New Delhi, 1970

11/07/201112:00 SA(Xem: 4692)
New Delhi, 1970

J. KRISHNAMURTI
TRUYỀN THỐNGCÁCH MẠNG
TRADITION AND REVOLUTION
Lời dịch: Ông Không
www.thuvienhoasen.org
Tháng 7 - 2011
New Delhi, 1970
Đối thoại 1 – Ngọn lửa của Đau khổ
Đối thoại 2 – Thuật giả kim và Sự Đột biến
Đối thoại 3 – Ngăn chặn Sự Xấu xa
Đối thoại 4 – Thức dậy của Năng lượng
Đối thoại 5 – Bước Đầu tiên là Bước Cuối cùng
Đối thoại 6 – Năng lượng và Sự Đột biến
Đối thoại 7 – Người Quan sát và Cái gì là
Đối thoại 8 – Chuyển động Rút vào
Đối thoại 9 – Thời gian và Sự Thoái hóa
Đối thoại 10 – Chết và Sống
Đối thoại 11 – Vẻ đẹp và Sự Nhận biết

Đối thoại 1

NGỌN LỬA CỦA ĐAU KHỔ

New Delhi, ngày 12 tháng 12 năm 1970

 

C

húng ta đang dạo bộ trong một ngôi vườn thoáng đãng gần một khách sạn to lớn. Có một dải xanh sẫm vàng trong bầu trời phía tây và tiếng ồn của những chiếc xe buýt, xe cộ đang chạy qua. Có những cây non tươi tốt đầy hứa hẹn, được tưới nước hàng ngày. Chúng vẫn còn đang tăng trưởng, đang sáng tạo những ngôi vườn và một con chim đang vẫy cánh trong bầu trời, bay lượn vùn vụt vòng vòng trước khi bổ nhào xuống quả đất; và ở phía đông, mặt trăng đang từ từ tròn trịa. Điều gì đẹp đẽ không là những sự việc này nhưng, sự trống không vô hạn dường như ôm trọn quả đất. Điều gì đẹp đẽ là người đàn ông nghèo khổ gầm đầu xuống đất, đang mang một chai dầu hôi nhỏ.

Krishnamurti: Đau khổ có nghĩa gì trong quốc gia này? Những con người trong quốc gia này gặp gỡ đau khổ như thế nào? Họ chạy trốn đau khổ qua sự giải thích về nghiệp lực? Cái trí ở Ấn độ vận hành như thế nào khi nó gặp gỡ đau khổ? Người Phật giáo gặp gỡ nó trong một cách, người Thiên chúa giáo trong một cách khác. Cái trí Ấn giáo gặp gỡ nó như thế nào? Nó kháng cự đau khổ, hay tẩu thoát đau khổ? Hay cái trí Ấn giáo lý luận nó?

Người hỏi P: Liệu thực sự có nhiều cách gặp gỡ đau khổ? Đau khổ là sự buồn bã – buồn bã vì ai đó chết, buồn bã vì chia ly. Liệu có thể gặp gỡ đau khổ này trong những phương cách khác nhau?

Krishnamurti: Có nhiều cách tẩu thoát nhưng chỉ có một cách duy nhất để gặp gỡ đau khổ. Thật ra, những tẩu thoát mà chúng ta quen thuộc là những phương cách để lẩn trốn sự kinh hoàng của đau khổ. Bạn thấy, chúng ta sử dụng những giải thích để gặp gỡ đau khổ nhưng những giải thích này không giải đáp được nghi vấn. Cách duy nhất để gặp gỡ đau khổhiện diện mà không có bất kỳ kháng cự, hiện diện mà không có bất kỳ chuyển động thoát khỏi đau khổ, cả bên ngoài lẫn bên trong, vẫn còn trọn vẹn cùng đau khổ, mà không muốn thoát khỏi nó.

P: Bản chất của đau khổ là gì?

Krishnamurti:đau khổ cá nhân, đau khổ hiện diện khi có sự mất mát một ai đó mà bạn thương yêu, sự cô độc, sự chia ly, sự lo âu cho người khác. Cùng cái chết, cũng có cảm giác rằng người khác đã không còn hiện diện, và có quá nhiều điều mà anh ấy đã mong muốn thực hiện. Tất cả điều này là đau khổ cá nhân. Rồi thì có người đàn ông đó ăn mặc rách nát, bẩn thỉu, đầu cúi gầm; ông ấy dốt nát, ông ấy không chỉ dốt nát về hiểu biết sách vở, nhưng sâu thẳm, thực sự dốt nát. Cảm giác mà người ta có cho người đàn ông đó không phải là tự-thương xót, cũng không phải có một đồng hóa cùng người đàn ông đó; không phải rằng bạn được đặt vào một vị trí tốt đẹp hơn ông ấy và vì vậy bạn cảm thấy thương hại ông ấy, nhưng bên trong người ta có một ý thức của trọng lượng không-thời gian của đau khổ trong con người. Đau khổ này không có một chút cá nhân nào về nó. Nó hiện diện.

P: Tại sao anh đang nói, chuyển động của đau khổ đã và đang vận hành bên trong tôi. Không có nguyên nhân tức khắc cho đau khổ này nhưng dường như nó giống như cái bóng, luôn luôn theo cùng con người. Anh ấy sống, anh ấy thương yêu, anh ấy hình thành những quyến luyến và mọi thứ kết thúc. Dù điều gì anh nói có thực sự đến chừng nào, trong việc này có một vô hạn của đau khổ. Làm thế nào nó sẽ kết thúc? Dường như không có đáp án. Ngày hôm trước anh đã nói trong đau khổ là toàn chuyển động của đam mê. Nó có nghĩa gì?

Krishnamurti: Liệu có một liên quan giữa đau khổ và đam mê? Tôi không hiểu đau khổ là gì. Liệu có một việc như đau khổ mà không có nguyên nhân. Chúng ta biết đau khổ mà là nguyên nhânhậu quả. Người con trai của tôi chết; trong đó được bao hàm sự đồng hóa cùng người con trai của tôi, tôi muốn cậu ấy là cái gì đó mà tôi không là, tôi tìm kiếm sự tiếp tục qua cậu ấy; và khi cậu ấy chết, tất cả điều đó bị khước từ và tôi phát giác mình không còn mọi hy vọng nào. Trong đó có tự-thương xót, sợ hãi; trong đó có buồn bã mà là nguyên nhân của đau khổ. Đây là số mạng của mọi người. Đây là điều gì chúng ta có ý qua từ ngữ đau khổ.

 Cũng có đau khổ của thời gian, đau khổ của dốt nát, không phải sự dốt nát của hiểu biết nhưng sự dốt nát của tình trạng bị quy định hủy hoại riêng của người ta. Đau khổ vì không hiểu rõ về chính người ta; đau khổ vì không hiểu rõ về vẻ đẹp tại chiều sâu của sự hiện diện của người ta và vượt khỏi nó. Liệu chúng ta có thấy rằng khi chúng ta lẩn trốn đau khổ qua những hình thức giải thích khác nhau, thực sự chúng ta đang phung phí một việc lạ thường đang xảy ra?

P: Vậy thì người ta làm gì?

Krishnamuri: Bạn đã không trả lời câu hỏi của tôi, ‘Liệu có, một đau khổ mà không có nguyên nhân và hậu quả?’ Chúng ta biết đau khổ và chuyển động rời khỏi đau khổ.

P: Anh đã nói về đau khổ không-dính dáng nguyên nhânhậu quả. Liệu có một trạng thái như thế?

Krishnamurti: Con người đã sống cùng đau khổ từ thời gian không thể nhớ được. Anh ấy chưa bao giờ biết làm thế nào để giải quyết được nó. Thế là anh ấy hoặc tôn sùng nó hoặc lẩn trốn nó. Cả hai đều là cùng chuyển động. Cái trí của tôi không thực hiện hai việc này, nó cũng không sử dụng đau khổ như một phương tiện của thức dậy. Vậy thì điều gì xảy ra?

P: Tất cả những sự việc khác là những sản phẩm thuộc những giác quan của chúng tôi. Đau khổ còn nhiều hơn thế. Nó là một chuyển động của quả tim.

Krishnamurti: Tôi đang hỏi bạn sự liên quan giữa đau khổ và tình yêu là gì.

P: Cả hai đều là những chuyển động của quả tim.

Krishnamurti: Tình yêu là gì và đau khổ là gì?

P: Cả hai đều là những chuyển động của quả tim, một cái được nhận dạng như hân hoan và cái còn lại như đau khổ.

Krishnamurti: Tình yêu là vui thú? Bạn sẽ nói tình yêu và vui thú là giống nhau? Nếu không hiểu rõ bản chất của vui thú, không có chiều sâu để hân hoan. Bạn không thể mời mọc hân hoan. Hân hoan xảy ra. Đang xảy ra có thể bị biến thành vui thú. Khi vui thú đó bị khước từ, có bắt đầu của đau khổ.

P: Tại một mức độ nó là như thế, nhưng nó không là như thế tại một mức độ khác.

Krishnamurti: Như chúng ta đã nói, hân hoan không là sự việc để được mời mọc. Nó xảy ra. Vui thú tôi có thể mời mọc, vui thú tôi có thể theo đuổi. Nếu vui thú là tình yêu, vậy thì tình yêu có thể được vun quén.

P: Chúng ta biết vui thú không là tình yêu. Vui thú có lẽ là một thể hiện của tình yêu nhưng nó không là tình yêu. Cả vui thú lẫn tình yêu đều nảy sinh từ cùng cái nguồn.

 

Krishnamurti: Tôi đã hỏi sự liên quan giữa đau khổ và tình yêu là gì? Liệu có thể có tình yêu nếu có đau khổđau khổ là tất cả những sự việc mà chúng ta đã nói? 

P: Tôi sẽ nói ‘có’.

Krishnamurti: Trong đau khổ, có một nhân tố của tách rời, của phân chia. Liệu không có quá nhiều tự-thương xót trong đau khổ, hay sao? Sự liên quan của tất cả điều này với tình yêu là gì? Tình yêu có sự lệ thuộc? Tình yêu có chất lượng của ‘tôi’ và ‘bạn’?

P: Nhưng anh đã nói về đam mê...

Krishnamurti: Khi không có chuyển động của tẩu thoát khỏi đau khổ vậy thì tình yêu hiện diện. Đam mê là ngọn lửa của đau khổ và ngọn lửa đó chỉ có thể được thức dậy khi không có tẩu thoát, không có kháng cự. Mà có nghĩa gì? – Mà có nghĩa, đau khổ không có trong nó chất lượng của phân chia.

P: Trong ý nghĩa đó, liệu trạng thái đó của đau khổ có bất kỳ khác biệt nào với trạng thái của tình yêu? Đau khổ là buồn bã. Anh nói khi trong buồn bã đó không có kháng cự, không có chuyển động thoát khỏi buồn bã, ngọn lửa của đam mê trỗi dậy. Lạ lùng thay trong những kinh điển cổ xưa, kama (tình yêu), agni (lửa), và yama (chết) được giải thíchgiống hệt nhau; chúng được đặt trên cùng mức độ; tất cả chúng đều giống hệt; chúng sáng tạo, rửa sạch và hủy diệt để sáng tạo lại. Phải có một kết thúc.

Krishnamurti: Bạn thấy, chính xác đó là nó. Sự liên hệ của một cái trí mà đã hiểu rõ đau khổvì vậy sự kết thúc của đau khổ là gì? Chất lượng của cái trí mà không còn sợ hãi sự kết thúc, mà là chết, là gì?

 Khi năng lượng không bị hao tán qua sự tẩu thoát, vậy thì năng lượng đó trở thành ngọn lửa của đam mê. Từ bi có nghĩa đam mê cho tất cả. Từ biđam mê cho tất cả.

 

 Đối thoại 2

THUẬT GIẢ KIM VÀ SỰ ĐỘT BIẾN

New Delhi, ngày 14 tháng 12 năm 1970

N

gười hỏi P: Tôi đang suy nghĩ liệu có quan trọng để bàn luận về thái độ của người Ấn độ cổ xưa đối với thuật giả kim và sự đột biến, và thấy liệu những khám phá của thuật giả kim có bất kỳ liên quan nào đến điều gì anh đang nói. Nó có nghĩa rằng Nagarjuna, một trong những người khai triển vĩ đại của tư tưởng Phật giáo, chính ông ấy là một Bậc thầy của thuật giả kim. Sự tìm kiếm của những người thuật giả kim ở Ấn độ không được hướng quá nhiều đến công việc biến những kim loại căn bản thành vàng, nhưng được hướng nhiều đến một thâm nhập vào những qui trình hóa học và tâm lý nào đó mà trong nó, thân thể và cái trí có thể được giải phóng khỏi những tàn phá của thời gian và những qui trình của sự thoái hóa nhờ vào sự đột biến. Lãnh vực của sự thâm nhập gồm có: làm chủ được hơi thở, uống một loại thuốc trường sinh được bào chế trong lò luyện đơn của phòng thí nghiệm, một chất thuốc mà trong nó thủy ngân có một vai trò quan trọng, và một châm ngòi của một vụ nổ trong ý thức. Hành động của ba việc này dẫn đến một đột biến của thân thể và cái trí. Biểu tượng được dùng bởi người thuật giả kim là tình dục; thủy ngân là hạt giống đực của thần Shiva, chất mica là hạt giống cái của nữ thần; sự hợp nhất của hai giống, không chỉ thuộc vật chất và trong những lò luyện đơn của phòng thí nghiệm nhưng còn trong chính ý thức, gây ra một đột biến; một tình trạng được tự do khỏi thời gian và những qui trình của tuổi tác, một tình trạng không liên quan đến hai yếu tố hợp thành đực và cái mà trong sự hợp nhất trọn vẹn của chúng đã châm ngòi cho sự đột biến. Việc này có liên quan đến bất kỳ điều gì anh đang nói?

Krishnamurti: Bạn đang hỏi về trạng thái của ý thức mà vượt khỏi thời gian.

P: Trong mọi cá thể người ta có thể thấy yếu tố đực và cái đang vận hành.

 Người thuật giả kim đã thấy được sự cần thiết của hợp nhất, của cân bằng. Liệu có bất kỳ giá trị nào trong điều này?

Krishnamurti: Tôi nghĩ người ta có thể quan sát điều này trong chính người ta. Tôi đã quan sát rằng trong mỗi người chúng ta đều có những nguyên tố đực và những nguyên tố cái. Hoặc chúng ở trong một trạng thái cân bằng hoàn hảo hoặc trong một trạng thái mất cân bằng. Khi có sự cân bằng hoàn hảo này giữa những nguyên tố đực và những nguyên tố cái, vậy thì các cơ quan thân thể thực sự không bao giờ bị bệnh tật; có thể có những bệnh tật hời hợt nhưng sâu thẳm phía bên trong không có bệnh tật mà phá hoại các cơ quan thân thể. Có lẽ đây chắc là điều gì những người cổ xưa đã tìm kiếmnhận dạng nó bằng chất thủy ngân và chất mica, nguyên tố đực và nguyên tố cái và qua thiền định, học hành, và có lẽ qua một dạng thuốc men nào đó đã cố gắng tạo ra sự hòa hợp hoàn hảo này. Trong chính người ta, người ta có thể thấy rất rõ ràng sự vận hành của những nguyên tố đực và những nguyên tố cái đang diễn ra. Khi một cái này hay cái kia quá nổi trội, sự mất cân bằng tạo ra bệnh tật; không chỉ những bệnh tật hời hợt nhưng còn cả những bệnh tật tại những chiều sâu. Tôi đã nhận thấy, theo cá nhân bên trong chính bản thân tôi, dưới những tình huống và khí hậu khác biệt, với những con người khác nhau mà hung hăng, bạo lực, những nguyên tố cái đảm đương và nổi trội nhiều hơn. Sự nổi trội này người khác sử dụng để khẳng định chính anh ấy. Nhưng khi có quá nhiều nguyên tố cái quanh người ta, những nguyên tố đực không trở nên hung hăng nhưng rút lui mà không có bất kỳ kháng cự nào.

S: Những nguyên tố đực và những nguyên tố cái là gì?

Krishnamurti: Thông thường nguyên tố đực là hung hăng, bạo lực, thống trịnguyên tố cái là yên lặng, mà dẫn đến sự phục tùng và sau đó bị trục lợi bởi con người. Nhưng sự phục tùng mà được coi là chất lượng của nguyên tố cái, thực sự là sự mềm mỏngdần dần chinh phục nguyên tố đực.

 Khi những nguyên tố cái và những nguyên tố đực hòa hợp hoàn hảo, chất lượng của cả hai nguyên tố đều thay đổi. Nó không còn là đực hay cái nữa. Nó là cái gì đó hoàn toàn khác hẳn, liên quan đến điều gì được nghĩ như đực và cái. Những nguyên tố đực và những nguyên tố cái như những tích cực và những tiêu cực bởi vì chính bản chất của chúng là phân hai, ngược lại sự cân bằng hoàn hảo, một hòa hợp của hai nguyên tố có một chất lượng khác hẳn. Tôi được phép nói điều gì chứ? Nó giống như chất lượng của quả đất mà mọi thứ đều sống trong nó nhưng không thuộc về nó. Tôi đã nhận thấy điều này vận hành rất thường xuyên. Khi toàn cái trí rút lui khỏi thân thể và môi trường, nó giống như thể nó ở rất xa; xa không phải trong không gianthời gian, nhưng một trạng thái mà không gì có thể tiếp xúc được. Trạng thái này không phải một trừu tượng và cũng không phải một rút lui nhưng một không-hiện diện tuyệt đối, phía bên trong. Khi sự hòa hợp hoàn hảo này xảy ra, bởi vì không có xung đột, nó có sức sống riêng của nó. Nó không hủy diệt cái còn lại. Vì vậy, xung đột không chỉ ở phía bên ngoài nhưng còn cả phía bên trong và khi xung đột này hoàn toàn kết thúc, có một đột biến mà không bị tiếp xúc bởi thời gian.

P: Người thuật giả kim đã gọi điều này là sự sinh ra của Kumara, của đứa trẻ kỳ diệu – cậu ấy mà không bao giờ già nua, cậu ấy mà hoàn toàn hồn nhiên.

Krishnamurti: Nó rất thú vị – nhưng thuật giả kim đã trở thành tương đồng quá nhiều với những ma thuật giả tạo.

P: Nhưng những người thuật giả kim, những vị thầy mà được biết đến như là rasa siddha – những người hiệp thông cùng bản thể – đã khẳng định rằng điều gì họ đã diễn tả, họ thấy bằng hai mắt riêng của họ, rằng điều gì họ ghi lại không phải từ nghe nói lại hay từ sự diễn giải của vị thầy. Có một yếu tố lý thú khác. Trong thuật giả kim cái dụng cụ, cái thùng chứa được chú ý nhiều. Khoa học luyện kim đã phát triển từ điều này – một trong những thùng chứa hay yantras được biết đến như là garbha yantra, cái thùng chứa tử cung. Nó là một từ ngữ chính trong thuật giả kim.

Krishnamurti: Liệu có một sự việc như chuẩn bị cái tử cung của cái trí, mà trong đó thời gian được bao hàm?

P: Những người thuật giả kim cũng hiểu rõ rằng tại điểm chuẩn của sự đột biến, của sự cố định của thủy ngân, của sự sinh ra của cái không-thời gian, thời gian không dính dáng.

Krishnamurti: Đừng sử dụng từ ngữ chuẩn bị. Chúng ta hãy trình bày nó theo cách này. Liệu có một trạng thái cần thiết, một nền tảng cần thiết, một thùng chứa cần thiết mà có thể chứa đựng cái này? Tôi muốn nói rằng không, bởi vì khi họ tìm được cậu bé Krishnamurti, những người mà được nghĩ là tiên tri trong thời gian đó, đã thấy rằng cậu ta không có chất lượng của ích kỷvì vậy cậu ta xứng đáng là cái thùng chứa, và tôi nghĩ rằng điều đó đã vẫn y nguyên như vậy từ lúc đó đến lúc này.

S: Đó có lẽ là như thế, nhưng còn những người bình thường giống như chúng tôi thì sao? Liệu đây là một đặc ân chỉ được trao tặng cho rất rất ít người, một người trong một ngàn năm hay nhiều hơn, hay liệu điều này xảy ra cho những người mà quan tâm đến tất cả điều này, mà cam kết đến tất cả điều này, mà thực sự nghiêm túc trong sự thâm nhập này?

Krishnamurti: Để trả lời câu hỏi này, những yếu tố thân thể và những trạng thái tâm lý nào đó là cần thiết. Thuộc thân thể phải có sự nhạy cảm. Sự nhạy cảm thuộc thân thể không thể xảy ra khi sử dụng thuốc men, nhậu nhẹt, ăn thịt. Sự nhạy cảm của thân thể phải được duy trì. Đó là điều cốt lõi. Thuộc truyền thống, thông thường một thân thể như thế vẫn còn phải ở trong một nơi được hỗ trợ bởi những người học trò, bởi gia đình. Thân thể không bị choáng váng hay bị phơi bày.

 Liệu một người rất nghiêm túc trong tất cả điều này, liệu anh ấy với một thân thể mà đã trải qua những ảnh hưởng khắc nghiệt thông thường, liệu anh ấy có thể làm cho thân thể đó nhạy cảm cao độ? Và cũng vậy cái tinh thần mà đã bị tổn thương qua sự trải nghiệm, liệu nó có thể xóa sạch tất cả những tổn thương và bầm dập và tự làm mới mẻ lại chính nó để cho có một trạng thái không-tổn thương? Đây là hai điều cốt lõinhạy cảm và cái tinh thần không-dấu vết. Tôi nghĩ điều này có thể được thành tựu bởi bất kỳ người nào thực sự nghiêm túc. Bạn thấy cái tử cung luôn luôn sẵn sàng để thụ thai. Nó tự làm mới mẻ lại chính nó.

P: Giống như quả đất, tử cung có chất lượng cố hữu của tự làm mới mẻ lại này.

Krishnamurti: Tôi nghĩ, chắc chắn cái trí cũng có cùng chất lượng.

P: Quả đất im lìm, tử cung yên lặng và trong cả hai đều có khả năng cố hữu để làm mới mẻ.

Krishnamurti: Quả đất, tử cung, cái trí đều có cùng chất lượng. Khi quả đất không bị canh tác và tử cung trống không và cái trí không có bất kỳ chuyển động nào, vậy thì mới mẻ lại xảy ra. Khi cái trí hoàn toàn trống không, nó giống như tử cung; nó là tinh khiết để mới mẻ lại, thâu nhận.

P: Vậy thì đây là cái thùng chứa, nơi chứa đựng.

