta đã tạo ra qua những ham muốn tự phòng vệ và hung hăng của chúng ta. Hiểu rõ về chính mình là sự khởi đầu của tự do, và chỉ khi nào chúng ta biết về chính chúng ta thì chúng ta mới có thể sáng tạo trật tự và hòa bình.

 Lúc này, vài người có lẽ hỏi, ‘Một cá thể duy nhất có thể làm gì mà sẽ gây ảnh hưởng lịch sử? Liệu anh ấy có thể thành tựu bất kỳ việc gì qua cách anh ấy sống?’ Chắc chắn, anh ấy có thể. Chắc chắn, bạn và tôi sẽ không kết thúc những chiến tranh tức khắc, hay tạo ra một hiểu rõ tức khắc giữa những quốc gia; nhưng ít nhất, chúng ta có thể sáng tạo, trong thế giới của những liên hệ hàng ngày, một thay đổi cơ bản mà sẽ có sự ảnh hưởng riêng của nó.

 Sự khai sáng của cá thểảnh hưởng những nhóm đông, nhưng chỉ khi nào người ta không mong ngóng những kết quả. Nếu người ta suy nghĩ dựa vào kiếm được và kết quả, sự thay đổi đúng đắn của chính người ta không thể xảy ra được.

 Những vấn đề của con người không đơn giản, chúng rất phức tạp. Muốn hiểu rõ chúng đòi hỏi sự kiên nhẫnthấu triệt, và điều quan trọng nhất là chúng ta như những cá thể phải hiểu rõgiải quyết chúng cho chính chúng ta. Chúng sẽ không được hiểu rõ qua những công thức và những khẩu hiệu rõ ràng; chúng cũng không thể được giải quyết tại mức độ riêng của chúng bởi những người chuyên môn đang vận hành trong một phương hướng đặc biệt, mà chỉ dẫn đến sự hỗn loạnđau khổ thêm nữa. Nhiều vấn đề của chúng ta có thể được hiểu rõ và được giải quyết chỉ khi nào chúng ta nhận biết chính chúng ta như một tiến hành tổng thể, đó là, khi chúng ta hiểu rõ toàn bản chất giả tạo thuộc tâm lý của chúng ta; và không người lãnh đạo chính trị hay tôn giáo nào trao tặng chúng ta chìa khóa cho sự hiểu rõ đó.

 Muốn hiểu rõ về chính chúng ta, chúng ta phải nhận biết được sự liên hệ của chúng ta, không chỉ với con người, nhưng còn với tài sản, với những ý tưởng và với thiên nhiên. Nếu chúng ta muốn sáng tạo cách mạng thực sự trong sự liên hệ của con người, mà là nền tảng của tất cả xã hội, phải có một thay đổi cơ bản trong những giá trị và tầm nhìn riêng của chúng ta; nhưng chúng ta lẩn tránh sự cần thiết và sự thay đổi cơ bản của chính chúng ta, và cố gắng tạo ra những cách mạng chính trị trong thế giới, mà luôn luôn dẫn đến sự đổ máu và thảm họa.

 Sự liên hệ được đặt nền tảng trên sự cảm xúc không bao giờ có thể là một phương tiện của sự giải thoát khỏi cái tôi; tuy nhiên hầu hết những liên hệ của chúng ta đều được đặt nền tảng trên sự cảm xúc, chúng là kết quả của sự ham muốn của chúng ta cho lợi ích cá nhân, cho thanh thản, cho an toàn tâm lý. Mặc dù chúng có lẽ trao tặng chúng ta một tẩu thoát thoáng chốc khỏi cái tôi, những liên hệ như thế chỉ củng cố sức mạnh của cái tôi, cùng những hoạt động trói buộc và khép kín của nó. Sự liên hệ là một cái gương trong đó cái tôi và tất cả những hoạt động của nó có thể được nhìn thấy; và chỉ khi nào những phương cách của cái tôi được hiểu rõ trong những phản ứng của sự liên hệ thì mới có một giải thoát sáng tạo của cái tôi.

 Muốn thay đổi thế giới, phải có sự tái sinh bên trong chính chúng ta. Không việc gì có thể được thành tựu bởi sự bạo lực, bởi sự ung dung hủy diệt lẫn nhau. Chúng ta có lẽ tìm được một giải thoát nhất thời bằng cách gia nhập những nhóm người, bằng cách học hành những phương pháp của sự đổi mới kinh tế và xã hội, bằng cách ban hành luật pháp, hay bằng cách cầu nguyện; nhưng dù làm bất kỳ việc gì chúng ta ưa thích, nếu không có sự hiểu rõ về chính mình và tình yêu vốn có sẵn trong nó, những vấn đề của chúng ta sẽ mãi mãi gia tăng gấp bội. Ngược lại, nếu chúng ta vận dụng những cái trí và những quả tim của chúng ta vào công việc của hiểu rõ về chính chúng ta, chắc chắn chúng ta sẽ giải quyết được nhiều xung độtđau khổ của chúng ta.

 Sự giáo dục hiện đại đang khiến cho chúng ta thành những thực thể không suy nghĩ; nó chẳng làm bao nhiêu để giúp đỡ chúng ta tìm được năng khiếu cá thể của chúng ta. Chúng ta vượt qua những kỳ thi nào đó và kế tiếp, bằng một chút ít may mắn, chúng ta có một việc làm – mà thường có nghĩa là lề thói liên tục cho suốt phần còn lại thuộc sống của chúng ta. Chúng ta có lẽ không ưa thích việc làm của chúng ta, nhưng chúng ta bị ép buộc phải tiếp tục nó bởi vì chúng ta không còn phương tiện nào khác để kiếm sống. Chúng ta có lẽ muốn làm việc gì đó hoàn toàn khác hẳn, nhưng những cam kết và những trách nhiệm kiềm chế chúng ta, và chúng ta bị vây bủa trong những lo lắng và những sợ hãi riêng của chúng ta. Vì bị tuyệt vọng, chúng ta tìm kiếm sự tẩu thoát qua tình dục, nhậu nhẹt, chính trị và tôn giáo ảo tưởng.

 Khi những tham vọng của chúng ta bị cản trở, chúng ta cho sự quan trọng quá mức đến những sự việc bình thường, và chúng ta phát triển một biến dạng thuộc tâm lý. Nếu chúng ta không có một hiểu rõ tổng thể về sống của chúng ta và tình yêu, về những ham muốn chính trị, xã hộitôn giáo của chúng ta, cùng những đòi hỏi và những cản trở của nó, chúng ta sẽ có những vấn đề luôn luôn gia tăng trong những liên hệ của chúng ta, dẫn chúng ta đến đau khổthoái hóa.

 Sự dốt nát là không có hiểu rõ về những phương cách của cái tôi, và sự dốt nát này không thể được xóa sạch bởi những hoạt động và những đổi mới bên ngoài; nó có thể được xóa sạch chỉ bằng sự nhận biết được những chuyển động và những phản ứng của cái tôi trong tất cả những liên hệ của nó.

 Điều gì chúng ta phải nhận ra là, chúng ta không chỉ bị quy định bởi môi trường, nhưng chúng ta môi trường – chúng ta không là cái gì đó tách khỏi nó. Những suy nghĩ và những phản ứng của chúng ta bị quy định bởi những giá trịxã hội, trong đó chúng ta là một bộ phận, đã áp đặt vào chúng ta.

 Chúng ta không bao giờ thấy rằng chúng ta là môi trường tổng thể bởi vì có nhiều thực thể trong chúng ta, tất cả đang vây quanh ‘cái tôi’, cái ngã. Cái tôi được tạo thành bởi những thực thể này, mà chỉ là những ham muốn trong những hình thức khác nhau. Từ khối lượng của những ham muốn sinh ra hình bóng trung tâm, người suy nghĩ, ý muốn của ‘cái tôi’ và ‘cái của tôi’; và do đó một phân chia giữa ‘cái tôi’ và môi trường hay xã hội. Sự phân chia này là sự khởi đầu của xung đột, phía bên trong và phía bên ngoài.

 Sự nhận biết toàn qui trình này, cả tầng ý thức nhận biết được lẫn tầng ý thức giấu giếm, là thiền định; và qua thiền định này cái tôi, cùng những ham muốn và những xung đột của nó, được thay đổi. Sự hiểu rõ về chính mình này là cần thiết nếu người ta muốn được tự do khỏi những ảnh hưởng và những giá trị mà giúp đỡ sự trú ẩn của cái tôi; và trong sự tự do này, một mình nó, có sáng tạo, sự thật, Thượng đế, hay bất kỳ điều gì bạn muốn.

 Quan điểmtruyền thống đúc khuôn những suy nghĩ và những cảm thấy của chúng ta từ cái tuổi mỏng manh nhất. Những ảnh hưởng và những ấn tượng tức khắc sinh ra một hậu quả rất mãnh liệt và lâu dài, và định hình toàn bộ cái nguồn của sống thuộc ý thức bên ngoài lẫn ý thức bên trong. Sự tuân phục bắt đầu từ niên thiếu qua sự giáo dục và tác động của xã hội.

 Sự ham muốn để bắt chước là một nhân tố rất mạnh mẽ trong sống của chúng ta, không chỉ tại những mức độ bên ngoài, nhưng còn sâu thẳm. Hầu như chúng ta đều không có bất kỳ những suy nghĩ và những cảm thấy độc lập nào. Khi chúng có xảy ra, chúng chỉ là những phản ứng, và vì vậy không được tự do khỏi khuôn mẫu đã thiết lập; bởi vì không có tự do trong phản ứng.

 Triết họctôn giáo đặt ra những phương pháp nào đó mà dựa vàochúng ta có thể đến được sự nhận ra về sự thật hay Thượng đế; tuy nhiên chỉ tuân theo một phương pháp là vẫn còn không chín chắn và không tổng thể, dù phương pháp đó có lẽ gây lợi lộc như thế nào trong sống xã hội hàng ngày của chúng ta. Sự thôi thúc để tuân phục, mà là sự ham muốn cho an toàn, nuôi dưỡng sự sợ hãi và sẵn có những uy quyền chính trị và tôn giáo, những người lãnh đạo và những người anh hùng mà khuyến khích sự tuân phục và chúng ta bị thống trị bởi những người đó một cách tinh tế hay thô thiển; nhưng không tuân phục chỉ là một phản ứng đối với uy quyền, và không cách nào giúp đỡ chúng ta trở thành những con người tổng thể. Phản ứngvô tận, nó chỉ dẫn đến phản ứng thêm nữa.

 Sự tuân phục, cùng dòng chảy ngầm của sự sợ hãi của nó, là một cản trở; nhưng chỉ công nhận thuộc trí năng về sự kiện này sẽ không giải quyết được sự cản trở. Chỉ khi nào chúng ta nhận biết được những cản trở bằng toàn thân tâm của chúng ta thì chúng ta mới có thể được tự do khỏi chúng mà không tạo ra những cản trở thêm nữa và sâu thẳm thêm nữa.

 Khi chúng ta phụ thuộc phía bên trong, vậy thì truyền thống có sự ảnh hưởng vô cùng đối với chúng ta; và một cái trí suy nghĩ trong những giới hạn truyền thống không thể khám phá cái mới mẻ. Bằng tuân phục chúng ta trở thành những người bắt chước tầm thường, những răng cưa trong một cái máy xã hội tàn nhẫn. Chính là điều gì chúng ta suy nghĩ mới đặt thành vấn đề, không phải điều gì những người khác muốn chúng ta suy nghĩ. Khi chúng ta tuân phục truyền thống, chẳng mấy chốc chúng ta trở thành những bản sao thuần túy của điều gì chúng ta nên là.

 Sự bắt chước của điều gì chúng ta nên là này, nuôi dưỡng sự sợ hãi; và sợ hãi giết chết sự suy nghĩ sáng tạo. Sợ hãi làm tê liệt cái trí và quả tim đến độ chúng ta không còn tỉnh táo đối với ý nghĩa tổng thể của sự sống; chúng ta trở thành vô cảm đến những đau khổ riêng của chúng ta, đến sự chuyển động của những con chim, đến những nụ cười và những phiền muộn của những người khác.

 Sự sợ hãi nhận biết hay không nhận biết được có nhiều nguyên nhân khác nhau, và nó cần đến sự canh chừng tỉnh táo để xóa sạch tất cả chúng. Sự sợ hãi không thể được loại bỏ qua kỷ luật, lý tưởng, hay qua bất kỳ hành động nào của ý muốn: những nguyên nhân của nó phải được tìm ra và được hiểu rõ. Điều này cần sự kiên nhẫn và một nhận biết trong đó không có sự đánh giá thuộc bất kỳ loại nào.

 Tương đối khá dễ dàng để hiểu rõ và xóa sạch những sợ hãi nhận biết được của chúng ta. Nhưng vẫn còn những sợ hãi không nhận biết không được khám phá bởi mỗi người chúng ta, bởi vì chúng ta không cho phép chúng nổi lên trên bề mặt; và vào những dịp hiếm hoi khi nó có nổi lên trên bề mặt, chúng ta vội vã che đậy chúng, chạy trốn chúng. Những sợ hãi giấu giếm thường tiết lộ sự hiện diện của nó qua những giấc mộng và những hình thức khác của gợi ý, và chúng gây ra sự thoái hóaxung đột nghiêm trọng hơn những sợ hãi bề mặt.

