Ngàn Năm Còn Mãi Thích Nữ Tắc Phú

11/09/201012:00 SA(Xem: 47928)
Ngàn Năm Còn Mãi Thích Nữ Tắc Phú

NGÀN NĂM CÒN MÃI
Thích Nữ Tắc Phú

Lại một mùa đông gió lạnh! Ngồi bên thềm cửa lắng nghe cái buốt lạnh lùa vào tê cóng chân tay, lòng tôi chợt bùi ngùi nhớ đến Đức Bổn Sư thuở nào đã vùi mình trong tiết trời rét giá bốn mươi chín ngày đêm, những mong tìm ra chân lý soi đường cho nhân loại. Rồi một sáng tinh mơ, mặt trời chân lý bừng vỡ, đẩy lùi bóng tối vô minh, nhân thiên ca khúc khải hoàn, Ma vương cúi đầu khất phục. Từ đây ánh đạo vàng lan tỏa khắp muôn phương, tỉnh bao kẻ còn say ngủ. Ôi! Đức Bổn Sư! Bậc Thầy cao cả của muôn đời!

Là phận nữ lưu “Đa mang nghiệp chướng, trí thiểu tình đa”, lẽ ra không dự vào giáo đòan của Phật. Thế nhưng với bản hoài thị hiện nhân gian nhằm: “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến” cùng tâm nguyện hình thành tứ chúng, lợi lạc quần sanh, Đức Thế Tôn đã bằng lòng chấp nhận cho nữ giới xuất giaân cần trao tặng bảo vật tuỳ thân “Bát kỉnh pháp”. Sự có mặt của ni đoàn khiến cho giáo pháp có phần sinh động hơn, song lâu ngày ít nhiều tệ nạn nảy sinh, bởi những hạt giống si mê ngủ ngầm bắt đầu thức dậy từ những cô “trẻ người non dạ’’. Và từ đây giới luật ngày càng tăng nhanh, từ BaÙt Kỉnh pháp chuyển dần đến 348 giới. Nhưng cũng từ giới luật mới thấy rõ chân tình của Đức Thế Tôn, số lượng giới của Ni càng nhiều càng cho thấy sự tận tụy, mức độ quan tâm sâu sắc của người khi thiết lập giới nhằm bảo hộ cho Ni chúng tu tập an toàn. Có những giới điều nhỏ nhoi tưởng chừng không có gì đáng kể nhưng vẫn được Đức Phật chú tâm nhắc nhở nào là: Không được đi một mình vào thôn, không được rời đoàn đi sau cuối, không được nói lời vô nghĩa làm buồn lòng bạn cùng tu… thậm chí đến những việc không thể nói ra nhưng vì lợi ích cho Ni chúng nên Phật phải thiết tha dặn bảo vv… Hầu hết nội dung của mỗi giới là một chiếc áo giáp đa năng, có tác dụng ngăn ngừa tập khí xấu, nhằm hoàn thiện nhân cách cho ni giới ngày một thăng hoa hơn trong đời sống tinh thần, giảm bớt những khổ đau về vật chất, có cơ hội thanh lọc phiền não, tiến sâu vào giải thoát. Chẳng những chỉ có ở trong giới Phật mới quan tâm đến Ni mà bàng bạc khắp trong các Kinh, Đức Phật đều có đề cập đến nữ, điển hình như trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Đề Bà Đạt Đa thứ mười hai- hình ảnh Long nữ mới tám tuổi nhưng có đầy đủ khả năng lãnh hội đạo màu, trong chớp mắt chuyển thân nam tử thành Phật, là một minh chứng hùng hồn cho tình thương bình đẳng của Phật, đối với ni đoàn. Tuy mang thân người nữ với năm chướng nạn: chẳng được làm Phạm Thiên vương, Đế Thích, Ma vương, Chuyển Luân Thánh vương và được làm Phật, nhưng bằng tuệ giác, trên chân tánh. Đức Thế Tôn thấy rõ tất cả đều đồng đẳng. Vì vậy mà Ngài không ngần ngại thọ ký quả vị Phật cho phái nữ, cụ thể như thọ ký cho Di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề sẽ thành Phật Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Như Lai, hay Gia Du Đà La sẽ thành Phật Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai… đó là niềm khích lệ lớn lao trong đời sống tu tập, là sự khẳng định vị trí đồng đẳng của nữ giới trên phương diện giải thoát. Việc làm ấy của đức Phật đã cho phái nữ một niềm tin vững chắc trong giai đoạn chuyển phàm sang thánh, chẳng những trong thời quá khứcho đến cả hôm nay.

sarnath_buddha-contentĐã bao năm trôi qua, mọi sự mọi vật âm thầm theo thời gian biến chuyển nhưng tình thương của Phật vẫn còn sâu đậm trong lòng người con Phật từng phút từng giây. Hình ảnh của Ngài luôn hiện rõ trong từng trang kinh, từng dòng luật. Không như mọi người nhận định, Đức Phật tiêu cực khi chế quá nhiều giới khiến cho phái nữï bị buộc ràng, không thể phát triển mạnh về những hình thức sinh hoạt trong xã hội. Nhìn theo chiều phiến diện, so với bối cảnh xã hội văn minh hiện nay, quả nhiên có hạn chế. Song đó không phải là tiêu cực, ngược lại còn có phần tích cực hơn. Bởi vì như đã nói ở trên, đa phần nữ giới sống theo tình nhiều hơn trí; nói một cách khác nữ giới sống bằng cảm tính nhiều hơn lý tính, như các nhà tâm lý học thường nhận định: “Nam giới nhìn bằng mắt, nữ giời nhìn sự vật bằng trái tim”. Chính vì vậy khi nữ giới tham gia vào các lĩnh vực rộng rãi như nam giới, về mặt thể chất dù có sức chịu đựng nhưng về tinh thần dễ bị lôi cuốn vào chỗ Ta và của Ta. Với những lý do nói trên nên đức Phật tạm thời chế giới, mục đích chính của Ngài là mong sao ni giới “hiệp giác, bội trần”, bớt theo tình thức, xã tánh chấp thủ, làm chủ được bản tâm không bị ràng buộc trong sáu trần, đời sống hiện tại không còn chi phối trong những thứ ăn, mặt, ở, thường lấy trí huệ làm sự nghiệp, an bần giữ đạo, tùy duyên hành sự, và Bạt Kỉnh pháp là bảo vật vô giá được xuất phát từ trí huệ, từ tình thương bao la của đức Thế Tôn dành tặng cho ni giới. Bát Kỉnh pháp là chiếc cầu nối liền thể hiện sự tu hành nghiêm túc, đồng thời mang tính tương trợ giữa Tăng và Ni. Bát Kỉnh pháp tạo cho nữ giới đức tính khiêm nhường tôn trọng chư Tăng, ngược lại chư Tăng qua Bát Kỉnh pháp thể hiện sự quan tâm khích lệ, sách tấn chư Ni, tạo điều kiện giúp đỡ Ni giới an ổn trong cuộc sống tu hành, khi đức Thế Tôn hiện tiền cũng như lúc Ngài không còn tại thế.

Có phân tích, có gẫm suy mới thấy tình thương của đức Thế Tôn bao la, tế nhị và cao cả! Vậy mà bấy lâu nay tôi là kẻ dại khờ ngu muội, chỉ biết kính thương Phật nhưng không lãnh hội được ý chỉ của Ngài. Vì không hiều cho nên trong cuộc sống bình thường khi đối duyên với xúc cảnh, tôi không biết tất cả các pháp Phật giáo đều là Phật pháp, rồi cứ mãi trôi lăn theo dòng vô minh, trong trí Bồ-đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc. Nay chợt hiểu lòng ăn năn, hối hận vô cùng, tôi là đứa con nhà trưởng giả, ngọc báu sẳn trong tay mà suốt ngày lang thang khắp nẻo, dừng bước phiêu lưu trở lại nhà. Oâi! Phàm thánh cách nhau trong một niệm, vì sao cứ mãi buộc ràng trong vách tường tứ đại?

Một hồi chuông đổ nhân vang, báo hiệu giờ công phu sáng, cảnh vật xung quanh vẫn im lìm, chỉ có tiếng chuông khuya từng hồi nhịp đều rơi thong thả. Nhẹ bước ra hiên, tôi lặng ngắm trời đêm, sương lạnh phủ nhạt nhòa tứ phía; trong khoảng không gian mênh mông, tôi nghe lòng ấm lại, như thấy đức Thế Tôn ngự nơi Bảo tháp năm nào mĩm cười khẻ nói: con có thây chăng, ánh sao mai vẫn còn sáng rực góc trời đông!.

TNTP.

Trích: Tập san Suối Nguồn 11 - TVHQ

Tạo bài viết
09/03/2014(Xem: 4970)
Tạp chí Nghiên cứu Phật học trân trọng kính mời các đề xuất cho các vấn đề đặc biệt của số Xuất bản đầu tiên, đặc biệt về các chủ đề sau: Các nghiên cứu Phật giáo tập trung vào lịch sử, văn hóa, khảo cổ học, nghệ thuật, triết học, thiền định, nhân chủng học, xã hội học, thần học, triết học, thực tiễn, nghiên cứu so sánh liên tôn và các môn học khác liên quan đến Phật giáo. Tạp chí Nghiên cứu Phật học, một Tạp chí Chuyên ngành được Thư viện Quốc hội Mỹ bảo trợ cấp bản quyền Nghiên cứu.
Ngôi chùa Phật giáo 700 tuổi đứng vững trước lũ sông Dương Tử Khi nước lũ đạt mức kỷ lục trên khắp miền trung và miền nam Trung Quốc, video xuất hiện vào ngày 14-7 cho thấy một ngôi chùa 700 tuổi kiên cường đứng trước mọi thứ mà sông Dương Tử có thể xô vào.
Thời gian cơn đại dịch hiểm ác Virus corona này, khi các nhân viên y tế tuyến đầu bận rộn trong việc phòng chống và kiểm soát Covid-19, một số người đang âm thầm quan tâm lo lắng cho người dân với tinh thần vô ngã vị tha, những người gián tiếp bị con ác quỷ Covid-19 này tấn công. Thượng tọa Tiến sĩ Bodhipala là một trong những chiến sĩ ở tuyến đầu của trận chiến chống đại dịch Covid-19, Ngài là một trong những anh hùng thầm lặng trên mặt trận không tiếng súng, chiến đấu với kẻ thù vô hình nhưng đầy hiểm nguy.