Thực hành tụng niệm trong Phật giáo

06/10/20143:22 SA(Xem: 5358)
Thực hành tụng niệm trong Phật giáo

Thực hành tụng niệm trong Phật giáo
Đăng Nguyên dịch

blank
Một buổi lễ tụng kinh Pali theo truyền thống Nam tông
Tụng kinh hay cầu kinh là một điều phổ biến trong các tôn giáo. Phật giáo cũng không ngoại lệ trong vấn đề này. Tuy nhiên, mục đích của việc tụng niệm thì khác nhau giữa tôn giáo này với tôn giáo khác. Phật giáotôn giáo duy nhất không xem tụng niệm như là cầu nguyện.


Đức Phật trong nhiều phương cách đã chỉ dạy chúng ta phải có niềm tin vào hành động của mình và kết quả của nó, và qua đó khuyến khích chúng ta nương tựa vào chính mình mà không vào một ai khác. Điều này trong thực tế là điều cốt lõi nơi thông điệp sau cùng của Ngài ở trong kinh Đại Niết-bàn (Mahaparinibbana Sutta). Một trong những thông điệp trong kinh ngày là: “Này A Nan, hãy nương tựa chính mình và chớ nương tựa vào ai khác, hãy nương tựa Chánh pháp và chớ nương tựa vào pháp nào khác”.

Khi một người Phật tử tụng niệm, vị ấy không cầu xin ai đó cứu mình ra khỏi tội lỗi hay mong chờ dành cho mình một nơi chốn ở trên thiên giới sau khi chết. Thay vào đó, thông qua việc tụng niệm vị ấy có thể học tập, giảng dạy, suy nghiệm hay nhớ lại kinh điển.

Thật sự, trong Tăng chi bộ (Anguttara Nikaya), có một vài bản kinh liên quan đến việc tụng niệm như kinhDhammavihari Sutta. Nó đề cập đến năm hạng người sử dụng kinh điển.

Đầu tiên là người nghiên cứu nó chỉ với mục đích học hỏi mà không đưa nó vào trong thực hành hay giảng giải cho người khác. Vị ấy không quán chiếu sâu vào những gì mình đã học. Vị ấy được gọi là 'Pariyatti-bahulo', người chỉ thiện xảo trong nghiên cứu nó.

Thứ hai là người thuyết giảng những gì mình đã học được từ kinh sách nhưng bản thân không thực hành nó. Vị ấy được gọi là ‘Pannyatti-bahulo’, người chỉ thiện xảo trong giảng dạy.

Thứ ba là người tụng niệm. Vị ấy nghiên tầm và tư biện về kinh điển, cố gắng dành mọi thời gian để thỏa mãn khát khao triết học của mình. Vị ấy quên ứng dụng kinh điển vào đời sống. Vị ấy được gọi là ‘Vitakka-bahulo’, người chỉ say mê thỏa mãn những khía cạnh triết học của kinh điển.

Thứ tư là người tụng niệm kinh điển chỉ để mong nhớ lâu. Vị ấy học thuộc lòng và ghi nhớ lại. Tuy nhiên, vị ấy không đi xa hơnáp dụng nó vào trong đời sống hàng ngày. Vị ấy được gọi là ‘Sajjhayaka-bahulo’, người chỉ say mê học thuộc lòngtụng niệm lời dạy của Đức Phật. Vị ấy thậm chí mong muốn có được thần thông từ việc tụng niệm.

Thứ năm và cuối cùng là người học hỏi kinh điển, giảng dạy chúng cho người khác, quán chiếu những điểm triết học của chúng, tụng niệm chúng thường xuyên và trên hết là thật sự thực hành chúng ở trong đời sống hàng ngày. Vị ấy là người mà Đức Phật tán thán là ‘Dhammavihari’ - một người thực hành Pháp (Dhamma), điều mà vị ấy đã học được từ kinh điển.

Sau khi đã quán chiếu bản kinh này, chúng ta hãy nhìn  xem mình thuộc về hạng người nào, và tại sao chúng ta học hay tụng kinh.

Thế thì tại sao chúng ta, những Phật tử, tụng niệm?

Ngày xưa, trước khi có những phương tiện hỗ trợ đầy đủ cho việc học tập như sách, những dịch phẩm và vi tính thì chúng ta phải học thuộc lòng một bản kinh. Sau khi chúng ta học nó, chúng ta phải tụng niệm thường xuyên để bảo lưu nó và truyền lại cho những thế hệ sau. Nếu chúng ta không tụng nó hàng ngày, chúng ta có thể quên nó và bỏ sót một số phần của nó. Kinh Tăng chi (Anguttara Nikaya) nói rằng nếu kinh điển được gìn giữ kém, điều này sẽ đưa đến sự biến mất lời dạy của Đức Phật. Vì vậy thời bấy giờ việc ghi nhớ và tụng đọc thường xuyên là điều vô cùng quan trọng. Điều này rõ ràng đã góp phần đưa đến việc thực hành tụng niệm. Tụng niệmý nghĩa thực sự cho việc tồn tại của Pháp.

Bây giờ chúng ta có đủ những phương tiện hỗ trợ, vậy tại sao chúng ta vẫn tụng niệm? Có lý do nào khác khi thực hành điều này?

Có một số lý do đáng để tiếp tục thực hành tụng niệm. Tụng niệm thường xuyên giúp cho chúng ta có tự tin, sự hoan hỷgia tăng tín tâm trong ta. Tâm đạo này thật sự là một sức mạnh. Nó được gọi là tín lực (saddhabala). Nó tiếp nghị lực cho đời sống chúng ta. Tôi không rõ người khác thì thế nào. Đối với tôi, tôi thường có cảm giác hoan hỷ khi tụng niệm. Tôi trở nên tự tin hơn. Tôi thấy nó như là một phần của việc phát triển đạo tâm.

Trong truyền thống giáo dục tự viện Phật giáo, tụng niệmhọc thuộc lòng vẫn còn là một phần của việc giáo dục. Ở Miến Điện, chúng tôi học một số bản A-tỳ-đạt-ma (Abhidhamma) - những lời dạy cao nhất của Đức Phật mà nó liên quan đến bản chất tối hậu của các pháp - theo cách đó. Chúng tôi được giảng giải về ý nghĩa và những phát triển logic ở trong A-tỳ-đạt-ma như thế nào. Vào buổi tối, chúng tôi cố gắng tụng đọc nhưng không học thuộc lòng nó. Nó được biết như là lớp học ban đêm có mặt khắp ở đó. Đây là một kỹ thuật nghiên cứu A-tỳ-đạt-ma và một số kinh điển. Điều này là rất hữu ích vì nó giúp bạn quán chiếu rất nhanh.

Khi chúng ta xem xét bản chất của kinh điển, lý do cho việc tụng niệm sẽ trở nên rõ ràng hơn đối với chúng ta.

Bản chất của kinh điển

Có một bản kinh, là kinh Hạnh phúc(Mangala Sutta),ở đó Đức Phật đã trả lời câu hỏi của một vị Thiên (Deva)  về sự tiến bộ thực sự trong xã hội, trong kinh tế và đời sống tâm linh. Đó là cái nhìn của Đức Phật về những điều này cũng như lời khuyên của Ngài đối với tất cả chúng ta, những người thật sự muốn tiến bộ trong đời sống xã hộitâm linh. Nó là điều mà chúng ta nên thực hành trong suốt cuộc đời của mình từ thời thơ ấu cho đến khi trút hơi thở sau cùng. Hầu hết kinh điển đều mang bản chất này. Kinh điển là những mô tả cũng như những toa thuốc cho những căn bệnh chung là tham, sân và si.

Bản chất khác của kinh điểnbảo vệ hay chữa bệnh. Kinh Châu báu (Ratana Sutta) là một trong những ví dụ nổi bật nhất ở đây. Kinh này được dạy cho Tôn giả A Nan để thầy tụng đọc quanh kinh thành Vệ-xá-li khi dân chúng ở đây đang đối mặt với hiểm nạn và đói kém. Kinh Angulimala cũng được xếp vào phân loại này khi nó giải thoát đau đớnrắc rối cho một người sắp làm mẹ. Kinh Đại hội (Mahasamaya Sutta) và kinh Atanatiya cũng xếp vào cùng loại bởi chúng nhấn mạnh vào hộ trì và chữa bệnh. Nến nhớ rằng Tôn giả A Nan và Angulimala đã tu tập lòng từ bi trước khi tụng niệm những bản kinh dành cho việc cầu an đặc biệt này.

Ba bản kinh Thất giác chi (gồm: Maha Kassapa Bojjhanga Sutta, Moggallana Bojjhanga Sutta, và Maha Cunda Bojjhanga Sutta) thì được sử dụng phổ biến để giúp giải thoát đau khổ của một người bệnh. Đây là bản chất thứ ba của kinh điển mà tôi đang cố hiểu và quán chiếu.

Thậm chí Đức Phật yêu cầu Tôn giả Cunda tụng đọc kinh Thất giác chi khi Ngài bị bệnh. Chính Ngài đã tụng đọc kinh Thất giác chi khi những Đại đệ tử của Ngài là Tôn giả Maha Kassapa và Tôn giả Maha Moggallana bị bệnh. Đây là những bản kinh mà chúng bao gồm cả những hướng dẫn cho việc thực hành thiền và năng lực chữa bệnh. Kinh Từ bi (Karaniyametta Sutta) có những bản chất tương tự: hướng dẫn thực hành hàng ngày để phát triển lợi ích tinh thầntiêu trừ những điều xấu.

Nói cách khác, tụng niệm trong Phật giáo đáp ứng như một cách nhắc nhở sự thực hành mà ta cần làm trong đời sống hàng ngày. Nếu chúng ta hiểu và học cách để thực hànhđúng đắn, thì chính đó là một cách khác của thiền định. Nó cũng đồng thời là một sự chữa trị hay cầu an.

Lợi ích cuối cùng chúng ta có thể có được từ việc tụng đọc kinh điển là một cách thiền định. Khi chúng ta tụng đọc, nếu chúng ta cố gắng tập trung tốt vào việc tụng đọc của mình, tâm của chúng ta trở nên chuyên nhất, không rong ruổi, và không sinh khởi những suy nghĩ bất thiện. Cố Hòa thượng H.Saddhatissa Mahanayaka Thero, người sáng lập SIBC (Saddhatissa International Buddhist Centre), đã có sự nhận xét đúng đắn trong cuốn sách của ngài, rằng hầu hết những thực hành của Phật giáo không có điều gì khác hơn ngoài thiền định

Bhikkhu Dhammasami 
Đăng Nguyên
 dịch
(Nguồn:
 urbandharma.org)

Tạo bài viết
15/02/2019(Xem: 2538)
Nhằm tạo một cơ hội sinh hoạt chung để chia sẻ, truyền lửa cho nhau, và thảo luận một số đề tài liên quan đến công việc Hoằng pháp, Giáo dục, Văn học Nghệ thuật, Phật Giáo, và Ra Mắt Sách chung, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 2 sẽ được tổ chức tại Tully Community Branch Library, 880 Tully Rd. San Jose, CA 95111, vào lúc 2:30--5:45 chiều, Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2019.
Theo ước tính của Trung tâm nghiên cứu Pew, Phật tử chiếm khoảng 1% dân số trưởng thành ở Hoa Kỳ và khoảng hai phần ba Phật tử Hoa Kỳ là người Mỹ gốc Á. Trong số những người Mỹ gốc Á, 43% là người Mỹ gốc Việt và một phần tư người Mỹ gốc Nhật xác định là Phật tử, phần còn lại là Kitô hữu hoặc không có tôn giáo nào.
Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán với âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung quốc là chuyện từ nghìn năm và đang tiếp diễn đến ngày nay. Hiện tại chúng đã bao vây trọn vẹn biển Đông và biên giới phía Bắc đang chuẩn bị đưa binh lực tràn qua biên giới để tấn công Việt Nam một lần nữa. Đó là nhận định của nhà phân tích chiến lược David Archibald trong bài viết nhan đề “Advice for Our Vietnamese Friends on China” (Lời Khuyên Gửi Các Bạn Việt Nam Của Tôi về TQ) đăng trên tạp chí American Thinker ngày 27/9/2019. Thực sự Tổ quốc Việt Nam đang lâm nguy, người Phật tử không được quyền rửng rưng, vô cảm, và thờ ơ. Ban biên tập Thư Viện Hoa Sen là những Phật tử đồng thời là con dân của nước Việt nên chúng tôi chưa biết làm gì hơn là truyền đạt thông tin này đến tất cả mọi người dân yêu nước.