 Những sống của chúng ta không chỉ trên bề mặt, bộ phận quan trọng hơn của chúng được che giấu khỏi sự quan sát ngẫu nhiên. Nếu chúng ta muốn những sợ hãi giấu giếm của chúng ta hiển lộ và tan biến, trong chừng mực nào đó cái trí tầng ý thức bên ngoài phải yên lặng, không liên tục bị bận rộn; vậy thì, khi những sợ hãi này nổi lên trên bề mặt, chúng phải được quan sát mà không buông bỏ hay cản trở, bởi vì bất kỳ hình thức nào của chỉ trích hay bênh vực chỉ củng cố sự sợ hãi. Muốn được tự do khỏi tất cả sợ hãi, chúng ta phải nhận biết sự ảnh hưởng lén lút của nó, và chỉ có sự cảnh giác liên tục mới có thể phơi bày nhiều nguyên nhân của nó.

 Một trong những kết quả của sợ hãi là sự chấp nhận uy quyền trong những vấn đề của con người. Uy quyền được tạo ra bởi sự ham muốn của chúng ta để đúng đắn, để an toàn, để thanh thản, để không có những xung đột hay những quấy rầy lộ liễu; nhưng không thứ gì được sinh ra từ sợ hãi có thể giúp đỡ chúng ta hiểu rõ những vấn đề của chúng ta, mặc dù sợ hãi có thể mang hình thức của kính trọng hay phục tùng vào những người tạm gọi là thông minh. Những người thông minh không sử dụng uy quyền, và những người sử dụng uy quyền không là những người thông minh. Trong bất kỳ hình thức nào, sợ hãi ngăn cản sự hiểu rõ về chính chúng ta và về sự liên hệ của chúng ta với tất cả những sự việc sự vật.

 Tuân phục uy quyền là phủ nhận sự thông minh. Chấp nhận uy quyềnquy phục sự thống trị, nô lệ một cá thể, một nhóm người, hay một học thuyết, dù tôn giáo hay chính trị; và sự nô lệ của một người vào uy quyền là khước từ, không chỉ sự thông minh, nhưng còn cả sự tự do cá thể. Thỏa hiệp cùng một tín điều hay một hệ thống của những ý tưởng là một phản ứng tự phòng vệ. Sự chấp nhận uy quyền có lẽ tạm thời giúp đỡ chúng ta che đậy những vấn đề và những khó khăn của chúng ta; nhưng lẩn tránh một vấn đề chỉ củng cố nó, và trong qui trình đó, sự hiểu rõ về chính mình và sự tự do bị lãng quên.

 Làm thế nào có thể có sự thỏa hiệp giữa sự tự do và sự chấp nhận uy quyền? Nếu có sự thỏa hiệp, vậy thì những người mà nói họ đang tìm kiếm sự hiểu rõ về chính mình và sự tự do đều không nghiêm túc trong nỗ lực của họ. Dường như chúng ta suy nghĩ rằng sự tự do là một kết thúc cuối cùng, một mục tiêu, và rằng với mục đích để được tự do trước hết chúng ta phải qui phục vào những hình thức khác nhau của sự kiềm chế và sự hăm dọa. Chúng ta hy vọng kiếm được sự tự do nhờ vào tuân phục; nhưng phương tiện không quan trọng bằng một kết quả, hay sao?

 Muốn có hòa bình, người ta phải sử dụng những phương tiện hòa bình, bởi vì nếu những phương tiện là bạo lực, làm thế nào sự kết thúc có thể là hòa bình? Nếu sự kết thúc là sự tự do, khởi đầu phải là tự do, bởi vì kết thúc và khởi đầu là một. Có thể có sự hiểu rõ về chính mình và sự thông minh chỉ khi nào có tự do tại ngay khởi đầu; và tự do bị khước từ bởi sự chấp nhận uy quyền.

 Chúng ta tôn thờ uy quyền trong vô vàn hình thức: hiểu biết, thành công, quyền hành, và vân vân. Chúng ta áp đặt uy quyền vào đứa trẻ, và cùng lúc chúng ta lại sợ hãi uy quyền cao hơn. Khi chính con người không có tầm nhìn bên trong, quyền hành và vị trí bên ngoài đảm đương sự quan trọng to tát, và sau đó cá thể mỗi lúc một qui phục vào uy quyền và sự ép buộc, anh ấy trở thành công cụ của những người khác. Chúng ta có thể thấy qui trình này đang xảy ra quanh chúng ta: trong những khoảnh khắc của sự khủng hoảng, những quốc gia dân chủ hành động như chính thể độc tài, quên bẵng sự dân chủ của họ và ép buộc con người phải tuân phục.

 Nếu chúng ta có thể hiểu rõ sự ép buộc đằng sau ham muốn để thống trị hay được thống trị của chúng ta, vậy thì có lẽ chúng ta có thể được tự do khỏi những ảnh hưởng thoái hóa của uy quyền. Chúng ta khao khát được vĩnh cửu, được đúng đắn, được thành công, được hiểu biết; và sự khao khát này cho vĩnh cửu, cho bất tử, dựng lên trong chính chúng ta uy quyền của sự trải nghiệm cá nhân, trong khi phía bên ngoài nó tạo ra uy quyền của xã hội, của gia đình, của tôn giáo, và vân vân. Nhưng chỉ lơ là uy quyền, loại bỏ những biểu tượng bên ngoài của nó, chẳng có ý nghĩa bao nhiêu.

 Phá vỡ một truyền thống và tuân phục một truyền thống khác, chia tay người lãnh đạo này và bám theo người lãnh đạo khác, không là gì cả ngoại trừ một cử chỉ hời hợt. Nếu chúng ta muốn nhận biết toàn qui trình của uy quyền, nếu chúng ta muốn thấy trạng thái bên trong của nó, nếu chúng ta muốn hiểu rõ và thay đổi sự khao khát cho vĩnh cửu, vậy thì chúng ta phải có sự thấu triệtnhận biết tổng thể, chúng ta phải tự do, không phải tại khúc cuối, nhưng tại khởi đầu.

 Khao khát cho vĩnh cửu, cho an toàn là một trong những hoạt động chính của cái tôi; và chính sự thôi thúc ức chế này mới cần được quan sát liên tục, chứ không phải bị biến dạng hay bị ép buộc trong một phương hướng khác, hay khiến cho tuân phục vào một khuôn mẫu ham muốn. Cái ngã, ‘cái tôi’ và ‘cái của tôi’, rất mạnh mẽ trong hầu hết chúng ta; đang ngủ hay đang thức, nó luôn luôn năng động, luôn luôn đang tự củng cố chính nó. Nhưng khi có một nhận biết về cái tôi và một nhận ra rằng tất cả những hoạt động của nó, dù tinh tế đến chừng nào, chắc chắn phải dẫn đến xung độtđau khổ, vậy thì khao khát cho vĩnh cửu, cho tự tiếp tục kết thúc. Người ta phải liên tục canh chừng về cái tôi khi bộc lộ những phương cách và những ranh mãnh của nó; nhưng khi chúng ta bắt đầu hiểu rõ chúng, và hiểu rõ những hàm ý của uy quyền và tất cả mọi việc được bao hàm trong sự chấp nhận và sự phủ nhận nó của chúng ta, vậy thì chúng ta đang tháo gỡ chính chúng ta khỏi uy quyền.

 Chừng nào cái trí còn cho phép chính nó bị thống trị và bị kiểm soát bởi sự ham muốn cho an toàn riêng của nó, không thể có sự giải thoát khỏi cái tôi và những vấn đề của nó; và đó là lý do tại sao không có sự giải thoát khỏi cái tôi nhờ vào giáo điềuniềm tin có tổ chức, mà chúng ta gọi là tôn giáo. Giáo điều và những niềm tin chỉ là những chiếu rọi của những cái trí riêng của chúng ta. Những nghi lễ, những nghi thức, những hình thức được chấp nhận của thiền định, những từ ngữ và những cụm từ được lặp lại liên tục, mặc dù chúng có lẽ sản sinh những phản ứng thỏa mãn nào đó, không làm tự do cái trí khỏi cái tôi và những hoạt động của nó; bởi vì tại cốt lõi cái tôi là kết quả của sự cảm xúc.

 Trong những khoảnh khắc của đau khổ, chúng ta hướng về điều gì chúng ta gọi là Thượng đế; mà không là gì cả ngoại trừ một hình ảnh của những cái trí riêng của chúng ta; hay chúng ta tìm ra những giải thích thỏa mãn, và việc này trao tặng chúng ta sự thanh thản nhất thời. Những tôn giáochúng ta theo sau được tạo ra bởi những hy vọng và những sợ hãi của chúng ta, bởi sự ham muốn cho an toànbảo đảm bên trong; và cùng sự tôn sùng của uy quyền, dù nó là uy quyền của một đấng cứu rỗi, một người thầy hay một giáo sĩ, liền xuất hiện sự qui phục, chấp nhận và bắt chước. Thế là, chúng ta bị trục lợi nhân danh Thượng đế, như chúng ta bị trục lợi nhân danh những đảng phái và những học thuyết – và chúng ta tiếp tục chịu đựng đau khổ.

 Tất cả chúng ta là những con người, dù bằng bất kỳ cái tên nào chúng ta có lẽ được gọi, và đau khổ là số mạng của chúng ta. Đau khổ đều chung cho tất cả chúng ta, cho những người lý tưởng và cho những người vật chất. Chủ nghĩa lý tưởng là một tẩu thoát khỏi cái gì là, và chủ nghĩa vật chất là một cách khác của phủ nhận những chiều sâu vô hạn của hiện tại. Cả những người lý tưởng lẫn những người vật chất đều có những phương cách riêng của họ để lẩn tránh vấn đề phức tạp của đau khổ; cả hai đều bị nuốt trọn bởi những ham muốn, những tham vọng và những xung đột riêng của họ, và những phương cách sống của họ không dẫn đến hòa bình. Cả hai đều phải chịu trách nhiệm cho sự hỗn loạnđau khổ của thế giới.

 Lúc này, khi chúng ta ở trong một trạng thái của xung đột, của đau khổ, không có sự hiểu rõ: trong trạng thái đó, dù hành động của chúng ta có lẽ được suy nghĩ cẩn thận và khôn ngoan đến chừng nào, nó chỉ có thể dẫn đến sự hỗn loạnđau khổ thêm nữa. Muốn hiểu rõ xung đột và thế là được tự do khỏi nó, phải có một nhận biết về những phương cách của cả cái trí tầng ý thức bên ngoài lẫn tầng ý thức bên trong.

 Không lý tưởng, không hệ thống hay khuôn mẫu của bất kỳ loại nào, có thể giúp đỡ chúng ta cởi bỏ những vận hành sâu thẳm của cái trí; ngược lại, bất kỳ công thức hay kết luận nào sẽ cản trở sự khám phá của chúng ta. Sự theo đuổi của cái gì nên là, sự quyến luyến những nguyên tắc, những lý tưởng, sự thiết lập một mục tiêu – tất cả việc này đều dẫn đến nhiều ảo tưởng. Nếu chúng ta muốn hiểu rõ về chính chúng ta, phải có một tự phát nào đó, một tự do để quan sát, và điều này không thể xảy ra được khi cái trí bị vây bủa trong những hời hợt, trong những giá trị thuộc vật chất hay lý tưởng.

 Tồn tạiliên hệ; và dù chúng ta phụ thuộc vào một tổ chức tôn giáo hay không, dù chúng ta bị trói buộc trong những lý tưởng hay sống trần tục ra sao, sự chịu đựng đau khổ của chúng ta có thể giải quyết được chỉ qua sự hiểu rõ về chính chúng ta trong sự liên hệ. Sự hiểu rõ về chính chúng ta, một mình nó, có thể mang lại hòa bình và hạnh phúc cho con người, bởi vì sự hiểu rõ về chính mình là sự khởi đầu của thông minh và tổng thể. Thông minh không là sự điều chỉnh thuần túy trên bề mặt; nó không là sự vun đắp của cái trí, sự thâu lượm của hiểu biết. Thông minh là khả năng hiểu rõ những phương cách của sống, nó là sự nhận biết những giá trị đúng đắn.

 Giáo dục hiện đại, trong phát triển mảnh trí năng, cống hiến mỗi lúc một nhiều những lý thuyết và những sự kiện, mà không sáng tạo sự hiểu rõ về toàn tiến hành của sự tồn tại của con người. Chúng tatrí năng cao độ; chúng ta đã phát triển những cái trí ranh mãnh, và bị trói buộc trong những giải thích. Mảnh trí năng được thỏa mãn bởi những lý thuyết và những giải thích, nhưng thông minh lại không; và muốn có sự hiểu rõ về toàn tiến hành của sự tồn tại của con người, phải có một hòa hợp của cái trí và quả tim trong hành động. Thông minh không tách rời tình yêu.

