Thế Giới Với Phong Trào Phật Giáo Miền Nam Việt Nam Năm 1963, Lê Cung

18/09/201012:00 SA(Xem: 28788)
Thế Giới Với Phong Trào Phật Giáo Miền Nam Việt Nam Năm 1963, Lê Cung

qd-title-2

THẾ GIỚI VỚI PHONG TRÀO PHẬT GIÁO 
MIỀN NAM VIỆT NAM NĂM 1963 

Lê Cung

Trong lịch sử phát triển 2000 năm của Phật giáo Việt Nam, phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 được xem như một mốc son chói lọi. Đối với đất nước, phong trào này đã ghi đậm nét trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân miền Nam. Không phải là có thể mà điều khẳng định là từ sau thời đại Lý - Trần đến nay, trong nhiệm vụ phục vụ Dân tộc và Đạo Pháp của Phật giáo Việt Nam chưa có sự kiện nào có qui mô và có tiếng vang rộng lớn như phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963.

Trên bình diện quốc tế, ngay trong đêm 6-5-1963, sau khi nhận được Công điện số 9195 của chính quyền Ngô Đình Diệm về việc cấm treo cờ tôn giáo, thực chất là cấm treo cờ Phật giáo quốc tế vào dịp Đại lễ Phật đản 1963, giới lãnh đạo Phật giáo đã họp hội nghị tại chùa Từ Đàm - Huế, nhất trí đánh điện yêu cầu Phật giáo thế giới can thiệp. Bức điện viết : “Cờ Phật giáo bị không cho treo tại các tự viện Phật giáo ngay trong Đại lễ Phật đản quốc tế. Yêu cầu can thiệp với chính phủ Việt Nam Cộng hòa” [1]. 

Mặc dầu ở vào một tình thế hết sức khó khăn vì những mưu toan nham hiểm của chính quyền Ngô Đình Diệm, song cuộc vận động cho mục đích nói trên vẫn đạt được kết quả. Những tin tức về sự đàn áp dã man của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo; về cuộc đấu tranh của Phật giáo chống chính quyền Ngô Đình Diệm, ngay từ đầu đã nhanh chóng truyền đi khắp hành tinh, thu hút sự chú ý và được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới.

Khi phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam bùng nổ, dư luận thế giới trước hết chú ý đến nguồn gốc, nguyên nhân của nó. Báo Anh tờ Sunday Times (2-6-1963) viết : “Việc cấm treo cờ Phật giáo là một biện pháp điên rồ đã gây ra sự công phẫn và nổi dậy của người Phật tử Việt Nam” [2].

Điều đó là sự thực. Nhưng xét cho cùng việc cấm treo cờ Phật giáo chỉ là duyên cớ trực tiếp của phong trào. Nói theo cách nói của giới lãnh đạo Phật giáo lúc bấy giờ thì : “Sự đó như một giọt nước cũng thừa sức làm chảy tràn một bát nước vốn đã quá đầy” [3].

“Một bát nước vốn đã quá đầy”, cụ thể hơn là chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm vốn đã có từ lâu trước đó mới là nguyên nhân chủ yếu của phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963. Lời hiệu triệu của ông Chan Htoon - Hội trưởng hội Phật giáo thế giới đã chỉ ra rất chính xác về vấn đề này : “Ngay khi chế độ Ngô Đình Diệm được thiết lập, dân chúng Campuchia khoảng sáu trăm ngàn người theo Phật giáo Nam tông sinh sống tại miền Nam Việt Nam đã kêu ca là họ đã bị chính quyền Nam Việt NamGiáo hội Thiên Chúa giáo ngược đãi một cách có tổ chức. Từ năm năm qua sự áp chế ngược đãi đã trở nên phổ biến, cho đến nay thì Phật tử Việt Nam cũng chịu chung số phận. Mặt khác, Giáo hội Thiên Chúa giáo ảnh hưởng đến tận toàn bộ chính phủ xuống viên xã trưởng (kể cả lực lượng vũ trang) đã có rất nhiều đặc quyềnân sủng. Thí dụ, Giáo hộitín đồ Thiên Chúa giáo được đặt ngoài Dụ số 10, một dụ hạn chế và gây nhiều khó khăn cho các chùa, các tu viện và các hoạt động của Phật giáo và các tôn giáo khác” [4].

Báo Pháp, tờ Témoigne Chretien (Pari, 20-6-1963) viết : “Các biến cố trong những tuần vừa qua chỉ là sự kết tinh của một tình trạng bất an, âm ĩ từ lâu. Nhiều năm rồi Phật từ bị nhà cầm quyền đàn áp ngược đãi... trái lại tín đồ Thiên Chúa giáo thì thừa hưởng đủ mọi sự dễ dàng và mọi sự ưu đãi. Phe chính phủ và một vài đại diện của giáo hộiđứng đầu là Đức cha Ngô Đình Thục, anh ruột của Tổng thống đã cố tình đem chính trị hợp nhất với Thiên Chúa giáo, trộn lẫn hai vấn đề làm một” [5].

Tờ Nhân dân, cơ quan ngôn luận của “Mặt trận giải phóng Angiêri” cùng đồng quan điểm nói trên khi đề cập đến nguyên nhân của phong tràonhấn mạnh đến nguồn gốc của sự tàn bạo của chế độ Ngô Đình Diệm : “Sự độc quyền về tôn giáoquan niệm tôn giáo hẹp hòi của Diệm đã làm cho chính quyền miền Nam Việt Nam càng trở nên tàn bạo và thúc đẩy nhân dân miền Nam vùng dậy đấu tranh” [6].

Về sự kiện đêm 8-5-1963 tại Đài phát thanh Huế, dư luận thế giới đã có những quan tâm làm rõ sự thật. Ở Thái Lan, tờ Phim Thai (16-5-1963) đã sớm vạch trần luận điệu xuyên tạc, tìm cách chạy trốn sự thật của chính quyền Ngô Đình Diệm khi chúng cho rằng những Phật tử bị giết chết tại Đài phát thanh Huế là do những người Cộng sản gây nên, tờ báo viết : “Chính quyền đỗ lỗi cho Cộng sản xúi dục dân chúng biểu tình và Cộng sản nhân cơ hội ấy đã ném tạc đạn và gây máu đỗ. Nhưng những người được mục kích đã cam đoan rằng chính quân đội chính phủ bắn vào dân chúng bằng súng lớn và súng máy đặt trên xe tăng; xét thi hài nạn nhân thì đúng những vết của súng lớn chứ không phải tạc đạn nào cả” [7].

Báo Pháp tờ Témoigne Chretien (Pari, 20-6-1963) với đầu đề: “Dưới dây cưa của xe tăng” tác giả Aime Savard viết : “Ai cũng biết rằng ngày 8-5-1963, tại Huế có 8 Phật tử bỏ mình trong một cuộc biểu tình phản đối chính phủ mà chính quyền qui trách nhiệm cho cộng sản. Nhưng những bằng chứng của quan sát viên người Mỹ cũng như những tín đồ Thiên Chúa giáo tại Huế, giờ đây cho phép chúng ta xác nhận quả quyết rằng chính đoàn xe thiết giáp do vị phó tỉnh trưởng gọi đến giải tán đám biểu tình đã bắn xả vào quần chúng. Trong đám người bị thương có một số người khi ngã xuống đầu bị dây răng cưa của xe tăng nghiền nữa. Chính sự kiện đó mà tờ New York Times tường thuật biến cố này không nghĩ rằng có bàn tay cộng sản nhúng vào” [8].

Bài bình luận của Nicôlaép được hãng Thông tin Nôvôxô (Liên Xô cũ) phát đi ngày 13-6-1963, cho rằng sự tàn bạo của tập đoàn Ngô Đình Diệm càng làm cho nhân dân miền Nam Việt Nam thêm đoàn kết, kiên quyết đấu tranh: Bài bình luận viết : “Những phát đạn bắn vào những người theo đạo Phật biểu tình một cách hòa bình ở Huế, cuộc biểu tình lặng lẽ của hàng chục vạn tín đồ Phật giáo 17 tỉnh miền Nam Việt Nam, cuộc tuyệt thực của những nhà sư,... Những sự kiện đó một lần nữa chỉ cho toàn thế giới thấy bộ mặt thật của chế độ Diệm. Vị Hội chủ Tổng hội Phật giáo toàn Liên Xô Saracốp đã tỏ lòng thông cảm sâu sắc và ủng hộ các đạo hữu của ông ở miền Nam Việt Nam. Những người dân xô viết thì cho rằng những sự kiện ở Huế và Sài Gòn chứng tỏ quyền lợi của tập đoàn Ngô Đình Diệm và lợi ích của nhân dân là không thể điều hòa được. Chiến tranh chống lại nhân dân đã trở thành “quốc sách” của Diệm và tập đoàn của hắn... Những cuộc tàn sát dã man, mù quáng của Diệm, hơn tất cả mọi lời tuyên truyền, đã làm cho nhân dân miền Nam cảm thấy cần phải đoàn kết tất cả mọi lực lượng chống lại Diệm” [9].

Sau sự kiện ngày 8-5-1963, phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam chống chế độ Ngô Đình Diệm diễn ra hết sức mạnh mẽ với những yêu sách cụ thể cùng với những hành động vô cùng quyết liệt của phương pháp “bất bạo động”. Dư luận thế giới đã kịp thời phản ánh tình hìnhlên tiếng ủng hộ. Ở Thụy Sĩ, tờ Journal de Genève (21-5-1963) với đầu đề : “Ngô Đình Diệm Favoriserait les Catholiques” sau khi nhắc lại năm yêu sách của Phật giáonhấn mạnh đến việc các nhà sư đấu tranh vì mục đích tự do tín ngưỡngbình đẳng tôn giáo đã tường thuật các cuộc biểu tình bất bạo động của các vị sư trước quốc hội và tuyệt thực tại các chùa ở Huế và Sài Gòn để đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thực thi năm yêu sách.

Đài Loan, báo Công Luận (10-6-1963) với bài: “Thế kỷ đen tối của châu Âu sống lại”, tác giả Trần Tuệ Kiếm đã kích mạnh mẽ chính quyền Ngô Đình Diệm khủng bố Phật giáo đồ, đồng thời kêu gọi thế giới phải có hành động cụ thể ủng hộ Phật giáo Việt Nam trước cơn sóng gió. Bài báo viết : “Tâm lý bài xích vị kỷ và đặt người Thiên Chúa giáo lên trên hết, dùng mọi cách để hạn chế hoạt động của mười lăm triệu tín đồ Phật giáo Việt Nam. Hành vi trái với Hiến chương Liên Hiệp quốc... Chúng ta không thể khoanh tay nhìn. Cần viện trợ cho các bạn Phật giáo Việt Nam” [10].

