Phần 3. Phơi Bày Lời Giảng 1950-1959

12/05/201112:00 SA(Xem: 4618)
Phần 3. Phơi Bày Lời Giảng 1950-1959

TIỂU SỬ CỦA KRISHNAMURTI
[www.thuvienhoasen.org]
Krishnamurti's biography by Pupul Jayakar
[www.scribd.com/.../Pupul-Jayakar-Krishnamurti-A-Biography ]
Lời dịch: Ông Không
Tập I/II - Tháng 4-2011

PHẦN 3

PHƠI BÀY LỜI GIẢNG

1950-1959

 

CHƯƠNG 16

“Tôn giáo hiện diện khi cái trí đã hiểu rõ

 những công việc của chính nó”

 

Vào ngày 11 tháng chín năm 1950, Krishnaji viết cho tôi từ Ojai: “Tôi đã ở đây ba tuần lễ hạnh phúc và cần nghỉ ngơi lâu, bởi vì tôi đã nói chuyện ba năm liên tiếp rồi. Cũng vậy tôi đã quyết định ẩn dật hoàn toàn nguyên một năm mà không có bất kỳ phỏng vấn nào, những bàn luận riêng tư hay trước công chúng, hay những nói chuyện trước công chúng. Trong chừng mực nào đó, nó sẽ là một năm yên lặng. Vì vậy, tôi sẽ không đến Ấn độ mùa đông này.”

 Sự ẩn dật của anh là tuyệt đối. Không những gặp gỡ, không những phỏng vấn. Chính từ Rajagopal mà chúng tôi đã nghe Krishnaji đang quan sát sự yên lặng hoàn toàn. Từ tháng tám năm 1950 đến tháng mười hai năm 1951, sự tiếp xúc với Ấn độ của Krishnaji chấm dứt. Sau đó, khi được hỏi điều gì anh đã làm trong suốt thời kỳ đó, Krishnaji trở nên mơ màng. Thân thể bị mệt mỏi, phía bên trong anh bị vắt cạn, có lẽ vài tạp nhiễm ô uế, dù tinh tế đến chừng nào, vẫn còn tác động nhè nhẹ trên sự minh bạch trong suốt của ý thức anh. Và vì vậy, trong duy trì truyền thống huyền bí, anh tự rút lui vào chính mình.

 Vào đầu mùa xuân năm 1950, tin tức của việc bác bỏ đơn kiện của Nandini liên quan đến việc ly thân và quyền chăm sóc con cái đã bùng nổ trong báo chíẤn độ. Ngay cả tờ tuần báo Time ở Mỹ đã in một đoạn văn có đầu đề, “Revolt of the Doormat.” Sự phản kháng của những người bị chà đạp. Nó nói về Krishnaji như Đấng Cứu thế và trích dẫn những nói chuyện của Krishnaji, trong đó anh nói đầy đam mê về vị trí của những người phụ nữ Ấn độ, rằng họ bị đối xử như những miếng thảm chùi chân ở trước cửa. Nó cũng liên kết tên của Krishnamurti với sự đòi hỏi của Nandini để được ly thân người chồng của em. Rajagopal điện tín cho tôi để tìm hiểu liệu tin tức đã xuất hiện trên tờ Timechính xác. Chúng tôi trả lời, đưa ra những chi tiết và bày tỏ sự lo ngại nghiêm trọng vì tên của Krishnamurti đã được đề cập. Khi anh trở lại sau đó vào năm 1950, Krishnaji đối diện một cơn bão. Rosalind và Rajagopal không ngớt chất vấn anh về việc gì đã xảy ra ở Ấn độ. Những lá thư từ những bạn bè của Rajagopal ở Ấn độ đã nói về “những người bạn mới” của Krishnaji. Rosalind và Rajagopal rất tức giận và lo lắngquả quyết phải biết nhiều thêm nữa về những người này. Krishnaji vẫn giữ vẻ mập mờ.

 Những vấn đề cá nhân của Rosalind và Rajagopal đang sâu sắc thêm. Hôn nhân của họ ở tình trạng căng thẳng. Sự yên lặng và không tham gia của anh đã tách anh khỏi trung tâm của cơn bão.

 Nhưng Rosalind và Rajagopal đã đoàn kết lại trong quan tâm của họ về Krishnamurti mới mẻ đang trổi dậy. Hiểu rõ được bản chất nhạy cảm, nhút nhát và cá tánh thụ động của anh. Chẳng mấy chốc Rosalind và Rajagopal nhận biết được sự thay đổi trong anh. Họ chối từ chấp nhận rằng anh đã được tự do khỏi họ. Phản ứng của Krishnaji là trở nên thụ động và yên lặng nhiều hơn, và rút sâu vào bên trong anh.

 Tuy nhiên, nó đang trở nên rõ ràng cho họ rằng sự ảnh hưởng mạnh mẽ ở Ấn độ, những người anh đã gặp gỡ, sự tự do mà đã phá vỡ tất cả những kiềm hãm được áp đặt vào anh, đã giới thiệu những yếu tố hoàn toàn mới mẻ trong thái độ của anh đối với con người và những hoàn cảnh. Bởi vì lần đầu tiên anh có những người bạn ở Ấn độ, không liên quan gì đến những quan hệ cũ kỹ của anh. Những người này, mà không có những đòi hỏi nào nơi anh, nhận biết được sự bao la của thiêng liêng thể hiện qua anh. Họ thấy anh bằng đôi mắt trong sáng, không gánh nặng, và mang đến anh một liên hệ của tôn trọng, tình cảm, và thân thiện thăm thẳm.

 Krishnaji quay lại Ấn độ mùa đông năm 1951, sau khi vắng mặt gần mười tám tháng. Rajagopal theo cùng anh. Nhiều người bạn Krishnaji đã có được trong những năm trước tụ họp thật đông để gặp anh ở Bombay. Krishnaji vào phòng, chào hỏi chúng tôi rất trang trọng, cầm tay chúng tôi, nhưng không nói một lời nào. Anh vẫn còn đang duy trì sự yên lặng tuyệt đối. Rajagopal trông rất bất an. Lần đầu tiên chúng tôi gặp anh ấy, và cả anh ấy lẫn chúng tôi đều thận trọng.

 Krishnaji không phá vỡ sự yên lặng của anh ở Bombay, và tiếp tục cho đến Madras, nơi anh sẽ có mười hai nói chuyện giữa ngày 5 tháng giêng và ngày 12 tháng hai. Nandini và tôi đi đến Madras và ở Vasant Vihar. Chúng tôi đang sống trong không gian đã được tạo ra bằng cách sử dụng những cái tủ như những bức vách ngăn hành lang; chúng tôi dùng chung phòng tắm với Madhavachari và ăn riêng không cùng với Krishnaji, anh ăn một mình trong phòng.

 Rajagopal đã kiềm chế được nhiều. Sự liên hệ với Madhavachari của anh ấy cũng đang từ từ trở nên rõ ràng. Rajagopal đối xử thân thiện với Madhavachari, nhưng không tiết lộ điều gì anh ấy có trong cái trí. Madhavachari rất kính trọng, gọi anh ấy là Mr. Rajagopal, thâu nhận những hướng dẫn của anh ấy, và thực hiện những mong muốn của anh ấy. Rajagopal đang ở tại Leadbeater Chambers, bởi vì tầng trên của Vasant Vihar đã được cho thuê và không có phòng nào phù hợp.

 Krishnaji trở nên mơ hồ khi được hỏi về lý do cho một năm yên lặng của anh, nhưng kể cho Nandini và tôi về Rajagopal. Anh cố gắng thuyết phục chúng tôi hiểu rõ về việc Rajagopal đã hy sinh cho anh như thế nào. Krishnaji rất hối tiếc, lo ngại rằng chúng tôi không trở thành những người bạn với Rajagopal; chẳng mấy chốc, sau bữa ăn tối một gặp gỡ được sắp xếp, và chúng tôi đi đến Leadbeater để gặp anh ấy.

 Rajagopal rất lịch sự; nhưng hai mắt của anh ấy, lún vào trong những hốc mắt sâu trong khuôn mặt u ám, ảm đạm, nhìn chúng tôi chằm chằm, đang cố gắng đọc được những sắc thái của ý nghĩa mỗi từ ngữ chúng tôi nói. Anh ấy ngờ vựcdò hỏi, và người ta cần một cái trí tỉnh táocảnh giác khi trả lời những câu hỏi có vẻ vô thưởng vô phạt của anh ấy. Dường như anh ấy đang cố gắng nắm bắt những không tỉnh táo của chúng tôi. Anh ấy gợi ý rằng, Krishnaji không thể trông cậy được bởi vì anh luôn luôn đang thay đổi cái trí của anh. Rajagopal đã nghe từ Velu, một người hầu đã chăm sóc Krishnaji ở Sedgemoor, điều gì đã xảy ra tại Ootacamund. Vì vậy Rajagopal đã chất vấn chúng tôi trên bốn tiếng đồng hồ, muốn biết mọi chi tiết về điều gì đã xảy ra. Nó là một trải nghiệm gay go và cả chúng tôi lẫn anh ấy đều bị kiệt sức khi sự chất vấn kết thúc.

 Về sau chúng tôi sẽ khám phá một khía cạnh khác của Rajagopal. Anh ấy có vẻ chú ý nhiều đến chúng tôi. Anh ấy nồng nhiệt và biểu lộ sự trìu mến với chúng tôichúng tôi trở thành những người bạn. Những năm sau, anh ấy sẽ nói với Nandini rằng thật đáng tiếc khi họ gặp nhau dưới cái bóng của Krishnaji. Anh ấy có một cái trí sâu sắc và thông minh cực kỳ của miền Nam Ấn độ. Nhạy cảm với sự vô trật tựdơ bẩn thuộc bất kỳ loại nào, mặc sạch sẽ trong một pyjamakurta trắng tinh được hồ cứng, anh ấy nói và chuyển động bằng sự đứng đắn thanh lịch.

 Krishnaji và Rajagopal sẽ đi đến Châu âu và Mỹ trước mùa xuân năm 1952.

 Tháng bảy năm 1952, thân thể của Nandini, mà đã chịu đựng sự căng thẳng của năm năm bị nhục nhã và sự đau khổ phải xa cách con cái, bị kiệt sức. Em phải chịu áp lực từ nhiều phía: thái độ độc đoán của người chồng cũ khi Nandini được phép gặp con cái; thái độ không bằng lòng của những người lớn tuổi quanh Krishnaji. Em bị bệnh nguy kịch bởi ca ung thư cổ tử cung phát triển nhanh và phải được chuyển sang Anh để giải phẫu khẩn cấp.

 Tôi gửi một điện tín đến Krishnaji báo về tin tức đó. Không thư trả lời. Như thể là anh đã biến mất, và tất cả mọi liên hệ với chúng tôi ở mức độ phía bên ngoài đã chấm dứt. Tuy nhiên, sự hiện diện yên lặng của anh có thể cảm thấy được suốt những thời điểm bị rắc rối của chúng tôi, và cùng nó có một sức mạnh vô biênnăng lực để đối diện với tai họa.

 Ở London, Nandini được cho biết về căn bệnh ung thư tàn phá mà đang hủy hoại thân thể của em. Phải đối diện với cái chết chắc chắn xảy ra, em nhận tin tức này bằng sự yên lặng thăm thẳm. Em kể cho tôi rằng, trong những khoảnh khắc nào đó, bộ não của em trở nên hoàn toàn bất động và được tự do khỏi tất cả suy nghĩcảm giác. Suốt thời gian chờ giải phẫu trong một căn phòng ở khách sạn, nơi em đã trải qua một ca xuất huyết nặng, chẳng có bao nhiêu suy nghĩ – không-sợ hãi, không-lo âu, không-quan tâm đến ngày mai. Ngày hôm trước giải phẫu, qua điện thoại em nói chuyện với con cái ở Bombay bằng sự dịu dàngquan tâm về hạnh phúc của chúng.

 Sau đó, em kể cho tôi rằng khi em ở trong trạng thái bị gây mê em nghe âm thanh của tiếng cười vang rền, mà tiếp tục suốt ca giải phẫu. Không bị ngăn cản khỏi ý thức. Em biết điều gì đang xảy ra. Em thấy mình đang đi bộ trong những cánh đồng cỏ xanh mướt, những cơn gió dìu dịu, đang vờn vờn em, và âm thanh của những tiếng chim hót phủ kín hai tai em. Em cảm thấy một hiện diện bảo vệ vây quanh và ôm ấp em. Sự bảo vệ không phải để giữ gìn cho em sống, nhưng ở cùng em trong chết hay sống. Sự bảo vệ, sự hiện diện, ở trong con dao của người bác sĩ giải phẫu.

 Tôi ở cùng em ngày hôm sau, khi em được báo cho biết rằng bác sĩ giải phẫu cho em đã bị đột quỵ và mất hết khả năng. Trong hai ngày em không có sự chăm sóc về y tế. Sau giải phẫu, bất kỳ nơi nào em quay mặt, sự bảo vệ ở đó – bên trái của em, bên phải, trên và dưới, em cảm thấy sự tiếp xúc của nó. Một vài ngày sau giải phẫu, em ngồi thẳng trên giường, chân kiết già, và hơi thở của yên lặng đi vào em. Có một ngày người bác sĩ phụ tá trẻ bất ngờ vào phòng. Thấy em, anh ấy hỏi, “Cô là một yogi à?”

 Giống như một con suối ngầm có nước chảy trong xanh, không trông thấy được tuy nhiên lại tràn đầy sức sống, những năm tháng của Nandini đã trôi qua. Sống cùng người mẹ trong những năm 1950, em bất ngờ tìm được hai bé gái mồ côi nhỏ xíu của vùng lân cận. Cơ cực, chúng sống với một bà cô xa, nhưng lang thang suốt ngày ngoài đường phố. Bị tước đoạt khỏi con cái riêng của mình, Nandini đã nhận nuôi hai bé gái và bắt đầu một trường chơi đùa nhỏ cho chúng và cho những trẻ em nghèo khổ khác ở vùng lân cận. Sau đó, trường này chuyển đến hai garage gần bên. Chẳng mấy chốc trẻ em những vùng chung quanh bắt đầu tràn vào – ngày nay có 150 đứa trẻ. Những giáo viên và những người giúp đỡ cùng đến. Ngôi trường, Bal Anand, cung cấp cho những trẻ em đường phố một không gian sáng tạo trong một vùng đất trái ngược hẳn được xây dựng bằng bê tông buồn thảm. Sống một mình trong nhiều năm, Nandini đã là điểm nút yên lặng của trường. Những đứa trẻ ngồi quanh em nói chuyện, giỡn cợt, và vui đùa. Chúng được dạy nhạc, múa, đan, vẽ, ngôn ngữ, kịch, khoa học, và chút ít số học. Sau hai mươi năm, Bal Anand đã trở thành bộ phận của Krishnamurti Foundation, Ấn độ, và Nandini đã trở thành một thành viên của tổ chức. Bởi vì con cái của em đã trưởng thành, chúng đã quay lại với em, tuôn tràn tình thương và sự bảo vệ.

 Nandini vẫn còn là một trong những người bạn thân của Krishnaji, theo cùng anh đến một số trung tâm khi anh ở Ấn độtiếp tục thư từ khi anh không ở đây. Tóc của em đã bạc. Em vẫn giữ vẻ yếu đuối, đẹp, vô danh.

 Như một phần trong chương trìnhẤn độ của anh, người ta quyết định rằng Krishnaji và Rajagopal sẽ tham gia một bàn luận nhóm ở Poona mùa đông năm 1952. Rao Sahib Patwardhan đã sắp xếp một gặp gỡ của những bạn bè của ông tại Vithal Wadi, nơi Achyut đang sống trong một ngôi nhà vùng quê nhỏ lẫn trong những quả đồi có rừng, sau khi anh chia tay Đảng Xã hội năm 1950.

 Những người tụ họp tại Vithal Wadi cho những bàn luận xuất thân từ những nền quá khứ khác nhau. Giáo sư Dhopeshwarkar dạy triết học tại Poona Univesity. S. M. Joshi là một người Brahmin Chitpavan khổ hạnh, chính trực, một người Xã hội và một thành viên hoạt động của Sarva Seva Sangh. Anh ấy và Rao Sahib Patwardhan là những người bạn thân và đã tham gia nhiều trại làm việc với những hội viên tự nguyện của Sarva Seva Sangh. Mangesh Padgounkar, một thi sĩ, là một trong những người tham dự, cùng Durga Bhagwat. Durga Bhagwat, một người viết văn và nhân loại học đã làm việc với Verrier Elwin ở Madhya Pradesh, là một phụ nữ gầy và lùn có một khuôn mặt xương xẩu. Cứng rắn cả phần thân thể lẫn tinh thần, bà không lập gia đình, có năng lượng vô hạn, và cảm thấy mãnh liệt về những vấn đề nghèo khổẤn độ. Bà tận tụy làm việc giúp Rao Sahib. Madhavachari từ Madras đến tham gia những bàn luận, cùng Padmabai và Sanjeeva Rao. Pandit Iqbal Narain Gurtu từ Varanasi và L. V. Bhave từ Thana. Tôi là một phụ nữ thứ hai có mặt.

 Rao Patwardhan chấp thuận tôi, và qua hai năm anh ấy đã trở thành một người bạn thân. Một cách cuốn hút và sâu thẳm, bản chất khắc khổ của anh ấy đã đáp ứng nền quá khứ và những thái độ hoàn toàn trái ngược của tôi. Chúng tôi bàn luận về vẻ đẹp, nghệ thuật, cái trí phương Tây, và những sáng tạo huyền ảo của Ấn độ. Lần đầu tiên, tôi đã thiết lập một tiếp xúc mật thiết với một người trí năng Brahmin truyền thống, một cách sống không liên quan gì đến những năm đầu đời của tôi như người con gái của một công chức hay đối với cuộc sống tôi theo đuổi trong môi trường xã hội của Bombay.

 Sunanda, người trước đó đã kết hôn với Pama, một trong những người em của Rao Sahib và Achyut, được nhận xét bởi Rao Sahib, tộc trưởng, là không đủ chín chắn và không được mời tham dự hội thảo. Nandini cũng không được mời. Vẻ đẹp kinh ngạc, tánh đơn giản, và chất lượng trẻ con của em được kết hợp với sự kiện rằng em đã kết hôn trong một gia đình giàu có, khiến cho Rao rất khó khăn để chấp nhận sự kiện rằng em nghiêm túc. Sumanda đã được yêu cầu bởi Rao để chăm lo những sắp xếp cho ăn uống và những nhu cầu khác của Krishnaji. Sống rất thanh đạm, những căn phòng nhỏ xíu; chẳng có bao nhiêu thú vị.

 Krishnaji, nhận biết được sự đau khổ của Sunanda khi không được tham gia bàn luận nhóm, biểu lộ nhiều thông cảm. Anh nói chuyện nhiều với em ấy và cùng em ấy dạo bộ trong rừng. Thái độ của anh đối với em ấy giống như đối với một người con gái ruột thịt yêu quý của anh. Rajagopal rất thận trọng, cảnh giác, nôn nóng. Người ta có thể nghe được giọng nói của Rajagopal sang sảng trong tranh luận sôi nổi trong căn phòng của Krishnaji. Giọng nói của Krishnaji không bao giờ được nghe rõ.

 Những bàn luận tiếp tục trên một tuần lễ. Mỗi buổi sáng và buổi chiều chúng tôi tập họp tại Vithal Wadi. Krishnaji đang đối diện với những cái trí ương ngạnh bám rễ và cố thủ trong những nguyên tắc về phục vụ xã hội của chủ nghĩa Marx. Bàn luận luôn luôn chạm đến chủ đề nghèo khổ và nhu cầu cho hành động xã hội. Điều này có thể hiểu được trong một quốc gia nghèo khổ cực kỳ như thế. Nhưng những cái trí đã thâu lượm hiểu biết thuộc trí năng cũng dư thừa thông minh để nhận ra rằng tại một mấu chốt nào đó sự tiếp cận theo hướng của họ bị ngăn cản bởi những xung đột, những thôi thúc, và những nghèo khó bên trong riêng của họ. Dần dần, bằng sự kiên nhẫn vô hạn, Krishnaji dò dẫm vào bản chất của cái trí, hành động xã hội, suy nghĩ và người suy nghĩ, và sự yên lặng. Anh nói với những người Xã hội rằng vấn đề của lương thực, chỗ ở, và quần áo không bao giờ có thể giải quyết được tại những mức độ thuộc học thuyết. Nó chỉ có thể kết thúc khi những nhu cầu không được sử dụng cho những mục đích thuộc tâm lý, nhưng giải quyết trên mức độ cần thiết riêng của nó. Mặc dù những người Xã hội cứng đầu vẫn còn bị trói buộc vào những chỗ ẩn núp của họ, họ không còn cảm thấy an toàn trong những vị trí của họ nữa.

 Vào cuối tuần chúng tôi đi theo những phương cách riêng của chúng tôi. Trong nhóm người đã tập họp lại, tất cả đều có thái độ thụ động buông trôi ngoại trừ Patwardhans, Friedman, tôi, và những người bạn cũ của Krishnaji đã theo cùng anh từ những ngày ở Tổ chức Thông thái. Sự kiện rằng những bàn luận có một tác động vào những cái trí ương ngạnh của những người Xã hội và những người học thức là điều hiển nhiên. Giáo sư Dhopeshwarkar đã viết nhiều quyển sách về những lời giảng của Krishnaji. Nhiều năm sau, S. M. Joshi sẽ nói với tôi rằng những người Xã hộiẤn độ từ năm 1934 bị chi phối bởi sự suy nghĩ của phương Tây và những lý luận biện chứng của nó. Marx trở thành điểm trọng tâm từ đó tất cả những suy nghĩ Xã hội tỏa ra. Họ không thể thấy rằng khi áp dụng vào những điều kiện của Ấn độ, vị trí của Marx thiếu một nền tảng quan trọng. Chủ nghĩa Marx phương Tây không có vị trí cho chủ nghĩa nhân đạo. S. M. Joshi nói sự quan tâm đến chủ nghĩa xã hội của anh ấy đã luôn luôn kèm theo liệu rằng con người có thể phát triển trọn vẹn. Vì vậy có một yếu tố đạo đức được kết hợp vào quan điểm của Xã hội. Năm 1948, những người Xã hội bị hoang mang và ở trong một trạng thái tiến thối lưỡng nan. Họ thấy rằng những mục đích biện minh cho những phương tiện trong tư tưởng của Marx. Điều này không thể hoàn toàn được chấp nhận đối với S. M. Joshi. Trong khi ở tù, giữa năm 1944 và 1945, trong chốc lát có lẽ anh ấy đã cảm thấy rằng những kết thúcbiện minh cho những phương tiện; nhưng điều này không làm thỏa mãn anh ấy và anh ấy rất bị hoang mang. Những bàn luận cùng Krishnaji của anh ấy có một ảnh hưởng giải thoát vào anh ấy. Anh ấy nói, chúng “đã giúp đỡ làm minh bạch thái độ của tôi đối với sự bất công – giúp đỡ tôi đối diện với sự hoang mang và thắng thế nó bằng sự minh bạch.”

 Trong khi tôi ở Poona để tham gia những bàn luận tại Vithal Wadi, tôi phát giác chính mình đang nhìn ngắm bằng sự chú ý liên tục. Tôi đang nhìn ngắm chuyển động của suy nghĩcảm giác khi chúng nảy sinh bên trong tôi. Tôi cũng nhìn ngắm việc gì ở phía bên ngoài của tôi – những khuôn mặt của mọi người, một chiếc lá, một viên đá. Khi đang dạo bộ một mình trong cánh rừng quanh Vithal Wadi, bỗng nhiên tôi phát giác chính mình đang chạy. Nó là một buổi chiều bất động. Tiếng hót của một con chim chồng lên những tiếng hót của những con chim khác; tiếng vo ve của những con muỗi và tiếng gáy của những con dế, một tiếng nói xa xa, âm thanh của những nhịp tim đập của tôi xuyên thủng vào tôi, trong khi mùi hương nồng của hoa xoan, hoa tulsi, và vô số hoa nhài quét qua tôi như một cơn gió mạnh. Tôi trôi nổi trong một đại dương của màu sắc đang bùng nổ. Màu xanh sinh động của chiếc lá cây đa, màu xanh tươi sáng của cây sung, màu xanh chớm hồng của nụ xoài, màu xanh ửng nhạt của một chồi xương rồng, trở thành một cùng âm thanh; lấp kín hai lỗ mũi của tôi, hai tai của tôi, hai mắt của tôi, miệng của tôi. Tôi phát giác rằng tôi đang đứng trước một bụi xương rồng và đang khóc sụt sùi, không đủ sức gánh vác hay chứa đựng sinh lực của một buổi chiều mùa xuân đó. Sự phong phú của vẻ đẹp, đậm đặc như mật ong, nằm trong hai mắt và hai tai của tôi trong nhiều ngày. Trong đang thấy, vẻ đẹp đã thức dậy; cái gì được thấy không quan trọng. Sự mãnh liệt tan biến từ từ khi ngày qua ngày, nhưng vẻ đẹp đang đảm đương những lối ra vào của giác quan, đã sinh ra một nhận biết mà hiếm khi nào từ bỏ hai mắt của tôi.

 Từ Vithal Wadi ở Poona, Krishnaji và Rajagopal đi đến Rishi Valley. Ngôi trường đã mở cửa lại với Pearce, một người giáo dục và thuộc Tổ chức Thông thái cũ, đảm trách vị trí hiệu trưởng. Ông đã tập họp được một nhóm những giáo viên trẻ tuổi nhiệt huyết quanh ông. Rishi Valley nằm tại vành đai nghèo khổ của Rayalaseema ở Andhra Pradesh. Miếng đất rất cằn cỗi. Miss Payne đã đào những cái giếng, nhưng cây cối vẫn còn phải được trồng – hàng ngàn cây cối trong nhiều năm đã biến thung lũng này thành một ốc đảo xanh tươi từ miếng đất cằn cỗi. Những quả đồi chung quanh được hình thành từ đá và đá láng có kích cỡ to lớn. Bị xé nát và tạo thành gồ ghề bởi gió và thời gian, chúng đã có được hình dáng như điêu khắc; những đá láng khổng lồ được thăng bằng một cách chòng chành trên những tảng đá, một trong số những tảng đá cổ xưa nhất trong thế giới. Những màu sắc của bình minh và hoàng hôn trên thung lũng là những tấm thảm của màu cà sa và màu tím của thạch anh; không khí trong xanh và không bụi bặm. Bất kể sự cằn cỗi của đất đai và dân

 

 

 

số thưa thớt, vùng đất này trải dài từ Anantpur ở một đầu và Tirupati ở đầu còn lại và được điểm tô bởi những điện thờ siddhas.[1] Madanapalle cách ngôi trường hai mươi cây số.

 Tại trung tâm của Rishi Valley là một cây bồ đề rất lâu năm, giống như một ngôi đền; những rễ của nó đã hình thành những cái cột, những cành cây của nó là nơi ẩn náu của những chú khỉ, và những con rắn hổ mang trú ngụ trong những cái hố tại chân của nó. Một sân khấu đã được dựng lên quanh cái cây, nơi trẻ em nhảy múa giữa nhiều thân cây và núp trong những cái hố. Chẳng có bao nhiêu chim chóc, bởi vì cây cối dùng để thu hút chúng vẫn chưa được trồng.

 Chỉ có ba mươi trẻ em theo học tại trường, nhưng những vấn đề của trường đó lại quá nhiều. Những giáo viên tổ chức những bàn luận lâu về vai trò của uy quyền, tự dotrật tự. Không giải pháp nào có thể chấp nhận được, bởi vì những vấn đề đang sống, đang chuyển động trong dòng chảy; và những quan sát của những người tham gia phải chuyển động, chất vấn, theo dõi – với cùng sự mau lẹ như vấn đề và nhiều sắc thái của nó. Trong khi đó, những báo cáo đã đến Krishnaji về những xung đột đang nảy ra ở Rajghat, và anh gửi một điện tín cho Achyut tại Vithal Wadi, yêu cầu anh ấy đến Rishi Valley để gặp anh.

 Achyut hồi âm mau lẹ đến điện tín của Krishnaji và đến Rishi Valley. Dắt anh ấy qua một phía, Krishnaji đề nghị với Achyut rằng anh ấy nên làm việc tại Rajghat ở Varanasi. Mảnh đất bên kia sông đang nằm yên không được sử dụng. Mặc dù đã tìm được những thông tin để bắt đầu vài đề án về nghiên cứu nông nghiệp, sự thiếu thốn công nhân đã khiến cho những mảnh đất vẫn còn chưa được canh tác. Sanjeeva Rao và Pandit Iqbal Narain Gurtu, cả hai đều là những người kết giao thân thiết của Mrs. Besant, người đã rời Tổ chức Thông thái cùng Krishnaji, đã điều hành Rishi Valley Trust từ khởi đầu của nó. Họ đang già nua và một người mới được cần đến. Krishnaji bảo với Achyut rằng anh ấy sẽ phải làm nhiều việc, những học viện sẽ phải được xây dựng, đất đai phải được cứu thoát. Nhưng đó không là và không nên là lý do cho Achyut đi đến Rajghat.

 Cái trí của Achyut, Krishnaji nói, bị tắc nghẽn bởi hội chứng về công việc xã hội. Nó ở trong máu huyết của anh ấy.

 “Lấy nó ra khỏi máu huyết của bạn. Chuyển động sâu thẳm của sự thay đổi phải xảy ra tại trung tâm. Nếu trung tâm không thay đổi, tất cả công việc xã hội đều vô ích. Không bao giờ mất đi tầm nhìn này, trong khi bạn ở tại Rajghat. Đừng để công việc chôn vùi bạn và làm tối tăm chức năng cơ bản của bạn, mà là thay đổi tổng thể tại trung tâm. Một trạng thái cảnh giác của cái trí phải hiện diện ở đó.”

 Achyut đồng ý đi. Những từ ngữ của Krishnaji đã thấm sâu. Anh ấy thấy sự vô hạn của Krishnaji như một người thầy; nhưng đối với Achyut, cùng nền quá khứ Xã hội của anh, lời giảng của Krishnaji có thể chỉ dành cho một ít người. Anh ấy cảm thấy rằng sự hiện diện của Krishnaji phải ngấm vào mảnh đất Rajghat. Nó là mảnh đất thiêng liêng – Buddha đã đi trên đó. Krishnaji đã đứng và nhìn ngắm bình minh trên khúc quanh của con sông, vị trí thiêng liêng nơi sông Ganga bắt đầu chuyến hành trình về hướng bắc – quay trở lại nguồn của nó. Thiêng liêng này, cái nằm sau từ ngữ của Krishnaji, từ bi chan chứa này, phải được chuyển tải không từ ngữ sang người dân làng, người chài lưới, người dệt vải, người nông dân canh tác trên mảnh đất thiêng liêng của con sông Ganga. Cái trí có giáo dục về chính trị của Achyut thấy rằng nếu không có cái này, không thể có sự ổn định ở Rajghat và không công việc với lời giảng có thể xảy ra được. Nền quá khứđời sống chính trị của Achyut là một huyền thoại. Được chuẩn bị đấu tranh cho sự tự do qua việc sử dụng bạo lực, anh ấy đã trải qua tất cả hành động cách mạng phía bên ngoài lẫn bên trong. Tên của anh ấy được vang dội bởi sự đam mê và ngọn lửa của sự đấu tranh cho tự do. Và lúc này vira, người chiến binh, trong tinh thần đã khoác vào chiếc áo cà sa – một thay đổi hoàn toàn của những vai tròkích thích sự suy nghĩ của Pandit Jawaharlal Nehru, và nhiều đồng chí Xã hội của anh. Không thể có một vật liệu tốt lành hơn Achyut để làm việc trong những ngôi làng của Ấn độ.

 Achyut đi đến Rajghat. Từ khoảnh khắc đầu tiên, anh ấy hoàn toàn không hài lòng với ngôi trường tầm thường dành cho trẻ em giai cấp trung lưu được điều hành bởi Trust; và thế là anh quyết định làm việc để thành lập một bệnh viện nông thôn dùng phục vụ những nhu cầu của những ngôi làng ở vùng chung quanh. Đây là phản ứng xã hội đầu tiên của Achyut đối với sự xây dựng một trung tâm tôn giáo. Anh ấy bảo với tôi rằng “nó là một cử chỉ thân thiện khi đáp ứng không điều kiện cho những người nghèo khổthiếu thốn.” Sau đó, Dr. Kalle, một F.R.C.S.[2], một viện sĩ thuộc viện giải phẫu của hoàng gia nước Anh và một người có nhiều từ bi, tham gia cùng Achyut để làm việc trong bệnh viện.

 Achyut, giống như tất cả những người Ấn độ, có một tình yêu mãnh liệt của đất đai. Đối với anh, đất là mẹ. Thế là bây giờ cái trí của anh hướng về mảnh đất. Đất của sông Ganga màu mỡ, hoa màu lại kém cỏi. Những hẻm núi và không có sự chăm sóc đang làm cằn cỗi mảnh đất màu mỡ. Nó đã bị bỏ bê và bóc lột. Anh ấy lên kế hoạch xây dựng trường nông nghiệp cho những người con trai của nông dân – Sir V. T. Krishnamachari, phó chủ tịch của ủy ban kế hoạch, ưng ý sự tiếp cận của Achyut. Chẳng mấy chốc trường nông nghiệp bên kia sông Vanura hiện diện, mảnh đất được làm đường vòng quanh đồi núi, những cái giếng được đào. Ở đó Achyut sống trong một căn nhà nhỏ, không điện và phương tiện vệ sinh nguyên thủy. Người bạn đồng hành chính của anh ấy là Dr. Kalle, người cũng sống trong một căn nhà nhỏ đối diện nhà của Achyut. Chính là Dr. Kalle, cùng sự ủng hộ của Achyut, sẽ thành lập trung tâm y tế và bệnh viện cho những người nghèo sống nơi những ngôi làng quanh Rajghat.

 Đối với Achyut, bắt đầu trường nông nghiệp là một hành động tượng trưng, mang chứng cớ rằng mảnh đất, mảnh đất cổ xưa thiêng liêng, con sông, chu kỳ bốn mùa, đang sống, tánh thiêng liêng đang tự hồi sinh. Kasi, thành phố thiêng liêng nhất và cổ xưa nhất trong những thành phố ở Ấn độ, là mảnh đất trong đó hạt giống của cái mới mẻ nằm ngủ im lìm. Nó đã chờ đợi sự xuất hiện của Người Thầy trong hàng thế kỷ. Tiếng nói của Krishnamurti được nghe lại, và hạt giống đang ngủ im lìm thức dậy.

 Khoảng thời gian này Dr. Ram Dhar Misra, một người toán học khoa trưởng khoa toán của Lucknow University, sẽ tham gia cùng Achyut trong công việc của anh ấy. Ram Dhar Misra là một cử nhân, và đã quyết định từ bỏ nghề nghiệp của anh ấy để trở thành một thầy tu Phật giáo. Anh ấy đã gặp Achyut, nghe về những lời giảng của Krishnamurti, từ bỏ quyết định khoác vào chiếc áo cà sa, và đến Rajghat. Anh ấy chia sẻ căn nhà nhỏ cùng Achyut. Và khi Dr. Kalle bắt đầu bệnh viện, Dr. Misra làm trợ tá, lau chùi những vết thương, băng bó những bệnh nhân. Không công việc nào hèn hạ; bằng mọi phương cách, nhiệm vụ của anh ấy là làm cho bệnh viện nông thôn có thể vận hành được. Mộc mạc, uyên bác trong toán học và trong những quyển sách thiêng liêng của Ấn độ, anh ấy có một đồng cảm gần gũi cùng những sự vật tăng trưởng – cây cối, những bụi cây, hay đám cỏ đang nở hoa. Anh ấy rất khó tính về thức ăn và thường mời bạn bè dùng một bữa điểm tâm của Varanasi gồm có jalebis (mứt si rô thơm ngát), kachoris (bánh bột mì nhồi rau thơm), và đậu tươi ngon, mà anh ấy nấu rất khéo.

 Khoảng thời gian này Vinoba Bhave, một trong những người trợ lý được tin cậy nhất của Gandhiji, đã bắt đầu phong trào Bhoodan của anh ấy. Anh ấy đã bắt đầu pada yatras, một hành hương, đi bộ từ làng này qua làng khác, xin những người chủ đất quà tặng đất đai cho những người nghèo khổ và những người không có đất canh tác. Phong trào phù hợp những đặc điểm của Ấn độ, nơi cách cư xử hào hiệp, hành động của thần thánh, hy sinh, và những thái độ đạo đức được đan dệt vững chắc trên khung cửi của truyền thống và hành động xã hội.

 Vô số những người trẻ, bị đảo lộn bởi sự ám sát Gandhiji và không biết quay về đâu, theo sau Vinoba Bhave. “Sarva bhoomi gopal ki, tất cả đất đai đều thuộc về Thượng đế,” những môn đệ của anh ấy hát lên. Vinobaji, một người khổ hạnh có râu quai nón, gầy dơ xương, hốc hác đi bộ theo những con đường đầy bụi bặm của làng mạc Ấn độ, ăn đạm bạc, không đòi hỏi bất kỳ thứ gì cho anh ấy. Chỉ ở Ấn độ mới có thể nhìn khi người ta hài lòng, mà không có ý thức của cái tôi. Thật ra, cách cư xử khác thường được hiểu là hòa hợp với chất lượng của thần thánh. Trong một khoảng thời gian, phong trào Bhoodan bùng nổẤn độ. Ảnh hưởng lan tràn dần dần được cảm thấy khắp mọi nơi. Những bộ trưởng chính và những người trí thức, những người nghèo khổ và những người giàu có, đi bộ rất xa xôi, cùng vị thánh của Paunar, một ngôi làng ở Maharashtra nơi Vinobaji có ashram của anh ấy. Rao Sahib và Achyut Patwardhan bị tác động rất nhiều bởi phong trào Bhoodan. Họ cảm thấy rằng Vinoba đang giới thiệu một cách mạng mới, thái độ không bạo lực đối với sự nghèo khổ. Từ những ngày xa xưa nhất những ngôi làng của Ấn độ đã trao tặng sự hào phóng của chúng, sức lao động của chúng, và những khả năng tinh xảo của chúng cho những người cư ngụ của thành phố. Achyut cảm thấy qui trình này phải được đảo ngược.

 Qua công việc của Achyut tại Rajghat, trong một ý nghĩa nào đó, anh ấy đang bắc nhịp cầu giữa ảnh hưởng những lời giảng của Krishnaji đối với những phản ứng bị quy định riêng thuộc nền quá khứ Xã hội của anh ấy và ảnh hưởng tức khắc của Vinoba Bhave.

 Krishnaji đi cùng Rajagopal đến Bombay đầu năm 1953. Họ ở với Ratansi Morarji trên Carmichael Road. Bầu không khí thương yêu của những ngày xa xưa đã không còn nữa. Krishnaji rút lui và dành nhiều thời gian trong phòng của anh, một mình. Hiếm khi nào nghe được tiếng cười của anh, nhưng giọng nói đang bị khích động và tức giận của Rajagopal lại thường được nghe thấy từ căn phòng của Krishnaji.

 Krishnaji đang thực hiện vô số những phỏng vấn, gặp gỡ những khất sĩ, những sinh viên học sinh, những người đàn ông và đàn bà chất đầy đau khổ và sự cô độc của tuổi già. Anh đang tổ chức những nói chuyện tại khuôn viên của J. J. School of Art; những nhóm bàn luận nhỏ đã bắt đầu, nhưng anh không còn đến và ngồi trong phòng khách mỗi buổi sáng và buổi chiều nữa. Những buổi hát Krishnmurti tham gia cũng kết thúc. Rajagopal có vẻ đang quyết định việc gì Krishnaji có thể làm hay không thể làm. Tại thời điểm đó, Rajagopal rất thân thiện với Jamnadas Dwarkadas, người, với tình yêu và sự thành tâm sâu kín về Krishnaji, phản ứng lại rất mạnh mẽ và tức giận bởi những lời nói bóng gió của Rajagopal. Jamnadas không bao giờ kể cho chúng tôi những gì Rajagopal đã nói nhưng ám chỉ rằng anh ấy đã buộc tội Krishnaji rất gay gắt. Rajagopal rất thân thiện với tôi, nhưng chúng tôi có những tranh luận lâu về những công việc xuất bản sách, những tổ chức, và sự ưa thích. Thỉnh thoảng chúng tôi bất đồng ghê lắm. Tôi không quen thuộc với những thái độ lén lút trong những học viện công chúng. Rajagopal hung hăng và chối từ trả lời những câu hỏi. Anh ấy muốn biết mọi thứ, nhưng lại không sẵn sàng để tiết lộ bất kỳ điều gì. Tôi nói với anh ấy rằng tôi không thể làm việc với anh ấy nếu vẫn còn có những tình trạng như thế.

 Tuy nhiên, những nói chuyện của Krishnaji lại không mang bất kỳ dấu vết nào của vũng xoáy đang quay cuồng tại nơi cư ngụ của Ratansi.

 Khoảng thời gian này xảy ra một biến cố sẽ phóng ra một mũi tên của nguyên nhâncuối cùng dẫn đến một tan vỡ hoàn toàn giữa Krishnaji và Rajagopal. Bị quấy rầy bởi Rajagopal, với những cãi cọ đang xảy ra hàng ngày, Krishnaji bị bắt buộc phải nói điều gì đó mà đã gây ảnh hưởng sự hòa hợp cá nhân của Krishnaji. Sau khi đã nói nó, Krishnaji nhận thức ra được toàn bộ những hàm ý của nó. Đó là lần duy nhất tôi thấy Krishnaji đau khổ vô cùng.

 Anh yêu cầu chúng tôi lái xe đưa anh đến bờ biển Worli. Chúng tôi dạo bộ dọc theo bãi biển; thủy triều đang lên và có gió mạnh. Trong những ngày đó bãi biển Worli bị bỏ hoang. Krishnaji đi trước chúng tôi thật xa, hoàn toàn yên lặng, cách biệt. Anh ngừng lại và chờ chúng tôi. Quay mặt về hướng chúng tôi, anh đứng yên một lúc, sau đó chắp hai tay trước ngực và nói, “Meaculpa.” “Lỗi lầm riêng của tôi.” Anh biết rằng chúng tôi đã hiểu. Sau đó, như thể từ thật xa, chúng tôi nghe tiếng nói của anh, “Những từ ngữ đã được nói ra, mũi tên đã tăng tốc độ, tôi không thể làm bất kỳ việc gì về nó. Nó sẽ tìm ra mục tiêu của nó.” Anh sẽ không bao giờ nhắc lại biến cố đó nữa.

 Trong suốt những ngày tiếp theo, những nói chuyện và những bàn luận ít người bắt đầu lại. Krishnaji nói về sự cần thiết phải được chú ý bất động trong bất kỳ trạng thái nào nảy ra tại một khoảnh khắc – hận thù, tức giận, tham lam, thương yêu, rộng lượng. “Liệu có thể,” anh hỏi, “là những trạng thái này một cách tuyệt đối mà không có bất kỳ chuyển động nào của cái trí rời khỏi nó, mà không có bất kỳ chuyển động nào hoặc thay đổi hoặc củng cố nó?”

 Krishnaji nói đặt ra những nghi vấn cơ bản là việc quan trọng nhất; chúng hiếm khi nào nảy ra một cách tự phát. Cái trí, quan tâm đến những nhỏ nhen, hiếm khi nào ngừng lại để đặt ra nghi vấn cơ bản. Và khi nó đặt ra, luôn luôn nó có đáp án dễ dàng nảy sinh từ điều gì nó đã trải nghiệm rồi.

 “Chúng ta đã được giáo dục để kiềm chế những cảm xúc mạnh, sự kháng cự cho chúng sức mạnh và chất dinh dưỡng. Liệu có thể nghi vấn, mà không có một chuyển động của cái trí? Liệu người ta có thể đặt ra nghi vấn cơ bản và thả nó trong ý thức – ở lại cùng nó – không cho phép sự chú ý lang thang khỏi nó? Nắm chặt nghi vấn đó hay vấn đề đó đến độ nó bắt đầu tự-bộc lộ những sắc màu tinh tế của nó, tự-phơi bày chính nó – trong ánh sáng của sự chú ý – đến độ, nở hoa trọn vẹn, có một kết thúc tuyệt đối?”

 Năm 1953, người cháu trai của Krishnamurti, G. Narayan đến Bombay thăm anh. Con trai người anh cả của Krishnaji, Narayan đã tốt nghiệp Cao học và là một luật sư. Krishnaji đưa anh ấy đến phòng của anh. Đó là buổi chiều và Krishnaji mở những cửa sổ phòng để cho mặt trời hoàng hôn vào trong phòng, sáng lên khuôn mặt của Krishnaji. Anh hỏi Narayan rằng anh ấy sẽ làm gì. Narayan do dự, và Krishnaji đề nghị anh ấy nên đi dạy học tại Rishi Valley. Narayan trả lời anh ấy sẽ suy nghĩ về nó. Đêm đó, Narayan kể với tôi rằng anh ấy cảm thấy toàn thân thể phủ đầy anh sáng xanh dịu, mát mẻan lành. Anh ấy đấu tranh và xua đuổi nó đi, nhưng nửa tiếng đồng hồ sau nó lại hiện diện ở đó. Narayan cảm thấy rằng trải nghiệm này đã xóa sạch tất cả những vấn đề của anh ấy. Anh ấy đi đến Rishi Valley, đầu tiên như một giáo viên và sau đó phó hiệu trưởng.

 Từ Rishi Valley, Nayaran đi Oxford để chuyển bằng Cao học của anh ấy trong tiêu chuẩn giáo dục. Sau một năm anh ấy về lại Rishi Valley, nhưng sau đó ra nước ngoài. Anh ấy dạy tại một trong những trường học của Rudolph Steiner trong nhiều năm. Mê say Phật giáo, anh ấy tiếp xúc nhiều với những người Phật giáo ở nước Anh. Đáp lại sự yêu cầu từ Krishnaji, anh ấy quay lại Ấn độ năm 1978 và nắm chức vụ hiệu trưởng của Rishi Valley School.

 Krishnaji đi đến Varanasi cùng Rajagopal cuối mùa đông năm 1953. Kitty và Shiva Rao đã đi Mỹ, và Krishnaji viết thư hỏi tôi liệu anh và Rajagopal có thể ở trong những căn phòng của chúng tôi ở Delhi Gymkhana Club, một trong những dấu vết còn lại của quá khứ thuộc địa ở Delhi. Krishnaji và Rajagopal ở đó một đêm trên đường đến Rajghat ở Varanasi, nơi Krishnaji sẽ có mười lăm nói chuyện cùng các em học sinh của Rajghat School.

 Những nói chuyện là một thách thức cho Krishnaji. Anh phải khám phá những từ ngữ trong đó anh có thể diễn tả về anh và được hiểu rõ bởi các trẻ em nói tiếng Anh ngắc ngứ. Những vấn đề phức tạp của uy quyền, sợ hãi, đau khổ, và chết đang được chuyển tải. Những khoảng ngừng của Krishnaji, sự mãnh liệt của chú ý, sự nhận biết vô hạn, sự trìu mến được chứa đựng trong những từ ngữ của anh, chạm đến đáy sâu những cái trí của những đứa trẻ nhỏ tuổi nhất. Giọng nói của Krishnaji dịu dàng, những từ ngữ của anh ngập ngừng; anh mỉm cười cùng quả tim của anh và đôi mắt của anh và các em lắng nghe mê mải và yên lặng.

 Nói về ngày 4 tháng giêng năm 1954, Krishnaji nói, “Giáo dục không phải ngừng lại khi bạn hai mươi mốt tuổi, nhưng tiếp tục đến khi bạn chết. Sự sống giống như một con sông, nó luôn luôn đang chuyển động, không bao giờ đứng yên. Nó đang sống. Nếu người ta bám vào một phần của con sông và nghĩ rằng người ta hiểu rõ, vậy thì nó giống như đang nhốt lại dòng nước chết rồi. Bởi vì con sông đang chảy và nếu người ta không trôi cùng nó, người ta bị bỏ lại đằng sau. Liệu người ta có thể nhìn ngắm những chuyển động của con sông? Liệu người ta có thể thấy những sự việc đang diễn ra trên hai bờ sông, liệu người ta có thể hiểu rõ, có thể đối diện với sự sống là gì?”

 Nói về sợ hãi bằng sự đơn giản nhất, anh mở toang những phức tạp của nó. Anh thâm nhập vào những sợ hãi đang vây chặt cái trí của một đứa trẻ. Anh nói về bản chất của sợ hãi và hình phạt, sự cần thiết phải có thông minh. Thấy và nhận biết được những gia đình bảo thủ mà những đứa trẻ đến từ đó, anh dò dẫm vào những từ ngữ “bảo thủ”, nhốt chặt, bảo vệ. Anh đào sâu vào từ ngữ “truyền thống.” Nó là gì mà phải được tôn trọng? “Nếu,” anh nói, “bạn tìm hiểu nó rất sâu thẳm, bạn sẽ thấy nó nảy sinh từ sự sợ hãi tạo ra một lỗi lầm.”

 “Tại sao không tạo ra một lỗi lầm?” anh hỏi. “Tại sao không tìm ra? Những người lớn tuổi đã không sáng tạo một thế giới tốt lành, họ ngập tràn sự tối tăm, sự sợ hãi, sự thoái hóa, sự ép buộc; họ không sáng tạo một thế giới tốt lành. Và có lẽ nếu bạn được tự do khỏi sợ hãi trong chính nó và có thể đối diện sợ hãi trong một biến cố khác, thế giới sẽ hoàn toàn khác hẳn.”

 “Đau khổ là gì?” một em bé mười tuổi hỏi. Krishnaji, đầy đau khổ, hướng về những giáo viên và nói, “Liệu đó không là một việc quá kinh khủng khi một em bé như thế phải đặt ra câu hỏi này?” Sau đó hướng về em bé anh nói về hiểu rõ đau khổ, sợ hãi. “Bạn không thể lẩn trốn đau khổ hay tẩu thoát nó. Bạn phải hiểu rõ nó. Và giúp đỡ bạn hiểu rõchức năng của người giáo viên.”

 Một em gái nhỏ xíu hỏi, “Thượng đế là gì?” và Krishnaji trả lời, “Trong trả lời câu hỏi đó, chúng ta đang nói với em gái, và cũng với những người già nua, yêu cầu những giáo viên vui lòng lắng nghe. Bạn có khi nào nhìn ngắm một chiếc lá đang nhảy múa dưới ánh mặt trời, một chiếc lá cô đơn? Bạn có khi nào nhìn ngắm ánh trăng trên dòng nước và một đêm khác bạn thấy một mặt trăng đỏ? Bạn có để ý con chim đang bay? Bạn có tình yêu sâu đậm cho cha mẹ của bạn? Tôi không đang nói về sợ hãi, về lo âu, về vâng lời, nhưng về cảm giác, sự đồng cảm vô cùng mà bạn trải qua khi bạn nhìn một người ăn xin, hay một con chim bị chết, hay khi bạn nhìn một thân thể được hỏa thiêu trên bờ sông. Liệu bạn có thể thấy tất cả việc này và có sự đồng cảm và sự hiểu rõ cho những người giàu sang đi qua trong những chiếc xe hơi to, và cho những người ăn xin cơ cực cũng như cho con ngựa ekka tội nghiệp hầu như chỉ còn là bộ xương đang bước đi? Liệu bạn có thể có cảm giác rằng quả đất này là quả đất của chúng ta – quả đất của bạn và của tôi phải được làm cho đẹp đẽ?

 “Vậy thì, đằng sau tất cả nó có cái gì đó thăm thẳm hơn nhiều. Nhưng muốn hiểu rõ cái thăm thẳm và vượt khỏi cái trí, cái trí phải được tự do, yên lặng. Cái trí không thể yên lặng nếu không hiểu rõ thế giới quanh bạn. Vì vậy bạn phải bắt đầu rất gần, bắt đầu bằng những sự việc nhỏ xíu, thay vì cố gắng tìm ra Thượng đế là gì.”

 Trong một trong những nói chuyện, anh giải thích sự cần thiết cho đứa trẻ phải ngồi yên lặng, “Người ta càng già nua bao nhiêu, người ta càng trở nên lo âu, khích động, sốt ruột bấy nhiêu. Họ không thể ngồi yên lặng.”

 Anh bảo cho trẻ em làm thế nào để ngăn ngừa cái trí không bị bắt chước; làm thế nào cái trí tự-tạo tác cho chính nó truyền thống mà là phương cách của bắt chước. “Liệu cái trí có thể được tự do?” anh hỏi. “Không phải tự do khỏi trải nghiệm, nhưng tự do để trải nghiệm. Tự do hiện diện khi cái trí trải nghiệm mà không có truyền thống.”

 Trong nói chuyện lần cuối cùng trẻ em, anh nói về tôn giáo. “Tôn giáo hiện diện khi cái trí hiểu rõ công việc của chính nó. Khi cái trí yên lặng, rất tĩnh – yên lặng không là sự yên nghỉ của chết, yên lặng này rất năng động, rất tỉnh táo, rất cảnh giác. Muốn tìm được Thượng đếSự thật là gì, người ta phải hiểu rõ đau khổ, và sự đấu tranh cho sự tồn tại của con người. Muốn vượt khỏi cái trí phải có một kết thúc của cái ngã, ‘cái tôi.’ Vậy thì, chỉ đến lúc đó, cái mà tất cả chúng ta tôn sùng, tìm kiếm, hiện diện.”

 Ở Varanasi, chúng tôi hỏi Krishnaji anh sẽ làm gì để sáng tạo một ngôi trường sẽ phản ảnh những lời giảng của anh. Anh trả lời, “Trước hết phải có bầu không khí của vô hạn. Cảm thấy rằng tôi đang đi vào một ngôi đền. Phải có vẻ đẹp, không gian, sự yên lặng, sự trang nghiêm. Phải có một trạng thái của cùng nhau trong học sinh và giáo viên, một trạng thái của hương thơm, một ý thức của nở hoa, một cảm giác của thiêng liêng lạ thường. Phải có tính chân thật, không sợ hãi. Đứa trẻ phải chung vai gánh sức cùng quả đất, phải có trong em một chất lượng của cái khác lạ.”

 “Làm thế nào ông sáng tạo điều này một cách cụ thể?”

 “Tôi sẽ xem xét phương cách của sự dạy học, chất lượng của sự chú ý,” Krishnaji trả lời. “Tôi sẽ tìm hiểu phương cách dạy đứa trẻ học hành mà không có ký ức đang chi phối. Tôi sẽ nói về chú ý và không-tập trung. Tôi sẽ trình bày về cách đứa trẻ nghỉ ngơi, thức ăn của em, những trò chơi em ấy có, đồ đạc trong phòng của em; tôi sẽ thấy rằng đứa trẻ chú ý đến cây cối, chim chóc, không gian quanh em. Tôi sẽ thấy rằng em lớn lên trong bầu không khí của sự chú ý.”

 

­­

CHƯƠNG 17

“Dường như Cái trí lan rộng vô tận.”

 

 

T

háng ba năm 1955, người ta quyết định rằng trước khi quay lại Châu âu, Krishnaji sẽ nghỉ một tháng tại Ranikhet, một nhà ga trên đồi ở Himalayas. Suốt những năm cai trị của người Anh, Ranikhet, trong những dãy Kumaon của Himalayas, là một vị trí quân sự – không người dân sự nào sống ở đó. Những ngôi nhà, giống như tất cả những ngôi nhà nào được xây dựng bởi người Anh trong những nhà ga trên đồi của Ấn độ, đều là những bản sao nhớ cố hương giống hệt những ngôi nhà người Anh – núp mình trong những cái vườn, đầy hoa thơm và những cây thông nhựa thơm và những cây thông tuyết cao ngất. Mùi hăng của nhựa thông và khói thấm vào cây cối. Những bụi hoa đã được trồng dọc theo vệ đường, và vào mùa hè chúng rực rỡ những bông hoa.

 Từ Ranikhet hình thành sẵn lộ trình đến những vị trí thiêng liêng của hành hương, nằm sâu trong những rặng Himalayas – đến Kedarnath và Badrinath, ngôi nhà ở Himalayas của Shiva và Vishnu; đến những nguồn của con sông Ganga và Jamuna; và đến Kailash và Manasarovar ở Tibet. Kailash, ngôi nhà trên núi bao bọc bởi tuyết của Shiva sau khi ông được chấp nhận vào danh sách các vị thần Brahmin, có hình như chóp nón. Ở một phía của hòn núi là Manasarovar, cái hồ nước trong xanh là nơi nghỉ ngơi của những con thiên nga vàng thần thoại, ham sa. Âm thanh của cái tên con thiên nga vang rền cùng những yên lặng của vũ trụ, và cùng hơi thở vào ra của prana sức mạnh của sự sống. Ở phía bên kia của hòn núi là Raksasa Tal, một cái hồ núi lửa có nước màu đen hung tợn. Hai cái hồ này tượng trưng hai khía cạnh của Shiva và của cái trí – sự hỗn loạn và sự yên lặng tuyệt đối.

 Từ Ranikhet, vào một ngày quang đãng, người ta có thể thấy một dải rộng của những đỉnh núi Himalayan phủ tuyết. Chúng có những cái tên thiêng liêng – Nandadevi, Neelkanth, Nandakhot, Trisul. Bình minh và hoàng hôn, mặt trời giữa trưa khạc lửa, mặt trăng tròn vào ban đêm – tất cả bộc lộ ánh sáng và những cái bóng trên những khuôn mặt kiên định, đe dọa của chúng. Chúng là những người thấy vĩnh cửu, những người bảo vệ đất đai và nguồn của những con sông ban tặng sự sống.

 Achyut đã đi đến Ranikhet và tìm được một ngôi nhà, Ardee, cho Krishnaji sống. Người ta sắp xếp rằng, chồng của tôi lái xe đưa Krishnaji từ Bombay đến Ranikhet. Krishnaji đã ở Bombay tổ chức những nói chuyện và những bàn luận, và họ quyết định anh sẽ rời để đi đến những quả đồi vào ngày 18 tháng ba. Tuy nhiên, ở Bombay anh bị sốt nặng. Krishnaji bị mê sảng; anh không thể chịu được sự ồn ào và giường nằm của anh phải được chuyển sang phòng khách. Dr. Nathubhai, một bác sĩ giỏi, khám cho Krishnaji và khẳng định rằng anh đã có những con giun do bởi ăn thức ăn sống. Thân thể nhạy cảm của K đã phản ứng dữ dội, và bàng quang và đường dẫn nước tiểu bị viêm. Tuy nhiên, với sự điều trị, Krishnaji hồi phục mau chóng. Tuần thứ ba của tháng ba chúng tôi ở Delhi, và vào ngày 28 tháng ba, chúng tôi sẵn sàng rời đó để đi đến những hòn núi.

 Kitty Shiva Rao đã sắp xếp một trong những người giúp việc của em, Diwan Singh, và Tanappa từ Rajghat, đi trước đến Ranikhet và chuẩn bị ngôi nhà cho Krishnaji. Chuyến đi khoảng trên hai trăm dặm. Vì Krishnaji không thể chịu được sức nóng, chúng tôi bắt đầu chuyến đi lúc 5 giờ sáng.

 Krishnaji ngồi ghế trước cùng người chồng của tôi, đang lái xe, và Madhavachari và tôi ngồi phía sau. Không khí sáng sớm thật mát mẻ, và chúng tôi đi gần đến những chân đồi trước khi mặt trời quá nóng. Trước kia Krishnaji là người lái xe giỏi. Sự cảnh giác cực độ của anh có thể nhận biết được những giây phút trước khi thảm hoạ xảy ra. Nhưng như người lái xe phụ, anh đang gây nhiều bối rối. Suốt chuyến hành trình anh liên tục chỉ bảo Jayakar làm việc này và không làm việc kia; cảnh báo anh ấy về những nguy hiểm đang đến gần. Nhiều lần chúng tôi gợi ý rằng Krishnaji ngồi cùng chúng tôi ở phía sau, nhưng anh quả quyết không chịu chuyển chỗ ngồi.

 Madhavachari và tôi bắt đầu bàn luận những vấn đề khác nhau liên quan đến hiểu rõ về chính mình. Chúng tôi đã bền bỉ leo lên núi; quang cảnh những thác nước và những hẻm núi sâu và những sườn đồi dựng đứng phủ đầy cây đỗ quyên. Chúng tôi nhìn ra ngoài cây cối đang thay đổi, những tảng đá và những vách đứng, những con suối ào ào. Chúng tôi đang nói về sự tỉnh thức, và mổ xẻ vấn đề đến từng chi tiết về bản chất của nó, khi bỗng nhiên chúng tôi cảm thấy bị nẩy người lên. Chúng tôi không chú ý và tiếp tục bàn luận của chúng tôi. Một vài giây sau, Krishnaji quay lại và hỏi chúng tôi đang bàn luận điều gì. “Sự tỉnh thức,” chúng tôi nói, và ngay lập tức bắt đầu đặt ra cho anh những câu hỏi về nó. Anh lắng nghe, nhìn chúng tôi đầy giễu cợt, và sau đó hỏi, “Bạn có nhận thấy điều gì vừa xảy ra lúc nãy?”

 “Không.”

 “Chúng ta vừa tông một con dê, bạn thấy nó?”

 “Không.”

 Sau đó rất nghiêm nghị anh nói, “Và bạn đang bàn luận sự tỉnh thức.” Không từ ngữ nào cần thiết nữa. Nó gây choáng váng cực độ.

 Ngôi nhà ở Ranikhet mọc đầy dây leo, ngôi vườn phủ đầy cỏ dại, nhưng những cây thông tuyết và những cây thông nhựa thơm vây quanh ngôi nhà. Sự tinh khiết nồng nặc của nhựa thông tỏa khắp những căn phòng. Nó là an bình mãnh liệt bởi sự yên lặng được tìm thấy nơi những ngôi nhà cô đơn nằm trong những cánh rừng.

 Chồng tôi và tôi quay lại Delhi sau khi ở lại đêm đó. Madhavachari phải đi đến Madras, và anh ấy theo về cùng chúng tôi. Achyut ở cùng Krishnaji một vài ngày.

 Krishnaji thực hiện những chuyến dạo bộ rất lâu một mình. Trong những cây thông nhựa thơm và những cánh rừng thông tuyết anh bị lạc, nhưng tìm được lối về theo bản năng.

 Cây cối tương phản cái phông của những đỉnh núi Himalayas là một cảnh tuyệt vời. Anh nói về những đỉnh núi này trải dài từ Nepal đến những hang động Badrinath: “Chúng cách chúng tôi khoảng sáu mươi dặm, cùng một thung lũng xanh sậm mênh mông giữa chúng và chúng tôi, trải dài trên hai trăm dặm. Chúng kéo thẳng đường chân trời từ đầu này sang đầu kia. Sáu mươi dặm đang ngăn cản đó dường như biến mất, và chỉ có sức mạnh và sự cô đơn đó. Những đỉnh núi này, một số cao trên 25.000 feet, mang những cái tên thiêng liêng, bởi vì những thần thánh sống ở đó, và con người đến với chúng từ những khoảng cách thật xa xôi để tôn sùng và để chết.

 “Cái trí dường như bao phủ không gian mênh mông và khoảng cách vô tận, hay nói khác hơn cái trí dường như lan rộng mà không có một kết thúc, và đằng sau và vượt khỏi cái trí có cái gì đó mà ôm ấp tất cả những sự vật trong nó.”

 Sau đó anh chất vấn những nhận biết riêng của anh. “Cái vượt khỏi tất cả ý thức không thể suy nghĩ được hay trải nghiệm được bởi cái trí. Nhưng vậy thì, cái gì mà đã nhận biếtý thức được cái gì đó hoàn toàn khác hẳn những chiếu rọi của cái trí? Ai trải nghiệm nó? Chắc chắn đó không là cái trí của những ký ức, những phản ứng và những thôi thúc hàng ngày.

 “Liệu có một cái trí khác?” anh tự hỏi mình. “Liệu có một bộ phận của cái trí mà ngủ im lìm, chỉ được thức dậy bởi cái đó mà một mình và vượt khỏi tất cả cái trí? Nếu đây là như thế, vậy thì bên trong cái trí luôn luôn có cái đó mà vượt khỏi tất cả suy nghĩthời gian. Và tuy nhiên điều đó không thể được, bởi vì nó chỉ là sự suy nghĩ giả thiết và thế là một sáng chế khác của cái trí.

 “Bởi vì sự bao la không được sinh ra từ qui trình của cái trí, vậy thì cái gì nhận biết nó? Liệu cái trí như người trải nghiệm nhận biết nó, hay sự bao la tự nhận biết nó bởi vì không có người trải nghiệm? Chỉ có cái đó, và cái đó tự nhận biết nó mà không-đo lường. Nó không khởi đầu và không từ ngữ.”

 Vào chiều tối, Krishnaji ngồi trước lò sưởi và nhờ Achyut dạy cho anh một ít tiếng Phạn. Achyut bắt đầu đọc Mandukya Upanishad cùng Krishnaji. Upanishadbộc lộ âm thanh của Aum – toàn âm thanh của nguyên âm trong đó không có những phụ âm – âm thanh Aum mà vang vọng trong vũ trụ và trong những cái hang của quả tim khi tất cả những âm thanh phía bên ngoài đã kết thúc.

 Achyut hỏi, “Có điều gì sai trái với âm điệu Aum nếu cái trí trở nên yên lặng?”

 “Cái trí của bạn trở nên yên lặng?”

 “Trong giây phút đó khi chúng ta ngâm âm thanh – ‘cái tôi’ không hiện diện,” Achyut nói.

 Trả lời của Krishnaji phủ nhận tất cả những nương tựa và những cái nạng. “Việc gì bạn đang làm bao hàm thời gian. Cái đó không liên quan gì đến thời gian. Thời gian không bao giờ có thể dẫn đến cái khác lạ.”

 Achyut quay lại đồng bằng sau một vài ngày và Krishnaji ở một mình tại Ardee. Một loạt những lá thư gửi tới người chồng của tôi tiết lộ sự lưu tâm tỉ mỉ của Krishnaji về quần áo của anh. Anh luôn luôn có một cảm giác say đắm về màu sắc và kết cấu của vải. Những loại vải dệt bằng tay làm say mê anh. Ở Ấn độ anh mặc rất đơn giản nhưng thanh lịch, một kurta dài đến dưới đầu gối và những bộ pyjama rộng. Để cho ấm áp anh mặc một jacket hay một choga. Anh có nhiều những loại vải bằng len đẹp này, được cho anh bởi Mrs. Besant, chế từ len tus của Kashmir, trong những màu nâu mật đậm.

 Trong năm 1948 và vài năm sau, anh chỉ mặc màu trắng. Nhưng sau đó tình yêu những màu đất của người hành khất thịnh hành. Bạn bè mua cho anh những loại vải bông dệt bằng tay và những kurta bằng vải lanh thô dệt bằng tay được chế tạo từ những phế phẩm sau khi lụa đã được quấn thành chỉ, trong những màu sắc từ màu kem đậm đến màu nâu vàng cháy và những màu sắc nhuộm vỏ cây được mặc bởi những thầy tu Phật giáo.

 Sống một mình, cùng một người nấu bếp chăm sóc những nhu cầu của anh, Krishnaji đã tự làm mới mẻ chính anh. Anh thực hiện những chuyến dạo bộ thật lâu, nói chuyện cùng những đỉnh tuyết phủ, nhìn ngắm, lắng nghe thế giới bên trong anh và quanh quanh anh. Một lần anh kể cho chúng tôi một câu chuyện về nhiều con khỉ, những con khỉ mặt đen của Châu á thường đu đưa trên những ngọn cây quanh Ardee. Một buổi sáng anh đang viết trong phòng của anh, cửa sổ mở. Bỗng nhiên anh có một cảm giác của đôi mắt đang chú ý nhìn anh. Anh ngước lên và thấy một con khỉ trưởng thành đang ngồi trên bệ cửa sổ và nhìn chằm chằm vào căn phòng. Krishnaji đứng dậy và bước về phía con khỉ. Khi họ đối diện nhau, con khỉ dơ bàn tay của nó ra. Krishnaji cầm nó và con khỉ để cho anh nắm chặt. Có sự tin cậy tuyệt đối. Krishnaji diễn tả sự tiếp xúc lòng bàn tay con khỉ như mạnh mẽ, rất mềm mại, bất kể những vết chai sạn do bởi leo trèo những cành cây. Trong vài phút họ vẫn còn cầm tay nhau, sau đó con khỉ cố gắng vào phòng. Krishnaji đẩy nó ra, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết, và đóng cửa sổ.

 

CHƯƠNG 18

“Liệu có thể có hành động không-hậu quả?”

 

M

ùa đông năm 1955 thấy Krishnaji ở Varanasi. Anh đã đến đó cùng Rosalind từ Sydney. Vẻ đẹp lạ lùng, kinh ngạc không còn nữa. Khuôn mặt đã trở nên có tuổi, tóc đã bắt đầu bạc đi.

 Anh tự-chất vấn mình lớn tiếng. “Hành động không-hậu quả là gì?” Suốt ba ngày anh khoét sâu vào nghi vấn, chối từ cho phép bất kỳ phản ứng tức khắc nào, buông cho nghi vấn tự-phơi bày, thả cho nó tự-giải phóng năng lượng bị nhốt chặt bên trong nó. Không rời khỏi nghi vấn, và trong suốt những gặp gỡ bàn luận những cái trí của chúng tôi khoét sâu cùng anh. Anh chối từ cho phép chúng tôi trả lời từ Gita hay bất kỳ quyển sách thiêng liêng nào. Đối với anh, nghi vấn phải gợi lên đáp án riêng của nó. Và vẫn vậy, mỗi đáp án từ quá khứ là một hậu quả, từ hiện tại là một hậu quả, và từ một tương lai bị chiếu rọi cũng là một hậu quả.

 Krishnaji hỏi, “Liệu có thể có hành động không-hậu quả? Liệu quá khứ, tương lai, có thể được mang vào cùng nhau trong hiện tại và được xóa sạch? Lỗi lầm quá khứ là một hậu quả, hành động vào nó của tôi là một hậu quả, sự từ chối để hành động vào nó của tôi cũng là một hành động, và tuy nhiên phải có hành động không-hậu quả.” Anh tiếp tục thâm nhập. Anh sẽ thâu nhận nghi vấn, cho phép mọi hàm ý vây quanh nghi vấn nảy ra, nhận biết sự phản ứng mà không chỉ trích hay bênh vực, và thế là phủ nhận nó. Tất cả tìm hiểu đều ngập ngừng, không cho phép bất kỳ phát biểu khẳng định nào.

 Rồi bỗng nhiên, vào ngày thứ ba, như thể đã có sự khai sáng, anh nói, “Liệu người ta có thể sống không-ý niệm của cái tôi? Liệu người ta có thể sống không-hình ảnh của cái tôi được phản ảnh? Chỉ trong đó mới có hành động không-hậu quả.”

 “Điều đó hàm ý gì?”

 “Sống không-ý niệm của cái tôi,” anh trả lời, “là nhận biết được sự chiếu rọi liên tục của cái tôi, và thấy nó sẽ phủ nhận nó.”

 Một buổi sáng khác anh nói, “Chúng ta chết bởi bệnh tật, tuổi già, tự tử. Chết là chìm vào cái không biết được, một cắt đứt đột ngột, một triệt tiêu.” Tiếp theo anh hỏi rất nghiêm túc, “Đang sống, liệu người ta có thể vào ngôi nhà của chết?”

 Sau nhiều năm, Rosalind đang viếng thăm Ấn độ. Cô đang gặp gỡ những người bạn cũ từ những ngày cô sống trong Tổ chức Thông thái, và có những người bạn mới, trong số họ là Malti Nowroji và Kanji Dwarkadas, em trai của Jamnadas và một người bạn kết giao cũ của Mrs. Besant. Kitty Shiva Rao cũng ở Varanasi, và họ dành ra những ngày dài cùng nhau. Sunanda Patwardhan đã làm việc như thư ký của Krishnaji từ năm 1949, trong khi Krishnaji ở Ấn độ. Cô ấy theo cùng anh khắp quốc gia, ghi lại bằng tốc ký, đánh máy những lá thư của anh, tham gia những nói chuyện và những bàn luận. Rosalind ưa thích cô ấy và dành cho nhiều tình cảm. Tuy nhiên, trong sự liên hệ của Rosalind với Krishnaji, những căng thẳng đã gia tăng nhiều lắm. Giống như Rajagopal, giọng nói đang phản đối Krishnaji của cô thường được nghe rất rõ. Đối diện với sự tức giận của cô, Knishnaji sẽ kể với chúng tôi sau đó, anh trở nên hoàn toàn yên lặng và thụ động. Anh lắng nghe rất chính xác, sâu sắc và toàn bộ, nhưng chối từ phản ứng. Sự mất khả năng khích động một phản ứng từ Krishnaji khiến cho Rosalind tức giận. Đó là một đối đầu không đối thủ. Người còn lại đã tan biến.

 Bằng vô vàn sự ngờ vực, Rosalind sục sạo để tìm ra “ảnh hưởng” đã gây ra sự thay đổi trong Krishnaji. Suốt nhiều năm Rosalind đã trở nên quen thuộc đến độ coi thường Krishnaji, và lúc này cô phát giác rằng bỗng nhiên không còn Krishnaji để tiếp xúc hay để cô thiết lập một liên hệ.

 Cố chấp, Rosalind quả quyết rằng Krishnaji phải đồng ý đi cùng cô để xem những hang động Ajanta và Ellora. Malti Nowroji và Sunanda theo cùng họ. Thời tiết rất nóng. Quang cảnh khô cháy, những tảng đá Deccan bị tan chảy dưới sức nóng của mặt trời. Chẳng có bao nhiêu màu xanh để làm dịu hai mắt. Krishnaji rất khổ sở, và khi họ quay lại Bombay, tình hình căng thẳng chẳng thay đổi chút nào.

 Krishnaji một mình quay lại Delhi vào đầu tháng mười năm 1956. Vẻ đẹp tràn ngập anh. Anh lại nói chuyện trong thành phố thủ đô sau nhiều năm, dưới một shamiana thoáng mát, một cái lều được dựng lên trên những bãi cỏ của Constitution Club. Những người ngoại giao, những khất sĩ, những viên chức, những thư ký, những giáo sư, và một ít người trẻ đến nghe anh.

 Những người trẻ chỉ là một nhúm người. Bất kể những tàn sát tập thể sau sự phân chia quốc gia, tình trạng thảnh thơi của sự tự do tiếp tục ở đỉnh điểm. Sự hào nhoángsung túc được sinh ra bởi những kỹ năng và những vật dụng của khoa học và công nghệ đang trở nên rõ ràngẤn độ. Những cái trí trẻ, bị kích thích và dễ dàng đáp lại những bùng nổ rộng lớn và mới mẻ của hiểu biết phương Tây và những cơ hội đang được mời mọc bởi công nghệ, không có hứng thú gì trong sự hiểu rõ về chính mình hay một viễn cảnh xa xôi. Chính là sự tức khắc và những cống hiến của mới mẻ đã làm cháy bỏng những cái trí của họ.

 Thế hệ già nua vẫn còn chìm sâu trong sự cằn cỗi của những truyền thống chết rồi; kèm theo cái chết của Gandhiji, những người theo Gandhiji đã nương dựa Vinoba Bhave. Được kích thích tò mò bởi Rao Sahib và sự hiến dâng hoàn toàn của Achyut cho Krishnaji và những lời giảng của anh, những người theo Gandhiji đã bắt đầu tham dự những nói chuyện của Krishnaji. Những bàn luận nhóm nhỏ đã khởi động. Shankar Rao Deo và Dada Dharmadhikari, hai thành viên rất quan trọng của Sarva Seva Sangh được trông thấy tại mọi họp mặt.

 Shankar Rao Deo, chín chắn trong sự đấu tranh vì tự do, bị lún sâu trong một truyền thống của khổ hạnh. Có giáo dục cao, ông là một trong những người đệ tử chỉ khoác một miếng vải giống như Gandhiji, tự-áp đặt cho chính ông những kỷ luật cứng ngắt của nhịn đói và thực hành brahmacharya, mà liên quan một lời thề sống hoàn toàn trong trắng. Ông đã vào tù nhiều lần, đã được phân loại “C” – loại thấp nhất dành cho những tù nhân. Những tù nhân chính trị loại “C” phải mặc quần áo tù, ăn thức ăn tù, và không cho phép được đọc báo hay sách. Kinh tởm những bất công đang lan tràn, ông đã phản đốithực hiện một nhịn đói. Từ chối hủy bỏ sự nhịn đói của ông đã chọc giận những uy quyền của nhà tù. Ông đã bị nhốt trói treo và đánh đập rồi quăng vào xà lim cùng những vết thương đang hoành hành. Một hoang dã và một khẩn thiết nhiệt thành cho cái không thể diễn tả được rực lửa trong hai mắt của ông; ông đã chặn đứng những giác quan của ông bằng một khổ hạnh khắc nghiệt; sâu thẳm bên trong là những tuyệt vọng và những khao khát, những đam mê, và những tham vọng không được thành tựu. Trong tù Shankar Rao Deo đã tiếp xúc mật thiết với Javdekar, một người bạn thân của Tilak và Bhagwat,[3] và một người kết giao của Mahatma Gandhi từ năm 1920. Được công nhận như những người trí thức ở Maharashtra, họ bị lún sâu trong những truyền thống tốt lành của học hành. Cùng với họ, Shankar Rao Deo đã đọc những quyển sách của Krishnamurti. Trong những năm sau Javdekar và Bhagwat đã tham dự những nói chuyện của Krishnaji, nhưng chưa bao giờ gặp mặt trực tiếp với anh. Họ cảm thấy mạnh mẽ rằng Krishnaji đang diễn tả, mặc dù trong một ngôn ngữ mới, toàn bộ vị trí Advaita của Vedanta.

 Năm 1948 Javdekar và Bhagwat, trong tờ Lok Shakti, một nhật báo được tôn trọng nhiều ở Maharashtra, viết một bài báo dài sáu cột trong đó Kishnaji được tuyên bố là một con người “đã nhận ra”. Những học giả uyên thâm ở Maharashtra chấp nhận Krishnaji năm 1948; và những học giả ở Varanasi cũng làm như vậy mãi đến năm 1970. Kèm theo sự chấp nhận Krishnaji của Javdekar và Bhagwat, vô số những người tư tưởng và những người viết văn được cuốn hút tới anh. Họ thấy trong anh một Người Thầy mà, không mâu thuẫn với quá khứ, đã đập nát truyền thống, thăng hoa nó. Qua anh, họ thấy bộc lộ Sự thật vĩnh cửu, khai sáng.

 Năm 1948, Shankar Rao Deo ở New Delhi cho những hội nghị của Constituent Assembly. Ông cũng tham dự những bàn luận nhỏ Krishnaji tổ chức cùng thời gian đó. Tại một trong những bàn luận đầu tiên, Krishnaji đã bàn luận về bạo lực và chủ nghĩa quốc gia. Shankar Rao Deo nói về đề tài này, “Muốn hiểu rõ Krishnaji bạn phải hiểu rõ về ‘cái tôi.’ Krishnaji đã nói, ‘Hiểu rõ về “cái tôi” có dính dáng đến thời giankhông gian; sự hiểu rõ hiện diện, khi thời gian đã kết thúc.’ ”

 1956 là năm của Buddha Jayanti, và chính phủ Ấn độ mời Dalai Lama từ Tibet viếng thăm Ấn độ và những vùng thiêng liêng liên quan đến Đấng Giác ngộ. Apa Sahib Pant, một viên chức cấp cao trong Bộ Ngoại giao và thời gian đó cũng là một viên chức chính trị ở Sikkhim, được yêu cầu tháp tùng Dalai Lama khắp quốc gia. Họ đi bằng một chiếc xe lửa lớn có điều hòa không khí được theo cùng bởi rất nhiều người tùy tùng.

 Là người đứng đầu tôn giáo thuộc tăng lữ thế tục của Chính thể Tây tạng, sống của Dalai Lama bị trói buộc nghiêm ngặt bởi những nghi thức ngoại giao. Ngài đã là một con người của sự huyền bí. Ở Tây tạng, hiếm khi nào có thể nhìn thấy được ngoại trừ một vài lạt ma, ngài sống một sống của kỷ luật và thiền định. Đây sẽ là chuyến viếng thăm đầu tiên của bất kỳ Dalai Lama nào ra khỏi vùng đất huyền bí.

 Vào tháng mười một khi ngài đến Madras, Apa Sahib Pant đã đề nghị người hóa thân hai mươi tuổi của thiêng liêng rằng ngài nên viếng thăm Krishnamurti, lúc đó cũng đang ở Vasant Vihar. Apa Sahib đã kể về sống của Krishnaji và bản chất lạ thường trong những lời giảng của anh. Người thầy tu trẻ đã thốt lên, “Một Nagarjuna!”[4] và đã biểu lộ một khao khát nhiệt thành muốn gặp Krishnaji. Những người quanh Dalai Lama bị lo lắng. Đó là một phá vỡ tất cả những nghi thức ngoại giao. Nhưng Dalai Lama quả quyết, và gặp gỡ được sắp xếp.

 Trong những từ ngữ của Apa Sahib, “Krishnaji tiếp [Dalai Lama] đơn giản. Hấp dẫn vô cùng khi cảm thấy một tình cảm sôi nổi ngay tức khắc lóe sáng giữa họ.” Dalai Lama hỏi một cách hòa nhã nhưng thẳng thắn, “Thưa Ngài, ngài tin tưởng cái gì?” và sau đó nói chuyện của họ tiếp tục trong những câu hầu như vỏn vẹn bằng một âm tiết, bởi vì nó là một chuyển tải không-hoa mỹ. Vị Lama trẻ tuổi đang cảm thấy cùng nền tảng thân thuộc khi Krishnaji gọi ngài là “đồng trải nghiệm.” Trên chuyến hành trình quay lại Raj Bhawan, Dalai Lama sẽ nói, “Một con người vĩ đại, một trải nghiệm vô biên.” Dalai Lama cũng biểu lộ một ao ước gặp lại Krishnamurti.

 Từ giữa những năm 1950, Shankar Rao Deo trở thành một con người quen thuộc tại những nói chuyện của Krishnaji; mỗi mùa đông anh ấy sẽ viếng thăm Varanasi và ở tại bộ chỉ huy Sarva Seva Sangh, đã được xây dựng tại lối vào Rajghat. Cùng Rao Sahib Patwarhan, tôi thường viếng thăm anh ấy ở đó và phát giác anh ấy bị bận rộn trong shram dan – quà tặng của công việc, mà cùng với quà tặng của đất đai, là bộ phận của những giảng thuyết của ẩn sĩ Vinoba Bhave. Chúng tôi sẽ thấy Shankar Rao ngồi hàng tiếng đồng hồ với một cái sàng thóc, nhặt những cục sạn nhỏ xíu ra khỏi gạo. Tôi buồn cười khi thấy anh ấy đang làm hoạt động có vẻ vô lý này, nhưng đối với Rao Sahib những hành động của anh ấy có vẻ lại phù hợp hoàn toàn.

 Shankar Rao thường đến nghe những nói chuyện của Krishnaji; anh ấy sẽ tham gia những bàn luậnthỉnh thoảng gặp K một mình. Krishnaji sẽ giễu cợt cùng Shankar Rao, làm cho anh ấy cười, chỉ ra con sông và cây cối, nói về vẻ đẹp, tình yêu, và bản chất của từ bi, và bao bọc anh ấy bằng thương yêu. Shankar Rao sẽ lắng nghe, bị cuốn hút mãnh liệt bởi Krishnaji, tuy nhiên toàn nền quá khứ của anh ấy lại phản kháng lại những từ ngữ của K. Anh ấy không thể hiểu rõ sự khẳng định của Krishnaji về sự cần thiết phải có tình yêu, vẻ đẹp, và nhạy cảm. Thái độ của Krishnaji đối với ý thức và đối với sự ham muốn làm bối rối anh ấy. “Lắng nghe sự ham muốn như bạn lắng nghe gió len lỏi giữa những cái cây,” Krishnaji nói. Đệ tử của Gandhi, được nuôi dưỡng trên những ý tưởngyêu cầu hủy diệt sự ham muốn, không biết hướng về đâu và nói cái gì. Shankar phát giác khó khăn vô cùng khi muốn hòa hợp lời giảng của Krishnaji với những lý tưởng của Gandhi.

 Sau đó, đáp án của Krishnaji đối với sự khổ hạnh cố chấp và sự phủ nhận kiên quyết về những giác quan của Shankar Rao được phản ảnh trong những nói chuyện của Krishnaji ở Bombay. Tháng hai năm 1957 Krishnaji sẽ nói, “Khiến cho những giác quan vô cảm với những sự việc được hiểu là huyên náo, mâu thuẫn, xung đột, đau khổ, là phủ nhận toàn chiều sâu và vẻ đẹp và vinh quang của sự tồn tại. Sự thật đòi hỏi toàn thân tâm của bạn, một con người tổng thể, không phải một cái trí bị tê liệt. Có một trận chiến liên tục giữa “tôi là gì” và “tôi nên là gì.” Đây là mạng lưới của đau khổcon người bị trói buộc. Khóa chặt những giác quannuôi dưỡng sự vô cảm. Mặc dù bạn có lẽ đang tìm kiếm Thượng đế, cái trí của bạn bị làm cho đờ đẫn.”

 Trong những bàn luận nhỏ, bản chất của đang là và đang trở thành được tìm hiểu. Nảy mầm trong những ngõ ngách tối tăm của cái trí, “ham muốn để trở thành là đất màu trong đó sự đau khổ bám rễ.” Cái trí, muốn được tự do, phải thấy chính nó như kết quả của thời gian – chỉ trong năng lượng của hiểu rõ về chính mình, sự thâm nhập thực sự mới có thể xảy ra.

 “Có một chuyển động lạ thường trong trạng thái yên lặng của phát hiện từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, mà triệt tiêu sự nảy mầm trong cái trí. Hiểu rõ về chính mình là hiểu rõ về đang trở thành trong chính mình. Cách mạng tôn giáo là sự kết thúc của đang trở thành.” Trong dạo bộ buổi chiều của anh trên bãi biển Worli, anh nói về hành động của lắng nghe như “không-chủ định và không-tính toán. Nó là một hành động của sự thật, bởi vì trong nó là sự chú ý tổng thể,” và nó là hành động của sự yên lặng như “nguồn của mọi sáng tạo.” Tiếp theo anh đưa ra một phát biểuảnh hưởng sâu thẳm, mà sẽ tìm được sự giải thích lại trong những nói chuyện của anh. “Liệu có một cảm thấy không-suy nghĩ? Liệu bạn có thể lướt trên một cảm thấy mà không hướng dẫn nó, không tìm kiếm để thay đổi nó, không gọi nó là tốt lành hay xấu xa? Hãy thử nó,” anh nói.

 Shankar Rao hiện diện tại những nói chuyện và tại những bàn luận nhỏ. Những xung đột của anh ấy và những phản ứng phức tạp của anh ấy dường như đã mãnh liệt thêm. Shankar Rao Deo không thể theo đuổi một sống cùng cả đam mê lẫn khổ hạnh. Ở Bombay, Krishnaji hỏi, “Nếu bạn biết rằng bạn sắp sửa chết, bạn sẽ làm gì? Liệu bạn có thể sống trọn vẹn một tiếng đồng hồ – sống một ngày – một tiếng đồng hồ – như thể bạn sắp sửa chết tiếng đồng hồ kế tiếp? Nhưng nếu bạn chết để cho bạn đang sống trọn vẹn trong tiếng đồng hồ này, có sinh lực vô biên, chú ý vô cùng đến mọi thứ. Bạn nhìn vào mùa xuân của sự sống, nước mắt, bạn cảm thấy quả đất, chất lượng của cái cây. Bạn cảm thấy tình yêu mà không có tiếp tục và không có mục tiêu. Vậy thì trong chú ý đó bạn sẽ phát hiện “cái tôi” không hiện diện. Vậy thì cái trí, bởi vì trống không, có thể tự-làm mới mẻ chính nó.”

 Trong mùa đông năm 1956, Vimla Thakkar, một người phụ nữ hiến dâng trẻ của Vinoba Bhave, sẽ theo cùng Shankar Rao và Dada Dharmadhikari để gặp Krishnaji ở Varanasi. Cô là một người Maharashtra, đam mê ngôn ngữ, học tiếng Phạn và những sách cổ của Ấn độ. Từ niên thiếu cô đã quyến luyến một sống tôn giáo, và có những hiện hình của Krishna và những trải nghiệm huyền bí khác. Trong tìm kiếm một đạo sư, vài năm cô đã là đệ tử của Tukroji Maharaji, một vị thánh được chấp nhận của Maharashtran, và sau đó đã rời ông để theo Vinoba Bhave. Cô đã đi bộ cùng ông ấy qua những ngôi làng của Ấn độ. Giảng đạo đến rất tự nhiên cho cô. Cô thấy mình như một phụ nữ của số mạng; điều này trao tặng cô năng lượng, hùng biện, và động cơ mãnh liệt.

 Trong suốt những bàn luận Krishnaji, nhận biết hình ảnh tự tạo của cô, đã nói với cô, “Đừng cố gắng trải nghiệm sự thật qua Shankara, Krishna, Gandhi, Krishnamurti.” Cô chất vấn anh, nhưng phát giác rằng dường như không có sự liên quan giữa những câu hỏi cô đưa ra cho Krishnaji và những trả lời của anh. Bởi vì những trả lời của anh là một thách thức cho cái trí của cô và những giả thiết của nó.

 Vimla Thakkar đang thực hành khắc nghiệt sự khổ hạnh và kỷ luật yoga, và cô đang bị đau đớn nhiều trong tai của cô. Sự đau đớn trong tai của cô tiếp tục, và những bạn bè của cô đã bảo rằng điều đó do bởi sự thức dậy của kundalini. Một buổi sáng khi cô, Shankar Rao, và Dada Dharmadhikari đang bàn luận khía cạnh nào đó về lời giảng cùng Krishnaji. Dada nói về sự đau đớn nơi tai của Vimla. Anh ấy kể với Krishnaji rằng nó liên quan đến những thực hành yoga của Vilma, nhưng Krishnaji không đồng ý. Anh yêu cầu cô đi khám bác sĩ, bởi vì anh cảm thấy rằng nó không là một trải nghiệm huyền bí nhưng là một căn bệnh vật chất. Cô chán nản khi nghe Krishnaji nói điều này, nhưng sau đó đi đến một bác sĩ về tai và năm 1960 được giải phẫu ở Bombay. Sự đau đớn không còn, nhưng cô lại bị điếc hoàn toàn trong một tai.

 Tháng mười hai năm 1960 cô gặp lại Krishnaji ở Varanasi cùng Shankar Rao và Dada. Suốt nói chuyện bệnh điếc được đề cập, và bỗng nhiên Krishnaji nói, “Hồi trước khi tôi còn nhỏ mẹ tôi thường bảo với tôi rằng tôi có quyền năng chữa bệnh trong hai bàn tay này.” Anh nói rất rụt rè, luôn luôn như thế khi anh nói về mình. “Bạn có muốn tôi xem thử liệu tôi có thể giúp đỡ tai của bạn?” Vimla từ chối. Được nuôi dưỡng trong một truyền thống khiến cho cô phản ứng mạnh mẽ chống lại tất cả những người thực hiện phép lạ, cô đã trả lời rằng cô không tin những việc này, và thế là khoảnh khắc trôi đi. Sau đó Dada khiển trách cô và bảo với cô rằng đáng ra cô không nên từ chối. Krishnaji không giống như những sadhu thông thường đang sống dựa vào những phép lạ. Sau nhiều bàn luận, cô quay lại gặp Krishnaji và tìm kiếm sự trợ giúp.

 Krishnaji có một cách rõ ràng khi thực hiện một hành động chữa trị. Người bệnh ngồi trên một cái ghế dựa, Krishnaji đứng phía sau, và đặt hai bàn tay trên đầu của bệnh nhân. Sau đó, bằng một cử chỉ, dường như anh quẳng đi cái gì đó đã vào hai bàn tay của anh. Anh sẽ lặp lại việc này nhiều lần. Tiếp theo anh đặt hai bàn tay của anh trên đầu người bệnh rất lâu, rồi anh yêu cầu người bệnh ngồi yên lặng một lúc. Luôn luôn Krishnaji rửa tay sau khi xong việc. Bằng cách này, trong nhiều ngày anh đặt hai bàn tay trên tai của Vimla, và thính giác từ từ hồi phục.

 Vimla theo Krishnaji tới Bombay, nơi anh đang nói chuyện. Anh hỏi cô về tai của cô. Cô trả lời cô đang nghe âm thanh của một tiếng sáo trong tai bị điếc. Anh bảo với cô rằng cô đang diễn giải âm thanh thành hình ảnh riêng của cô; anh yêu cầu cô đừng làm như thế và sử dụng một miếng băng bằng đá lạnh trên tai để chữa tiếng ồn. Sau đó cô theo Krishnaji đến London – và đến Saanen ở Thụy sĩ, nơi anh tiếp tục sự điều trị của anh. Từ Saanen cô vui vẻ viết cho Dada, “Tôi đã được hồi phục, và có thể nghe rất rõ ràng.”

 Tại một phỏng vấn ở Wimbledon, Vimla hỏi Krishnaji về những quyền năng chữa bệnh của anh. Anh trả lời cô, “Tôi e rằng bạn sẽ không hiểu.”

 Cô theo anh đến Gstaad, Thụy sĩ. Krishnaji trông không khỏe lắm, và có vẻ đang trải qua một căng thẳng. Cô lại hỏi anh về những quyền năng chữa trị, bởi vì cô cảm thấy rằng sự chữa trị đã ảnh hưởng cả cái trí của cô cũng như thân thể của cô. Bệnh điếc đã khỏi, và cái trí cũng được giải thoát, được tự do khỏi ngục tù. Cô cảm thấy phía bên trong cái gì đó được buông lỏng, không thể chịu đựng những biên giới.” Krishnaji sẽ nói rất nghiêm túc với cô, “Ai bảo với bạn rằng hai cái có liên quan?” Lại nữa cô hỏi anh về “nổ tung” bên trong cô. Nhưng anh không khuyến khích cô trong sự tin tưởng của cô, và chối từ thừa nhận rằng sự tiếp xúc của anh đã mang lại những thay đổi tinh thần sâu thẳm và giải thoát khỏi ngục tù. Cô quyết định không tham gia bất kỳ những nói chuyện nào của Krishnaji nữa, nhưng bắt đầu tự nói về sự thật, một mình cô.

 Trong khi đó, những xung đột phía bên trong của Shankar Rao đang gia tăng. Năm 1962, giữa xung đột của Trung quốc và sự đối đầu gian khổ giữa Kennedy và Kruschev, Shankar Rao quyết định dẫn đầu một tuần hành hòa bình đến Trung quốc. Bạn bè ông cố gắng can gián, nhưng ông vẫn cương quyết. Thế là một nhóm nhỏ bắt đầu đi bộ trên con đường mòn đầy bụi bặm xuyên quốc gia. Không người nào biết rõ rằng lộ trình này sẽ dẫn họ đến đâu; những biên giới bị quên bẵng và thế là họ đi. Thi sĩ Allen Ginsberg và người bạn của ông Peter Orlovsky, những người thành lập phong trào Beat, cùng sự phản đối của nó chống lại phe có uy quyền và sự nghi ngờ của nó đối với tất cả những giá trị vật chất, cũng có mặt ở Ấn độ thời gian đó. Họ đang tìm kiếm sự thật trên bãi hỏa thiêu Varanasi, cùng với Aghori Bawas và Nath Panthis dữ tợn.[5] Được hài lòng bởi hành động nhân đạo điên rồ của Shankar Rao, họ tuần hành một phần của con đường cùng ông, cất lên tiếng hát bhajans trong giọng mũi người Mỹ của họ.

 Phòng điều tra trung ương CBI [Central Bureau of Investigation] bắt đầu nghi ngờ về hai người đàn ông dơ dáy tóc dài để bộ râu quai nón này. Họ không đồng ý gia hạn thị thực nhập cảnh. Tôi nhận được một điện tín từ Bombay của họ: “Bị quấy rầy bởi Phòng Điều tra tội phạm CID [Criminal Investigation Department], gia hạn thị thực bị khước từ, đã điện tín cho Nehru, Galbraith và Lord Ganesh đến Delhi vào ngày thứ hai – Allen và Peter.” Tôi giải thích vấn đề của những người tìm kiếm phương Tây này cho Viswanathan, một thư ký rất thông cảm nhưng ngờ vực của Bộ Nội vụ, mà đã bảo với tôi rằng điện tín của họ đã được gửi đến Thủ tướng Nehru trước ông ấy, và rằng danh tánh của tôi đã được cho để xác nhận sự chính trực của họ. Họ được chấp nhận gia hạn. Sau đó, họ tuần hành lại cùng Shankar Rao. Ngày 16 tháng ba năm 1963 họ đã viết:

 

Pupul thân mến,

Chúng tôi cỡi voi trong sở thú & sau đó ra ngoài đến Khurja và trải qua một ngày đi bộ cùng Shankar Rao Deo & những người tuần hành khác. Họ đang gây chú ý tức là đang thách thức sự điên cuồng của loa phóng thanh bằng sự bình thản của từng người. Trải qua buổi tối cùng họ; họ tiếp nhận chúng tôi & đối xử với chúng tôi tốt và chúng tôi sờ vào bàn chân đi bộ của họ & rời. Tôi điện thoại đến nhà của bạn khi chúng tôi trở lại Delhi, chồng của bạn trả lời bạn vẫn còn chưa về. Tôi đoán anh ấy đã kể lại cho bạn –

 OK –

 Thân, Allen

Hollo Pupul & Babu Pa và Babu Ma,

Thật vui khi tuần hành cùng họ ngày và đêm, trước chuyến tuần hành chúng tôi ngủ chung với họ trong một ashram một phòng duy nhất tất cả chúng tôi đều trong một phòng, ngủ bên cạnh tôi là một người tên là Jain từ Madras mà viết bài cho một nhật báo Budan [công việc của Bova] – cũng có một cô gái trẻ từ Bangalore kết hôn với một người Áo theo Gandhi, cả hai đều đang tuần hành đến Bắc kinh có tên là DADA đang theo cùng Shankar Rao trong tuần hành và nói chuyện suốt vài tháng – DADA kể chuyện đùa làm vui vẻ mọi người –. Tôi hy vọng họ đến được Bắc kinh – sẽ tuyệt vời lắm nếu Bhave & Nehru & Shankar Rao Deo có thể gặp gỡ & dạo bộ cùng nhau một ngày & nói về –

 Yêu & Ganes

 -Peter-

 Lúc này bạn đang đọc gì?

 Vừa đọc xong Tự truyện của Dalai Lama

 

Shankar Rao cùng những người tuần hành bụi bặm của ông bị chặn lại tại biên giới Burma. Họ ngồi và chờ đợi, nhưng chính phủ Burma cương quyết. Thế là những người tuần hành phải quay lại và giải tán. Những phê bình trên báo chí rất mỉa mai, những người phỉ báng cười cợt, và Shankar Rao bị tổn thương nặng nề.

Mùa đông năm 1961 Rao đã gặp Krishnaji ở Varanasi và đã kể cho anh về sự sợ hãi khủng khiếp đang gặm nhắm con người của ông. Khi Krishnaji hỏi ông rằng ông sợ hãi cái gì, Shankar Rao trả lời, “Chết.” Krishnaji đã thâm nhập vào sợ hãi và chết cùng đệ tử của Gandhi, nhưng sau đó sẽ nói rằng chính là sự kiềm chế bị ép buộc của những giác quan mới đang hủy hoại Shankar Rao.

 Sau khi tuần hành vì hòa bình bị tan rã, Shankar Rao cố gắng gặp lại Krishnaji, nhưng Krishnaji không ở Ấn độ mùa đông năm 1962. Bị ngăn cản, sợ hãi, không biết hướng về đâu, những năm tháng kiêng khem và phủ nhận giác quan bỗng nhiên bị đảo lộn và sự bạo lực phía bên trong của Shankar Rao tự-biểu lộ trong một hành động của đam mê. Tự-kinh hãi bởi chính anh ấy, bám vào gánh nặng vô cùng của sự tội lỗi, Shankar Rao chìm sâu trong sự trầm cảm và trở nên bị câm hoàn toàn. Bạn bè của ông lo ngại lắm và viết cho Krishnaji về ông.

 Khi Krishnaji trở lại Ấn độ mùa đông năm 1963, Rao Sahib Patwardhan và Dada Dharmadhikari đưa Shankar Rao đến gặp Krishnaji. Thoạt đầu Shankar Rao không chịu theo Dharmadhikari và Rao Patwardhan, nhưng bỗng nhiên ông gật đầu và không còn chống cự. Tôi nhớ lại con người thân thể chỉ có một mảnh vải, vóc dáng đầy đặn, da nâu, đôi mắt hung dữ, trông man dại đang mặc một áo dhoti cao được đưa vào phòng khách của Himmat Nivas ở Bombay.

 Krishnaji vào phòng và nói với Shankar Rao, “Bạn đã làm gì cho bạn vậy, người bạn của tôi?” và ôm anh. Tại sự tiếp xúc của Krishnaji hai mắt khủng khiếp, điên dại trào nước mắt. Ôm ông bằng cánh tay, Krishnaji dìu ông đến phòng của anh. Một tiếng đồng hồ sau họ đi ra. Khuôn mặt của Shankar Rao đã bình thản, ông dịu dàng nói chuyện với Dada, và chào tạm biệt Krishnaji. Có vẻ rằng Krishnaji đã cảnh báo ông không được liên quan lại với chính trị.

 Tin tức về “phép lạ” lan tràn qua Sarva Seva Sangh, và qua chúng đến ashrams khắp quốc gia. Người ta đổ xô đến nghe Krishnaji. Theo Dada Dharmadhikari, đây là phép lạ thứ hai ông đã chứng kiến, phép lạ thứ nhất là sự chữa trị tai điếc của Vimla. Tại những nói chuyện của Krishnaji ở Bombay, những đám đông tụ họp khi anh đi bộ đến xe hơi sau khi anh nói chuyện xong, cố gắng chạm vào bàn tay của anh, để hưởng phước lành của anh. Những biến cố này (mà suốt nhiều năm Krishnaji không muốn nhắc nhở đến) và sự vô hạn của sự hiện diện yên lặng của anh đã gây ấn tượng mãnh liệt cho vô số người. Lời giảng, mặc dù tất cả họ đều đồng ý nó được đặt nền tảng trong một không-phân hai tuyệt đối, lại có vẻ quá xa vời và không thể đạt được.

 Một khủng hoảng nghiêm trọng trong sự liên hệ giữa Krishnaji và Rajagopal đã phát triển ở Ý mùa hè năm 1957. Rõ ràng, Rajagopal đã chê trách Krishnaji về vài hành động anh ấy không đồng ý, và đã đe dọa không làm việc cho anh nữa.

 Trong bất kỳ trường hợp nào, khi Krishnaji và Rajagopal đến Ấn độ vào mùa đông năm 1957, Krishnaji rút lui một phần và không tổ chức nói chuyện trước công chúng.

 Ý định của Rajagopal có vẻ là tách rời Krishnamurti, con người và Người Thầy, khỏi học viện trung tâm được thành lập để tìm hiểu thêm nữa lời giảng. Sau đó nó trở nên rõ ràng rằng Rajagopal đã theo cùng Krishnaji đến Ấn độ để thu xếp những vấn đề liên quan đến Vasant Vihar và bản quyền sách của Krishnaji. Krishnaji rất lờ mờ về những cấu trúc của học viện, không quan tâm đến những trách nhiệm và những quyền lợi hợp pháp của anh, và đồng ý bất kỳ điều gì Rajagopal yêu cầu, mặc dù những chữ ký cho những tài liệu hợp pháp được kết thúc chỉ vào mùa đông năm 1958. Krishnaji trao cho Rajagopal và Krishnamurti Writings, Inc. tất cả quyền về bản quyền sách của anh, và trên thực tế rút lui khỏi K.W.I., mà anh là chủ tịch.

 Madhavachari trở thành thư ký của Foundation cho New Education năm 1957; ông cũng là đại diện K. W. I. ở Ấn độ. Ông đã trở thành người đồng hành chung thủy, người bạn của anh và người chủ nhà của anh. Madhavachari, đã về hưu không còn phục vụ cho chính phủ, đang sống ở Vasant Vihar. Ông là một Brahmin Nam Ấn, và cuộc sống ở Vant Vihar rất khắc khổ. Sự khổ hạnh có nghĩa là không quan tâm đến không gianhình dáng, hay một môi trường nơi những sáng tạo có thể nảy mầm. Những không gian được tạo ra bởi đặc điểm của Nam Ấn, được tìm thấy trong những đền thờ, trong những căn nhà nông thôn, và những vật dụng hàng ngày, đã bị bỏ quên từ lâu. Quần áo riêng tư treo trên dây phơi, giường ngủ, và những tờ giấy in trang trí những bức tường.

 Những cảm giác mơ hồ đang nảy sinh trong Krishnaji về vườn tược bị bỏ hoang và sự bố trí tổng quát ở Vasant Vihar. Những nói chuyện trùng hợp với hội nghị của Tổ chức Thông thái, và được tham dự bởi nhiều người già. Chẳng có bao nhiêu người trẻ tiếp xúc với trung tâm Vasant Vihar hay với những lời giảng của Krishnamurti.

 Từ Madras, Krishnaji và Rajagopal đi đến Rishi Valley rồi sau đó quay lại Madras. Công việc của anh ấy đã thành công, Rajagopal quay về Mỹ. Anh ấy được tiễn tại phi trường Bombay bởi Sunanda và L. V. Bhave. Nhắc lại biến cố, Sunanda kể về sự tức giận của Rajagopal, sự bùng nổ chống lại Krishnaji của anh ấy, và những phản ứng lẫn những từ chối dữ dằn của Jamnadas Dwarkadas khi lắng nghe những than vãn của Rajagopal.

 Tôi đã không thể đi đến Rishy Valley hay Madras, bởi vì chồng tôi bị bệnh tim rất nặng; tôi phải chờ Krishnaji ở Delhi. Những liên hệ của tôi với người chồng rất khó khăn trong một khoảng thời gian; một người Maharashtra, anh ấy không thể dung thứ một người vợ theo đuổi một sống và có những quan tâm tách khỏi quan tâm riêng của anh ấy. Anh ấy phản đối mạnh mẽ nơi nào anh ấy biết nó sẽ gây tổn thương, nhưng trong khi tiến hành sự xung đột đã tàn phá anh ấy và thân thể anh bị suy sụp.

 Krishnaji, được theo cùng bởi Maddhavachari, đến Delhi đầu năm 1958. Lâu năm rồi từ lần cuối cùng tôi gặp Krishnamurti trong vai trò người chữa bệnh. Tôi kể cho anh về sự phiền muộnđau khổ của tôi. Từ bi của anh bao bọc tôi. Anh khiến cho tôi phải đối diện sự kiện rằng không có sự liên hệ nào tồn tại giữa tôi và con người tôi đã kết hôn. Tôi không được chuẩn bị để thấy điều này. Sự đau khổ dồn dập như những con sóng, nhận chìm tôi, khiến cho sự quan sát rõ ràng không thể xảy ra được. Anh đặt hai lòng bàn tay của anh giống như nuốt trọn quanh khuôn mặt của tôi. Anh bảo tôi nhìn vào hai mắt của anh và thấy sự đau khổ của tôi được phản ảnh trong chúng. Anh là người cha, người mẹ, người bạn, và người thầy, hiển hiện cho tôi trạng thái mỏng manh và trạng thái dai dẳng của tinh thần bị đau khổ; nhưng anh sẽ không cho phép tôi ngoảnh mặt đi. Giống như một cột lửa, đang thấy của anh hủy diệt những ký ức, trạng thái cô độc, không tình yêu mà là gốc rễ của sự đau khổ. Tôi được dẫn dắt đến mặt đối mặt trạng thái trống không của sự đau khổ. Một nhận biết được sinh ra mà thiêu rụi những vết sẹo của cái gì đã là. Anh tỏa ra tràn đầy tình yêu của anh và nó trôi chảy qua tôi, làm thanh thản quả tim của tôi. Nếu anh chữa trị phía bên trong của tôi, cũng vậy đối với người chồng của tôi, anh trao tặng tràn đầy tình yêu của anh. Thuộc thân thể, chữa trị quả tim bị tổn thương, nói với anh ấy bằng cùng tình yêu như thế, chữa trị cái trí và tinh thần của anh ấy.

 Từ Delhi, Krishnaji và Madhavachari đi đến Varanasi. Tôi nhận được nhiều lá thư từ Krishnaji yêu cầu tôi đến Rajghat, nhưng điều kiện thân thể của chồng tôi không cho phép tôi để anh ấy lại một mình.

 Krishnaji trải qua mùa hè 1958 ở Ấn độ. Anh đã được mời ở lại trong một bungalow M. E. S. tại Chowbatia ở Ranikhet, một ngôi nhà rộng lớn nằm tại vị trí cao nhất ở Ranikhet, cùng một quang cảnh hoành tráng của dãy núi Himalayas tuyết phủ nằm đầy thiêng liêng trước mặt nó. Krishnaji lại ở trong những hòn núi thiêng liêng của quá khứ tổ tiên của anh. Những buổi chiều tối, anh ngồi và hát lên những bài thánh ca tiếng Phạn mà anh đã học lại. Anh dạo bộ trong những cánh rừng cây thông tuyết, bị lạc, tìm được con đường dẫn về nhà.

 Nói về những dạo bộ này, anh kể về một chiều tối khi tin tức loan truyền rằng một con cọp đã giết người, không xa nhà của Krishnaji lắm. Sáng hôm sau anh dạo bộ thường lệ, lang thang mỗi lúc một sâu hơn vào rừng. Nhiều âm thanh của rừng – chim chóc và những chiếc lá xào xạc, những con khỉ huyên thuyên – trôi chảy qua anh. Bỗng nhiên anh tỉnh táo hẳn và phát giác rằng thân thể của anh chối từ chuyển động. Theo bản năng, anh đã nhận biết được cái gì đó, và sự thông minh của thân thể đã phản ứng. Tất cả những âm thanh đã bặt tăm. Mọi thứ dường như trong một trạng thái của đọng lại – trong tích tắc hơi thở của thiên nhiên tan biến. Krishnaji đứng sững trong khoảng hai phút, cái trí của anh hoàn toàn tỉnh thức, thân thể của anh không cử động. Anh có thể cảm thấy đang bị quan sát. Sau đó bỗng nhiên nó chấm dứt, chim chóc lại gọi lẫn nhau, những con khỉ chuyền từ cành cây này sang cành cây khác, rừng sống lại, và Krishnaji về nhà. Vào chiều tối những đồn đại báo đến nhà rằng người ta đã thấy con cọp lảng vảng trong rừng.

 Radhika, người con gái mười tám tuổi của tôi, và Asit Chandmal, cậu cháu trai mười bảy tuổi của tôi, sẽ viếng thăm Krishnaji và Madhavachari tại Chowbatia vào tháng năm. Sau đó các cháu sẽ ra nước ngoài tiếp tục việc học hành – Radhika đến Bryn Mawr ở Mỹ, nơi cháu theo môn triết học, và Asit đến Royal College of Science ở London.

 Krishnaji rất hạnh phúc khi có hai người trẻ ở lại cùng anh. Madhavachari cho các cháu vô số thức ăn, và Krishnaji dạy yoga asanas, những tư thế. Anh chỉ cho các cháu cách đi, cách đứng, cách nhìn từ phía sau đầu. Việc này sẽ cho phép thấy trôi chảy về phía sau và thấy từ chiều sâu. Anh dắt các cháu đi dạo rất xa, nhìn ngắm, lắng nghe, và dạy các cháu cách nhìn, cách lắng nghe.

 “Nhặt lên một chiếc lá,” anh nói. “Nhìn ngắm nó – nhìn xa tới mãi những đỉnh núi phủ tuyết và thả cho nhìn đó trôi chảy vượt khỏi rồi sau đó nhìn rất gần và liên kết nhìn đó đến lắng nghe. Nhìn trong cách của người Nhật bản,” anh bảo các cháu, mà Radhika nói có nghĩa là cúi đầu xuống và nhìn thế giới đảo ngược lại. Vào một trong những dạo bộ Asit nhớ lại Krishnaji nói về dấu thánh giá, “Đường thẳng là ‘cái tôi’ và đường ngang là phủ nhận ‘cái tôi.’ ”

 Madhavachari sẽ rời đó để đi đến Madras trước Krishnaji, và Murli Rao, người đã kết giao cùng Krishnaji lâu lắm rồi, từ Delhi đến để đón Krishnaji xuống vùng đồng bằng. Mặc dù những người làm vườn và những người phụ giúp khác không thể nói tiếng Anh, họ đều cảm thấy sự hiện diện yên lặng, trầm tư của Krishnaji. Tin tức về một yogi vĩ đại đã lan truyền, và mọi người từ khắp thị trấn đều đến để có một darshan thấy và giã từ anh. Krishnaji chào hỏi họ bằng những nụ cười thương yêu, kế tiếp trước khi rời đó anh đi quanh vườn và đứng yên lặng trước những cây thông nhựa và những cây thông tuyết đầy mấu cổ xưa. Sau đó, Murli Rao hỏi Krishnaji rằng anh đang nhìn ngắm cái gì, và Krishnaji trả lời rằng anh đang chào tạm biệt những bạn bè của anh. Cây cối đã là những người bạn của anh nhiều ngày tháng khi anh ở đó, và anh đã hiệp thông cùng chúng.

 Ở Bombay tháng giêng năm 1958, Rao Sahib Patwardhan đưa một người bạn, P. Y. Deshpande – một luật sư, người viết văn, và người theo chủ nghĩa Marx lý thuyết – đến gặp Krisshnaji. Bị vỡ mộng bởi chủ nghĩa Marx, uyên bác, nổi tiếngtrí thức của ông và tánh nết dữ dằn của ông, Deshpande đến gặp Krishnaji ở Bombay cùng người vợ, Vimla Tai. Sự đau khổ đã tàn phá họ; người con trai của họ bị chết và chủ nghĩa Marx không có đáp án. Ông quay về quá khứ Brahmin của ông, và ông cùng người vợ đã nghiên cứu VedasUpanishads. Thánh ca hướng về Sáng tạo của Rigveda đã khơi dậy trong họ một khoảnh khắc của sự nhận biết gây hủy diệt. Deshpande đã viết một phê bình về thánh ca, qua đó ông gặp Rao Patwardhan.

 Vợ chồng Deshpande gặp Krishnaji tại Himmat Nivas. Deshpande có một thân thể mảnh khảnh, khuôn mặt của ông gầy gò và hằn lên sự đau khổ, nhưng tinh thần của ông lại có một sinh lực lạ lùng. Ông nói với Krishnaji, “Tôi là một người Marx, và tôi muốn giải bày nó cùng ông, tôi phải nói chuyện với ông, mà không bám chặt vào bất kỳ quan điểm nào. Nếu điều gì ông nói là đúng thực, tôi sẽ bỏ chủ nghĩa Marx và theo ông.”

 Như Deshpande sẽ giải thích sau đó, ông cố gắng vật lộn với Krishnaji trong những từ ngữ. Ông thách thức Krishnaji nhưng cuối cùng phát hiện rằng ông đang đấu tranh với không-ai cả. Điều này làm cho ông thất vọng, tức giận. Chất vấn của ông càng kịch kiệt và hung bạo nhiều bao nhiêu, ông càng đối diện với cánh đồng trống không nhiều bấy nhiêu. Bỗng nhiên, tất cả chất vấn tan biến. Krishnaji nói, “Chủ nghĩa Marx không là vấn đề, nhưng cái chết của người con của bạn.” Vợ chồng Deshpande không thể tiếp tục thêm nữa. “Chúng ta hãy nói về điều đó, và về sự đau khổ của bạn,” Krishnaji nói.

 Họ ngồi lặng thinh trước mặt Krishnaji, trong khi Krishnaji nói với họ về chết. Khi những từ ngữ kết thúc, vợ chồng Deshpande đi ra rưng rưng nước mắt. Thấy họ, Rao hỏi, “Tất cả đều tốt đẹp chứ?” Deshpande trả lời, “Tất cả những vấn đề đều kết thúc.” Họ quay lại Nagpur, thu xếp mọi vật tùy thân, và đến sống tại Sarai Mohana trong một căn nhà vùng quê nhỏ bên bờ sông Ganga. Trong những năm sau Deshpande và người vợ hợp tác trong mọi khía cạnh của công việc tại Rajghat.

 

CHƯƠNG 19

“Nói bằng Toàn Bộ đầu”

 

Đ

ầu năm 1959, người ta quyết định rằng Krishnaji sẽ không quay lại Ojai, nhưng sẽ trải qua năm thứ hai ở Ấn độ. Anh đã ở quốc gia này từ mùa thu 1957 và sẽ không quay lại Châu âu mãi đến mùa xuân 1960. Đó là thời gian dài nhất mà anh sẽ sống tại Ấn độ từ khi anh rời quốc gia lúc còn bé.

 Tháng tư, khi thời tiết nóng nực, ẩm ướt không thể chịu nổi. Krishnaji quyết định rời Bombay để đến Lonavala, một khu nghỉ mát trên đồi nhỏ giữa Bombay và Poona. Anh ở một mình cùng một người phụ giúp trong ngôi nhà của Amru Mehta, người em gái út của tôi. Sunanda và người chồng của em ấy, Pama Patwardhan, ở tại Poona, chỉ cách Lonavala bốn mươi dặm, và thường đến viếng thăm anh. Anh sống hầu hết mọi ngày một mình.

 Tháng năm, người ta sắp xếp anh đi đến Kashmir qua Delhi, theo cùng bởi Madhavachari và một người nấu ăn Nam Ấn có tên là Parameswaran. Trong khi ở New Delhi Krishnaji quả quyết rằng Madhavachari phải may một bộ com lê bằng len mới. Anh rất hài lòng khi thấy Madhavachari mặc tươm tất, và anh khen, “Bây giờ Mamaji sẽ trông rất bảnh bao.” Khi họ đến, họ ở qua đêm trên một chiếc thuyền làm thành nhà ở Srinagar. Ngày hôm sau họ chuyển đến một cái nhà nằm trong một vùng đông đúc của thành phố, và trong một lá thư gởi cho tôi Krishnaji diễn tả sự buồn bực của anh bởi cái nhà và những vùng chung quanh của nó đầy chuột.

 Ngày 26 tháng năm, Krishnaji và Madhavachari rời Srinagar và lái xe đến Achebal, một serai hay nhà khách được xây dựng bởi Nur Jehan trên con đường cổ xưa từ Labore đến Srinagar. Achebal được đề cập trong Akbar Nama[6] như một nơi tôn thờ của những cổ xưa; dòng nước dồi dào của nó, trong như pha lê và lạnh lẽo, bắt nguồn từ một con suối chảy xiết. Thỉnh thoảng, Akbar Nama tiếp tục nói, một con cá có đốm màu vàng đẹp sẽ xuất hiện trong nước, và sự xuất hiện của nó được nghĩ là rất may mắn. Suốt hàng trăm năm những người hành hương đã đến vùng đất thiêng liêng này bởi vì khả năng chữa bệnh của nước suối, bất kể những thần thoại của những yakshis, những vị thần cây và nước mà bảo vệ con suối, đã biến mất từ lâu.

 Nur Jehan đã dựng lên một cái vườn có tường vây chung quanh con suối, bao quanh một khu vực được trồng bởi những cây dương và cây chinar. Tại một vị trí trong khu vực bao quanh con suối phun vọt nước lên dữ dội từ lòng đất rơi xuống như một miếng nước đến những mức độ thấp hơn của cái vườn. Những nhánh to của cây chinar tràn qua nước đang chảy. Dưới thác nước là những cái ao và những vòi phun, và những cái mương được đào để dẫn nước đến những vùng xa của cái vườn. Những cái mương này được hoạch định để cho những tia sáng của mặt trời tạo ra những cầu vồng khi chúng bắt được tia phun ra của thác nước và những vòi phun. Những bông hoa đã được trồng, hơi hơi hoang dại, trong những khu vực nơi những cây dương và cây chinar không tỏa bóng của chúng. Những cái chòi trống bốn phía, lúc đầu được dựng lên bởi Moghuls, nhưng sau đó được sửa chữa và chẳng còn mang dấu vết của những cân đối tinh tế đầu tiên của chúng, được đặt gần cái ao. Tiếng ầm ầm của thác nước và âm thanh của nước róc rách không xâm phạm để phá vỡ những yên lặng và cũng không quấy rầy những con chim nghỉ ngơi trong những cây chinar có thân to lớn. Vùng quê là một tấm thảm mênh mông của những cánh đồng lúa non xanh tươi thấm đầy ánh nắng mặt trời, tương phản cái nền của những hòn núi có đỉnh phủ tuyết, dựng đứng trên đường chân trời.

 Ngay sau khi họ đến, Madhavachari phải đi Madras, bởi vì một trong những người con của ông bị bệnh. Nhưng Parameswaran ở lại để phụ giúp những nhu cầu của Krishnaji. Tôi tham gia cùng Krishnaji tại Achebul ngày 6 tháng sáu, và sống trong một túp lều nhỏ gần nhà của Krishnaji đến cuối tháng.

 Trước khi tôi đến Kashmir, Krishnaji đã viết thư nhờ tôi mang cho anh một quyển sách tiếng Anh cho người bắt đầu, một quyển Golden Treasury of English Verse của Palgrave, và một chai thuốc dưỡng tóc. Tôi cũng đem một gói xoài alfonsso, một trái cây Krishnaji ưa thích. Không có điện ở Achebul, và buổi tối chúng tôi dùng đèn lồng dầu hôi hay một petromax.[7]

 Krishnaji thức dậy lúc bình minh và tập yoga asnaspranayama của anh, mà anh đã học từ B. K. S. Iyengar, một người thầy nổi tiếng của yoga từ Poona. Krishnaji đang cố gắng thuyết phục tôi học yoga asnas, nhưng bởi vì tính khí thờ ơ phần thân thể nên những nỗ lực tập luyện của tôi đều thất bại. Sau khi asnas của Krishnaji chấm dứt, chúng tôi ăn một bữa điểm tâm kiểu Nam Ấn gồm idlissambhar hay dosas, bánh đậu lăng pha gạo mặn, với tương ớt làm bằng dừa. Tôi uống cà phê, Krishnaji uống món pha chế thảo mộc nào đó.

 Đến lúc đó Krishnaji đã sẵn sàng cho chuyến dạo bộ lâu, và tôi tham gia cùng anh leo lên những quả đồi chung quanh. Dạo bộ qua những cánh rừng thông, chúng tôi leo lên những triền đồi dốc đứng; Krishnaji rất nhanh nhẹn, giữ thăng bằng thật khéo léo, leo trèo qua những tảng đá to và ưa thích nhảy qua trực tiếp dễ dàng hơn là phải đi vòng vòng. Tôi hổn hển thở dài, nhưng tôi quen công việc leo núi từ niên thiếu và xoay sở để theo kịp anh. Anh sẽ leo lên thật nhanh, sau đó nhìn lại tôi, quan sát tôi đấu tranh để thương lượng với một tảng đá khó khăn đặc biệt; thỉnh thoảng anh chìa tay ra và kéo tôi lên phía sau anh, vượt qua những triền rất dốc đứng. Từ đỉnh đồi, mà chúng tôi đến sau khi leo trèo vất vả và rất lâu, phong cảnh gây kinh ngạc. Cái vườn có tường bao bọc và những cánh đồng lúa xanh tươi mát mẻ cùng những cây dương hai bên sườn nằm phía dưới, trong khi màu trắng kinh ngạc của tuyết vây quanh chúng tôi. Krishnaji say đắm phong cảnh ở đây.

 Vào những buổi chiều, sau khi nghỉ trưa, anh sẽ dạy Parameswaran tiếng Anh. Gần gần tối, chúng tôi dạo bộ chầm chậm giữa những cánh đồng lúa, hay bên trong cái vườn có tường Moghul. Những bông hoa nở rộ và những cơn gió nhẹ mang hương thơm của hoa hồng, hoa tử đinh hương, và hoa kim ngân. Rau cải xoong mọc đầy theo thảm con suối và chúng tôi hái chút ít cho bữa ăn chiều. Có một nơi ươm trứng của cá hồi, và Krishnaji nhìn ngắm chuyển động mau lẹ của con cá.

 Krishnaji là đứa trẻ của nước. Anh vui đùa cùng dòng suối đang chảy tung tăng, vọt lên, rơi xuống, hay nước đang trôi qua những hòn đá cuội phủ rong rêu, hay nước không một gợn sóng. Tình trạng mờ mờ trong và sự tự do của nước, chuyển động cuồng nộ của nó, sự lặng lẽ của nó hay những lần xô đẩy của nó qua đất và đá, khiến cho anh mê đắm.

 Tâm trạng của Krishnaji rất trẻ thơ; không cơn bão nào thịnh nộ. Tiếng cười đùa trên hai môi của anh và hai mắt của anh. Anh làm tiêu tan mọi phiền muộn của tôi trong từ bithương yêu. Thỉnh thoảng anh lại nghiêm túc và tư lự ghê lắm. Nhiều thấu triệt mà anh sẽ thâm nhập sau đó trong năm này, trong những nói chuyện của anh ở Madras và Bombay, đang nảy ra. Giống như thủy triều, hay trăng tròn và khuyết, cái trí của anh chuyển động trong nhịp điệu riêng của nó. Tôi thấy người đàn ông của huyền bí này, được phú cho vẻ đẹp vô hạn, bình phẩm về “sự tổng thể của ánh mặt trời,” ngước nhìn một chiếc lá mới nhú, đặt bàn tay của anh trên một cái cây có tuổi thọ hàng thế kỷ, kết bạn cùng nó, cảm giác cái vỏ sần sùi của nó, lắng nghe tiếng ầm ầm của nhựa cây khi nó chảy qua những mạch máu của chiếc lá. “Không thời gian hiện diện ở đây, nó ẩn mình dưới mỗi chiếc lá,” anh thường nói. Tôi cảm thấy quả đất trên đó chúng ta đi, nói chuyện, ăn uống, và sống như cái nền của một năng lượng không giới hạn. Thỉnh thoảng tôi cảm thấy bị mê mẩn, như thể được nuôi sống bởi những giọt sương mai. 

 Trong một dạo bộ anh hỏi tôi nhìn ngắm như thế nào, và nói năng như thế nào. Tôi bị bối rối. Sau đó anh nói, “Liệu có thể nói, ca hát, ngâm nga, không phải từ cuống họng hay miệng, không phải từ phía trước của miệng, nhưng hãy buông trôi cho những từ ngữ chạm vào phía sau của bộ đầu, qua hai mắt, cùng chú ý được giữ chặt đằng sau hai mắt, và thế là nói? Đó là, nói bằng toàn bộ đầu.”

 Chúng tôi bàn luận rất lâu về cái trí tôn giáo thực sự và cái trí khoa học như hai cái trí duy nhất mà sẽ tồn tại trong những năm sắp đến – một câu phát biểu mà anh sẽ tìm hiểu trong những nói chuyện tại Madras. Anh nói về chết và kết thúc như cái nguồn của sáng tạo và sự giải phóng của năng lượng mà không hao tán. Đối với anh, đang lắng nghe, chính nó là phép lạchuyển hóathâm nhập thăm thẳm, lật tung gốc rễ và hủy diệt những trói buộc giấu giếm của cái trí.

 Trong những đêm không có trăng, tối thui chúng tôi sẽ ra ngoài và nhìn ngắm những vì sao và màn đêm đang giảm sút của không gian. Anh sẽ chỉ vào vô số những chòm sao. Anh nói về chuyến hành trình vào không gian phía bên ngoài và chuyến hành hương phía bên trong như sự khám phá về cái vô tận. Nhưng một cái trí nhỏ nhen không thể dấn thân vào chuyến hành hương của vĩnh hằng này.

 Mọi buổi tối là một phước lành.

 Vào ban đêm, sau bữa ăn tối sớm dưới ánh sáng của petromax, anh sẽ ngâm lại bài thơ từ tập thơ Golden Treasury. “Ode to the Nightingale” của Keat là bài thơ ưa thích nhất của anh. Buổi tối thời tiết rất lạnh và chúng tôi đốt củi và quả thông khô trong lò sưởi thóang. Thỉnh thoảng, anh sẽ cất lên những thánh ca bằng tiếng Phạn. Những âm thanh của giọng hát sâu lắng của anh phủ kín căn phòng và vang rền qua những cánh đồng lúa, vươn ra khỏi những núi tuyết. Lắng nghe và thấy được nở hoa trong sự hiện diện cổ xưa của anh.

 Krishnaji kể với tôi rằng tại một trong những dạo bộ của anh, anh đã gặp một nhóm khỉ đang đi, bên trong sự hiện diện của những đỉnh núi phủ tuyết. Chúng đang đi qua những cánh đồng lúa xanh tươi rực rỡ, và những đỉnh núi tuyết vút cao khạc lửa cùng ánh sáng mặt trời. Trong đang thấy sự mênh mang là bản thể của thiêng liêng. Tuy nhiên, những thầy tu đi bộ với hai mắt của họ thâu hẹp lại và tập trung trên mặt đất trước hai bàn chân của họ, hoàn toàn không nhận biết được sự vinh quang chung quanh họ. Dù những cái trí của họ yên lặng đến chừng nào, anh nói, nó sẽ là sự yên lặng của những giới hạn, của những không gian bé tí, và vũ trụ đang lan rộng vô hạn sẽ không có nơi chỗ bên trong nó.

 Mỗi vài ngày tôi sẽ đi đến Srinagar bằng xe hơi và quay lại vào buổi chiều. Krishnaji có sự cảm thông nhiều đối với những món đồ thủ công nghệ, và tôi sẽ mang về những vật dụng dệt bằng tay và những món đồ thủ công. Anh sờ mó đối xử với chúng rất cẩn thậnvui mừng trong từng màu sắc của chúng, những kết cấu của chúng, và sự khéo léo của người thợ. Tôi cũng sẽ mang về rau quả tươi, bởi vì chúng không có sẵn tại Achebul.

 Năm 1959, tôi không có hiểu biết rằng Achebul là một vùng hành hương cổ xưa, và những nước của con suối được giữ gìn thiêng liêng. Những cư dân Hồi giáo địa phương, đã tẩy xóa tất cả những dấu vết của quá khứ cổ xưa và những thần thoại liên quan đến nó. Tuy nhiên, Krishnaji cảm thấy nhịp đập của nó, âm vang nhiều bàn chân của những người hành hương đã giẵm trên con đường này đến con suối. Anh thường nói về vai trò của những người hành hương. Tôi kể cho anh về một bài viết từ xa xưa nơi bàn chân của những người lang thang được ví như một bông hoa. Tôi cũng nói rằng lộ trình của những người hành hương nằm ở Pahalgam, cách Achebul khoảng bốn mươi dặm. Nhưng chẳng giúp ích được gì.

 Từ từ tôi nhận biết rằng rất khó khăn khi sống gần gũi Krishnaji mà không trở nên vô cảm. Nó giống như đang sống trước mặt một tia lazer; người ta có thể dễ dàng quen thuộc với độ mãnh liệt và thế là bị đốt cháy và quắt lại. Sống gần anh là sống trong một vùng của quan sát và lắng nghe. Người ta phải tỉnh táo cực kỳ đến độ cột sống dựng đứng, cái trí trở nên cảnh giác, thân thể bất động. Anh canh chừng mọi chuyển động, mọi suy nghĩ. Cách người ta đi đứng, những cử động khích động của thân thể, cách người ta nói chuyện, âm điệu của giọng nói, những yên lặng. Anh lắng nghe mọi phản ứngnhận biết được khi nào cái trí bắt chước, khi nào nó đang sống cùng thấu triệt. Không thốt ra một từ ngữ, người ta cảm thấy lắng nghe và nhìn ngắm. Nhưng “đang hiện diện” mà rất gần, mà nhìn ngắm, mà lắng nghe, mà không có sự nhận xét. Nó giống như đang thấy khuôn mặt của người ta trong một cái gương cổ bằng đồng được đánh láng bóng.

 Sống hơi xa chúng tôi là một người đàn ông trong những ngày xa xưa đã là một khất sĩ và sau đó đã từ bỏ chiếc áo cà sa. Ông là một vị khách liên tục, mang cho Krishnaji một ít rượu ủ bổ dưỡng mà ông nói rất tốt cho thận. Krishnaji, theo bản năng là một người theo thiên nhiên, thích thú những thảo mộc và uống món rượu bổ, quả quyết rằng nó rất tốt cho thận của anh.

 Cuối tháng sáu tôi quay về Delhi. Chẳng mấy chốc Krishnaji ở Pahalgam, trại căn cứ chính cho những người hành hương thực hiện chuyến hành trình đến Amarnath, một trong những vùng hành hương thiêng liêng nhất ở Ấn độ. Tại hang Amarnath cao trong núi Himalayas, một hình dạng lingam tự nhiên của tuyết được hình thành và tan chảy theo vòng tuần hoàn của mặt trăng. Hành hương chính vào ngày trăng tròn của tháng tám khi lingam xuất hiện trong hình thể quả trứng hoàn hảo, nhưng từ giữa tháng sáu những khất sĩ và những người dân thường đã đi hành hương đến hang. Chuyến đi nguy hiểm lắm. Con đường nằm vắt ngang những cái đèo cao và những hẻm núi dựng đứng. Dọc theo lộ trình là Sheshnag, một cái hồ của màu xanh trong suốt tương phản với những hòn núi cao vun vút. Trăng tròn ló lên đằng sau đỉnh núi cao nhất, sáng tạo chất lân tinh trên những tuyết vĩnh cửu, được ví như trăng khuyết nghỉ trên mái tóc bện của Shiva.

 Tại Pahalgam, Krishnaji ở tại một cái chòi dành cho du khách dựng lên lẫn trong những cây thông. Qua thung lũng, hai con sông hợp thành cơn cuồng nộ bởi những tảng đá láng bóng đồ sộ nằm vất vưởng dưới đáy của chúng, bị rơi xuống từ những vị trí trên cao; con sông Lidar xuất phát từ sông băng Kolahai và con sông còn lại, Amarganga, thỉnh thoảng được gọi là Sheshnag, dọc theo hai bờ của nó là con đường mòn dẫn đến Amarnath.

 Những khất sĩ và những du khách từ Srinagar đến gặp Krishnaji, và anh nói chuyện với một vài người trong số họ. Anh sẽ nói về những khất sĩ này trong những nói chuyện của anh tại Madras sau đó trong năm. Anh nói, “Ngày nào đó ở Kashmir nhiều khất sĩ đã nói với tôi, ‘Chúng tôi sống một mình trong tuyết. Chúng tôi không bao giờ gặp gỡ bất kỳ ai. Không ai đã từng viếng thăm chúng tôi.’ Tôi nói với họ, ‘Thật ra bạn có một mình à, hay bạn chỉ tách rời phần thân thể khỏi nhân loại?’ ‘A, đúng chứ,’ họ trả lời, ‘chúng tôi chỉ có một mình.’ Nhưng họ lại ở cùng Vedas và Upanishads của họ, cùng những trải nghiệm của họ và sự hiểu biết đã lượm lặt của họ, cùng những thiền định và những japams[8] của họ. Họ đã không từ bỏ gánh nặng của tình trạng bị quy định của họ. Đó không là một mình. Khoác vào một cái áo cà sa không có nghĩa là từ bỏ. Bạn không bao giờ có thể từ bỏ thế giới, bởi vì thế giới là bộ phận của bạn. Bạn từ bỏ một vài con bò, một ngôi nhà, nhưng muốn từ bỏ di truyền của bạn, truyền thống của bạn, gánh nặng quy định của bạn, điều đó đòi hỏi sự thâm nhập thăm thẳm.”

 Hầu hết những dạo bộ của Krishnaji đều thực hiện một mình qua những cánh rừng thông và dương dày dặc vây quanh Pahalgam. Ngày 13 tháng tám, Vinoba Bhave và những đệ tử của ông đến gặp Krishnamurti.

 Vinoba nói đây là lần đầu tiên ông thấy Krishnaji. Người hành hương Gandhi hỏi, “Ông bao nhiêu tuổi?”

 Krishnaji trả lời, “Sáu mươi tư.”

 “Vậy là ông là người em trai của tôi. Tôi đã đến để bày tỏ sự tôn kínhtìm kiếm những phước lành của ông. Rao và Achyut Patwardhan, Dada Dharmadhikari, và Vimla đã kể cho tôi về ông nhiều lần. Nhưng tôi luôn luôn phải di chuyển và ông cũng vậy. Vì vậy chúng ta không bao giờ gặp nhau.”

 Sau khi những lời nhận xét lịch sự chấm dứt, Vinobaji yêu cầu Krishnaji nói cho ông ấy biết về sự thông minh của anh. Krishnaji có vẻ thẹn thùng và yên lặng. Một ghi lại về những bàn luận được giữ bởi Nirmala Deshpande, người hiện diện trong suốt những gặp gỡ và ghi lại khi đối thoại giữa hai người xảy ra.

 Vinobaji nói, “Chúng ta bắt đầu như thế nào đây?”

 “Nó phụ thuộc vào bạn hứng thú điều gì,” Krishnaji trả lời.

 “Sống,” Vinobaji trả lời.

 “Mọi người đều quan tâm đến sống. Nhưng sự bàn luận phụ thuộc vào những từ ngữ, và những từ ngữcần thiết,” Vinobaji nói.

 “Không quá nhiều từ ngữ, ngược lại sự bàn luận mất đi ý nghĩa,” Krishnaji trả lời. “Bàn luận hàm ý…”

 Trước khi Krishnaji có thể tiếp tục, Vinobaji nói, “Chia sẻ những trải nghiệm.”

 “Vâng, và cũng thâm nhập sâu thẳm. Sự trải nghiệm bị giới hạn – tôi nghi ngờ đặt nền tảng hành động trên sự trải nghiệm.”

 “Liệu đó là do bởi sự trải nghiệm quy định con người?” Vinobaji hỏi.

 “Vâng,” Krishnaji trả lời, “đó là lý do tại sao điều cốt lõi là phải có một cái trí tự do, một cái trí không bị bóp nghẹt bởi sự trải nghiệm, nhưng tự do để thấy vượt khỏi sự trải nghiệm. Người ta phải chết đi trải nghiệm mỗi ngày. Người ta luôn luôn đang diễn giải trải nghiệm dựa vào cái cũ kỹ. Là một người Ấn giáo tôi diễn giảidựa vào Shiva, Krishna – nhưng chúng chỉ là những từ ngữ.”

 “Sự phân chia như Ấn giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo phải được xóa sạch,” Krishnaji nói.

 Vinobaji trả lời, “Vâng.”

 “Bạn nói ‘vâng,’ nhưng nó là một phát biểu thuộc từ ngữ. Liệu bạn không còn là một người Ấn giáo? Trong khoa học, người ta buông bỏ trải nghiệm quá khứ, để khám phá một thấu triệt mới mẻ. Từ ngay khởi đầu người ta nên được dạy hãy tự do khỏi tình trạng bị quy định – như một người Ấn giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo. Không ai trong chúng ta buông bỏ. Chúng ta chỉ giả vờ làm như thế.

 “Người ta phải không còn là người Ấn giáo hay Hồi giáo; người ta phải là một con người. Nhưng điều đó khó khăn vô cùng. Suy nghĩ về tự do chẳng dẫn bạn đến đâu cả.

 “Đầu tiên, người ta phải tự do. Tự do trước, không phải qua suy nghĩ về tự do.”

 Vinobaji yêu cầu những nguời đồng hành của ông đưa ra những câu hỏi, nhưng họ đều do dự. Vinobaji nói với Krishnaji rằng hầu hết mọi người không muốn chất vấn, nhưng đến vì darshan thấy. Bàn luận chuyển động khỏi những vấn đề nghiêm túc, và Vinobaji hỏi Krishnaji, “Ông ở lại Ấn độ bao lâu?”

 “Sáu tháng.”

 “Ông có tập thể dục không?”

 “Một chút ít, tôi đi dạo.”

 Một trong những đệ tử của Vinobaji hỏi, “Ý nghĩa của tự-nhận ra là gì?”

 “Nó có nghĩa gì đối với bạn?” là câu trả lời.

 “Hợp nhất cùng Brahman – cùng Thượng đế,” một trong những đệ tử của Vinobaji nói.

 “Thượng đế là một cụm từ. Muốn nhận ra Thượng đế, bạn phải có một cái trí tự do, một cái trí tốt lành mà không theo sau bất kỳ người nào cả. Một cái trí không-đạo sư, không-hệ thống. Hãy thử nó.”

 “Làm thế nào người ta có một cái trí như thế?” lập tức có một đáp lại.

 “Phải có hiểu rõ về chính mình. Không phải hiểu rõ về Atman, nhưng người ta suy nghĩ như thế nào, tại sao người ta suy nghĩ – người ta hành động như thế nào. “Cái tôi” là gì? Tôi không chỉ đang nói về cái tôi tầng ý thức bên ngoài, nhưng về những tầng sâu thẳm của ý thức bên trong. Điều gì được cần đến là một cái trí cách mạng. Bạn không thể có điều đó bằng luyện tập. Nếu bạn thấy chỉ qua một cái cửa sổ, tầm nhìn của bạn bị giới hạn.”

 “Liệu triết lý này có thể được giảng dạy?” một trong những đệ tử của Vinobaji hỏi.

 “Có một cách suy nghĩ đúng đắn. Liệu nó đặt thành vấn đề người nào lắng nghe?” Krishnaji nói.

 “Có lẽ đệ tử của tôi cảm thấy rằng ông nên xuất hiện như người giảng đạo,” Vinobaji nói vào.

 “Tôi à, thưa bạn! Tôi đang nói – đó là sống của tôi. Bạn muốn tôi thực hiện nó giống như truyền thống?”

 “Có lẽ ông đang thực hiện trong cách của ông việc gì đệ tử của tôi muốn ông thực hiện.”

 “Thưa bạn, không có cách của tôi, cách của bạn, cách của anh ấy. Chỉ có một cách.” Krishnaji kiên quyết không nhân nhượng.

 “Tôi suy nghĩ trong một cách, bạn suy nghĩ trong một cách khác. Chúng ta lừa dối nguyên một thế hệ. Người ta phải được tự do, con người phải được tự do để nói về Thượng đế. Người Cộng sản nói không có Thượng đế, bạn nói có Thượng đế. Cả hai đều bị quy định. Cả hai đều đang nói cùng một sự việc. Đó là bi kịch. Không có cách thiền định của bạn hay của tôi. Chỉ có thiền định.”

 “Khi ông nói theo cách này ở Mỹ, người ta phải trân trọng điều gì ông nói,” Vinobaji nói.

 “Trong phương Tây hệ thống phúc lợi xã hội chăm sóc những nhu cầu tối thiểu. Con người đang hướng về niềm tin, về Thiên chúa giáo, giống như con người ở đây hướng về Ấn giáo. Sự khác biệt là gì? Ở Ấn độ sự đổi mới kinh tế đã trở thành quan trọng nhất – đổi mới và hệ thống phúc lợi xã hội là công việc của chính phủ. Nhưng một người đổi mới không liên quan gì đến tôn giáo. Một tôn giáoliên quan đến sự đổi mới và tôn giáo có cái gì đó rất khác biệt.

 “Tôn giáo là cái nguồn của sự sống, khô..0130ng phải sự đổi mới. Tôi không chống lại những đổi mới. Chúng cần thiết. Nhưng tôn giáo khác hẳn.

 “Tôi biết vài người Cộng sản ở Châu âu. Họ theo sát những trình bày của tôi nhưng chỉ đến một mấu chốt – những người Ấn giáo cũng vậy, cho đến một mấu chốt. Đó là lý do tại sao tôi là một người đứng ngoài, dù tôi ở Châu âu, Mỹ, hay Ấn độ. Bạn có bất kỳ thứ gì khác trong quốc gia này ngoại trừ chính trị? Tại sao không có thứ gì có tánh sáng tạo sâu thẳm?

 “Tại sao đa số những người suy nghĩẤn độ giao phó họ cho sự đổi mới? Đổi mới là một sự việc nhỏ nhoi. Trong cái nhỏ nhoi, không bao giờ cái vĩ đại có thể được bao gồm. Trong cái vĩ đại, cái nhỏ nhoi có thể được bao gồm. Ở Ấn độ bất kỳ nơi nào tôi đi đến người ta đều hỏi tôi tại sao tôi không quan tâm đến nghèo đói, tham nhũng? Tôi hỏi, tại sao chúng ta không giải quyết những vấn đề này từ một góc độ khác? Chắc chắn do bởi sự tiếp cận thuộc chính trị mới gây biến dạng.

 “Và tại sao những cái trí tạm gọi là thuộc tinh thần lại quan tâm đến sự đổi mới? Sự đổi mới sẽ không dẫn dắt đến cách mạng sâu thẳm.”

 “Ông kết luận gì từ điều này?” Vinobaji hỏi.

 “Không kết luận, nhưng quan sát,” Krishnaji trả lời. “Có một mâu thuẫn sâu sắc trong cái trí Ấn độ. Chúng ta nói về những lý tưởngthực hiện những điều trái ngược. Chúng ta kiềm chế không trở thành cái gì đó bởi vì chúng ta cảm thấy chúng ta không nên tham vọng. Thế là sự tuyệt vọng dẫn đến sự đổi mới trên bề mặt và chúng ta theo đuổi điều đó đầy đam mê. Tôi nói, hãy hành động và quan sát kết quả. Nhưng truyền thống và những đạo sư lại nói những điều đối nghịch. Trong quốc gia này người ta thấy sự tuyệt vọng, sự mâu thuẫn, và ý thức của là một chủng tộc rất cổ xưa. Chúng ta tìm kiếm Thượng đế, nhưng chúng ta đã không sống sự sống. Đó có lẽ là lý do tại sao chúng ta hướng về những hời hợt, mà chúng ta gọi là ‘đổi mới.’ ”

 “Ông được tán thưởng nhiều hơn ở Châu âu?”

 “Tôi ghê tởm sự tán thưởng.”

 “Họ hiểu rõ tư tưởng của ông nhiều hơn?”

 “Nó cũng như vậy ở Ấn độ,” Krishnaji trả lời. “Vài cái trí có nghiêm túc. Người ta đánh giá chính trị rất nghiêm túc ở Ấn độ. Chính trị gây hủy hoại nhất. Khi người ta nói họ đang làm việc vì hòa bình, đổi mới, luôn luôn là “cái tôi” mà quan trọng. Những người tiếp xúc với chính trị không thể có một cái trí trong sáng. Thế giới cần những cái trí trong sáng, những cái trí sạch sẽ, không phải những cái trí bị quy định bởi là những người Ấn giáo hay những người Hồi giáo.

 “Nếu bạn là một người Ấn giáo, bạn không thể thương yêu. Tình yêu cần đến tự do. Một ngày nào đó một khất sĩ đến gặp tôi. Ông ấy đã đến Amarnath. Ông ấy nói về vô số giáo phái của sadhus. Tôi hỏi ông ấy, ‘Họ làm gì?’ Ông ấy nói, ‘Không làm gì cả – nhưng họ biết Brahman. Họ sống một mình. Họ tham thiền.’ Tôi nói, ‘Với tất cả những niềm tin của họ, gánh nặng họ mang, họ không bao giờ có thể một mình.’

 “Nhưng bạn phải một mình để tìm ra sự thậthoàn toàn một mình. Điều đó quá khó khăn trong một xã hội cổ lỗ cùng sự nhấn mạnh của nó vào những đạo sư, truyền thống.”

 Krishnaji chỉ vào những người vây quanh Vinobaji, “Tất cả những người này là những đệ tử của bạn? Quá tệ.”

 “Tôi không biết tại sao họ là những đệ tử của tôi,” Vinobaji bình phẩm.

 “Ở Ấn độ có một ham muốn cho uy quyền của một đạo sư. Họ cảm thấy rằng với sự hướng dẫn, họ sẽ không thất bại khi tìm kiếm sự thật. Họ không sẵn sàng để tạo ra những sai lầm. Tất cả đều quá trẻ con,” Krishnaji nói.

 “Nhưng trẻ em, như họ là, là như trẻ em trở thành họ,” là sự bình phẩm của Vinobaji.

 “Vậy thì hãy để cho Vinobaji khước từ đệ tử,” câu trả lời bật ra thật mau lẹ.

 “Mọi con người đều nghĩ rằng sự tìm kiếm của anh ấy là độc nhất.” Vinobaji đang theo đuổi dòng chảy suy nghĩ riêng của ông.

 “Tìm kiếm Thượng đế không liên quan đến sự thành công. Thượng đế có lẽ là một hiện diện mà không kết thúc. Cái trí kinh tởm ý nghĩ của không kết thúc.” Krishnaji nói.

 “Ông có ý không mục tiêu của sự tìm kiếm? Ông không thể sục sạo để tìm được Thượng đế!” Vinobaji bị khích động.

 “Vâng, ngược lại nó sẽ là một Thượng đế tầm thường. Người ta đi đến Amarnath để tìm ra Thượng đế. Nó có nghĩa gì? Chúng ta đã xua đuổi tình yêu, vẻ đẹp; xua đuổi sự suy nghĩ cá nhân, mọi hình thức của sự tò mò thuộc cảm xúc, thuộc trí năng và thay thế nó bằng sự chấp nhận của uy quyền, những hệ thống; không cho phép cái trí có không gian để tìm hiểu. Chúng ta đã làm gì cho sự sáng tạo thực sự này? Chúng ta nói rằng muốn nhận ra Thượng đế chúng ta phải khoác vào chiếc áo cà sa, khước từ tình dục, khước từ những tri giác, kiềm chế không nhìn ngắm những đám mây, thiên nhiên. Chúng ta nói rằng chúng ta phải tham thiền. Tham thiền như thế chỉ là sự thôi miên.”

 “Vị trí của tôn giáo trong sự tiến bộ của một quốc gia là gì?” một trong những đệ tử của Vinobaji hỏi.

 “Một quốc gia là gì? Xã hội là gì? – một liên hệ thuộc xã hội, thuộc văn hóa? Nếu liên hệ đó thay đổi, xã hội thay đổi.” Krishnaji ngừng một lúc, sau đó nói, “Sự khám phá của sự thật và sự liên hệ của nó đến sống hàng ngày của chúng tatôn giáo. Hiện nay không có người nào nói, ‘Tôi không là một người Ấn giáo, tôi không là một người Hồi giáo, nhưng là một con người, quan tâm đến toàn vấn đề của nhân loại, đến sự tàn phá quả đất, đến bom nguyên tử, đến tình huynh đệ.’ Đây là những vấn đề rất nghiêm túc và không có sáu người quan tâm đến chúng.”

 “Nhưng tôi đã phát giác rằng cái trí Ấn độ lúc này đã sẵn sàng hơn bao giờ trước kia, để nắm bắt những ý tưởng mới mẻ, để thải hồi chủ nghĩa quốc giathoát khỏi một sống chật hẹp.” Vinobaji biện hộ.

 “Tôi hiểu. Nhưng nó cần nhiều hơn thế nữa. Cái trí đã trở thành quá máy móc. Nó đòi hỏi và tìm kiếm một mục đích trong sống. Chúng ta theo những con đường dẫn đến một mục đích. Chúng ta không bao giờ chất vấn. Chúng ta quá được kính trọng. Nhưng người ta phải có một cái trí tự do, không phải một cái trí chất đầy truyền thống, đầy quá khứ. Sự tự do vô hạn được cần đến. Nhưng khoảnh khắc bạn nghĩ rằng bạn tự do, bạn không được tự do. Người ta phải tự-lật tung chính người ta, tháo gỡ người ta ra từng mảnh nhỏ, khoét sâu vào những ngõ ngách của cái trí người ta – đốt cháy cái trí.” Krishnaji đang đẩy vào sâu thẳm thêm và Vinobaji, có lẽ va chạm phải sức mạnh của năng lượng được sinh ra, dội ngược lại và rơi vào những vấn đề nhỏ nhen.

 “Tôi được người ta bảo rằng ông đã không thực hiện những nói chuyện trước công chúng suốt một năm,” Vinobaji nói.

 “Vâng, tôi đã không thực hiện những nói chuyện trước công chúng được một năm rồi. Tôi đã giữ yên lặng. Nhưng điều đó không phải do bởi tôi đã có bất kỳ những lời thề nào.”

 “Tôi rất vui mừng khi được gặp ông ngày hôm nay. Tôi đã ao ước điều này. Ông có biết bất kỳ ngôn ngữ Ấn độ nào không?” Bàn luận đang trở thành bình thường.

 “Tôi đã cố gắng học tiếng Hindi. Ngôn ngữ bản xứ của tôi là Telugu, nhưng tôi không còn nói nó từ khi tôi còn là một cậu trai.”

 “Ông vẫn còn trẻ để học một ngôn ngữ,” Vinobaji nói.

 “Tôi đang cố gắng học tiếng Phạn – chỉ cho vui thôi,” Krishnaji trả lời.

 “Nếu ông nói tiếng Anh, chẳng có bao nhiêu người ở Ấn độ sẽ hiểu được,” Vinibaji nói. “Tôi biết, nhưng nếu bạn sử dụng những từ ngữ truyền thống, chúng có nhiều nghĩa rộng thuộc truyền thống và bạn không thể tiếp tục.”

 “Những ý nghĩa rộng đều gắn kết đến những liên tưởng ngay cả những từ ngữ tiếng Anh,” Vinobaji nói.

 “Đập vỡ nó,” đáp lại ngay tức khắc.

 “Tôi phát hiện rằng khi ông diễn giải những từ ngữ tiếng Phạn sang tiếng Anh, ông phải thực sự hiểu rõ. Nhưng nếu ông diễn giả những từ ngữ tiếng Phạn sang tiếng Hindi hay Marathi, ông có thể giữ cùng từ ngữ mà không cần hiểu rõ chiều sâu của nó.”

 Krishnaji và Vinobaji chia tay cùng những nụ cười cùng những cúi đầu chắp tay chào kính cẩn, và ngày hôm sau Krishnaji đáp lại tiếng gọi của Vinobaji. Vinobaji kể về những hành hương quà tặng đất đai của ông. Ông nói, “Thượng đế, người tôi tìm kiếm – ở khắp mọi nơi – tôi sẽ không đến Amarnath. Người ta nói rằng tôi đang không làm một việc đúng đắn, tôi nên đi. Swami Vivekanand đã đi đến đó.” Bàn luận ngày hôm trước đã chạm vào những phản ứng bản năng nào đó. Ông nói, “Ngày hôm qua, chúng ta đã có một nói chuyện quá tốt lành. Nó thật là khai sáng. Những suy nghĩ này đã dẫn dắt tôi suốt nhiều năm. Đã lâu lắm rồi từ khi tôi đến gặp Gandhi. Tôi đến gặp ông ấy khi tôi hai mươi tuổi. Tôi đến gặp và nghe. Ông ấy không bao giờ bảo cho tôi hay bất kỳ ai phải chấp nhận những suy nghĩ của ông ấy.”

 “Hoàn toàn đúng,” Krishnaji nói.

 “Hình như ông cũng có một cơ hội gặp ông ấy?”

 “Ba lần – một lần ở London cùng Mrs. Besant.”

 “Tôi không có bao nhiêu thời giờ đọc sách. Tôi vẫn đọc,” Vinobaji nói.

 “Tôi ít khi nào đọc lắm, ngoại trừ một hay hai quyển tình cờ. Buổi sáng ông rời nhà sớm?” Lại nữa nói chuyện rơi vào mức độ bình thường.

 “Bốn giờ rưỡi. Tôi dạo bộ mười dặm mỗi ngày,” Krishnaji nói.

 “Ông viết sách?” Vinobaji tìm hiểu.

 “Vâng,” Krishnaji trả lời.

 “Ai in những quyển sách này?” Vinobaji hỏi.

 “Những nói chuyện và những bàn luận được xuất bản ở Ấn độ.”

 “Có nhiều người trong phong trào Bhoodan đã đọc những quyển sách của ông,” Vinobaji nói.

 “Đó là điều gì Rao và Achyut đã kể cho tôi.”

 Vinobaji chỉ vào Mahadevi Tai. “Cô ấy không biết tiếng Anh.”

 “Tệ quá. Tôi không biết tiếng Hindi – thế là chúng tôi không thể trao đổi,” Krishnaji nói.

 “Nhưng ông đang học tiếng Phạn – cho vui.”

 “Nó rất hay, một ngôn ngữ tuyệt vời,” là câu trả lời của Krishnaji.

 “Mọi từ ngữ trong tiếng Phạn được đặt nền tảng trên từ ngữ gốc nào đó. Tiếng Latin và tiếng Phạn đều cùng một gia đình. Từ ngữ ‘ignite’ của ông trong tiếng Phạn là agni, có nghĩa ngọn lửa. Từ ngữ gốc của cả hai đều giống hệt.”

 Họ chia tay nhau thân thiện.

 Sau đó, vào chiều ngày 14 tháng tám, Vinobaji nói với đám đông tụ tập để nghe ông tại Pahalgam. Một hướng khác hẳn được trình bày trong nói chuyện của ông, và ông công nhận rằng đây là sự ảnh hưởng bởi những gặp gỡ Krishnaji của ông. Ông nói rằng những con người như Krishnaji là những người bảo vệ – những tiếng nói và những tuyên bố của họ là những răn đe, và phải được lắng nghe nghiêm túc. Vài tháng sau, một người bạn sẽ kể với Vinobaji rằng Krishnaji đã nhận xét, “Vinobaji nói rằng ông ấy đồng ý với tôi, nhưng vẫn tiếp tục làm công việc trước kia của ông ấy. Thế là câu nói đồng ý của ông ấy chẳng có ý nghĩa gì cả.”

 Vinobaji trả lời, “Krishnaji nói đúng.”

 Nhiều năm sau Nirmala Deshpande kể cho tôi rằng Vinobaji đã nói, “Krishnamurti có lẽ phủ nhận vai trò Thầy Thế giới, khước từ nhà thờ được dựng lên cho anh, từ chối trọng trách của anh như đạotối thượng, không chịu nhận là Krishna thiêng liêng; nhưng Dr. Besant không thể bị phủ nhận vai trò của bà như Yashoda, người mẹ nuôi của Krishna, người chăn dắt thiêng liêng.”



[1] Siddhas hay sittars, như chúng được biết đến ở Nam Ấn, bao gồm những người ảo thuật hay những người theo quyền năng tâm linh của Phật giáo, những người thức dậy của kundalini, cùng sự liên quan mật thiết giữa cây cỏ và những khóang sản. Khi phải đối diện bởi những người xâm lăng họ đã chạy trốn khỏi những tu viện Phật giáo của Vikram Sila và Nalanda, tìm kiếm nơi ẩn náu ở Andhra Pradesh và Tamilnada. 

[2]

[3] Bal Gangadhkar Tilak là một người viết văn, một học giả, một trí thức Brahmin, và một người đấu tranh cho tự do. Một con người được kính trọng và ngưỡng mộ nhiều, ông đã bị kết án bởi chính phủ Anh do bởi xúi giục nổi loạn và bị bỏ tù ở Burma.

 Bhagwat là một người triết lý, người đấu tranh cho tự do, và một người biên tập của một nhật báo quan trọng ở Marathi, Lok Shakti.

[4] Một nhắc nhở đến vị thánh nhân Phật giáo thế kỷ thứ hai mà dạy bám chặt vào “Con đường Giữa” cũng được hiểu là cách phủ nhận vĩ đại.

[5] Aghori Bawas ở trong số những người gây kinh hãi nhất của sadhus hay những người thiêng liêng của Ấn độ.

 Nath Panthis là những môn đệ của Gorakhnath, tác giả của chuyên luận đầu tiên về hatha yoga. Được sử dụng từ những giáo phái Hồi giáo và Ấn giáo, họ là những người lang thang, quan tâm đến những thực hành phép thuật và tôn thờ Shiva và Shakti. Họ được gắn liền với nhiều thần thoại cổ xưa khắp Bắc Ấn.

 Bhajams là những bài ca hiến dâng được hát bởi những nhóm đàn ông hay đàn bà.

[6] Biên niên sử của cuộc đời Akbar và sự cai trị bởi Abul Fazl.

[7] Petromax: Trước khi Ấn độ có điện, những ngọn đèn dùng dầu hôi cùng loại bấc đặc biệt và có một cái bơm để điều chỉnh ánh sáng. Petromax vẫn còn được sử dụng ban đêm cho những nghi lễ cưới hỏi. 

[8] Những dạng âm thanh được lặp lại hay mantrams được sử dụng để làm yên lặng cái trí.

Tạo bài viết
16/08/2013(Xem: 11896)
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.