 Đối với hầu hết chúng ta, muốn thành tựu sự cách mạng bên trong này là điều cực kỳ gian nan. Chúng ta biết làm thế nào để thiền định, làm thế nào để chơi đàn dương cầm, làm thế nào để viết, nhưng chúng ta không có sự hiểu biết về người thiền định, người chơi đàn, người viết văn. Chúng ta không là những con người sáng tạo, bởi vì chúng ta đã nhét đầy những quả tim và những cái trí của chúng ta bằng sự hiểu biết, thông tin và hung hăng; chúng ta chật cứng những trích dẫn từ điều gì những người khác đã suy nghĩ hay giải thích. Nhưng trải nghiệm hiện diện trước tiên, không phải phương cách của trải nghiệm. Phải có tình yêu trước khi có sự diễn tả của tình yêu.

 Vậy thì rõ ràng rằng chỉ vun đắp mảnh trí năng, mà là phát triển khả năng hay hiểu biết, không tạo ra thông minh. Có một khác biệt rõ ràng giữa trí năngthông minh. Trí năng là sự suy nghĩ đang vận hành một cách độc lập khỏi cảm xúc, trái lại, thông minh là khả năng để cảm thấy cùng lý luận; và nếu chúng ta không tiếp cận sống bằng thông minh, thay vì bằng một mình trí năng, hay bằng một mình cảm xúc, không hệ thống giáo dục hay chính trị nào trong thế giới có thể cứu thoát chúng ta khỏi những cạm bẫy của sự hỗn loạn và hủy diệt.

 Sự hiểu biết không thể so sánh với thông minh, sự hiểu biết không là thông minh. Thông minh không thể mua bán được, nó không là một món hàng có thể được mua bằng giá cả của học hành hay kỷ luật. Thông minh không thể tìm được trong những quyển sách; nó không thể được tích lũy, được ghi nhớ hay được lưu trữ. Thông minh hiện diện cùng sự phủ nhận cái tôi. Có một cái trí khoáng đạt còn quan trọng hơn học hành; và chúng ta có thể có một cái trí khoáng đạt, không phải bằng cách nhồi nhét thông tin vào nó, nhưng bằng cách nhận biết những suy nghĩ và những cảm thấy riêng của chúng ta, bằng cách cẩn thận quan sát về chính chúng ta và những ảnh hưởng quanh chúng ta, bằng cách lắng nghe những người khác, bằng cách nhìn ngắm những người giàu có và những người nghèo khổ, những người thống trị và những người bị thống trị. Thông minh không hiện diện qua sợ hãiđàn áp, nhưng qua sự quan sáthiểu rõ những biến cố hàng ngày trong sự liên hệ của con người.

 Trong sự tìm kiếm hiểu biết của chúng ta, trong những ham muốn tham lợi của chúng ta, chúng ta đang mất đi tình yêu, chúng ta đang làm tê liệt sự cảm thấy cho vẻ đẹp, sự nhạy cảm đối với hành động tàn ác; chúng ta đang trở nên mỗi lúc một chuyên môn hóa và mỗi lúc một giảm bớt hòa hợp. Thông minh không thể được thay thế bởi sự hiểu biết, và không một lượng nào của giải thích, không tích lũy nào của những dữ kiện, sẽ làm tự do con người khỏi đau khổ. Sự hiểu biếtcần thiết, khoa học có vị trí của nó; nhưng nếu cái trí và quả tim bị chết ngạt bởi sự hiểu biết, và nếu nguyên nhân của đau khổ được giải thích cho qua, sống trở thành hão huyềnvô nghĩa. Và đây không là điều gì đang xảy ra cho hầu hết chúng ta, hay sao? Giáo dục của chúng ta đang khiến cho chúng ta mỗi lúc một nông cạn hơn; nó không đang giúp đỡ chúng ta cởi bỏ những tầng sâu thẳm hơn của sự hiện diện của chúng ta, và những sống của chúng ta mỗi lúc một trống rỗng và không hòa hợp thêm.

 Thông tin, sự hiểu biết về những sự kiện, mặc dù luôn luôn gia tăng, chính bản chất của nó lại rất giới hạn. Thông minh là vô hạn, nó gồm có sự hiểu biếtphương cách của hành động; nhưng chúng ta bám chặt vào một nhánh cây và lại nghĩ rằng nó là toàn cái cây. Qua sự hiểu biết của bộ phận, chúng ta không bao giờ có thể nhận ra sự hân hoan của tổng thể. Trí năng không bao giờ có thể dẫn đến tổng thể, bởi vì nó chỉ là một mảnh vỡ, một bộ phận.

 Chúng ta đã tách rời trí năng khỏi cảm thấy, và đã phát triển trí năng bằng cách loại bỏ cảm thấy. Chúng ta giống như một vật thể ba chân có một chân dài hơn hai chân kia, và chúng ta mất đi sự cân bằng. Chúng ta được đào tạo để có trí năng; giáo dục của chúng ta vun đắp mảnh trí năng cho sắc bén, khôn lanh, tham lợi, và thế là nó đảm trách một vai trò quan trọng nhất trong sống của chúng ta. Thông minh còn vĩ đại hơn trí năng nhiều, bởi vì nó là sự hợp nhất của lý trí và tình yêu, nhưng có thể có thông minh chỉ khi nào có sự hiểu rõ về chính mình, sự hiểu rõ sâu thẳm về toàn tiến hành của chính người ta.

 Điều gì là cốt lõi cho con người, dù già nua hay còn trẻ, là sống một cách nguyên vẹn, hợp nhất, tổng thể và đó là lý do tại sao sự quan tâm cơ bản của chúng ta là sự vun đắp của thông minh đó mà sáng tạo sự hợp nhất. Sự nhấn mạnh quá mức vào bất kỳ bộ phận nào của toàn bộ sự giả tạo của chúng ta, tạo ra một quan điểm sống thiên lệch và thế là bị biến dạng, và chính là sự biến dạng này mới đang gây ra hầu hết mọi khó khăn của chúng ta. Bất kỳ sự phát triển bộ phận riêng nào của toàn tính khí của chúng ta chắc chắn đều gây thảm họa cho cả chính chúng ta lẫn cho xã hội, và vì vậy rất quan trọng cho chúng ta phải tiếp cận những vấn đề con người của chúng ta bằng một quan điểm tổng thể.

 Là một con người tổng thể là hiểu rõ toàn qui trình của ý thức riêng của chúng ta, cả tầng ý thức bên ngoài lẫn tầng ý thức giấu giếm. Điều này không thể xảy ra được nếu chúng ta cho sự nhấn mạnh quá đáng vào mảnh trí năng. Chúng ta nghĩ rằng sự vun đắp của cái trí là quan trọng vô cùng, nhưng phía bên trong chúng ta nghèo khó, thiếu thốn và hoang mang. Đang sống trong mảnh trí năng này là phương cách của không hợp nhất; bởi vì những lý tưởng, giống như những niềm tin, không bao giờ có thể mang con người lại gần nhau ngoại trừ trong những nhóm gây xung đột.

 Chừng nào chúng ta còn phụ thuộc vào sự suy nghĩ như một phương tiện của sự hợp nhất, phải có sự tách rời; và hiểu rõ về hành động tách rời của sự suy nghĩnhận biết được những phương cách của cái tôi, những phương cách của sự ham muốn riêng của người ta. Chúng ta phải nhận biết tình trạng bị quy định của chúng ta và những phản ứng của nó, cả thuộc tập thể lẫn thuộc cá thể. Chỉ khi nào người ta nhận biết tổng thể những hoạt động của cái tôi cùng những ham muốn và những theo đuổi mâu thuẫn của nó, những hy vọng và những sợ hãi của nó, thì mới có thể thoát khỏi cái tôi.

 Chỉ có tình yêu và sự suy nghĩ đúng đắn sẽ sáng tạo sự cách mạng thực sự, sự cách mạng bên trong chính chúng ta. Nhưng làm thế nào chúng ta sẽ có tình yêu? Không phải qua sự theo đuổi lý tưởng của tình yêu, nhưng chỉ khi nào không có hận thù, khi nào không có tham lam, khi nào ý thức của cái tôi, mà là nguyên nhân của sự đối nghịch, kết thúc. Một người bị trói buộc trong những theo đuổi của trục lợi, của tham lam, của ganh tị, không bao giờ có thể thương yêu.

 Nếu không có tình yêu và sự suy nghĩ đúng đắn, sự đàn ápđộc ác mãi mãi sẽ gia tăng gấp bội. Vấn đề của sự đối nghịch của con người với con người có thể được giải quyết, không phải bằng cách theo đuổi lý tưởng của hòa bình, nhưng bằng cách hiểu rõ những nguyên nhân của chiến tranh mà nằm trong thái độ của chúng ta đối với sống, đối với những người bạn của chúng ta; và sự hiểu rõ này có thể hiện diện chỉ qua loại giáo dục đúng đắn. Nếu không có một thay đổi của quả tim, nếu khôngý muốn tốt lành, nếu không có sự thay đổi bên trong mà được sinh ra từ sự hiểu rõ về chính mình, không thể có hòa bình, không thể có hạnh phúc cho con người.

 

Tạo bài viết
16/08/2013(Xem: 7894)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!