Ở Angiêri, tờ Cách mạng châu Phi (15-6-1963) đã dành hẳn hai trang báo để tường thuật tỉ mỉ cuộc đấu tranh của tín đồ Phật giáo ở Huế tối 8-5-1963. Bài báo viết : “Những người theo đạo Thiên Chúa hay không theo đạo Thiên Chúa và những người dân chủ trên thế giới đều tích cực đứng về phía ông Hội chủ Hội Phật giáo miền Nam Việt Nam để tố cáo Ngô Đình Diệm và cái chính phủ thối nát của hắn đã gây nên bao đau thương, tang tóc đối với những người theo đạo Phật trong nước và tỏ ra bất công, thô bạo đối với một tôn giáo vốn đã có từ nghìn xưa ở Việt Nam” [11].

Nhiều tổ chức quốc tế, nhiều tôn giáo, nhiều đoàn thể, nhiều cá nhân ở khắp nơi trên thế giới lên tiếng tố cáo chính quyền Ngô Đình Diệm và ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo miền Nam. Ngày 7-6-1963, Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới đã gởi điện cho Hội Thanh niên Dân chủ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phản đối cuộc đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng thời ủng hộ cuộc đấu tranh đòi quyền dân chủtự do tín ngưỡng của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Mông Cổ, những người theo đạo Phật đã gởi điện tới Ủy ban đoàn kết nhân dân Á - Phi của Việt Nam, lên án chính quyền Ngô Đình Diệm khủng bố tín đồ Phật giáo ở miền Nam Việt Nam. Bức điện viết : “Chúng tôi những tín đồ Phật giáo Mông Cổ lên án những hành động tội ác của đế quốc và chính quyền tay sai đối với tín đồ Phật giáo ở miền Nam Việt Nam, chống lại chính sách Diệm đàn áp khủng bố nhân dân” [12].

Lên án chính quyền Ngô Đình Diệm có cả những tín đồ Thiên Chúa giáo. Ở Bỉ, linh mục Dominique Pie được giải thưởng Nobel hòa bình đã gởi cho ông Uthan - Tổng Thư ký Liên hiệp quốc một lá thư yêu cầu ông gấp rút mở cuộc điều tra tại chỗ để làm sáng tỏ “một vài yếu tố bất khoan dung trong lập trường của Nam Việt Nam đối với Phật giáo đồ”. Linh mục Pie cho rằng : “Hiện nay muốn được sống hòa bình loài người chỉ có một phương thức là thông cảm nhau bằng cách hổ tương chấp nhận mọi sai khác của nhau” [13].

Ở Hồng Kông, Tuần báo Sunday Examiner (Thiên Chúa giáo) số ra ngày 18-7-1963 đã khẳng định lập trường của những người Thiên Chúa giáo ở Hồng Kông trước chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm rằng “Thiên Chúa giáo lấy làm tiệc về việc đối xử tàn nhẫn với Phật giáo đồ và cho rằng sự đối xử ấy là một sự đau đớn của anh em” [14].

Do chính sách khủng bố, đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng gia tăng dữ dội, Phật giáo đã sử dụng đến những biện pháp đấu tranh quyết liệt. Tiêu biểu nhất là ngọn đuốc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức tại ngã tư đường Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt (Sài Gòn) vào ngày 11-6-1963. “Cuộc hy sinh phi thườngdũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức, hình ảnh cụ ngồi thẳng như tượng đá trong ngọn lửa rực hồng đã nhanh như một làn sóng điện làm sôi nổi dư luận trong cả nước Việt Nam và trên thế giới. Hình ảnh của vị Hòa thượng Việt Nam Thích Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa được đăng trên hầu hết các báo khắp năm châu, với những dòng chữ nói lên sự khâm phục” [15]. 

Ở Hungari, các tổ chức thuộc Thiên Chúa giáoPhật giáo đã gởi thư cho Hòa thượng Thích Tịnh Khiết - Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Nội dung thư lên án chính quyền Ngô Đình Diệm khủng bố tôn giáo ở miền Nam Việt Nam và tỏ lòng kính phục trước sự hy sinh dũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức và bày tỏ sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh của Phật giáo miền Nam Việt Nam

Đối với thế giới, Thích Quảng Đức tự thiêu là “một trạng thái mới và huyền ảo của bất bạo động. Nó chứng tỏ rõ rệt với cái uy quyền tối thượng của tinh thần. Không bạo lực nào có thể làm suy giảm được tâm hồn; sức chịu đựng của một cá thể đối với mọi ức chế đàn áp của chính trị độc tài thật là vô biên” [16].

Ở Mỹ, vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức đã gây một chấn động mạnh, đặc biệt đã làm cho dư luận Mỹ quay sang chống Ngô Đình Diệm và gia đình y. Trong một cuộc tiếp xúc với Diệm, Truheart - Đại diện của Mỹ đã chỉ ra rằng : “Chính quyền Kennedy không ưa thích rối ren” [17]. Hãng UPI (19-7-1963) bình luận : “Chế độ gia đình trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm đang tự đào hố chôn mình” [18].

Tờ New York Herald Tribune (21-7-1963) cho rằng : “Hòa thượng Thíc Quảng Đức một vị tu sĩ đã biến tấm áo cà sa vàng của mình thành một giàn hỏa thiêu không phải là người duy nhất có thể tự đốt mình. Tổng thống Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam đang làm một việc rất hay là ông đang tự đốt hết nền tảng của chế độ ông” [19].

Tờ Francisco Chinese World đã đưa ra lập trường kiên quyết hơn : “Đã đến lúc chính quyền Hoa Kỳ phải từ giả ông Ngô Đình Diệm. The Chinese World khẩn thành kêu gọi tất cả mọi người Mỹ hãy lên án ông Diệm một kẻ độc tài ở Sài Gòn” [20]. 

Chính Tổng thống Kennedy cũng phải thừa nhận phong trào Phật giáo ở miền Nam là yếu tố làm nguy hại đến chính sách chống cộng sản của Mỹ. Tờ New York Times (19-7-1963) dẫn lời Tổng thống Kennedy : “Sự đụng chạm của Tổng thống Ngô Đình Diệm với Phật giáo đồ rất có hại cho công cuộc chống Cộng tại miền Nam Việt Nam” [21]. Điều này góp phần giải thích vì sao chính quyền Kennedy sau đó “bật đèn xanh” cho nhóm tướng lãnh ngụy làm đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm (1-11-1963).

Sau cuộc đại khủng bố đối với Phật giáo miền Nam vào đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, dư luận thế giới càng lên án mạnh mẽ chính quyền Ngô Đình Diệm. Tại Anh, trong một cuộc biểu tình ở một ngôi chùa tại London, giới Phật tử Anh đã ra một bản kiến nghị tỏ lòng công phẫn trước sự đàn áp Phật giáo ở miền Nam Việt Namyêu cầu Ngô Đình Diệm phải giải quyết “vụ Phật giáo” trong tinh thần hiểu biếthòa hợp. Bản kiến nghị cũng yêu cầu ông Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, Tổng thống Mỹ Kennedy, Giáo hoàng Paule VI, Thủ tướng Anh Mac Miland, Thủ tướng Liên Xô Khrusopx và Thủ tướng Ấn Độ Nehru can thiệp để chấm dứt tình trạng đau thươngbi thảm của Phật giáoViệt Nam [22].

Tại Trung Quốc, ngày 29-8-1963, Chủ tịch Mao Trạch Đông tuyên bố : “Gần đây, tập đoàn phản động Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam ráo riết tiến hành sự đàn áp đẫm máu đối với tín đồ Phật giáo, học sinh các trường đại học và trung học, các nhà trí thức và đông đảo nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc tỏ ý hết sức căm phẫn và kịch liệt lên án tội ác tày trời của tập đoàn Ngô Đình Diệm”; đồng thời yêu cầu “giai cấp công nhân, nhân dân cách mạng và nhân sĩ tiến bộ trên toàn thế giới đều đứng về phía nhân dân miền Nam Việt Nam anh dũng chống sự xâm lượcáp bức của bè lũ nước lớn và Diệm phản cách mạng, làm cho nhân dân miền Nam Việt Nam khỏi bị tàn sát và giành được giải phóng triệt để” [23].

Đặc biệt các nước theo đạo Phật đã kịch liệt lên án chính quyền Ngô Đình Diệm và có nhiều hoạt động tích cực để ủng hộ phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam. Ngày 20-6-1963, tại Rangoon (Myanma), ông Chan Htoon, Chủ tịch Hội Phật giáo thế giới đã ra lời kêu gọi tất cả các tổ chức và tín đồ Phật giáo trên thế giới ủng hộ những người anh em theo đạo Phật ở miền Nam Việt Nam đã từ lâu chịu đựng đau khổ. Lời kêu gọi viết : “Cách tốt nhất để giúp đỡ tín đồ Phật giáo ở miền Nam Việt Nam củng cố lập trường và giúp họ đạt được mục đích là các tổ chức Phật giáo trên thế giới hãy nói lên tiếng nói thống nhất của mình để kích động lương tâm của mọi người trên thế giới và kêu gọi các chính phủ của mình dùng mọi biện pháp có thể được để đảm bảo ngay cho những người theo đạo Phật ở miền Nam Việt Nam thoát khỏi cảnh đau thương và được tự do tín ngưỡng như bản Tuyên ngôn nhân quyền đã nêu ra” [24].

Tại Ấn Độ, ngày 23-6-1963, bà Rêm Soari Nêru, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Á - Phi của Ấn Độ, đã tuyên bố rằng việc chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp những người theo đạo Phật ở miền Nam Việt Nam đã làm cho mọi người xúc động. Bà nói : “Ủy ban đoàn kết Á - Phi của Ấn Độ nguyện đoàn kết chặt chẽ với nhân dân Nam Việt Nam đang đứng trước một sự đe dọađàn áp chưa từng có. Tim của chúng tôi đập cùng nhịp đập với tim của những người theo đạo Phật đang đấu tranh dũng cảm để thực hiện các yêu sách chính đáng và lên án thái độ hống hách của chính quyền Diệm không để ý đến các yêu sách chính đáng và không chú ý đến dư luận thế giới [25]. Thủ tướng Nehru, trong một thông điệp trả lời bức thư riêng của bà Bandaranaike - Thủ tướng Sri Lanka, đã nói : “Ông cùng chia xẻ nỗi quan tâm của bà về những biến cố mới đây tại Nam Việt Nam” [26]. 

Nhật Bản, tại Đại hội của Hội toàn quốc Phật giáo đồ Nhật Bản họp vào ngày 3-6-1963, ông Makayama, Đại diện Hội Phật giáo thế giới tại Nhật Bản đã tường trình rõ ràng sự đàn áp khủng bố Phật giáo tại miền Nam Việt Nam với đại hộiyêu cầu đại hội tìm cách can thiệp với chính phủ Diệm để chấm dứt hành động ấy [27].

Từ sau ngày Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm, các báo Nhật Bản đã dành những chỗ trang trọng đăng tin và ảnh, như tờ “Asahi Evening News ngày 12-6 đã đăng 3 cái ảnh lớn chiếm gần một phần tư trang một và các báo khác cũng đều đăng tin tỉ mỉ rõ ràng về vụ này” [28]. Ngày 19-6-1963, Ủy ban Tôn giáo bảo vệ hòa bình và Hội Phật giáo Nhật Bản đã tổ chức cuộc mít tinh phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tín đồ theo đạo Phật ở miền Nam Việt Nam. Cuộc mít tinh đã mặc niệm Hòa thượng Thích Quảng Đức và những người bị chính quyền Ngô Đình Diệm giết hại ở Huế, Sài Gòn và ra tuyên bố kịch liệt lên án tội ác của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngày 20-6, các tín đồ Phật giáoNhật Bản do Hòa thượng Mibu Sôgiun dẫn đầu đến sứ quán “Việt Nam Cộng hòa” ở Tokyo trao bản tuyên bố nói trên cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Theo Công văn mật số 27-VP/DK ngày 21-6-1963 của Đại sứ “Việt Nam Cộng hòa” tại Nhật Bản gởi Bộ trưởng Phủ Tổng thống thì “vấn đề tranh chấp giữa Phật giáo và Chính phủ đã gây một luồng dư luận sôi nổi ở Nhật Bản” [29].

Ngày 23-6-1963, sau lễ cầu siêu cho Tăng, tín đồ Phật giáo miền Nam tử vì đạo, toàn thể Tăng, tín đồ của phái Tịnh độ Chân tôn cùng một lúc đã đánh ba điện văn. Điện văn gởi giới lãnh đạo Phật giáo miền Nam Việt Nam viết : “Sự kiện đàn áp sát hại Phật giáo đồ tại Việt Nam gần đây là một việc làm đáng buồn, và cũng là một triệu chứng bất tường. Nhân danh Tổng hội Phật giáo Chân tôn Nhật Bản, chúng tôi xin gởi đến quý Ngài lòng tôn kính và ai điếu đối với việc vì đạo thiêu thân của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức. Chúng tôi xin gởi đến quý Ngài lòng nhiệt thành ủng hộ trong cuộc hộ Pháp của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam trong lúc “Pháp nạn” này”. Điện văn gởi Ngô Đình Diệm viết : “Sự kiện đàn áp sát hại Phật giáo đồ tại Việt Nam gần đây thật là một việc bất tường chưa có trong lịch sử. Toàn thể Tăng Nitín đồ của Tổng hội Chân tôn chúng tôi rất xúc động và phẫn uất khi nhận được tin này”. Điện văn gởi Giáo hoàng Paule VI viết : “Trước mắt chúng tôi, việc khủng bốsát hại Phật giáo đồ tại Việt Nam là một việc xúc phạm đến tự do tín ngưỡng, quyền căn bản của con người. Nhất là việc ấy phát sinh bởi một chính sách hà khắc tôn giáo của một chính phủ.

“Chúng tôi hy vọng Ngài sẽ vì danh dự của Hội Thánh Thiên Chúa tìm cách can thiệp với ông Ngô Đình Diệm, Tổng Giám mục Giáo khu Huế để việc bất công trên khỏi tái diễn” [30].

Ngày 25-6-1963, Tổng hội Phật giáo Nhật Bản đã gởi thư cho Chan Htoon, Hội trưởng Hội Phật giáo thế giới. Bức thư viết : “Đối với sự hy sinh cao cả của Phật giáo đồ Việt Nam, để tỏ lòng ai điếu, chúng tôi Phật giáo đồ Nhật Bản rất lấy làm đau buồn về sự phân tranh giữa Chính phủ Việt NamPhật giáo đồ đã xảy ra nhiều lần từ sau ngày Phật đản 8-5-1963... 

“Để giám sát tầm quan trọng về tự do, bình đẳng tôn giáo một cách xác thực, bản bộ Phật giáo thế giới cần phải điều tra tường tận về nguyên nhân của sự kiện đã xảy ra ở miền Nam Việt Nam và nương vào sự hợp lực của chúng ta với những phương pháp thích đáng để chấm dứt tình trạng phân tranh không tái phát, đó là điều mong muốn của Tổng hội Phật giáo Nhật Bản chúng tôi” [31].

Không còn nghi ngờ gì nữa, tình hìnhNhật Bản là không có lợi cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Chính Công văn số 43/DK/VP/M ngày 21-8-1963 của Tòa đại sứ “Việt Nam Cộng hòa” tại Tokyo gởi Bộ trưởng Ngoại giao chính quyền Ngô Đình Diệm cũng phải thừa nhận rằng : “Dư luận Nhật Bản trở nên sôi nổi đối với vấn đề Phật giáoViệt Nam. Một số đoàn thể hoặc tư nhân có uy tín đã tiếp xúc thẳng với Thiểm Tòa để thăm dò tin tức và chất vấn về những biến cố đáng tiếc mới xảy ra; một số khác hoặc viết thư hoặc gởi điện tín đến Thiểm Tòa để phản kháng những hành động mà họ cho rằng có tính cách đàn áp Phật giáo ở Việt Nam” [32].

Ở Myanma, ngày 16-5-1963, Hội Phật giáo Thawtuzana tại Rangoon ra một bản tuyên bố yêu cầu các tín đồ Phật giáo Myanma, châu Á và các nước khác trên thế giới hãy phản đối cuộc đàn áp Phật tử ở miền Nam Việt Nam của chính quyền Ngô Đình Diệm và cho “đó là một sự đe dọa đối với Phật tử trên thế giới, kể cả Miến Điện và Á châu” [33]. Báo chí Myanma đã mở một chiến dịch lớn lên án chính quyền Ngô Đình Diệm. Tờ Người Phụ nữ (7-5-1963), viết : “Nghe tin vụ đàn áp ở Huế, ai mà không đau lòng và căm giận. Không chỉ người theo đạo Phật mà tất cả tín đồ tôn giáo khác trên thế giới đều đau lòng” [34]. Nhà văn nổi tiếng của Myanma là Daoana thì cho rằng : “Chúng tôi chưa hề thấy một hành động nào đối với những người theo đạo Phật tàn tệ hơn vụ đàn áp ở Huế” [35]. Ngày 26-8-1963, ba tổ chức Phật giáo : Tổng hội các nhà sư trú trì các tu viện Phật giáo, Hội Liên hiệp các nhà sư và Ủy ban Trung ương tổ chức các nhà sư ở Myanma ra tuyên bố chung phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp, bắn giết, bắt bớ tín đồ đạo Phật ở miền Nam Việt Nam và cho rằng đó “không những là một sự thóa mạ đối với Phật giáo toàn thế giới mà còn là hành động phá hoại tôn giáo nói chung trên thế giới. Vì vậy, chúng ta phải tố cáo tội ác của chính quyền Ngô Đình Diệm cho nhân dân toàn thế giới biết” [36].

Ở Lào, ngày 28-5-1963, 77 Tăng Ni, Phật tử ở Sêpôn (Savannakhet) đã tổ chức một cuộc mít tinh phản đối cuộc đàn áp tín đồ Phật giáo tại miền Nam Việt Nam. Ngày 6-6-1963, Hòa thượng Kong Si, người đứng đầu Phật giáo ở Sầm Nưa, tuyên bố : “Hành động của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với Phật tửhoàn toàn trái với tinh thần nhân đạo và lòng bác ái của Phật giáotrái với luật pháp quốc tế” [37].

Ở Campuchia, dư luận kịch liệt lên án chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngày 1-6-1963, trong một buổi lễ khánh thành chùa Onnalum, Thái tử Xihanouk tuyên bố : “Chúng ta hãy tưởng niệm và cầu siêu cho các Phật tử Việt Nam, nạn nhân của chính phủ Ngô Đình Diệm”. Ông cho rằng Campuchia “sẽ góp phần với Tích Lan và các nước khác để đưa vấn đề ra trước Liên Hợp Quốc” [38].

Ngày 8-6-1963, các sư sãi Campuchia thuộc phái Tiểu Thừa đã họp tại chùa Bottomvadday, một ngôi chùa quan trọng tại Phnôm Pênh để “phản đối chính sách kỳ tôn giáo” tại miền Nam Việt Nam. Hôm sau (9-6-1963), một cuộc mít tinh “đoàn kết với Phật tử Nam Việt Nam” được tổ chức tại chùa Onnalum để phản đối chính quyền Sài Gòn áp bức Phật tử.

Ở Thái Lan, theo báo cáo của Tòa đại sứ “Việt Nam Cộng hòa”, ngày 2-9-1963 thì “hôm 31-8-1963, một Đại hội đồng Phật giáo đã triệu tập tại Bangkok để thảo luận về vụ Phật giáo tại Việt Nam. Tham dự phiên họp này có 800 Phật giáo đồ, thuộc các giới cựu bộ trưởng, dân biểu, luật sư, ký giả, đại diện Phật giáo tại Bangkok và 63 trong số 73 tỉnh của Thái Lan, hội Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ, Mã Lai và cả Hồi giáo cùng Bà la môn (Brahman) cũng gởi đại diện đến dự họp... Cuộc thảo luận đã diễn ra trong bầu không khí cực kỳ sôi nổi. Ngót hơn 5 tiếng đồng hồ, hơn 20 diễn giả luân phiên nhau lên diễn đàn bày tỏ quan điểm về vụ Phật giáoViệt Nam... , phần đông diễn giả đã dùng những lời lẽ chua cay để công kích chính phủ ta... Một số diễn giả, vì cảm tình với ta, đã lên tiếng bênh vực chánh phủ ta nhưng không được cử tọa hoan nghênh” [39].

Tại Sri Lanka, từ khi nghe tin vụ tàn sát Phật giáo ở Huế, một không khí sôi sục căm phẫn lan rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, mọi tổ chức đảng phái chính trị, cả đến quốc hội và chính phủ. Ngày 15-5-1963, giới lãnh đạo Phật giáo Sri Lanka yêu cầu bà Bandaranaike, Thủ tướng chính phủ Sri Lanka, hành động để bảo vệ quyền lợi của những người theo đạo Phật. Ngày 20-5-1963, một đòan gồm 20 nhà sư trong Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Sri Lanka, do Đại đức Uđakankêla Saranankara, người được giải Hòa bình Lê nin, dẫn đầu đến biểu tình trước Đại sức quán Mỹ ở Colombo để phản đối Mỹ - Diệm khủng bố dã man các Phật tử ở Huế. Họ đã mang theo biểu ngữ : “Không được giết người theo đạo Phật” [40]. Cùng ngày đó, Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Bộ trưởng Ngọai giao Sri Lanka ra thông cáo với nội dung : “Thủ tướng và Chính phủ rất quan tâm đến vụ Phật tử bị khủng bố tại Việt Nam Cộng hòa, đã hành động ngay để ghi nhận sự ủng hộ của các nước bạn có đại diện tại Việt Nam để cung cấp cho tài liệu đầy đủ về vụ này. Chính phủ đã quyết định ra lệnh cho đại diện tại Liên Hiệp quốc, nhờ ngài Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc dùng mọi biện pháp thích nghi để làm giảm mối lo âu trong giới Phật giáo thế giới. Đồng thời Chính phủ Tích Lan cũng yêu cầu Phật giáo các nước Á châu cũng hành động như trên qua các đại diện của họ tại Liên Hiệp Quốc” [41], và đề nghị các nước có đại diện ở miền Nam Việt Nam hãy cung cấp cho chính phủ Sri Lanka những tin tức về sự khủng bố Phật giáo ở Huế để họ có nhưng hành động thích đáng. Ngày 30-5-1963, chính phủ vừa mới được cải tổ ra thông báo tỏ ý xúc động sâu sắc về sự ngược đãi đối với Phật tử Việt Nam. Ngày 31-5-1963, ông Gunapala P. Malaxêkêra, đại diện của Chính phủ Sri Lanka tại Liên Hợp Quốc, theo lệnh của chính phủ Sri Lanka, đã đến gặp Tổng thư ký Liên Hợp Quốc để thảo luận về những người theo đạo Phật ở miền Nam Việt Nam bị chính quyền Ngô Đình Diệm khủng bố [42]. 

Tại Liên Hợp Quốc, ngày 28-6-1963, lần đầu tiên bình luận về vụ rắc rối giữa Phật giáo và chính quyền Ngô Đình Diệm, ông UThan, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, cho rằng ông đã yêu cầu Ngô Đình Diệm “giải quyết vấn đề trong tinh thần hòa bình, công lý và hiểu biết” [43]. Ông Uthan còn cho biết thêm trong mấy tuần lễ gần đây, ông đã nhận được nhiều bài bình luận của nhiều tổ chức trên khắp tòan cầu về việc đối xử với Phật tử ở miền Nam Việt Nam và ông đã thảo luận về vấn đề đó với một số đại biểu Liên Hợp Quốc, của những quốc gia Phật giáo, kể Sri Lanka, Campuchia và Nêpal.

Tới ngày 7-10-1963, trong phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, đại biểu Sri Lanka đã tố cáo mạnh mẽ chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo miền Nam và vi phạm nhân quyền. Trong một bài thuyết trình dài, đại biểu Sri Lanka đã nêu lên các điểm chủ yếu sau :

“Đã từ lâu Phật giáo thế giới quan tâm đến tình trạng bị bạc đãi của Phật giáo Việt Nam và đã thường xuyên theo dõi vấn đề này.

“Sri Lanka dã cùng với các nước Á, Phi chuẩn bị kỷ càng trước lúc đưa vụ này ra Liên Hiệp Quốc, đặc biệt là đã nghe lời biện hộ của chính quyền Ngô Đình Diệm. 

“Họ nêu trách nhiệm của Mỹ và cho rằng nếu Mỹ không bảo được ông Diệm thì phải cắt viện trợ cho chính thể Diệm và rút về” [44].

Cũng trong phiên họp này, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đồng ý cử một phái đòan sang miền Nam Việt Nam để điều tra việc chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Ngày 24-10-1963, phái đòan điều tra Liên Hiệp Quốc đến Việt Nam. Tình hình đó càng buộc Mỹ phải gấp rút thủ tiêu bị cáo, tức chính quyền Ngô Đình Diệm, mà phải thủ tiêu trước lúc Liên Hiệp Quốc tái nhóm để xét về tờ trình của phái đòan điều tra, khiến cho cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm nhanh chóng diễn ra.

Rõ ràng là trên bình diện quốc tế, phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 đã hầu như không bị cô lập đối với bất cứ ai. Khắp nơi trên thế giới, từ các cơ quan báo chí, các hãng thông tấn, các đòan thể tôn giáo, các tổ chức chính trị, đến các nguyên thủ quốc gia và cả Liên Hiệp Quốc, với nhiều hình thứcbiện pháp khác nhau đã vạch trần những tội ác của chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng tình với cuộc đấu tranh chính nghĩa của Phật giáo miền Nam Việt Nam. Đây được xem như là một đặc điểm khá độc đáo xét trong phạm vi trong một phong trào đấu tranh chống bạo quyền do một tôn giáo khởi xướng. Sự ủng hộ của nhân dân thế giới nói chung, đặc biệt là đối với các nước theo Phật giáo, đã đóng góp một phần quan trọng trong việc tạo thêm thế và lực giúp cho phong trào không ngừng phát triển để đi đến thắng lợi, dù cho chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiến hành cuộc đàn áp, khủng bố hết sức quyết liệt. Điều này giải thích tại sao ngày 28-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời tuyên bố về tình hình miền Nam Việt Nam hiện nay”. Lời tuyên bố viết : “Gần đây, ở miền Nam Việt Nam lại xảy thêm một tình trạng cực kỳ nghiêm trọngđau thương. Bọn Ngô Đình Diệm đốt phá chùa chiền, khủng bố sư sãi và đồng bào theo đạo Phật. Chúng đóng cửa nhà trường, bắt bớ hàng loạt giáo sư và sinh viên, học sinh. Tội ác dã man của chúng, trời đất không thể dung. Hành động hung tàn của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối, nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình”; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ sự cám ơn nhân dân thế giới đã ủng hộ cuộc đấu tranh chống chế độ bạo quyền Ngô Đình Diệm của Tăng, tín đồ Phật tử miền Nam. Lời tuyên bố viết tiếp : “Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn nhân dân và chính phủ các nước Phật giáo, các nước xã hội chủ nghĩa anh em, cảm ơn nhân dân yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới, cảm ơn nhân dân và nhân sĩ tiến bộ nước Mỹ đã nghiêm khắc lên án chính sách Mỹ – chế độ Diệm và nhiệt tình ủng hộ nhân dân miền Nam” [45].

Chú thích :
1. Hải Triều âm (Tuần báo), số 2, ngày 30-4-1964, tr. 4
2 Tuệ Giác. Việt Nam Phật giáo tranh đấu sử. Nxb. Hoa Nghiêm, Sài Gòn, 1964, tr. 195.
3 Hải Triều âm (Tuần báo), số 2 ngày 39-4-1964, tr. 4.
4. & 5 Tuệ Giác, Sđd, tr. 184 và tr. 311.
6. Lê Cung. Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, tr. 250
7. Tuệ Giác, Sđd, tr. 185-186.
8. Lê Cung. Phật giáo Việt Nam với công đồng dân tộc. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1996, 117-118.
9. Lê Cung. Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, tr. 251-252.
10. Tuệ Giác, Sđd, tr. 187.
11. Dư luận Angiêri ủng hộ Phật giáo miền Nam Việt Nam. Báo Nhân dân, ngày 1-7-1963, tr. 4.
12. Báo Nhân dân, ngày 1-7-1963, tr. 4.
13. Quốc Oai. Phật giáo tranh đấu. Nxb. Tân Sanh, Sài Gòn, 1964, tr. 96.
14. Quốc Oai, Sđd, tr. 98.
15. Trần Văn Giàu. Miền Nam giữ vững thành đồng, tập II. Nxb. Khoa học, Hà Nội, 1966, tr. 342..
16. Quốc Oai. Sđd, tr. 93.
17. Phong trào Phật giáo miền Nam (Tài liệu tham khảo đặc biệt). Việt Nam Thông tấn xã, Hà Nội, 1973, tr. 93.
18. Quốc Oai. Sđd, tr. 101.
19. Tuệ Giác, Sđd, tr. 211.
20. Quốc Tuệ. Công cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn, 1964, tr. 211.
21. Tuệ Giác, sđd, tr. 210.
22.Nguyệt san Liên Hoa, ngày 28-3-1964, tr. 6.
23. Trần Văn Giàu, Sđd, tr. 355.
24.Báo Nhân dân, ngày 4-7-1963, tr. 4.
25. Báo Nhân dân, ngày 27-6-1963, tr. 4.
26. Tín thế giới liên quan đến cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam, ngày 17-6-1963. Lưu tại chùa Từ Đàm.
27. Tin thế giới liên quan đến cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam, ngày 17-7-1963. Lưu tại chùa Từ Đàm.
28 &29 Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu SC.04-HS 8467.
30. Buddhist Times (Nhật Bản), số 537, ngày 25-6-1963. Lưu tại chùa Từ Đàm (Huế).
31. Tuệ Giác. Sđd, tr. 170-171.
32. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu SC.04HS.8467
33. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu SC.04-HS.8469.
34. &35 Báo Quân đội Nhân dân, ngày 23-5-1963, tr. 4.
36. Báo Nhân, ngày 1-7-1963, tr. 4.
37.Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu SC.04-HS.8469
38. Quốc Oai. Sđd, tr. 69.
39. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu SC. 04-HS. 8467
40. T.H. Diệm đang cố bịt ngòi thuốc nổ. Báo Quân đội Nhân dân, ngày 23-5-1963, tr. 4
41. Trung tâm lưu trữ Quóc gia II. Ký hiệu tài liệu SC. 04-HS.8469.
42. Báo Nhân dân, ngày 2-6-1963, tr.4.
43. Tin thế giới về cuộc đấu tranh của Phật giáo Việt Nam, ngày 12-7-1963. Lưu tại chùa Từ Đàm - Huế.
44. Tâm Phong. Nhơ lại cuộc vận động của Phật giáo. Tuần báo Thiện Mỹ, số 1, ngày 27-10-1964, tr. 12
45. Lời Tuyên bố của Chủ tịch HCM về tình hình miền Nam hiện nay. Báo Quân đội Nhân dân, ngày 29-8-1963, tr. 1.
Tạo bài viết
Được tin lũ chồng lũ, bão số 8, bão thế kỷ sắp tràn về miền Trung khốn khổ, tốc độ trên 200/km, hơn vận tốc của xe trên free way, nghĩa là nơi nào bão qua là nơi đó không còn dấu vết sự sống, ôi thương đau khủng khiếp.
Sáng hôm qua, (ngày 18 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 4 xã Hải Thiện, Hải Lăng, Hải Ba, Hải Dương, Hải tại Tỉnh Quảng Trị. Xã Hải Thiện phát 170 phần quà, xã Hải ba & Hải Lăng 180 phần quà, xã Hải Dương 150 phần quà. Thật may mắn cho đoàn là cả ngày trời không mưa nên công việc cứu trợ được thuận duyên và thành tựu viên mãn.
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo