Lời Mở Đầu Của Tác Giả

17/05/201212:00 SA(Xem: 3134)
Lời Mở Đầu Của Tác Giả

J. KRISHNAMURTI
GHI CHÉP tại NHÀ BẾP
1001 Bữa trưa cùng J. Krishnamurti
THE KITCHEN CHRONICLES
1001 Lunches with J. Krishnamurti
 Tác giả: Michael Krohnen
Lời dịch: Ông Không
– Tháng 4-2011–

PHẦN MỞ ĐẦU CỦA TÁC GIẢ

 

T

rong bốn năm dài chiến tranh đã diễn ra dữ dội khắp thế giớixu thế dần dần bắt đầu chống lại những kẻ hung hăng khi tôi được sinh ra ở Arnstein, một thị trấn nhỏ gần Frankfurt/Main ở Đức, mùa thu năm 1943.

 Lớn lên sau chiến tranh, thiên nhiên và vẻ đẹp của nó có một ý nghĩa sâu đậm đối với tôi. Những cánh đồng cỏ cao màu vàng nhảy múa trong ánh nắng, những đám mây trắng lơ lửng qua bầu trời xanh, những cơn gió lẫn trong cây cối, và những vì sao rực sáng vào buổi tối giống như những khám phá về một thứ khác, kích thước an bình nhiều hơn, khác hẳn thế giớicon người đã tạo ra. Như tôi có thể nhớ được, tôi ấp ủ một hiếu kỳ hừng hực về cái gì vượt khỏi những hình thể, về những nguyên nhân cuối cùng, về cái thiêng liêng. Những câu chuyện của Kinh Bible cuốn hút tôi, đặc biệt quyển Sự sáng tạo trong Nguồn gốc. Rủi thay, những giáo sĩ Thiên chúa giáo La mã quá sẵn lòng để khắc sâu cái trí nhẹ dạ, non nớt của tôi bằng những nghi lễ, những lời cầu nguyện và những giáo điều. Trước kia đã lâu lắm rồi, tôi tin rằng tôi ao ước trở thành một người truyền giáo để cứu rỗi những linh hồn khỏi địa ngục.

 Nhưng, cám ơn Thượng đế, tội lỗi đã được ngăn cản, và tôi bắt đầu trải nghiệm khả năng tự nhiên bên trong tôi, với những câu hỏi và những nghi ngờ theo cùng nó. Hình dáng phụ nữ, những cô gái, bỗng nhiên trở thành sự quyến rũcám dỗ lạ lùng. Những vui thú và những đau khổ của sự thôi thúc về tình dục đang thức dậy của tôi là những sức mạnh kỳ lạ đến độ tôi không thể kiểm soát cũng như hiểu rõ. Những giải thích truyền thống không hé lộ bất kỳ ánh sáng nào về vấn đề nhưng chỉ thêm vào nhiều sự hoang mang của tôi, với những đe dọa, sợ hãitội lỗi thuộc luân lý của chúng.

 Tại mức độ thuộc trí năng nhiều hơn, lịch sử đang dạy tôi một bài học tại cùng thời điểm – bài học của quá khứ tập hợp mới đây của chúng ta. Thật lạ lùng khi nhận ra rằng tôi và những người cùng tuổi lại là con cái của thế hệ mà đã tôn sùng Adolf Hitler và những kế hoạch điên rồ của ông ấy. Khi tôi thấy bằng hai mắt riêng của tôi những cuốn phim về những khủng khiếp của những trại tập trung, sự kinh hãi và những giọt nước mắt thấm đầy thân tâm của tôi. Văn hóaxã hội kiêu ngạo lúc trước mà tôi đã lớn lên đã làm công việc này, và những người bạn bè của quốc gia tôi ít ra đã là những người đồng lõa yên lặng. Sự tủi nhục và tội lỗi mà tôi đã cảm thấy là không thể khuây khỏa được: sự đau khổ cho Auschwitz, Sobibor và Treblinka, sự đau khổ cho nhân loại mà đã phải chịu đựng quá nhiều đau thương.

 Những mục đích và những lý tưởng được định nghĩa bởi xã hội, bởi văn hóa, bởi tôn giáo bỗng nhiên trở thành vô nghĩa đối với tôi. Đọc những quyển sách, viết những bài thơ, vẽ những bức tranh, chơi sáo, đến những quốc gia xa xôi và khám phá những văn hóa mới – đây là những hoạt động mà vẫn còn có giá trị đối với tôi.

 Khi tôi đã kiếm được bằng tú tài, tôi di cư đến ‘mảnh đất của cơ hội và những giấc mộng vàng’, mà từ niên thiếu đã làm tôi mê đắm bởi những cuốn phim của nó, những phim hoạt hình và những câu chuyện miền Tây hoang dã. Định cư ở Southern California và theo học đại học mở cánh cửa đến một sống mới, cùng lúc khơi dậy sự quan tâm của tôi trong nghi vấn về sự thật. Khi tôi bắt đầu tìm hiểu những diễn tả khác nhau về tôn giáo của nhân loại, tôi khám phá Zen cùng những phong cảnh rộng lớn trống không và những nhận biết bất ngờ của nó. Từ Zen là một bước kế tiếp đến Phật và những thấu triệt giải thoát cao cả của ngài vào tính chất tổng thể của sự đau khổ. Ngài chỉ qua bờ bên kia vượt khỏi dòng chảy của sự thèm kháttrở thành.

 Khó hiểu nhiều hơn là học thuyết của Lão tử mà, ngay khi nó được diễn tả hay được đặt tên, không còn là Lão tử thực sự. Hành động không nỗ lực, nhìn ngắm không đánh giá, không phân chia khỏi dòng chảy của những sự kiện là hiệp thông cùng quy luật huyền bí của vũ trụ. Dịch kinh, quyển sách cổ khó hiểu của những Thay đổi, đã giải thích những quy luật của sự thay đổi liên tục trong những biểu tượng thẳng đơn giản. Nhờ vào đó cống hiến một chìa khóa đến sự giải đáp mã số của thiên đàng và quả đất. Nó hướng về sự hiểu rõ về chính mình và hành động đúng đắn.

 Từ Ấn độ đến sự thông thái của kinh Upanishad và Vedan rằng cá thể và cái trí vũ trụ là một và giống hệt nhau. Sự nhận ra của sự kiện này là sự giải thoát khỏi Maya ảo tưởng, bức màn vũ trụ của ảo tưởng.

 Khi tôi tiếp tục đọc và tìm hiểu những bài giảng của nghi vấn con người về cái thiêng liêngtruyền thống Judan, kinh Sufis, Phraon Ai cập, những huyền bí của Thiên chúa giáo, và những thứ khác – tôi bị khơi dậy sự ngạc nhiên bởi những tương tự giữa những diễn tả khác nhau này. Nhưng tôi cũng nghi ngờ nữa. Dường như tất cả chúng đều được đặt nền tảng trên một thấu triệt khởi nguồn vào sự huyền bí của sống, đang chuyển tải nó trong những hình ảnhngôn ngữ của thời điểm lịch sử tương quan. Tuy nhiên tại cùng lúc, cái gì đó cốt lõi dường như đang bị bỏ lỡ. Có lẽ nó phải thực hiện bởi đoạn đường của thời gian, với khoảng cách to lớn mà tách rời tôi, đang sống trong thế kỷ thứ hai mươi, khỏi Phật, khỏi Socrates, Pythagoras, Confucius và Meister Eckhardt. Thậm chí nếu trong bản thể chúng đang hàm ý cùng sự việc, mỗi người đều giảng thuyết tại thời điểm riêng của người đó, từ khung cảnh văn hóa riêng của người đó, trong ngôn ngữ riêng của người đó, nói chuyện với những con người của thời kỳ riêng của người đó. Không người nào biết bất kỳ điều gì về những chiến tranh thế giới, những trại tập trung, hay đáp xuống mặt trăng, cũng không biết về điện thoại, máy bay, xe hơi, truyền hình, máy tính, thư điện tử và nhiều dụng cụ công nghệ khác mà xác định cuộc sống hiện đại và những phức tạp vô kể của nó.

 Do số mạng một buổi sáng ở San Diego, California, năm 1966, tôi tình cờ đọc một quyển sách không phải bởi, nhưng về một người được gọi là J. Krishnamurti và triết lý của ông về cái trí yên lặng. Bị tò mò, tôi tìm hiểu nó và bị mê mải bởi những trích dẫn từng chữ một hơn là sự diễn giải về triết lý của ông. Những từ ngữ của ông làm thức dậy ngay nghi vấn sâu thẳm và âm ỉ trong cái trí của tôi. Chẳng mấy chốc tôi tìm được nhiều quyển sách được viết bởi ông và ngay tức khắc nhận ra rằng đây là một giọng nói của lý luận, của sự thấu triệt thăm thẳm vào sự quy định của con người, như tôi chưa bao giờ đã từng nghe được trước kia. Không cống hiến một hệ thống của niềm tin, một phương pháp hay một diễn giải, ông diễn tả chính xác hoàn cảnh toàn cầu của nhân loại trong ngôn ngữ rõ ràngđơn giản, giải thích tính hủy hoại của những tổ chức thuộc tôn giáoquốc gia. Ông thúc giục mọi người tự tìm được sự thật cho chính mình và một mình, và ông phủ nhận bất kỳ hình thức nào của uy quyền thuộc tôn giáotinh thần, gồm cả của riêng ông.

 Ngoài việc cống hiến một tầm nhìn tổng thể và mới mẻ, ông diễn tả ra những từ ngữ một cách chính xác điều gì mà một cách lờ mờ tôi đã luôn luôn cảm giác và thắc mắc. Bất ngờ gặp phải những quyển sách của ông giống như đang có được một món nữ trang quý giá, và điều gì ông nói kích thích tôi hoàn toàn đến độ tôi quyết định tìm ra tất cả mọi điều tôi có thể về con người này và, nếu ông vẫn còn sống, tìm được ông và gặp mặt ông. Tôi phát giác rằng ông vẫn còn sống và thực hiện những nói chuyện trong những vùng đất khác nhau của thế giới. Nhưng chỉ mãi đến tháng 12 năm 1970, tôi mới có thể xác định chỗ ở của ông. Tôi đã đến Ấn độ gặp người bạn cũ của tôi, Sunyata, sống trong tầm nhìn của những đỉnh núi tuyết Himalayas ở Almora, Uttar Pradesh, gần biên giới Tibetan-Nepali. Khi tôi đề cập nhiệt thành về Krishnamurti, anh ấy kể cho tôi về sự gặp gỡ riêng của anh ấy với ông, nhiều năm trước ở Lahors. Sự phấn khích của tôi gia tăng khi anh ấy đưa ra một thông báo từ India Krishnamurti Foundation, mà xác định thời khóa biểu nói chuyện của Krishnamurti trong Ấn độ. Khi tôi thấy rằng những nói chuyện kế tiếp của ông ở Madras, không gì có thể ngăn cản được tôi nữa. Đến New Delhi sau chuyến xe buýt mười hai tiếng, tôi vẫn còn có chuyến hành trình bằng xe lửa sáu mươi tiếng trước mặt. Tôi chỉ hy vọng đến được đó kịp giờ để nghe ông nói.

 Khi đến Madras ngày 14 tháng 1 năm 1974, tôi vội vã tìm đường đến Greenways Road, nơi tôi đã biết rằng Krishnamurti đang nói chuyện. Người phụ nữ tiếp đón tôi rất hối tiếc khi nói rằng tôi vừa bỏ lỡ nói chuyện thứ ba và cuối cùng ngày hôm trước. Ngay tức khắc tôi sụp đổ. Sau đó bà yên lặng gợi ý rằng, nếu tôi muốn, tôi có thể đến ngày hôm sau và tham gia một đối thoại mà Krishnamurti sẽ thực hiện cùng một nhóm nhỏ của những người trẻ tuổi. Tôi phấn chấn lại. Tim tôi đập thình thịch.

 Sáng hôm sau, tôi đi bằng xe xích lô máy đến căn nhà tách khỏi Greenways Road, háo hức gặp mặt con người mà tôi cảm thấy đã công bố thông điệp lạ thường nhất của sự tự do cho những con người thời hiện đại.

 

Tạo bài viết
16/08/2013(Xem: 8168)
Ngày 9/12/2018 vừa qua Câu lạc bộ Nhân Sinh đã tổ chức Khóa tu “Tuổi trẻ có gì vui” tại Tu viện Khánh An 2, xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai với sự tham gia của hơn 250 bạn trẻ. Khóa tu diễn ra dưới sự hướng dẫn của sư Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng các vị Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.