Luận Giải Trung Luận, Tánh Khởi Và Duyên Khởi

07/11/201012:00 SA(Xem: 32501)
Luận Giải Trung Luận, Tánh Khởi Và Duyên Khởi

VIỆN CAO ĐẲNG PHẬT HỌC HẢI ĐỨC
Hồng Dương Nguyễn Văn Hai
LUẬN GIẢI TRUNG LUẬN
TÁNH KHỞI VÀ DUYÊN KHỞI

PL.2547 - DL.2003 - Ban tu thư Phật học


Bìa sách "Luận Giải Trung Luận..." (trái); và Thư Pháp của Thầy Tuệ Sỹ (phải).
MỤC LỤC
Lời đầu sách
I. Nhân và Duyên
1. Quán Nhân duyên
Tương quan nhân quả.
Tương quan nhân quả loại quan sát.
Tương quan nhân quả loại giả định.
Tương quan nhân quả loại tác động.
Kiểm chứng tương quan nhân quả bằng cách tác động các biến cố là nền tảng của khoa học thực nghiệm.
2. Bát bấtDuyên khởi
Tính đối xứng của tương quan nhân quả.
Bát bấtDuyên khởi.
Tương quan nhân quả loại nhất đa tương tức.
3. Nhân duyênTứ cú
Nhân duyênTứ cú Trung quán.
Sáu nghĩa của nhân và Tứ cú Hoa nghiêm Ngũ giáo Chương.
(Bảng 1)
II. Pháp giới duyên khởi
4. Viên dung vô ngại
Hoa nghiêm cảnh giới.
Nhất đa tương dung.
Viên dung vô ngại.
5. Nhân duyên Pháp giới
Vô ngã tức Đại Bi.
Hỗ tức hỗ nhập.
Viên giáo kiến.
6. Bốn Pháp giới
Tâm chúng sanhNhư Lai tạng, là Nhất pháp giới.
Sự, Lý, và Lý Sự vô ngại pháp giới.
Sự sự vô ngại pháp giới.
7. Tánh khởi và Duyên khởi
Lối nhìn phân toái.
Lối nhìn viên dung.
Sự sự vô ngại hay lý sự vô ngại?
Nhất thừa hiển tánh giáo.
Tánh khởi.
III. Vô thườngPhật tánh
8. Phật tánhChuyển y
Phật tánhTu hành Phật đạo.
Phật tánhChân thật tánh.
Phật tánhNhư Lai tạng.
Ý nghĩa thứ hai của Như Lai tạng là tạng tức ẩn phú.
9. Vô thường tức thị Phật tánh
Bản giác và Thỉ giác.
Tu chứng nhất đẳng.
10. Phật tánh tức thị Vô thường
Giải thoát đại đồng.
Tất Hữu là Phật tánh.
Ý nghĩa vũ trụ của Phật tánh.
Phật tánh không thực chất.

Tất hữu và Phật tánh không hai.
Vô-thường-Phật-tánh: một tư tưởng đầy động lực.
IV. Hữu tình
11. Đi tìm Ngã
Có Ngã hay không có Ngã.
Phép quán niệm.
12. Hữu tình
Hữu tình.
Lục đại.
Tứ thực.
Thập nhị xứThập bát giới.
Ngũ uẩn.
Sắc uẩn.
13. Hữu tình: Trí, tình, ý
Biến dịch sinh tử.
Tịnh sắc căn.
Trí, tình, ý.
14. Hữu tình: Tâm, Tâm sở
Phân loại tâm sở.
Tâm bất khả đắc.
15. Hữu tình: Xúc độnglý trí
Xúc động tình cảm.
Lý tríxúc động.
V. Luận giải
16. Nhân và Duyên trong Phẩm I
A. Phẩm I: Quán Nhân Duyên (Dịch Việt).
B. Luận giải.
17. Vô thườngBiến chuyển trong Phẩm II
A. Phẩm II: Quán Khứ Lai (Dịch Việt).
B. Luận giải.
Chuyển động và Thời gian.
Chủ thể và Chuyển động.
Không một không khác.
Kết luận.
18. Điều kiện nhận thức trong Phẩm III
A. Phẩm III: Quán Lục tình (Dịch Việt).
B. Luận giải.
19. Năng tạo và sở tạo trong Phẩm IV
A. Phẩm IV: Quán Ngũ ấm (Dịch Việt).
B. Luận giải.
20. Năng tưởng và sở tướng trong Phẩm V
A. Phẩm V: Quán Lục Chủng (Dịch Việt).
B. Luận giải.
21. Hữu và sở hữu trong Phẩm VI
A. Phẩm VI: Quán Nhiễm Nhiễm Giả (Dịch Việt).
B. Luận giải.
Phiền não.
Tánh giác và năm trược.
Luận giải Phẩm VI.
VI. Tâm thức, Toán học, và Thế giới
22. Tâm thức, Toán học, và Thế giới
A. Tâm thức và Máy tính.
Kế toán và tâm thức.
Tâm thức bất khả kế toán.
B. Bài toán A lại da duyên khởi.
A lại dathế giới vi mô.
Thế giới hiện tượng.
Thế giới lượng tử.
Ảo và thực.
Kiến giải Penrose về bài toán a lại da duyên khởi.
C. Bài toán Tánh khởi.
Một niệm ba ngàn.
Một kiến giải khoa học về tánh khởi.
D. Tổng kết.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt.
Tiếng Anh.
Tạo bài viết
02/01/2015(Xem: 15480)
30/10/2010(Xem: 44835)
Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp do Covid-19, để hiểu rõ hơn về dịch bệnh này, trao đổi với Báo Giác Ngộ, ĐĐ.Thích Trí Minh, Bác sĩ chuyên khoa cấp I, Giảng viên Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM chia sẻ:
Trong cuộc sống thì cuộc đời không phải lúc nào là đất bằng, trải thảm mà có lúc chông gai, có lúc hầm hố, có khúc khuỷu, cũng có lúc gian trầm mà cũng có thuận lợi. Hãy giữ tâm bình giữa cuộc đời để ngay nơi đời có đạo, ngay nơi đạo là tâm, ngay nơi tâm hiển tánh, ngay nơi tánh là phật, ngay nơi phật là giác ngộ tĩnh tại giải thoát.
Vậy nếu có chuẩn bị thì tốt nhất là không chuẩn bị điều kiện bên trong hay bên ngoài gì cả, mà ngược lai, nên buông xuống mọi chuẩn bị, mọi dính mắc, mọi chấp trước, mọi lo toan… để trả tánh biết lại cho bản chất uyên nguyên sáng suốt định tĩnh trong lành của nó mới mong thích ứng dễ dàng nhất với những điều kiện biến đổi khôn lường. Đức Phật dạy trong Kinh Tứ Niệm Xứ là chỉ nên tinh tấn chánh niệm tỉnh giác đối với thực tại thân – tâm – cảnh, không tham sân với nó, không nương tựa, không dính mắc bất cứ điều gì trong thực tại. Đây là thái độ tốt nhất mà mỗi người nên sống trong từng giây phút giữa cuộc đời đầy những biến đổi bất ngờ, cho dù có tận thế hay không. Hãy trở về trọn vẹn với thực tại hiện tiền, sống tùy duyên thuận pháp vô ngã vị tha, còn mọi chuyện hãy để cho pháp tự vận hành theo cách tự nhiên của pháp.