Được sanh hay bị sanh?

25/12/20202:55 CH(Xem: 3370)
Được sanh hay bị sanh?

ĐƯỢC SANH HAY BỊ SANH
Sakya Sông Lam

 

MỞ ĐẦU

hoa senKhi tôi viết một số bài viết có dùng chữ "bị sanh" thì có một số người tỏ vẻ không đồng ý, khó chịu, vì như vậy là bất hiếu, không nhớ đến công ơn sinh thành của cha mẹ. Họ đã không hiểu được ý nghĩa sâu xa của chữ "bị sanh" mà tôi đang dùng.

      Tôi chưa bao giờ phủ nhận công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ (cha mẹ hiểu theo nghĩa thông thường của thế gian, là 2 con người hiện hữu bằng xương bằng thịt). Vì họ là những người đã có công mang nặng đẻ đau, rồi lại chăm sóc, nuôi dưỡng, chở che để mỗi người chúng ta mới lớn khôn được. Công ơn đó không gì có thể so sánh được, đền đáp được. Đức Phật cũng dạy mỗi người con phải nhớ đến công ơn to lớn của cha mẹ và cách đền đáp công ơn đó:

      "...Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này.

      Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha..."

(Trích Phẩm Tâm thăng bằng, Chương II - Hai pháp, Tăng Chi Bộ kinh - Anguttara Nikaya, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

       Vì vậy, đối với các đấng sinh thànhdưỡng dục, tôi luôn tôn kính họ và luôn mong muốn hướng dẫn họ đi vào con đường tu tập để giảm bớt khổ trong cuộc sống, nhưng không phải cứ muốn là được, vì để hiểu và chứng ngộ được chân lý mà các bậc thánh đã giác ngộ (Tứ Thánh Đế) là điều không phải ai cũng làm được, nó chỉ dành cho một số rất ít người trí mà thôi.

I - ĐƯỢC SANH VÀ BỊ SANH

      Tại sao trong các bài viết tôi lại dùng chữ "bị sanh" mà không dùng từ "được sanh", khiến những người khác tỏ ý không hài lòng và phản đối? "Bị sanh" hay "được sanh" thì cũng chỉ là pháp chế định, là ngôn từ quy ước để truyền tải một nội dung cụ thể, nhưng dù là pháp chế định cũng phải dùng cho chính xác từ để tránh sự hiểu nhầm cho người đọc. "Bị sanh" hay "được sanh" thì cũng đều là những từ ngữ mang tính bị động, không phải chủ động. Chữ "bị" mang tính tiêu cực, ý chỉ điều không mong muốn, điều tồi tệ, mang đến sự bất ansầu khổ...  xảy ra đối với một người, còn chữ "được" thì ngược lại, nó mang ý nghĩa tích cực, là một điều xảy ra mà đối tượng thọ nhận mong đợi, hoan hỷ, thích thúmang đến sự an vui.

      Vậy thì sự ra đời của một con người sự thật thì đáng hoan hỷ hay không đáng hoan hỷ?

      Cả nhân loại này, ai cũng vậy (chỉ trừ các bậc giác ngộ) vì Vô minhTham ái, cụ thể ở đây là Tham ái đối với sự sống, sự hiện hữu (Hữu ái) mà không hiểu đúng sự thật về Khổ và Nguyên nhân của Khổ, nên ai cũng đề cao sự sống, ca ngợi sự sống, ca ngợi sự mầu nhiệm, sự diệu kỳ của sự sống, sự hiện hữu. Ai ai cũng khao khát sống, mong muốn sống, hoan hỷ đối với sự sống. Đối với họ thì sự ra đời của một con người là cao quý, là đáng được hoan hỷ, còn cái chết đối với họ là một bi kịch khủng khiếp, kinh hoàng không gì bằng, là sự đau khổ tột cùng, là điều đáng để sợ hãi. Chính trong sự hiểu biết đó đã có sự mâu thuẫn, sự mâu thuẫn rõ ràng nhưng ít người có thể nhận ra, đó là: đã sinh ra là phải chết đi, làm gì có ai, có sự vật hiện tượng nào là trường cửu, là tồn tại mãi mãi. Vậy thì sự sinh ra và sự chết đi có gì khác nhau đâu, có gì đáng tiếc nuối và buồn phiền đâu khi phải chết đi?

      Như bài trước tôi đã viết "Còn hiện hữu là còn Khổ", với những ai có chánh trí tuệ, hiểu rõ đúng sự thật về Khổ và Nguyên nhân của Khổ thì đều công nhận điều đó. Chính vì vậy mục đích của sự tu học theo giáo pháp của Đức Phật là nhằm chấm dứt sự luân hồi tái sinh, chấm dứt sự hiện hữu. Hãy đọc và nghiền ngẫm đoạn kinh sau:

      "... Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Cha sung sướng vì con,
Người chăn sướng vì bò,
Người sướng vì sanh y,
Không sanh y, không sướng.
(Thế Tôn):

Cha sầu vì con cái,
Người chăn sầu vì bò,
Người sầu vì sanh y,
Không sanh y, không sầu.

Rồi Ác ma biết rằng: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", liền biến mất tại chỗ."

(Trích Tương Ưng Bộ - Samyutta Nikaya, Tập I - Thiên Có Kệ, [04] Chương IV - Tương Ưng Ác Ma, Kinh Hoan Hỷ (S.i,107), Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

     Đoạn kinh trên cần phải được hiểu theo nghĩa ẩn dụ, nhân vật Ác ma không phải là một phi nhân, một hóa sanh nào, một con ma nào, hay một ma quân từ cõi Dạ ma thiên nào...  mà đó chính là những tà kiến, những hiểu biết vô minh, không đúng sự thật. Còn Thế Tôn chính là đại diện cho chánh kiến, là trí tuệ, là minh, là hiểu biết đúng sự thật, chính là chân lý tối thượng về sự sanh y, sự hiện hữu.

      Như vậy, phải sinh ra là điều mà bậc trí không bao giờ hoan hỷ cả.

      Vậy thì nên oán thán cha mẹ vì họ đã sinh ra con cái à? Đó lại là một cực đoan, là một tà kiến, một sự nhìn nhận mê lầm tai hại. Tại sao lại như vậy?

      Trước hết phải như thật rõ biết cơ chế sinh ra một con người là như thế nào.

II - SỰ RA ĐỜI CỦA MỘT CON NGƯỜI

      Sự hiểu biết của nhân loại hiện nay, kể cả khoa học hiện đại đều công nhận rằng một con người ra đời là gồm 2 yếu tố là cha và mẹ kết hợp. Điều đó có chính xác không? Nếu chỉ có 2 yếu tố đó mà ra đời một con người thì thuyết luân hồi tái sanh là không đúng sự thật, nó đã phủ nhận việc luân hồi tái sanh. Theo khoa học, một con người ra đời theo cơ chế là tinh trùng của người cha kết hợp với trứng của người mẹ mà thành hợp tử, hợp tử đó được nuôi lớn bởi các dưỡng chất trong tử cung người mẹ mà phát triển thành bào thai, bào thai lớn lên và phát triển thành hình hài một con người, rồi trải qua 9 tháng 10 ngày mà đứa trẻ được ra đời trở thành một con người mới. Nhưng hiểu biết đó là chưa đúng sự thật, bởi vì nếu đứa bé ra đời chỉ do 2 yếu tố là cha và mẹ thì nhất định phải giống cha hoặc giống mẹ hoặc giống cả hai người. Mà sự thật thì không phải vậy, có rất nhiều những đứa trẻ sinh ra không hề có một nét nào giống cha hoặc mẹ (cũng chẳng giống ông hàng xóm). Điều này cần phải nghi ngờ để đưa đến hiểu biết đúng sự thật.

      Trong kinh Nikaya cũng có đề cập đến việc Đức Phật nói đến cơ chế hình thành một bào thai như sau:

      "Này các Tỷ-kheo, có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình: ở đây, cha mẹ có giao hợp và người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Và này các Tỷ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấmhiện tiền; có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình."

(Trích Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya, Kinh số 38 - Đại kinh Đoạn tận ái (Mahàtanhàsankhaya sutta), Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

      Như vậy thì sự hình thành một bào thai không chỉ có cha và mẹ mà còn phải có "hương ấm". Điều cần phải làm rõ ở đây là "hương ấm" là cái gì? Đức Phật cũng không hề giải thích một từ nào về "hương ấm", bởi vì thời Đức Phật tại thế thì khoa học chưa phát triển (hầu như bằng không) nên thời đó ngôn ngữ chưa đủ để giải thích cho mọi người hiểu được rõ ràng. Để biết được "hương ấm" là gì và sự hình thành "hương ấm" như thế nào, cần phải quay lại tìm hiểu về Thập nhị nhân duyên. Kinh viết về 12 nhân duyên thế này:

      "Này các Tỷ-kheo, thế nào là lý Duyên khởi? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tập khởi."

(Trích Tương Ưng Bộ - Samyutta Nikaya, Tập II - Thiên Nhân Duyên, [12] Chương I - Tương Ưng Nhân Duyên (a), Phẩm Phật Đà, Thuyết Pháp -- (Tạp 12.16, Đại 2,85a) (S.ii,1), Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

       Như vậy, trong chuỗi 12 nhân duyên thì Vô minh dẫn đầu, do Vô minh có mặt mà phát sinh (duyên) Hành, do Hành mà phát sinh Thức, do Thức lại phát sinh Danh sắc... Hãy xem xét 4 mắt xích đầu tiên này trong 12 mắt xích của toàn bộ chuỗi duyên khởi, điều đó nghĩa là như thế nào?

      Vô minh chính là hiểu biết không đúng sự thật về Khổ Tập Diệt Đạo, tức là không hiểu biết đúng về 4 chân lý mà bậc thánh đã giác ngộ gồm sự thật về Khổ, sự thật về nguyên nhân Khổ, sự thật về chấm dứt Khổ và sự thật về Con đường chấm dứt Khổ (Bát Chánh Đạo). Do Vô minh có mặt mà phát sinh Hành vi tìm kiếm hỷ lạc chỗ này, chỗ kia như Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái (Theo Kinh Chuyển pháp luân, Tương ưng bộ kinh), tức là Vô minh duyên Hành. Khi một người phàm phu vào lúc sắp chết (hấp hối), do tâm lý tham sống sợ chết (Hữu ái) mà phát sinh sự sợ hãi, hoảng loạn, kinh hoàng đến tột độ, lúc đó 5 nhóm tế bào thần kinh thị giác (nhãn căn), thính giác (nhĩ căn), khứu giác (tỉ căn), vị giác (thiệt căn) và xúc giác (thân căn) đã chết không còn hoạt động, chỉ còn nhóm tế bào thần kinh não bộ (ý căn) là vẫn hoạt động, vậy nên sẽ phát sinh hành vi tìm kiếm sự hiện hữu, bám víu vào sự sống mà khiến cho toàn bộ năng lượng trong cơ thể thoát ra làm phát sinh một dạng vật chất vi tế mang lưỡng tính sóng và hạt, dạng vật chất đó có khả năng sao chép toàn bộ thông tin di truyền và thông tin pháp trần được lưu giữ trong ADN của người chết, đó chính là Thức tái sanh hay còn gọi là Hóa sanh. Đó là Hành duyên Thức (tái sanh). Tiếp đó chúng sanhHóa sanh này (trong kinh chia Hóa sanh làm các nhóm gồm Chư thiên, A tu la, Ngạ quỷĐịa ngục) tùy thuộc vào nghiệp thiện ác đã gieo trong quá khứtồn tại thời gian dài hay ngắn khác nhau, có thể là vài ngày, vài năm hoặc hàng chục, hàng trăm năm thậm chí hàng ngàn năm... cho đến bao giờ nghiệp đó vận hành sinh diệt tới lúc cạn kiệt thì Hóa sanh đó tùy sự tương hợpđi vào Thai sanh hoặc Trứng sanh để hình thành một đời sống mới. Nếu Hóa sanh đó tương hợp với hợp tử trứng và tinh trùng của loài người thì nó sẽ kết hợp với hợp tử đó và hình thành bào thai, rồi bào thai đó được nuôi lớn bằng dưỡng chất trong tử cung người mẹ và dần hình thành một con người. Đó chính là Thức duyên Danh sắc. Như vậy, "hương ấm" mà Đức Phật nói trong kinh chính là một Hóa sanh đã cạn nghiệp.

      Đến đây thì chúng ta đã thấy được sự ra đời của một con người không chỉ có cha và mẹ (hợp tử trứng và tinh trùng) mà còn phải có sự nhập thai của 1 Hóa sanh đã cạn nghiệp (hương ấm) nữa. Đứa trẻ ra đời sẽ mang 4 lượng thông tin gồm thông tin di truyền của cha, thông tin di truyền của mẹ, thông tin di truyền của người chết (Hóa sanh) và thông tin pháp trần của người chết. Thế thì cha và mẹ theo như cách gọi của người đời mới chỉ là một nhân tố thôi, nhân tố còn lại là Hóa sanh nữa. Như vậy sự thật cha mẹ của chúng sanh không phải là cha mẹ mà người đời vẫn gọi, mà căn nguyên sâu xa sản sinh ra cái vòng luân hồi tái sinh, để hình thành nên một con người chính là do Vô minhHữu ái. Chính vì vậy, kinh Pháp cú mới viết:

"Sau khi giết mẹ cha,
Giết hai Vua Sát lỵ,
Giết vương quốc, quần thần
Vô ưu, phạm chí sống."

(Tiểu Bộ - Khuddhaka Nikaya, Kinh Pháp Cú,  Phẩm Tạp Lục, Pháp cú 294, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

      Mẹ cha trong câu kinh này chính là Vô minhHữu ái. Chính vì Vô minhHữu áicon người phải chịu luân hồi tái sanh để mãi chìm đắm trong khổ đau của sinh, già, bệnh, chết không bao giờ thoát ra được. Vô minh chính là hiểu biết không đúng sự thật về Tứ Thánh Đế, cũng chính là hiểu biết không đúng sự thật về Lý Duyên khởi mà đưa đến đau khổ cho chúng sanh như trong kinh Đức Phật cũng có nói:

      "Này Ananda, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy. Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja (ba-ba-la) không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử."

(Trường Bộ Kinh - Digha Nikaya, Kinh số 15. Kinh Đại duyên (Mahànidàna sutta), Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

      Đọc đến đây thì chắc là các bạn đã hiểu rằng chúng ta "bị sanh" ra chứ không phải "được sanh" ra rồi chứ?

III - KẾT LUẬN

      Nhân loạiVô minhTham ái nên vẫn luôn đề cao sự sống, sự hiện hữu, xem sự sống là nhiệm màu, là quý giá nên ai cũng ca ngợi sự sống, bảo vệ sự sống, kêu gọi phóng sinh, làm phước để được phước báu, để được khỏe mạnh, xinh đẹp, để đời sau được tái sanh tốt đẹp, đó là biểu hiện của tham, tham ái dục lạc, tham ái sự hiện hữu.

     Những chủ trương nhập thai để tái sinhkiếp sau, hay chủ trương tu để được sanh về một cõi giới Niết bàn nào đó với đầy đủ hạnh phúc... cũng chính là biểu hiện của tâm lý tham ái đối với sự sống, sự hiện hữu.

      Chính do tâm Hữu ái, yêu thích sự sống, sự hiện hữunhân loại vẫn thường bày biện ra các ngày lễ tổ chức mừng sinh nhật hay mừng thọ hàng năm.

      Những điều đó hoàn toàn đi ngược lại với giáo phápĐức Phật đã chứng ngộthuyết giảng. Các bậc giác ngộ thực sự không bao giờ như thế, mà họ ai cũng chủ trương chấm dứt sự tái sanh:

"Đêm dài cho kẻ thức,
Đường dài cho kẻ mệt,
Luân hồi dài, kẻ ngu,
Không biết chơn diệu pháp"

(Tiểu Bộ - Khuddhaka Nikaya, Kinh Pháp Cú, Phẩm kẻ ngu, pháp cú 60, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

      Vậy nên, nhân loại ai cũng bị sanh mà vẫn tìm cầu cái bị sanh, điều đó gọi là phi thánh cầu.

     Một người khi đã có hiểu biết đúng sự thật rằng còn sanh y là còn khổ, còn hiện hữu là còn khổ, hiểu được rằng là "bị sanh" chứ  không phải "được sanh", thì phải làm thế nào? Đương nhiên là phải tìm cầu cái không "bị sanh", đó gọi là thánh cầu:

     "...Thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như vậy, gọi là Thánh cầu."

(Trích Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya, Kinh số 26 - Kinh Thánh cầu (Ariyapariyesanà sutta), Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

      Từ việc hiểu đúng việc "bị sanh" như trên, khi ai đó nếu có rơi vào đau khổbất hạnh trong cuộc sống, thì cũng đừng bao giờ oán trách cha mẹ đã sinh ra mình, nếu có trách hãy trách chính mình, do mình Vô minhTham sống sợ chết (Hữu ái) từ tiền kiếp mà mình mới bị sinh ra đời ở kiếp này thôi. Đối với cha mẹ, người đó hãy nên biết ơn họ, hãy hiếu kính với họ, hãy dẫn dắt họ đi đến con đường đoạn tận Khổ đau, đoạn tận sự tái sanh trong tương lai, đoạn tận Vô minhHữu ái, vì họ là những người đã có công mang nặng đẻ đau, đã nuôi dưỡng, dạy dỗ chúng ta lớn khôn. Con đường đó chính là sự tu tập Bát Chánh Đạo nhằm mục đích để thân chứng được Bốn sự thật mà bậc thánh đã giác ngộ (Tứ Thánh Đế). Mình sẽ là người gieo duyên, tạo duyên cho họ, hướng dẫn cho họ, nhưng họ có tu tập được hay không thì cũng do duyên nghiệp của họ, không thể bắt ép được.

Hà Nội _ 26.11.2019 _ Sākya Sông Lam


Bài đọc thêm:
Bàn về chuyện tái sinh, đầu thai và cúng cơm (Tâm Diệu)


Tạo bài viết
19/10/2016(Xem: 7676)
08/08/2010(Xem: 103798)
23/08/2010(Xem: 44282)
Trí tuệ và từ bi có phải chỉ riêng nhân loại mới có? Hay là, loài vật cũng có trí tuệ và từ bi, nhưng ở mức sơ khai hơn? Cuộc nghiên cứu mới đây về heo rừng cho thấy những bất ngờ về mức độ cao của khôn ngoan và tình thương nơi một trường hợp khảo sát.
Vào ngày 24 tháng 7 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Ấn Độ Narendra Modi cho biết, tư tưởng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rất phù hợp khi nhân loại đang đối mặt với cuộc khủng hoảng bởi đại dịch Covid-19, và khẳng định rằng Ấn Độ đã chỉ ra cách đối mặt thử thách với khó khăn nhất, bằng cách tuân lời vàng ngọc của Đức Phật, người sáng lập đạo Phật.
Xin mời quý độc giả xem bản PDF thông cáo báo chí của Hội Đồng Quản-Trị GHPGVNTTG và di huấn của cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tâm Châu sau đây: