Hướng đến cải cách giáo dục Phật học tại Việt Nam

19/01/20157:58 SA(Xem: 2349)
Hướng đến cải cách giáo dục Phật học tại Việt Nam
HƯỚNG ĐẾN CẢI CÁCH GIÁO DỤC PHẬT HỌC TẠI VIỆT NAM
TT. Thích Nhật Từ
Phó Viện trưởng HVPGVN tại TP.HCM

 

blank
HT. Thích Trí Quảng trao văn bằng Cừ nhân Phật Học trong
lễ tốt nghiệp tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam TP. HCM

Không thể phủ định rằng giáo dục Phật giáo dựa trên ba phương diện minh triết Phật dạy bao gồm giáo dục đạo đức (giới), giáo dục chuyển hóa (thiền) và giáo dục tri thức giải quyết vấn nạn (tuệ). Người được đào tạo trong trường Phật học, ngoài kiến thức thông thường còn thực tập chuyển hóa, mang tính ứng dụng thực tiễn và có khả năng giải quyết các nỗi khổ niềm đau của bản thântha nhân.

Để nền giáo dục Phật giáo tại Việt Nam đáp ứng được các mục đích nêu trên, chương trình đào tạo Phật học tại Việt Nam cần có sự thích ứng với xu thế giáo dục Phật học trên thế giới là điều không thể bỏ qua. Trong bài viết này, tôi trình bày vài nét về a) Bản chất đào tạo Phật học, b) Nền Phật học Tây Tạng và c) Hướng đến cải cách giáo dục Phật học tại Việt Nam. Các vấn đề trên chỉ được nêu ra một cách khái quát, chưa đi sâu vào việc phân tích.

I. BẢN CHẤT ĐÀO TẠO PHẬT HỌC KHÁC VỚI ĐÀO TẠO GIÁO SĨ

Khoa Phật học gọi đủ là Khoa nghiên cứu Phật giáo (Department of Buddhist Studies) là một ngành học độc lập với cấp đào tạo từ cử nhân đến tiến sĩ. Học viện đào tạo ngành Phật học như một ngành khoa học, chứ không đào tạo các giáo sĩ làm công tác truyền đạo như các Chủng viện của Thiên chúa giáo.

Hiện nay, trên thế giới có trên 100 trường đại học nổi tiếng có Khoa nghiên cứu Phật học (Department of Buddhist Studies). Các trường đại học ở các nước tiên tiến về giáo dục như Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản v.v… đào tạo cấp thạc sĩtiến sĩ về Khoa nghiên cứu Phật học. Trong khi các đại học ở châu Á như Tích Lan, Miến Điện, Trung Quốc, Nepal, Bhutan đào tạo từ cử nhân đến tiến sĩ.

Các nước Phật giáo Nam tông như Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, chương trình Phật học chỉ đào sâu triết học Nguyên thủy. Trong khi đó, các nước Phật giáo Đại thừa như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc chủ yếu đào tạo về triết học Đại thừa.

So với các nước khác, nội dung đào tạo Phật học của các trường Phật học tại Việt Nam bao quát cả hai truyền thống Phật giáo Nam tông (Nguyên thủy) và Phật giáo Bắc tông (Đại thừa) với văn hệ Sanskrit.

Hiện có trên 100 trường đại học lớn trên thế giới (gồm hơn 30 đại học tại Hoa Kỳ) có đào tạo chuyên ngành Phật học với mã đào tạo độc lập trong hệ thống các trường đại học quốc dân, được hỗ trợ ngân sách của chính phủ và các đoàn thể phi chính phủ. Ngành Phật học được liệt vào 3 Khoa chính sau đây:

- Khoa nghiên cứu Phật học (Department of Buddhist Studies): khoảng 70%.

- Khoa nghiên cứu Tôn giáo (Department of Religious Studies): khoảng 05%.

- Khoa Triết học (Department of Philosophy): khoảng 25%.

Điều này cho thấy ngành nghiên cứu Phật học có chỗ đứng quan trọng như ngành Triết học. Ngành Thần học và ngành nghiên cứu Tôn giáo ngày càng ít trường đào tạo, vì chỗ đứng của nó trong nghiên cứu học thuật mất dần. Việc cấp mã đào tạo độc lập từ cử nhân đến tiến sĩ cho ngành nghiên cứu Phật học trong bối cảnh giáo dục trong nước và toàn cầu là điều rất cần thiết. Nếu vì những lý do khách quan chưa thể cấp mã đào tạo độc lập thì có thể đặt vào chuyên ngành Phật học vào mã đào tạo triết học hay nghiên cứu tôn giáo học, như một số các nước đã làm.

blankViệt Nam là nước mà ảnh hưởng của đạo Phật về phương diện lịch sử, văn hóa, văn học và triết lý đối với dân tộc rất đáng kể. Truyền thống ngành nghiên cứu Phật học phát triển khá mạnh trong các HVPGVN trong nhiều năm qua. Văn bằng cử nhân Phật học do các HVPGVN  cấp đã từ lâu được chấp nhận tương đương với bằng cử nhân nước ngoài và được tuyển học thạc sĩ ở nhiều trường đại học trên thế giới (bao gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Thái Lan v.v…). Nếu chưa thể đặt các HVPGVN vào trong hệ thống các trường Đại học quốc dân trong giai đoạn này qua việc công nhận văn bằng cử nhân Phật học tương đương với cử nhân triết học hay cử nhân tôn giáo học thì cũng nên cho phép các HVPGVN  đào tạo Thạc sĩTiến sĩ mang tính đặc thù của Phật giáo. HVPGVN tại TP.HCM vừa được Văn phòng Chính phủ cho phép đào tạo thí điểm chương trình Thạc sĩ Phật học từ đầu năm 2012. Đây là dấu hiệu tích cực với nhiều hứa hẹn cho nền giáo dục Phật học tại Việt Nam.

II. GIÁO DỤC PHẬT HỌC TẠI TÂY TẠNG

Mặc dù có nhiều khuynh hướng giáo dục Phật học trên thế giới, ta có thể phân loại thành hai nhóm chính. Nhóm một có mối liên hệ hoặc dựa trên nền giáo dục thế học cộng thông làm căn bản. Nhóm hai không dựa vào kiến thức thế học về thời gian đào tạochương trình đào tạo. Nhóm một thuộc các truyền thống giáo dục của các nước Phật giáo và các trường đại học (Universities), cao đẳng cộng đồng (Colleges) khắp thế giới. Nhóm hai chính là nền giáo dục Phật giáo tại Tây Tạng.[1]

Trong truyền thống giáo dục Tây Tạng, cụ thểtruyền thống Gelug, bằng Geshe[2] là bằng Phật học cao nhất, tương đương với bằng tiến sĩ trong nền giáo dục phương Tây. Sự khác nhau căn bản giữa bằng Geshe và bằng tiến sĩ là để đạt được Geshe chỉ có Tăng được ghi danh học; người tại giani giới không được theo học; chương trình kéo dài từ 20-40 năm, nhấn mạnh đến việc thi học thuộc lòng kinh sách (blo-rgyugs) và tranh biện bằng miệng (rtsod-rgyugs);[3] đang khi bằng tiến sĩ chỉ mất trung bình 8 năm (4 năm cử nhân, 2 năm thạc sĩ, 2 năm tiến sĩ) sau khi tốt nghiệp lớp 12.

Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, trước năm 1959, có khoảng 2000 tu viện Phật giáo với khoảng 110,000 Tăng Ni tại Tây Tạng (chiếm 10% dân số toàn quốc). Trong suốt 1000 năm qua, giáo dục Tây Tạng và mọi phương diện đời sống và ngành nghề mang đậm nét giáo dục Phật giáo. Ngoài tu viện Phật giáo, không có trường học đời. Ngoài ngành Phật học, không có giáo dục nào khác. Không có giáo sư đời, chỉ có các giáo viên là các vị Lama Tây Tạng.[4] Cũng theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đó là lý có đến 80% Tăng sĩ Tây Tạng thất học, chỉ có số ít các Lama Tây Tạng có được học đến nơi đến chốn, trở thành các tu sĩ lãnh đạo các tu viện hoặc được bổ nhiệm làm các nhân viên cao cấp của chính phủ.[5]

Nền giáo dục Tu viện Tây Tạng gồm 5 môn học chính, dựa vào mô hình giáo dục ”ngũ minh”[6] của Ấn Độ, bao gồm: a) Văn học Bát-nhã (Prajnaparamita = phar-phyin), b) Văn học Trung Luận (Madhyamaka = dbu-ma), c) Nhận thức (Pramana = tshad-ma), d) Luận tạng (Abhidharma = mngon-par chos, mdzod), e) Luật tạng (Vinaya =‘dul-ba). Ngoài ra, người học còn được học thêm tư tưởng Phật học của bốn trường phái Phật giáo chính như Kinh lượng bộ (Sautrantika = mDo-sde-pa), Duy thức bộ (Chittamatra =Sems-tsam-pa), Trung Quán bộ (Madhyamaka = dBu-ma) và Tỳ-bà-sa bộ (Vaibhashika =Bye-brag smra-ba).

Kể từ khi lưu vong tại Ấn Độ, đức Dalai Lama đã cải cách chương trình giáo dục Phật học truyền thống thành mô hình có liên hệ với giáo dục thế học cộng thông ngày nay. Các Tăng Ni Tây Tạng tại Ấn Độ ngày nay phải học 8 năm[7] tiểu học và trung học tại các trường giáo dục cộng thông với các học sinh thế học tại các trường công hoặc tư, bao gồm tiếng Tây Tạng, tiếng Anh, tiếng Hindi, toán, xã hội học và khoa học.

Sau đó, Tăng Ni phải học 11 năm về 5 môn học chính nêu trên. 5 năm đầu chỉ học văn học Bát-nhã (gồm chương 1, 2, 3, 4 và 8). Năm thứ sáu học Duy thức. Năm thứ 7-9 học về Trung Quán luận. Năm thứ 10 học về Luận tạng. Năm thứ 11 học về giới luật. Trong mỗi năm học, phải có 1 tháng đào tạo về các loại nhận thức. Mỗi năm học đều có 2 kỳ thi (rgyugs-sprod) gồm thi học thuộc lòng (blo-rgyugs) và thi tranh biện (rtsod-rgyugs). Với chủ trương cải cách của đức Dalai Lama, các học viên phải thi viết (bri-rgyugs), thi làm thơ (rtsom-bri) và môn lịch sử tôn giáovăn hóa Tây Tạng (rgyal-rabs chos-byung).

Sau khi hoàn tất 11 năm giáo dục chính, học viên nào đậu kỳ thi tranh biện trước Hội đồng tăng sĩ Jangtsey (gling-bsre dam-bca’) và phải thuyết trình tranh biện với một Geshe Shartsey trước Hội đồng Ganden sẽ được cấp bằng Geshe (dGe-bshes rDo-ram-pa). Mỗi năm chỉ có 2 Tăng sĩ được đậu bằng Geshe. Số còn lại phải chờ nhiều năm mới đến phiên mình. Sau chương trình cải cách của đức Dalai Lama, người nhận bằng Geshe không còn bị giới hạn số lượng theo năm nữa.

Để đào tạo các chuyên gia về Phật học, chương trình hậu Geshe (Geshe Lharampa hay dGe-bshes Lha-ram-pa) gồm 6 năm. Tăng sĩ tốt nghiệp Geshe phải đậu kỳ thi Gelug (dGe-lugs rgyugs-sprod). Suốt sáu năm này, sinh viên hậu Geshe học lại 5 môn học chính trong chương trình Geshe với hướng chuyên sâu và nâng cao, từ các bản sớ giải của các luận sư nổi tiếng như Tsongkhapa, Gyeltsabjey và Kaydrubjey. Mỗi năm sinh viên phải thi tranh biện và thi viết. Sau khi hoàn tất chương trình, sinh viên phải trình bày tranh biện tại Lễ hội Đại cầu nguyện (sMon-lam chen-mo) trước Hội đồng tăng sĩ của 3 tu viện chính của phái Gelug (gdan-sa gsum) tại khu vực Lhasa là Ganden, Sera và Drepung. Phải thành công trong tranh biện trước Hội đồng Ganden của Jangtsey và Shartsey mới đậu bằng Geshe Dorampa. Trước chương trình cải cách, chỉ có 2 tăng sĩ được cấp bằng này/ năm. Nay số lượng không giới hạn nữa.

Chương trình mật tông (Tantra) gồm 1 năm chỉ dành cho các Geshe Tsogrampas và Geshe Lharampas. Chương trình được đào tạo tại Cao đẳng Mật tông thấp Gyumay (rGyud-smad Grva-tshang) và Cao đẳng Mật tông cao Gyuto (rGyud-stod Grva-tshang). Khi học Mật tông, Tăng sĩ theo học được gọi là Geshe Karampa (dGe-bshes bKa’-ram-pa). Mỗi năm chỉ có 2 tăng sĩ được thi tại các Cao đẳng Mật tông tại kỳ thi Mật tông chính thức (sngags dam-bca’). Người thi đậu sẽ được trao bằng Geshe Ngagrampa (dGe-bshes sNgags-ram-pa).

Trước năm 1959, để có bằng Geshe (tương đương tiến sĩ), học viên phải trải qua gần 40 năm, mỗi năm chỉ có 2 vị. Với chủ trương cải cách của đức Dalai Lama, người đậu bằng Geshe phải trải qua tối thiểu 17 năm (11 năm học 5 môn chính, 6 năm học chuyên sâu và 1 năm học Mật tông) kể từ khi hoàn tất trung học. Dưới tác động của nền giáo dục tiên tiến của phương Tây, nền giáo dục truyền thống Tây Tạng đã thay đổi. Nhờ đó, 40 năm dài đăng đẳng còn lại 17 năm. So với tiến sĩ của phương Tây chỉ mất trung bình 8 năm (4 năm cử nhân, 2 năm thạc sĩ và 2 năm tiến sĩ), chương trình Geshe của Tây Tạng vẫn quá dài và lâu. Dù sao, chương trình cải cách của đức Dalai Lama là đáng trân trọng, thể hiện nhu cầu thích ứng giáo dục Phật học của Tây Tạng với nền giáo dục chung trên thế giới.

Tại các nước theo Phật giáo Nam tông như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Campuchia, chương trình Phật học chỉ bắt đầu từ cử nhân (4 năm). Từ lớp 1 đến lớp 12, Tăng sĩ học chung với học sinh đời tại các trường do Bộ Giáo dục quy định, thường nằm trong khuôn viên Chùa và trong thời hiện đại độc lập với Chùa. Các Tăng sĩ không phải trải qua các chương trình Sơ đẳng, Trung cấp và Cao đẳng Phật học như ở Việt Nam. Nhờ học chung chương trình giáo dục do Bộ Giáo dục quy định, các Tăng sĩ Phật giáo Nam tôngkiến thức phổ thông vững, không phải cùng lúc hai chương trình thế học và Phật học. Tuổi trung bình một Tăng sĩ Phật  giáo Nam tông đậu bằng tiến sĩ Phật học hoặc các ngành học khác là 26 tuổi (12 năm trung học từ 7 tuổi, 4 năm cử nhân, 2 năm thạc sĩ và 2 năm tiến sĩ). Mô hình này rất phù hợp với giáo dục cộng thông dành cho người đời.

Tại Hoa Kỳ, Canada, châu Âu và châu Úc, chương trình Phật học thường bắt đầu từ Tiến sĩ. Mấy chục năm trở lại đây, chương trình Phật học bắt đầu từ Thạc sĩ. Cả hai chương trình vừa nêu đều không bắt buộc sinh viên phải trải qua Cử nhân Phật học như các ngành học thông thường khác. Chỉ với thời gian đào tạo 2 năm tiến sĩ, hoặc 4 năm từ thạc sĩ đến tiến sĩ Phật học, chương trình đào tạo tại phương Tây vẫn đảm bảo chất lượng đào tạo. Các thạc sĩtiến sĩ Phật học ra trường ở các nước tiên tiến phương Tây đã trở thành các học giả Phật học lỗi lạc trên thế giới, trước tác và dịch thuật nhiều tác phẩm Phật họcgiá trị.

Trong truyền thống Phật học Tây Tạng, có ít ác vị Geshe có năng lực trước tác các tác phẩm Phật học có tầm vóc quốc tế như các học giả phương Tây tại các trường nổi tiếng. Nói cách khác, chất lượng đào tạo Phật học không bị lệ thuộc vào thời gian quá dài lâu như trong mô hình giáo dục truyền thống tại Tây Tạng, từ 20-40 năm!

Nếu lấy giáo dục Phật học tại Tây Tạng (vốn có tính đặc thù như ở Việt Nam) làm quy chiếu so sánh, ta thử đặt ra câu hỏi: “Có cần cải cách hệ thống giáo dục của GHPGVN hay không?” Câu trả lời theo tôi là rất cần thiếtcấp bách. Sau đây là vài ý kiến ban đầu về cải cách giáo dục Phật học tại Việt Nam.

III. CẢI CÁCH GIÁO DỤC PHẬT HỌC TẠI VIỆT NAM

1. Các cấp học trong nền giáo dục GHPGVN

Nền giáo dục của GHPGVN hiện nay gồm có các cấp học sau đây:

a) Giáo dục Sơ cấp Phật học: Trung bình 2 năm, chủ yếu được áp dụng tại TP.HCM và một số tỉnh miền Tây. Miền Bắc và miền Trung không bắt buộc các Sa-di và Sa-di-ni phải học chương trình học này.

b) Giáo dục Trung cấp Phật học: Trung bình 4 năm, được áp dụng bắt buộc trên toàn quốc. Hiện tại có 33 trường Trung cấp Phật học. Đây được xem là điều kiện tiên quyết để được dự thi vào các lớp Cao đẳng hoặc Cử nhân Phật học tại 3 HVPGVN ở Hà Nội, Huế và TP.HCM.

c) Giáo dục đại học và sau đại học Phật giáo (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ Cao đẳng (2-3 năm), Cử nhân (4 năm), Thạc sĩ (2 năm) và Tiến sĩ Phật học (2-5 năm).

Từ năm 1984 đến nay, tuyển sinh tại các trường Phật học dựa vào tổng thời gian của toàn khóa hòa. Sơ cấp 2 năm một lần. Trung cấp 4 năm một lần. Cao đẳng 2-3 năm một lần. Cử nhân 4 năm một lần. Riêng tại HVPGVN tại TP.HCM từ khóa VI (2006-2010), tuyển sinh 2 năm một lần. Chương trình thạc sĩ Phật học chỉ có tại HVPGVN tại TP.HCM, tuyển sinh mỗi năm một lần. Cho đến nay (2012) chưa có HVPGVN nào được cho phép đào tạo Tiến sĩ Phật học.

2. Ưu điểm và khuyết điểm của hệ thống giáo dục Phật giáo tại Việt Nam

Có thể khẳng định đây là mô hình đào tạo Phật học mang tính đặc thù của PGVN trong mấy thập niên trở lại đây. Mô hình giáo dục Phật học này có những điểm ưu và khuyết sau đây:

a) Ưu điểm lớn nhất của mô hình giáo dục này là dựa vào thời điểm xuất gia, bất luận tuổi tác nhỏ, trung niên hay lão niên, Tăng Ni sinh được đào tạo Phật học nên nắm vững Phật pháp để thực tập chuyển hóa và làm đạo ở mức độ đơn giản.

b) Kiến thức phổ thông không vững: Do quy định kế thừa giữa các cấp học (từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và đại học), các vị xuất gia ở tuổi thiếu niên sẽ không thể học song song hai chương trình giáo dục phổ thônggiáo dục Phật học cùng một lúc. Điều này đã dẫn đến tình trạng phần lớn các Tăng Ni Việt Nam xuất gia từ nhỏ phải học bổ túc văn hóa (vốn chỉ có ở Việt Nam), thay vì phải theo học các trường phổ thông thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo để có chất lượng kiến thức cao hơn. Do vì phải học bổ túc lớp 12 ban đêm song song với chương trình Sơ cấp hay Trung cấp Phật học (Tăng buổi sáng, Ni buổi chiều), Tăng Ni phần lớn không có kiến thức thế học vững vàng như các học sinh tốt nghiệp 12 theo hệ chính quy. Kết quả là năng lực tiếp thu Phật pháp tại các trường lớp Phật học cũng bị những giới hạn nhất định.

Khi đậu các kỳ thi tuyển cử nhân Phật học tại các HVPGVN, phần lớn các Tăng Ni sinh có bằng 12 hệ bổ túc văn hóa khó theo kịp chương trình tín chỉ, nên phải học vất vã hơn các Tăng Ni sinh tốt nghiệp 12 hệ chính quy, đi tu muộn hơn. Nói cách khác, kiến thức phổ thôngkiến thức nền mà không vững thì khi lên học ở cấp Cử nhân trở nên, sinh viên gặp nhiều trở ngại và khó đậu điểm giỏi tại các kỳ thi giữa kỳ và cuối mùa học.

c) Thời gian đào tạo quá dài lâu: Theo mô hình giáo dục của GHPGVN hiện tại, để có được một tiến sĩ Phật học, ta phải mất trung bình 16 năm (2 năm sơ cấp, 4 năm trung cấp, 2 năm cao đẳng, 4 năm cử nhân, 2 năm thạc sĩ và 2-5 năm tiến sĩ), tính từ lớp 12 (nếu cộng sơ cấp Phật học vào) và khoảng 14 năm nếu không tính sơ cấp Phật học (như ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam). So với hệ thống giáo dục Phật học tại các nước Nam tông, Việt Nam được xem là bị tụt hậu. So với các nước tiên tiến về giáo dục, ta phải mất gấp đôi thời gian mới đào tạo được 1 tiến sĩ Phật học. Phần lớn để có được tiến sĩ Phật học, Tăng Ni Việt Nam đã đến tuổi U40, U50, nên ít nhiều ảnh hưởng đến năng lựchiệu quả Phật sự, ngay cả trong ngành giáo dục Phật học cũng không phải là ngoại lệ.

d) Bảo hòa kiến thức do học trùng: Vì trải dài chương trình đào tạo quá nhiều năm như nêu trên, chương trình đào tạo Phật học của GHPGVN hiện tại không thể không bị trùaijgiuw giữa các cấp học. Dù có được đào tạo theo mô hình “lớp nhỏ với kiến thức phổ thông và lớp lớn với kiến thức nâng cao”, các Tăng Ni sinh theo học trình tự từ thấp đến cao không thể không bị rơi vào cảm giác “đã biết rồi” (mà trên thực tế thì biết chẳng sâu) nên dẫn đến tình trạng “bị bão hòa”, không thể tiếp thu cái mới được nữa. Điều này dẫn đến tình trạng ỷ lại trong học tập nên kết quả học tập không cao như mong đợi.

3. Tiêu chí cải cách giáo dục Phật học tại Việt Nam

a) Tính hệ thống: Chương trình giáo dục Phật học tại Việt Nam theo chương trình cải cách cần đảm bảo tính hệ thống, từ thấp đến cao, kế thừa giữa các cấp học, các trình độ đào tạo, theo đó,  phải bảo đảm tính phương pháp đào tạo, tính thống nhất về nội dung giảng dạy, tính thiết thực hiện tại nhằm khẳng định Phật giáo là nguồn trị liệu khổ đau có hiệu quả của nhân loại.

b) Tính giáo khoa: Để đảm bảo được chất lượng đào tạo, kiến thức và kỹ năng cho người học, các chương trình giáo dục Phật học ở các cấp học phải được cụ thể hóa thành “sách giáo khoa” đối với giáo dục Sơ cấp Phật học và Trung cấp Phật học, hoặc “giáo trình và tài liệu giảng dạy” ở giáo dục đại học Phật giáo. Sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy tại các cấp học thuộc giáo dục Phật giáo Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu về nguyên lý, tính hệ thống, và phương pháp giáo dục.

c) Tính phương pháp: Giáo dục Phật giáo phải phù hợp với đặc điểm của từng môn học; phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức Phật pháp vào thực tiễn hành trì; giúp Tăng Ni sinh tinh tấnthành công trong tu họchiện tạilàm Phật sự về sau.

d) Tính tương tục thời gian đào tạo: Hiện nay, chương trình giáo dục Phật học được tổ chức thực hiện theo khóa học 2 năm một lần đối với Sơ cấp Phật học, 4 năm một lần đối với Trung cấp Phật học; 2-3 năm một lần đối với Cao đẳng Phật học; 4 năm một lần Cử nhân Phật học.

Tính tương tục hằng năm trong đào tạo Phật học sẽ đảm bảo được chất lượng đào tạo và đầu ra. Để đảm bảo tính liên tục, các trường Phật nên tiến đến mô hình đào tạo 2 năm/ 1 lần, sau đó, mỗi năm một lần. Hiện tại, HVPGVN tại TP.HCM đang đi đầu về mô hình này, tổ chức tuyển sinh Cử nhân Phật học 2 năm/ lần và Thạc sĩ Phật học mỗi năm/ lần.

e) Tính liên thông: Giữa các chương trình và cấp học ở các trường Phật học và các HVPGVN, cần có sự liên thông trong đào tạo Phật học. Theo mô hình đào tạo liên thông, Tăng Ni sinh tốt nghiệp Cao đẳng Phật học tại các trường Cao đẳng Phật học ở các tỉnh thành không phải học năm 1-2 của chương trình Cử nhân ở các HVPGVN, mà được học thẳng từ năm thứ 3 Cử nhân Phật học. Để đảm bảo kiến thức sàn, Tăng Ni sinh học chương trình liên thông phải bổ túc một số môn học bắt buộc tùy theo quy định của từng HVPGVN. Với mô hình này, Tăng Ni sinh tốt nghiệp Cao đẳng Phật học không phải mất 2 năm như trước đây. Đây là mô hình được bộ Giáo dục và Đào tạo áp dụng đối với các Cao đẳng và Đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo trong nhiều năm qua.

f) Tính hiện đại: Nhằm cập nhật cho người học các kiến thức mới và các khám phá mới trong ngành Phật học trên toàn cầu, các môn học và nội dung môn học trong các trường Phật học cần được cập nhật, chỉnh lý, bổ sung, theo hướng hiện đại, toàn diện và có hệ thống.

g) Quy định về đào tạo liên tỉnh hoặc khu vực

Các trường Phật học trực thuộc GHPGVN về bản chất nên là các trường đào tạo theo mô hình liên tỉnh hoặc khu vực. Để đảm bảo chất lượng đào tạo Phật học, duy trì tính liên tục hằng năm và bền vững trong đào tạo, các Ban Trị sự tỉnh thành hội Phật giáo lân cận trong một khu vực liên kết thành lập một trường Trung cấp Phật học, trường Cao đẳng Phật học cho các Tăng Ni sinh trong khu vực của mình. Nếu chính sách này được áp dụng, các Ban Trị sự Phật giáo tỉnh thành sẽ tiết kiệm được ngân sách đầu tư giáo dục ở tỉnh mình.

h) Ngôn nggiảng dạy: Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong các trường Phật học và cơ sở giáo dục Phật giáo khác. Tùy theo mục tiêu giáo dụcyêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục ở cấp Cử nhân tại các HVPGVN, Ban Giáo dục Tăng Ni TW cho phép việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài, như khoa Tiếng Anh Phật pháp (Dharma English Department) và khoa Tiếng Trung Phật pháp (Dharma Chinese Department) đang được áp dụng từ năm 2010 tại HVPGVN tại TP.HCM.

Nhằm giúp Tăng Ni sinh có khả năng sử dụng và phân tích văn bản, cổ ngữ quy định trong chương trình giáo dục Phật học nên bao gồm Pali, Sanskrit, Tạng ngữ và Hán ngữ. Ngoài ra, tại các cấp Phật học, tiếng Anh Phật pháp nên được đào tạo nhằm giúp Tăng Ni có thể sử dụng ngôn ngữ thông dụng này tiếp cận các nguồn tài liệu mới được khám phácông bố trên thế giới dưới hình thức sách thư viện và online.

4. Cải cách giáo dc phthông Phật học

a) Giáo dc Sơ cấp Phật học: Thời gian học là 1 năm. Đối tượng: Người tập sự xuất gia, các Sa-di, Sa-di-ni và Thức-xoa-ma-na-ni, bất luận tuổi tác. Bản chất chương trình: Không bắt buộc, nhằm giúp người mới xuất gia ở các địa phương mà trường Trung cấp Phật học đã khai giảng rồi, có được cơ hội học Phật, bồi dưỡng chính tín trong nhưng năm tháng mới đi tu.

b) Giáo dc Trung cấp Phật học: Thời gian học là 2 năm (thay vì 4 năm như hiện nay). Đối tượng: Các Sa-di, Sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na-ni và Tăng Ni trẻ. Bản chất chương trình: Bắt buộc đối với Sa-di muốn thọ giới Tỳ-kheo và Sa-di-ni muốn thọ giới Thức-xoa và Thức-xoa muốn thọ giới Tỳ-kheo-ni. Đây cũng là điều kiện tuyển sinh vào Cao đẳng hay Cử nhân Phật học tại các HVPGVN.

c) Yêu cầu căn bản của giáo dục phổ thông Phật học: Giúp cho Tăng Ni sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về cuộc đời đức Phật, tinh hoa triết lý Phật giáo, các trường phái và tông phái đạo Phật, các hành trì căn bản về giới định huệ, các kiến thức về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên tương đương với trình độ Trung học phổ thông, pháp luật, tin học, ngoại ngữ và cổ ngữ Phật giáo.

d) Thống nhất chương trình và sách giáo khoa: Để đạt được mục tiêu giáo dục phổ thông Phật giáophạm vi toàn quốc, Ban Giáo dục Tăng Ni TW cần thống nhất chương trình đào tạo Sơ cấp Phật học, Trung cấp Phật học và Cao đẳng Phật học trên phạm vi toàn quốc. Các trường này nên dạy cùng chương trình, môn học, thi cùng đề trong cùng thời điểm tại các địa điểm khác nhau.

Mỗi cấp học và niên học đều có sách giáo khoa, nhằm cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức Phật học, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông, giúp cho giảng viên Phật học thống nhất nội dung giảng dạy và giúp cho người học dễ dàng nghiên cứu bài trước tại Chùa, theo dõi bài trên lớp và đảm bảo kết quả tốt trong giảng dạy và học tập.

e) Dự thảo chương trình Trung cấp Phật học cải cách

NĂM THỨ NHẤT, HỌC KỲ I

 

MÔN HỌC

SÁCH GIÁO KHOA

1

Phật và Thánh chúng

HT. Thích Minh Tuệ

2

Phật học căn bản

Phật học cơ bản 1 do Ban Hoằng pháp TƯ soạn

3

Kinh Pháp cú

Thiện Nhựt soạn

4

Tịnh độThiền học thực hành

Tịnh độ thập yếu của HT. Thích Thiền TâmHành thiền của HT. Thích Minh Châu

5

Việt văn

- Việt văn lớp 11 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

6

Hán văn Phật pháp/

Anh văn Phật pháp

- Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư

- Sangha Talk do Trần Phương Lan soạn

NĂM THỨ NHẤT, HỌC KỲ II

 

MÔN HỌC

SÁCH GIÁO KHOA

1

Lược sử Phật giáo Ấn Độ

HT. Thích Thanh Kiểm soạn

2

Kinh Na-tiên Tỳ-kheo

Cao Hữu Đính soạn dịch

3

Oai nghi xuất gia

HT. Thích Trí Quang dịch chú

4

Phát bồ đề tâm văn

HT. Thích Trí Quang dịch chú

5

Việt văn

- Sách Việt văn lớp 12 của Bộ GD va ĐT

6

Hán văn Phật pháp/

Anh văn Phật pháp

- Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư

- Sangha Talk do Trần Phương Lan soạn

 NĂM THỨ HAI, HỌC KỲ I

 

MÔN HỌC

SÁCH GIÁO KHOA

1

Lược sử Phật giáo Việt Nam

HT. Thích Minh Tuệ soạn dịch

2

Nhị khóa hiệp giải

HT. Thích Hành Trụ dịch

3

Kinh Bát đại nhân giác

TT. Thích Viên Giác soạn dịch

4

Quy Sơn cảnh sách

Kim Đài dịch giải

5

Luận Bách pháp minh môn

HT. Thích Thiện Nhơn

6

Hán văn Phật pháp/

Anh văn Phật pháp

- Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư

- Sangha Talk do Trần Phương Lan soạn

NĂM THỨ HAI, HỌC KỲ II

 

MÔN HỌC

SÁCH GIÁO KHOA

1

Kinh Tứ thập Nhị chương

TT. Thích Nhật Từ dịch giải

2

Kinh Hiền Nhân

HT. Thích Hành Trụ dịch

3

Duy thức tam thập tụng

HT. Thích Từ Thông soạn dịch

4

Văn học Phật giáo Việt Nam

TT. Thích Phước Đạt soạn dịch

5

Kinh Di giáo

TT. Thích Viên Giác soạn

6

Hán văn Phật pháp/

Anh văn Phật pháp

- Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư

- Sangha Talk do Trần Phương Lan soạn

 

5) Dự thảo chương chương trình Cao đẳng Phật học cải cách

a) Mô hình Cao đẳng: Có hai chương trình cao đẳng Phật học. Chương trình 1: Thi tuyển và học 2 năm đầu tại các HVPGVN hoặc theo chương trình của các HVPGVN. Nếu không có nhu cầu học tiếp, các Tăng Ni sinh làm luận văn tốt nghiệp. Chương trình 2: Thi tuyển và học theo chương trình do Ban Giáo dục Tăng Ni TW quy định.

b) Thời gian học: Chương trình học chính quy là 2 năm, gồm 4 học kỳ. Mỗi học kỳ học 6 môn, trong đó, môn ngoại ngữ có thể lựa chọn hoặc Hán văn Phật pháp hoặc Anh văn Phật pháp. Mỗi môn học 45 tiết và hoàn tất trong một học kỳ, ngoại trừ các môn Hán văn Phật pháp và Anh văn Phật pháp.

c) Cấu trúc chương trình: Gồm ba khối kiến thức sau đây:

c.1. Khối kiến thức chung

  1. Tiếng Việt thực hành (bắt buộc)
  2. Lịch sử Việt Nam (bắt buộc)/
  3. Lịch sử Văn học Việt Nam
  4. Triết học Mác Lê-nin (bắt buộc)
  5. Lịch sử tôn giáo thế giới
  6. Hán ngữ (4 học kỳ)
  7. Anh ngữ (2 học kỳ)

c.2. Khối kiến thức cơ sở Phật học

  1. Cương yếu Phật học
  2. Đại cương văn học Hán
  3. Đại cương giới luật Phật giáo
  4. Đại cương thiền học Phật giáo
  5. Văn học Phật giáo Việt Nam
  6. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ
  7. Lịch sử Phật giáo Việt Nam
  8. Lịch sử Phật giáo Trung Quốc

c.3. Khối kiến thức chuyên ngành Phật học

  1. Tư tưởng Trung bộ Kinh/ Trung A-hàm
  2. Tư tưởng Trường bộ Kinh/ Trường A-hàm
  3. Kinh Pháp Hoa
  4. Kinh Kim Cang
  5. Thắng pháp tập yếu luận
  6. Trung Quán luận

d) Chương trình Cao đẳng Phật học dự kiến

NĂM THỨ NHẤT, HỌC KỲ I

 

MÔN HỌC

SÁCH GIÁO KHOA

1

Cương yếu Phật học

Phật học khái luận của HT. Thích Chơn Thiện

2

Lịch sử Phật giáo Ấn Độ

TT. Thích Viên Trí

3

Đại cương giới luật Phật giáo

Luật học cương yếu của HT. Thánh Nghiêm

4

Lịch sử Việt Nam

Sách giáo khoa của Bộ GD và ĐT

5

Tiếng Việt thực hành

Giáo án HVPGVN tại TP.HCM

6

Hán văn/ Anh văn Phật pháp

Giáo án HVPGVN tại TP.HCM

 

NĂM THỨ NHẤT, HỌC KỲ II

 

MÔN HỌC

SÁCH GIÁO KHOA

1

Đại tạng kinh Phật giáo TQ

Giáo án HVPGVN tại TP.HCM

2

Đại cương thiền học Phật giáo

Giáo án HVPGVN tại TP.HCM

3

Lịch sử Phật giáo Việt Nam

Lê Mạnh Thát

4

Văn học Việt Nam

Giáo án của Bộ GD và ĐT

5

Triết học Mác Lê-nin

Giáo án của Bộ GD và ĐT

6

Hán văn/ Anh văn Phật pháp

Giáo án HVPGVN tại TP.HCM

 

NĂM THỨ HAI, HỌC KỲ I

 

MÔN HỌC

SÁCH GIÁO KHOA

1

Tư tưởng Trung bộ Kinh/ A-hàm

HT. Thích Chơn Thiện soạn

2

Tư tưởng Kinh Kim Cang

HT. Thích Chơn Thiện soạn

3

Thắng pháp tập yếu luận

HT. Thích Minh Châu dịch

4

Văn học Phật giáo Lý Trần

TT. Thích Phước Đạt soạn

5

Lịch sử tôn giáo thế giới

Mười tôn giáo lớn trên thế giới của Hoàng Tâm Xuyên, NXB. Chính trị Quốc gia

6

Hán văn/ Anh văn Phật pháp

Giáo án HVPGVN tại TP.HCM

 

NĂM THỨ HAI, HỌC KỲ II

 

MÔN HỌC

SÁCH GIÁO KHOA

1

Tư tưởng Kinh Trường Bộ

HT. Thích Minh Châu dịch

2

Tư tưởng Kinh Pháp Hoa

HT. Thích Trí Quảng

3

Trung Quán luận

Giáo án HVPGVN tại TP.HCM

4

Lịch sử Phật giáo Trung Quốc

TT. Thích Viên trí

5

Văn học PGVN hiện đại

TT. Thích Phước Đạt soạn

6

Hán văn/ Anh văn Phật pháp

Giáo án HVPGVN tại TP.HCM

6) Cải cách giáo dc đại hc Phật giáo

a) Các cấp và thời gian đào tạo

a1. Cao đẳng Phật học: Từ hai đến ba năm, đối với Tăng Ni sinh tốt nghiệp Trung cấp Phật học.   

a2. Cử nhân Phật học:  Bốn năm đối với Tăng Ni sinh có bằng tốt nghiệp cấp 3 và Trung cấp Phật học, hoặc từ hai năm đến hai năm rưỡi đối với người có bằng tốt nghiệp Cao đẳng Phật học, theo cơ chế đào tạo liên thông.

a3. Thạc sĩ Phật học: Từ hai năm đến ba năm học đối với người có bằng tốt nghiệp Cử nhân Phật học hoặc tương đương.

a4. Tiến sĩ Phật học: Từ hai năm đến năm năm học đối với người có bằng tốt nghiệp Thạc sĩ Phật học hoặc tương đương.

b) Phương pháp đào tạo: Phương pháp đào tạo trình độ đại học Phật giáo coi trọng kiến thức phương pháp luận, ý thức tự giác học tập, rèn luyện thói quen nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy sáng tạo, nhằm giúp Tăng Ni sinh viên trở thành các nhà nghiên cứu giỏi, ứng dụng hành trì giỏi và dấn thân làm Phật sựhiệu quả.

c) Quy định về chương trình khung: Các trường Cao đẳng Phật học độc lập ở các tỉn thành hoặc các HVPGVN cần tuân thủ chương trình khung do Ban Giáo dục Tăng Ni TW quy định cho từng ngành đào tạo đối với trình độ Cao đẳng Phật học, Cử nhân Phật học, Thạc sĩ Phật họcTiến sĩ Phật học, bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học. Căn cứ vào chương trình khung nêu trên, các Trường cao đẳng Phật học và các HVPGVN có thể gia giảm tối đa 20% các môn học cho phù hợp và mang tính đặc thù của trường mình.

d) Chương trình đào tạo: Hai năm đầu có 80-90% giống với chương trình Cao đẳng Phật học nêu trên. Năm thứ 3 và thứ 4 có thể đào tạo theo chuyên khoa, bao gồm: khoa bao gồm:1) Khoa Pāli (Department of Pāli), 2) Khoa Phạn Tạng  (Department of Buddhist Sanskrit and Tibetan Studies), 3) Khoa Phật học Trung Quốc (Department of Chinese  Buddhism), 4) Khoa Phật giáo Việt Nam (Department of Vietnammese Buddhism), 5) Khoa Lịch sử Phật giáo (Department of History of Buddhism), 6) Khoa Triết học Phật giáo (Department of Buddhist Philosophy), 7) Khoa Phật học tiếng Anh (Department of Dharma English) và 8) Khoa Phật học tiếng Trung (Department of Buddhist Chinese) và 9) Khoa hoằng pháp (Department of Dharma Propagation) và 10) Khoa đào tạo từ xa (Department of Distance Learning). Các HVPGVN nào không đủ giảng viên để mở các khoa độc lập thì có thể chọn khoa Triết học Phật giáo làm nội dung của năm thứ 3 và thứ 4.

***

Nói tóm lại, phác họa trên đây chỉ mang tính gợi ý, chưa đi chuyên sâu vào việc phân tích các lý do cải cách hệ thống giáo dục Phật học tại Việt Nam một cách có hệ thốngtoàn diện. Tôi tin tưởng rằng chương trình cải cách giáo dục Phật học tại Việt Nam trong bối giáo dục hiện đại, khi thực hiện được, sẽ góp phần không nhỏ trong việc mang lại một bộ mặt mới cho nền giáo dục Phật học Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa về giáo dục hiện nay.

Ngày 27-4-2012

TNT


[1] Tham khảo chi tiết tại địa chỉ sau đây:http://www.berzinarchives.com/web/en/archives

[2] Geshe (Tib. dge bshes, viết đủ là dge-ba'i bshes-gnyen, có nghĩa đen là “thiện hữu” vốn dịch từ chữ kalyāņamitra trong Sanskrit, có nghĩa là “thiện hữu tri thức”) là bằng cấp Phật học cao nhất của Tây Tạng.

3. Rinpoche II, Tsenzhab Serkong; Berzin, Alexander (translator). "Overview of the Gelug Monastic Education System". The Berzin Archives, translated and compiled by Alexander Berzin, September 2003: http://www.berzinarchives.com/web/en/archives

[4] Nguyên văn như sau: "Outside the monastery, there was no school. There was no education except for Buddhist studies, and there was no teachers except lama teachers." Trích từ  trang Web của Bộ Ngoại giao, chính phủ Trung Quốc, tại địa chỉ sau đây: http://www.fmprc.gov.cn/eng/ljzg/3585/3586/3588/3589/t17939.htm

[5] Như trang web đã dẫn ở trên.

[6] Ngũ minh, năm ngành học tại Ấn Độ cổ gồm: a) Y phương minh (Cikitsvidya) tức Y học, b) Công xảo minh  (Silpakarmasthanavidya) tức Nghệ thuật và Công nghệ, c) Thanh minh (Sabdavidya—Thanh minh) tức ngôn ngữ Tây Tạng và ngữ pháp, d) Nhân minh (Hetuvidya) tức Logic Phật giáo, và e) Nội minh (Adhyatmavidya) tức kinh điển Phật giáo.

[7] Từ lớp 4 đến lớp 8, học sinh phải học thêm 3 môn Phật pháp. Đến lớp 5, học sinh phải học thêm môn các chuyên đề Phật học (bsdus-grva, dura), học kỷ năng tranh biện và các cách nhận thức (blo-rig, lorig). Từ lớp 6 đến lớp 8, học sinh học về logic (rtags-rig, tarig).

Tạo bài viết
01/04/2012(Xem: 15186)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!