Pháp Tu Tịnh Độ: Niềm TinThực Hành Trong Lịch Sử Phật Giáo

31/10/20234:39 SA(Xem: 2432)
Pháp Tu Tịnh Độ: Niềm Tin Và Thực Hành Trong Lịch Sử Phật Giáo
PHÁP TU TỊNH ĐỘ:
NIỀM TINTHỰC HÀNH TRONG LỊCH SỬ PHẬT GIÁO
(Nguyễn Văn Quý)

Tóm tắtPháp tu Tịnh độ là một trong nhiều pháp môn tu tập thuộc Phật giáo Đại thừa. Ở Trung Quốc, tư tưởng Tịnh độ xuất hiện sớm thông qua việc người dân thờ phụng Phật A Di Đà. Tuy nhiên, sau khi các bộ kinh điển Tịnh độ được dịch từ Phạn văn sang Hán văn mới xuất hiện với tư cách là một pháp tu. Dần dần, pháp tu Tịnh độ phát triển thành “tông”, gọi là Tịnh độ tông. Ở Việt Nam, pháp tu Tịnh độ xuất hiện sớm, nhưng chưa thành một tông, song có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tu tập của tín đồ Phật giáo và người dân. Vì thế, pháp tu này đã được nhiều thế hệ học giả nghiên cứu. Trong đó, có nhiều học giả đã và đang trải nghiệm tu tập Tịnh độ. Trên cơ sở tiếp cận Sử học tôn giáoTôn giáo học, bài nghiên cứu này sẽ làm rõ niềm tinthực hành pháp tu Tịnh độ trong lịch sử Phật giáo.

DẪN NHẬP
Tư tưởng nhờ Phật lực (tha lực) để giác ngộ, giải thoát có nguồn gốc từ kinh điển Phật giáo Nguyên thủy. Nhiều nhà nghiên cứu Phật học cho rằng, tư tưởng này bắt nguồn từ Kinh Na Tiên Tỳ kheo. Nội dung bộ kinh ghi lại những lời vấn đáp giữa Tỳ kheo Na Tiên (Nāgasena) với vua Di Lan Đà (Milinda) về vấn đề nếu ai đó từng làm việc bất thiện, nhưng khi lâm chung biết tưởng nhớ đến Phật sẽ được Phật lực nâng đỡ mà sinh lên các cõi trời [1]. Junjiro Takakusu khi nghiên cứu bộ kinh này cho rằng tư tưởng “được cứu độ” là độc đáo trong tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy. Ông nhấn mạnh: “Nếu chúng ta mô tả một vị Phật dựa trên căn bản giác ngộ viên mãn, chúng ta sẽ đi đến một lý tưởng về Phật, nghĩa là Đức Phật của ánh sáng vô tận (Vô lượng quang) và của tuổi thọ vô tận (Vô lượng thọ). Khi lý tưởng về Niết bàn, vốn là phi không gian, phi thời gian, bất sinh, bất diệt, bất động được thể hiện, thì đấy chính là Vô tận hay Vô lượng (A Di Đà, Amita hay Amitabha). Sự mô tả về cõi Cực lạc, ý nghĩa Vô lượng quangVô lượng thọ và nhân cách giác ngộ của trí tuệtừ bi vô cùng tận, tất cả giản dị là những giải thích về “Vô lượng” [2]. Đây chính là tư tưởng Tịnh độ, bởi Vô lượng quang, Vô lượng thọ,… là những “Hồng danh” của Đức Phật A Di Đà.

Nói cách khác, “Phật A Di ĐàGiáo chủ thế giới Cực lạc ở phương Tây”, “Ngài là đấng Giáo chủ Tịnh độ môn, tiếp dẫn người niệm Phật vãng sinh về Tịnh độ Tây phương, nên còn gọi là Phật Tiếp Dẫn”. Phật A Di Đà (S: Amita) mang nghĩa là Vô lượng Thọ, Vô Lượng Quang [3]. Tuy nhiên, tín đồ Phật tử muốn được Đức Phật tiếp dẫn về thế giới của Ngài cần phảiniềm tin kiên định để đạt được kết quả như ý. Bởi niềm tin (Tín) là món ăn đầu tiên trong Tam tư lương (Tín – Nguyện – Hạnh).

PHÁP TU TỊNH ĐỘ: NIỀM TIN TRONG LỊCH SỬ PHẬT GIÁO
Niềm tin Phật A Di Đà
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết giảng cho môn đồ thời bấy giờ biết về tiền thân Phật A Di Đà trước khi là vị Giáo chủ Thế giới Tây phương Cực lạc (TGTPCL). Cụ thểKinh Vô Lượng Thọ cho biết, Đức Phật Thích Ca cho Tôn giả A Nan thấy rằng, từ rất lâu, sau khi từ bỏ ngai vàng xuất gia, Sa môn Pháp Tạng được Thế Tự Tại Vương Như Lai trao pháp tu Tịnh độ (PTTĐ) để cứu độ chúng sinh. Sa môn Pháp Tạng đã phát 48 đại nguyện cứu độ tất cả chúng sinh. Đến nay (thời Phật Thích Ca Mâu Ni) trải qua 10 kiếp, Sa môn Pháp Tạng đã là Phật, hiệu A Di Đà, là Giáo chủ TGTPCL. TGTPCL cách muôn ức cõi về phía Tây. Ngoài ra, trong Kinh Nhất Hướng Xuất Sinh Bồ tát và Kinh Bi Hoa cho biết chi tiết hơn về tiền thân Phật A Di Đà khi còn là một vị thái tử, tiền thân Bồ tát Quán Thế ÂmBồ tát Đại Thế Chí. Hiện nay, bộ tượng Tây phương Tam thánh chính là hình tượng hóa Phật A Di Đà, Bồ tát Quán Thế ÂmBồ tát Đại Thế Chí được tôn trí trong các ngôi chùa.

Trong kinh điển Phật giáo, Phật A Di Đàhiện thân của tuổi thọ vô tận (Vô lượng thọ), ánh sáng vô tận (Vô lượng quang) và thế giới của Ngài vô cùng tươi đẹp, an lạc (Cực lạc). Do đó, trên bình diện không gian, Phật A Di Đà là biểu trưng cho Vô lượng quang; trên bình diện thời gian, Ngài là hiện thân của Vô lượng thọ, sống trong một thế giới vô cùng trang nghiêm, mỹ lệ bởi được kiến tạo bằng thất bảo (vàng, bạc, lưu ly, mã não,…) và người dân sống trong thế giới này vô cùng an lạc, hạnh phúc (Cực lạc),… Nói cách khác, đây là Pháp thânBáo thân của Đức Phật A Di Đà khi tín đồ Phật tử chuyên tu Tịnh độ hình dung Ngài đến thế gian tiếp dẫn họ vãng sinh TGTPCL. Trên một bình diện khác, Phật A Di Đà còn được tín đồ tôn sùng như một vị Bồ tát “cần khổ” để hiện thực các hạnh nguyện của mình trên bước đường tiến đến Phật quả. Do đó, mọi tín đồ Phật tử theo PTTĐ đều quy hướng niềm tin nơi Phật A Di Đà, mong lòng từ bi vô tận của Ngài sẽ cứu độ, hỗ trợ mình trên bước đường tu tập.

Niềm tin 48 hạnh nguyện của Phật A Di Đà
Trong 48 hạnh nguyện của Phật A Di Đà thì nguyện thứ 18: “Giả sử khi Tôi được thành Phật, chúng sinhmười phương chí tâm tín muốn sinh về cõi nước Tôi, nhẫn đến mười niệm, nếu chẳng được vãng sinh, Tôi nguyện không chứng lấy quả Chánh giác, chỉ trừ người phạm tội ngũ nghịch và chê bai Chánh pháp” lại được tín đồ sùng kính hơn cả. Bởi nguyện thứ 18 hứa cho những ai có niềm tin sâu sắc nơi Phật A Di Đà và trọn tấm lòng thanh tịnh niệm Phật sẽ được thác sinh Tịnh độ. Lời nguyện thứ 18 cũng khẳng định rằng, những người phạm tội ngũ nghịch, chê bai Chánh pháp sẽ không được vãng sinh. Ngoài ra, nguyện thứ 19 tiếp dẫn trước giờ lâm chung có nội dung: “Giả sử khi Tôi thành Phật, chúng sinhmười phương phát tâm Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sinh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, Tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì Tôi chẳng lấy ngôi Chánh giác” dành cho những ai có nhiều công đức. Nguyện thứ 20 nói rằng ai chuyên niệm danh hiệu Ngài với ý nguyện thác sinh về TGTPCL của Ngài sẽ được như ý“Giả sử khi Tôi thành Phật, chúng sinhmười phương nghe danh hiệu của Tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sinh về nước Tôi mà chẳng được toại nguyện thì Tôi chẳng lấy ngôi Chánh giác”.

Nguyện 18, 19 và 20 đã có nhiều cách giải thích khác nhau. Theo quan điểm của Chân ngôn tông [4] cho rằng, mục đích của các nguyện này theo hướng phù hợp với toàn bộ kinh điển Phật giáo chứ không phải chỉ riêng cho tín đồ chuyên tu Tịnh độ. Ba nguyện này có mối tương liên, song nguyện thứ 18 là căn bản, nguyện thứ 19 và 20 là phụ thuộc. Bởi nguyện thứ 18 đòi hỏi tín đồ phải có sự tin tưởng sâu sắc vào Phật A Di Đà, nguyện thứ 19 phụ thuộc người tu hành và nguyện thứ 20 lại là do người liên tục niệm Phật. Cách luận giải này cho thấy mục đích hướng tới đầu tiên của tín đồ Chân ngôn tông không phải là TGTPCL. Vì họ quan niệm, phải sau khi chuyển nghiệp thì mới được Phật A Di Đà tiếp dẫn TGTPCL. Song về cơ bản, tín đồ Phật tử theo PTTĐ quan niệm, ba nguyện này phải được xem là những nguyện độc lập, không có nguyện chính hay nguyện phụ, vì các bộ kinh ít nhiều có sự khác biệt khi đề cập đến tiền thânhiện thân của Phật A Di Đà nên dẫn đến tình trạng này. Bên cạnh đó, sự khác biệt còn ở niềm tin của người niệm Phật có đủ mãnh liệt hay không. Vì “việc chuyên tâm niệm Phật là điều cần thiết để đào sâu đức tin, vì nếu khôngđức tin này thì không bao giờ có sự cứu độ trọn vẹn. Trong lúc theo Chân ngôn tông niệm Phật chỉ là một thái độ tri ân, sau khi một Phật tử được Phật lực gia trì” [5].

Có thể nói, niềm tin Phật A Di Đà với 48 hạnh nguyện của Ngài là không thể bàn luận. Cho nên, cần luận giải rõ các hạnh nguyện của Phật A Di Đà để tín đồ Phật tử có được sự tăng trưởng niềm tin hơn là xu hướng phân biệt cao thấp của các hạnh nguyện. Tiêu biểu là thuyết “Tha lực bản nguyện” của Đại sư Đàm Loan (476-?) cho rằng, ở thời mạt pháp khi không có Phật, không được sự hỗ trợ Phật lực thì như người đi bộ trên đường thì rất khó hành đạo (nan hành). Nhưng nương theo nguyện lực của Phật, vãng sinh TGTPCL không chỉ được Phật gia hộ mà còn đạt quả vị Bất thối chuyển [6], giống như đi thuyền trên đường thủy, gọi là đạo dễ hành (dị hành). Ông quả quyết rằng, người chuyên tu Tịnh độ có được hạnh phúc, an lạc ngay khi đang sống và được vãng sinh Tịnh độ đều nhờ vào sự công hiệu của 48 nguyện của Phật A Di Đà. Ông đã lựa chọn nguyện 11, 18 và 21 này làm trung tâm của thuyết Tha lực bản nguyện, nhằm làm cho tín đồniềm tin sâu sắc vào Phật A Di Đà qua sức mạnh của các hạnh nguyện và đây là yếu chỉ tu tập của thuyết Tha lực bản nguyện [7].

Niềm tin Thế giới Tây phương Cực lạc (TGTPCL)
Theo ghi chép cho thấy tín đồ Phật tử theo PTTĐ tin rằng, TGTPCL được mô tả trong Kinh A Di Đàthế giới có thật, vô cùng đẹp đẽ với cảnh vật được trang hoàng bằng thất bảo; Nhân dân trong thế giới này đều có tướng đẹp và được hưởng trọn vẹn niềm vui thanh tịnh, ăn mặc tùy ý,… Quan trọng hơn, trong thế giới này, tất cả mọi người đã thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Song, Kinh A Di Đà cũng chỉ rõ, tín đồ muốn đến thế giới này cần phảiniềm tin sâu, tin chắc. Có niềm tin như vậy chắc chắn sẽ được Phật A Di Đà tiếp dẫn lúc lâm chung. Theo Đại sư Huệ Viễn, TGTPCL bao gồm 3 cõi ứng với các hạng như sau:

1. Sự Tịnh độ: dành cho người khởi tâm tu hành, cầu vãng sinh TGTPCL, song trong tâm vẫn có sự phân biệt, trong tương lai họ sẽ thoát khỏi luân hồi2. Tướng Tịnh độ: là cõi thanh tịnh do tâm hàng Nhị thừa [8] và Bồ tát tu tập nên cảnh giới cũng tùy tâmchuyển biến. Cõi này dành cho những hành giả không buông bỏ chúng sinh mà có được; 3. Chân Tịnh độ: là nơi an trú của chư Phật nên gọi là Chân thanh tịnh. Như vậy, Đại sư Huệ Viễn đã căn cứ trên hạnh trí và hạnh bi. Ông cho rằng, bản tính chúng sinh là thiện, nhưng do vọng tưởng mà thành trở ngại và khi trở thành Phật thì pháp tính Tịnh độ tự hiển hiện. Việc phân loại TGTPCL của Đại sư Huệ Viễn không chỉ nhằm mục đích luận bàn sự sai biệt, cao thấp ở mỗi cõi Tịnh độ mà ông còn chỉ rõ sự tương ứng với công phu tu tập của mỗi tín đồ Phật tử tu Tịnh độ. Qua đó, ông khuyến khích tín đồ khởi niềm tin sâu chắc, nỗ lực tu hành.

Đại sư Trí Khải (538-597) phân chia TGTPCL làm 4 cõi: 1. Phàm thánh đồng cư độ: dành cho hàng phàm phuThanh văn [9], Duyên giác [10] và Bồ tát thừa [11]; 2. Phương tiện hữu dư độ: nơi cư trú của hàng Thanh văn, Duyên giácBồ tát3. Thật báo vô chướng ngại độ: chỉ thế giới Liên hoa tạng của Bồ tát Pháp Thân4. Thường tịch quang độ: là cõi của bậc Diệu giác (Phật). Có thể thấy sự phân loại của Đại sư Trí Khải căn cứ vào Kinh Bát Chu Tam Muội. Vì thế, ông thường khuyên tín đồ theo PTTĐ trước hết phải trang nghiêm đạo tràng, thân thể sạch sẽ, lấy 90 ngày làm một kỳ chuyên tâm niệm Phật.

Tóm lại, việc phân loại Tịnh độ đã thu hút nhiều đại sư tham gia dựa trên kinh nghiệm tu tập hay căn cứ vào kinh điển. Do đó, kiến giải cõi Tịnh độ ngày càng phong phú, đa dạng [12]. Tuy nhiên, câu hỏi mà tín đồ theo PTTĐ đặc biệt quan tâm là: khi con người lâm chung thì vãng sinh như thế nào? Đây là câu hỏi thường trực của các tín đồ Phật giáo và là chủ đề quan trọng mà các Cao tăng thường xuyên luận bàn không kém việc phân loại Tịnh độ. Câu trả lời nhận được sự đồng thuận theo quan điểm của Đại sư Thế Thân trong Vãng sinh Tịnh độ luận là: Người tu Tịnh độ khi lâm chung thì thân thể gá vào hoa sen trong ao báu (bảo trì) mà đến TGTPCL và thức được Phật và Bồ tát tiếp dẫn về TGTPCL cũng qua hình thức gá vào hoa sen. Nhưng thời gian về TGTPCL có nhanh chậm khác nhau, bởi hoa sen nở nhanh hay chậm phụ thuộc vào công đứctrí huệ của mỗi người. Nói một cách khác, vãng sinh TGTPCL nhanh hay chậm phụ thuộc vào chính bản thân con người khi còn sống, tu hành sớm hay muộn, nông hay sâu, công đức dày hay mỏng,… Cho nên, các đại sư căn cứ theo kinh điển Tịnh độ phân loại TGTPCL thành ba bậc chín phẩm (cửu phẩm liên hoa) nhằm giải thích về khả năng đáp ứng mọi căn cơ của tín đồ Phật giáo theo PTTĐ. Đồng thời nhấn mạnh, khi tín đồniềm tin sâu sắc và “những người nguyện về Cực lạc thế giới đều được bất thối chuyển” [13].

Tuy nhiên, có những người không được vãng sinh TGTPCL, đó là những người phạm một trong 5 tội (ngũ nghịch): 1. Giết cha mẹ; 2. Hại Phật; 3. Giết thánh nhân; 4. Phá Tăng và 5. Hủy báng Chánh pháp và đây cũng là quan điểm chung của Phật giáo. Bởi những người nào phạm một trong năm tội này thì không có thành tựu trong quá trình tu tập. Tuy nhiên, với PTTĐ, ngoài 5 tội này thì người nào chưa có niềm tin toàn hảo cũng chưa được chào đón về TGTPCL. Do đó, muốn về TGTPCL thì trước tiên phải có niềm tin kiên cố vì không có niềm tin thì không thể vãng sinh. Sâu xa hơn, qua sự luận giải cho thấy, TGTPCL chiều theo mọi căn tính vốn không đồng nhau của con người trong các nền văn hóa, bối cảnh khác nhau. Vì thế, TGTPCL có sức hấp dẫn với tất cả mọi người và dành cho tất cả mọi người, không phân biệt trí thức hay người dân,…

THỰC HÀNH PHÁP TU TỊNH ĐỘ
Thực hành PTTĐ được các tín đồ Phật giáo căn cứ theo kinh điển Tịnh độ, đó là phương pháp niệm Phật. Theo Kinh A Di Đà: “Ông Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân, nghe nói Phật A Di Đà, chuyên niệm danh hiệu, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn; đến khi người ấy mất đi, Phật A Di Đà, cùng các Thánh chúng, hiện đến trước mặt. Khi người ấy mất, tâm không chao đảo, liền được vãng sinh, sang thế giới Cực lạc, Phật A Di Đà” [14]. Như vậy, Kinh A Di Đà đã chỉ ra phương pháp niệm danh hiệu Phật A Di Đà, vì thế, bộ kinh này được tín đồ Phật giáo, đặc biệttín đồ tu Tịnh độ đánh giá“Chỉ ra đường lối thiết yếu tu hành, là then chốt để nhận rõ thực tướng của tâm tính mình. Nó là cương lĩnh của muôn vàn đức hạnh tu trì” [15]. Nghĩa là, tín đồ thực hành niệm Phật sẽ đạt đến mức tâm không còn tán loạn “nhất tâm bất loạn” thì có được cuộc sống thanh thản, an lạc và lúc lâm chung chắc chắn được Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sinh TGTPCL. Kinh Quán Vô Lượng Thọ chỉ ra 16 phương pháp thực hành nhằm vãng sinh TGTPCL. Đó là 16 phép quán tưởng do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni “vì tất cả chúng sinh, ở đời vị lai, bị giặc phiền não làm hại, mà nói thiện nghiệp thanh tịnh. Lành thay!Vi Đề Hi, muốn hỏi việc đó. Này ông A Nan, ông hãy thụ trì, tuyên lời Phật nói, cho nhiều người nghe. Nay Như Lai ta, dạy bà Vi Đề Hi và tất cả chúng sinh ở đời vị lai, quán tưởng thế giới Tây phương Cực lạc” [16]. Nhìn chung, 16 phép quán tưởng đòi hỏi tín đồ chuyên tu Tịnh độ theo một lộ trình tu tập từ thấp đến cao. Từ quán tưởng mặt trời (sơ quán) đến quán tưởng nước (quán tưởng thứ hai), tiếp đến quán tưởng đất (quán tưởng thứ ba),… Nếu tín đồ thực hành quán tưởng đúng thì mỗi bước có công dụng khác nhau. Chẳng hạn, phương pháp quán tưởng đất, Kinh Quán Vô Lượng Thọ chép: “Nếu quán về đất, thì diệt trừ được tội khổ trong tám mươi ức kiếp sinh tử, bỏ báo thân này, đời khác được sinh về Tịnh độ, tâm chẳng hoài nghi, quán tưởng như vậy, gọi là chính quán. Nếu quán sai khác, gọi là tà quán” [17],… Với 16 phép quán này, tín đồ Phật tử thực hành theo lộ trình từ thấp đến cao và đến mức thuần thục thì họ cảm ứng thấy Phật A Di ĐàBồ tát Quán Thế ÂmĐại Thế Chí ngay trong đời sống của mình chứ không cần chờ khi lâm chung mới thấy được các ngài. Cho nên: “Kinh này gọi là: Quán Cực Lạc Quốc, Vô Lượng Thọ Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát” [18]. Kinh Vô Lượng Thọ tuy không đề ra phương pháp thực hành nào, nhưng lại nhắc đến tầm quan trọng phương pháp niệm Phật, đó là Thập niệm (10 niệm). Thập niệm đã được một số đại sư căn cứ luận giải nhằm khuyến khích tín đồ phát tâm Bồ đề, tu công tích đức,… Trải qua thời gian, nhiều phương pháp thực hành khác tiếp tục được thế hệ các tín đồ Phật giáo khám phá, luận giải và truyền lại cho thế hệ sau.

Trong Tịnh Độ Tam Kinh, Kinh A Di Đà được tín đồ Phật giáo đặc biệt sùng kính bởi lời văn ngắn ngọn, súc tích, dễ sử dụng hàng ngày. Tín đồ Phật giáo cho rằng, Kinh A Di Đà còn dung hội cả những pháp tu bí mật trong Kinh Hoa Nghiêm, đó là phương pháp tu thành Phật. Và vì thế, Kinh A Di Đà được tín đồ Phật giáo luận giải nhiều nhất, đặc biệt trên phương diện niềm tinphương pháp thực hành. Thậm chí, họ còn cho rằng, vãng sinh TGTPCL chưa phải là mục đích cuối cùng trên bước đường tu tập, hay TGTPCL chỉ được xem là trạm trung chuyển để cho việc tái sinh kế tiếp thành Phật hoặc nhập Niết bàn.

Thực hành PTTĐ so với các pháp tu khác trong Phật giáo Đại thừa được xem như dễ dàng và đơn giản hơn. Tín đồ theo pháp tu này có thể niệm Phật mọi lúc mọi nơi, không kể ngày hay đêm, sáng hay tối, miễn sao trong tâm họ tưởng nhớ đến Phật A Di Đà,… và điều này đem lại cho họ có được đời sống tinh thần thanh thản, an lạc, là điều kiện vãng sinh TGTPCL về sau. Với phương pháp thực hành như vậy, tín đồ tu Tịnh độ luôn có cảm giác được khích lệ, muốn thực hành niệm Phật ngay. Tuy nhiên, quan niệm chỉ cần niệm Phật là được vãng sinh hay ít nhất có được đời sống thanh thản, hạnh phúc,… thậm chí tránh được rắc rối trong cuộc sống,… dễ khiến người ta lầm tưởng đây là một pháp tu dễ thành tựuthực tế đã từng xảy ra tranh luận trong lịch sử Phật giáo. Thực tế cho thấy, dễ tu dễ chứng không đơn giản chỉ là niệm Phật rồi vãng sinh. Bởi để có được cuộc sống thanh thản, an lạc khi còn sống và khi chết được Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sinh TGTPCL là quá trình tu tập không mệt mỏi, đòi hỏi tín đồ theo PTTĐ phải thực hiện đầy đủ và nghiêm ngặt những nguyên tắc nhất định.

Kinh A Di Đà chỉ ra các nguyên tắc quan trọng nhất để tín đồ thực hành đúng hướng, đó là Tín – Nguyện – Hạnh.
Tín, theo Đại sư Vô Trước (Asanga) viết trong Luận Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh bao gồm: 1. Sự tin tưởng chắc chắntoàn vẹn; 2. Niềm vui thanh thoát với đức tin; 3. Sự ước vọng hay mong muốn hoàn thành một mục đích theo đuổi. Vì thế, thứ nhất là phải tin ở mình, tin ở cái tâm chân thực trong mình [19]; Thứ hai là tin Phật Thích Ca Mâu Nichúng sinhthuyết pháp; tin Phật A Di Đà không lập hạnh nguyện suông và tin như thế “gọi là tin ở Người” [20]; Thứ ba là tin người niệm Phật với tâm không tán loạn thì chắc chắn được vãng sinh. Song nếu tâm người niệm Phật vẫn còn tán loạn thì ít nhất người đó đã gieo “hạt giống” để thành Phật mai sau; Thứ tư là tin người được vãng sinh là kết quả của việc thực hành niệm Phật; Thứ năm là tin TGTPCL là có thật, thanh tịnh, trang nghiêm chứ không phải là thế giới do Phật Thích Ca Mâu Ni vẽ ra, hay do con người tưởng tượng. Thứ sáu là tin ở Lý [21], cõi Tịnh độ là cõi biến hiện ngay trong tâm của người khi niệm Phật (Duy tâm Tịnh độ) vì cõi Tịnh độ là tịnh thân của Phật A Di Đà nhưng cũng là Tịnh độ của mỗi người nếu một lòng niệm Phật.

Nguyện là động cơ thúc đẩy tín đồ một lòng mong cầu vãng sinh TGTPCL mà thực hành niệm Phật. Tín đồ theo PTTĐ phát nguyện vãng sinh TGTPCL, một lòng một dạ không thay đổi chí nguyện vãng sinh của mình, có như vậy mới bền vững. Nói cách khác, sức phát nguyện càng mãnh liệt thì thực hành càng kiên cố và ngược lại, tín đồ không đủ niềm tin và sức phát nguyện thì lúc lâm chung khó nhờ sức Phật (Phật lực) tiếp dẫn vãng sinh.

Hạnh là thực hành niệm Phật đến khi tâm không bị tán loạn (nhất tâm bất loạn) nhằm gieo nhân vãng sinh khi lâm chung. Thực hành niệm Phật như Tuệ Nhuận viết: “Niệm danh hiệu Phật, là niệm công Đức Phật… công Đức Phật chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn, cho nên danh hiệu Phật cũng chẳng thể nghĩ, chẳng thể bàn” [22].

Tóm lại, Tín – Nguyện – Hạnh là ba nguyên tắc hay ba món ăn của tín đồ theo PTTĐ. Đại sư Vân Thê Châu Hoằng (1535-1615) nhận định, Tín – Nguyện – Hạnh là nguyên tắc cơ bản để đến với TGTPCL. Nếu không có những nguyên tắc này thì không thể bước vào thế giới ấy. Nói cách khác, Tín là niềm tin Phật với chúng sinh là một, chúng sinh niệm Phật thì nhất định được vãng sinh và đây là cái gốc của niềm tin. Nguyện là nương nhờ vào lời dạy của chư Phật mà mong cầu vãng sinh thế giới Cực lạc và Hạnh là thực hành chuyên cần, không gián đoạn. HT. Thích Thiền Tâm đúc kết: “Điểm căn yếu của môn niệm Phật là: Tín, nguyện, hạnh. Ba điều này tương quan với nhau như cái đảnh có ba chân, thiếu một tất phải sụp đổ. Trong đây tín lại là nền tảng, nếu thiếu nhu yếu này, thì không thể khởi sanh nguyện và phát động hạnh tu trì cho thiết thật” [23].

Tóm lại, kinh điển Tịnh độ hướng tín đồ đến để thấy chứ không phải là thấy mới đến. Nghĩa là tín đồ cần có sự trải nghiệm mới thấy được sự diệu kỳ của pháp tu. Vì thế, Tín – Nguyện – Hạnh là những nguyên tắc căn bản chỉ dẫn tín đồ theo PTTĐ đến để thấy cảnh an lạc, hạnh phúc.

Ngoài ra, còn một nguyên tắc quan trọng nữa được đề cập trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ như sau:
“Muốn sinh nước đó thì phải tu hành ba điều phước thiện:
– Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự Sư trưởng, từ tâm bất sát, tu mười điều thiện;
– Hai là quy y Tam bảo, giữ gìn năm giới, không phạm oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi;
– Ba là phát Bồ đề tâm, xác tín nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người làm theo. Ba việc như thế gọi là Tịnh nghiệp” [24].

Như vậy, ngoài nguyên tắc căn bảnTam tư lương, tín đồ theo PTTĐ còn phải tuân theo ba nguyên tắc gọi là “ba điều phúc thiện”. Việc khuyến khích tín đồ thực hành “ba điều phúc thiện” và Thập thiện được các đại sư hết mực đề cao. Bởi đây là 10 việc thiện được thực hiện qua thân, khẩu, ý. Về phương diện thân thể bao gồm: không sát sinh, không trộm cắp và không tà dâm. Về lời nói, tín đồ không nói dối, không nói lời ác độc, không nói lời phù phiếm, không nói lời hai chiều. Về  ý thì không tham muốn, không giận hờn và không si mê. Một cách khái quát, thực hành Thập thiện được xem là phương pháp tu tập cơ bản cho tất cả các pháp tu trong Đạo Phật. Song với PTTĐ, Thập thiện còn là nguyên tắc tu tập thiết thực, là bản đồ chỉ dẫn cho tín đồ “tu phúc”, “trợ hạnh” rất hiệu quả. Luận án sẽ đề cập rõ hơn ở thực hành hướng đích xã hội của cộng đồng tín đồ theo PTTĐ trong các đạo tràng ở một số ngôi chùa trên địa bàn Hà Nội hiện nay.

Để đáp ứng nhu cầu tu Tịnh độ, nhiều phương pháp thực hành niệm Phật tiếp tục được các vị cao tăng khám phá, luận giải và truyền dạy trong những bối cảnh lịch sử khác nhau. Có thể nói, những đóng góp của họ cho phương pháp thực hành Tịnh độ vô cùng xứng đáng, không chỉ góp phần thúc đẩy PTTĐ phát triển sâu rộng mà còn là cơ sở để các thiền phái và người dân ở nhiều vùng, miền lựa chọn trong tu tậpsinh hoạt hàng ngày.

Theo ghi chép, Đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ (845 – 975) thấy tín đồ Thiền tông rơi vào tình trạng coi trọng Thiền hơn Tịnh, ông đã viết bộ Vạn thiện đồng quy, chủ xướng thuyết “Duy tâm Tịnh độ”, đề cao Xưng danh niệm PhậtThập niệm. Đại sư Vân Thê Châu Hoằng (1535-1615) cho rằng tín đồ theo PTTĐ nhất định phải theo nguyên tắc Tín – Nguyện – Hạnh và  khuyên tín đồ nên Trì danh niệm Phật. Đại sư Ngẫu Ích Trí Húc (1599 – 1656) chủ xướng Thiền, Giáo, Luận xuất phát từ một cội nguồn. Ông cho rằng, Thiền là tâm của Phật, Giáo là lời của Phật và Luật là hành của Phật, chỉ có niệm Phật là nơi qui tụ của tất cả các pháp môn tu hành trong Đạo Phật. Ông chia niệm Phật thành 3 loại: Niệm tha Phật, Niệm tự Phật và Niệm tự tha Phật. Trong 3 loại này, chỉ có Niệm tha Phật là “chỉ chuyên chú ức niệm quả đức trang nghiêm của Phật A Di Đà, lấy đó làm cảnh sở niệm” [25]. Ngoài ra, ông còn quan niệm, Kinh A Di Đà nói về hai tông Giáo, Thiền đều dùng phương pháp niệm Phật. Người mà nhất tâm niệm Phật sẽ đề phòng và tránh được những chuyện sai trái, dừng làm việc ác, tinh tấn học Luật. Người tinh tấn học Luật cũng hết lòng mong muốn quyết định vãng sinh. Do đó, nhất tâm niệm Phật là Sự; trì giới là Nhân và Tịnh độ là Quả. Trong đó, Trì giớiniệm Phật vốn chỉ một pháp mônTịnh độ. Như vậy, có thể thấy quan niệm của Đại sư Ngẫu Ích Trí Húc về phương pháp niệm Phật vô cùng sâu sắc. Nhưng bản thân ông cũng ý thức rõ về sự “sâu sắc” sẽ đem đến những “rắc rối” cho tín đồ theo PTTĐ. Nhất là với tín đồ Phật giáo tại gia. Cuối cùng, ông lại trở về với những phương pháp thực hành và nguyên tắc thực hành cơ bản của PTTĐ: “Người muốn mau thoát khổ luân hồi chẳng gì bằng Trì danh niệm Phật, cầu sinh về thế giới Cực lạc. Người muốn quyết định sinh về thế giới Cực lạc không gì bằng dùng Tín làm đầu, lấy Nguyện làm cái roi để sách tiến. Nếu có lòng tin kiên cố, nguyện thiết tha, tuy tán tâm niệm Phật, cũng chắc được vãng sinh. Nếu lòng tin không chân thật, nguyện cũng không dũng mãnh thì tuy nhất tâm bất loạn, nhưng vẫn không được vãng sinh” [26]. Vọng Nguyệt Tín Hanh (1869-1948) người Nhật Bản khi nghiên cứu về việc phân loại phương pháp niệm Phật của Đại sư Ngẫu Ích Trí Húc đã nhận xét tinh tế rằng: “Ngài Trí Húc giải thích niệm Phật theo nghĩa rất rộng, đề xướng tất cả Phật pháp đều quy kết về niệm Phật, trong đó, Ngài cho rằng chấp trì danh hiệu trong Kinh A Di Đàpháp môn giản dị nhất, đặc biệt nhất. Pháp này phù hợp cả ba căn thượng, trung, hạ, lại bao gồm cả sự, lý, và đó là phương tiện khéo léo không thể nghĩ bàn” [27].

Gần đây, HT. Thích Thiền Tâm (1924-1992) không chỉ đề cao Trì danh niệm Phật mà còn luận giải rất sâu sắc phương pháp này bao gồm “mười phương thức trì danh” như Phản văn trì danh, Sổ châu trì danh, Tùy tức trì danh,… [28]. Nhìn chung, trên phương diện lý thuyết, việc luận giải về phương pháp thực hành niệm Phật của các đại sư đã cho thấy không hề đơn giản ở câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hay “A Di Đà Phật”. Ở phương diện thực tiễn cho thấy, thực hành PTTĐ cũng không phải thực hành một cách tùy tiện được. Bản thân mỗi Phật tử tự cảm nhận sự khó khăn thế nào để tâm không bị tán loạn, hơn nữa, giáo lý PTTĐ tưởng chừng đơn giản so với các tông phái khác, nhưng qua các bộ luận (sớ, sớ sao, sớ sao diễn nghĩa) cho thấy giáo lý Tịnh độ vô cùng sâu sắc, uyên thâm. Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969) khi nghiên cứu về PTTĐ đã nhận xét xác đáng như sau: “Có người một đời mà chưa biết phép niệm Phật, mà chưa hề niệm Phật một lần nào cả. Phép niệm Phật huyền diệu sâu xa, hiểu rõ không phải dễ, mà tin chắc lại càng khó, trí thức bậc nào cũng vừa, nghiên cứu bao giờ cho tột, thật khó biết hoàn toàn phép niệm Phật lắm” [29].

Tóm lạiQuán Vô Lượng Thọ kinh sớ sao nêu rõ: Người niệm Phật được ví như hoa sen trắng trăm cánh hiếm có trên đời. Người niệm Phật không chỉ thấy được Phật A Di Đà, Bồ tát Quán Thế ÂmĐại Thế Chí hộ trì mà còn được chư Phật mười phương hộ niệm. Người niệm Phật không bị tai họa giáng xuống, trừ trường hợp thực hành tu tập thiếu chân thật, đó là công đức của người niệm Phật.

KẾT LUẬN
Tư tưởng nhờ Phật lực để “được cứu độ” không chỉ thổi luồng gió mới vào tâm trí tín đồ Phật giáo thời bấy giờ, mà còn tạo nền tảng cho sự hình thành phong trào Phật giáo Đại thừa. Đại sư Mã Minh từng tham gia kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ 4 (khoảng thế kỷ I TCN) đã ca ngợi tư tưởng này và chính ông đã phát nguyện vãng sinh TGTPCL. Song, phải đến khi các bản dịch kinh điển Tịnh độ từ Phạn văn sang Hán văn [30] thì pháp tu Tịnh độ (PTTĐ) mới hình thành ở Trung Quốc, rồi truyền đến Việt Nam và có ảnh hưởng sâu đậm đến sinh hoạt tu tập tín đồ Phật giáo và người dân.

Qua nội dung các bộ kinh Tịnh độ cho biết về thân thế, hạnh nguyệnthế giới Cực lạc của Phật A Di Đà khiến cho tín đồ Phật tử có được sự sáng tỏ và hứng khởi tu tập. Nhưng sâu sa hơn là niềm tin Phật A Di Đà, 48 hạnh nguyệnthế giới do Ngài làm giáo chủ được xác lập ngày càng kiên cố trong tâm mỗi tín đồ Phật tử trên bước đường tu tập.

Sau xa hơn, qua các luận giải của các đại sư cho thấy, Đức Phật A Di Đà vì lợi ích của tín đồ Phật giáo mà tạo lập TGTPCL; đồng thời cũng vì con người mà Phật A Di Đà thiết lập hạnh nguyện để họ khởi phát niềm tin, ước nguyệnthực hành niệm Phật, quy hướng TGTPCL. Đây chính là sự tương hỗ của “người trang nghiêm” và “người được trang nghiêm”. Vì thực hiện một thế giới tốt đẹp không chỉ một mình Phật hay Bồ tátcần phải có sự đồng lòng của người tu tập mới có thể thực hiện được. Do đó, niềm tin Tịnh độ mang ý nghĩa Phật, Bồ tátchúng sinh tương hỗ, vun bồi.

Tóm lại, đối với tín đồ theo PTTĐ là phải có niềm tin kiên định rằng, kinh do Đức Phật Thích Ca thuyết giảng không hề hư dối và không thể luận bàn. Việc luận giải của các Đại sư đã cho thấy pháp tu này không chấp chặt vào văn tự kinh điển nên có xu hướng mở rộng bằng cách phát triển thêm nhiều phương pháp tu tập khác. Các nhà Phật học, các tín đồ Phật giáo và thậm chí không phải là tín đồ có thể nghiên cứu 48 đại nguyện của Phật A Di Đà là những nguyện độc lập hay liên quan tương hỗ, hoặc chỉ hỗ trợ tín đồ tu tập. Thậm chí, họ xem cõi Tịnh độ trong tâm hay ngoài tâm không quan trọng, mà vấn đề then chốt là pháp tu này đáp ứng được nhu cầu của mọi tín đồ về một đời sống hạnh phúc, an lạc và khi chết được đến một thế giới tốt lành nếu họ thực hành niệm Phật rốt ráo.

Chú thích:
* Nguyễn Văn Quý – Phòng Nghiên cứu Phật giáo, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
[1] Cao Hữu Đính soạn (1996), Na Tiên tỳ kheo kinh, Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế ấn hành.
[2] Junjiro Takakusu (1973), Các tông phái của đạo Phật, Tuệ Sỹ dịch, Ban Tu thư viện Đại học Vạn Hạnh, tr.318
[3] Thích Minh Cảnh chủ biên (2005), Từ điển Phật học Huệ Quang, 8 tập, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, tr.12-13.
[4] Chân Ngôn tông hay Mật tông do Đại sư Thiện Vô ÚyKim Cang Trí truyền sang Trung Quốc. Đến Đại sư  Bất Không chính thức sáng lập vào thế kỷ 8. Sau đó, vào thế kỷ thứ 9, Đại sư Hoằng Pháp truyền sang Nhật Bản.
[5] Daisetz Teitaro Suzuki (1989), Thiền luận, 3 tập, Trúc Thiên dịch, Phật học viện Quốc tế xuất bản, tr.330.
[6] Quả vị Bất thối chuyển (Sa. Avaivarti), còn gọi là Quả vị A bệ bạt tríA tỳ bạt trí,… mang ý nghĩa nhà tu hành đạt đến quả vị này sẽ chẳng bao giờ bị lui chuyển hay chán mỏi trên con đường tu tập đến quả vị Phật. Với PTTĐ, quả vị Bất thối chuyển chỉ những người đã được sinh về TGTPCL.
[7] Xin xem thêm: Lý Hiếu Bổn (2012), Lịch sử Tịnh độ tông Trung Quốc, Quảng Hiếu dịch, bản PDF.
[8] Nhị thừa: Tiểu thừaĐại thừa.
[9] Thanh văn: chỉ những đệ tử xuất gia, mục đích tột cùng là đắc quả A la hán.
[10] Duyên giác: chỉ những người đã giác ngộ thành Phật nhưng không có khả năng giáo hóa.
[11] Bồ tát: chỉ những người có nguyện lực lớn, vừa tự mình giải thoát lại vừa cứu độ chúng sinh khác (tự giác và tha giác). Có vị Bồ tát phát nguyện thành Phật mới cứu độ chúng sinh như Phật A Di Đà, Phật Dược Sư,… hoặc có vị Bồ tát phát nguyện cứu độ chính sinh mới thành Phật quả như Bồ tát Địa Tạng; song có vị Bồ tát đã thành Phật, song vì thương xót chúng sinhhiện thân làm Bồ tát như Bồ tát Quán Thế Âm,…
[12] Vọng Nguyệt Tín Hanh (2014), Lịch sử giáo lý Tịnh độ Trung Quốc, Bản dịch Hoa ngữ: Pháp sư Ấn Hải; Bản dịch Việt ngữ: Thích Nữ Giới Niệm; Hiệu đính: Định Huệ, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr.190-210
[13] Kinh A Di Đà yếu giải, Tuệ Nhuận dịch (2009), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.42
[14] Tịnh độ tam kinh, Thích Đức Nghiệp dịch (2004), Sđd, tr.20
[15] Kinh A Di Đà yếu giải, Tuệ Nhuận dịch (2009), Sđd, tr.30
[16] Tịnh độ tam kinh, Thích Đức Nghiệp dịch (2004), Sđd, tr.41
[17] Tịnh độ tam kinh, Thích Đức Nghiệp dịch (2004), Sđd,tr.46
[18] Tịnh độ tam kinh, Thích Đức Nghiệp dịch (2004), Sđd, tr.85
[19] Viên Anh (2003), Pháp môn niệm Phật, Nguyên Anh dịch, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
[20] Kinh A Di Đà yếu giải, Tuệ Nhuận dịch (2009), Sđd, tr.33
[21] Sự là tất cả các hiện tượng sinh diệt trong thế gian; Lý là bản thể của hiện tượngKinh thí dụ ví Sự như là sóng biển còn Lý như là cái ướt của nước. Do đó, nhìn theo hình dáng (Tướng) của sóng thì sẽ có nhiều sai biệt, nhưng theo cái ướt của nước thì tất cả sóng đều cùng một Thể. Do đó, theo kinh Hoa Nghiêm thì Lý Sự Viên Thông, nghĩa là Lý không rời Sự, Sự không rời Lý; Lý tức là Sự, Sự tức là Lý.
[22] Kinh A Di Đà yếu giải, Tuệ Nhuận dịch (2009), Sđd, tr.37
[23]  Thích Thiền Tâm (2012), Niệm Phật thập yếu, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr.84
[24] Tịnh độ tam kinh, Thích Đức Nghiệp dịch (2004), Sđd, tr.40
[25] Vọng Nguyệt Tín Hanh (2014), Lịch sử giáo lý Tịnh độ Trung Quốc, Sđd, tr.521
[26] Vọng Nguyệt Tín Hanh (2014), Lịch sử giáo lý Tịnh độ Trung Quốc, Sđd, tr.523
[27] Vọng Nguyệt Tín Hanh (2014), Lịch sử giáo lý Tịnh độ Trung Quốc, Sđd,tr.523
[28] Thích Thiền Tâm (2012), niệm Phật thập yếu, Sđd, tr.158-167
[29] Xin xem: Tâm Minh Lê Đình Thám (1934), “Pháp môn Tịnh độ”, Viên Âm, số 6
[30] Từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ VI, kinh điển Tịnh độ được dịch, tiêu biểuĐại sư Khương Tăng Ngãi dịch Kinh Vô Lượng Thọ; Đại sư La Thập dịch Kinh A Di ĐàĐại sư Phật Đà Bạt Đà La (Giác Hiền) dịch Kinh Tân Vô Lượng ThọQuán Phật Tam Muội; Đại sư Trí Nghiêm dịch Kinh Tịnh độ tam muội; Đại sư Cương Lương Da Xá dịch Kinh Quán Vô Lượng Thọ,… Đến thế kỷ thứ 6, Đại sư Bồ Đề Lưu Chi dịch Vô Lượng Thọ Kinh luận,…

Tài liệu tham khảo:
1. Viên Anh (2003), Pháp môn niệm Phật, Nguyên Anh dịch, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
2. Lý Hiếu Bổn (2012), Lịch sử Tịnh độ tông Trung Quốc, Quảng Hiếu dịch, bản PDF.
3. Thích Minh Cảnh chủ biên (2005), Từ điển Phật học Huệ Quang, 8 tập, Nxb.  Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
4. Cao Hữu Đính soạn (1996), Na Tiên tỳ kheo kinh, Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế ấn hành.
5. Junjiro Takakusu (1973), Các tông phái của đạo Phật, Tuệ Sỹ dịch, Ban Tu thư viện Đại học Vạn Hạnh,
6. Daisetz Teitaro Suzuki (1989), Thiền luận, 3 tập, Trúc Thiên dịch, Phật học viện Quốc tế xuất bản.
7. Vọng Nguyệt Tín Hanh (2014), Lịch sử giáo lý Tịnh độ Trung Quốc, Bản dịch Hoa ngữ: Pháp sư Ấn Hải; Bản dịch Việt ngữ: Thích Nữ Giới Niệm; Hiệu đính: Định Huệ, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
8. Kinh A Di Đà yếu giải, Tuệ Nhuận dịch (2009), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
9. Tịnh độ tam kinh, Thích Đức Nghiệp dịch (2004), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
10. Thích Thiền Tâm (2012), Niệm Phật thập yếu, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
11. Tâm Minh Lê Đình Thám (1934), “Pháp môn Tịnh độ”, Viên Âm, số 6.



Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
Sư Thích Minh Tuệ, người thực hiện cuộc đi bộ khất thực khắp Việt Nam, đã trở thành một hiện tượng thu hút sự chú ý của đông đảo dư luận. Giờ đây, dù ông buộc phải dừng bước giữa chừng nhưng những ảnh hưởng của ông vẫn còn lan tỏa. Mới đây, Thượng tọa Thích Minh Đạo, trụ trì Tu viện Minh Đạo ở thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, bị giáo hội Phật giáo ở địa phương yêu cầu làm kiểm điểm sau khi "tán thán" sư Thích Minh Tuệ.
Điều quan trọng nhất: Tu sĩ Minh Tuệ đã làm xong nhiệm vụ, đem 6 năm khổ tu dồn lại mấy tuần, đem chính thân mạng của mình để minh họa lại hình ảnh và đạo hạnh của một nhà tu theo Phật:… là như thế đó. Phật tử và quần chúng cả nước và khắp năm châu ít nhất cũng có một khái niệm về hình ảnh và phẩm chất tối thắng của một người tu theo Phật giáo chân chính căn bản là như thế nào. Tuyệt nhiên không phải là những màn múa may thời mạt pháp với nhữg Tăng (ông), Ni (bà) đang lợi dụng một đạo Phật thậm thâm vi diệu thành hí trường gây quỹ hay môi trường kinh doanh trục lợi trên sự nhẹ dạ vô tâm của quần chúng Phật tử đang phủ phục cúng dường!