Krishnamurti: Vâng, đây là thùng chứa, nhưng khi bạn sử dụng từ ngữ thùng chứa và nơi chứa đựng bạn phải cực kỳ cẩn thận.

 Chất lượng cố hữu của cái trí để tự làm mới mẻ lại chính nó này có thể được gọi là sức trẻ trung vĩnh cửu.

P: Nó được biết đến như là Kumara Vidya.

Krishnamurti: Vậy thì điều gì khiến cho cái trí già nua? Chắc chắn chuyển động của cái tôi khiến cho cái trí già nua.

P: Cái tôi làm cạn kiệt những tế bào?

Krishnamurti: Tử cung luôn luôn sẵn sàng thâu nhận. Nó luôn có một chất lượng của luôn luôn tự-làm tinh khiết chính nó, nhưng cái trí mà bị chất nặng bởi cái tôi – xung đột là cái tôi – không có không gian để tự làm mới mẻ lại. Khi cái tôi bị bận tâm với chính nó và những hoạt động của nó, cái trí không có không gian để tự làm mới mẻ lại. Vì vậy không giancần thiết, cả vật chất lẫn tinh thần. Làm thế nào điều này phù hợp với thuật giả kim?

P: Ngôn ngữ họ sử dụng là khác hẳn. Họ nói về sự đột biến qua hợp nhất.

Krishnamurti: Tất cả điều đó hàm ý nỗ lực, xung đột.

P: Làm thế nào người ta biết được?

Krishnamurti: Nếu nó hàm ý bất kỳ hình thức nào của qui trình, bất kỳ hình thức nào của thành tựu, nó hàm ý nỗ lực.

 

Đối thoại 3

NGĂN CHẶN SỰ XẤU XA

New Delhi, ngày 15 tháng 12 năm 1970

N

gười hỏi P: Một trong những vấn đề trọng yếu nhất liên quan đến con người là sự cần thiết phải ngăn chặn sự xấu xa. Có vẻ như thể tại những thời điểm nào đó trong lịch sử, bởi vì những hoàn cảnh khác nhau, sự xấu xa đã có một phạm vi rộng lớn hơn mà nó vận hành trong đó. Những thể hiện của xấu xa rất nghiêm trọng, những vấn đề của xấu xa rất phức tạp đến độ cá thể không biết làm thế nào giải quyết được chúng.

 Anh sẽ nói gì về cách giải quyết được xấu xa? Liệu có một sự việc như xấu xa tách khỏi tốt lành?

Krishnamurti: Tôi không hiểu bạn có ý gì? Một bụi cây có nhiều gai – bạn gọi nó là xấu xa? Bạn gọi một con rắn có nọc độc là xấu xa? Không con thú dữ tợn nào là xấu xa – kể cả con cá mập lẫn con cọp.

 Vì vậy, bạn có ý gì qua từ ngữ xấu xa? Cái gì đó gây nguy hiểm? Cái gì đó có thể mang lại tai họa khủng khiếp, cái gì đó có thể gây ra đau đớn vô cùng, cái gì đó có thể hủy diệt hay ngăn cản ánh sáng của hiểu rõ? Bạn sẽ gọi chiến tranh là xấu xa? Bạn sẽ gọi những vị tướng, những người cai trị, những người chỉ huyxấu xa bởi bị họ giúp đỡ tạo ra chiến tranh, sự hủy diệt?

P: Những gì ngăn cản sự tự nhiên của những sự vật có thể được gọi là xấu xa.

Krishnamurti: Con người rất hung tợn, anh ấy là xấu xa?

P: Nếu anh ấy đang ngăn cản, nếu qua những ý định hiểm độc anh ấy đang khiến cho những sự vật đi chệch hướng...

Krishnamurti: Tôi chỉ đang thắc mắc từ ngữ xấu xa đó có ý nghĩa gì? Xấu xaý nghĩa gì đối với một cái trí thông minh; một cái trí mà nhận biết được tất cả những kinh hoàng trong thế giới?

P: Xấu xa là những sự việc làm chật hẹp ý thức, những sự việc tạo ra sự tối tăm.

Krishnamurti: Sợ hãi, phiền muộn, đau khổ tạo ra việc đó. Bạn sẽ nói rằng xấu xa là sự khuyến khích của sợ hãi? Liệu xấu xa là một phương tiện gia tăng sự đau khổ? Liệu xấu xatình trạng bị quy định của môi trường và xã hộiliên tục gây ra chiến tranh? Tất cả những sự việc này giới hạn ý thức và tạo ra tối tămđau khổ. Xấu xa, tùy theo ý tưởng Thiên chúa giáo, là ma quỉ. Liệu người Ấn giáo có bất kỳ ý tưởng nào về xấu xa? Nếu anh ấy có một ý tưởng xấu xa, nó sẽ là gì? Thuộc cá nhân, tôi không bao giờ nghĩ về xấu xa.

 Bạn sẽ nói rằng trong sự nở hoa của tốt lành, không có xấu xa gì cả chứ? Rằng trạng thái này không biết đến xấu xa? Hay xấu xa là một sáng chế của cái trí mà nuôi dưỡng sợ hãi và tạo ra tốt lành?

P: Tôi xin được phép nói điều gì đó chứ? Nếu anh thâm nhập sâu thẳm vào những ngõ ngách của cái trí con người, vào lịch sử của nhân loại, luôn luôn có người thầy, mụ phù thuỷ mà phá hoại luật lệ của thiên nhiên, mà tạo ra sợ hãitối tăm. Nó là một trong những yếu tố lạ lùng nhất trong cái trí con người. Do bởi sự sợ hãi khủng khiếp này về cái không biết được, sự tối tăm đó mà không có giới hạn, không có kết thúc, mà lan tràn qua lịch sử của con người, nên con người mới van xin được bảo vệ; một kêu gào mà vang vọng khắp ý thức của con người. Chính việc này là một hỗn mang không danh tánh, không biết được của sợ hãi. Gợi ý rằng nó là sợ hãi cũng không đầy đủ. Nó là tất cả điều đó và còn nhiều hơn nữa.

Krishnamurti: Bạn đang nói rằng sâu thẳm trong con người, trong những ngõ ngách của cái trí, có sợ hãi về cái không biết được, về cái gì đó mà con người không thể tiếp xúc hay tưởng tượng? Bởi vì bị sợ hãi thật sâu thẳm, anh ấy cần đến sự bảo vệ của những thần thánh và, bất kỳ việc gì mà tạo ra một thức dậy của sự nguy hiểm đó, bất kỳ hàm ý nào gợi lên cái sự việc giấu giếm đó, anh ấy gọi là xấu xa?

P: Sự tối tăm này luôn luôn tồn tại sâu thẳm trong ý thức con người.

Krishnamurti: Xấu xa là đối nghịch của tốt lành hay nó hoàn toàn lệ thuộc vào tốt lành?

P: Nó độc lập khỏi tốt lành.

Krishnamurti: Bạn đang nói nó độc lập. Vậy thì, liệu xấu xa là cái gì đó mà trong chính nó không liên quan gì đến vẻ đẹp, đến tình yêu? Chống lại xấu xa, con người đã luôn luôn tìm kiếm sự bảo vệ, như anh ấy thường làm chống lại một con thú. Có sự nguy hiểm rình rập lén lút này. Con người nhận biết được nó, anh ấy sợ hãitìm kiếm qua những bùa chú, qua những lễ nghivân vân để xua đuổi nó đi và được bảo vệ. Bụi cây mà có đầy gai độc tự bảo vệchống lại thú vậtthú vật sẽ gọi đó là xấu xa bởi vì nó không thể ăn được những chiếc lá. Liệu có một lực lượng, một thể hiện của xấu xa hoàn toàn tách khỏi tốt lành, vẻ đẹp? Có toàn ý tưởng rằng xấu xa đang đấu tranh với tốt lành. Xấu xa này được biết đến khi thể hiện trong con người, và luôn luôn xấu xa đang đấu tranh với tốt lành và sự hòa nhã. Tôi đang hỏi liệu xấu xa hoàn toàn độc lập khỏi tốt lành? Bạn phải rất cẩn thận để không trở nên mê tín.

P: ‘Sợ hãi’ về cái gì đó đối nghịch với tốt lành. Nhưng những sợ hãi giấu giếm nhất lại không phải ‘về bất kỳ cái gì’.

S: Nó không những là sự bảo vệ và sự sợ hãi và sự sợ hãi đó được bao hàm trong xấu xa, nhưng còn cả sự bảo vệ với mục đích để tiến về phía trước.

P: Nhu cầu cho sự bảo vệ, những câu thần chú như những bùa mê, những vòng tròn như những biểu đồ ma thuật và những cử động ngón tay như những cử chỉ ma thuật được dự tính để cung cấp sự bảo vệ chống lại xấu xa.

Krishnamurti: Bạn thấy, khi bạn thâm nhập sâu thẳm vào ý thức, bạn đến được một vị trí nơi cái không biết được xuất hiện như sự tối tăm, và ở đó bạn ngừng lại, bởi vì bạn sợ hãi. Cái trí xuyên thấu sâu thẳm đến một vị trí, và đằng sau vị trí đó có cảm giác của sự trống không tối tăm này. Bởi vì gặp gỡ sự tối tăm, bạn có những cầu nguyện, những bùa chú, và bởi vì sợ hãi sự tối tăm, bạn van xin được bảo vệ. Liệu cái trí có thể xuyên thủng sự tối tăm, mà có nghĩa liệu cái trí có thể không còn sợ hãi? Liệu nó có thể vận hành để cho sự tối tăm trở thành ánh sáng? Liệu bạn có thể xuyên thủng sự tối tăm của cái mà bạn sợ hãi, mà bạn đã đặt tên là ‘xấu xa’? Liệu bạn có thể hoàn toàn xuyên thủng cái đó trọn vẹn đến độ sự tối tăm không còn tồn tại? Lúc đó, xấu xa là gì?

P: Khi cái vòng tròn nghi thức mandala được vẽ ra, lối vào cái vòng tròn là qua bùa chú và ma thuật. Trong lối vào sự tối tăm này, bùa chú mà sẽ mở toang những cánh cổng là gì?

Krishnamurti: Ý thức như sự suy nghĩ, tự thâm nhập vào chính nó – chiều sâu của nó. Khi nó thâm nhập, nó bắt gặp sự tối tăm này. Sự thâm nhập này không là một qui trình của thời gian. Và bạn đang hỏi ma thuật hay năng lượng mà sẽ xuyên thủng tận đáy của sự tối tăm là gì, năng lượng đó là gì và làm thế nào nó hiện diện được?

 Chính năng lượng mà bắt đầu thâm nhập vẫn còn ở đó, mãnh liệt thêm, sinh động thêm khi nó thâm nhập, xuyên thủng. Tại sao bạn hỏi liệu có nhu cầu của năng lượng to tát hơn?

P: Bởi vì năng lượng bị cạn kiệt. Chúng ta xuyên thủng đến một vị trí và không sâu thêm nữa.

Krishnamurti: Bởi vì sợ hãi, bởi vì kinh hoàng cái gì đó mà chúng ta không biết, chúng ta làm hao tán năng lượng thay vì tập trung nó lại. Tôi muốn xuyên thủng vào chính tôi. Tôi thấy đang thâm nhập vào chính tôi là cùng chuyển động như bên ngoài. Nó đang thâm nhập vào không gian. Trong thâm nhập vào không gian, có một nhu cầu nào đó, một năng lượng nào đó. Năng lượng đó phải không có bất kỳ sự nỗ lực, không có bất kỳ sự biến dạng. Khi nó thâm nhập, nó thâu gom động lượng. Nếu nó không có con đường mà qua đó nó có thể tẩu thoát, nó không bị biến dạng. Nó trở nên thăm thẳm hơn, rộng rãi hơn, mãnh liệt hơn. Sau đó, bạn đến một vị trí nơi có sự tối tăm. Và làm thế nào người ta thâm nhập sự tối tăm đó bằng năng lượng vô cùng này? (Ngừng).

P: Nghi vấn đầu tiên mà chúng ta bắt đầu là làm thế nào xấu xa này sẽ được ngăn chặn? Anh đã nói khi người ta xuyên thủng vào đại dương của sự tối tăm, tối tăm không hiện diện; ánh sáng hiện diện. Nhưng khi có xấu xa trong những con người, trong những hoàn cảnh nào đó, trong những xảy ra nào đó, liệu có bất kỳ hành động nào mà có thể ngăn chặn được xấu xa này?

Krishnamurti: Tôi sẽ không trình bày nó theo cách đó. Kháng cự lại xấu xa củng cố thêm xấu xa. Vì vậy nếu cái trí đang sống trong tốt lành, vậy thì không có kháng cự và xấu xa không thể tiếp xúc nó. Vì vậy không có ngăn chặn sự xấu xa.

P: Lúc đó chỉ có tốt lành?

Krishnamurti: Chúng ta phải quay trở lại điều gì khác – cái trí đã thâm nhập vào sự tối tăm và nó kết thúc sự tối tăm. Nhưng liệu có xấu xa mà tách khỏi tất cả điều đó? Hay xấu xa là bộ phận của tốt lành?

 Bạn thấy trong thiên nhiên có những con vật lớn đang sống dựa vào những con vật nhỏ, những con vật lớn hơn dựa vào những con vật lớn. Tôi sẽ không gọi điều đó là xấu xa. Sự ham muốn cố ý để gây tổn thương một người khác; đó là bộ phận của xấu xa? Tôi muốn gây tổn thương một người khác, đó là bộ phận của xấu xa? Tôi muốn gây tổn thương bạn bởi vì bạn đã làm điều gì đó đối với tôi; đó là xấu xa?

P: Đó là bộ phận của xấu xa.

Krishnamurti: Vậy thì, điều đó hàm ý ý muốn. Bạn gây tổn thương tôi, và, bởi vì tôi kiêu ngạo, tôi muốn trả thù. Mong muốn trả thù là một hành động của ý muốn. Dù nó là ý muốn để phản ứng hay để làm tốt lành, cả hai đều là xấu xa.

P: Quay lại vòng tròn nghi thức mandala; xấu xa có thể len lỏi vào khi những cái cổng không được bảo vệ. Ở đây, hai mắt và hai tai của anh là những cái cổng.

Krishnamurti: Vậy là bạn đang nói khi hai mắt thấy minh bạch, hai tai nghe rõ ràng, lúc đó xấu xa không thể len lỏi vào.

 Để quay lại, ý định cố ý, sự tập hợp của những ý định, suy nghĩ nó lặp đi và lặp lại, mà tất cả đều là ý định sâu thẳm để gây tổn thương, là bộ phận của ý muốn. Tôi nghĩ đó là nơi xấu xa hiện diện – hành động cố ý để gây tổn thương. Bạn gây tổn thương tôi, tôi gây tổn thương bạn; tôi xin lỗi và nó kết thúc. Nhưng nếu tôi giữ lại, nhớ lại, củng cố một cách cố ý, tuân theo một kế hoạch để gây tổn thương bạn, mà là bộ phận của ý muốn trong con người để làm tổn thương hay không làm tổn thương, vậy thìxấu xa.

 Vì vậy, liệu có một cách sống mà không có ý muốn? Khoảnh khắc tôi kháng cự, xấu xa phải ở một bên, và tốt lành ở phía bên kia và có sự liên quan giữa hai. Khi không có kháng cự, không có sự liên quan giữa hai. Và lúc đó tình yêu là một không gian khoáng đạt, không có bất kỳ từ ngữ nào, không có bất kỳ kháng cự nào. Tình yêu là hành động từ trống không. Như ngày hôm qua chúng ta đã bàn luận, khi một cách cố ý những nguyên tố đực khẳng định, đòi hỏi, sở hữu, thống trị, con người mời mọc xấu xa. Và những nguyên tố cái, nhượng bộ, nhượng bộ, nhượng bộ và cố ý nhượng bộ với mục đích để thống trị, cũng mời mọc xấu xa.

 Vậy là, nơi nào có sự theo đuổi ma mãnh của sự thống trị, mà là sự vận hành của ý muốn, có sự khởi đầu của xấu xa.

 Bạn thấy, chúng ta cố gắng bảo vệ chính chúng ta chống lại sự xấu xa đó. Chúng ta đang tự tạo ra xấu xa cho chính chúng tatuy nhiên chúng ta lại vẽ một vòng tròn, một lược đồ quanh bậc thềm cửa của ngôi nhà để tìm kiếm sự bảo vệ chống lại sự xấu xa, và phía bên trong con rắn của xấu xa đang vận hành.

 Hãy giữ sạch sẽ ngôi nhà của bạn. Hãy quên đi tất cả những bùa chú; không gì có thể chạm đến bạn.

 Chúng ta xin xỏ sự bảo vệ của những thần thánh, những người mà chúng ta đã sáng chế. Thật là quái đản.

 Tất cả những chiến tranh này, tất cả những hận thù chủng tộc này, tất cả những hận thù chồng chấtcon người đã và đang lưu trữ, việc đó phải có một hận thù tập hợp, một xấu xa tập trung. Những người Hitler, những người Mussolini, những người Stalin, những trại tập trung, những người Atilla; tất cả việc đó phải được lưu trữ, phải có một bộ phận nơi nào đó.

 Cũng thế, cảm thấy của ‘đừng giết chóc, hãy tử tế, hãy hòa nhã, hãy từ bi’ – cảm thấy đó cũng phải được lưu trữ nơi nào đó.

 Khi người ta cố gắng tự bảo vệ mình chống lại một điều, xấu xa, người ta cũng đang tự bảo vệ mình chống lại tốt lành, bởi vì con người đã tạo ra hai điều này. Vì vậy, liệu cái trí có thể thâm nhập vào sự tối tăm và chính thâm nhập vào nó, là xua tan sự tối tăm?

 

Đối thoại 4

SỰ THỨC DẬY CỦA NĂNG LƯỢNG

New Delhi, ngày 16 tháng 12 năm 1970

N

gười hỏi P: Khi chúng ta bàn luận về Tantra, anh đã nói rằng có một cách làm thức dậy năng lượng. Những người Tantra tập trung vào những trung tâm tinh thần nào đó, và vì vậy giải thoát năng lượng ngủ yên trong những trung tâm đó. Anh sẽ nói liệu có bất kỳ giá trị nào trong việc này? Cách để làm thức dậy năng lượng là gì?

Krishnamurti: Điều gì bạn vừa nói lúc nãy, tập trung vào những trung tâm thân thể-tinh thần, hàm ý, một qui trình của thời gian, đúng chứ? Vì vậy tôi muốn hỏi, liệu năng lượng đó có thể được thức dậy mà không có một qui trình của thời gian?

P: Trong toàn qui trình này, phương pháp truyền thống bắt buộc tư thế đúng đắn và một cân bằng của hơi thở. Nếu thân thể không biết làm thế nào để ngồi ngay thẳng, và làm thế nào để hít thở một cách đúng đắn, không thể có sự kết thúc của suy nghĩ. Muốn mang thân thểhơi thở đến một cân bằng, chắc chắn cần đến một qui trình của thời gian.

Krishnamurti: Có lẽ có một loại tiếp cận hoàn toàn khác hẳn với vấn đề này. Truyền thống bắt đầu từ hệ thần kinh cơ thể, tư thế ngồi, kiểm soát hơi thở và từ từ qua những hình thức khác nhau của tập trung dẫn đến sự thức dậy trọn vẹn của năng lượng. Đó là cách đã được chấp nhận. Liệu có một thức dậy của năng lượng này mà không trải qua tất cả những luyện tập này.

P: Nó giống như những Bậc Thầy về Zen mà nói rằng người thầy thực sự là người buông bỏ mọi nỗ lực, và tuy nhiên trong Zen muốn thấu triệt thuật bắn cung phải cần đến một tinh thông hoàn hảo của phương pháp kỹ thuật. Chỉ khi nào có sự tinh thông hoàn hảo thì nỗ lực mới không cần đến.

Krishnamurti: Bạn đang bắt đầu tại đầu này hơn là tại đầu kia – đầu này là thời gian, kiểm soát, năng lượng, hoàn hảo, sự cân bằng hoàn hảo.

 Đối với tôi có vẻ tất cả việc này giống như đang tiếp xúc với một xó xỉnh của một cánh đồng bao la. Truyền thống trao sự quan trọng lạ lùng cho quá khứ, cho hít thở, cho tư thế đúng đắn. Tất cả việc này bị giới hạn trong một xó xỉnh của cánh đồng, và qua xó xỉnh đó bạn mong chờ kiếm được sự khai sáng. Vậy thì xó xỉnh đó trở thành một lừa bịp. Qua loại uốn éo thuộc hệ thần kinh cơ thể như thế nào đó, hy vọng rằng bạn sẽ nắm bắt được ánh sáng, nguyên vũ trụ. Tôi nghĩ sự khai sáng không hiện diện ở đó – không qua một xó xỉnh. Nó giống như nhìn thấy bầu trời qua một khung cửa sổ nhỏ và không bao giờ ra ngoài để nhìn ngắm bầu trời. Tôi cảm thấy rằng cách đó là một cách vô lý để tiếp cận cái gì đó vô cùng mênh mang, không thời gian.

P: Thậm chí như vậy, anh sẽ thừa nhận rằng tư thế đúng đắn và hít thở đúng đắn củng cố cấu trúc của cái trí.

Krishnamurti: Tôi muốn tiếp cận tất cả điều này hoàn toàn khác hẳn. Trong tiếp cận nó hoàn toàn khác hẳn, rất cần thiết phải quẳng đi tất cả điều gì đã được nói. Tôi thấy cái xó xỉnh giống như một cây đèn cầy trong ánh sáng mặt trời. Cây đèn cầy đang được thắp sáng rất cẩn thận trong ánh sáng mặt trời rực rỡ. Bạn không quan tâm đến ánh sáng mặt trời nhưng lại tiếp tục thắp sáng cây đèn cầy.

 Có những sự việc khác được bao hàm; có sự thức dậy của năng lượng đã bị hao tán từ trước đến nay.

 Muốn tập trung năng lượng, muốn thâu gom toàn bộ nó, sự chú ý được cần đến, và sự loại bỏ hoàn toàn của thời gian.

 Tôi nghĩ, có những vấn đề cơ bản này – thời gian, chú ý không-ép buộc, không-tập trung, không-vây quanh một mảnh, và sự tập hợp năng lượng. Tôi nghĩ, đây là những vấn đề cơ bản mà người ta phải thông suốt bởi vì sự khai sáng phải hiện diện và là thấu triệt lẫn hiểu rõ về sự sống bao la này – sự sống là đang sống, đang chết, đang thương yêu; toàn bộ khó nhọc và vượt khỏi nó.

 Những Bậc Thầy truyền thống cũng sẽ đồng ý rằng bạn phải có sự chú ý để vượt khỏi thời gian. Nhưng họ là những người tôn sùng cái xó xỉnh. Họ sử dụng thời gian để vượt khỏi thời gian.

P: Làm thế nào, thưa anh? Tôi giữ một tư thế ngồi và hướng dẫn sự chú ý của tôi. Thời gian được bao hàm trong việc này là gì?

Krishnamurti: Liệu sự chú ý là kết quả của thời gian?

P: Không. Anh đưa ra một câu hỏi và có sự chú ý tức khắc. Liệu sự chú ý này là sản phẩm của thời gian?

Krishnamurti: Không, chắc chắn không.

P: Câu hỏi của anh và sự chú ý của tôi đồng-hiện diện ở đó, liệu có thời gian bị dính dáng? Nếu anh muốn coi điều này là như thế, tiến hành hiểu rõ về chính mình mà luôn luôn đang xảy ra cũng bao hàm thời gian. Cách đây hai mươi năm cái trí của tôi không bao giờ biết chất lượng hiện nay. Trạng thái này đã không hiện diện lúc đó.

Krishnamurti: Chúng ta hãy theo chầm chậm. Chúng ta đang cố gắng hiểu rõ cái gì đó vượt khỏi thời gian.

P: Truyền thống nói hãy chuẩn bị thân thể và cái trí.

Krishnamurti: Qua thời gian bạn chuẩn bị thân thể và cái trí để thâu nhận, để hiểu rõ, để được tự do khỏi thời gian. Qua thời gian, liệu bạn có thể thực hiện được điều này?

P: Truyền thống cũng gợi ý rằng, qua thời gian anh không thể vượt khỏi thời gian?

Krishnamurti: Tôi đang hỏi, khi bạn nói qua thời gian bạn hoàn thiện cái dụng cụ, nó như thế à? Tôi nghi ngờ điều đó. Qua thời gian liệu bạn có thể hoàn thiện cái dụng cụ? Lúc này, đầu tiên ai là người đang hoàn thiện cái dụng cụ? Liệu nó là sự suy nghĩ?

P: Sẽ không có giá trị gì cả khi nói chỉ có sự suy nghĩ. Có nhiều nhân tố khác bị dính dáng.

Krishnamurti: Sự suy nghĩ, biết của sự suy nghĩ, thông minh, tất cả đều được duy trì bởi sự suy nghĩ. Lại nữa, khi nói rằng sự suy nghĩ phải kết thúcthông minh phải hiện diện là một hành động của sự suy nghĩ. Lại nữa câu phát biểu, người suy nghĩsuy nghĩ là một, là một hành động của sự suy nghĩ. Bạn đang nói, hoàn thiện cái dụng cụ qua sự suy nghĩ. Đối với tôi sự tiếp cận thuộc truyền thống để hoàn thiện cái dụng cụ qua sự suy nghĩ và vì thế vượt khỏi nó, và hành động của vun đắp thông minh và vượt khỏi thời gian – tất cả việc này vẫn còn trong lãnh vực của sự suy nghĩ. Đó là như thế. Vì vậy, trong chính suy nghĩ đó có người suy nghĩ. Người suy nghĩ đó nói điều này phải xảy ra, điều này không được xảy ra. Người suy nghĩ đó đã trở thành ý muốn của sự thành tựu. Ý muốn để hoàn thiện cái dụng cụ là bộ phận của sự suy nghĩ.

P: Trong vòng tròn này mà anh đang nói; trong điều mà vừa lúc nãy anh diễn tả, cũng được hàm ý nghi vấn của chính dụng cụ mà là sự suy nghĩ.

Krishnamurti: Nhưng người nghi vấn là bộ phận của sự suy nghĩ; toàn cấu trúc là bộ phận của sự suy nghĩ. Bạn có thể phân chia, phân chia nhỏ thêm, thay đổi, nhưng tất cả vẫn còn trong lãnh vực của sự suy nghĩ, và đó là thời gian. Sự suy nghĩ là ký ức, sự suy nghĩvật chất; vật chất là ký ức. Chúng ta vẫn còn đang vận hành trong lãnh vực của cái đã được biết, và cái người đang vun quén sự suy nghĩ nói rằng anh ấy sẽ tiếp cận cái không biết được qua cái đã được biết, hoàn thiện cái đã được biết và đạt được sự khai sáng. Lại nữa tất cả việc này là sự suy nghĩ.

P: Nếu mọi thứ là sự suy nghĩ, vậy thì phải cần thiết để sinh ra một dụng cụ mới mẻ.

Krishnamurti: Khi sự suy nghĩ nói nó phải yên lặng, và được yên lặng, nó vẫn còn là sự suy nghĩ. Điều gì những người truyền thống làm là, làm việc trong lãnh vực của sự suy nghĩ mà là xó xỉnh của cánh đồng. Nhưng nó vẫn còn là kết quả của sự suy nghĩ. Đại Ngã là kết quả của sự suy nghĩ. Cái tinh thần vũ trụcon người hướng đến, là kết quả của sự suy nghĩ. Người đã trải nghiệm nó không liên quan gì đến sự suy nghĩ. Nó chỉ xảy ra, trái lại người học trò của anh ấy xuất hiện và nói hãy làm điều này, hãy làm điều kia. Tất cả đều ở trong lãnh vực của sự suy nghĩ.

P: Vậy là không có thâm nhập sâu thêm.

Krishnamurti: Hãy thấy làm thế nào sự suy nghĩ đang đùa giỡn với chính nó – tôi phải có cân bằng, tôi phải có tư thế đúng đắn với mục đích để năng lượng sự sống trôi chảy qua. Đúng chứ? Tôi nói, sự suy nghĩ thuộc về quá khứ. Sự suy nghĩ có thể tạo ra cái dụng cụ tuyệt vời nhất – nó có thể đi đến mặt trăng, đến sao Kim; nhưng sự suy nghĩ không bao giờ có thể chạm được ‘cái khác lạ’ bởi vì sự suy nghĩ không bao giờ được tự do, sự suy nghĩ luôn luôn cũ kỹ, sự suy nghĩ bị quy định. Sự suy nghĩ là toàn cấu trúc của cái đã được biết.

P: Anh có ý gì qua từ ngữ ‘cái khác lạ’.

Krishnamurti: Cái đó không là nó.

P: Cái đó không là cái gì? 

Krishnamuri: Cái này ở bên trong lãnh vực của thời gian; sự suy nghĩ mà là thời gian. Cái đó ở bên trong lãnh vực của yên lặng. Vì vậy hãy tìm ra liệu đau khổ có thể kết thúc? Hãy ra khỏi cái xó xỉnh. Hãy tìm ra sống là gì, chết là gì, nó có nghĩa gì khi kết thúc đau khổ. Nếu bạn không bắt gặp cái này, đang đùa giỡn cùng sự suy nghĩ không có ý nghĩa gì cả. Bạn có thể đánh thức tất cả những huyệt đạo kudalini, nhưng với mục đích gì?

 Vì vậy một người đang chỉ dạy phương pháp đánh thức những huyệt đạo hay đang khiến cho một con người tài giỏi môn bắn cung trong phương pháp của Zen hay trong luyện tập vô số hình thức khác nhau của Tantra, tất cả vẫn còn trong ngục tù của thời gian, mà là sự suy nghĩ. Tôi thấy điều đó, và tôi thấy rằng nó vẫn còn luẩn quẩn trong những vòng tròn. Vòng tròn có lẽ to lớn hơn nhưng nó vẫn là một vòng tròn, một ngục tù, mà là thời gian.

 Thế là, tôi sẽ không sử dụng nó. Tôi sẽ không sử dụng nó bởi vì tôi thấy bản chất, cấu trúc và trật tự của xó xỉnh này. Xó xỉnh này không có ý nghĩa gì đối với tôi. Khi có mặt trời kỳ diệu, tất cả những mức độ khai sáng siddhi và những quyền năng đều giống như những cây đèn cầy.

Liệu cái trí, đang lắng nghe tất cả điều này, có thể xóa sạch nó? Chính đang lắng nghe là đang xóa sạch. Vậy là bạn có nó. Vậy là có chú ý, tình yêu; mọi thứ hiện diện ở đó. Bạn thấy, một cách chính đáng, cái này giam cầm ngược lại cái khác lạ không giam cầm. Sự vận dụng của bộ não là tìm ra sự thật và sự giả dối; thấy sự giả dối như sự giả dối. Bạn thấy, khi cậu bé Krishnamurti thấy sự thật, nó kết thúc. Cậu ta từ bỏ tất cả những tổ chức, vân vân. Cậu ta không có luyện tập ‘để thấy’.

P: Nhưng anh đã có luyện tập. Anh đã trải qua một luyện tập khắc nghiệt của thân thể.

Krishnamurti: Họ bảo cho chúng tôi như thế. Bởi vì thân thể đã bị lơ là. Và vì vậy họ đã nói nếu cậu ta không được chăm sóc cậu ta sẽ bị bệnh tật.

P: Nhưng thưa anh, ngoại trừ sự kỷ luật thân thể, có những hướng dẫn của làm thế nào để nuôi nấng cậu trai đó.

Krishnamurti: Nó giống như chải tóc, thực hiện những bài tập yoga, hít thở; tất cả đều ở cùng mức độ.

B: Nó rất tinh tế. Tôi không đang nói rằng việc gì đã xảy ra có bất kỳ liên quan nào đến sự khai sáng, nhưng chăm sóc thân thể là việc rất cần thiết.

Krishnamurti: Vâng, giữ gìn thân thể khỏe mạnh là việc rất cần thiết.

P: Nếu tôi được phép nói như thế này, anh có dáng dấp của yogi, anh giống như một yogi, thân thể của anh có tư thế của một yogi. Anh đã luyện tập những tư thế, hít thở, mỗi ngày trong quá nhiều năm. Tại sao?

Krishnamurti: Việc đó không quan trọng. Nó giống như giữ gìn những móng tay của tôi được sạch sẽ. Tôi đang nói điều còn lại rất ngây thơ; trải qua nhiều năm trong việc hoàn thiện cái dụng cụ. Tất cả mọi việc mà bạn phải làm là ‘thấy’.

P: Nhưng nếu người ta sinh ra bị mù lòa, chỉ khi nào một người giống như anh đến và nói, hãy thấy, điều gì đó xảy ra. Hầu hết mọi người sẽ không hiểu rõ điều gì anh đang nói.

Krishnamurti: Hầu hết mọi người sẽ không lắng nghe tất cả điều này. Họ sẽ gạt nó đi.

P: Điều còn lại dễ dàng hơn. Nó trao tặng cái gì đó, ngược lại cái này không cho gì cả.

Krishnamurti: Cái này trao tặng mọi thứ nếu bạn hiệp thông cùng nó.

B: Nhưng điều còn lại dễ dàng hơn.

Krishnamurti: Bạn thấy tôi quan tâm vô cùng đến cái này. Làm thế nào cái trí của Krishnamurti đã duy trì được trạng thái vô nhiễm này?

P: Điều gì anh nói không có liên quan. Anh có lẽ là một ngoại lệ. Làm thế nào cậu bé Krishnamurti đã đến được nó? Cậu ta đã có tiền bạc, tổ chức, mọi thứ, và tuy nhiên cậu ta đã từ bỏ mọi thứ. Nếu tôi dắt người cháu gái của tôi lại và giao cho anh và cháu không có sự bầu bạn nào khác ngoại trừ anh, thậm chí như thế cháu cũng không có nó.

Krishnamurti: Không, cháu sẽ không có nó. (Ngừng) Xóa sạch tất cả điều này.

P: Khi anh nói điều đó, nó giống như câu châm ngôn của Zen; con ngỗng đang ló ra khỏi cổ chai. Liệu anh đã có một trung tâm để xóa sạch?

Krishnamurti: Không.

P: Vậy là, anh không có trung tâm phải xóa sạch? Anh là độc nhất và vì vậy anh là một hiện tượng, và vì vậy anh không thể bảo cho chúng tôi anh đã làm việc này và vì vậy nó đã xảy ra. Anh chỉ có thể bảo chúng tôi ‘Đây không phải là nó’ và dù chúng tôi có chết đuối hay không, không ai có thể bảo cho chúng tôi. Chúng tôi thấy điều này. Chúng tôi có lẽ không được khai sáng, nhưng chúng tôi không phải là không-được khai sáng.

Krishnamurti: Tôi nghĩ điều này lý thú vô cùng – khi thấy rằng bất kỳ điều gì sự suy nghĩ tiếp xúc đều không là sự thật. Sự suy nghĩthời gian. Sự suy nghĩ là ký ức. Suy nghĩ không thể chạm vào sự thật.

 

Đối thoại 5

BƯỚC ĐẦU TIÊN

 LÀ BƯỚC CUỐI CÙNG

New Delhi, ngày 19 tháng 12 năm 1970

 

N

gười hỏi P: Ngày hôm qua, khi chúng ta đang dạo bộ, anh đã nói bước đầu tiên là bước cuối cùng. Muốn hiểu rõ câu nói đó, tôi nghĩ chúng ta nên thâm nhập vấn đề của thời gian và liệu có một sự việc như là trạng thái cuối cùng của sự khai sáng. Sự hoang mang nảy sinh bởi vì những cái trí của chúng ta bị quy định để suy nghĩ về sự khai sáng như một trạng thái cuối cùng. Liệu hiểu rõ hay khai sáng là một trạng thái cuối cùng?

Krishnamurti: Bạn biết, khi chúng ta đã nói bước đầu tiên là bước cuối cùng; liệu chúng ta không đang nghĩ về thời gian như một chuyển động ngang hay một chuyển động dọc? Liệu chúng ta không đang suy nghĩ về chuyển động trên một mặt phẳng? Ngày hôm qua chúng ta đang nói, khi chúng ta đang dạo bộ, liệu chúng ta có thể xóa sạch hoàn toàn chiều cao, chuyển động ngang và chuyển động dọc, và quan sát sự kiện này, rằng dù chúng ta ở bất kỳ nơi đâu, tại bất kỳ mức độ nào của tình trạng bị quy định, của hiện diện, sự nhận biết của sự thật, của sự kiện, tại ngay khoảnh khắc đó là bước cuối cùng.

 Tôi là một người thư ký trong một văn phòng nhỏ, cùng những đau khổ dính dáng trong nó; người thư ký lắng nghe và nhận biết. Người đó lắng nghe và tại khoảnh khắc đó thực sự ‘thấy’. Thấy đó và nhận biết đó là bước đầu tiên và bước cuối cùng. Bởi vì, tại khoảnh khắc đó anh ấy đã hiệp thông cùng sự thật và anh ấy thấy cái gì đó rất rõ ràng.

 Nhưng điều gì xảy ra sau đó là, anh ấy muốn nuôi dưỡng trạng thái đó. Sự nhận biết, sự giải thoát và chính sự nhận biết sáng tạo sự giải thoát; anh ấy muốn tiếp tục, biến nó thành một qui trình. Và thế là anh ấy bị trói buộc và mất đi toàn bộ chất lượng của sự nhận biết.

 Vì vậy điều gì chúng ta đang nói là, bất kỳ qui trình nào đều hàm ý sự kết thúc. Nó là một chuyển động từ chuyển động ngang đến chuyển động dọc; chuyển động dọc dẫn đến một kết thúc. Và thế là, chúng ta nghĩ rằng sự nhận biết, sự giải thoát là một kết thúc; một vị trí mà không có chuyển động. Rốt cuộc, những phương pháp, những luyện tập, những hệ thống hàm ý một qui trình hướng về một kết thúc.

 Nếu khôngý tưởng thuộc khái niệm của sự kết thúc, sẽ không có qui trình.

P: Toàn cấu trúc của suy nghĩ được thiết lập trên một chuyển động ngang và vì vậy bất kỳ nguyên lý nào của vĩnh cửu đều phải ở trên mặt phẳng ngang.

Krishnamurti: Chúng ta quen thuộc với việc đọc một quyển sách theo hàng ngang. Mọi thứ đều hàng ngang – tất cả những quyển sách của chúng ta.

P: Mọi thứ đều có một khởi đầu và một kết thúc.

Krishnamurti: chúng ta nghĩ chương sách đầu tiên chắc chắn phải dẫn đến chương sách cuối cùng. Chúng ta cảm thấy tất cả những luyện tập đều dẫn đến một kết thúc; đến một giải thoát. Tất cả nó đều là đọc hàng ngang. Những cái trí, những hai mắt và những thái độ của chúng ta đều bị quy định để vận hành trên mặt phẳng ngang và tại khúc cuối, có một kết thúc. Quyển sách đọc xong. Bạn hỏi liệu sự thật hay sự khai sáng là một thành tựu cuối cùng; một điểm kết thúc vượt khỏi mà không có gì cả?

P: Từ đó không thể có rơi lại. Có lẽ vì một nhận biết tích tắc, và chất lượng của cái đó, tôi hiểu rõ. Một chốc lát sau, suy nghĩ nảy ra lại. Tôi tự nhủ với mình ‘Tôi quay lại trạng thái cũ’. Tôi nghi ngờ liệu ‘tiếp xúc’ đó có bất kỳ giá trị nào không. Tôi đặt ra một khoảng cách, một ngăn cản giữa tôi và trạng thái đó – tôi nói, nếu cái đó là đúng thực, suy nghĩ sẽ không nảy ra.

Krishnamurti: Tôi thấy; tôi nhận biết cái gì đó lạ thường; cái gì đó đúng thực. Tôi muốn tiếp tục sự nhận biết đó; cho nó một tiếp tục để cho sự nhận biết – hành động tiếp tục qua sống hàng ngày của tôi. Tôi nghĩ đó là nơi sự sai lầm bắt đầu. Cái trí đã thấy cái gì đó đúng thực. Từng đó đủ rồi. Cái trí đó là một cái trí hồn nhiên, rõ ràng, không bị tổn thương. Cái trí đó muốn tiếp tục nhận biết đó qua những hoạt động hàng ngày. Cái trí đã thấy cái gì đó rất rõ ràng. Hãy thả nó ở lại đó. Bước kế tiếp là bước kết thúc. Thả nó ở lại đó là bước kết thúc kế tiếp. Bởi vì cái trí của tôi sẵn sàng trong sáng rồi để thâu nhận bước kết thúc kế tiếp. Trong chuyển động hàng ngày của sự sống, nó không mang qua. Sự nhận biết đã không trở thành hiểu biết.

P: Cái tôi như người làm liên quan đến suy nghĩ hay thấy phải kết thúc.

Krishnamurti: Chết đi cái sự việc mà là đúng thực. Ngược lại, nó trở thành ký ức, mà tiếp theo trở thành suy nghĩ, và suy nghĩ nói làm thế nào tôi sẽ tiếp tục trạng thái đó. Nếu cái trí thấy rõ ràng, và nó chỉ có thể thấy rõ ràng khi thấy là kết thúc của nó, vậy thì cái trí có thể bắt đầu một chuyển động nơi bước đầu tiên là bước cuối cùng. Trong việc này không có dính dáng qui trình nào cả. Không có yếu tố của thời gian. Thời gian len lỏi vào khi, bởi vì đã thấy nó rõ ràng, đã nhận biết được nó, có một mang qua và vận dụng nó cho biến cố kế tiếp.

P: Mang qua đó là không thấy hay không nhận biết.

Krishnamurti: Vì vậy, tất cả những tiếp cận thuộc truyền thống mà đưa ra một qui trình phải có một vị trí, một kết luận, một kết thúc và bất kỳ cái gì mà có một kết thúc, một vị trí cố định, không là sự việc đang sống gì cả.

 Giống như nói rằng có nhiều con đường dẫn đến nhà ga. Nhà ga bị cố định.

 Liệu sự thật là một kết thúcmột lần bạn đã đạt được nó, mọi thứ đều chấm dứt – những lo âu của bạn, những sợ hãi của bạn và vân vân? Hay liệu nó làm việc một cách hoàn toàn khác hẳn? Liệu nó có nghĩa rằng ngay khi tôi ở trên xe lửa, không gì có thể xảy đến cho tôi? Liệu nó có nghĩa rằng tôi chờ đợi chiếc xe lửa sẽ mang tôi đến điểm đến của tôi? Tất cả những việc này là những chuyển động ngang.

 Vì vậy một qui trình hàm ý một điểm cố định. Những hệ thống, những phương pháp, những luyện tập, tất cả đều cống hiến một vị trí cố định và hứa hẹn với con người rằng khi anh ấy thành tựu nó, tất cả những phiền muộn đều chấm dứt. Liệu có cái gì đó mà thực sự không thời gian? Một vị trí cố định là trong thời gian. Nó ở trong thời gian bởi vì bạn đã công nhận nó. Bởi vì đã có suy nghĩ liên tục về vị trí kết thúc, và suy nghĩ về nó là thời gian. Liệu người ta có thể bắt gặp cái này mà phải không-thời gian, không-qui trình, không-hệ thống, không-phương pháp, không-phương cách?

 Liệu cái trí này mà quá bị quy định theo chiều ngang có thể, liệu cái trí này, khi biết rằng nó sống theo chiều ngang, có thể nhận biết ‘cái đó’ mà cũng không thuộc chiều ngang lẫn không thuộc chiều dọc? Liệu nó có thể nhận biết trong một tích tắc? Liệu nó có thể nhận biết rằng ‘thấy’ đã xóa sạch và kết thúc nó? Trong việc này là bước đầu tiên và bước cuối cùng bởi vì nó đã thấy mới mẻ lại.

 Câu hỏi của bạn là, liệu một cái trí như thế có khi nào được tự do khỏi phiền muộn? Tôi nghĩ đó là một câu hỏi sai lầm. Bạn vẫn còn đang suy nghĩ dựa vào sự kết thúc, khi bạn đặt ra câu hỏi đó. Bạn đã đi đến một kết luận rồi, và thế là quay lại vào qui trình ngang.

P: Sự tinh tế của nó là rằng cái trí phải đặt ra những nghi vấn cơ bản nhưng không bao giờ ‘làm thế nào’.

Krishnamurti: Tuyệt đối. Tôi thấy rất rõ ràng; tôi nhận biết. Sự nhận biết là ánh sáng. Tôi muốn mang nó qua như ký ức, như suy nghĩ, và áp dụng nó vào sống hàng ngày và thế là tôi giới thiệu sự phân hai, xung đột, mâu thuẫn.

 Vì vậy tôi nói làm thế nào tôi sẽ vượt khỏi nó? Tất cả những hệ thống đều cống hiến một qui trình, một vị trí cố định và sự kết thúc tất cả phiền muộn.

 Nhận biết là ánh sáng cho cái trí này. Nó không còn quan tâm đến sự nhận biết nữa bởi vì nếu nó quan tâm, nó trở thành ký ức. Liệu cái trí, khi thấy cái gì đó rất rõ ràng, có thể kết thúc sự nhận biết đó? Vậy là, ở đây chính bước đầu tiên là bước cuối cùng. Cái trí trong sáng để nhìn ngắm. Đối với một cái trí như thế, liệu có thể có kết thúc cho tất cả những phiền muộn? Nó không đặt ra một câu hỏi như thế. Khi nó xảy ra, nó sẽ thấy. Thấy điều gì xảy ra. Khi tôi đặt ra câu hỏi ‘Liệu cái này sẽ kết thúc tất cả phiền muộn?’ Tôi đang suy nghĩ về tương lai rồi và thế là tôi bị trói buộc trong thời gian.

 Nhưng tôi không quan tâm. Tôi nhận biết. Nó chấm dứt. Tôi thấy cái gì đó rất rõ ràng – sự rõ ràng của nhận biết. Sự nhận biết là ánh sáng. Nó chấm dứt. Thế là cái trí không bao giờ bị trói buộc trong thời gian. Bởi vì, mỗi lần tôi đã sử dụng bước đầu tiên, tôi cũng đã sử dụng bước cuối cùng.

 Vì vậy chúng ta thấy rằng tất cả những qui trình, tất cả những hệ thống, phải hoàn toàn bị khước từ bởi vì chúng làm tiếp tục thời gian. Qua thời gian bạn hy vọng đến được cái không-thời gian.

P: Tôi thấy rằng những dụng cụ được sử dụng trong điều gì anh đang nói là sự kiện của thấy và lắng nghe. Đây là những chuyển động thuộc giác quan. Do bởi qua những chuyển động thuộc giác quantình trạng bị quy định cũng hiện diện. Cái gì mà khiến cho một chuyển động làm tan biến hoàn toàn tình trạng bị quy định và một chuyển động khác lại củng cố nó?

Krishnamurti: Tôi lắng nghe câu hỏi đó như thế nào. Trước hết, tôi không biết. Tôi sắp sửa học hành. Nếu tôi học hành với mục đích thâu lượm hiểu biết, mà từ đó tôi sẽ hành động, hành động đó trở thành máy móc. Nhưng khi tôi học hành mà không tích lũy – mà có nghĩa nhận biết, nghe, mà không thâu lượm – cái trí luôn luôn trống không. Vậy thì câu hỏi là gì?

 Liệu cái trí trống không có khi nào bị quy định và tại sao nó phải bị quy định. Một cái trí thực sự đang lắng nghe, liệu nó có thể bị quy định? Nó luôn luôn đang học hành, nó luôn luôn trong chuyển động. Nó không là một chuyển động từ cái gì đó hướng về cái gì đó. Một chuyển động không thể có một khởi đầu và một kết thúc. Nó là cái gì đó sinh động, không bao giờ bị quy định. Một cái trí mà thâu lượm hiểu biết để vận hành bị quy định bởi hiểu biết riêng của nó.

P: Liệu nó là cùng một dụng cụ đang vận hành trong cả hai?

Krishnamurti: Tôi không biết. Tôi thực sự không biết. Cái trí chất đầy hiểu biết thấy tùy theo hiểu biết đó, tùy theo tình trạng bị quy định đó.

P: Thưa anh, thấy giống như bật đèn. Nó không có quy định trong chính nó.

Krishnamurti: Cái trí chất đầy những hình ảnh, những từ ngữ, những biểu tượng. Qua đó, nó suy nghĩ, nó thấy.

P: Nó thấy à?

Krishnamurti: Không. Tôi có một hình ảnh về bạn và tôi thấy qua hình ảnh đó. Đó là sự biến dạng. Hình ảnhtình trạng bị quy định của tôi. Nó vẫn còn ở trong cùng thùng chứa với tất cả những vật trong nó, và nó là cùng thùng chứa mà không có vật gì trong nó.

 Những vật của thùng chứa là thùng chứa. Khi không có những vật, thùng chứa không còn hình thể.

P: Vì vậy nó có thể thâu nhận ‘cái gì là’.

Krishnamurti: Sự nhận biết chỉ có thể xảy ra được khi không có hình ảnh. Điều đó rất đơn giản. Để giải thích lại, bạn thấy, sự nhận biết chỉ có thể xảy ra được khi không có hình ảnh – không-biểu tượng, không-ý tưởng, không-từ ngữ, không-hình thức, mà tất cả đều là hình ảnh. Vậy thì, sự nhận biết là ánh sáng. Không phải rằng tôi thấy ánh sáng. Có ánh sáng. Sự nhận biết là ánh sáng. Vì vậy, sự nhận biết là hành động. Và một cái trí chất đầy những hình ảnh không thể nhận biết. Nó thấy qua hình ảnh và thế là bị biến dạng.

 Điều gì chúng ta đã nói là đúng thực. Nó rất chính đáng. Tôi đã lắng nghe điều này. Trong nhân tố của lắng nghe không có ‘cái tôi’. Trong nhân tố của mang nó qua có ‘cái tôi’. ‘Cái tôi’ là thời gian.

 

Đối thoại 6

NĂNG LƯỢNGĐỘT BIẾN

New Delhi, ngày 21 tháng 12 năm 1970

 

N

gười hỏi P: Cả khoa học và yoga đều khẳng định rằng khi một sinh vật đang sống được phơi bày đến năng lượng mãnh liệt có một đột biến. Điều này xảy ra khi có sự phơi bày quá mức đối với sự bức xạ – nó có lẽ dẫn đến một đột biến trong những gene. Theo yoga nó cũng xảy ra, khi suy nghĩ được đặt trong ý thức trước ngọn lửa của năng lượng. Anh nghĩ điều này có ý nghĩa dựa vào điều gì anh đang giảng thuyết?

B: Sự bức xạ mang lại sự biến dạng. Có thể có sự đột biến hủy diệt. Tia laser xuyên thủng sắt thép và da thịt. Nó có khả năng hủy diệt cũng như chữa trị.

Krishnamurti: Liệu điều gì bạn muốn nói đến là năng lượng con người? Năng lượng trong những con người là gì? Chúng ta hãy trình bày nó rất đơn giản.

P: Năng lượng là cái gì đó mà làm cho sự chuyển động có thể xảy ra được.

B: Năng lượng hiện diện tại những mức độ khác nhau. Có năng lượng tại mức độ vật lý. Tiếp theo chính bộ não là một nguồn của năng lượng; nó tạo ra những xung điện.

Krishnamurti: Tất cả chuyển động, sự bức xạ, bất kỳ chuyển động nào của suy nghĩ, bất kỳ hành động nào đều là năng lượng. Khi nào nó trở thành mãnh liệt? Khi nào nó có thể làm những việc phi thường nhất? Khi nào nó có thể được hướng dẫn để thực hiện những việc không thể tưởng tượng được?

P: Khi nó không bị hao tán. Khi nó được tập trung.

Krishnamurti: Khi nào điều đó xảy ra? Nó xảy ra trong tức giận, hận thù, bạo lực? Nó xảy ra khi có tham vọng, khi có ham muốn cực kỳ? Hay nó xảy ra khi một thi sĩ có sự thôi thúc, sinh lực, năng lượng để sáng tác?

P: Năng lượng như thế kết tinh và trở thành cố định?

Krishnamurti: Chúng ta biết dạng năng lượng này. Nhưng năng lượng chúng ta biết không tạo được một đột biến trong cái trí con người. Tại sao? Năng lượng này trở thành mãnh liệt khi có sự thành tựu trong hành động. Khi nào nó chuyển động đến một kích thước khác hẳn? Một họa sĩ hay một người khoa học, sử dụng tài năng của anh ấy, tăng cường năng lượng và cho sự diễn tả đến nó. Nhưng chất lượng của cái trí anh ấy, của thân tâm anh ấy, không được thay đổi bởi năng lượng này.

Pupul Jayakar: Chúng ta đang bỏ sót cái gì đó trong tất cả điều này.

Krishnamurti: Bạn đang hỏi liệu có một chất lượng của năng lượng mà thay đổi cái trí con người? Đó là câu hỏi của bạn. Lúc này, tại sao nó không xảy ra trong người họa sĩ, trong người nhạc sĩ, trong người viết văn?

P: Tôi nghĩ do bởi năng lượng của họ là thuộc một kích thước.

Krishnamurti: Người họa sĩ vẫn còn tham vọng, tham lam, một người trưởng giả.

S: Tại sao anh nói rằng sự tham lam sẽ hiện diện trong cách của năng lượng đang vận hành? Con người có lẽ có tham vọng nhưng anh ấy cũng tốt lành. Đây là những yếu tố tạo thành cái ngã của anh ấy.

Krishnamurti: Chúng ta đang hỏi tại sao, khi con ngườinăng lượng đó, năng lượng đó không tạo ra một thay đổi cơ bản?

P: Con ngườinăng lượng để vận hành trong môi trường sống của anh ấy. Nhưng có một lãnh vực rộng lớn của thân tâm anh ấy nơi không có chuyển động của năng lượng.

Krishnamurti: Con người sử dụng năng lượng, vận hành trọn vẹn trong một phương hướng, và trong những phương hướng còn lại anh ấy im lìm. Năng lượng im lìm trong một phần thuộc sự tồn tại của anh ấy, và trong phần khác nó lại năng động.

P: Thậm chí những dụng cụ giác quan của con người cũng được sử dụng từng phần.

Krishnamurti: Anh ấy là một con người phân chia. Tại sao sự phân chia này xảy ra? Một mảnh đang năng động cực kỳ, mảnh kia không vận hành gì cả. Một mảnh thì tầm thường, trưởng giả, nhỏ nhen. Khi nào hai mảnh này kết hợp để trở thành năng lượng hòa hợp? Một năng lượng không-phân chia? Một năng lượng không vận hành trọn vẹn tại một mức độ trong khi tại mức độ khác điện áp lại yếu?

P: Khi những dụng cụ giác quan vận hành trọn vẹn.

Krishnamurti: Khi nào điều này xảy ra? Chúng vận hành trọn vẹn khi có một khủng hoảng nghiêm trọng?

P: Không luôn luôn, thưa anh. Hành động của khủng hoảng cũng có thể là từng phần; anh có thể nhảy tránh khi thấy một con rắn nhưng anh có thể nhảy vào một bụi gai.

Krishnamurti: Khi nào mảnh không còn là một mảnh. Chúng ta không đang suy nghĩ dựa vào chuyển động, dựa vào hành động, dựa vào thay đổi, hay sao? Chúng ta đã chấp nhận chuyển động để tồn tại, chuyển động của trở thành. Chúng ta đã chấp nhận sự phân chia. Chuyển động của trở thành luôn luôn là một chuyển động trong những mảnh. Liệu có một chuyển động mà không phụ thuộc vào những bảng phân loại này? Hãy thấy điều gì xảy ra nếu không có chuyển động gì cả.

P: Tôi đã luôn luôn thấy rằng hiểu rõ những câu hỏi này của anh là điều rất khó khăn. Bản chất của chính câu hỏi gợi ý một điều khác, điều đối nghịch.

S: Người ta thực sự không biết chuyển động im lìm.

Krishnamurti: Thoạt đầu chúng ta đã nói có sự phân chia. Một mảnh rất sinh động và mảnh còn lại không sinh động.

B: Năng lượng của người họa sĩ, toàn thân tâm của anh ấy, vận hành theo một kích thước. Không có sự nhận biết.

Krishnamurti: Tôi không chắc lắm. Một mảnh là sinh động. Bạn đang nói mảnh còn lại không nhận biết được chính nó.

P: Người họa sĩ vẽ, anh ấy cũng có một tình yêu với một người phụ nữ. Anh ấy không thấy những hành động này như những mảnh.

Krishnamurti: Chúng ta đã vượt quá điều đó. Chúng ta thấy anh ấy bị phân chia. Anh ấy vận hành trong những mảnh – một mảnh thì sinh động và mảnh kia lại im lìm. Trong sự im lìm đó có hành động đang xảy ra. Một mảnh thì rất năng động và mảnh kia trong một âm điệu thấp. Chúng ta thấy điều này. Lúc này câu hỏi là, liệu năng lượng này có thể tăng thêm để tạo ra một thay đổi trong những tế bào não?

P: Liệu nó có thể đem theo cái mảnh lờ đờ và thay đổi chính cấu trúc của nó để cho có một thay đổi trong cả hai.

Krishnamurti: Tôi có lẽ là một người điêu khắc vĩ đại. Một mảnh của tôi lại im lìm. Bạn hỏi, liệu có thể có một thay đổi không những trong cái mảnh im lìm nhưng còn cả trong năng lượng đó mà đi vào sự sáng tác của người điêu khắc.

 Câu hỏi là, liệu tôi có sẵn lòng chấp nhận rằng tôi có lẽ không còn là một người điêu khắc? Bởi vì điều đó có lẽ xảy ra. Khi tôi thâm nhập vấn đề của một thay đổi này trong chính những tế bào não, nó có thể xảy ra rằng tôi có lẽ không bao giờ là một người điêu khắc. Nhưng là một người điêu khắc lại rất quan trọng đối với tôi. Tôi không muốn buông bỏ việc nó.

P: Chúng ta hãy bỏ qua người điêu khắc. Ở đây chúng tôi đang ở trước mặt anh và anh nói, hãy nhìn, thay đổi này trong cấu trúc của những tế bào não có lẽ là sự kết thúc của tất cả tài năng, của tất cả hành động quan trọng. Chúng tôi chấp nhận điều gì anh nói.

Krishnamurti: Điều đó đúng. Nếu bạn sẵn sàng buông bỏ, vậy thì điều gì xảy ra? Mà có nghĩa mất đi khả năng, sự thành tựu, sự tiếp tục của ‘cái tôi’. Lúc này, khi nào qua năng lượng sự đột biến này trong những tế bào não xảy ra?

 Bạn thấy nơi nào năng lượng đang bị hao tán qua tài năng và qua những khe rãnh, năng lượng không được tập hợp hoàn toàn. Khi năng lượng này không chuyển động gì cả, vậy thì tôi nghĩ cái gì đó xảy ra, vậy thì nó phải nổ tung.

 Tôi nghĩ, lúc đó chất lượng của chính tế bào não thay đổi. Đó là lý do tại sao tôi đã hỏi, tại sao chúng ta luôn luôn đang suy nghĩ dựa vào sự chuyển động?

 Khi không có chuyển động phía bên trong hay phía bên ngoài, khi không có nhu cầu trải nghiệm, không thức dậy, không tìm kiếm, không chuyển động thuộc bất kỳ loại nào, lúc đó năng lượng ở tại mức độ tột đỉnh của nó. Mà có nghĩa, người ta phải phủ nhận tất cả chuyển động. Khi điều đó xảy ra, năng lượng hoàn toàn bất động, mà là yên lặng.

 Như chúng ta đã nói ngày hôm trước, khi có yên lặng, vậy là cái trí đang tự thay đổi chính nó. Vậy là nó hoàn toàn im lìm, khi không ai đang canh tác nó, vậy thì nó yên lặng giống như cái tử cung.

 Cái trí mà là thùng chứa của chuyển động, khi chuyển động đó không có hình dáng, không ‘cái tôi’, không tầm nhìn, không hình ảnh, nó hoàn toàn yên lặng.

 Trong nó không có ký ức. Vậy thì những tế bào não trải qua một thay đổi.

 Những tế bào não quen thuộc với chuyển động trong thời gian. Chúng là cặn bã của thời gianthời gian là chuyển động; một chuyển động bên trong không gian mà nó tạo ra khi nó chuyển động. Khi cái trí thấy được điều này, khi nó thấy sự vô lý của tất cả chuyển động trong ý nghĩa của thời gian, vậy thì tất cả chuyển động đều kết thúc.

 Vì vậy, khi cái trí phủ nhận hoàn toàn tất cả chuyển động, thế là tất cả thời gian, tất cả suy nghĩ, tất cả ký ức, có sự yên lặng tuyệt đối, không phải sự yên lặng tương đối.

 Vì vậy, vấn đề là không phải làm thế nào tạo ra sự thay đổi, nhưng thâm nhập vào cấu trúc của những tế bào não. Sự nhận ra rằng bất kỳ chuyển động nào từ những tế bào não đều cho sự tiếp tục đến chính thời gian, kết thúc tất cả những chuyển động. Chuyển động luôn luôn ở trong quá khứ hay trong tương lai – chuyển động từ quá khứ sang hiện tại đến tương lai. Đó là tất cả mà chúng ta biết và chúng ta muốn sự thay đổi trong chuyển động này. Chúng ta muốn chuyển động, và tuy nhiên chúng ta muốn sự thay đổi trong chuyển động này, và thế là những tế bào não tiếp tục. (Ngừng)

 Đơn giản lạ thường. Tôi không biết liệu bạn thấy điều này. Tất cả chúng ta đều muốn làm phức tạp nó. Bất kỳ nỗ lực nào để chặn đứng sự chuyển động đều là sự mâu thuẫnvì vậy, thời gian, và thế là không thay đổi gì cả. Tất cả những người tìm kiếm đều đã nói về một chuyển động cao hơn, chuyển động thuộc thứ bậc. Câu hỏi là, liệu chính cái trí có thể tự-phủ nhận tất cả chuyển động?

 Bạn thấy, khi bạn nhìn ngắm bộ não của bạn, có trung tâm hoàn toàn yên lặng và tuy nhiên đang lắng nghe mọi thứ đang xảy ra – chiếc xe buýt, những con chim. Chúng ta muốn chặn đứng sự ồn ào phía bên ngoài nhưng lại muốn tiếp tục sự huyên thuyên phía bên trong. Chúng ta muốn chặn đứng chuyển động phía bên ngoài nhưng tiếp tục với chuyển động phía bên trong.

 Khi không có chuyển động, có sự tập trung lạ thường của năng lượng.

 Vì vậy, đột biến là sự hiểu rõ về chuyển động và kết thúc chuyển động trong chính những tế bào não.

 

Đối thoại 7

NGƯỜI QUAN SÁT VÀ CÁI GÌ LÀ

New Delhi, ngày 25 tháng 12 năm 1970

N

gười hỏi P: Vấn đề của sự phân hai và sự kết thúc của nó không thể được hiểu rõ nếu chúng ta không thâm nhập bản chất của người suy nghĩsuy nghĩ. Liệu chúng ta có thể bàn luận điều này?

Krishnamurti: Làm thế nào những người suy nghĩ của Ấn giáo, những triết gia thuộc trường phái Advaita giải quyết vấn đề này?

P: Trường phái Yoga-sutras của Patanjali công nhận một trạng thái giải thoát có những chỗ dựa, và một trạng thái của giải thoát không có những chỗ dựa. Trong một trạng thái, người suy nghĩ là chỗ dựa; nó là một trạng thái nơi người suy nghĩ đã không kết thúc. Trong trạng thái kia, có một trạng thái nơi mọi thứ gồm cả người suy nghĩ đã kết thúc.

 Những người Phật giáo nói về kshana vada, thời gian như tích tắc, tổng thể và trọn vẹn trong chính nó nơi người suy nghĩ không có sự tiếp tục. Những triết gia Advaita nói về sự kết thúc của phân hai và sự đạt được không-phân hai. Họ trải qua một qui trình phân hai để đạt được trạng thái không-phân hai này. Sankara tiếp cận trạng thái không-phân hai này qua sự phủ nhận (neti, neti). Nagarjuna, sự phủ nhận của người triết lý Phật giáo là tuyệt đối; nếu bạn nói có Thượng đế, ông ta phủ nhận nó; nếu bạn nói không có Thượng đế, ông ta phủ nhận nó. Mọi phát biểu đều bị phủ nhận.

B: Buddha nói cái gì tồn tại là ‘Sự cô đơn của Sự thật’. Bạn là kết quả của những suy nghĩ của bạn.

P: Tất cả họ đều nói về không-phân hai – Buddha, Sankara, Nagarjuna. Nhưng không-phân hai đã trở thành một ý tưởng. Nó đã không tác động vào ngay cấu trúc của bộ não. Ở Ấn độ qua hàng thế kỷ sự tiếp cận phủ nhận đã được bàn luận, nhưng nó đã không ảnh hưởng cái trí của con người. Những tế bào não vẫn duy trì sự phân hai; chúng vận hành trong thời gian và bị trói buộc trong thời gian. Mặc dù sự phủ nhận và sự không-phân hai đã được thừa nhận nhưng không có manh mối để hiểu rõ những trạng thái này. Tại sao không-phân hai đã không gây ảnh hưởng cái trí của con người? Chúng ta có thể thâm nhập vào nó để thấy liệu chúng ta có thể khám phá cái đó mà sẽ nẩy mầm trạng thái không-phân hai?

B: Tất cả những khai triển khác – thuộc khoa học, công nghệ – đã gây ảnh hưởng những cái trí của con người. Con người đã khám phá trạng thái không-phân hai nhưng nó đã không gây ảnh hưởng cái trí của anh ấy cũng như sống của anh ấy.

 

S: Nếu mỗi trải nghiệm lưu lại một dấu vết trên những tế bào não, ảnh hưởng của trạng thái không-phân hai, của trạng thái một là gì? Tại sao một thay đổi không đang xảy ra trong liên hệ giữa người suy nghĩ và suy nghĩ?

P: Liệu hệ thống máy móc mà ghi lại những hiểu biết thuộc công nghệ, là cùng hệ thống máy móc mà ‘thấy, nhận biết’?

Krishnamurti: Tế bào công nghệ, tế bào ghi lại và tế bào nhận biết

P: Và dường như chúng hình thành ‘cái tôi’.

Krishnamurti: Mảnh công nghệ và mảnh ghi lại – hai mảnh này tạo thành cái tôi. Không phải mảnh nhận biết.

P: Tôi cũng đang bao gồm ‘nhận biết’. Mảnh ghi lại liên quan cả hai – mảnh công nghệ và sự nhận biết.

Krishnamurti: Nó có lẽ là một giải thích bằng từ ngữ.

P: Dường như tâm điểm của con người không bao giờ bị ảnh hưởng. Sự phân hai cốt lõi cơ bản giữa người suy nghĩsuy nghĩ cứ tiếp tục.

Krishnamurti: Bạn nghĩ tại cơ bản có sự phân hai hay chỉ có ‘cái gì là’, sự kiện?

P: Thưa anh, khi anh đưa ra một câu hỏi như thế, cái trí bất động và người ta nói ‘vâng, nó là như thế’. Sau đó sự nghi ngờ bắt đầu – liệu tôi không tách khỏi S, khỏi B? Mặc dù cái trí nói ‘vâng’, nó cũng thắc mắc một tích tắc sau đó. Khoảnh khắc anh đặt ra câu hỏi, cái trí của tôi trở nên bặt tăm.

Krishnamurti: Tại sao không ở đó?

P: Sự nghi ngờ nảy sinh.

Krishnamurti: Tại sao? Liệu nó là thói quen, truyền thống, chính bản chất của sự vận hành của cái tôi, tình trạng bị quy định? Tất cả điều đó có lẽ do bởi sự áp đặt của văn hóa để sinh tồn, để vận hànhvân vân. Tại sao mang nó vào khi chúng ta đang nhìn sự kiện – liệu có sự phân hai cơ bản?

 

P: Anh nói, nó có lẽ là một hành động phản xạ của những tế bào não?

Krishnamurti: Chúng ta là kết quả của môi trường sống của chúng ta, của xã hội của chúng ta. Chúng ta là kết quả của tất cả những phản ứng hổ tương của chúng ta. Đó cũng là một sự kiện. Tôi đang tự hỏi liệu có một sự phân hai cơ bản tại tâm điểm, hay sự phân hai nảy sinh khi tôi chuyển động khỏi ‘cái gì là’? Khi tôi không chuyển động khỏi chất lượng không-phân hai cơ bản của cái trí, người suy nghĩ hiện diện ở đó, liệu anh ấy có một phân hai? Anh ấy suy nghĩ. Liệu người suy nghĩ tạo tác một phân hai khi anh ấy trọn vẹn ở cùng ‘cái gì là’?

 Tôi không bao giờ suy nghĩ khi tôi nhìn một cái cây. Khi tôi nhìn bạn, không có sự phân chia như ‘tôi’ và ‘bạn’. Những từ ngữ được sử dụng chỉ vì những mục đích hiệp thông và ngôn ngữ. Trong chừng mực nào đó ‘cái tôi’ và ‘cái bạn’ không bị bám rễ trong tôi. Vì vậy, người suy nghĩ nảy sinh sự tách khỏi suy nghĩ ở đâu? Cái trí vẫn còn trong ‘cái gì là’. Nó ở lại cùng đau khổ. Không có suy nghĩ của không-đau khổ. Không có ý thức của đau khổ. Đó là ‘cái gì là’. Không có cảm giác của mong muốn thoát khỏi nó. Sự phân hai nảy sinh ở đâu? Sự phân hai nảy sinh khi cái trí nói, ‘Tôi phải loại bỏ sự đau khổ. Tôi đã biết những trạng thái không-đau khổ và tôi muốn trong một trạng thái không-đau khổ’. (Ngừng). Bạn là một người đàn ông và tôi là một người đàn bà. Đó là một sự kiện sinh học. Nhưng liệu có một phân hai thuộc tâm lý? Liệu có một trạng thái phân hai tại cơ bản hay chỉ khi nào cái trí chuyển động khỏi ‘cái gì là’?

 Có đau khổ. Người con trai của tôi chết. Tôi không chuyển động thoát khỏi. Sự phân hai ở đâu? Chỉ khi nào tôi nói tôi đã mất người bầu bạn của tôi, người con trai của tôi, sự phân hai đó hiện diện. Tôi không hiểu liệu điều này là đúng? Tôi trải qua đau khổ – sự đau khổ thuộc thân thể hay tâm lý. Tất cả chúng đều được bao gồm trong đau khổ. Một chuyển động thoát khỏi nó là sự phân hai. Người suy nghĩ là sự chuyển động thoát khỏi đó. Tiếp theo, người suy nghĩ nói điều này không nên tồn tại; anh ấy cũng nói không nên có sự phân hai.

 Trước hết, hãy thấy sự kiện rằng chuyển động thoát khỏi ‘cái gì là’, là chuyển động của người suy nghĩ mà tạo ra sự phân hai. Trong quan sát sự kiện của đau khổ, tại sao phải có một người quan sát trong sự quan sát đó? Người quan sát nảy ra khi có một chuyển động, hoặc lùi về sau hoặc tiến tới trước. Suy nghĩ rằng ngày hôm qua tôi không có đau khổ – trong suy nghĩ đó sự phân hai nảy sinh. Liệu cái trí có thể vẫn ở cùng đau khổ, không có bất kỳ chuyển động thoát khỏi nó, mà tạo tác người suy nghĩ?

 Cái trí đang tự hỏi, làm thế nào thái độ phân hai này hướng về sự sống lại nảy sinh? Nó không đang nài nỉ một giải thích của làm thế nào thoát khỏi nó. Tôi đã có vui thú ngày hôm qua. Nó chấm dứt. (Ngừng) Nó không đơn giản như thế, hay sao?

P: Thật ra không dễ dàng đâu.

Krishnamurti: Tôi nghĩ dễ dàng lắm. Bạn thấy đó, điều này hàm ý sự quan sát không-so sánh. Sự so sánh là phân hai. Sự đo lường là phân hai. Có đau khổ ngày hôm nay, có sự so sánh với không-đau khổ của ngày mai. Nhưng chỉ có một sự kiện duy nhất: đau khổ mà cái trí đang trải nghiệm ngay lúc này. Không còn điều gì nữa hiện diện. Tại sao chúng ta đã làm phức tạp nó? Tại sao chúng ta đã dựng lên những triết lý kỳ cục quanh tất cả việc này? Liệu chúng ta đang bỏ lỡ cái gì đó? Có phải rằng cái trí không biết làm gì, và vì vậy chuyển động khỏi sự kiện và khiến cho sự phân hai hiện diện? Nếu nó biết, liệu nó tạo ra sự phân hai? Liệu chính ‘làm gì’ là một qui trình phân hai? Bạn hiểu chứ? Chúng ta hãy quan sátmột lần nữa. Có đau khổ – thuộc thân thể hay thuộc tâm lý. Khi cái trí không biết ‘làm gì’ trong ý nghĩa không-phân hai, nó tẩu thoát. Liệu cái trí bị trói buộc trong cái bẫy, chuyển động tiến tới hay chuyển động lùi lại có thể, liệu nó có thể giải quyết ‘cái gì là’ trong một cách không-phân hai? Bạn hiểu chứ? Vì vậy chúng ta đang hỏi, liệu đau khổ, ‘cái gì là’, có thể được thay đổi mà không có hoạt động phân hai? Liệu có thể có một trạng thái không-suy nghĩ, trong đó người suy nghĩ không-hiện diện gì cả; người suy nghĩ mà nói ‘Tôi đã không có đau khổ ngày hôm qua và tôi sẽ không có nó ngày mai’?

P: Hãy thấy điều gì xảy ra cho chúng tôi. Điều gì anh giải thích là đúng. Nhưng có một khiếm khuyết của cái gì đó bên trong chúng tôi; nó có lẽ là sức mạnh, năng lượng. Khi có một khủng hoảng, trọng lượng của khủng hoảng đó đủ mãnh liệt để cuốn hút chúng tôi vào một trạng thái nơi không có chuyển động thoát khỏi sự khủng hoảng; nhưng trong sống hàng ngày, chúng tôi có những thách thức ‘nhỏ nhoi’.

Krishnamurti: Nếu bạn thực sự hiểu rõ điều này, bạn sẽ gặp gỡ những thách thức nhỏ nhoi này.

P: Trong sống hàng ngày, chúng ta có những chuyển động huyên thuyên, thất thường của người suy nghĩ đang vận hành theo những đòi hỏi của nó. Người ta phải làm gì với điều đó.

Krishnamurti: Tôi không nghĩ bạn có thể làm bất kỳ việc gì với nó. Đó là sự phủ nhận. Nó không liên quan.

P: Nhưng điều đó rất, rất quan trọng. Đó là những cái trí của chúng ta là gì – mảnh thất thường. Người ta không có khả năng để phủ nhận điều đó.

Krishnamurti: Hãy lắng nghe, có sự ồn ào bên ngoài. Tôi không thể làm bất kỳ điều gì về nó.

P: Khi có một khủng hoảng, có hiệp thông. Trong đang sống bình thường không có hiệp thông. Tôi đi ra ngoài. Tôi có thể nhìn ngắm một cái cây và không có phân hai. Tôi có thể thấy màu sắc mà không có phân hai. Nhưng có mảnh còn lại, mảnh không-ý thức thất thường không ngừng nghỉ mà đang huyên thuyên liên tục. Người suy nghĩ bắt đầu làm việc với nó khi người suy nghĩ thấy nó đang vận hành. Sự phủ nhận tuyệt đối là thả cho nó một mình.

Krishnamurti: Ngừng lại tại yếu tố cơ bản – quan sát đau khổ mà không chuyển động thoát khỏi nó – đó là trạng thái không-phân hai duy nhất.

P: Chúng ta hãy nói về cái trí huyên thuyên thay vì về đau khổ, bởi vì đó là sự kiện tại khoảnh khắc này. Sự ồn ào của cái còi đó, cái trí huyên thuyên, đó là ‘cái gì là’.

Krishnamurti: Bạn thích điều này và không thích điều kia và thế là bắt đầu nguyên cái vòng tròn.

P: Mấu chốt chủ yếu là sự quan sát ‘cái gì là’ mà không chuyển động thoát khỏi. Chuyển động thoát khỏi tạo ra người suy nghĩ.

Krishnamurti: Bởi vì sự ồn ào, sự huyên thuyên mà là ‘cái gì là’, đã không còn, đã phai lạt đi nhưng đau khổ vẫn còn. Đau khổ không biến mất. Vượt khỏi đau khổ một cách không-phân hai; đó là nghi vấn. Làm thế nào nó sẽ được thực hiện? Bất kỳ chuyển động nào thoát khỏi cái gì là, đều là sự phân hai bởi vì trong đó có người suy nghĩ đang vận hành vào ‘cái gì là’, mà là cái phân hai.

 Lúc này liệu có thể quan sát ‘cái gì là’, mà là cái phân hai? Quan sát ‘cái gì là’, mà không có chuyển động phân hai đang xảy ra, liệu quan sát đó sẽ thay đổi ‘cái gì là’? Bạn hiểu rõ câu hỏi của tôi?

P: Nó không thực sự là một tan biến của ‘cái gì là’, hay sao? Cái mà đã được tạo ra?

Krishnamurti: Tôi chỉ biết ‘cái gì là’. Không còn gì thêm nữa. Không-nguyên nhân.

P: Đó là như thế. Người ta có thể thấy rằng khi không có chuyển động thoát khỏi đau khổ, có một tan biến của đau khổ.

Krishnamurti: Làm thế nào điều này xảy ra được? Tại sao con người đã không đến được điều này? Tại sao anh ấy đã đấu tranh với đau khổ bằng một chuyển động phân hai? Tại sao anh ấy đã không bao giờ hiểu rõ hay đã khoét sâu vào đau khổ mà không có chuyển động phân hai? Điều gì xảy ra khi không có chuyển động thoát khỏi đau khổ? Không phải điều gì xảy ra đối với sự tan biến của đau khổ, nhưng điều gì xảy ra đối với hệ thống máy móc mà vận hành? Nó rất đơn giản. Đau khổ là sự chuyển động thoát khỏi. Không có đau khổ khi chỉ có đang lắng nghe. Có đau khổ chỉ khi nào tôi chuyển động khỏi sự kiện và nói rằng đây là vui thú, đây không là vui thú. Người con trai của tôi đã chết. Đó là một sự kiện tuyệt đối, không thể chối cãi được. Tại sao có đau khổ?

P: Bởi vì tôi đã thương yêu cậu ấy.

Krishnamurti: Hãy quan sát điều gì đã xảy ra một cách không-ý thức. Tôi đã thương yêu cậu ấy. Cậu ấy đã đi rồi. Đau khổ là sự hồi tưởng về tình yêu của tôi đối với cậu ấy. Cậu ấy không còn nữa. Nhưng sự kiện tuyệt đối rằng cậu ấy đã đi rồi. Hãy ở lại cùng sự kiện đó. Có đau khổ chỉ khi nào tôi nói rằng cậu ấy không còn nữa, mà là khi người suy nghĩ hiện diện và nói, ‘con trai của tôi không còn ở đó nữa, cậu ấy là bầu bạn của tôi’, và mọi chuyện của nó.

S: Không chỉ là ký ức về người con trai đã chết rồi của tôi mới là đau khổ. Lúc này có sự cô độc.

Krishnamurti: Người con trai của tôi chết rồi. Đó là một sự kiện. Sau đó có suy nghĩ về sự cô độc. Sau đó có sự đồng hóa của tôi cùng cậu ấy. Tất cả điều đó là một qui trình của sự suy nghĩ và người suy nghĩ. Nhưng tôi chỉ có một sự kiện. Con trai của tôi chết rồi, tình trạng cô độc, không bầu bạn, tuyệt vọng, tất cả đều là kết quả của sự suy nghĩ, mà tạo ra sự phân hai; một chuyển động thoát khỏi ‘cái gì là’. Nó không cần sức mạnh hay sự khẳng định để không chuyển động. Sự khẳng định là phân hai.

 Chỉ có một việc duy nhất, mà là sự kiện và chuyển động thoát khỏi sự kiện của sự kiện, khỏi ‘cái gì là’. Chính chuyển động này nuôi dưỡng sự cay đắng, lãnh đạm, không-thương yêu, dửng dưng, mà tất cả đều là sản phẩm của sự suy nghĩ. Sự kiện là con trai của tôi đã chết rồi.

 Không-nhận biết trọn vẹn về ‘cái gì là’ nuôi dưỡng người suy nghĩ, mà là hành động phân hai; và khi cái trí rơi lại vào cái bẫy của hành động phân hai, đó là ‘cái gì là’; hãy ở lại cùng nó – bởi vì bất kỳ chuyển động nào thoát khỏi nó là một hành động phân hai khác. Cái trí luôn luôn giải quyết ‘cái gì là’ như nhiễu loạn, không-nhiễu loạn. Và ‘cái gì là’, cái sự kiện, không cần thay đổi bởi vì nó là ‘cái vượt khỏi’ rồi. Tức giận là ‘cái gì là’. Chuyển động phân hai của không-tức giận là rời khỏi ‘cái gì là’. Không-chuyển động khỏi ‘cái gì là’, là không còn tức giận nữa. Thế là, cái trí – một lần nó đã nhận biết, một lần nó đã có sự nhận biết không-phân hai – khi tức giận nảy sinh lại, không hành động từ ký ức. Lần tới sự tức giận nảy sinh, đó là ‘cái gì là’. Cái trí luôn luôn đang giải quyết ‘cái gì là’. Vì vậy, ý tưởng phân hai là hoàn toàn sai lầm, ảo tưởng.

P: Đây là hành động lạ thường. Hành động phân hai là không-hành động.

Krishnamurti: Bạn phải đơn giản. Chính là cái trí mà không-lanh lợi, mà không-ranh mãnh, mà không-đang cố gắng tìm những thay thế cho hành động phân hai, mới có thể hiểu rõ. Những cái trí của chúng ta không đơn giản như thế. Mặc dầu hầu hết chúng ta đều nói về đơn giản, đơn giản đó thuộc về một miếng vải che thân.

 Thật ra không-phân hai có nghĩa nghệ thuật của lắng nghe. Bạn nghe con chó đang sủa đó – lắng nghe nó, không có một chuyển động thoát khỏi nó. Hãy ở lại cùng ‘cái gì là’. (Ngừng) Con người ở lại cùng ‘cái gì là’ và không bao giờ chuyển động khỏi nó, không có những dấu vết.

P: Và khi những dấu vết xảy ra, thấy rằng chúng xảy ra. Một động thái của sự nhận biết xóa sạch dấu vết.

Krishnamuti: Hoàn toàn đúng. Đó là phương cách sống.

 

Đối thoại 8

CHUYỂN ĐỘNG RÚT VÀO

New Delhi, ngày 26 tháng 12 năm 1970

N

gười hỏi P: Tôi muốn hỏi anh về chuyển động chảy vào, một trạng thái trong đó có một rút vào của thấy, nghe và những năng lượng của dục vọng. Trong Yoga-sutra, có một từ ngữ ‘parivritti’, mà định nghĩa trạng thái khi suy nghĩ quay trở lại vào chính nó. Liệu có một trạng thái như sự rút vào của những giác quan đang trôi chảy phía bên ngoài và của suy nghĩ đang quay lại vào chính nó.

Krishnamurti: Giống như một chiếc găng tay được lật mặt trong ra ngoài? Bạn đang nói rằng suy nghĩ đang tự nhìn vào chính nó, hay đang tự nuốt chửng chính nó, là chuyển động chảy vào?

P: Điều gì được định nghĩa bởi từ ngữ, nội dung của từ ngữ, là một vấn đề của sự trải nghiệm.

Krishnamurti: Bạn đang hỏi, liệu có một trạng thái mà trong đó nghe, thấy và những năng lượng thuộc giác quan tự rút vào một và có một chuyển động lùi vào? Bạn có ý gì qua từ ngữ lùi vào?

 Liệu bạn đang nói rằng nghe, thấy và những năng lượng thuộc giác quan đang rút vào mà không có đang thúc đẩy phía bên ngoài?

P: Chuyển động thông thường của hai mắt, hai tai và những năng lượng thuộc giác quan là một chuyển động phía bên ngoài, được kết nối đến mục tiêu. Liệu có thể có một giải thoát của những giác quan khỏi mục tiêu và một rút vào của những giác quan?

Krishnamurti: Tôi không hiểu liệu trong đang rút vào, không đang nghe, không đang thấy và năng lượng thuộc giác quan không đang lan rộng, không có một trạng thái nơi có đang nghe âm thanh, đang thấy mọi thứ; và vẫn vậy một trạng thái hoàn toàn yên lặng, một trạng thái của được rút vào, một trạng thái nơi không có ham muốn.

P: Nó không là sự kiềm chế ham muốn.

Krishnamurti: Liệu có một trạng thái nơi có đang nghe âm thanh, hai mắt đang thấy, những mục tiêu đang tồn tại, và tuy nhiên lại không có sự ham muốn thuộc giác quan? Tôi nghĩ có một trạng thái như thế. Một trạng thái nơi có cảm xúc, tuy nhiên lại không có sự ham muốn. Không phải rằng người ta đã bị già nua, mất đi sinh lực, nhưng không có sự ham muốnham muốn là thấy, sờ chạm, cảm giác và từ cảm giác đó, mong muốn sở hữu.

P: Điều gì xảy ra cho tiến hành của nghe khi không có đặt tên?

Krishnamurti: Bạn nghe tiếng còi đó? Có sự rung động của âm thanh và sự diễn giải xảy ra khi bạn nghe tiếng còi. Lúc này liệu bạn có thể lắng nghe nó mà không có bất kỳ chuyển động của ký ức như suy nghĩ? Liệu bạn có thể chỉ nghe âm thanh? Liệu có thể không-hình ảnh, không-đặt tên, không-diễn giải? Liệu có thể chỉ có âm thanh? Đó là tất cả. Và âm thanh từ yên lặng. Bởi vì hoạt động của sự suy nghĩ đã kết thúc, có một nghe âm thanh từ trống không. Và trong cùng cách, liệu có thể có một đang thấy từ trống không? Tôi thấy bạn, tôi thấy cái chai đó; không có hình ảnh, không có sự liên tưởng hay sự chuyển động của suy nghĩ, bởi vì không có sự hình thành hình ảnh. Vậy là từ trống không thực sự, yên lặng thực sự, có một đang thấy. Đó là điều gì bạn có ý khi nói rút vào của những giác quan?

P: Tôi đang tự vấn từ những ngữ cảnh. Ở Trung hoa và Ấn độ, sự rút vào được coi là quan trọng.

Krishnamurti: Điều đó đơn giản. Bạn đang hỏi, liệu bạn nhìn vào một người phụ nữ hay một người đàn ông hay một vật đẹp đẽ mà không có ham muốn, kiếm được hay phản ứng? Điều đó dễ dàng.

P: Nó dễ dàng đối với anh. Hãy thấy sự khó khăn của chúng tôi.

Krishnamurti: Tôi thấy một người đàn bà, một chiếc xe hơi, một đứa trẻ, một vật đẹp và vân vân. Liệu nó có thể được quan sát mà không có bất kỳ chuyển động của kiếm được hay loại bỏ? Nó rất đơn giản. Cũng giống như vậy cho thấy và lắng nghe.

Tôi nghĩ chúng là một chuyển động, không phải những chuyển động tách rời. Mặc dù những dụng cụ của nhận biết và nghe là tách rời, tất cả chúng đều là một chuyển động.

P: Ham muốn đã hiện diện trước Thượng đế; thậm chí trước khi con người hiện diện. Sự thúc đẩy thuộc sinh học, sự thôi thúc được đặt nền tảng trên ham muốn. Làm thế nào anh tiếp nhận ham muốn mà có lực thúc đẩy riêng của nó và nói nó không hiện diện?

Krishnamurti: Chúng ta hãy rõ ràng. Tôi thấy một chiếc xe hơi đẹp, một chiếc xe đẹp thực sự –

P: Chúng ta hãy nói tôi đang thương yêu say đắm. Tôi bị vật vã, bị hành hạ bởi sự ham muốn đó. Liệu tôi có thể thấy con người đó mà không có sự ham muốn đang vận hành.

Krishnamurti: Bạn đang cố gắng hỏi điều gì vậy?

P: Liệu có một rút vào thực sự của sự nhận biết thuộc giác quan?

Krishnamurti: Tôi không biết liệu chúng ta có ý cùng sự việc?

P: Chiếc xe hơi và có lẽ thậm chỉ cả người phụ nữ không thể được nhìn thấy mà không đặt tên. Nhưng chúng tôi bị chất đầy những câu hỏi, chất đầy những vấn đề của đặt tên. Nó không đơn giản.

Krishnamurti: Tôi tự hỏi liệu vấn đề của đặt tên không liên quan đến hiểu biết.

P: Thưa anh, một đứa trẻ không có hiểu biếttuy nhiên việc đặt tên là một phản ứng tự nhiên. Tôi đang thâm nhập bản chất của chuyển động bên trong này.

Krishnamurti: Tôi không chắc rằng tôi hiểu rõ điều gì bạn đang cố gắng nói. Có rút vào của những ham muốn thuộc giác quan và sự thành tựu. Tại sao bạn sử dụng từ ngữ ‘phía bên trong’?

P: Có những luyện tập để khoét sâu vào bên trong. Bằng hai mắt và hai tai khép lại, anh có thể khoét sâu vào bên trong? Liệu có bất kỳ giá trị nào cho việc khoét sâu?

Krishnamurti: Vâng, dứt khoát.

 Điều gì bạn gọi khoét sâu vào bên trong là nhắm hai mắt của bạn lại, bịt hai tai của bạn lại; trong trạng thái đó có một khoét sâu hay liệu có một kết thúc của mọi chuyển động, mà xảy ra như thể bạn đang khoét sâu vào? Khi bạn thực sự bịt kín hai mắt và hai tai của bạn, không có chuyển động bên trong hay bên ngoài, như sự ham muốn đang đòi hỏi đạt được cùng tất cả những thất vọng của nó; khi điều đó xảy ra, có sự yên lặng hoàn toàn. Khoảnh khắc bạn sử dụng từ ngữ ‘khoét sâu vào bên trong’, điều đó hàm ý sự phân hai.

P: Anh nghe tiếng còi đó. Đối với anh không có âm thanh gì cả trong nó?

Krishnamurti: Không.

P: Quả là lạ lùng. Đối với anh không có âm thanh. Khi anh bịt kín hai tai của anh, liệu không có âm thanh phía bên trong, tách khỏi anh? Chúng tôi nghe một âm thanh phía bên trong, một âm lượng của nó mà ở bên trong chúng tôi. Anh không nghe nó sao? (Krishnamurti bịt hai mắt và hai tai của anh.)

Krishnamurti: Không. Nhưng người ta phải rõ ràng. Khi hai mắt được nhắm lại, người ta thường thấy những cái đốm. Nếu người ta quan sát những cái đốm đó, chúng biến mất.

P: Liệu không có một dãn nở, một co rút?

Krishnamurti: Không có gì cả. Khi tôi nhắm hai mắt của tôi lại, tuyệt đối không có chuyển động thuộc bất kỳ loại nào.

P: Điều đó có nghĩa toàn ý thức của anh là khác hẳn. Khi tôi nhắm hai mắt của tôi lại, có quá nhiều khuôn mẫu ở đó. Đối với anh, không có chuyển động của âm thanh hay khuôn mẫu.

Krishnamurti: Đó là lý do tại sao tôi muốn thâm nhập câu hỏi về hiểu biết này. Con người này đã không đọc Yoga-sutras và những quyển sách tôn giáo, và đối với anh ta chỉ có một trống không hoàn toàn.

P: Đó không phải bởi vì anh ta đã không đọc bất kỳ quyển sách tôn giáo nào.

Krishnamurti: Không có sự can thiệp của hiểu biết

P: Cùng hiện tượng như thế sẽ không xảy ra cho bất kỳ người nào mà dốt nát về văn chương tôn giáo. Nó không thể xảy ra cho một người cộng sản.

 

Krishnamurti: Chính là sự hiểu biết như khuôn mẫu mà can thiệp. Khuôn mẫu được tạo ra bởi sự suy nghĩ, sự trải nghiệm. Khi không có sự can thiệp của hiểu biết, vậy thì cái gì ở đó? Có sự yên lặng tuyệt đối – hai mắt, hai tai và ham muốn – không có chuyển động. Tại sao bạn dựng lên điều này như cái gì đó đặc biệt? Con người bị trói buộc trong liên tưởng, ý tưởng, những suy nghĩ, trong những khuôn mẫu, một con người như thế không có một cái trí trống không.

P: Điều gì anh nói có giá trị. Có nhiều lần khi điều gì anh nói có giá trị trong tôi.

Krishnamurti: Quan điểm của tôi là, những người mà nói về chuyển động phía bên trong, liệu họ nhận biết được bản chất phân hai của nó?

P: Họ chắc đã nhận biết được. Yoga-sutras nói rằng người thấy không là gì cả ngoại trừ là dụng cụ của thấy. Họ đưa ra một khẳng định tuyệt đối giống như thế.

Krishnamurti: Có thể cái người mà đã thấy, mà đã nhận biết sự thật, đã nói rằng người thấy và thấy là một. Sau đó những người theo sau tận dụng và tạo ra những lý thuyết mà không trải nghiệm trạng thái.

 Tôi không thể tách rời người quan sát khỏi vật được quan sát. Khi tôi nhắm mắt lại, không có người quan sát gì cả. Vì vậy, không có chuyển động phía bên trong như đối nghịch với chuyển động phía bên ngoài.

P: Anh thấy chính anh như một con người?

Krishnamurti: Nếu bạn có ý rằng thân thể – vâng. Như một cái tôi, như một người đang nói trên cái bục, đang đi bộ, đang leo lên ngọn đồi – không.

P: Ý thức của tồn tại, ý thức của ‘tôi hiện diện’; liệu nó không vận hành trong anh?

 

Krishnamurti: Một trong những sự việc mà tôi không bao giờ có là ý thức của ‘cái tôi’. Không bao giờ.

P: ‘Tôi hiện diện’ là hạt nhân trong tất cả chúng tôi. Nó là chính kết cấu của sự tồn tại của chúng tôi.

Krishnamurti: Những diễn tả bên ngoài của Krishnamurti có vẻ là một con người.

 Nhưng tại cốt lõi không có con người. Tôi thực sự không biết nó có nghĩa gì? Bạn đang hỏi, trong anh liệu có một trung tâm, ‘tôi hiện diện’, ý thức của ‘tôi hiện diện’? Không. Cảm thấy của ‘tôi hiện diện’ là không đúng thực.

P: Nó không rõ ràng như thế đâu. Nhưng ý thức của sự tồn tại, hạt nhân của cái tôi bên trong chúng tôi, không thâm nhập được. Có cái gì đó mà kết hợp nó lại cùng nhau và chừng nào nó còn tồn tại, điều gì anh đang nói – không có trung tâm – không có giá trị cho chúng tôi.

Krishnamurti: Không có chuyển động của quá khứ như ‘cái tôi’ trong trung tâm, trong con người. Người ta phải thâm nhập vào điều này rất cẩn thận. Như ngày hôm trước chúng ta đã nói, bước đầu tiên là bước cuối cùng. Sự nhận biết đầu tiên là sự nhận biết cuối cùngkết thúc của sự nhận biết đầu tiên là sự nhận biết mới mẻ. Vì vậy, có một khoảng ngừng hoàn toàn giữa sự nhận biết đầu tiên và sự nhận biết thứ hai. Trong khoảng ngừng đó, không có sự chuyển động của suy nghĩ. Sẽ có sự chuyển động của suy nghĩ khi ký ức của sự nhận biết đầu tiên vẫn còn lưu lại, không phải khi nó chấm dứt. Liệu cái trí không thể tự làm trống không nó khỏi mọi nhận biết? Liệu nó không thể chết đi mọi diễn tả, và khi nó có thể, gốc rễ của ‘tôi hiện diện’ ở đâu? Khi cái trí là cái đó, liệu có bất kỳ chuyển động nào của khuôn mẫu đang xảy ra? Khi hai mắt, hai tai và ham muốn không-hiện diện như chuyển động hướng về hay rời khỏi cái gì đó, vậy thì tại sao cái trí phải có bất kỳ khuôn mẫu nào? Đang thấy là người thấy, trong đó không có sự phân hai, nhưng những người mà thực hiện câu phát biểu đó về một chân lý không trải nghiệm nó, và vì vậy nó vẫn còn là một lý thuyết.

P: Sutras giải thích có nhiều loại giải thoát. Sự giải thoát bằng sinh sản. Vài người được sinh ra theo cách đó. Đó là dạng cao nhất của giải thoát. Tiếp theosự giải thoát bằng thuốc men mà là một phần của ma thuật; tiếp theo sự giải thoát qua những tư thế yoga, tiếp theo sự giải thoát qua kiểm soát hơi thở, tiếp theo sự giải thoát bằng cách hiểu rõ.

 Tôi đã luôn luôn cảm thấy rằng anh đã không bao giờ có thể giải thích cho chúng tôi làm thế nào sự giải thoát đã xảy ra cho anh.

 Liệu cái trí của anh đã giống như những cái trí của chúng tôi và nó đã trải qua sự thay đổi? Nếu như thế, vậy thì có một khả năng của thấy cho chính mình và thay đổi cái tôi. Nhưng thậm chí điều đó không liên quan. Tôi hiểu rằng thấy của một người khác không thể giúp đỡ tôi thấy. Điều gì tôi thấy là của riêng tôi. Người ta phải bỏ nó lại ở đó. Người ta không thể dò dẫm thêm nữa.

Krishnamurti: Như bạn đã nói, sự giải thoát được phân chia thành những người được sinh ra đã giải thoát và những người được giải thoát qua thuốc men, qua yoga, qua kiểm soát hơi thởhiểu rõ. Đây chỉ là những giải thích về một sự kiện rất đơn giản.

P: Cái trí của anh không giống những cái trí của chúng tôi, đó là một sự kiện đơn giản.

Krishnamurti: Có tất cả những phân loại này – thuốc men, hít thở và nỗ lực vô cùng được bao hàm trong hiểu rõ – nhưng tôi không nghĩ nó làm việc theo cách đó.

 

P: Tôi không quan tâm điều gì những quyển sách giải thích. Tôi rất quan tâm khi cái trí của tôi huyên thuyên. Trong khoảnh khắc của nhận biết, tôi thấy rằng một tan biến nào đó đã xảy ra trong tôi. Nhưng tôi không được tự do khỏi ham muốn của kết thúc sự huyên thuyên này.

Krishnamurti: Bạn thực sự muốn kết thúc nó?

P: Vâng.

Krishnamurti: Tại sao nó không kết thúc. Bạn thấy đó, rất lý thú. Không có kết thúc đối với sự huyên thuyên.

P: Đó là điều gì cái trí của tôi khước từ để thấy; rằng không có hành động để kết thúc nó.

Krishnamurti: Tại sao? Bạn muốn thâm nhập nó?

P: Vâng.

Krishnamurti: Trước hết, tại sao bạn phản kháng nếu cái trí của bạn huyên thuyên? Nếu bạn muốn kết thúc sự huyên thuyên, vậy là vấn đề bắt đầu. Sự phân hai là sự ham muốn phải kết thúc ‘cái gì là’. Tại sao bạn phản kháng nó? Những tiếng ồn đang xảy ra, những chiếc xe buýt đang chạy qua, con quạ đang kêu. Hãy thả cho những huyên thuyên tiếp tục. Tôi sẽ không phản kháng nó. Tôi sẽ không hứng thú nó. Nó hiện diện ở đó. Nó không có nghĩa gì cả.

P: Đây là mấu chốt của anh. Nếu anh hỏi tôi, điều gì là mấu chốt vĩ đại nhất trong lời giảng của anh, đó là điều này. Nói với chính mình, nói với cái trí huyên thuyên, hãy thả nó ở đó. Không người thầy nào đã nói điều này trước kia.

Krishnamurti: Mà có nghĩa rằng ảnh hưởng thuộc ngoại vi không có ý nghĩa gì tại trung tâm.

P: Tất cả những người thầy đã nói về kết thúc sự huyên thuyên, kết thúc ảnh hưởng thuộc ngoại vi.

Krishnamurti: Liệu bạn không thấy khi huyên thuyên không đặt thành vấn đề, nó chấm dứt, hay sao? Thật lạ lùng làm sao khi nó vận hành. Tôi nghĩ đây là mấu chốt trọng điểm mà những người chuyên nghiệp đã bỏ lỡ. Từ quan điểm của vị đạo sư, liệu bạn sẽ nói rằng anh ấy chỉ quan tâm đến sự thay đổi ở ngoại vi?

P: Không. Anh ấy quan tâm đến sự thay đổi trung tâm. Với anh không có sự khác biệt giữa trung tâm và ngoại vi. Bên trong cái tạm gọi là trung tâmbước đầu tiên và bước cuối cùng. Những đạo sư sẽ nói, hãy loại bỏ sự huyên thuyên ở ngoại vi.

Krishnamurti: Khi mặt trời đang chiếu sáng, bạn không thể làm bất kỳ điều gì về nó. Khi nó không hiện diện ở đó, chúng ta sẽ làm gì? (Ngừng) Chúng ta không thấy. (Ngừng) Con người sẽ nghĩ gì về câu phát biểu ‘hãy để cho nó huyên thuyên’? Sự kiện hiện diện ở đó là không-phân hai, và luôn luôn người quan sát là vật được quan sát. Sự ồn ào của ngoại vi là sự ồn ào của người quan sát. Khi người quan sát không hiện diện, sự ồn ào không còn. Khi có sự kháng cự, người quan sát hiện diện. Liệu người ta có thể thực sự thấy rằng, người thấy là đang thấy và không chấp nhận câu phát biểu đó như một chân lý, như một diễn giải? Nhưng chúng ta thấy rằng những người chuyên nghiệp đã biến nó thành một khẩu hiệu.

 Liệu có sự giải thoát cho con ngườisử dụng thuốc men, và luyện tập hít thở, trong nhiều năm? Nó có lẽ dẫn đến một cái trí biến dạng. Và cái người phân tích và muốn hiểu rõ, bạn nghĩ anh ấy sẽ tìm ra sự giải thoát? Thế là, nếu bạn phủ nhận tất cả việc đó, nó hiện diện ở đó trên một cái đĩa bạc. Nó được trao tặng. Không bao giờ lặp lại bất kỳ điều gì. Không bao giờ nói bất kỳ điều gì mà bạn không biết, mà bạn đã không sống. Việc đó mang lại một cô đơn lạ thường mà là tinh khiết, rõ ràng, trong suốt như pha lê.

 

Đối thoại 9

THỜI GIAN VÀ SỰ THOÁI HOÁ

New Delhi, ngày 27 tháng 12 năm 1970

 

N

gười hỏi P: Cốt lõi trong những lời giảng của anh có vẻ trong sự hiểu rõ về thời gian. Cái trí con người, cấu trúc của những tế bào não đã đến trạng thái hiện nay của chúng bằng một ý thức cố hữu của thời gian – như ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai. Chính là dọc theo cái trục này mà cái trí tự duy trì chính nó. Anh có vẻ nổ tung qui trình này, phá vỡ và thế là cho cái trí một trạng thái mới mẻ của thời gian. Làm thế nào cái chu kỳ thời gian này sẽ kết thúc? (Ngừng)

 Khái niệm của anh về thời gian là gì? Phật nói nhiều về chu kỳ vô tận của sanh và tử, mà là hôm qua, hôm nay và ngày mai, và sự giải thoát khỏi chu kỳ này.

Krishnamurti: Thời gian là gì đối với bạn? Liệu nó là chuyển động của quá khứ sang hiện tại đến tương lai; không chỉ trong không gianthời gian, nhưng cũng còn phía bên trong từ ngày hôm qua, sang hôm nay và ngày mai? Hay thời gian là cái có dính dáng trong việc bao phủ khoảng cách tâm lý hay vật chất; thời gian để thành tựu, để đạt được, để đến? Hay thời gian là một kết thúc như chết? Hay thời gian là ký ức của một việc xảy ra khó chịu hay dễ chịu; thời gian để học hỏi một kỹ thuật hay thời gian để quên lãng? Tất cả điều này bao hàm thời gian. Thời gian không là một khái niệm.

P: Chúng tôi biết thời gian như một ý nghĩa của kéo dài, như thời gian của đồng hồ.

Krishnamurti: Thời gian như sự kéo dài, một qui trình, một tiếp tục và một kết thúc. Không chỉ có thời gian thuộc vật chất bởi đồng hồ mà con cả thời gian bên trong thuộc tâm lý. Thời gian bởi đồng hồ rất rõ ràng – đi đến mặt trăng cần đến thời gian bởi đồng hồ. Liệu có bất kỳ thời gian nào khác nữa không?

P: Chúng ta thấy thời gian bởi đồng hồ, mặt trời lặn và mọc. Thời gian tâm lý không khác biệt với thời gian đó. Nếu thời gian vật chấtgiá trị, câu nói của tôi rằng tôi sẽ tồn tại ngày mai cũng có giá trị, không chỉ thuộc vật chất nhưng còn cả thuộc tâm lý. Tất cả trở thành đều liên quan đến ngày mai.

Krishnamurti: Tất cả trở thành không chỉ là thời gian đồng hồ nhưng còn cả sự ham muốn của trở thành.

P: Sự ham muốn của trở thành chỉ có thể xảy ra bởi vì có ngày mai.

Krishnamurti: Điều đó có nghĩa, bạn nghĩ rằng nếu khôngthời gian vật chất, sẽ không có thời gian tâm lý.

P: Tôi nghi ngờ sự phân biệt anh rút ra giữa hai thời gian này – thời gian vật chấtthời gian tâm lý.

Krishnamurti: Tôi đi đến Madras; việc đó cần thời gian như ngày hôm nay và ngày mai. Chúng ta cũng có thể thấy rằng bởi vì có thời gian – như ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai – người ta sẽ khác hẳn, người ta sẽ thay đổi nhân cách của người ta, người ta sẽ trở thành tạm gọi là hoàn hảo.

P: Rất dễ dàng khi thấy rằng thời gian không mang lại sự hoàn hảo. Nhưng bản chất của chuyển động của sự suy nghĩ, sự nảy mầm, là một chiếu rọi trong thời gian. Tôi nghi ngờ sự phân biệt mà anh thực hiện.

Krishnamurti: Tôi biết rằng thời gian vật chất tồn tại. Thậm chí nếu tôi không suy nghĩ về ngày mai, sẽ có ngày mai. Tại sao tôi chắc chắn rằng sẽ có một ngày mai tách khỏi thời gian tuần tự?

 Điều đó khá rõ ràng. Chiều nay tôi sẽ dạo bộ và giữa lúc này và chuyến dạo bộ có một khoảng trống của mười tiếng đồng hồ. Cũng cùng cách, tôi là cái gì đó và tôi muốn là cái gì khác. Trong đó cũng có thời gian được bao hàm. Tôi đang tự hỏi mình liệu có thời gian như thế. Nếu tôi không nghĩ về chuyến dạo bộ, hay về trở thành cái gì đó của tôi, liệu có thời gian?

P: Những đo lường nào đó phải được thực hiện

Krishnamurti: Tôi chỉ cần sự đo lường thuộc vật chất, không cần sự đo lường thuộc tâm lý. Tôi không phải nói rằng tôi sẽ trở thành cái gì đó; tôi sẽ thành tựu; tôi sẽ đạt được lý tưởng của tôi. Tất cả điều đó bao hàm thời gian. Nếu nó không đi vào ý thức của tôi, thời gian ở đâu? Chỉ khi nào tôi muốn thay đổi cái này thành cái kia, có thời gian. Tôi không có ham muốn như thế.

P: Chừng nào còn có sự ham muốn cho hoàn thiện, một thay đổi cho tốt lành hơn, mà đối với tôi là một sự kiện, còn có giá trị đối với ý nghĩa của thời gian.

Krishnamurti: Đó là, cách đây hai năm, tôi đã không tập thể dục đúng cách. Trong hai năm, tôi đã học hỏi, đã hoàn thiện. Tôi ứng dụng cùng loại luận cứ như vậy vào một qui trình bên trong, mà là, tôi nói, tôi là cái này, và tôi sẽ hoàn thiện trong thời gian hai năm.

 Tôi chỉ biết thời gian vật chất và tôi không biết bất kỳ thời gian nào khác. Và tại sao bạn có bất kỳ thời gian nào khác ngoại trừ thời gian vật chất; bất kỳ thời gian nào khác ngoại trừ thời gian tuần tự? Tại sao?

 Bạn thấy, điều gì thực sự được bao hàm là sự chuyển động – chuyển động của hoàn thiện; sự sắp xếp vào chung bao hàm thời gian, cả thời gian vật chất lẫn thời gian tâm lý.

 Liệu có bất kỳ chuyển động nào ngoại trừ chuyển động của sự suy nghĩ?

 Và sự suy nghĩthời gian – sự suy nghĩ mà nói tôi đã là và tôi sẽ trở thành. Nếu s ựsuy nghĩ vận hành chỉ trong sự chuyển động của vật chất, liệu có bất kỳ thời gian nào khác? Nếu không có sự tồn tại thuộc tâm lý, sự kết thúc thuộc tâm lý, liệu có thời gian? Chúng ta luôn luôn kết hợp thời gian vật chất với thời gian tâm lý, và vì vậy nói rằng: ‘Tôi sẽ là’. Động từ ‘là’ là thời gian.

 Lúc này điều gì xảy ra khi bạn không muốn làm bất kỳ việc gì cả, một cách này hay cách khác?

P: Điều gì sẽ xảy ra nếu con người không có chuyển động của trở thành này như thời gian?

Krishnamurti: Anh ấy sẽ bị hủy diệt. Vì vậy chuyển động của trở thành là một chuyển động của bảo vệ.

P: Vậy thì chuyển động của bảo vệ như thời giancần thiết.

Krishnamurti: Đồng ý, sự bảo vệ chống lại lửa. Nhưng liệu có bất kỳ hình thức nào khác của sự bảo vệ?

P: Ngay khi anh chấp nhận sự bảo vệ chống lại lửa, sự bảo vệ khác cũng cùng bản chất.

Krishnamurti: Nếu thời gian tâm lý không-tồn tại, liệu có cần thiết cho sự bảo vệ?

P: Điều gì anh nói là đúng thực. Nếu thời gian tâm lý không-tồn tại không có gì để bảo vệ. Nhưng chúng ta thấy rằng có thời gian tâm lý.

Krishnamurti: Bạn chấp nhận rằng có thời gian tâm lý. Bạn quen thuộc rằng có thời gian tâm lý. Nhưng liệu có nó? Tôi chỉ cần sự bảo vệ thuộc vật chất – lương thực, quần áo và chỗ ở. Sự bảo vệ vật chấttuyệt đối cần thiết. Và không còn gì nữa. Sự bảo vệ vật chất bao hàm thời gian. Nhưng tại sao phải có sự bảo vệ về cái gì đó mà có lẽ không-tồn tại gì cả? Làm thế nào bạn có thể bảo vệ tôi một cách tâm lý? Và đó là điều gì chúng ta đang làm. Chúng ta đang làm cái gì đó để bảo vệ cái mà không-tồn tại và thế là chúng ta sáng chế thời gian.

 Vì vậy, thuộc tâm lý không có ngày mai nhưng có ngày mai bởi vì tôi cần lương thực.

 

P: Nếu người ta thấy điều đó, trong thấy điều đó liệu có sự kết thúc của thời gian?

Krishnamurti: Đây là nó. (Ngừng) Chúng ta sẽ thâm nhập thêm nữa?

Ý thức được tạo thành bởi nội dung. Nội dung tạo thành ý thức. Chúng không tách rời. Nội dung được tạo thành bởi thời gian. Ý thứcthời gianchúng ta đang cố gắng bảo vệ thời gian đó.

 Và chúng ta đang sử dụng thời gian để bảo vệ thời gian như một tình trạng bị quy định. Chúng ta đang bảo vệ cái mà không-tồn tại.

 Nếu chúng ta quan sát nội dung của ý thức, chúng ta thấy những kỷ niệm, những sợ hãi, những lo âu, những ‘tôi tin tưởng’, những ‘tôi không tin tưởng’, mà tất cả đều là sản phẩm của thời gian. Và sự suy nghĩ nói đây là cái duy nhất mà tôi có, tôi phải bảo vệ nó, che chởchống lại mọi hiểm nguy có thể xảy ra. Sự suy nghĩ đang cố gắng bảo vệ cái gì? Liệu nó là những từ ngữ? Những kỷ niệm chết rồi? Liệu nó là một công thức hay một chuyển động; công thức mà khuyến khích chuyển động; mà làm cho nó chuyển động từ đây đến đó? Liệu có một chuyển động như thế ngoại trừ như một sáng chế của suy nghĩ?

 Chuyển động của sự suy nghĩ mà được sinh ra từ ký ức, mặc dù nó suy nghĩ về sự tự do nhưng nó vẫn còn thuộc quá khứ. Vì vậy, nó không thể tạo ra sự thay đổi cơ bản. Thế là, nó luôn luôn đang tự lừa dối chính nó. Khi bạn thấy điều đó, liệu có thời gian mà cần tự-bảo vệ không?

 Nếu người ta thực sự hiểu rõ điều này, vậy thì toàn hoạt động của người ta sẽ hoàn toàn khác hẳn. Vậy thì, tôi sẽ chỉ bảo vệ phần thân thể và không phải phần tâm lý.

P: Điều đó sẽ không có nghĩa một trạng thái của trống không bên trong; một trống không vô nghĩa phía bên trong, hay sao?

Krishnamurti: Nếu tôi chỉ bảo vệ phần thân thể và không còn gì nữa, chắc chắn nó giống một cái ly mà đang được bảo vệ. Vì vậy, người ta sợ hãi bị trống không, sợ hãi sự trống không vô nghĩa. Nhưng nếu người ta thấy tổng thể sự việc, có một trống không mà quan trọng cực kỳ.

S: Liệu thời gian có một vị trí, mà có một ảnh hưởng? Làm thế nào người ta biết được kết cấu của thời gian?

Krishnamurti: Chúng ta sống giữa hối tiếchy vọng. Nếu không có chuyển động, chuyển động lùi lại hay tiến tới thuộc tâm lý, lúc đó thời gian là gì?

 Liệu nó là chiều cao, mà lại nữa có nghĩa sự đo lường? Nếu không có đo lường, không chuyển động, không chuyển động lùi lại hay tiến tới, không chiều cao và chiều sâu, thực sự không chuyển động gì cả, liệu có thời gian? Và cũng vậy, tại sao chúng ta trao sự quan trọng lạ thường như thế cho thời gian?

P: Bởi vì thời gian là tuổi tác, suy sụp, thoái hoá.

Krishnamurti: Hãy theo nó trọn vẹn. Thời giansuy sụp. Tôi thấy thân thể này, trẻ trung và mạnh khỏe, trở nên già nua, chết, toàn bộ hệ thống máy móc đang phân rã. Đó là tất cả mà tôi biết. Không còn gì khác nữa.

P: Cái trí cũng thoái hoá.

Krishnamurti: Tại sao không? Nó cũng là bộ phận của qui trình thoái hóa. Tôi hành hạ cái trí của tôi để đạt được, để thành công, mà tất cả là những nhân tố của sự thoái hóa không tự nhiên. Sau đó, tôi còn lại cái gì? Thân thể trở nên già nua. Tôi có những hối tiếc – tôi không thể đi thẳng lên ngọn đồi được nữa. Toàn đấu tranh thuộc tâm lý kết thúc và tôi bị sợ hãi. Thế là tôi nói ‘Tôi phải có một cuộc đời kế tiếp.’

P: Liệu tuổi tác không làm hao mòn khả năng để thấy, để nhận biết?

Krishnamurti: Không, nếu bạn đã không làm hư hỏng nó bởi những tổn thương, những kỷ niệm, những cãi cọ.

P: Nếu ngược lại?

Krishnamurti: Vậy thì bạn sẽ trả lại nó.

P: Vậy thì không có sự cứu rỗi.

Krishnamurti: Tại bất kỳ vị trí nào bước đầu tiên là bước cuối cùng.

P: Vậy thì thời gian có thể được xóa sạch tại bất kỳ vị trí nào.

Krishnamurti: Bất kỳ người nào mà nói hãy để cho tôi nhận biết được nguyên chuyển động này và nhận biết một cách tổng thể trong một giây, cái trí trở nên trẻ trung lại trong giây đó. Sau đó cái trí chuyển điều đó tiếp tục và lại thoái hóa.

P: Chuyển tiếp tụcnghiệp lực, nghiệp lực cũng là thời gian.

Krishnamurti: Có hành động quá khứ, hành động hiện tại và hành động tương lai. Nguyên nhân không bao giờ là một việc đứng yên. Có quá nhiều việc đang xảy ra. Hậu quả trở thành nguyên nhân. Vì vậy, có một chuyển động liên tục luôn luôn đang trải qua sự thay đổi.

P: Nghiệp lựcgiá trị trong chính nó.

Krishnamurti: Tôi gieo hạt giống, nó sẽ tăng trưởng. Tôi gieo giống trong người phụ nữ và đứa trẻ lớn lên.

P: Thế là thời gian tâm lý đã tồn tại như nghiệp lực. Nó có sự thật.

Krishnamurti: Không. Liệu nó là sự thật? Khi bạn nhìn, nó kết thúc. Chúng ta hãy theo dõi vấn đề của nguyên nhânhậu quả này. Tôi trồng một hạt giống trong đất và nó tăng trưởng. Nếu tôi trồng một hạt sồi, nó không thể tăng trưởng để là bất kỳ thứ gì ngoại trừ cây sồi.

P: Tôi làm một hành động nào đó. Hạt giống đã được trồng rồi. Việc đó sẽ có hậu quả của nó.

Krishnamurti: Ở đó tôi có thể thay đổi hậu quả. Tôi trồng hạt giống. Hạt giống là gì, bụi cây sẽ là như vậy, hay cái cây sẽ là như vậy. Tôi không thể thay đổi điều đó.

S: Liệu hậu quả có thể được thay đổi trong hành động thuộc tâm lý?

Krishnamurti: Được, dĩ nhiên. Bạn đã đánh tôi vì bất kỳ lý do gì – hoặc đánh đập thân thể hay đã sử dụng những từ ngữ. Lúc này, phản ứng từ tôi là gì? Nếu tôi đánh lại bạn, chuyển động tiếp tục. Nhưng nếu tôi không phản ứng khi bạn đánh tôi, vậy thì điều gì xảy ra? Bởi vì có đang quan sát, đang nhìn ngắm, tôi vượt khỏi nó.

P: Tôi hiểu rõ tại mức độ đó. Tôi thiết lập một chuyển động đang di chuyển. Tôi quan sát. Qui trình đã kết thúc. Hành động đó gây ảnh hưởng một hành động khác. Nó sẽ gây ảnh hưởng những hành động khác.

Krishnamurti: Nó sẽ gây ảnh hưởng gia đình bạn, thế giới quanh bạn, và những người khác.

P: Trong một ý nghĩa nhân duyên, hành động và phản ứng nảy sinh từ hành động đó độc lập khỏi hành động của tôi.

Krishnamurti: Con sóng tiếp tục.

P: Nếu đó là như thế, đó là nghiệp lực. Một năng lượng nào đó đã được giải phóng. Nó sẽ tự tiến hành nếu nó không gặp gỡ những cái trí khác mà kiềm chế nó.

Krishnamurti: Con sóng chỉ có thể kết thúc khi cả hai chúng ta thấy nó tại cùng mức độ tại cùng thời điểm, bằng cùng sự mãnh liệt. Điều này có nghĩa tình yêu. Ngược lại, bạn không thể kết thúc nó.

 

Đối thoại 10

CHẾT VÀ SỐNG

New Delhi, ngày 28 tháng 12 năm 1970

 

N

gười hỏi P: Phải có một cách học hành về chết như thế nào. Biết chết như thế nào có sự quan trọng lạ thường đối với chúng tôi.

Krishnamurti: Những người truyền thống và những người chuyên nghiệp – và qua từ ngữ những người chuyên nghiệp tôi có ý những vị đạo sư, những Sankaracharya, những Adi Sankaracharya, những yogi – họ trả lời nghi vấn này như thế nào?

P: Truyền thống phân chia sống thành những chặng đường khác nhau. Có Brahmacharya, một chặng đường của độc thân, khi như một học sinh, cậu bé học hành từ một đạo sư. Chặng đường thứ hai là chặng đường của Grihastha, nơi người đàn ông lập gia đình, có con cái, tìm kiếm sự tích lũy của cảivân vân. Anh ấy cũng giúp dỡ những người khất sĩ và trẻ em và vì vậy giúp đỡ xã hội. Chặng đường thứ ba, Vanaprastha, con người ra khỏi sự theo đuổi những việc thế gianđối diện chặng đường của sự chuẩn bị cho chặng đường cuối cùng mà là Sannyasa, mà trong đó có một từ bỏ sự nhận dạng của tên tuổi gia đình – khoác vào chiếc áo cà sa tượng trưng.

 Cũng có một niềm tin rằng tại khoảnh khắc của chết, quá khứ của tất cả con người đều gom tụ lại. Nếu nghiệp lực của anh ấy như những hành động trong sống này đã là tốt lành, vậy thì cái mà là sự suy nghĩ cuối cùng vẫn ở lại cùng anh ấy vào thời gian của chết, tiếp tục. Cái đó được chuyển sang sống kế tiếp. Họ cũng nói về sự cần thiết cốt lõi phải giữ cho cái trí được yên lặng tại thời điểm chết, cho sự kết thúc của nghiệp lực, cho cái trí hoàn toàn tỉnh táo ngay tại khoảnh khắc của chết.

Krishnamurti: Liệu một con người truyền thống trải qua tất cả điều này hay nó chỉ là những từ ngữ?

P: Thông thường, thưa anh, những người Ấn giáo truyền thống có kinh Gita được đọc tại thời điểm chết để cho cái trí của anh ấy ngay tức khắc tự cắt đứt tất cả sự thân mật gia đình, sợ hãi, của cải, vân vân. Điều này không trả lời được câu hỏi của tôi. Bằng cách nào cá thể học hành về chết như thế nào?

Krishnamurti: Hãy nhìn một chiếc lá mùa xuân – nó tinh tế như thế nào và tuy nhiên nó có sức mạnh lạ thường để chịu đựng được cơn gió; vào mùa hè nó lớn lên và vào mùa đông nó chuyển thành màu vàng và rồi nó chết. Đó là một tromg những việc đẹp đẽ nhất khi nhìn thấy. Toàn sự việc là chuyển động của vẻ đẹp, của sự mỏng manh. Chiếc lá mà rất rất mỏng manh, trở nên đầy đặn, có hình thể, gặp gỡ mùa hè và sau đó khi mùa đông đến nó chuyển thành màu vàng. Không bao giờ có bất kỳ ý thức nào của xấu xí, không bao giờ có một tàn tạ giữa mùa hè. Nó là một chuyển động liên tục từ vẻ đẹp sang vẻ đẹp. Có sự trọn vẹn trong chiếc lá mùa xuân cũng như trong chiếc lá đang chết. Tôi không biết liệu bạn thấy điều đó?

 Tại sao con người không thể sống và chết trong cách đó? Cái sự việc đang hủy hoại anh ấy từ lúc khởi đầu cho đến khi kết thúc là gì? Hãy nhìn một cậu trai mười tuổi hay mười hai hay mười ba tuổi – nụ cười của cậu ấy trọn vẹn làm sao. Đến tuổi bốn mươi cậu ấy trở nên khó khăn và cứng ngắt, toàn dáng điệu và khuôn mặt thay đổi. Cậu ấy bị trói buộc trong một khuôn mẫu.

 Làm thế nào người ta học hành về sống và chết, không phải chỉ học hành về chết. Làm thế nào người ta học hành để sống một sống mà trong đó chết là một bộ phận; mà trong đó sự kết thúc, chết, là một phần bẩm sinh của sống?

P:: Làm thế nào chết là một phần bẩm sinh của sống? Chết là cái gì đó trong tương lai, trong thời gian.

Krishnamurti: Chính xác đó là nó. Chúng ta đã đưa chết ra khỏi những bức tường, ra khỏi chuyển động của sống. Nó là cái gì đó phải lẩn tránh, phải tẩu thoát, không suy nghĩ về nó.

 Nghi vấn là sống là gì và chết là gì. Hai cái này phải hội tụ cùng nhau, không tách rời. Tại sao chúng ta đã tách rời hai cái này?

P: Bởi vì chết là một trải nghiệm hoàn toàn khác hẳn sống. Người ta không biết chết.

Krishnamurti: Thế sao? Câu hỏi của tôi là tại sao chúng ta đã tách rời hai cái này; tại sao có một khoảng cách rộng lớn này giữa hai cái? Lý do tại sao những con người phân chia hai cái này là gì?

P: Bởi vì trong chết, cái thể hiện trở thành không-thể hiện. Bởi vì cả trong sinh ra lẫn trong chết đi có một bí mật cốt lõi; một xuất hiện và một biến mất.

Krishnamurti: Đó là lý do tại sao chúng ta tách rời hai cái – sự xuất hiện của một em bé và sự biến mất của một ông già? Đó có phải là lý do tại sao con người đã tách rời sống khỏi chết? Các cơ quan thuộc sinh học kết thúc – sanh ra, trưởng thành và chết – người trẻ xuất hiện và người già biến mất. Đó là lý do? Bạn đang nói lý do cho sự phân chia là bởi vì có một khởi đầu và một kết thúc; có sanh ra, niên thiếu, trưởng thành và chết đi. Đó là lý do cho sự sợ hãi về chết. Chắc chắn có một khởi đầu và một kết thúc. Tôi được sinh ra, tôi sẽ chết đi vào ngày mai – có một khởi đầu và một kết thúc. Tại sao tôi không chấp nhận việc đó?

P: Trong chết được bao hàm sự kết thúc của ‘cái tôi’ – của tất cả mọi điều tôi đã trải nghiệm. Sự kết thúc cuối cùng của ‘cái tôi’ xảy ra.

Krishnamurti: Đó là lý do cho sự phân chia bên trong? Dường như đó không là lý do rõ ràng tại sao con người đã phân chia sống khỏi chết.

P: Có phải bởi vì sợ hãi?

Krishnamurti: Liệu do bởi sợ hãi mà khiến tôi phân chia sống và chết? Liệu tôi biết sống là gì và chết là gì?

P: Vâng.

Krishnamurti: Liệu tôi biết hân hoan, vui thú, đó là sống và tôi suy nghĩ chết như sự kết thúc của điều đó? Liệu đó là lý do tại sao chúng ta phân chia một chuyển động được gọi là sống và một chuyển động được gọi là chết? Chuyển động chúng ta gọi là sống, liệu nó là sống? Hay nó chỉ là một chuỗi của những đau khổ, những vui thú, những thất vọng? Đó là điều gì chúng ta gọi là sống?

P: Tại sao anh trao cho nó một ý nghĩa đặc biệt như thế?

Krishnamurti: Liệu có bất kỳ hình thức nào khác của sống? Đây là số mạng của mỗi con người. Con người sợ hãi rằng cái mà anh ấy đã đồng hóa sẽ kết thúc. Vì vậy anh ấy muốn một tiếp tục của cái được gọi là sống này, không bao giờ kết thúc. Anh ấy muốn một tiếp tục của những phiền muộn của anh ấy, của những vui thú, những đau khổ, những hoang mang, những xung đột của anh ấy. Anh ấy muốn cùng sự việc như thế phải tiếp tục, không bao giờ có một kết thúc. Và sự kết thúc của tất cả điều đó, anh ấy gọi là chết. Vì vậy, lúc này cái trí đang làm gì trong điều này? Cái trí bị rối loạn; nó trong xung đột, trong thất vọng. Nó bị trói buộc trong vui thú, trong đau khổ. Cái trí gọi điều đó là sống và cái trí không muốn kết thúc bởi vì nó không biết việc gì xảy ra nếu nó kết thúc. Vì vậysợ hãi chết.

 Tôi đang tự hỏi mình, đây là sống hay sao? Sống phải có một ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn hơn điều này.

P: Tại sao? Tại sao nó phải có một ý nghĩa khác hẳn?

Krishnamurti: Sống là thành tựu, thất vọng, và tất cả điều đó đang xảy ra. Cái trí của tôi đã quen thuộc điều đó và không bao giờ thâm nhập liệu đó là sống? Cái trí của tôi đã không bao giờ tự hỏi nó tại sao tôi gọi cái này là sống? Nó là một thói quen?

P: Tôi thực sự không hiểu rõ câu hỏi của anh.

Krishanmurti: Rốt cuộc tôi phải đặt ra nghi vấn.

P: Tại sao tôi phải đặt ra?

Krishnamurti: Sống của tôi, từ lúc tôi được sinh ra cho đến khi tôi chết đi là một đấu tranh không ngừng nghỉ.

P: Sống là hành động, thấy, hiện diện: tổng thể của điều đó hiện diện ở đó.

Krishnamuti: Tôi thấy vẻ đẹp, bầu trời, một em bé dễ thương. Tôi cũng thấy sự xung đột với người con của tôi, với những người hàng xóm của tôi; sống là một chuyển động trong xung đột và vui thú.

P: Tại sao tôi phải thắc mắc điều đó? Cái trí thắc mắc chỉ khi nào có phiền muộn, khi có nhiều đau khổ.

Krishnamurti: Tại sao không thắc mắc khi bạn có vui thú? Khi không có vui thú có đau khổ.

P: Thưa anh, sống không là một chuỗi của những khủng hoảng. Những khủng hoảng của đau khổ có ít lắm. Chúng là những dịp hiếm hoi.

Krishnamurti: Nhưng tôi thấy việc này đang xảy ra trong sống. Tôi thấy nó đang xảy ra và thế là thắc mắc về sự phân chia này của sống và chết.

P: Anh thắc mắc nhưng những người khác lại không. Chúng tôi thấy có một phân chia; nó là một sự kiện đối với chúng tôi.

Krishnamurti: Tại mức độ nào, tại chiều sâu nào, bằng sự quan trọng nào bạn đang thực hiện câu nói này? Dĩ nhiên, nó là một sự kiện. Tôi được sinh ra và tôi sẽ chết đi. Vậy thì không có gì thêm nữa phải được nói.

P: Điều đó không đầy đủ. Chính sự kiệnchúng tôi đã hỏi học hành về chết như thế nào…

Krishnamurti: Tôi nói, cũng học hành sống như thế nào.

P: Và tôi đã lắng nghe. Tôi đã không tự đặt ra nghi vấn đó cho chính tôi.

Krishnamurti: Hãy học hành sống như thế nào. Vậy thì điều gì xảy ra? Nếu tôi học hành sống như thế nào, tôi cũng học hành chết như thế nào. Tôi muốn học hành về phiền muộn, vui thú, đau khổ, vẻ đẹp. Tôi học hành. Bởi vì tôi đang học hành về sống, tôi đang học hành về chết. Học hành là một hành động của tinh lọc, không phải sự thâu lượm hiểu biết. Học hành là tẩy sạch. Tôi không thể học hành nếu cái trí của tôi đầy nghẹt. Cái trí phải tự tẩy sạch chính nó để học hành. Vì vậy khi cái trí muốn học hành, nó phải tự-làm trống không chính nó khỏi mọi thứ mà nó đã biết, lúc đó nó có thể học hành.

 Vì vậy có sống mà tất cả chúng ta đều biết. Đầu tiên, phải có một học hành về sống hàng ngày này. Lúc này liệu cái trí có thể học hành, không tích lũy? Nếu không hiểu rõ điều gì được hàm ý trong hành động đầu tiên của học hành, liệu nó có thể học hành? Điều gì được hàm ý? Khi tôi không biết, vậy là cái trí của tôi, không-biết, có thể học hành. Liệu cái trí có thể ‘không biết’ để cho nó có thể học hành về sống – sống mà trong đó có đau khổ, phiền muộn, hoang mang, tranh đấu? Liệu nó có thể tiếp cận sống trong một trạng thái của không-biết và thế là học hành? Một cái trí như thế có thể học hành về sống cũng có thể học hành về chết.

 Điều gì quan trọng không phải học hành về cái gì đó, nhưng hành động của học hành. Cái trí chỉ có thể học hành khi nó không-biết. Chúng ta tiếp cận sống cùng hiểu biết về sống – cùng hiểu biết của nguyên nhân, hậu quả, nghiệp lực. Chúng ta tiếp cận sống cùng ý thức của ‘Tôi biết’, cùng những kết luận và những công thức và cùng những thứ mà chúng ta chất đầy cái trí. Nhưng tôi không biết về chết. Vì vậy tôi muốn học hành về chết. Nhưng tôi không thể học hành về chết. Chỉ khi nào tôi biết học hành thì tôi sẽ hiểu rõ về chết. Chết là làm trống không cái trí, khỏi hiểu biết mà tôi đã tích lũy.

P: Có thể có học hành về sống trong học hành về chết. Sâu thẳm trong ý thức của con người có sự sợ hãi không tên này của không còn hiện diện.

Krishnamurti: Sự sợ hãi không tên của không-hiện diện. Hiện diện là biết rằng tôi là cái này, rằng tôi hạnh phúc, rằng tôi trải qua một thời gian tuyệt vời. Trong cùng cách như vậy tôi muốn biết về chết. Tôi không muốn học hành, tôi muốn biết. Tôi muốn biết chết có nghĩa gì.

P: Để cho tôi được tự do khỏi sợ hãi.

Krishnamurti: Nếu tôi không biết làm thế nào để lái một chiếc xe hơi, tôi bị sợ hãi. Khoảnh khắc tôi biết, nó chấm dứt. Thế là biết về chết của tôi phụ thuộc vào quá khứ. Hiểu biếtquá khứ, vì vậy tôi nói tôi phải biết chết có nghĩa gì để cho tôi có thể sống. Liệu bạn thấy trò chơi mà bạn đang đùa giỡn vào chính bạn, trò chơi mà cái trí đang đùa giỡn vào chính nó?

 Hành động của học hành là cái gì đó hoàn toàn khác hẳn hành động của biết. Bạn thấy, biết không bao giờ là hiện tại năng động. Học hành luôn luôn ở trong hiện tại năng động. Học hành về chết – tôi thực sự không biết nó có nghĩa gì. Không lý thuyết, không suy đoán nào sẽ thỏa mãn tôi. Tôi sẽ tìm ra, tôi sẽ học hành mà trong đó không-lý thuyết, không-kết luận, không-hy vọng, không-suy đoán, nhưng chỉ có động thái của học hành; thế là không có sợ hãi về chết.

 Muốn tìm ra chết có nghĩa gì, hãy học hành.

 Trong cùng cách, tôi thực sự muốn biết sống là gì. Vì vậy tôi phải tiếp cận sống bằng một cái trí trong sáng, không có gánh nặng của hiểu biết. Khoảnh khắc cái trí thú nhậntuyệt đối không biết gì cả, nó được tự do để học hành. Nhưng không có gì phải học hành. Tuyệt đối không có gì phải học hành, ngoại trừ sự học hành thuộc công nghệ của làm thế nào đi đến mặt trăng. Sự tự do của học hành về cái gì – sự việc mà tôi đã gọi là sống, sự việc mà tôi đã gọi là chết. Tôi không biết nó có nghĩa gì. Vì vậy luôn luôn có đang sống cùng đang chết. Không có chết khi cái trí hoàn toàn được tự do khỏi cái đã được biết – cái đã được biết là những niềm tin, những trải nghiệm, những kết luận, sự hiểu biết, đang nói tôi đã chịu đựng đau khổvân vân.

 Thuộc trí năng, chúng ta đã chạm khắc một cách đẹp đẽ sống tùy theo tình trạng bị quy định của chúng ta. Muốn đến được Thượng đế ‘Tôi phải sống độc thân’, ‘Tôi phải giúp đỡ người nghèo khó,’ ‘Tôi phải giữ lời thề sống cơ cực.’

 Chết nói bạn không thể chạm khắc được tôi. Nhưng tôi muốn tiếp xúc chết; tôi muốn định hình nó vào khuôn mẫu của tôi.

 Chết nói bạn không thể chạm khắc được tôi, bạn không thể đùa giỡn với tôi. Cái trí quen sự đùa giỡn – chạm khắc cái gì đó từ sự trải nghiệm.

 Chết nói bạn không thể trải nghiệm tôi.

 Chết là một trải nghiệm căn nguyên trong ý nghĩa rằng nó là một trạng thái tôi thực sự không-biết. Tôi có thể sáng chế những công thức về chết – sự suy nghĩ cuối cùng là cái mà tự-thể hiện chính nó – nhưng chúng là những suy nghĩ của những người khác. Tôi thực sự không biết. Thế là tôi kinh hãi quá chừng. Vì vậy, liệu tôi có thể học hành về sống và vì vậy về chết?

 Vậy là, phủ nhận ‘biết’ – thấy điều gì xảy ra. Trong đó có vẻ đẹp thực sự, tình yêu thực sự, sự việc thực sự xảy ra.

 

Đối thoại 11

VẺ ĐẸP VÀ SỰ NHẬN BIẾT

New Delhi, ngày 29 tháng 12 năm 1970

 

N

gười hỏi P: Đâu là nơi nghỉ ngơi của vẻ đẹp. Nó trú ngụ ở đâu? Dĩ nhiên, những thể hiện phía bên ngoài của vẻ đẹp có thể quan sát được; sự tương quan đúng đắn giữa không gian, hình dạng và màu sắc và giữa những con người. Nhưng bản thể của vẻ đẹp là gì? Trong những quyển sách Sanscrit ba nhân tố được cân bằng – Sự thật, Tốt lành, Vẻ đẹp – Satyam, Sivam, Sundaram.

Krishnamurti: Bạn đang cố gắng tìm được cái gì? Bạn muốn tìm được bản chất của vẻ đẹp? Những người chuyên nghiệp nói gì?

P: Những người truyền thống thường nói – Satyam, Sivam, Sundaram. Những nghệ sĩ ngày nay sẽ không phân biệt giữa điều gì có vẻ xấu xí và điều gì có vẻ đẹp đẽ, nhưng sẽ coi hành động sáng tạo như sự diễn tả của một khoảnh khắc, của một nhận biết được thay đổi phía bên trong cá thể và tìm được sự diễn tả trong hành động của người nghệ sĩ.

Krishnamurti: Bạn đang hỏi vẻ đẹp là gì, sự diễn tả của vẻ đẹp là gì, và làm thế nào một cá thể tự thành tựu chính anh ấy qua vẻ đẹp. Vẻ đẹp là gì? Nếu bạn bắt đầu như thể bạn không biết gì về nó, phản ứng của bạn sẽ là gì? Đây là một vấn đề chung đối với những người Hy lạp, những người La mã và những người hiện đại. Vì vậy, vẻ đẹp là gì? Nó ở trong cảnh mặt trời lặn, trong một buổi sáng dễ thương, trong sự liên hệ của con người, trong người mẹ và người con, người chồng và người vợ, người đàn ông và người phụ nữ? Nó ở trong vẻ đẹp của một chuyển động tinh tế lạ thường của sự suy nghĩ và vẻ đẹp của sự nhận biết rõ ràng? Đó là điều gì bạn gọi là vẻ đẹp?

P: Liệu có thể có vẻ đẹp trong những khủng khiếp, những xấu xa?

Krishnamurti: Trong sát nhân, trong giết chóc, trong ném bom, trong bạo lực, trong tàn sát, tra tấn, tức giận, trong sự theo đuổi hung hăng, bạo lực, tàn nhẫn của một ý tưởng, trong muốn quan trọng hơn người nào đó – có vẻ đẹp trong đó?

P: Trong tất cả những hành động này không có vẻ đẹp.

Krishanmurti: Vẻ đẹp là gì nếu một người đánh một người khác?

P: Trong hành động sáng tạo của nghệ sĩ mà diễn tả những điều khủng khiếp, giống như bức tranh Guernica của Picasso, có vẻ đẹp?

Krishnamurti: Vì vậy chúng ta phải hỏi sự diễn tả là gì, sự sáng tạo là gì? Bạn đang hỏi vẻ đẹp là gì? Nó nằm trong cảnh hoàng hôn, trong ánh sáng rõ ràng của buổi sáng, buổi chiều, ánh sáng trên mặt nước, sự liên hệvân vân. Và liệu vẻ đẹp nằm trong bất kỳ hình thức nào của bạo lực; gồm cả những thành tựu ganh đua? Liệu có vẻ đẹp thuộc bản chất trong chính nó: và không phải trong cách người nghệ sĩ tự diễn tả về chính anh ấy? Một đứa trẻ bị hành hạ có thể được diễn tả bởi người nghệ sĩ, nhưng liệu nó là vẻ đẹp?

P: Vẻ đẹp là một điều tương đối.

Krishnamurti: ‘Cái tôi’ mà thấy là tương đối, bị quy định và đang đòi hỏi tự-thành tựu.

 Trước hết, vẻ đẹp là gì? Nó là sự thưởng thức giỏi? Hay vẻ đẹp không liên quan gì đến tất cả điều này? Vẻ đẹp nằm trong sự diễn tả và thế là sự thành tựu. Vì vậy người nghệ sĩ nói tôi phải tự thành tựu qua sự diễn tả. Người nghệ sĩ sẽ bị mất hút nếu không có sự diễn tả mà là bộ phận của vẻ đẹp và tự-thành tựu.

 Vì vậy trước khi chúng ta thâm nhập tất cả điều đó, trạng thái phía bên trong, sự cảm thấy, sự tinh tế của từ ngữ ‘vẻ đẹp’ là gì, để cho vẻ đẹp là sự thậtsự thật là vẻ đẹp?

 Trong chừng mực nào đó, qua sự diễn tả chúng ta cố gắng tìm ra vẻ đẹp trong kiến trúc, trong một cây cầu tuyệt vời – cầu San Francisco Golden Bridge hay cầu trên con sông Seine – trong những cao ốc hiện đại bằng kính và thép và vẻ thanh thanh của một vòi nước. Chúng ta tìm kiếm vẻ đẹp trong những viện bảo tàng, trong một bản nhạc giao hưởng. Chúng ta luôn luôn đang tìm kiếm vẻ đẹp trong sự diễn tả của những người khác. Điều gì sai lầm trong một con người đang tìm kiếm vẻ đẹp?

P: Những diễn tả của những người khác là những cái nguồn duy nhất của vẻ đẹp mà sẵn có cho chúng ta.

Krishnamurti: Mà có nghĩa gì?

P: Trong thấy cây cầu, một chất lượng nào đó nảy sinh trong tôi mà chúng ta gọi là vẻ đẹp. Chỉ trong sự nhận biết được cái gì đó đẹp đẽ mà chất lượng của vẻ đẹp mới nảy sinh trong nhiều cá thể.

Krishnamurti: Tôi hiểu điều đó. Tôi đang hỏi, liệu vẻ đẹp ở trong tự-diễn tả?

P: Người ta phải bắt đầu từ cái gì tồn tại.

Krishnamurti: Mà là sự diễn tả của những người khác. Bởi vì không có mắt nhận biết, cảm giác lạ thường phía bên trong của vẻ đẹp, tôi nói bức tranh đó, bài thơ đó, bản nhạc giao hưởng đó tuyệt vời làm sao. Gạt đi tất cả điều đó, cá thể không biết được vẻ đẹp. Vì vậy sự thưởng thức vẻ đẹp của anh ấy phải phụ thuộc sự diễn tả về sự vật, về một cây cầu hay một chiếc ghế đẹp.

 Liệu vẻ đẹp cần sự diễn tả, đặc biệt sự tự-diễn tả?

P: Liệu nó hiện diện độc lập khỏi sự diễn tả?

Krishnamurti: Nhận biết được vẻ đẹp là sự diễn tả của nó; hai cái này không tách rời. Nhận biết, đang thấy, đang hành động – đang nhận biết là đang diễn tả, Trong đó không có khoảng ngừng gì cả. Đang thấy là đang làm, đang hành động. Không có khoảng trống giữa đang thấy và đang làm.

 Tôi muốn hiểu rõ cái trí mà thấy, nơi đang thấy là đang hành động; tôi muốn quan sát bản chất của cái trí mà có chất lượng của đang thấy và đang hành động này. Cái trí này là gì?

 Tại cốt lõi, nó không quan tâm đến sự diễn tả. Sự diễn tả có lẽ xuất hiện nhưng nó không quan tâm. Bởi vì sự diễn tả cần đến thời gian – xây một cây cầu, viết một bài thơ – nhưng cái trí mà thấy, cái trí mà đang nhận biết là đang hành động, đối với một cái trí như thế không có thời gian, và một cái trí như thế là một cái trí nhạy cảm.

 Một cái trí như thế là cái trí thông minh nhất. Và nếu khôngthông minh đó, liệu có vẻ đẹp?

P: Vị trí của quả tim trong cái trí này là gì?

Krishnamurti: Bạn có ý, sự cảm thấy của tình yêu?

P: Từ ngữ ‘tình yêu’ là một từ ngữ bị định hướng. Nếu anh yên lặng, có một cảm giác lạ thường; một chuyển động xảy ra từ khu vực của quả tim này. Đây là gì? Đây là cần thiết hay nó là một cản trở?

Krishnamurti: Đây là phần cốt lõi nhất của nó. Không có sự nhận biết nếu không có điều đó. Sự nhận biết thuần túy thuộc trí năng không là sự nhận biết. Hành động của sự nhận biết thuần túy thuộc trí năngphân chia, trái lại thông minh hàm ý tình yêu, quả tim. Ngược lại bạn không nhạy cảm. Bạn không thể nhận biết. Nhận biết là hành động.

 Nhận biết, hành động mà không có thời gian là vẻ đẹp.

P: Hai mắt, quả tim, liệu chúng vận hành tại cùng thời điểm trong hành động của sự nhận biết?

Krishnamurti: Sự nhận biết hàm ý chú ý trọn vẹn – những dây thần kinh, hai tai, bộ não, quả tim, mọi thứ, tại chất lượng tột đỉnh. Ngược lại, không có sự nhận biết.

P: Chất lượng, bản chất phân chia của hành động thuộc giác quan là rằng, toàn cơ quan thân thể không vận hành tại cùng thời điểm.

Krishnamurti: Toàn cơ quan – bộ não, quả tim, những dây thần kinh, hai mắt, hai tai, không bao giờ trọn vẹn trong chú ý. Nếu chúng không trọn vẹn, bạn không thể nhận biết.

 Vì vậy vẻ đẹp là gì? Nó nằm trong sự diễn tả, trong hành động phân chia? Tôi có lẽ là một nghệ sĩ, một kỹ sư, một thi sĩ. Người thi sĩ, người kỹ sư, người nghệ sĩ, người khoa học, là những con người phân chia. Một mảnh trở nên nhận biết, nhạy cảm lạ thường và hành động của nó có lẽ diễn tả cái gì đó tuyệt vời, nhưng nó vẫn còn là một hành động phân chia.

P: Khi các cơ quan nhận biết bạo lực, kinh hãi hay xấu xa, trạng thái đó là gì?

Krishnamurti: Chúng ta hãy sử dụng từ ngữ bạo lực trong vô số hình thức khác nhau của nó, nhưng tại sao bạn đang đặt ra câu hỏi đó?

P: Nó cần thiết để thâm nhập điều này.

Krishnamurti: Liệu bạo lực là bộ phận của vẻ đẹp, đó là điều gì bạn đang hỏi?

P: Tôi sẽ không trình bày theo cách đó.

Krishnamurti: Bạn thấy bạo lực. Sự phản ứng của một cái trí nhận biết trong ý nghĩachúng ta đang sử dụng từ ngữ ‘nhận biết’ đối với mọi hình thức của hủy diệt, mà là bộ phận của bạo lực, là gì? (Ngừng).

 Tôi đã nắm được nó. Liệu bạo lực là một hành động mà nhận biết trọn vẹn, hay nó là một hành động phân chia?

P: Nó không rõ ràng. Nó không là điều đó.

Krishnamurti: Bạn giới thiệu bạo lực. Tôi muốn thâm nhập bạo lực. Liệu bạo lực là một hành động của một nhận biết hòa hợp trọn vẹn?

P: Không.

Krishnamurti: Vậy là bạn đang nói nó là một hành động phân chia và, hành động phân chia phải phủ nhận vẻ đẹp.

P: Anh đã đảo ngược tình huống.

Krishnamurti: Sự phản ứng của cái trí nhận biết là gì khi nó thấy bạo lực? Nó nhìn ngắm bạo lực, thâm nhập nó và thấy nó như một hành động phân chia, và vì vậy nó không là một hành động của vẻ đẹp. Điều gì xảy ra cho một cái trí nhận biết khi nó thấy một hành động bạo lực? Nó thấy ‘cái gì là’.

P: Được hiểu theo nghĩa thông thường, đối với anh bản chất của cái trí không thay đổi?

Krishnamurti: Tại sao nó phải thay đổi? Nó thấy ‘cái gì là’. Thâm nhập một bước sâu thẳm thêm.

P: Đang thấy ‘cái gì là’, liệu nó thay đổi bản chất của ‘cái gì là’? Có đang nhận biết. Có bạo lực mà là phân chia. Nhận biết điều đó, liệu nó thay đổi bản chất của bạo lực?

Krishnamurti: Chờ một chút. Bạn đang hỏi, ảnh hưởng của cái trí nhận biết khi nó quan sát bạo lực là gì?

P: Anh đã nói nó thấy ‘cái gì là’. Liệu nó thay đổi ‘cái gì là’? Cái trí nhận biết, đang quan sát bạo lực và đang thấy ‘cái gì là’, chính hành động của đang thấy, liệu nó hành động vào bạo lực, thay đổi bản chất của bạo lực?

Krishnamurti: Có phải bạn đang hỏi, liệu cái trí nhận biết đang thấy hành động của bạo lực, của ‘cái gì là’ hỏi, tôi sẽ làm gì? Liệu đó là câu hỏi?

P: Một cái trí như thế không làm, nhưng phải có hành động từ cái trí nhận biết đang thay đổi bản chất hành động của bạo lực.

Krishnamurti: Cái trí nhận biết thấy một hành động bạo lực. Một hành động như thế là phân chia. Bằng cái trí nhận biết, hành động gì có thể có?

P: Cái trí nhận biết thấy bạo lực về phần của X. Đang thấy là đang hành động.

Krishnamurti: Nhưng nó có thể làm gì?

P: Tôi muốn nói nếu cái trí nhận biết hành động, nó phải thay đổi bạo lực trong X.

Krishnamurti: Chúng ta hãy rõ ràng điều này. Cái trí nhận biết thấy một người khác đang hành động một cách bạo lực. Đối với cái trí nhận biết, chính đang thấy là đang làm. Đó là một sự kiện. Nhận biết là đang làm. Cái trí nhận biết này thấy X trong bạo lực. Hành động được bao hàm trong thấy đó là gì – kết thúc bạo lực?

P: Tất cả những việc đó là những hành động thuộc ngoại vi. Tôi đang nói rằng khi một cái trí nhận biết đối diện với một hành động của bạo lực, chính hành động của nhận biết sẽ thay đổi hành động của bạo lực.

Krishnamurti: Có nhiều sự việc được bao hàm. Cái trí nhận biết khi nó đang dạo bộ, thấy một hành động của bạo lực. Người đang hành động một cách bạo lực có lẽ phản ứng một cách không-bạo lực, bởi vì cái trí nhận biết ở gần anh ấy, sát cạnh anh ấy, và bỗng nhiên việc này xảy ra.

P: Người ta đến với anh bằng một vấn đề – ghen tuông. Điều gì xảy ra với anh trong một phỏng vấn khi một người đến với anh mà bị hoang mang?

 Trong chính hành động của nhận biết, sự hoang mang không còn.

Krishnamurti: Chắc chắn nó xảy ra bởi vì sự hiệp thông. Bạn đã cố gắng bàn luận về bạo lực và việc gì đó xảy ra bởi vì đang cùng nhau chia sẻ trực tiếp về vấn đề. Có sự chuyển tải, chia sẻ. Điều đó đơn giản. Bạn thấy một con người ở đằng xa đang hành động một cách bạo lực. Hành động của cái trí nhận biết ở đó là gì?

P: Phải có năng lượng lạ thường từ một cái trí nhận biết. Phải có hành động nào đó.

Krishnamurti: Nó có lẽ hành động. Bạn không thể chắc chắn về điều đó bởi vì bạn có thể là trạng thái gần gũi. Người còn lại có lẽ thức giấc vào nửa đêm, anh ấy có lẽ nhận biết được cái phản ứng lạ lùng đến sau đó, phụ thuộc vào sự nhạy cảm của anh ấy. Có lẽ do bởi cái trí nhận biết và ảnh hưởng của nó, ngược lại sự chuyển tải gần gũi này là khác hẳn. Nó có thay đổi.

 Chúng ta hãy quay lại. Bạn đang hỏi vẻ đẹp là gì. Tôi nghĩ chúng ta có thể nói, cái trí mà không phân chia trong chính nó, mà không bị vỡ vụn, có vẻ đẹp này.

P: Liệu nó có bất kỳ liên quan nào đối với sự nhận biết thuộc giác quan nếu anh bịt hai mắt của anh, hai tai của anh…

Krishnamurti: Nó độc lập khỏi việc đó. Khi bạn bịt hai mắt của bạn, hai tai của bạn, không có sự phân chiavì vậy nó có chất lượng này của vẻ đẹp, của nhạy cảm. Nó không phụ thuộc vào vẻ đẹp bên ngoài. Đặt dụng cụ của một cái trí như thế ngay giữa thành phố ồn ào nhất. Điều gì xảy ra? Thuộc thân thể nó bị ảnh hưởng nhưng không phải chất lượng của cái trí, mà không-phân chia. Nó độc lập khỏi môi trường sống, vì vậy nó không bận tâm đến sự diễn tả.

P: Đó là sự cô đơn của nó.

Krishnamurti: Vì vậy vẻ đẹp là cô đơn. Tại sao lại có sự khao khát tự-diễn tả này? Liệu sự khao khát đó là bộ phận của vẻ đẹp, liệu nó là sự khao khát của một người phụ nữ muốn có một em bé, một người chồng cho hoạt động tình dục trong khoảnh khắc của trạng thái âu yếm đó, hay người nghệ sĩ đang khao khát cho sự diễn tả?

 Liệu cái trí nhận biết đòi hỏi bất kỳ hình thức nào của sự diễn tả? Nó không cần, bởi vì đang nhận biết là đang diễn tả, đang hành động. Người nghệ sĩ, người họa sĩ, người xây dựng tìm kiếm sự tự-diễn tả. Nó là phân chiavì vậy sự diễn tả của nó không là vẻ đẹp.

 Một cái trí bị quy định, mà phân chia, diễn tả cảm thấy của vẻ đẹp đó, nhưng nó bị quy định. Đó là vẻ đẹp? Vì vậy, cái tôi mà là cái trí bị quy định, không bao giờ có thể thấy vẻ đẹp, và bất kỳ thứ gì nó diễn tả phải thuộc chất lượng của nó.

P: Anh vẫn chưa trả lời một khía cạnh của câu hỏi. Có một sự việc như là tài năng sáng tạo; khả năng sắp xếp những sự việc vào cùng nhau trong một cách mang lại hân hoan.

Krishnamurti: Người nội trợ làm bánh mì, nhưng ‘không vì mục đích’. Khoảnh khắc bạn làm vì mục đích, bạn đã bị xa rời.

P: Sáng chế hân hoan.

Krishnamurti: Không phải bởi gì cái gì khác. Người nói không ngồi trên bục gỗ và nói chuyện bởi vì ông ta được hân hoan.

 Cái nguồn của nước không bao giờ cạn. Nó luôn luôn bập bềnh, dù có sự ô nhiễm hay sự tôn trọng nước; nó đang bập bềnh, nó hiện diện ở đó.

 Hầu hết những người quan tâm đến tự-diễn tả đều có tánh tư lợi. Chính là cái tôi mới tạo ra sự phân chia. Không có cái tôi, có sự nhận biết. Sự nhận biết là đang làm và đó là vẻ đẹp.

 Tôi chắc chắn người điêu khắc mà chạm khắc Mahesha Murti tại Elephanta đã sáng tạo nó từ thiền định của anh ấy. Trước khi bạn chạm bàn tay của bạn vào một hòn đá hay viết một bài thơ, trạng thái phải trong thiền định. Sự ngẫu hứng phải không hiện diện từ cái tôi.

P: Truyền thống của điêu khắc Ấn độ là điều đó.

Krishnamurti: Và người họa sĩ vĩ đại, người họa sĩ xoàng xĩnh, người họa sĩ tầm thường đều của loại đó – của tự-diễn tả.

 Vẻ đẹp là tự-từ bỏ tổng thể và cùng sự vắng mặt hoàn toàn của cái tôi, có ‘cái đó’. Chúng ta đang cố gắng bắt gặp ‘cái đó’ mà không muốn buông bỏ cái tôi, và thế là sáng tạo trở thành một công việc phô trương.



Tạo bài viết
16/08/2013(Xem: 7643)
Cứ mỗi mùa Phật Đản về, là hoa đăng trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè lung linh sắc màu huyền ảo..
Đức Đạt Lai Lạt Ma hội thoại với dân Việt Nam tại Hà Nội, Sài Gòn và Hải Phòng cũng như một nhóm người Việt tại nơi cư trú của ngài ở thị trấn Dharamsala, Ấn Độ