03 Kinh Giảng

06/10/201012:00 SA(Xem: 12633)
03 Kinh Giảng


KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ GIẢNG THÍCH

Tỳ Kheo Thích Hằng Quang

Kinh Văn:

Tôi nghe như vầy, một thưở nọ đức Phật ở tại thành Vương Xá trong núi Kỳ Đà Quật, cùng chúng đại Tỳ kheo, một ngàn hai trăm năm mươi người câu hội. Chúng Bồ tát có ba vạn hai ngàn, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử đại Bồ tát làm thượng thủ.

Lược giảng:

"Như vầy" hay "như thị", là từ chỉ cho pháp; từ chỉ cho pháp như vậy thì tin được. Pháp xưa nay không biến đổi, ba đời đều tuân theo tức là như. Tại sao gọi là thị? ý nói những gì sẽ nói ra đây đều là những Pháp chơn thật hợp với cơ duyên của tất cả chúng sinh

" Tôi nghe" là do Tôn Giả A Nan nghe từ kim khẩu của Đức Như Lai, nay diễn lại những gì mà Tôn Giả đã nghe, nên gọi là Tôi nghe.

"Tôi nghe như vầy" chính là một trong bốn câu trả lời của Đức Phật mà Đức A Nan đã hỏi Phật trước khi Phật nhập Niết Bàn.

Mỗi bộ Kinh Phật, đều có hội đủ sáu điểm thành tựu,(lục chủng thành tựu) để cho chúng ta biết đó là những Pháp đáng tin cậy. Vậy "Tôi Nghe" chính là một trong sáu điểm thành tựu tức là, văn thành tựu. "Như thị" là tín thành tựu, do Pháp như thị nên gọi tín thành tựu, nếu pháp không như thị thì Pháp không đáng tin. "một thưở nọ" là thời thành tựu. "Phật" là chủ thành tựu, " Vương Xá ..Kỳ Xà Quật" là xứ thành tựu, "1.250 tỳ kheo...." chúng thành tựu. Khi Phật thuyết Pháp phải hội đủ sáu điểm thành tựu này, nếu không hội đủ sáu điểm thành tựu thì Pháp không như thị, đã là không như thị thì Pháp không đáng tin.

Phật nói đủ là Phật Đà Da, nghĩa là Giác Giả. Tự Giác, Giác Tha, và Giác Hạnh viên mãn thì gọi là Phật. 

"Kỳ Xà Quật" Trung Quốc dịch là Linh Thứu, vì ngọn núi này nhìn từ xa xuống trông giống như con ó cho nên gọi là Linh Thứu.

"Ma ha Tỳ Kheo" Tỳ kheo (Bhiksu) có ba nghĩa là: khất sĩ, bố ma và phá ác. "ma ha" cũng có ba nghĩa là; lớn, nhiều và hơn hết. Ở đây nói là Ma Ha Tỳ Kheo nghĩa là bực Tu Sĩ này đều có những Đạo hạnh lớn, thân tâm thanh tịnh, không còn tâm dâm dục

"Bồ Tát" nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa (Bodhisattva) dịch là Giác Hữu Tình tức là người làm cho chúng hữu tình được giác ngộ như mình.

1 vạn là 10 ngàn, như vậy thì có 32,000 vị Bồ Tát dự Pháp hội này.

"Văn Thù Sư Lợi" Trung Hoa dịch là Diệu Đức hay Diệu Cát Tường. "Pháp Vương" là người nói ra Pháp một cách không bị chướng ngại, tức chỉ cho Phật, "Tử" là con, ý nói vị này sẽ kế thừa sản nghiệp của Chư Phật. Giống như ở thế gian, con của vua, người được lập ra để nối ngôi thì gọi là Thái Tử vậy.

" Ma ha Bồ Tát" ma ha đã nói ở trên, tức đại Bồ Tát trong hàng Bồ Tát. "thượng thủ" có thể nói vị Bồ Tát này đại điện cho 32 ngàn vị Bồ Tát tham dự pháp hội

Kinh Văn:

Lúc bấy giờ ở thành Vương Xá có một Thái Tử tên là A Xà Thế, vì thuận theo lời chỉ bảo của ác hữu Điều Đạt, bắt Vua cha Tần Bà Sa La nhốt trong nhà ngục tối bảy từng cửa, ra lệnh cấm các quan trong triều không được ra vào. 

Lược giảng:

Thành Vương Xá là một Thủ Đô của một nước trong những nước lớn ở Ấn Độ trong thời bấy giờ có tên là Ma Kiệt Đà, đâu như là tiểu bang Bihar của Án Độ ngày nay, dưới sự lãnh đạo của vua Tần Bà Sa La. Thời bấy giờ Nước Ma Kiệt Đà rất là thịnh vượng

Thân tướng của vị vua này rất là đoan nghiêm nên gọi là Tần Bà Sa La, Tần Bà Sa La Trung Hoa dịch là Kiên Ảnh. Khi Đức Thế Tôn chưa thành đạo, Ngài đến nơi này được vua tiếp đón rất trọng Nể, và thỉnh Phật khi nào thành đạo, đến nơi này để độ cho ông; khi đức Như Lai thành đạo, nhớ đến lời thỉnh cầu của ông, nên trở lại nơi này truyền đạothuyết Pháp cho vị vua này. Ông ta rất ngưỡng đạo, Vườn Trúc Lâm là chính do vị vua này cúng dường cho Phật và Tăng Đoàn

" A Xà Thế" là vị thái tử con của vua Tần Bà Sa La có tên là Thiện Kiến. A Xà Thế là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Vị oán sanh, tại sao vị thái tử này có danh hiệu quái vị vậy? Chớ hiểu lầm chữ vị này của tôi, vị chớ không phải là dị, vị tức là mùi vị chớ không phải dị là xấu nhé. 

Vào đời trước, vua Tần Bà Sa La là vị vua chỉ biết lo ăn chơi hưởng thụ, đi săn bắn thú rừng sát hại chúng sanh, một hôm ông ta đi đến núi để săn bắn, nhưng ông ta không được toại ý, vì hôm đó ông ta không săn được một con thú rừng nào. Trên núi có một vị tiên nhân đang tu hành ở đó, vị tiên nhân này đang tọa Thiền, khi vua thấy liền sanh lòng sân hận và nói " Chắc cũng tại người này tọa thiền ở đây, nên thú rừng đều sợ mà trốn hết đi, làm cho ta hôm nay không săn được con thú rừng nào" và ra lịnh giết chết vị tiên nhân đó, lúc sắp chết vị tiên nhân này sanh tâm oán hận, nên phát lời như vầy:" ta vốn không có tội gì, mà nay ngươi sanh tâm ác, dùng khẩu lịnh của ngươi mà giết ta, ta nguyện đời sau cũng sẽ dùng cách này mà giết chết ngươi". 

Quí vị nghĩ xem, chữ "vị" của tôi ở trên có hay không? Thật là mùi vị sân hận mà gây ra.

Vào thời của Phật, vị vua ác tâm thưở trước cũng sanh vào cõi này và làm vua ở nước Ma Kiệt Đà tên là Tần Bà Sa La, vua và bà Vi Đề Hy sanh ra được một vị thái tử, nhưng khi sanh ra đứa trẻ này, có vị tiên sư nói với nhà vua rằng " đứa trẻ này có sức thù oán với vua rất lớn , khi lớn lên sẽ giết hại vua" nghe như vậy vua Tần Bà Sa La ra lịnh giết chết đứa bé này bằng cách là cho nó rớt xuống từ trên cao, tuy nhiên, đứa bé này không những không chết mà còn khỏe mạnh, chỉ trừ bị thương ở ngón tay, thấy vậy vua không sát hại nữa. Đặt tên cho đứa bé này là Thiện Kiến với vy họng rằng đứa trẻ này đi trên con đường thiện mà quên đi sự ân oán thưở xa xưa.

Nhân duyên đã đến, Quả đã chín mùi, cho nên đương thời có Đề Bà Đạt Đa cũng muốn hại Phật, đến bảo với thái tử Thiện Kiến là ngài vốn không phải tên là Thiện Kiến mà tên là A Xà Thế, nghĩa là người có tâm thù oán trước khi sanh, cho nên khi sanh người, mẹ của người sợ thái tử lớn lên giết hại vua, nên cho thái tử rơi xuống từ trên cao, nhưng người không chết, ở trong thành này không ai mà không biết, chỉ có Thái tử mới không biết việc này thôi. nghe như vầy thái tử A Xà Thế sanh tâm trả thù, thái tử này vốn là người lương thiện nhưng bị ác hữu Đề Bà Đạt Đa súi giục nên sanh lòng oán ghét, lập mưu để xóa ngôi và bắt vua nhốt vào trong ngục.

Đề Bà Đạt Đa là em chú bác với Phật , anh của Ngài A Nan Đà Tôn giả, cũng là đệ tử của Đức Thế Tôn, nhưng trong tám năm trước khi Đức Phật nhập diệt thì ngài lại trở mặt với Tăng Đoàn, và tìm đủ mọi cách để hại Phật.

Chúng ta thấy, đó là những thứ nhân duyên kết tạo lâu đời, đợi khi nào nhân duyên chín mùi thì chúng sẽ đến với những ai đã tạo trong quá khứ, cho nên người tu đạo phải vè vặt những thứ nhân ác này, không nên sanh tâm sân hận mà phát ra những lời ác. mà phải nên sanh tâm hổ thẹn và sanh tâm hoan hỷ cho mọi người.

Kinh Văn:

Quốc Thái phu nhơn tên là Vi Đề Hycung kính Đại Vương, tắm gội sạch sẽ, rồi dùng bánh sửa, mật ong, trộn với bột chín đem bôi xoa trên đầu tóc thân mình, còn trong những hột chuỗi ngọc đeo mà đựng những nước bồ đào, rồi lén đem đến dâng cho vua. 

Lược giảng:

" Vi Đề Hy" (vaidehi) là mẹ của thái tử A Xà thế tức vợ của vua Tần Bà Sa La. Tên của bà có nghĩa là Tư Duy. Cũng có tên gọi là Thắng Diệu Thân, tôi cũng không biết tại sao gọi là Thắng Diệu Thân, có lẽ hình dáng bà ta rất xinh đẹp

Kinh Văn:

Vua Tần Bà Sa La nhờ ăn những thứ bột, sửa và mật ong và uống nước trái bồ đào trong những hột chuỗi ngọc anh lạc, súc miệng. Súc miệng xong, vua chắp tay cung kính chấp tay hướng về núi Kỳ Xà Quậtlễ lạy Thế Tôn mà bạch rằng: " Ngài Đại Mục Kiền Liênthân hữu của tôi, nguyện vì lòng từ bi mà đến truyền tám phần trai giới cho tôi".

Lược giảng:

Vua Tần Bà Sa La, nhờ ăn được những thứ do bà Vi Đề Hy đem đến mà sống, tuy ở trong nhà ngục mà vẫn nhớ đến Phật, nên từ nhà ngục hướng vế núi Kỳ Xà Quậtđảnh lễ đức Như Lai, và nói "Ngài Mục Liên là người bạn chí thân, xin vì lòng từ bi mà đến đây truyền tám phần trai giới cho tôi." 

Tuy là bị giam trong nhà ngục nhưng vua không hề thấy đó là chướng ngại, không những không thối thất tâm Bồ Đề, mà trái lại còn tinh tấn phát tu hành trong khi đang thọ khổ trong nhà lau. Thân của người có thể giới hạn, vua A xà thế có thể nhốt được thân ngài nhưng không làm sao có thể nhốt được cái tâm của vua Tần Bà Sa La. Sống trong nhà ngục nhưng Người không cảm thấy đó lá khổ, mà phát sanh tâm thanh tịnh nghĩ tưởng đến đức Thế Tôn.

"Thế Tôn" là một trong mười danh hiệu của Phật, nghĩa là người được Tôn Quí nhứt trong hàng thế gianxuất thế gian.

" Đại Mục Kiền Liên" Mục Kiền Liên trung Hoa dịch là Thái Thúc Thị. "Đại" đã nói ở trên, như vậy Đại Mục Kiền Liênđại Thanh Văn trong hàng Thanh Văn.

Ngài Mục Kiền Liênngười có thần thông bực nhứt. Ngài đều chứng được sáu phép thần thông. Sáu phép thần thông đó là:

1. Thiên nhãn thông
2. Thiên nhĩ thông
3. Tha tâm thông
4. Túc mạng thông
5. Thần túc thông
6. Lậu tận thông

"Tám Phần trai giới" mới nghe qua quí vị chắc có người cảm thấy lạ, nhưng kỳ thật tám phần trai giới này nó không lạ chút nào đối với 8 phần mười trong quí vị. Ta thường gọi là Bát Quan Trai, là tám thứ giới mà quí vị thọ bát quan trai trong những ngày cuối tuần vào mỗi hai tuần trong một tháng đó. Tám phần giới thì gọi là giới, không ăn quá ngọ thì gọi là trai. 

Kinh Văn:

Liền trong lúc đó Tôn Giả Đại Mục Kiền Liên,dùng thần thông như chim ưng, bay mau đến chỗ Vua, truyền giới Bát Quan Trai cho Vua. Ngày ngày đều như vậy, đến truyền giới cho Vua. Đức Thế Tôn cũng bảo Tôn giả Phú Lâu Na đến vì Vua mà thuyết pháp.

Lược giảng:

Liền trong lúc đó tức là vào lúc mà Vua hướng về núi Kỳ Xà Quật mà thưa "Ngài Mục Kiền Liênbạn thân của tôi, xin từ bi mà đến nơi này cho tôi thọ tám phần trai giới" lúc đó Tôn Giả Mục Liên chứng biết tâm niệm của vua, nên vội dùng thần thông đi đến chỗ vua bị giam, trong nháy mắt, như chim ưng, ý nói là vị Tôn Giả này khi chứng biết thì liền đến để truyền giới cho vua trong thời gian đó rất nhanh. kế đó Phật bảo với Tôn Giả Phú Lâu Na rằng hãy đến chỗ của vua Tần Bà Sa La vì ông ấy mà thuyết pháp cho ông ta. 

"Phú Lâu Na" Trung Hoa dịch là Mãn Từ Tử. Phú Lâu Na xuất thân từ giòng Bà La Môn. Tôn Giả vốn là sanh cùng ngày với Phật, Tôn Giả rất là thông minh. Khi Phật xuất gia thì Tôn Giả cùng với những người bạn khác cũng xuất gia tu theo giáo pháp của Ba Lê Bà Già Ca ở núi Himalaya. Khi đức Thế Tôn thành Đạo thì ông ta cũng chứng được tứ thiền và năm thứ thần thông. Ông dùng Thiên Nhãn thấy đức Thế Tôn đang chuyển Pháp LuânVườn Lộc Uyển nên đến đó quy y xin theo Phật, và chẳng bao lâu ông chứng được quả A La Hán

Phật ấn chứng cho Tôn Giả này là thuyết pháp bực nhứt trong hàng đệ tử Thanh Văn, không những Ngài là bực thuyết Pháp bực nhứt trong thời kỳ Phật Thích Ca, mà Ngài trong đời quá khứ trải qua chín mươi ức kiếp đức Phật quá khứ cũng là bực thuyết Pháp đệ nhứt, và trong tương lai cũng như vậy, khi Phật thành Phật thì ngài cũng thị hiệnthuyết pháp. Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Tôn Giả được thọ ký sẽ được thành Phật hiệu là Pháp Minh Như Lai, thế gìới tên là Thiện Tịnh, đều làm bằng thất bảo.

Kinh Văn:

Thời gian như vậy trải qua hai mươi mốt ngày, vua nhờ ăn bột chín trộn với mật,, uống nước nho, lại được thọ giới Bát Quan Trai, được nghe thuyết pháp nên nhan sắc Vua hòa vui. 

A Xà Thế hỏi người giữ cửa ngục rằng:" Hôm nay Phụ Vương ta vẫn còn sống ư ? ".

Người giữ cửa ngục tâu rằng:" Tâu Đại Vương! Quốc Thái phu nhơn trên thân trét mì mật, trong chuỗi ngọc đựng nước nho, đem dâng lên Vua. Còn có Sa môn Đại Mục Kiền LiênPhú Lâu Na đi từ trên hư không đến vì Vua thuyết pháp, chúng tôi không thể nào cấm ngăn được".

A Xà Thế nghe lời ấy giận Mẹ mình rằng:" Mẹ ta là giặc làm bạn với giặc. Sa Môn ác nhơn huyễn hoặc chú thuật khiến ác vương ấy nhiều ngày mà chẳng chết". A Xà Thế liền cầm gươm bén muốn giết mẹ.

Lược giảng:

"Sa Môn" có nghĩa là Cần giả và Tức Giả, Cần tu giới, định, tuệ, Tức là dừng nghĩ, nghĩa là diệt tham, sân, si vậy.

Kinh Văn:

Lúc ấy có một đại thần tên là Nguyệt Quang, người thật thông minh và cơ trí, cùng với Kỳ Bà đến lễ Vua A Xà Thế mà tâu rằng:" Tâu Đại Vương! Chúng Thần nghe Tỳ Đà Luận kinh nói từ kiếp sơ đến nay có các ác vương, vì tham ngôi Vua mà giết hại cha mình, đến số một vạn tám ngàn. Chưa từng nghe nói có kẻ vô đạo hại mẹ. Nay Đại Vương làm sự sát nghịch này làm ô uế dòng Sát Đế Lợi. Chúng thần chẳng nở nghe. Đây là Chiên Đà La. Chúng tôi chẳng nên còn ở lại nơi đây". Hai vị thần tâu rồi lấy tay vỗ lên gươm đi lui mà ra.

Lược giảng:

Tại sao gọi người này là Nguyệt Quang, kinh văn đã nói là vị này thật thông minh, ý nói người này có trí huệ sáng suốt trong sạch như mặt trăng vậy. 

"Kỳ Bà" là tiếng phạn, Trung Hoa dịch: Cố Hoạt. Kỳ Bà cũng là con của vua Tần Bà Sa La. Mẹ ông là bà Yên Lai Tử.

"Tỳ Đà" là kinh điển của phái Vệ Đà

"Sát Đế Lợi" là giòng vua chúa. "Chiên Đà La" là giai cấp hạ tiện.

Kinh Văn:

A Xà Thế kinh sợ, hãi hùng bảo Kỳ Bà rằng:" Còn anh cũng chẳng vì ta chăng?". Kỳ Bà tâu rằng:" Đại Vương cẩn thận chớ có hại mẹ".A Xà Thế nghe lời ấy, sám hối cầu cứu, liền bỏ gươm, thôi không hại mẹ, truyền lịnh cho nội quan đem giam mẹ ta vào thâm cung chẳng cho ra nữa. 

Lược giảng:

Sám-ma, trung hoa dịch là hối quá, tức sanh tâm hổ thện với những việc mà mình đã tạo. Lấy sám từ Phạn ngữ và lấy hối từ chữ Hán, gọi là sám hối.
"Sám Hối" Sám là sự phát khởi ở bên trong làm cho mình sanh tâm hổ thẹn, Hối là hối quá nghĩa là tự mình cảm thấy hối hận về việc mình đã làm nên sanh tâm hổ thẹn, là từ chỉ ở bên ngoài.

Kinh Văn:

Vi Đề Hy bị giam nhốt rồi, sầu lo tiều tụy, bà hướng về núi Kỳ Xà Quật lạy Phật mà nói lời như vầy:" Đức Như Lai Thế Tôn! ở những lúc trước kia, thường hay sai Tôn giả A Nan đến thăm và an ủi con. Nay con đang lo buồn đau khổ, không biết làm sao được thấy tướng uy nghiêm của đức Thế Tôn . Xin Phật thương cho Tôn giả Đại Mục Kiền LiênA Nan đến cho con được thấy. Nói xong, Vi Đề Hy buồn khóc, lệ rơi như mưa, hướng về đức Phật mà lạy. 

Lược giảng:

Vi Đề Hy bị giam trong ngục, bà lo buồn và tự nghĩ, mình bị giam ở đây, thì làm sao đem đồ ăn cho vua được? nên sanh tâm buồn bã. Bà đang ở thọ sự khổ nhưng tâm bà vẫn sáng suốt nghĩ tưởng đến Thế Tôn, để nói lên sự đau buồn vô hạn của cõi đời này, bà thành tâm hướng về núi Kỳ Xà Quật, mà thưa rằng: "Đức Như Lai Thế Tôn! ở những lúc trước kia, thường hay sai Tôn giả A Nan đến thăm và an ủi con. Nay con đang lo buồn đau khổ, không biết làm sao được thấy tướng uy nghiêm của đức Thế Tôn . Xin Phật thương cho Tôn giả Đại Mục Kiền LiênA Nan đến cho con được thấy" nói xong những lời như vậy tâm bà càng buồn bã nên mắt nước của bà chảy ra như mưa, lúc này có thể nói bà Vy đề Hy quên đi tất cả chuyện của thế gian, bà xem nó như là một vở bi kịch của cõi đời này nên bà thành tâm đến nỗi nước mắt bà chảy như thế. tại sao nói không biết làm cách nào có thể thấy được tướng mạo đoan nghiêm của đức Phật và xin phật thương mà bảo hai Tôn Giả Mục LiênA Nan đến cho bà được trong thấy. Khi nghe qua, chắc có người cảm thấy thật đơn giản vì bà đang thọ khổ nên muốn thấy Phật và Hai vị Tôn Giả, nhưng kỳ thật, nó không đơn giản như quí vị nghĩ đâu, theo như Kinh Văn thì như vậy, nhưng chúng ta cần phải hiểu ý của Kinh văn. 
 

Vi Đề Hy có thể nói là biểu thị cho tất cả chúng sanh, đang sống trong cảnh mịt mù đen tối của màn đêm, tuy chúng sanh sống nhờ vào ánh sáng của mặt trời, như họ không hề để tâm đến tướng mạo tồn tại của nó. Phật tượng trưng cho ánh sáng này. Khi chúng sanh thọ khổ vây quanh bởi bốn phía đều là màn đêm tâm tối, liền tưởng đến ánh sáng của mặt trời, nên tự nghĩ rằng " lúc trước ta sống trong sự vui vẻ được che chở bởi ánh sáng kia, nhưng ta không hề quan tâm gì đến tướng mạo của ánh sáng kia, nên sanh lòng hối hận từ đáy lòng phát ra lời chân thật, nguyện ta có thể thấy lại sự sáng đó. 
 

Vi Đề Hy nguyện được thấy tướng đoan nghiêm của đức Thế Tôn chính là muốn thấy được chân tướng của mình. Thân tướng của chúng ta xưa nay thanh tịnh đoan nghiêm đẹp đẽ, xa rời sự khổ, nhưng chính bản thân mình đã làm những việc gì? Ồ! Không biết, nên hôm nay thọ sự khổ, thọ khổ mà không biết khổ từ đâu đến, sanh tâm buồn bã nhớ tưởng lại chân tâm thật tướng của mình. Tại sao chúng sanh khi thọ khổ, thì mới nhớ lại được bản thân thanh tịnh vốn có của mình? Vì chúng ta đi tìm sự vui sướng ở bên ngoài quá nhiều, khi đang hưởng phước thì cho đó là chân, nên càng hưởng phước thì càng đi xa với chân tâm vậy. 
 

Khi thọ khổ chúng sanh liền nghĩ tưởng đến Phật cũng chính là chân tâm của chúng ta. Khi nghĩ tưởng như vậy, liền sanh tâm thanh tịnh tuy vẫn còn thọ khổ nhưng tâm không còn sợ nữa, bây giờ thì chân tâm có thể bước ra, và nói, "Này bạn, tại sao bạn phải khóc? Bạn đừng buồn nữa, đây là quả mà bạn đã trồng, đến mùa thì phải hái. Nay ta chỉ cho bạn con đường gặt hái nó được không?" Khi nghe những lời hiền hòa xoa diệu như vậy chúng sanh này liền phát tâm thanh tịnhquay về an trú trong tâm của mình. (phật tánh)
 

"Như Lai" cũng là một trong mười danh hiệu của Chư Phật, "Như" là không đến "Lai" là không về. Không đến nơi nào mà nơi nào cũng có, đó chính là ý nghĩa của Như Lai
 

"A Nan" nói đủ là A Nan ĐàTôn Giả là em chú bác với đức Phật. Ngày Phật thành đạo, cũng là vào lúc A Nan sanh ra. Tên của Ngài Trung Hoa dịch là Khánh Hỷ. Khi Phật còn tại thế thì vị Tôn Giả này làm thị Giả cho Đức Phật Thích Ca. Ngài A Nan cũng được Đức Phật thọ ký trên hội Pháp Hoa là sẽ được thành Phật hiệu là Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, là một vị Phật có trí tuệ không thể nghĩ bàn, cao như núi sâu như biển.

Kinh Văn:

Trong khoảng thời gian chưa cất đầu lên. Đức Thế Tônnúi Kỳ Xà Quật biết tâm niệm của Vi Đề Hy, liền bảo Đại Mục Kiền LiênA Nan đi từ trên hư không mà đến. Còn Đức Phật từ núi Kỳ Xà Quật mà ẩn mất, rồi hiện ra nơi cung vua.

Lược giảng:

Phật tuy ở trên núi Kỳ Xà Quật, nhưng Ngài biết được tâm niệm của bà Hy Đề Hy có lòng thành như vậy, nên bảo Tôn Giả Mục LiênTôn Giả A Nan đi từ trên hư không mà đến, còn Phật từ núi mà ẩn mất. 

Đi từ trên hư không mà đến, đây cũng có ý nghĩa là dùng tâm thanh tịnh vô uý mà đến, vì sao? Vì bà Vy Đề Hy vốn là đang bị giam ở thâm cung được canh gác chặt chẽ thì làm sao đến đó được? Cho nên nói là đi từ trên hư không mà đến, ý nói là đem tâm vô uý mà đến. Còn Phật thì ở núi mà ẩn đi. tại sao Phật ẩn mất. Vì tâm của bà bà Vy Đề Hy bị nhiễu loạn, muốn làm tâm bà được thanh tịnh, Phật bảo hai Tôn Giả đến chính là muốn làm cho bà được thanh tịnh. Trong tâm bị đục thời thấy Phật ẩn mất từ núi Kỳ Xà Quật, nhưng Phật vốn không ẩn mất nhưng nói là ẩn mất chín trong tâm niệm bất tịnh nên thấy Ngài ẩn mất từ núi Kỳ Xa Quật. Ẩn mất rồi lại hiện ra nơi cung Vua. 

Qua một niệm vô uý, tâm được lắng dịu mà trở nên trông suốt nên lúc này Phật lại hiện ra ở cung vua, để đáp lời thỉnh cầu của bà Vy Đề Hy. Giống như lu nước bị cặn bã làm cho nó bị đục đi, rồi bỏ phèn vào để cho nó lắng xuống, thì mọi cảnh trong lu đều thấy rõ. Cũng vậy, tâm người bị xáo trộn thì không thể nào thấy được cái chân tâm của mình, nhưng khi tâm đã buộc vào một niệm đó là chuyên nhứt về một tưởng, nên Phật tánh lại hiện ra. Đối với Phật thì đó không có hiện hay mất, nhưng chúng sanh lại thấy có hiện và mất, tâm đã thanh tịnh không còn sợ sệt, thì thấy rõ được chân tâm. Một khi chân tâm đã hiện thì phải nói pháp chân chánh. Chính là nói ra những lời chân thật để diệt những thứ khổ của bà Vy Đề Hy. Cũng chính là nói ra những lời chân tâmchúng sanh muốn được nghe, để cho chúng sanh nghe học được một môn học kỳ diệu, đó chính là học cách để gặt hái và tiếp nhận những quả đã chín một cách an vui mà không sanh tâm oán ghét. 

Kinh Văn:

Lúc bấy giờ bà Vi Đề Hiy lạy rồi ngước đầu lên, thấy Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật, thân sắc vàng đỏ thắm , ngồi trên hoa sen trăm tthứ báu, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên hầu bên trái, Tôn giả A Nan hầu bên phải. Trong hư không hàng Phạm Vương, Đế Thích, Hộ Thế Tứ Thiên Vương rưới khắp những thứ bông thơm để cúng dường đức Phật.

Lược giảng:

Lúc đó là lúc mà bà Vy Đề Hy lạy Phật xong rồi đang cất đầu nhìn lên , liền thấy được sắc thân vàng của đức Thế Tôn, đang ngự trên tòa hoa sen trăm thứ báu. 

"Phạm Vương" tức là vị Đại Phạm Thiên Vương là một chúa trời Đại Phạm ở cõi sắc giới, thuộc về sơ thiền thiên, trong sơ thiền thiền lại chia thành ba tầng trời, mỗi tầng trời lại có sáu cõi, cho nên có mười tám cõi trờisơ thiền thiên. vị trời này đều cai quản 18 cõi trời này. Ba cõisơ thiền thiên là: Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ ThiênĐại Phạm Thiên. Sao gọi là Phạm? Phạm nghĩa là thanh tịnh vì những người ở đây không còn sự dâm dục nữa, nên gọi là Phạm.

"Đế Thích" nói cho đủ là Đế Thích Đề Hoàn Nhân, Trung Hoa dịch là Năng Thiên Chủ, ông ta là vị chúa trời Đao Lợi thuộc về Dục Giới. Đao Lợi Thiên dịch là tam thập tam thiên tức là cõi trời thứ ba mươi ba. Vị Đế Thích này là chúa trời của những tầng trời này, không những ông ta cai quản những cõi trời như thế, mà còn cai quản luôn cõi nhân gian. Người đời thường cho là vị thiên đếvạn năng, phải! Ông ta chính là vạn năng, nhưng vị chúa trời này với chúng ta chẳng có khác biệt gì . Chỉ có khác là ông ta biết tu phước hơn chúng ta nên nay thì được phước là sanh làm vị chúa trời này, ông ta cũng ăn uống cũng có dâm dục, cũng nằm trong vòng luân hồi như mọi chúng sanh khác. Giữa ông và chúng ta không có khác biệt gì.Tuy mọi người cho vị chúa trời này là vạn năng nhưng trong Phật Giáo thì ngài chỉ là một vị hộ pháp mà thôi. Cũng là một trong hàng chúng sanh đang bị vòng vô minh vây quanh và đang hưởng phước như mọi chúng sanh đang hưởng phước trên đời này, khi phước đức hết thời cũng phải theo luật nhân quảtái sanh. Giống trong nhân gian, chúng ta và vua vốn không có khác biệt gì, khác là ở phước đức mà thôi, khi đang hưởng phước thì có quyền thế, kêu mây gọi gió, khi hết phước rồi thì cũng phải đối mặt với những gì mà chính mình đã tạo. Giống như diễn viên đang nhập vai diễn trên sâu khấu, khi diễn xong rồi mới nhận ra rằng đó chỉ là sự giả tạm chẳng phải là thật.

Trên sân khấu thì như vậy, nhưng khi rời khỏi sân khấu, quí vị thử nghĩ xem họ như thế nào? họ cũng là một trong những chúng sanh đáng thương . Người học Phật mục tiêu chính là giải thoát, không nên quá hâm mộ những gì được diễn trên sân khấu, phải có con pháp nhãn để nhận ra những gì đang diễn trong tuồng mà quí vị đang xem đó.

Chúng ta cũng là một trong những diễn viên đó,đang nhập vai, và vai diễn của chúng ta là phải làm cách nào để diễn mà không làm cho người khác bị tổn hại, nói cách khác là làm sao làm cho người xem không bị đấm nhiễm, đó mới thật là một diễn viên xuất sắc nhứt. Cứ thụ diễn hoài những thứ tham lam, sân hận, tà kiến, thì thật là quá chán đi, cứ diễn đi diễn lại những tập khí thô cằng của ba độc thì chúng ta không phải là một diễn viên xuất sắc, sau khi tốt nghiệp trường đại học Phật Giáo. Nếu chúng ta không cố tâm để học giáo lý một cách chí thành, mà thụ diễn những bi kịch của ma vương, quả là chúng ta đang làm trò cười cho thiên hạ, không những sự giải thoát không được đến gần, mà trái lại càng diễn thì càng xa Bồ Đề vậy.

Tôi xin phép hỏi quí vị ở đây rằng:, quí vị đến đây để làm gì? Có phải để học làm sao diễn tham sân si, hay là học cách diễn để trừ diệt tham, sân, si. Nếu như quí vị đến nơi này học diễn tham sân si thì tôi thành thật xin lỗi, nơi này không có dạy môn học này. Còn những ai đến đây để học làm sao diệt tham sân si thì người đó đã tìm đúng chỗ rồi đấy.

Người Phật Tử, đã chọn môn học này rồi thì phải siêng năng rèn luyện đức tính của mình, ngày đêm trao dồi giới luật, hãy bỏ đi những thứ tánh tăng thượng mạng, ích kỷ, tham lam, hơn thua, mưu cầu, tự lợidối trá. Phải dùng tâm từ bi, hỷ xã mà đối đãi với tha nhân, Khi nói ra lời gì cần phải chân thật. Ai làm như vậy, tức là đã tốt nghiệp bằng cử nhân về môn đạo đức rồi đấy. Sau khi đã tốt nghiệp bằng cử nhân, chúng ta cũng cần phải học tiếp, để lấy luôn bằng thạc sĩ về môn học này. Môn học này có lẻ không bao giờ học hết được, hễ sự hiểu biết của quí vị học đến đâu thì nó sẽ rộng đến đó.

Cho nên chúng ta hôm nay ở nơi này để nghe Phật thích Ca, giảng về cách làm sao học để hòa chung với nó, hễ nó rộng lớn bao nhiêu thì sự hiểu biết của chúng ta cũng rộng lớn đến đó, mà không cần phải tham gia một khóa huấn luyện nào. Đức Thế Tôn đã dạy chúng ta học về mười sáu môn học trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ này, cũng chính học cách làm sao để làm chìa khóa mở cửa cổng ngôi biệt thự của mình. 

Cho nên những ai muốn được tốt nghiệp bằng cử nhân, thì phải dụng công và làm theo những gì mà Phật đã chỉ cho chúng ta. Trong khi học, điều cần thiết nhứt chính là sự chân thật, và hãy quên đi mình là ai, để hòa chung nhịp thở, sống cùng một thể, hòa đồng với mọi người để chúng ta chia sẽ cho nhau, những gì mà người khác lãnh ngộ. Bỏ đi những thứ tăng thượng mạng, mà phải học hỏi với mọi người, vì mọi người chính là thầy giáo cho nhau.

Những ai tu học một cách thành tâm, chân thật như vậy, thì quí vị sẽ học được làm sao để mở cửa ngôi biệt thự của mình. Thời nay, tuy là thời mạt pháp khó tu hành, nhưng đây cũng chính là lý do cho những ai không chí thành để học đạo, mượn hai chữ mạt pháp để tự do sửa đổi những thứ qui cũ mà chính do Đức Thế Tôn đã đặt ra, với lòng từ bi vô hạng, để cho chúng sanh nhờ vào đó mà có được sự giải thoát chân chánh. Những người đời nay sẽ bảo, Phật Pháp đối với thời của đức Phật thì còn hòa đồng được, đối với thời bây giờ, mọi thứ điều thay đổi cho nên chúng ta cần phải sửa lại những thứ qui cũ này để cho nó hợp với thời mạt pháp chứ. Họ nói năng rất hợp lý, tuy nhiên rõ ràng là đi sai với đạo. Tôi rất ngu si nên nương vào những gì mà Phật đã chế ra khi ngài còn tại thế, có người nói sao ngu vậy. Đúng vậy, tôi muốn như vậy mà. Hy vọng rằng người trong khi học Phật Pháp cũng phải biết giới hạng trí thông minh của mình, Vì sao? vì người ở thế gian bây giờ quá thông minh. Người học Phật trong thời mạt Pháp này mà không giới hạng sự thông minh của mình, thì khó mà ngộ đạo, nếu không thì tốt hơn là không nên ở lại già lamthọ sự cúng dường của hàng tín thí

Sống trong thời kỳ mạt Pháp này, người học Phật cần phải thông minh bội phần hơn người ở xã hội này. Đối với tôi không có hội đủ trí thông minh này, nên phải chịu an phận với sức trí thông minh của mình. Quí vị ở đây đều là người trí thức cho nên những hành vi cử chỉ cần phải chuyên nhất, nhứt là khi nói phải là lời chân thật; như vậy quí vị mới thật là người đáng kínhtrí thức trong hàng trí thức. Phật Pháp xưa nay không sanh cũng không diệt, thì có lý do gì mà theo thời gian ô trược này mà sanh diệt chứ? Có chăng đi nữa cũng tại ở chúng ta mà thôi. Hoàn cảnh xoay chuyển, xã hội biến đổi, tâm quí vị động cho nên mới có Chánh Phápmạt pháp.

Cho nên trước tiên cần phải khóa lại sáu căn của mình bằng sáu cái chìa khóa Nam Mô A Di Đà Phật. Tôi thành thật cho quí vị biết, một khi quí vị dùng sáu cái chìa khóa này để khóa lại sáu cánh cửa làm duyên tiếp xúc với lục trần, thì đừng nói là có người sẽ mở được. Dù đó là bực Bồ Tát đi chăng nữa, cũng phải tuân thủ và sống trong sáu chữ này. Cho nên chúng ta hãy phát lòng chân tín đối với Pháp môn này. Thì không bao lâu quí vị sẽ về được với ngôi biệt thự của mình, mà không cần phải khởi tâm mông đợi. Không trông mong mà lại được, được rồi thuận duyên cũng chẳng không, đây mới thật là kết quả chân thậtchúng ta đã bỏ công lao bồi đắp hôm nay, cho nên hãy cố gắng lên, hãy đối diện với hiện tại, đừng truy tìm quá khứ, quá khứ đã từng làm những gì? thì cũng chỉ là sao đớm mà thôi, phải cố ngượng lên và đi cho vững, cố gắng làm sao cho mình không bị dấp ngã nữa thời quí vị mới là người Phật Tử chân thật vậy. Quá khứ đã không, thời vị lai cũng như bọt nước.

"Tứ Thiên vương" là bốn vị vua trời ở tầng trời Tứ Thiên Vương, cũng là tầng trời thứ nhất trong Dục Giới. Bốn vị Thiên Vương này, mỗi một vị trông coi một phương, bốn vị này thường lai vãng trông xem chúng sanh ở cõi này nên gọi là hộ thế vậy. Phía Nam là Tăng Trưởng Thiên Vương, Phương Bắc là Đa Văn Thiên Vương, Phía Đông là Trì Quốc Thiên Vương và Phương Tây là Quảng Mục Thiên Vương.

Những thiên chúng như vậy rải những thứ bông thơm xuống để cúng dường cho Đức Phật, đây là biểu hiện tấm lòng cung kính trước khi được nghe Phật thuyết Pháp Môn này. 

Kinh Văn:

Vi Đề Hy thấy Phật Thế Tôn, liền tự dứt bỏ hết những chuỗi ngọc đang đeo trên người, rồi cả thân mình gieo xuống đất kêu khóc hướng Phật mà bạch rằng:" Bạch đức Thế Tôn! Không biết đời trước con đã gieo những nhân ác gì, mà đời này sanh đứa con nghịch như thế? Đức Thế Tôn lại có nhơn duyên gì mà cùng làm quyến thuộc với Đề Bà Đạt Đa

Lược giảng:

Khi thấy Phật, bà Vy Đề Vy liền tự tay mình cởi xuống hết những chuỗi ngọc mà bà đang đeo, hướng về đức Phật rồi thân bà cuối xuống than khóc mà thưa hỏi Phật rằng: "Thưa Thế Tôn không biết là trông đời quá khứ con đã tạo những thứ nhân ác gì, mà hôm nay con lại sanh ra đứa nghịch tử như vậy, sát hại vua cha, và đem con nhốt vào thâm cung như thế này, còn đức Thế Tôn là bực thiện nhơn, thì nhơn duyên mà lại làm quyến thuộc củ Điều Bạt". 

Bà Vy Đề Hy tượng trưng cho tất cả chúng sanh giai cấp cao quý, trí tuệ, nhưng đối trước Như laicảm thấy mình không còn là bực cao quý, sáng suốt nữa, mình chỉ là một chúng sanh ngu muội, đầy tội lỗi, không phải là bậc được thần dân tôn trọng; nên bà cởi chuỗi ngọc xuống, đây chính là sự biểu hiện cung kínhthành tâm của bà đối với đức Thế Tôn. Bà Vy Đề Hy hỏi những thứ nhân mà bà đã trồng trong đời quá khứ, thì lại nối tiếp liền hỏi Phật về con đường diệt khổ như sau.

Kinh Văn:

Cúi xin đức Thế Tôn vì con mà nói rộng những quốc độ nào không có điều đau khổ, lo buồn,để con cầu xin về cõi đó, chớ con không muốn ở cõi Diêm Phù Đề này là đời đầy trược ác vậy. Ở trong cõi ngũ trược ác thế như vầy, nào là địa ngục, ngạ quỷsúc sanh thường đầy dẫy, phần nhiều. Phần nhiều là chứa nhóm những việc dữ; con nguyện qua đời sau, không nghe những từ ác, không thấy người ác,nay con hướng về Đức Thế Tôn, năm vóc gieo xuống đất, cầu xin sám hối đối trước đức Thế Tôn. Cúi xin đức Phật, soi ánh sánh huệ nhựt chỉ dạy cho con phép quán để sanh về chỗ thanh tịnh nghiệp.

Lược giảng:

"Diêm Phù Đề" dịch là Thắng Kim, vì dưới đáy biển phía bắc của Nam thiệm Bộ Châu có vàng chói lên làm cho nước biển và cây phát ra ánh ra sắc vàng nên gọi là Thắng Kim.

"ác thế" là chúng sanh sống trong cõi đời đầy hay làm những việc ác. Trược chính là vết nhơ. Ngũ Trược tức là năm thứ trược;
 

1. Kiếp Trược là kiếp không trong sạch
2. Kiến Trược là những kiến thức không trong sạch, những kiến giải không chơn thật
3. Phiền não Trược, là chúng sanh đều có mọi thứ phiền não, cũng không trong sạch.
4. Chúng sanh trược, con ngườichúng hữu tình đều ô trược
5. Mạng trược là mạng sống không trong sạch
 

"Ngũ vóc" là đầu, hai tay và hai chân gieo xuống gọi là vóc, bà Vi Đề Hy gieo năm vóc xuống đất mà lạy Phật, đây cũng chính biểu lộ sự cung kính với Phật.

"huệ nhựt" ý nói trí tuệ sáng suốt soi thấu khắp nơi hiểu biết một cách chân thật, chính xác mà chỉ dạy cho bà, để bà có thể làm theo để cầu sanh về thế giới thanh tịnh không có sự ác như cõi Ta Bà của chúng ta đây. Cũng chính là muốn cởi bỏ đi lớp người mang đầy tội lỗi, cởi bỏ đi những thứ mà chúng ta mặc vào để diễn kịch trên sân khấu.

Kinh Văn:

Bấy giờ ở giữa chặn mày của đức Thế Tôn, phóng ra hào quang sắc vàng, chiếu khắp mười phương vô lượng thế giới, trở về trụ tại đỉnh đầu Phật, hóa làm đài vàng lớn như núi Tu Di, bao nhiêu quốc độ thanh tịnh vi diệu của mười phương chư Phật đều hiện rõ trong đài vàng ấy.

Lược giảng:

"Bạch Hào" là một trong ba mươi hai tướng tốt, nằm ở giữa đôi mày của Phật. Hảo tướng này trắng như tuyết. Đây cũng gọi là Đại nhân tướng. ánh sáng giữa chặn mày phóng ra cũng là muốn tiêu biểu cho trung đạo, cũng tượng trưng cho hàng Đại Thừa tức là hàng Bồ Tát học. Phật phóng ra ánh sáng này, chiếu khắp mười Phương thu nhiếp hết tất cả cõi nước trang nghiêm của chư Phật vào trong ánh sáng này. Sau khi thu nhiếp các cõi trang nghiêm của chư Phật , thì ánh sáng này lại trở về và trụ trên đảnh của Thế Tôn.
 

"Tu Di Sơn" dịch là Diệu Cao, núi này thuần làm bằng bốn thứ báu,vàng, bạc, lưu lypha lê, rất xinh đẹpvững chắc nên gọi là Diệu, núi này cao hơn hết tất cả núi khác gọi là Cao. Tóm lại nó rất cao và vững chắc không bị lay động nên gọi là Tu Di sơn. Trong Kinh Phật thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, sau khi Phật nói về những hạnh nguyện thanh tịnh trang nghiêm của Phật Dược Sư, rồi hỏi Ngài A Nan có tin không? Lúc đó, Tôn Giả A Nan bạch Phật:"Bạch đức Thế Tôn, đối với khế kinh của Như Lai nói không bao giờ con sanh tâm nghi hoặc. Tại sao? Vì những nghiệp thân, khẩu, ý của các đức Như Lai đều thanh tịnh. Bạch đức Thế Tôn, mặt trời mặt trăng có thể rơi xuống, núi Tu Di có thể lay động, nhưng những lời nói của chư Phật nói ra không bao giờ sai được" Cho nên chúng ta có thể biết Núi này thật là vững chắc.
 

Phật độ mười phương được Phật thu nhiếp vào ánh sáng của Ngài phóng ra, khi trở về trụ trên đỉnh của ngài rồi hóa làm ra Đài vàng lớn như núi Tu Di, rồi các cõi đó đều hiện rõ trong đài vàng.

Kinh Văn:

Hoặc có quốc độ thất bửu hiệp thành. Hoặc có quốc độ thuần là liên hoa. Lại có quốc độ như tự tại Thiên cung. Lại có quốc độ như gương pha lê. Có vô lượng quốc độ chư Phật như vậy trang nghiêm xinh đẹp, khiến Vi Đề Hy được thấy.

Lược giảng:

Những quốc độ đó, hoặc có quốc độ làm bằng thất thảo."thất bảo" là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, xích châu, pha lêmã não.Hoặc có cõi thuần là hoa sen tượng trưng cho sự trong sạchthanh khiết. Đại Tự Tại Thiên là một trong những cõi trờitứ thiền, thuộc về sắc giới, ở đây nói là có quốc độ như cung Đại Tự Tự Tại Thiên cũng là để diễn tả sự vui vẻ của người ở quốc độ đó. "Lại có quốc độ như gương pha lê cũng tượng trưng cho sự thanh tịnh sáng suốt như pha lê. Tất cả quốc độ trang nghiêmmười phương đều hiện rõ ở trong đài vàng của đức Phật phóng ra, mỗi mỗi đều trang nghiêmxinh đẹp, làm cho bà Vi Đề Hy được thấy rõ ràng.

Kinh Văn:

Bấy giờ bà Vi Đề Hy bạch Phật rằng:" Bạch đức Thế Tôn! Những cõi nước của chư Phật như thế trang nghiêm thanh tịnh và đều có hào quang sáng suốt, nhưng con nay muốn cầu được vãng sanh về thế giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà. Xin Phật từ bi dạy cho con cách quán tưởng và dạy con chánh thọ? 

Lược giảng:

Có người muốn làm giàu nhưng không biết phải bắt đầu từ nơi nào để làm, đến hỏi một người bạn có đại trí huệ rằng:" Đời sống tôi quá cực khổ, chịu đói chịu khát, nay tôi muốn làm giàu để thoát khỏi những thứ khổ này, nhưng trí tuệ của tôi quá kém không biết phải làm sao, xin thương chỉ cách cho tôi để tôi có thể y theo đó mà làm? Để thoát khỏi cảnh nghèo đói như vậy.
 

Cũng giống như vậy, bà Vi Đề Hychúng sanh trong lục đạo chính là những chúng sanh nghèo đói, bị ba giặc vây quanh và chịu mọi thứ phiền não, trôi lăn trong sáu đường. Bà xin Phật thương chỉ cách quán tưởng để làm nhân cho lộ trình của bà được thành tựu cũng chính là muốn thoát khỏi vòng vô minh, sau khi trải qua một thời gian quán tưởng được thành tựu trong thấy được cõi nước thanh tịnh Cực Lạc của Phật A Di Đà tức là Chánh thọ. Khi thành tựu được những gì mà mình mong muốn, tuy thân người còn ở thế giới này, nhưng đã được phần vãng sanh về thế giới kia. Nói cách đơn giản hơn, là quán tưởng chính là nhân và Chánh thọ chính là quả cũng là những gì mình ra công bồi đắp mà có được. Giống như người ở trên hỏi bạn mình cách thức làm ăn như thế nào, rồi trải qua một thời gian làm lụn vất vả mà dành dùm được số tiền để chuẩn bị cho mình trước khi về hưu vậy.

Kinh Văn:

Lúc đó Đức Thế Tôn liền mĩm cười, từ trong miệng Phật phóng ra hào quang ngũ sắc, mỗi một đạo hào quang Phật phóng ra đều chiếu vào đỉnh đầu của vua Tần Bà Sa La. Dầu bị giam cầm ngục tối, tâm nhãn vua không chướng ngại xa thấy đức Thế Tôn, vua đầu mặt lạy Phật, tự nhiên tăng tiến đạo lực thành bực A Na Hàm.

Lược giảng:

"Lúc đó" là lúc mà bà Vi Đề Hy thưa thỉnh như trên, Phật liền mỉm cười, trong miệng phóng ra hào quang năm sắc(ngũ sắc quang). Tại sao Phật lại mỉm cười? Phật mỉm cười là sự biểu hiện cho sự vui vẻ, vì không biết sẽ có bao nhiêu chúng sanh nhờ vào câu hỏi của bà, mà được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, chúng sanh một khi về thế giới kia thì còn lo sợ chuyện gì nữa? Cho nên Phật mỉm cười, cũng là biểu hiện lời khen ngợi của Phật đối với bà Vi Đề Hy, là một chúng sanh đang thọ ác khổ mà có thể phát ra lời thưa hỏi như thế, câu hỏi này rất hợp với ý của chư Phật, nên phải mỉm cười, không phải là cười to mà là cười mỉm . 

Do nơi Phật mỉm cười nên phóng ra hào quang ngũ sắc, thanh, hoàng, xích, bạch và hắc. Xanh là Định, niệm là vàng, tinh tấn không lùi là đỏ, tín là trắng và tuệ là đen. Giác thì không mê, mê thì không giác, có tuệ thì màn vô minh cũng phải nhập niết bàn, không thể chóng cự được, cho nên màu đen chính là trí tuệ. Hào quang phóng ra từ nơi miệng là làm lợi ích cho chúng nhị thừa cũng chính là lợi ích cho hàng thanh Văn, Duyên Giác và thu về trên đảnh của đức Như Lailợi ích cho hàng Bồ Tát Đại Thừa. Mỗi một ánh sáng đều chiếu vào đỉnh đầu của vua Tần Bà Sa La.

Lúc đó, vua Tần Bà Sa La tuy bị giam trong nhà ngục, nhưng một lòng hướng về đức Phật, và nhờ oai thần của đức Thế Tôn làm ông thấy được thân vàng của Ngài, nên sanh tâm hoan hỷ, vui mừng đảnh lễ đức Như Lai. Do tâm thành kính như thế, nên từ trong tâm sanh ra định lực (chánh định) và lòng tin bất hữu nên an nhiên tự tại trước cảnh trần ô trược này nên đạo tâm tăng trưởng liền chứng bậc A Na Hàm.
 
"A Na Hàm" dịch là Bất Hoàn hay bất lai, là quả thứ ba của hàng Thanh Văn, vị này không còn sanh vào cõi nhân gian nữa nên gọi là bất lai, sau khi trả thân thì sanh vào cõi trời Tịnh Cư của Tứ Thiền Thiên

Kinh Văn:

Đức Phật bảo Vi Đề Hy rằng:" Nay người có biết không? Đức Phật A Di Đà cách cõi Ta Bà này không xa, người phải buộc tâm lại một chỗ mà nên chánh niệm quán quán kỹ cõi nước ấy thì tịnh nghiệp được thành. Nay ta sẽ vì người mà nói rộng các pháp quán, cùng khiến đời vị lai tất cả hàng phàm phu, những người muốn tu tịnh nghiệp được thọ sanh Tây Phương Cực Lạc quốc độ

Lược giảng:

Phật cho bà Vi Đề Hychúng ta ngày nay biết là Đức Phật A Di Đà ở cách đây không xa, vậy Ngài ở cách chúng ta bao nhiêu cây số? Có người sẽ nói Không thể tính biết được, nhưng tôi nói cho quí vị biết, Ngài không những ở không xa, mà rất gần với chúng ta. gần hay xa đều tùy vào ở nơi quí vị,. Tại sao? Vì đối với mọi người đều sai biệt khác nhau, vốn là một nhưng chúng sanh có quá nhiều vọng tưởng và mỗi mỗi vọng tưởng đều sai biệt, nên mới có sự sai khác này. Chúng sanh ít vọng tưởng thì gần một chút, chúng sanh vọng tưởng nhiều, thì xa một chút, cho nên không thể nói được. Đối với người kia, thì xa vạn dặm, còn theo người nọ thì cận kế bên. 

Một khi hoa đã nở thì trong một niệm trong duỗi tay thì người kia đã đến thế giới của Phật A Di Đà, vậy phải nói xa bao nhiêu và gần thì ở nơi nào? Ồ! tôi Không biết! gần hay xa đều tùy vào quí vị. Xa hay gần không phải là câu hỏi để chúng ta phí thời giansuy gẫmbiện luận, mà phải phát tâm tinh tấn, buộc niệm về chỗ, thực hành đúng pháp, đi, đứng, nằm, ngồi không rời sáu chữ. Thành tâm tu học như vậy, thì chắc chắn sẽ cạnh bên Ngài, vậy quí vị có thành tâm không? Có chánh tín không? Đây mới là câu hỏi của quí vị cần phải trả lời.

Ví như có người bảo, từ Úc Châu đi Âu Châu rất xa, rồi họ đem đề tài này ra mà tranh luận. Họ tranh luận những gì? Họ tranh luận, xa hay gần, gần hay xa. Trải qua một đời người dài như vậy họ cứ tranh luận đến khi bỏ xác thân này. Quí vị nghĩ xem, họ có đáng thương không? 

Thật đáng thương thay! Cho nên chúng ta cũng vậy, đìều mà chúng ta cần làm là phải thực nghiệm, chớ không phải đứng yên một chỗ, mà tranh luận xa hay gần, tốt hay xấu v.v.... Muốn biết được gần hay xa, thì quí vị cần phải chính thân mình thực nghiệm. Hôm nay tôi nói cho quí vị biết là đường về Cực Lạc vốn là không xa. Xa là do ba thứ tâm điên đảo của chúng sanh che mất nên không thể thấy, chớ Cực Lạc vốn là không xa với mọi người.

Đường về Cực Lạc rất gần. Sao tôi biết nè? Người muốn đi từ úc Châu đi Âu Châu, mà đi bằng máy bay thì không lâu lắm, còn nếu đi bằng thuyền thời phải cần có thời gian. Tôi nói đường về Cực Lạc vốn không xa, vì chúng ta đi bằng ba thứ tâm, ba thứ tâm gì? chính là tâm không tham, tâm không sân và tâm không tà kiến vậy. Đi bằng ba thứ tâm này thì rất nhanh vì đi bằng ánh sáng của đức Như Lai (Phật Quang), chúng sanh chỉ cần có chánh niệm thì có thể đi trong ánh sáng của Ngài. Quí vị nghĩ xem, bang ngày mặt Trời có sáng không? Vậy quí vị có hiểu tôi muốn nói gì không?
 

Chỉ cần quí vị mua vé, thì có thể lên máy bay mà về với quê hương của mình. Muốn mua vé này, quí vị không cần tốn một đồng tiền của nào, mà chỉ cần tham quán và an trú trong sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, thì có thể lên máy bay mà về với quê hương của quí vị.

Mặt trời vốn không biến đổi, nhưng tùy ở mỗi quốc gia lại có sáng và tối, đây đều là do địa cầu xoay chuyển, vậy ai có thể nói rằng lỗi ở mặt trời. Phật bảoVi Đề Hy hay chúng ta trong đời này, phải buộc tâm lại quán cho kỹ càng cõi nước ấy, như vậy thì tịnh nghiệp sẽ được viên thành tức là được sanh về cõi ấy.

Chúng sanh hướng ngoài tìm sự an lạc, nhưng tìm mãi vẫn không sao tìm được. Vì sao vậy? 

Thí vụ như có người nghèo khổ, có người bạn lại giàu sang tiền tài dư giả, chuyện làm ăn thì bận rộn đi đây mai đó, không có thời gian để trông coi nhà cửa, nên ngõ ý nhờ người bạn nghèo đến trông coi dùm một thời gian, khi về thì trả lại. Cũng như vậy, chúng ta là người bạn nghèo khổ kia, sống trong cảnh bị nghiệp chi phối mang thân tứ đại mà cho là thật, nên không quan tâm gì đến chuyện sanh tử

Có người nói sống phải hưởng thụ chứ? Nếu không thì sẽ uổng kiếp này. 

Quí vị nghĩ xem, lấy giả làm thật mà cho là mình đang hưởng thụ, thật là đáng thương thay.

Khi tôi còn ở bực Trung Học, có người bảo tôi như vầy " sống mà không biết hưởng thụ, mặc chiếc áo thô sơ, ăn thì rau cải, làm gì cũng phải theo quy cũ, không có tự do chút nào, như vậy có phải là đang đày thân xác của mình?". 

Quí vị nghĩ xem tôi sẽ trả lời như thế nào? Thật không biết trả lời thế nào để cho người bạn này hiểu, vì tôi không có trí tuệ, nên không hiểu rõ là tại sao mình làm như vậy, hơn nữa, người hỏi này rất là thông minh, có thể biện luận một cách khiến cho tôi phải căm phục, nên tôi trả lời sao thì họ cũng có cách để biện minh cho họ. 

Khi nghe câu hỏi như thế, tôi không trả lời mà hỏi lại rằng: " Bạn muốn chọn ngành gì sau khi bạn thi xong VCE (thi tú tài)? Người này nói tôi muốn vào học ngành Nha Sĩ, nhưng Enter để vào ngành này rất cao (điểm thi lớp 12 để vào Đại học). Tôi hỏi chắc bạn phải siêng học để đạt được điểm này? Người ấy bảo, phải rất là bận, ngoài việc ngủ ra, tôi đều chú tâm vào việc học, nhứt là vào những ngày có Test (Thi trắc Nghiệm) thì càng bận hơn. Vậy tôi chúc bạn được toại nguyện nhé. Người bạn này bảo tôi, "bạn vẫn chưa trả lời tôi". Tôi nói, tôi đã trả lời rồi. 

Quí vị nghĩ xem, qua những lời đối thoại trên, tôi có trả lời bạn ấy chưa?

Cho nên tôi hy vọng, người Phật Tử những ai mong cầu sự giải thoát thì phải thành tâmsửa đổi lỗi lầm của mình, chớ đừng chỉ biết nói ở ngoài miệng thôi, hãy quên đi mình là ai. Người đào giếng cố tâm để đào không sợ gian nan thì chắc chắn là sẽ tìm được mạch nước cam lồ.

Cũng giống như vậy, Phật bảoVi Đề Hy rằng, phải buộc niệm lại một chỗ mà quán kỹ cho rõ ràng thì tịnh nghiệp sẽ thành. Tại sao phải buộc niệm? Chúng sanh có quá nhiều vọng tưởng, những thứ vọng tưởng này đã làm cho chúng sanh trôi lăn trong ba đường sáu nẻo, không làm sao có thể rời khỏi bến mê, Vì sao vậy? Vì chúng sanh này đã bị một thứ keo dáng chặt, không thể nào rời khỏi được phạm vi của nó. Để ra khỏi phạm vi đó chỉ có một cách là chúng sanh đó phải tự mình tháo gở cho sạch những thứ keo mà chính họ đã từng tự tay mình dáng vào. Gỡ bằng cách nào đây? Chính là bằng mười sáu pháp quán tưởng của đức Thế Tôn đã chỉ cho chúng ta ở trong kinh này.

Phật đã nói, là vì bà Vi Đề Hychúng sanh trong đời vị lai, mà nói rộng những Pháp quán tưởng chân thật để cho những ai muốn tu tịnh nghiệp, đều được sanh về thế giới Cực Lạc. Chúng sanh trong đời vị lai chính là chúng ta đây và cũng là những chúng sanh sau này.

Danh Phật để niệm Phật
Pháp môn thật tuyệt diệu
Mười Phương đồng ca tụng
Ba đời đều tán dương
Công đức Bồ Tát Pháp Tạng
Nay con cũng như vậy 
Xưng tụng đại công ơn 
Chúng sanh được giải thoát
Nam Mô Vô Lượng Thọ Phật
Đã là Người Phật Tử
Có nên tinh tấn không?
Đối với pháp môn này!
Niệm niệm tưởng Di Đà
Cùng đến bờ giải thoát
Thật Pháp môn vi diệu
Có ai biết hay không?
Chúng sanh không thấu rõ
Vô minh che lắp dần
Hỏi Phật sao không tỏ?
Không sợ Phật chẳng tỏ
Chỉ sợ niệm không thành.
Chúng con thành tâm niệm 
Nguyện Phật chứng minh cho,
Phật Pháp là tuệ nhựt
Niệm Phật vua các pháp
Bao trùm khắp mười phương
Vạn Pháp đều quy nhứt
Nằm trọn trong sáu chữ
Nam Mô Vô Lượng Giác Giả.
Nguyện đời đời cận học
Tham quán đối thoại này
Nguyện con và đại chúng 
An trú trong pháp này.

Kinh Văn:

Nầy Vi Đề Hy! Người muốn sanh về nước Cực Lạc ấy phải tu ba điều phước. Một là hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ bực Sư Trưởng, có tâm nhơn từ chẳng giết hại và tu tập mười nghiệp lành. Hai là thọ trì Tam Quy y, đầy đủ các cấm giới và chẳng phạm oai nghi. Ba là phát tâm Bồ Đề, tin sâu nhơn quả, đọc tụng Kinh điển Đại Thừa và khuyên tấn người tu hành. Ba điều như vậy gọi là tịnh nghiệp.

Lược giảng:

Phật bảoVi Đề Hy rằng: những ai muốn sanh về thế giới kia, thì cần phải tu ba điều phước thiện.

Thứ nhứ: "Hiêú dưỡng Cha Mẹ" "Hiếu" là hiếu thuận, "Dưỡng" là dưỡng nuôi. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ bực sư trưởngtâm từ không sát hại, chính là tượng trưng cho tam bảo, nhưng tam bảo này khác với tam quy. Tam bảo này chúng ta đã bỏ quên quá lâu nên nay Phật nhắc lại cho chúng ta biết. Cha Mẹ tiêu biểu cho chư Phật, Sư Trưởng tượng trưng cho Pháp và Tâm từ không sát hại tượng trưng cho Tăng Chúng. Vạn hạnh hiếu vi tiên, hiếu là nguồn cội gốc của chúng sanh, muốn thành thánh nhân cần phải hiếu. Cho nên đây là việc làm căn bản mà người học Phật cần phải có, cha mẹ chính là chư Phật.(Phật tử đối với Chư Phật). 
 

"Sư Trưởng" là bực tu hành để giải thoát, chính là những lời nói cử chỉ đều phải chân thật, vì pháp vốn là chân kiếnSư Trưởng là người nối ngôi truyền Chánh Giáo không để bị diệt vong để làm lợi ích chúng sanh. Cho nên chúng ta phải kính thờ người xưng Pháp, cũng chính là chúng ta phụng theo chánh Pháptu hành vậy(Pháp).
 

"Tâm từ không sát hại" tượng trưng cho chư Tăng, ý nói hãy sống hòa thuận với mọi người (chúng sanh), không nên sát hại tranh cải những điều vô ích. Mà phải dùng tâm Từ Bi Hỷ Xảđối đãi với mọi người. Đây chính là tam bảo của nội tâm
 

Thứ hai: "Tam Quy" là quy y Phật, quy y Pháp quy y Tăng, đã nói ba thứ quý của nội tâm vốn đã có, nay phải nói ba thứ quý của thế gianxuất thế gian, vì tuy chúng sanh đều có Phật tánh thanh tịnh trong suốt, nhưng tự mình bôi trét lên những thứ bất tịnh không trong sạch, cho nên cần phải có gương để xem cho rõ chúng sanh đã trét lên những thứ gì. Phật là bậc giác ngộ(giác giả), Pháp là chánh kiến(chánh ngữ), Tăng là hòa thuận (chánh nhân). Ba tấm gương này có thể giúp chúng sanh nhận ra bộ mặt thực vốn có xưa nay của mình(bổn lai diện mục). Quí vị nghĩ xem ba tấm gương này có đáng gìn giữ và học theo không? Cho nên cần phải nương theo, và phải để bên mình để xem mặt thật của chúng ta mỗi khi bị bụi cát bám vào do cơn gió thổi qua vậy.
 

Phàm đã thọ giới thì cần phải gìn giữ cho được thanh tịnh, không nên phạm các thứ giới mà mình đã thọ. "Đừng phạm oai nghi" là trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, động tĩnh, mọi hành vi cử chỉ phải giữ cho được nghiêm trang và đoan chánh.

Thứ ba: "Phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh đại thừa, và khuyên người tu học" đã có gương giác ngộ của đức Phật phản chiếu cho chúng ta thấy rõ bộ mặt của chính mình, thì cũng phải nên phát chân tâm đáp ơn sâu đó, là phải nên làm ra một thứ gương như thế, để cho nhiều người được xem bằng cách là cầu quả vị Phật độ cho chính mình và hết thảy chúng sanh, nói cách khác chính là phát tâm giác ngộ, không làm việc hồ đồ để làm gương cho chúng sanh vậy. 
 

Tinh Tấn tu hành theo chánh pháp, làm những điều thiện như trên mà không sanh lòng nghi hoặc thì đã tin sâu nhân quả rồi. Đọc tụng kinh điển đại thừa, và đừng quên rằng mình là người tu đạo, phải làm gương cho người khác để khuyến tấn họ phát tâm lành đối tam bảo cho họ được sự lợi ích của mùi vị giải thoát, thì đây gọi là khuyến tấn người khác tu hành. Ai làm được những việc như trên thì gọi là tịnh nghiệp.

Kinh Văn:

Nầy Vi Đề Hy! Nay ngươi có biết chăng? Ba tịnh nghiệp ấy là chánh nhơn tịnh nghiệp của tam thế chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại.

Lược giảng:

Phật cho bà Vi Đề Hy biết là ba thứ phước thiện đó cũng là chính chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật trong ba đời. Chánh nhân chính là nguyên nhân khởi giúp cho chư Phật được thanh tịnh giác ngộ như ngày nay. Ý nghĩa thật đơn giản, chính là Phật muốn nhắc nhở chúng ta muốn được giải thoát(sanh về thế giới Cực Lạc) thì phải làm theo như vậy.

Kinh Văn:

Đức Phật bảo A NanVi Đề Hy rằng:" Lắng nghe, lắng nghe, khéo suy nghĩ nhớ kỹ. Nay Như Lai vì tất cả chúng sanh đời vị lai, những kẽ bị giặc phiền não nhiễu hại mà nói nghiệp thanh tịnh. Lành thay cho Vi Đề Hy khéo hỏi được việc ấy.

Lược giảng:

Khi nói lời như trên thì Phật gọi Tôn Giả A Nan và bà Vi Đề Hy mà bảo, lắng nghe lắng nghe cho chín chắn, và hãy nhớ những gì mà Như Lai sẽ vì chúng sanhđời sau bị quân giặc phiền não kia làm hại, những pháp đây đều là nghiệp thanh tịnhcông năng đoạn trừ hết mọi thứ khổ của chúng sanh.

Kinh Văn:

Nầy A Nan ! Em nên thọ trì rộng vì đại chúng mà tuyên nói lời Phật.

Lược giảng:

Phật bảo Tôn Giả A Nan nên thọ trì pháp tu này cũng chính là gìn giữ pháp môn này và vì mọi người mà nói lại lời của Phật giảng ở đây.

Tạo bài viết
Được tin lũ chồng lũ, bão số 8, bão thế kỷ sắp tràn về miền Trung khốn khổ, tốc độ trên 200/km, hơn vận tốc của xe trên free way, nghĩa là nơi nào bão qua là nơi đó không còn dấu vết sự sống, ôi thương đau khủng khiếp.
Sáng hôm qua, (ngày 18 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 4 xã Hải Thiện, Hải Lăng, Hải Ba, Hải Dương, Hải tại Tỉnh Quảng Trị. Xã Hải Thiện phát 170 phần quà, xã Hải ba & Hải Lăng 180 phần quà, xã Hải Dương 150 phần quà. Thật may mắn cho đoàn là cả ngày trời không mưa nên công việc cứu trợ được thuận duyên và thành tựu viên mãn.
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo