Phật thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh Giải Diễn Nghĩa

02/08/20211:00 SA(Xem: 1125)
Phật thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh Giải Diễn Nghĩa
Phật Thuyết
ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ
TRANG NGHIÊM
THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC KINH
GIẢI DIỄN NGHĨA
Quyển 1 & Quyển 2
Hòa Thượng Tịnh Không chủ giảng
Diệu Âm - Phổ Hạnh kính ghi và đúc kết
Phật lịch 2563- 2019

phat-thuyet-dai-thua-vo-luong-tho-trang-nghiem-thanh-tinh-binh-dang-giac-kinh-bia-mem (2)Kinh Vô Lượng Thọ được xem là kinh bậc nhất của Tịnh Tông, nhưng rất tiếc kinh điển quí báu thù thắng này đã bị chìm lấp trong Đại Tạng Trung Hoa đến hơn ngàn năm! Theo thuyết giảng của Hòa Thượng thượng Tịnh hạ Không cũng như lời giới thiệu của Thượng tọa Thích Giác Toàn trong “Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giản Chú Dịch Giải” (biên soạn: Pháp sư Tịnh Không; người dịch: Nguyên Trừng): từ đời Hán đến đời Tống, Kinh Vô Lượng Thọ tổng cộng có mười hai bản Hán dịch. Sau đời Tống Nguyên chỉ còn lại có năm bản Hán dịch gốc: 1. “Vô Lượng Thọ Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh” do Chi- lâu-ca-sấm đời Hậu Hán dịch. 2. “A Di Đà Kinh” do Chi Khiêm đời Ngô (thời Tam Quốc dịch). 3. “Vô Lượng Thọ Kinh” do Khương Tăng Khải đời Tào Ngụy dịch. 4. “Vô Lượng Thọ Như Lai Hội” do Bồ Đề Lưu Chí đời Đường dịch. 5. “Phật thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh” do Pháp Hiền đời Triệu Tống dịch. Theo chú giải của cụ Hoàng Niệm Tổ: Xét đến nguyên nhân, năm bản dịch gốc có nhiều chi tiết rộng, lược sai biệt khá lớn. Ví dụ về đại nguyện của đức Phật A Di Đà, trong hai bản dịch đời Đường và đời Ngụy có bốn mươi tám bản nguyện; nhưng hai bản dịch đời Ngô và Hán có hai mươi bốn, bản dịch đời Tống có ba mươi sáu bản nguyện, chứng tỏ các bản Hán dịch không phải dựa vào một Phạn bản duy nhất mà có nhiều Phạn bản khác nhau. Điều này cũng nói lên: Khi đức Phật còn tại thế giảng Kinh Vô Lượng Thọ không phải chỉ một lầnít nhất cũng phải năm, ba lần. Trong khi đó, những kinh khác Phật chỉ thuyết qua có một lần.

Năm 1883, Max Muller (người Đức) và Nam Điền Văn Hùng (người Nhật) cho xuất bản một Phạn bản Kinh Vô Lượng Thọ và Max Muller dịch ra Anh ngữ. Năm 1908, Nam Điền Văn Hùng dịch ra Nhật ngữ. Năm 1917, Địch Nguyên Vân Lai dựa theo một Phạn bản khác và một bản Tạng dịch của kinh được tìm thấy ở Nepal, đính chính Phạn bản đã công bố trước đó, rồi dịch ra Anh ngữ và Nhật ngữ.

Cũng theo chú giải của cụ Hoàng: Đối với kẻ sơ tâm học Phật, nếu chuyên trì một bản dịch thì khó bề hiểu rõ ý chỉ sâu xa. Nếu đọc cả năm bản càng gian nan! Vì vậy trước đây đa số bỏ kinh này, dồn sức vào nghiên cứu Kinh Di Đà. Đầu đời nhà Thanh, cư sĩ Bành Thiệu Thăng nói: “Kinh này ít được xiển dương thì quả thật do chúng ta thiếu cội lành”. Thật đúng như vậy! Thế nên, các đại cư sĩ Vương Nhật Hưu đời Tống, Bành Thiệu Thăng, Ngụy Thừa Quán đời Thanh đều vì hoằng dương kinh này mà mỗi vị trước sau soạn ra hội bổn và tiết bổn (hội bổn là bản hội tập các bản dịch hiện có; tiết bổn là chia bản kinh thành từng đoạn, đánh số, đặt tiểu đề).

Cư sĩ Vương Nhật Hưu đời Tống từng viết cuốn “Long thư Tịnh Độ Văn” được bốn biển khen ngợi, truyền tụng tới nay. Ông Vương khi lâm chung đứng ngay ngắn vãng sinh, đủ chứng minh cư sĩ thật là bậc hạnh giải đều ưu việt, là bậc tại gia, đại đức thù thắng hi hữu của Tịnh Tông Trung Hoa. Ông Vương tiếc nuối bảo điển bị bụi phủ, bèn hội tập bốn bản dịch các đời Hán, Ngụy, Ngô, Tống của Kinh Vô Lượng Thọ soạn thành một bản, đặt tên là Đại A Di Đà Kinh. Bản của ông Vương ra đời được cả nước khen ngợi là tiện lợi, được các tòng lâm lấy làm khóa bổn (kinh đọc tụng trong các thời khóa công phu hàng ngày) lưu truyền phổ biến còn hơn cả bản dịch gốc.

Càn Long Đại Tạng Kinh của Trung Hoa và Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng của Nhật đều thu thập bản hội tập của ông Vương vào Đại Tạng. Liên Trì Đại Sư nói: “Bản hội tập của ông Vương so với năm bản dịch thì giản dị, rõ ràng hiện đang phổ biến, lợi ích rất lớn”. Vì thế, trong “Di Đà Sớ Sao”, mỗi khi dẫn chứng Kinh Vô Lượng Thọ, đa phần ngài đều trích dẫn từ bản của ông Vương. Cận đại, Ấn Quang Đại Sư khi viết lời tựa cho lần tái bản bộ “Viên Trung Sao”, cũng khen bản của ông Vương là “Văn nghĩa tường tận, lưu thông khắp nơi”.

Tuy bản hội tập của ông có công rất lớn đối với Tịnh Tông, nhưng cũng có nhiều điểm sai sót. Ngọc trắng có vết, hiền giả xót xa! Liên Trì Đại Sư chê rằng: “Sao phần trước, viết thêm phần sau, phần lấy bỏ chưa trọn vẹn”. Bành Thiệu Thăng cư sĩ chê “lộn xộn, trái nghịch nhau, chẳng phù hợp với ý chỉ viên dung”.

Dựa vào lời phê của các bậc cổ đức, cụ Hoàng Niệm Tổ trộm nêu ra ba khuyết điểm của ông Vương:

- Một là bản hội tập của ông Vương chỉ dựa trên bốn bản, chưa dùng bản dịch đời Đường. Bản dịch đời Đường mang tên “Vô Lượng Thọ Như Lai Hội” trích từ Kinh Đại Bảo Tích do Đại sư Bồ Đề Lưu Chí dịch, lời văn có nhiều điểm áo diệu tinh yếu mà các bản dịch khác không có.

- Hai là phần lấy, phần bỏ chưa trọn vẹn: Chọn phần rườm rà, bỏ phần trọng yếu, biến sâu thành cạn. Chẳng hạn như Liên Trì Đại sư quở rằng: “Như ba bậc vãng sanh, bản dịch đời Ngụy đều nói là phát Bồ Đề Tâm, mà bản họ Vương chỉ nói là bậc Trung phát Bồ Đề tâm. Bậc Hạ bảo chẳng phát, bậc Thượng lại chẳng nói, thành ra cao thấp chẳng thứ tự. Vì vậy, bảo là chưa trọn vẹn”. Do câu trên, thấy rằng “bậc Thượng chẳng nói” là bỏ chỗ trọng yếu, “bậc hạ lại nói chẳng phát” chính là biến sâu thành cạn. Vì vậy, Liên Trì Đại Sư cùng ông Bành đều quở trách.

- Ba là tự ý thêm văn, nghiễm nhiên tự sáng tác. Họ Vương hay dùng lời văn mình sáng tác ra để diễn thuật nghĩa của bản gốc. Vì vậy, Liên Trì Đại Sư quở rằng: “Sao phần trước, thêm phần sau, chưa theo đúng phép dịch thuật”. Ngài trách ông Vương sao dẫn kinh văn nơi phần trước, rồi tiếp đó chép thêm lời văn ông tự soạn. Nếu đã là hội tập, cần phải dựa theo bản dịch gốc, muôn phần chẳng được dùng câu nào ngoài bản dịch gốc. Thấy được những khuyết điểm trên của họ Vương, không có nghĩa là chẳng nên hội tập, mà chỉ để thấy rằng hội bản của ông ta có nhiều tỳ vết. Cư sĩ Bành Thiệu Thăng cảm khái trước lỗi lầm của hội bản họ Vương, bèn dùng bản dịch đời Ngụy chia thành từng mục, tạo thành bản Kinh Vô Lượng Thọ thứ bảy, nhưng bản này chỉ là tiết bản của bản dịch đời Ngụy.

……

Xem thêm:



pdf_download_2
Phật thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh  (Diệu Âm Phổ Hạnh ghi lại)
Phật thuyết đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác kinh (Bản dịch của Cư Sĩ Thanh Trí)

Video quyển 1: https://drive.google.com/drive/folders/1tdiSrXAoZWI8kbTrFxnHeJQsg2yPRIgW?usp=sharing
Video quyển 2: https://drive.google.com/drive/folders/12WGyElWGIA_2_ClUX9bmyOucPKz8Jdop?usp=sharing
Audio quyển 1: https://drive.google.com/drive/folders/1WwYrhycTVB56PXAmf6Yh9lYkgJmwTPsd?usp=sharing
Audio quyển 2: https://drive.google.com/drive/folders/1rWJnaDtKDHFp4FeyYvKBfb4JxpLQOHzs?usp=sharing




Xem thêm:
Lược Khảo Về Năm Dị Bản Kinh Vô Lượng Thọ
Chú Giải Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác - Như Hòa dịch





Tạo bài viết
Trí tuệ và từ bi có phải chỉ riêng nhân loại mới có? Hay là, loài vật cũng có trí tuệ và từ bi, nhưng ở mức sơ khai hơn? Cuộc nghiên cứu mới đây về heo rừng cho thấy những bất ngờ về mức độ cao của khôn ngoan và tình thương nơi một trường hợp khảo sát.
Vào ngày 24 tháng 7 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Ấn Độ Narendra Modi cho biết, tư tưởng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rất phù hợp khi nhân loại đang đối mặt với cuộc khủng hoảng bởi đại dịch Covid-19, và khẳng định rằng Ấn Độ đã chỉ ra cách đối mặt thử thách với khó khăn nhất, bằng cách tuân lời vàng ngọc của Đức Phật, người sáng lập đạo Phật.
Xin mời quý độc giả xem bản PDF thông cáo báo chí của Hội Đồng Quản-Trị GHPGVNTTG và di huấn của cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tâm Châu sau đây: