Quyển Thượng

30/10/201012:00 SA(Xem: 11193)
Quyển Thượng

KHÓA HƯ LỤC
Tác giả: Hoàng Đế Trần Thái Tông
Dịch giả: HT. Thích Thanh Kiểm

QUYỂN THƯỢNG
01 - Nói về sắc thân
02 - Văn khuyên phát tâm Bồ-đề
03 - Văn răn sát sinh
04 - Văn răn trộm cắp
05 - Văn giới sắc
06 - Văn răn vọng ngữ
07 - Văn răn giới rượu
08 - Bàn về Giới Định Tuệ
09 - Bàn về Thọ giới
10 - Bàn về Niệm Phật
11 - Bàn về Tọa Thiền
12 - Bàn về gương Tuệ Giác
13 - Bàn về sách Thiền Tông Chỉ Nam
14 - Bài tựa kinh Kim Cương Tam Muội
15 - Tựa Khoa-nghi sáu thời sám hối
16 - Tựa văn lễ sám bình đẳng
17 - Nói rộng một đường hướng thượng
18 - Ngữ-lục vấn đáp môn hạ
19 - Lời vấn đáp trong môn nhân
20 - Niêm tụng kệ (Âm-Nghĩa)

QUYỂN THƯỢNG

---o0o---

Nói Rõ Về Sắc Thân

Vốn vĩ! Bốn đại (1) đều không, năm uẩn (2) chẳng có. Do không dấy vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không: nên vọng từ không, không hiện vọng, vọng sinh các sắc. Đã trái không sinh không hóa, nên mãi có hóa có sinh. Không sinh hóa thời không hóa không sinh; có hóa sinh, nên có sinh có hóa. Hoặc sinh thánh hiền, ngu trí; hoặc hóa vẩy cánh lông sừng. Luôn luôn rạt đắm ở bến mê, mãi mãi nổi chìm trong biển khổ. Lờ mờ mù mịt, nào biết nào hay; lo lắng vội vàng, chẳng tình chẳng ngộ. Hết chỉ buông lòng trôi khắp, đều không xỏ mũi kéo về. Khiến đến qua lại sáu đường (3), xuống lên bốn núi. Bốn núi là: sinh, lão, bệnh, tử. Nay lần lượt trình bày bốn núi để lại đời sau:

Kệ Bốn Núi

Tranh vanh bốn núi vạn cây tùng

Liễu ngộ đều không vạn vật không

Ba cẳng lừa kia mừng vướng đó (4)

Cỡi lên thẳng tới đỉnh non bồng.

Tứ Sơn kệ

Tứ sơn tiễu bích vạn thanh tùng

Ngộ liễu đô vô vạn vật không

Hỉ đắc lư nhi tam cước tại

Mịch k?đả sấn thướng cao phong

*

Núi thứ nhất là tướng sinh. - Vì sai một niệm, nên hiện nhiều bề. Gởi hình hài nhờ tinh huyết mẹ cha, nuôi thai nghén nhờ âm dương hai khí. Trong tam tài (5) người đứng giữa, đối vạn vật loài rất thiêng. Chẳng kể kẻ trí người ngu, đều thuộc trong bào thai nghén; hỏi chi một người trăm họ, cùng về lo bễ (trời đất) nấu nung. Hoặc mặt trời nêu thánh chúa giáng sinh, hoặc các sao ứng tôi hiền xuất hiện. Văn bút quét ngàn quân chiến địa, võ lược thu trăm trận công lao. Trai khoe ném quả bởi dáng tươi (6), gái cậy nghiêng thành (7) vì vẻ đẹp. Thoạt cười, người mất nước; cười tiếp kẻ nghiêng thành. Tranh đẹp khoe danh, ganh hay giành lạ. Xem ra vẫn vòng luân hồi, rốt cuộc cũng đường sinh hóa. Tướng sinh người ấy, năm là mùa xuân. Ba dương (8) mở thêm vận thái, muôn vật rực rỡ mầu tươi. Một trời trong sáng, nơi nơi liễu thắm hoa hồng; muôn dặm phong quang, chốn chốn oanh kêu bướm lượn.

Kệ Rằng:

Trời đất (9) nấu nung vạn vật thành

Bản lai không mống cũng không manh

Bởi sai có niệm quên vô niệm

Nên trái không sinh chịu hữu sinh

... Mũi lưỡi tham hương say đắm vị

Mắt tai ưa sắc chuộng âm thanh

Phong trần khách nọ lang thang mãi

Ngày vắng quê hương muôn dặm trình.

(Chân tể huân đào vạn tượng thành

Bản lai phi triệu hựu phi manh.

Chỉ sai hữu niệm vong vô niệm

Khước bội vô sinh thụ hữu sinh

Tị trước chư hương, thiệt tham vi

Nhăn manh chúng sắc, nhĩ văn thanh

Vĩnh vi lăng đăng phong trần khách

Nhật viễn gia hương vạn lý trình)

*

Núi thứ hai là tướng già. - Hình dung thay đổi, khí huyết suy vi. Dáng gầy tuổi cao, ăn uống mắc nghẹn. Mái xanh má đỏ, đổi thành tóc bạc da gà; ngựa trúc áo hoa, lại thêm gậy cưu (10), xe cói (11). Ví khiến Ly-Lâu (12), mắt sáng, nhìn sắc không rành; Dẫu rằng Sư-Khoáng tai thông (13) nghe tiếng chẳng biện. Tiều tụy như liễu bồ thu tới, xác xơ tựa hoacỏ xuân qua. Trời chiều sắp gác non đoài, nước chảy rót về đông hải. Tướng người già ấy, mùa hạ trong năm. Trời nóng nứt đá, làm muôn vật đều khô; nắng gắt chảy vàng, khiến trăm sông hầu cạn. Hoa tàn liễu rạc, trong vườn bờ lạch há giữ lâu; bướm lượn oanh bay, dưới lá đầu cành đâu nhộn mãi.

Kệ Rằng

Con người kiếp sống tựa phù âu

Thọ yểu an bài nõ phải cầu

Cảnh giục nương dâu trời ngả tối

Thân như bồ liễu tạm qua thâu (thu)

Chàng Phan (14) ngày ấy còn xanh tóc

Lã-Vọng (15) năm nay đã bạc đầu

Cuồn cuộn sự đời trôi chẳng đoái

Vầng ô gác núi nước suôi trào.

(Nhân sinh tại thể nhược phù âu

Thọ yểu nhân thiên mạc vọng cầu

Cảnh bức tang du tương hướng vãn

Thân như bồ liễu tạm kinh thâu

Thanh điêu tích nhật Phan-Lang mấn

Bạch biến đương niên Lã-Vọng đầu

Thế sự thao thao hồn bất cổ

Tịch dương tây khứ thủy đông lưu).

*

Núi thứ ba là tướng bệnh. - Tuổi cao gìa yếu, tật ngấm cao hoang; Bốn chi mỏi mệt, mạch lạc khó thông; trăm đốt rã rời lạnh nóng chẳng thuận. Tính chân thường đã mất, nguồn điều xướng cũng sai. Đứng ngồi khó khăn, co ruỗi đâu khổ. Mạng tựa ngọn đèn trước gió, thân như bọt nước trên ao. Tâm sinh bóng quỷ lô nhô, mắt thấy hoa không lốm đốm. Hình hài gầy yếu, ai là Biển-Thước (16) thuốc hay; dáng vóc suy vi, ai kẻ Lư-Nhân (17) chữa khỏi. Bạn bè luống công thăm viếng, anh em uống sức phù-trì. Bệnh nặng thì nhiều tháng chẳng lành, cảm xoàng cũng hàng tuần chưa khỏi. Tướng bệnh người ấy, mùa thu trong năm. Gặp lúc sương muối vừa rơi, tới kỳ cỏ cây đều héo. Xum xuê rừng rậm, gió thu một trận thấy lơ thơ; biêng biếc non xanh, giọt móc mới sa thêm trơ trụi.

Kệ Rằng:

Âm dương họa phúc vốn xoay vần

Reo rắc tai ương tới thế nhân

Đại để có thân thì có bệnh

Nhược bằng không bệnh cũng không thân

Thuốc tiên nào thấy ai còn mãi

Lương dược xem ra cũng hết xuân

Sớm nguyện lánh xa ma cảnh giới

Quay về tâm đạo dưỡng thiên chân

 

(Âm dương khiên đức bản tương nhân

Biến tác tai truân cập thế nhân

Đại để hữu thân phương hữu bệnh

Nhược hoàn vô bệnh diệc vô thân

Linh đan mạn thác trường sinh thuật

Lương dược nan linh bất tử xuân

Tảo nguyện viễn ly ma cảnh giới

Hồi tâm hướng đạo dưỡng thiên chân)

Núi thứ tư là tướng tử. - Bệnh khi trầm trọng, mệnh mới cáo chung. Tuổi thọ mong hưởng hạn trăm năm, thân thể bỗng thành trong giấc mộng. Thông minh trí tuệ, khó tránh đại hạn đến ngày; sức mạnh oai hùng, sao chống vô thường khi tới. Vợ trinh thiếp thuận, bỗng thành đặc biệt đau thương; anh kính em hiền, vội phải trọn đời xa cách. Vật mình lăn đất, vỗ trán kêu trời. Tường vẽ, nhà rộng để làm chi, chứa ngọc chất vàng dùng gì nữa. Dạ đài (18) tối mịt, luống nghe gió bấc vi vu; tuyền lộ (19) then cài, chỉ thấy mây sầu, ảm đạm. Tướng tử người ấy, mùa đông trong năm. Càn Khôn ứng Thái-tuế trọn vòng (20), nhật nguyệt hướng Huyền-hiều hội tụ (21). Âm tinh cực thịnh, khắp trời mưa tuyết lại bay mù; dương khí dần tan, nơi chốn nước ngưng thêm buốt lạnh.

Kệ Rằng:

Dồn dập cuồng phong khắp mọi nơi

Ngư ông say tứ mặc thuyền trôi

Bốn bề mây phủ mầu đen kịt

Một dải sóng gầm tiếng trống hồi

Xoay chuyển ỳ ầm xe sấm động

Tung bay sầm sập trận mưa rơi

Tạm thời bụi cuốn chân trời sáng

Đêm vắng trăng theo bóng nước soi

(Bãi đãng cuồng phong quát địa sinh

Ngư ông túy lý điếu chu hoành

Tứ thùy vân hợp âm mai sắc

Nhất phái ba phiên cổ động thanh

Vũ cước trận thôi phiêu lịch lịch

Lôi xa luân chuyển nộ oanh oanh

Tạm thời trần liễm thiên biên tĩnh

Nguyệt lạc trường giang dạ kỷ canh)

*

Chú Thích:

(1) Bốn đại: 1. Địa đại, 2. Thủy đại, 3. Hỏa đại, 4. Phong đại.

(2) Năm uẩn: 1. Sắc uẩn, 2. Thụ uẩn, 3. Tưởng uẩn, 4. Hành uẩn, 5. Thức uẩn.

(3) Sáu đường: 1. Trời, 2. Người, 3. A-tu-la, 4. Địa ngục, 5. Ngã quỷ, 6. Súc sinh.

(4) Ba cẳng lừa kia: Dịch ở chữ "Lư nhi tam cước". Xuất xứ từ câu chuyện: Có vị Tăng hỏi Dương-Kỳ Thiền-Sư: Thế nào gọi là Phật? Thiền-sư đáp: "Con lừa ba cẳng nhảy tung tăng" (Tam cước lư nhi để lộng hành). Vậy lư nhi tam cước là nhân cách hóa cho linh tính, Phật-tính hay bản lai diện mục.

(5) Tam tài: Thiên, địa, nhân.

(6) Ném quả: Sách Tấn, truyện Phan-Nhạc. Nhạc người rất đẹp trai, lúc thiếu thời, thường ôm đàn đi dạo đường phố Lạc-Dương; phụ nữ gặp đều vây quanh, ném quả vào đầy xe. Người sau nói về vẻ đẹp của thiếu niên phần nhiều dùng điển này.

(7) Nghiêng thành: Dịch ở chữ "Khuynh quốc Khuynh thành". Sách Hán chép: Phương bắc có một giai nhân tuyệt đẹp mà vẫn ở một mình. Nở nụ cười đầu làm nghiêng thành người, nụ cười tiếp làm nghiêng nước người (nhất tiếu khuynh nhân thành, tái tiếu khuynh nhân quốc).

(8) Ba dương nở thêm vận thái: Dịch ở chữ "Tam dương hanh thái" cũng gọi "Tam dương giao thái". Vì tam dương thuộc quẻ Càn (hình) có ba hào dương. Quẻ Càn thuộc tháng Giêng, lại giao với quẻ Thái (hình) . Thái là quẻ hanh thông, ví có "càn" ở dưới "khôn" ở trên, âm dương giao hòa, nên vạn sự hanh-thông. Tam dương hanh thái cũng là lời chúc đầu xuân.

(9) Trời đất: Dịch ở chữ "Chân Tể", nghĩa là tạo vật, chủ tể của trời đất (danh từ Đạo giáo).

(10 Gậy Cưu: Gậy của người già, đầu gậy có khắc hình chim cưu.

(11) Xe cói: Lấy cỏ bọc bánh xe để người già ngồi cho êm.

(12) Ly-Lâu: Tên người, cũng gọi là Ly-Chu, người thời vua Hoàng-Đế, có con mắt sáng, nhìn xa ngoài trăm bước, mà thấy từng mẩy lông.

(13) Sư-Khoáng: Tên một nhạc sư đời Tấn, thời Xuân-Thu, tên chữ là Tử-Dã, có thể nghe tiếng nhạc mà biết được cát, hung.

(14) Chàng Phan: Tức Phan-Nhạc đời Tấn.

(15) Lã-Vọng: Còn gọi là Thái-Công-Vọng Lã-Thượng. Lã-Thượng người đất Đông-Hải thời nhà Chu, vốn là họ Khương, trước đó được phong Lã, nhân thể gọi là Lã-Thượng, tên chữ là Tử-Nha, hoặc Thái-công-vọng, quân-sư vua Văn-Vương đánh Trụ, diệt nhà Ấn, có đại công bình đình thiên hạ.

(16) Biển-Thước: Tên một danh y thời vua Hoàng-Đế.

(17) Lư-Nhân: Cũng gọi là Biển-Thước, một thầy thuốc giỏi, trị bệnh chẩn mạch, thấy suốt được ngũ tạng, họ Tần tên là Việt-Nhân. Thầy thuốc ở đất Lư, nên đời gọi là Lư-Y hoặc Lư-Nhân.

(18) Dạ-đài: Tức là mộ-địa, mả, tha ma.

(19) Tuyền-đài: Cũng là phần mộ.

(20) Thái-Tue? Sao Thái-Tuế, cũng là tên riêng của Mộc-Tinh, cứ 12 năm xoay quanh mặt trời một vòng.

(21) Huyền-Hiều: Sao Huyền-Hiều, ở phương bắc gồm một chòm sao: Hư, Nguy, Nữ, Tú. Sao Hư ở chính bắc, phương bắc mầu huyền nên gọi là Huyền-Hiều. Hiều cũng gọi là hào, có ý nghĩa hư hao, ngôi sao xấu. Lần lượt 12 sao ứng vào 12 tháng, là những tháng nhật nguyệt tụ hội. Sao Huyền-Hiều ở tháng Tý tức tháng 11, tháng trọng-đông.

 

Văn Khuyên Phát Tâm Bồ-Đề

 

Ôi! Vật quý nhất đời chỉ là vàng ngọc vậy. Song xét tới chỗ quan trọng, chỗ luyến tiếc, lại không thể sánh bằng thân mạng. Ví như có nhà giầu sang, được người vời làm đại-tướng, dùng vàng làm áo giáp hộ thân, đến lúc lâm chiến, khi gươm đao tiếp nhau, có lúc phải bỏ áo giáp kéo gươm mà chạy, chỉ mong bảo toàn tính mạng, áo giáp bằng vàng kia, đâu còn đoái hoài đến. Liền biết, cái quý trong của vàng cũng không đủ so sánh với thân mạng chính là nghĩa đó. Người đời nay không thế, lại quý vật mà khinh thân. Họ không biết thân này có 3 điều khó gặp. Những gì là ba. 1.- Trong vòng lục đạo, duy con người là quý. Đến khi nhắm mắt qua đời, tối tăm mờ mịt, chẳng biết chỗ đi về đâu. Hoặc vào đường địa ngục, A-tu-la hay ngã quỷ, súc sinh, chẳng được làm người, đó là điều khó gặp thứ nhất. 2.- Đã được làm người, hoặc lại sinh vào chốn man-di, tắm cùng khúc sông, ngủ cùng giường niệm, tôn ty lẫn lộn, trai gái sống chung, chẳng đượm gió nhân, không nhuần Thánh hóa, đó là điều khó gặp thứ hai. 3.- Tuy được sinh nơi văn-hóa nhưng sáu căn chẳng đủ, bốn thể không toàn, mù điếc ngọng câm, gù khom khập khiễng, miệng mũi hôi thối, thân hình nhớp nhơ, thấy chẳng cùng gần, chúng không thích tới. Tuy ở chỗ văn minh cao độ, nhưng khác gì ngoài chốn hoang-vu, đó là điều khó gặp thức ba. Nay đã được làm người, được sinh nơi trung-tâm văn-hóa, lại sáu căn đầy đủ, thật đáng quý thay. Phàm người ở đời, chỉ bon chen đường danh lợi, thương tổn tinh thần, mệt nhọc thể xác, bỏ phần cao quý nơi thân mạng mình, theo cái đáng khinh nơi của cải nọ, chẳng khác gì như kẻ ăn bánh quên vợ, ngậm cơm quên mép (1). Tuy nói thân này là quan trọng, nhưng vẫn chưa quan trọng bằng chí đạo. Nên Khổng-Tử nói: "Buổi sớm được nghe đạo, chiều có chết cũng vui" (2). Lão-tử nói: "Ta sở dĩ có cái lo lớn, vì ta có thân" (3). Đức Thế-Tôn khi cầu đạo thì bỏ thân cứu hổ. Há chẳng phải đều là chỗ khinh thân trọng đạo của ba bậc Thánh-nhân đó sao? Than ôi! Cái quan-trọng của thân mạng còn nên bỏ để cầu đạo vô-thượng bồ-đề, nữa là phần đáng khinh nơi vàng bạc của báu mà lại luyến tiếc ư! Ôi! Trong ấp mười nóc nhà, còn có người trung tín (4), lẽ nào tất cả ở đời, há lại không có người thông-minh sáng suốt hay sao? Hãy nghe theo lời ấy, nên chăm lo tu học, chớ có nghi ngờ. Trong kinh nói: "Một khi mất thêm người, muôn kiếp khó trở lại. Thật đau đớn xiết bao! Thế nên Khổng-Tử nói: "Người mà không chịu làm, ta chẳng biết làm sao được".

Ôi! xét cho rõ: Trăm năm ánh sáng, trong một sát-na; bốn đại huyễn thân, đâu hay lâu đặng. Trọn ngày ruổi rong nghiệp thức (5), quanh năm đắm đuối trần-lao (6). Không biết một tính viên-minh, chỉ theo sáu căn tham dục. Giàu sang nhất mực, khó tránh 2 chữ vô thường; công danh nhất đời, chẳng thoát một trường đại mộng. Tranh nhân tranh ngã, rốt cuộc thành không. Khoe giỏi khoe hay, đều là chẳng thật. Gió lửa tiêu tan bao già trẻ, núi khe rủa nát mấy anh hùng. Mái xanh chưa mấy, tóc bạc vội lấn dần; kẻ mừng vừa đi, người viếng len chân tới. Một bao máu mủ, chuỗi năm luyến tiếc ân-tình; bảy thước xương khô; rông rỡ tham lam của báu. Thở ra khôn bề thở lại, ngày nay khó đợi ngày mai. Sông yêu chìm nổi chẳng lúc ngơi, nhà cháy nấu nung ngày nào hết. Chẳng nguyện xa lìa lưới nghiệp, chỉ vì chưa có công phu. Diêm-La-Vương bỗng chốc lại đòi. Thôi Tướng-công (7) nào cho thêm hạn. Ngoảnh lại người thân đều chẳng thấy, cuối cùng nghiệp báo tự mình mang. Quỷ vương ngục tốt, mặc sức khảo tra; rừng kiếm núi đao, vô phương chống đỡ. Hoặc giam trong vòng vây sắt, hoặc ở dưới núi ốc-tiêu (8). Chịu vạc dầu thời muôn chết ngàn sinh, phải chém chặt thời một dao hai khúc. Đói nuốt sắt nóng, khát uống đồng sôi. Mười hai giờ cam chịu đắng cay, năm trăm kiếp chẳng thấy hình dạng. Chịu hết tội nghiệp, lại vào luân hồi. Mất hẳn dáng người thuở xưa, đổi ra thân hình hiện tại. Đội yên ngậm sắt, mang lông đeo sừng. Lấy thịt nuôi người, đem thân trả nợ. Sinh bị khổ đau dao thớt, sống gặp tai vạ lửa sôi. Chồng chất oán thù, cùng nhau rỉa thịt. Khi đó mới hối, học đạo không nền. Chi bằng gấp rút đảm đương, chớ để đời này lỡ dở.

Thích-Ca văn-phật, bỏ hoàng cung đến thẳng tuyết sơn; Cư-sĩ Bàng-Công (9) đem gia tài hết dìm biển cả. Chân-Võ (10) chẳng lên ngôi báu, chi lo tu hành; Lã-Công (11) đã chuộng thần tiên, còn siêng tham vấn. Tô học-sĩ (12) thường thân Phật-Ấn, Hàn-Văn-Công (13) còn lễ Đại-Điên. Bùi-Công (14) đoạt hốt ở Thạch-Sương, Phòng-Tướng (15) hỏi pháp nơi Quốc-Nhất. Diệu-Thiện (16) chẳng kén phò-mã, thành Phật không ngờ; Lục-Tổ (17) vừa gặp khách hiền, nghe kinh đốn ngộ. Đạo Thiền nếu không thú vị, Thánh hiền sao chịu quy-y. Hoa-Lâm (18) cảm 2 cọp theo hầu, Đầu-Tử có 3 chim báo sáng. Lý trưởng-giả (19) giải kinh mà thiên-trù dâng cỗ, Tu-Bồ-Đề (20) tĩnh tọa mà Đế-Thích tung hoa. Đạt-Ma (21) một dép về Tây, Phổ-Hóa (22) rung chuông bay bổng. La-Hán (23) tham thiền ở Ngưỡng-Sơn hòa-thượng. Nhạc-Đế (24) thọ giới ở Tư-Đại thiền-sư. Kính-Sơn (25) đến nay vẫn được Long-Vương dâng cúng; Tuyết-Phong (26) từ trước, hay khiến người gỗ mở rừng. Đó là những thể nghiệm nhân do, chớ tự sinh nghi ngờ lùi bước. Cáo đồng (27) còn nghe pháp Bách-Trượng, ốc văn hay hộ kinh Kim-Cương (28). Mười ngàn cá bơi (29) nghe hiệu Phật hóa làm Thiên-Tử năm trăm dơi lượn (30), nghe tiếng pháp đều đặng Thánh-hiền. Trăn nghe sám (31) được sinh thiên, rồng nghe kinh mà ngộ đạo (32). Vật kia còn hay lãnh ngộ, nữa người sao chẳng hồi tâm. Hoặc có kẻ vùi đầu ăn uống mà uổng một đời, hoặc có kẻ lầm lối tu hành mà không xét lại. Hay đâu, bồ-đề tính-giác, ai nấy viên-thành; sao biết, bát nhã căn lành, người người đầy đủ. Hỏi chi đại-ẩn, tiểu-ẩn (33), chẳng kể tại gia xuất gia. Không nề tăng tục, chỉ cốt biện tâm. Vốn không gái trai, chẳng nên trước tướng. Người chưa tường còn chia tam-giáo (34), Liễu được thấu đều ngộ nhất tâm. Nếu hay chiếu sáng rọi về, đều được thấy tánh thành Phật. Lại nữa, thân người dễ mất, Phật pháp khó nghe. Muốn vượt sáu ngả mãi xoay tròn, chỉ có nhất thừađường tắt. Nên tìm chính kiến, chớ tin ta sư. Ngộ được chính là chỗ vào, làm xong mới hay thoát tục. Bước bước xéo đạp thật địa, đầu đầu mang đội hư không. Khi dùng thời muôn cảnh đều phô, thu lại thời mảy may hết sạch. Vượt lên chỗ chẳng tương quan sinh tử, thấu tới cơ khó thấu hiểu quỷ thần. Là phàm là thánh, cùng vào một đường; hoặc oán hoặc thân, cùng chung hổng mũi. Thật ngộ như thế, con trệ nửa đường. Ngưng nói hướng thượng tam huyền (35), cần rõ một bước sau chót (36). Hãy nói, tức là hiện nay gọi cái gì là một bước sau chót.

Non xanh thoai thoải nhìn trời rộng,
Sen biếc ngạt ngào đượm nước hương (37).

 

* Chú Thích

(1) Ăn bánh quên vợ, ngậm cơm quên mép - đều là những tỷ dụ, ám chỉ cho kẻ ngu, chỉ ham cái lợi nhỏ trước mắt, mà bỏ mất cái lợi ích quan trọng.

(2) Buổi sớm được nghe đạo: Sách Luận-ngữ, thiên Lý-nhân, Đức Khổng-Tử nói: "Chiêu văn đạo tịch tử khả hỷ".

(3) Ta sở dĩ có cái lo lớn, vì ta có thân - Đạo-Đức Kinh, ngài Lão-Tử nói: "Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vị ngô hữu thân".

(4) Trong ấp mười nóc nhà còn có người trung tín - Lấy câu trong sách Luận-ngữ: "Thập thất chi ấp, thượng hữu trung tín.

(5) Nghiệp-thức - Nghiệp-thức là hoặc của căn bản vô-minh. Tâm nguyên của bản giác vốn không có tướng-động từ lúc đầu, nhưng thình lình bị lay động bởi bất giác, đó là nghiệp-thức.

(6) Trần-lao - Phiền não của 5 dục, sáu trần làm ô nhiễm nơi thân tâm thanh tịnh mà phải khổ, nên gọi là trần lao. 5 dục: Tài, sắc, danh, thực, thụy; 6 trần tức là 6 cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

(7) Thôi-tướng-công: Chỉ quỷ sứ canh ngục.

(8) Dưới núi ốc-tiêu: Ở đáy biển có núi rất lớn gọi là ốc-tiêu. Dưới núi ốc-tiêu có địa ngục A-tỳ, lửa thường nung đốt, núi thường nóng chảy.

(9) Bàng-Công cư-sĩ: Tức là Bàng Uẩn, hiệu là Đạo-Huyền, người huyện Hành-Dương, Trung-Quốc, vốn theo nho nghiệp, tư chất thông-minh, sau tham thiền ở Thạch-Đầu Hy-Vậnh, hoát nhiên liễu ngộ, và đắc pháp ở ngài Mã-Tổ Đạo-Nhất.

(10) Chân-Võ: Đời nhà Hán, Thái-tử vua nước Trịnh-Lạc, khi sinh ra có nhiều điểm lạ, lớn lên có chí trừ khử ta ma, vượt biển Đông gặp thiên thần trao cho bảo kiếm. Chân-Vũ tu luyện ở núi Đông-Hải 42 năm thành công, ngay ban ngày bay lên không, được vâng mệnh Thượng-đế trấn thủ phương Bắc. Vốn tên là Huyền-Võ sau đổi là Chân-Võ.

(11) Lã-Công: Tức là Lã-Đồng-Tân, người Kinh-Triệu đời Đường. Chính tên là Nham, tên chữ là Đồng-Tân, lại gọi là Lã-Tổ, hiệu là Thuần-Dương-Tử, một người trong bát tiên của Đạo-Giáo.

(12) Tô học-sĩ: Tức Tô-Thức, tên chữ là Tử-Chiêm, hiệu là Đông-Pha cư sĩ, người Mi-sơn, đời Tống. Viếng chùa Kim-sơn ở Tô-châu, gặp Phật-Ấn Liễu-Nguyên thiền sư, vấn đáp về thiền-đạo, phục tài cao của Phật-Ấn , liền cỡi đai ngọc để tại chùa Phật-Ấn kỷ niệm.

(13) Hàn-Văn-Công: Tức Hàn-Dũ, người Xương-Lê đời Đường, đậu Tiến-sĩ. Vì dâng biểu can vua Hiến-Tông rước Xá-Lợi Phật vào cung, nên bị đày đi Trào-Châu. Ở đây, Hàn-Dũ có viết thư mời Đại-Điên Thiên-sư chùa Linh-sơn ở phía tây Trào-Châu để tranh luận về đạo cùng nhau đi lại nhiều lần, sau quy-y Đại-Điên.

(14) Bùi-Công: Tức Bùi-Hưu, một người học Phật đời Đường, họ Bùi, tên Hưu, tên chữ là Công-Mỹ, đậu Tiến-sĩ, giao du cùng ngài Khuê-Phong Tông-Một, thông đạt kinh Hoa-Nghiêm, sau đắc Pháp ở Ngài Hoàng-Nghiệt Hy-Vận thiền-sư. Đoạt hốt - các quan đại thần xưa, khi triều vua tay thường cầm cái hốt ở tay đế tâu bạch, hay thụ mệnh, ngoài ra dùng để ghi chép những sự kiện cho nhớ. Vậy đoạt hốt có nghĩa là, Bùi Hưu bị đoạt mất chí khí ở ngài Thạch-Sương. Thạch-Sương: Tức Thạch-Sương Khánh-Chư, cao tăng đời Đường, thuộc họ Thanh-Nguyên, tham thiền ngài Qui-Sơn, thấu được áo chỉ, trụ ở núi Thạch-Sương, châu Đàm, được vua Đường Hy-Tông ban áo cà-sa gấm.

(15) Phòng-Tướng: Tức Phòng-Huyền-Linh, tên hèm là Văn-Chiêu, 18 tuổi đậu Tiến-sĩ, giúp Đường Thái-Tông dấy nghiệp, làm chức Tể-Tướng, được phong tước Lương-Quốc-Công. Quốc-Nhất: Tức Đạo-Khâm thiền sư, người huyện Côn-Sơn thuộc Tô-Châu, được Đường Đại-Tông vời vào cung hỏi đạo, ban cho hiệu Quốc-Nhất thiền-sư.

(16) Diệu-Thiện: Tức Diệu-Thiện công-chúa, tiền thân của Bồ-Tát Quán-Thế-Âm. Nam-Sơn Tuyên Luật-sư thường hỏi thiên-thần về duyên khởi của Đức Quan-Âm. Thiên-Thần thưa: Về kiếp quá khứ xưa kia có vua Trang-Vương, phu-nhân tên là Bảo Ứng sinh được 3 gải. Con lớn là Diệu-Dục, con thứ là Diệu-Ân, con út là Diệu-Thiện. Diệu-Thiện chỉ chuyên việc tu hành, không lập phò-mã (cũng tương tự như sự tích chùa Hương-Tích Việt-Nam).

(17) Lục-Tổ: Tức Tổ Huệ-Năng, Tổ thứ 6 của Thiền-tông đời Đường, cũng gọi là Đạik-Giám Tuệ-Năng. Ngài họ Lư, mồ côi cha từ lúc 3 tuổi, nhà nghèo, phải đi kiếm củi nuôi mẹ. Một ngày mang củi vào chợ bán, nghe người đọc kinh Kim-Cương, liền nẩy ý chí xuất-trần nhập đạo.

(18) Hoa-Lâm: Tức Hoa-Lâm thiền-sư.

Đầu-Tử: Tức Đầu-Tử Nghĩa-Thanh thiền-sư.

(19) Lý Trưởng-giả: Trưỡg-giả họ Lý hay trưởng-giả họ Trần, ám chỉ người giải kinh hay mà được chư Thiên cúng dường thức ăn.

(20) Tu-Bồ-Đề: Một vị trong thập đại đệ-tử của Phật, giải không bậc nhất. Một hôm Tôn-giả Tu-Bồ-Đề nogì thiền-định, chư Thiên mưa hoa tán thán. Tôn-giả hỏi: "Trong không mưa hoa tán thán đó là người nào?" Chư Thiên nói: "Tôi là Trời Đế-Thích". Tôn-giả nói: "Ngươi cớ chi tán thán?" Đáp: "Tôi trọng Tôn-giả khéo nói Kinh Bát-Nhã". Hỏi: Ta chưa từng nói một chữ trong kinh Bát-Nhã, tại sao ngươi tán thán?" Đế-Thích thưa: "Tôn-giả không nói, tôi cũng không nghe. Không nói không nghe, là chân Bát-Nhã".

(21) Đạt-Ma: Tức Bồ-Đề Đạt-Ma. Tổ thứ 28 Thiền-Tông ở Ấn-Độ, đệ nhất Tổ ở Trung-Quốc. Ngài sang Trung-Quốc thời đại Nam-Bắc triều, ở chùa Thiếu-Lâm. Khi mất táng ở núi Hùng-Nhĩ. Theo truyền thuyết nói."Có sứ-giả Trung-Quốc đi sứ Ấn-Độ, trên đường về, gặp Đạt-Ma chỉ đeo một chiếc dép, đang trở về Ấn-Độ. Khi về báo với vua Lương, vua sai đào mộ Đạt-Ma xem, thấy trong mộ chỉ có một chiếc dép".

(22) Phổ-Hóa: Tức Phổ-Hóa hòa-thượng ở Trấn Châu, đời Đường, đệ tử của Bàn-Sơn Bảo-Tích thiền-sư, thường giúp Lâm-Tế Nghĩa-Huyền thiền-su hoằng hóa. Bình thường khi vào chợ, ngài rung chuông và nói: "Đầu sáng lại xua đầu sáng, đầu tối lại xua đầu tối, xua gió xoáy bốn phương tám hướng lại, xua cả hư không lại".

(23) La-Hán: Tức La-Hán Quế Thâm, người Thương-Sơn, đời Đường, phái Thanh-Nguyên. Ngưỡng-Sơn: Tức Ngưỡng-Sơn Tuệ-Tịch, đắc pháp ở Qui-Sơn Linh-Hựu thiền-sư.

(24) Nhạc-Đế: Tức thần chúa-tể núi Đông-Nhạc Thái-Sơn. Tư-Đại thiền sư: Tức Tuệ-Tư đại-sư, hiệu là Tư-Đại hòa thượng. Tư thiền-sư còn gọi là Nam-Nhạc Tư-Đại thiền-sư.

(25) Kính-Sơn: Tức Vô-Chuẩn sư-phạm, tông Lâm-Tế, tham vấn Tú-Phong thiền-sư, vâng chiếu chỉ ở chùa Kính-Sơn, được ban hiệu: "Phật-Giám Thiền-Sư".

(26) Tuyết-Phong: Tức Tuyết-Phong Nghĩa-Tồn, hệ Thanh-Nguyên đời Đường, pháp tư của Đức-Sơn Tuyên-Giám. Người gỗ mở rừng: Dụ xa lìa được suy nghĩ phân biệt.

(27) Cáo đồng: Theo công-án Bách-Trượng Dã-hồ - "Mỗi khi ngài Bách-Trượng thượng đường, thường có một lão tăng đến nghe pháp, rồi theo chúng giải tán. Một hôm không đi, Bách-Thượng hỏi: Đứng đó là ai? Lão tăng thưa: Tôi từ thời Phật Ca-Diếp đời quá khứ, thường trụ ở núi này, có một học nhân hỏi: "Người đại tu-hành, lại phải rơi vào nhân quả chăng?" Tôi đáp: "Chẳng rơi vào nhân quả". Do đó tôi bị đọa làm thân cáo đả 500 kiếp. Nay xin hòa-thượng thay cho một chuyễn ngữ". Bách-Trượng nói: "Chẳng mờ nhân quả" (bất muội nhân quả). "Lão tăng nghe nói xong đại ngộ".

(28) Ốc vặn hộ kinh Kim-Cương: Theo điển, kinh Kim-Cương bị rơi xuống nước, cả bầy ốc xúm lại mà đỡ bộ kinh lên cạn.

(29) Mười ngàn cá: Theo điển, mười ngàn con cá do nghe kinh, mà kiếp sau thác sinh làm vua.

(30) Năm trăm dơi: Tây-vực ký chép: Bờ Nam-Hải có một cây khô, có 500 con dơi ở trong hốc cây, vì ham nghe người đọc kinh, bị lửa đốt nóng mà không hay, nên bị cháy cả, được hóa kiếp thành người, bỏ nhà học đạo, đều thành Bồ-Tát.

(31) Trăn nghe sám: Vợ vua Lương-Võ-Đế, vì ác nghiệt, chết phải đọa làm kiếp trăn, báo mộng cho vua tụng kinh sám hối, được thác sinh lên trời.

(32) Rồng nghe kinh: Theo điển, Bồ-Tát Văn-Thù giảng kinh cho bầy rồng nghe, mà đều giác ngộ.

(33) Đại ẩn, tiểu ẩn: Đại ẩn, ẩn dật nơi chợ búa. Tiểu ẩn, ẩn dật nơi núi rừng.

(34) Tam giáo: Phật-Giáo, Nho-Giáo, Lão-Giáo.

(35) Ngưng nói hướng thượng tam huyền: Tức hãy ngưng nói con đường hướng thượng, nghĩa là hướng thượng tới chỗ cùng cực, thời cần phải một bước nữa hướng hạ để hóa độ, nên phải cần rõ một bước sau chót (yếu liễu mạt hậu nhất trước).

Tam huyền: Tức tam cú, tam huyền, tam yếu.

Tam cú (ba câu): Tăng hỏi Lâm-Tế thiền-sư: Thế nào là câu thứ 1? Sư đáp:

"Tam yến ấn khai chu điểm trắc,

Vị dung nghĩ nghị chủ tân phân".

(Nói về mặt thật tướng của vô vị chân nhân).

Tăng hỏi: Thế nào là câu thứ 2? - Sư đáp:

"Diệu giải khởi dung vô trước vấn,

Au hòa tranh phụ tiệt lưu cơ".

(Nói về mặt biểu hiện của vô vị chân nhân).

Tăng hỏi: Thế nào là câu thứ 3? - Sư đáp:

 

"Khán thủ băng đầu lộng ổi lỗi,

Trừu khiên đô lai lý hữu nhân".

(Nói về phương diện hành vi của vô vị chân nhân).

Tam huyền, tam yếu: Trong một câu có đủ tam huyền môn. Trong một huyền môn có đủ tam yếu. Có quyền, có thật. Vậy danh từ tam huyền, tam yếu không chỉ rõ số mục nhất định là gì? Có thể số 1 là "có", số 2 là "không", số 3 là chẳng phải "có, không".

Đó là một quá trình tư-duy rất thiết-yếu và huyền diệu.

(36) Một bước sau chót - (Mạt hậu nhất trước). - Mạt hậu có nghĩa là cuối cùng, chí cực, nghĩa cùng cực của chí đạo. Nhất trước nghĩa là một bước đi, một nước cờ, hay một câu. Vậy một bước sau chót có nghĩa là một bước, một câu cùng cực của Phật-đạo.

(37) Hay câu này diễn tả về diệu thú hiện thành của chân-như pháp-tánh. Cũng như câu: "Sơn thị sơn, thủy thị thủy"

 

Văn Răn Sát Sinh
 

Ôi! Noãn, thai, thấp, hóa (1) tính cùng, thấy, nghe, hiểu, biết điều khác. Chỉ nhân tạo nghiệp chứa oan, nên chịu khác tên riêng hiệu. Trước kia vốn nhân-luân cùng loại, đời nay chia đàn, giống khác nhau. Hoặc bạn bè, là huynh là đệ. Thay đổi áo xiêm đai mũ, biến làm vẩy giáp lông sừng. Chồng quên vợ, vợ quên chồng, bố trái con, con trái bố. Đã thấy đổi đầu thay mặt, dẫn tới khoét ruột chặt chân. Luống mogn sợ chết tham sinh, không lời kêu đau nói khổ. Nó giết hắn, hắn giết nó, người ăn họ, họ ăn người, oan trái lâu dài, chẳng bao giờ hết. Đời đời báo oán, kiếp kiếp thù nhau. Kẻ quay đầu được đến quê-hương, người phóng tâm chìm sâu địa ngục. Sách Nho thi nhân bố đức, kính Đạo yêu vật hiếu sinh. Phật duy giới sát phải trì. Người nên tuân làm chớ phàm.

 

* Kệ rằng:

Cánh, lông, vẩy, giáp mọi hàm linh,

Chết sợ, sống ham, há khác tình.

Từ trước Thánh hiền lòng chẳng nỡ,

Đoái nhìn chết chóc với tham sinh.

(Vũ mao lân giáp tận hàm linh,

Ủy tử tham sinh khởi dị tình.

Tự cổ Thánh hiền hoài bất nhẫn,

Yên năng kiến tử dữ tham sinh).

 

* Chú thích:

(1) Noãn, thai, thấp, hóa tức là tứ sinh, bốn loài sinh:

1 - Noãn sinh, loài từ trứng mà sinh ra.

2 - Thai sinh, loài từ bào thai mà sinh ra.

3 - Thấp sinh, loài từ nơi ẩm ướt mà sinh ra.

4 - Hóa sinh, loài từ tự nhiênhóa sinh ra.

 

Văn Răn Trộm Cắp
 

Ôi! Người làm nhân nghĩaquân tử, kẻ chuyên trộm cướp ấy tiểu nhân. Quân tử lòng thương giúp côi cùng, tiểu nhân ý tham lam tiền của. Chiếm của kẻ khác, làm của riêng mình. Lờ cả tình người, chuyên lo ích kỷ. Nào biết giầu sang do trời định; chẳng hay tham cầu bở ý ham. Ăn gan (1) đục nhà, đào tường khoét vách, Sơn-Dương tướng-quân (2) nối gót, Lương-Thượng quân-tử (3) tập làm; ngược trời trái đất, dối pháp khinh hình. Còn sống gặp công-lý thi hành, chết rồi bị Minh-Vương tra khảo. Đâu chỉ chứa vàng chất ngọc, ngay đến một bụi mẩy lông. Ngửi sen ao địa thần còn la (4), lấy tiền lời Diêm-Vương cũng phạt. Lưới trời lồng lộng, làm thiện thoát làm ác tội mang; Phép nước thênh thang, làm công khỏi làm riêng phạm pháp.

 

* Kệ rằng:

Khoét vách đào tường ý hiển sâu,

Trăm phương ngàn kế khổ tìm cầu.

Của người ví được thời nay đó,

Rồi phải muôn đời kiếp ngựa trâu.

(Tạc bích xuyên tường ý bất hưu

Thiên ban bách kế khổ doanh cầu.

Kim sinh cẩu đác tha nhân vật,

Bất giác chung thiên thụ mã ngưu).

 

* Chú thích:

(1) Ăn gan - Dịch chữ "bộ-can", Thiên Đạo-chích sáng Trang Tử có câu: "Khoái nhân can nhi bộ chi", cắt gan người mà ăn đấy. Đạo chích, tên là Chích làm nghề ăn Trộm, nên có tên là Đạo Chích. Ngày nay ví kẻ ăn trộm là Đạo-Chích.

(2) Sơn-Dương tướng-quân: Tức tướng-quân đất Sơn-Dương. Theo quẻ bói của Chu-Công, kẻ lập ấp ở đất Sơn-Dương, người hiền thì được phồn thịnh, kẻ bất lương thì bị lụn bại; lấy ý này để ám chỉ cho kẻ tướng cướp, nên gọi là Sơn-Dương tướng-quân.

(3) Lương-Thượng quân-tử: Tức kẻ trộm trên xà nhà. Tên riêng chỉ cho kẻ trộm. Đời Hậu Hán, Trần-Thực biết trên xà nhà có kẻ trộm, liền gọi con cháu lại dạy rằng: "Con người bản tính thiện". Nghĩa là con người bất thiện vị tất vốn ác, vì tập nên thành thói xấu, thành kẻ Lương-thượng quân-tử. Kẻ trộm nghe biết rất kinh sợ, liền nhẩy xuống đất tạ tội. Trần-Thực khuyên bảo cải thiện, sau cả huyện không có một kẻ trộm.

(4) Ngửi sen ao Địa-thần mắng: Theo điển, xưa có vị Tỷ-kheo đi qua ao sen dừng lại ngửi, Thần đất mắng vị Tỷ-kheo là ngửi trộm mùi hoa.

 

Văn Răn Giới Sắc

 

Ôi! Lưng ong tóc mượt, hay khiến tính hoặc tâm mê. Sắc én mày ngài, đưa đến hồn phiêu phách lạc. Mắt đưa đẩy con dao không liếc ai chẳng nát lòng, lưỡi rung rinh một ống sáo diều, hết đều ngây ngất. Kẻ mê say đoạn nghĩa thày bạn; người tham đắm đức mất đạo tan. Trên mà phong giáo chẳng còn, dướt tất khuê môn rối loạn. Chẳng kể học-lưu thế-tục, hay hàng Tăng-lữ xuất-gia. Phép nước sụp đổ ở Tô-đài (1), giới thể (2) chôn vùi nơi dâm thất. Chỉ giương mắt nhìn ngoại cảnh, chẳng quay đầu chiếu nội tâm. Cởi bỏ lụa là quanh mình, vẫn lộ da bì bọc thịt. Độc-giác (3) gần nữ am hoàn tục, Chân-quân xa thán-phụ thăng thiên. Người chẳng đắm được 5 thần thông (5), kẻ đam trước mất phần giới hạnh.

 

* Kệ rằng:

Má trắng môi son điểm phấn hồng,

Nhìn rồi đưa mắt ý mơ mòng.

Chẳng qua một túi da nhơ bẩn,

Cắt đứt ruột người chẳng tốn công.

(Tai nhược mai hương kiển nhị đào,

Kiến chỉ mục tống ý đao đao.

Đô lô nhất đại cơ bì xú,

Ám đoạn nhân trường bất dụng đao).

 

* Chú thích:

(1) Tô-đài: Vua Ngô-Phù-Sai đời Xuân-Thu vì mê Tây-thi trên đài núi Cô-tô mà mất nước.

(2) Giới thể: Thật thể của giới. Do nơi biểu hiện của tác lễ, khất-giới, bạch tứ yết ma phát được giới thể. Tức tánh của Tỷ-Kheo.

(3) Độc-giác: Tiếng Phạn gọi là Bích-Chi Phật (Pratycka-Buddha) một bậc Thánh hiện thân tự tu tự ngộ, tức vô sự độc ngộ.

(4) Chân-quân: Tức chân-tiên, chỉ cho các đạo-sĩ tu tiên. Thán-phụ hay Thán phụ tu: Người đàn bà bằng than. Theo truyền-thuyết, Trương-Đạo-Lăng, tu pháp thuật, luyện đan phù chú, người theo học rất đông. Một hôm Đạo-Lăng đẽo than làm thành một người đàn bà rất đẹp để thử môn đồ. Trong số môn đồ nếu người nào đạo-tâm chưa kiên cố mà đụng vào thì tay đều bị nhuộm đen. Nên có câu: "Đạo sĩ do hoài Thán phụ tu" (Đạo-sĩ còn màng Thán-phụ tu - Tu là xấu hổ).

(5) Ngũ thần thông: Gọi tắt là ngũ thông:

1 - Thiên nhĩ thông, tai nghe khắp mọi cảnh giới.

2 - Thiên nhãn thông, mắt thấy khắp mọi cảnh giới.

3 - Túc mệnh thông, biết được các kiếp về trước.

4 - Tha tâm thông, thấu suốt được tâm niệm của mọi người.

5 - Thần-túc-thông, đầu đủ thần thông biến hóa, bay đi tự tại.

 

Văn Răn Vọng Ngữ


 
Ôi! Thiện ác ở tâm làm gốc, hoạ phúc do miệnh gây ra. Nghĩ một câu vang ứng không sai, nói một lời bóng theo chẳng chệch, quân tử trọng lời như biện (1), cổ nhân giữ tiếng tựa bình. Nói ra lấy thẳng làm công, phát ngôn không thiên không lệch. Không nói đây kia tốt xấu, chẳng bàn phải trái người mình. Đâu đám khua lưỡi máy môi, chỉ hay gìn lời giữ miệng. Mang cái nghiệp trong thân đã nặng, song lỗi lầm vạ miệng đứng đầu. Chẳng những người nói vọng ngôn, còn khiến kẻ nghe làm bậy. Lúc sống người đời khinh miệt, chết rồi bị nghiệp kéo lôi. Hoặc kềm sắt kéo lưỡi, cam chịu chua cay; hoặc nước đồng rót miệng, mang dài khổ não.

 

* Kệ rằng:

So vai siểm nịnh (2) Lưỡi đầu môi.

Vọng ngữ người đời mãi thế thôi.

Nhặt ý cầu vui màng chút lợi,

Sau cùng khó tránh nghiệp luân hồi.

(Hiếp kiên siểm tiếu thiệt dao thần,

Vĩnh tác trần hoàn vọng ngữ nhân,

Tứ ý cầu Hoan xu thế lợi,

Đáo đầu tranh miễn nghiệp triền thân).

 

* Chú thích:

(1) Như biện: Như thành cái giường, ý nói lời nói ra phải chắc như đinh đóng cột.

(2) So vai siểm nịnh: Dịch ở câu "Hiếp kiên siểm tiếu". Trong thiên Đằng-Văn-Công sách Mạnh-Tử có câu: "Hiệp kiên siểm tiếu". Hiếp kiên là so vai, trạng thái kinh sợ. Siểm tiểu: Cười nịnh, nét mặt hớn hở nịnh bợ.

 

Văn Giới Rượu

 Ôi! Người ham rượu đức hạnh chẳng còn, kẻ uống rượu nói năng lầm lẫn. Hơi xông nát ruột, mùi thấu dạ dày. Bại hoại tinh thần, hôn mê tâm tính. Hai thân chẳng đoái, năm nghịch (1) chuyên làm. Hoặc huyên náo nơi quán ăn, hoặc say sưa trên đường phố. Chửi trời mắng đất, hủy Phật báng Tăng. Thả môi miệng hát ca, trần thân mình nhảy múa. Chẳng biết đến Phật cúng dường, theo phường mũ đen áo lệch (2). Bỏ thân mạng từ đó mà sinh, mất nước, nhà do đây mà có. Ngừa đi thì ngàn lành đều họp, uống vào thời trăm vạ cùng mang. Đại-Vũ (3) bỏ rượu mà trăm họ theo mừng. Thái-Khang đắm rượu nên 5 em oán trách. Đâu chỉ bậc phong lưu phải giữ, ngay cả người đạt ngộ cũng phòng. Bao nhiêu rực rỡ trên đời đều bị lu mờ trong rượu.

 

* Kệ rằng:

Men bã một vò rượu nấu thành,

Bao nhiêu người trí mất thông minh.

Chẳng riêng phá giới người tu đạo,

Mất nước tan nhà tự đó sinh.

(Nhất ủng tao khang cúc nhưỡng thành,

Kỷ đa trí giả một thông minh.

Phi duy độc phá chuy lưu giới,

Bại quốc vong gia tự thử sinh).

 

* Chú thích:


(1) Năm nghịch: Dịch ở chữ "ngũ nghịch":

(i) Giết cha,

(ii) Giết mẹ,

(iii) Giết A-La-Hán,

(iv) Phá hòa hợp Tăng,

(v) Làm chảy máu thân Phật.

(2) Mũ đen áo lệch: Tức vua Đại-Vũ nhà Hạ. Thái-Khang: Cháu vua Vũ nhà Hạ. Thái-Khang có 5 người em, nên chữ ngũ tử đây dịch là 5 em.

 

Bàn Về Giới Định Tuệ

Ôi! Hết thẩy người tu hành đều chán ngán hai đường sinh tử. Bỏ vộ con cha mẹ, xuất gia cầu đạo, phụng Phật làm thầy. Noi theo đường lối của chư Phật, duy ở kinh mà thôi. Trong kinh chỉ nói giới, định, tuệ. Luận Giải-thoát nói: "Giới, Định, Tuệ là con đường giải thoát". Giới là nghĩa oai nghi. Định là nghĩa chẳng loạn. Tuệ là nghĩa hiểu biết. Đó là lấy giới trừ ác-cấu (1), định trừ triền-cấu, tuệ trừ sử-cấu, nên phải lấy giới, định, tuệ để gieo giống thiện, gây mầm đạo. Giới định tuệ còn chia ra sơ-thiện, trung-thiện và hậu-thiện. Lấy giới làm đầu, định làm giữa và tuệ ở sau. Giới là thiện đầu. Vì có tinh tiến trì giới, mới thành tựu được bất thoái, nên sinh vui mừng. Bởi mừng nên nhún nhẩy. Vì nhún nhẩy nên thân đứng. Bởi thân đứng lại nên vui. Bởi vui nên tâm không định. Đó là sơ-thiện. Định làm thiện giữa. Bởi thân đứng nên ngừng. Bởi ngừng nên tâm trụ. Bởi tâm trụ nên biết thấy như thất. Đó là trung-thiện. Tuệ làm thiện cuối. Bởi biết thấy như thật, nên sinh lo chán. Bởi lo chán nên lìa dục. Bởi lìa dục nên giải-thoát. Đó là hậu-thiện. Cho nên lấy giới trừ bỏ ác thú, định trừ bỏ dục-giới, tuệ trừ được hết thấy cõi Hữu. Y vào giới, định, tuệ này mà tu, thời đường lối của chư Phật cũng rất gần vậy.

 

* Chú thích:

(1) Ác-cấu, Triền-cấu, Sử-cấu: Tức tam cấu là tham, sân, si. Tam-cấu cũng gọi là tam-hoặc: 1) Kiến tư hoặc, 2) Trần sa hoặc, 3) Vô minh hoặc. Trong đây nói ác-cấu, triền-cấu, sử-cấu là chỉ nói về thập triền, thập sử, phần kiến tư hoặc trong tam giới.

 

Bàn Về Thọ Giới

 Ôi! Tịnh giới, tiếng Phạm là Ba-La-Đề-Mộc-Xoa. Chư Phật trong ba đời, sở dĩ được thành đạo cũng không ngoài giới. Nên nói: "Người có phá giới được gọi là tỳ-kheo, người không phá giới gọi là ngoại đạo". Đó là chỉ nghĩa có thọ giới và không thọ giới. Thọ rồi lại phá còn gọi là tỷ-kheo, nữa là người thọ hết thẩy tịnh giới mà lại kiên trì được đầy đủ. Đời hiện tại Bồ-Tát lấy giới để độ sinh, ở tượng lại người tu hành do giới mà giải thoát. Trong kinh nói: "Giới như đất bằng phẳng, muôn thiện từ đó sinh. Giới như thầy thuốc hay, chữa được mọi thứ bệnh. Giới như ngọc minh-châu, chiếu sáng nơi đen tối. Giới tựa như thuyền bè, chở người qua biển khổ. Giới như tràng anh-lạc, để trang-nghiêm pháp-thân. Có tội nên sám hối, chẳng sám tội thêm nặng. Một khi mất thân người, muôn kiếp chẳng trở lại. Ngày nay tuy an toàn, ngày mai khó giữ được. Nên giữ gìn pháp này, mau qua đường sinh tử. Tôn kính Phật làm thầy, trước y theo giới luật". Cổ-đức có nói: "Qua sống phải dùng bè, đến bờ không cần nữa". Cổ nhân lấy giới làm thuyền bè, người nay lại chẳng nương vào giới để qua, mà được tới bờ kia, thật không thể có được.

 

 

 Bàn Về Tọa Thiền

Ôi! Những người học đạo, chỉ cần thấy tính. Dù có thọ hết thẩy tịnh giới, nếu không tọa thiền sức định khó sinh. Định lực chẳng sinh, tức vọng niệm chẳng diệt, mà muốn thấy tính, quả thật là khó.

Thích-Ca Văn-Phật vào núi Tuyết-Sơn, ngồi định sáu năm. Chim thước làm tổ trên đầu, cỏ mọc xuyên qua bắp vế, thâm tâm vẫn tự như. Tư-Cơ dựa ghế (1) ngồi, hình như cây khô, tâm như tro nguội. Nhan-Hồi tọa-vong (2), rời thân thể, bỏ phán đoán, lìa ngu trí, cùng thông với đại-đạo. Đó là những cổ-đức Thánh-Hiền trong 3 giáo, cũng từng lấy ngồi định mà thành tựu.

Song đi, đứng, nằm, ngồi cũng đều là Thiền, không chỉ ở ngồi. Bởi vì, đi thì phóng bước, đứng lại sinh mỏi, nằm thời mờ tối nhưng yên tĩnh. Yên tĩnh tất mối nghĩ sinh, mỗi nghĩ sinh thì niệm khởi. Muốn tắt mọi niệm, phải tập tọa-thiền. Nếu khi ngồi thiền chẳng tắt mọi niệm thời tâm vượn nổi dậy, ý ngựa lông bông. Hoặc do loạn tưởng mà biết tiền trần, hoặc do vô-ký mà quên tự-tính. Dựa ghế tựa vách, nhắm mắt che con ngươi, ngủ say chảy dãi, cúi đầu khom lưng, tuy mượn danh là tọa-thiền, nhưng cũng như người ngồi trong núi đen, hang quỉ. Hoài-Nhượng thiền-sư nói: "Mài ngói làm gương là nghĩa thế vậy".

Vả lại, Thiền có 4 thứ:

1) Người làm kế lạ, vui cao chán thấp mà tu là ngoại đạo thiền.

2) Người chính tín nhân-quả, cũng vui chán mà tu là phàm-phu thiền.

3) Người liễu lý sinh không, chứng đạo thiên-chân mà tu là tiểu-thừa thiền.

4) Người đạt nhân, pháp đều không mà tu là đại-giáo thiền. Kẻ hậu học đời nay, nên lấy đại-giáo-thiền làm chính. Đó là tập tọa-thiền dứt vọng niệm, chớ sinh ngờ vực.

* Chú thích:

(1) Tử-Cơ dựa ghế: Dịch chữ Tử-Cơ ẩn kỷ. Sách Trang-Tử, Tề-vật-luận chép: Nam-Quách Tử-Cơ, tựa ghế mà ngồi, ngửa mặt lên trời mà xem hơi thở (ẩn kỷ nhi tọa, ngưỡng thiên nhi hư).

(2) Nhan Hồi tọa-vong: Nghĩa là ông Nhan-Hồi ngồi ngay ngắn, tâm vẳng lặng, quên cả vật và mình, vượt cả tướng sai biệt, tâm cảnh dung thông vô ngại. Thơ Bạch-Cư-Di- viết: "Hành Thiền dữ Tọa-vong, đồng qui vô dị lộ" (Tọa-Thiền và Tọa-Vong cùng giống nhau).

 

Bàn Về Gương Tuệ Giác

Ôi! Tuệ sinh từ định-lực. Nếu tâm định thời gương tuệ sinh, tâm loạn thời gương tuệ diệt. Cũng như gương bằng đồng, trước nhờ ở mài rũa, rồi sau mới bóng sạch chiếu sáng. Nếu chẳng mài rũa thì bụi nhơ phủ mờ, ánh sáng không thể sinh được. Nên biết tuệ do định hiện, định từ tuệ sinh. Định Tuệ y vào nhau, hai bên không thiếu một. Nếu mượn danh tọa-thiền, tâm chưa được định, mà sinh được gương tuệ, tất nhiên không thể có. Tuy có tuệ-tính mà chẳng tập tọa thiền, tự cho mình đã sẵn có tuệ, không cần nương vào tọa thiền. Người tu như thế, tuy sẵn có tuệ, tất nhiên không thể có. Tuy có tuệ-tính mà chẳng tập tọa thiền, tự cho mình đã sẵn có tuệ, không cần nương vào tọa thiền. Người tu như thế, tuy sẵn có tuệ, nhưng không có thể của gương. Nếu khi ở định, tâm chưa được định, mà muốn cầu tuệ, ví như phong ba chưa yên, mà muốn tìm thấy bóng trăng. Nếu người tâm đã định, mà sinh tà giải để cầu tuệ, cũng như phong ba đã yên, bóng trăng lắng trong, mà lại khuấy trong nước để tìm bóng trăng, tất không thấy được. Nên Tổ-sư nói: "Tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch". Lại nói: "Tịch tịch, tỉnh tỉnh là vô ký. Tỉnh tỉnh, tịch tịch là loạn tưởng. Tỉnh tỉnh tịch tịch, tịch tịch tỉnh tỉnh là loạn tưởng. Tỉnh tỉnh tịch tịch, tịch tịch tỉnh tỉnh là thuốc. Vô ký, loạn tưởng là bệnh". Nếu thân có bệnh, nên phải mượn thuốc để đối trị. Thân đã bình định, thì cần gì phải chữa. Nếu hay tập được như thế, thời định tuệ thành-tựu.

 

Bài Tựa Sách Thiền Tông Chỉ Nam

Trẫm trộm nghĩ: Phật không chia Nam, Bắc, đều có thể tu cầu. Tính đều có trí ngu, cùng giúp phần giác-ngộ. Đó là, Phương-tiện dụ dẫn quần mê, đường tắt tỏ nẻo sinh tử, là đại-giáo của đức Phật ta. Làm cán cân cho hậu thế, làm khuôn phép cho tương lai, là trọnh trách của bậc tiên thánh. Nên Lục-Tổ nói: "Bậc Thánh-nhân xưa cùng với đại-sư không khác". Thời biết, giáo pháp của đức Phật ta, lại nhờ vào thánh-nhân xưa để truyền ở đời. Nay trẫm sao lại chẳng lấy cái trách nhiệm của tiên thánh làm trách nhiệm của mình. Đem giáo-lý của đức Phật làm giáo-lý của mình vậy ư!

Vả lại, Trẫm khi còn trẻ thơ, ở tuổi hiểu biết, hễ được nghe lời dạy của thiền-sư, thời trầm tư mặc tưởng, hồn-nhiên thanh-tịnh, lưu tâm ở nội-giáo, tham cứu ở Thiền-tông, quên mình tìm thầy, tinh thành mến đạo. Tuy cái ý hồi tâm hướng đạo đã manh nha, nhưng cái cơ cảm-xúc vẫn chưa đạt được.

Vừa lúc 16 tuổi, Thái-hậu từ giã cõi đời, trẫm thường nằm rơm gối đất, lệ huyết tuôn rơi, ruột đau như cắt. Ngoài nỗi buồn khổ ra, chưa rảnh rỗi làm việc khác. Chỉ khoảng vài năm sau, Thái-Tổ Hoàng-đế (1) lại kế tiếp yên-giá (qua đời). Mến tiếc mẹ chưa khuây, xót thương cha càng thiết. Thê thảm bồn chồn, khôn nguôi lòng dạ. Trẫm nghĩ công cha mẹ đối với con, nuôi nấng vỗ về, chăm sóc đủ thứ, dù có thân xát xương tan cũng chưa đủ để báo đền công ân đó trong muôn một. Hơn nữa, Trẫm nghĩ Thái-Tổ Hoàng-đế, rất gian nan việc mở nền dựng nhiệp, rất quan-trọng việc trị nước giúp đời, đem đại-khí trao cho trẫm khi còn thơ dại, ngày đêm nơm nớp lo sợ, đứng ngồi không yên (2). Trẫm tự nhủ rằng: "Trên đã không cha mẹ để nương nhờ, dước sợ chẳng đủ đáp lòng mong ngóng thành thật của lê-dân, vậy biết làm thế nào đây"? Trẫm suy nghĩ: "Chi bằng hãy lui về chốn núi rừng, tìm hiểu Phật-giáo, để tỏ rõ việc lớn của sinh tử, để báo đáp đức cức cù-lao, chẳng cũng tốt lắm sao"!

Bởi thế, chí Trẫm đã quyết định. Năm thứ 5, niên hiệu Thiên-ứng Chính-Bình vào đêm mồng 3 tháng 4 năm Bính-thân (1236), Trẫm mặc áo thường đi ra cửa cung, bảo tả hữu rằng: "Trẫm muốn ra ngoài thành du-ngoạn, lắng nghe tiếng nói của dân, xem chí nguyện của dân, ngõ hầu mới biết được sự gian-nan của họ". Lúc đó tả hữu theo bên Trẫm chẳng quá bẩy tám người. Vào giờ Hợi đêm ấy, Trẫm một mình một ngựa cất bước ra đi.

Sang sông đi về phía đông, Trẫm mới thật tình bảo cho những người theo hầu biết. Họ rất ngạc nhiên đều ứa hai hàng lệ. Giờ Mão ngày hôm sau, đi đến bến đò Đại-Than núi Phả-Lại, Trẫm sợ có người biết, phải lấy áo che mặt qua sông, rồi theo đường núi mà đi. Núi hiễm suối sâu, trèo lội chật vật, ngựa mệt mỏi không thể tiến bước, Trẫm phải bỏ ngựa, vịn vào vách đá mà đi mãi tới giờ Mùi mới đến sườn núi Yên-Tử. Sáng hôm sau, Trẫm leo thẳng lên đỉnh núi, tham-kiến Trúc-Lâm Đại Sa-môn Quốc-sư (3). Quốc-sư chợt thấy mừng rỡ, ung dung bảo Trẫm rằng:

"Lão-Tăng ở nơi núi rừng, xương cứng dáng gầy, ăn quả cây, nếm lá ngọt, uống nước suối, vui cảnh rừng, tâm tựa mây trôi, theo gió mà đến. Nay Bệ-hạ bỏ cái thể nhân-chủ, nghĩ đến cảnh núi rừng, hẳn có điều mong cầu chi mà đến đây vậy"! Trẫm nghe lời Quốc-sư nói, bỗng nhiên nước mắt ràn rụa, thưa với Quốc-sư rằng:

"Trẫm tuổi còn thơ dại, vội mất song thân. Đứng một mình trên đám sĩ dân, không chỗ nương tựa. Lại nghĩ tới sự-nghiệp của đế-vương đời trước, hưng phế, thịnh suy bất thường, nên Trẫm nay vào núi đây, chỉ mong cầu làm Phật, chẳng cầu vật gì khác".

Quốc-sư đáp: "Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ có trong tâm. Tâm vẳng lặng mà biết, đó gọi là Chân-Phật. Nay Bệ-hạ nếu ngộ được tâm ấy, thời tức khắc thành Phật, không phải nhọc công tìm đâu xa".

Bấy giờ, Trần-Công (4) là thúc-phụ của Trẫm, em họ đấng tiên-quân, được tiên quân ký thác con côi, sau khi ngài từ giã cõi đời và quần thần, được Trẫm phong chức Thái-sư tham chính việtc nước. Nghe tin Trẫm ra đi, Thái-sư bèn sai tả hữu chia ngả đi khắp nơi để tìm tung tích. Tất cả mọi người đã tìm đến núi này, đã cùng gặp nhau.

Trần-Công thống thiết nói: "Bầy tôi chịu lời ủy thác của đấng tiên-quân, thờ Bệ-hạ làm chủ thần-dân, dân trông chờ mong đợi ở Bệ-hạ, như con đỏ mong cha mẹ. Nữa là hiện nay bậc cố-lão trong triều-đình, đều là những người trong họ hàng thân thích. Lê-dân sĩ-thứ đều cùng vui mừng qui thuận. Ngay như đứa trẻ 7 tuổi, 8 tuổi cũng đều biết Bệ-hạ làm cha mẹ dân. Vả lại, Thái-Tổ bỏ bày tôi ra đi, đất trên nấm mồ chưa khô, lời di chúc còn vẳng bên tai. Mà nay, Bệ-hạ lại dấu hình-tích trong núi rừng, ẩn-cư để thỏa chí riêng mình. Cứ theo ý thần, Bệ-hạ làm kế tự-tu có thể được, nhưng còn quốc-gia xã-tắc thì sao? Xem ra, lấy lời nói suông để chỉ bảo người sau, chi bằng lấy thân mình vì thiên-hạ làm trước. Bệ-hạ nếu không nghĩ lại, bọn thần cùng mọi người, xin cùng chết ngày nay, quyết chí không quay trở về.

Trẫm thấy Thái-sư và các cố-lão quần thần, không có ý định bỏ Trẫm. Trẫm bèn đem lời nói đó thưa với Quốc-sư. Quốc-sư nắm tay Trẫm và nói: "Phàm làm đấng nhân-quân, phải lấy ý muốn của thiên-hạ làm ý mình. Nay thiên-hạ muốn đón Bệ-hạ về triều, Bệ-hạ không thể không trở về được. Song, việc tham cứu nội điển, xin Bệ-hạ luôn luôn để tâm, chớ quên.

Bởi thế, Trẫm cùng mọi người lại trở về Kinh, miễn-cưỡng bước lên ngôi báu. Trong khoảng thời gian mười mấy năm, phàm gặp cơ hội việc nước nhàn rỗi, Trẫm thường tụ tập các bậc kỳ đức để tham thiền hỏi đạonghiên cứu các kinh điển đại-giáo. Trẫm thường đọc kinh Kim-Cương, có lần đọc đến câu: "Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm" (không nên trụ trước nơi nào, mới sinh được tâm chân chính), vừa lúc bỏ quyển trầm ngâm, bỗng nhiên tự ngộ. Trẫm đem chỗ ngộ đó mà làm ra bài ca ca này, đề tên là "Thiền-Tông Chỉ-Nam". Năm ấy, Quốc-sư từ núi Yên-Tử về Kinh, Trẫm thỉnh ở chùa Thắng-Nghiêm, chủ trì việc khai ván in các Kinh. Trẫm lấy tác phẩm ấy đưa Quốc-sư xem. Quốc-sư xem xong, ba lần tán thán rằng: "Tâm của chư Phật hết ở trong sách này, sao không đem khắc ván in với chư Kinh để dạy kẻ hậu học"?

Trẫm nghe nói thế, liền sai thợ viết lối chữ chân-phương (giai thư) sắc truyền khắc ván đem in. Sách này không những riêng để chỉ chỗ mê lầm cho đời sau, mà còn muốn nối theo cái công truyền bá rộng của bậc thánh-nhân đời trước. Nhân thế tự làm bài tựa này:

* Chú thích:

(1) Thái-Tổ: Tức Thái-Tổ nhà Trần. Trần-Thừa được tôn làm Thái-Tổ. Con Trần-Thừa là Trần-Cảnh, tức Trần-Thái-Tông.

(2) Đứng ngồi không yên: Dịch câu: Bất hoàng khải sử. Khải sử nghĩa là chiếc chiếu có vị trí quỳ, nơi đứng, nơi ngồi, dịch ý là đứng ngồi không yên.

(3) Trúc-Lâm Đại Sa-Môn Quốc-sư: Có thể là Phù-Vân Quốc-sư, trụ-trì chùa Hoa-Yên lúc bấy giờ (theo Nguyễn-Lang).

(4) Trần-Công: Tức Trần-Thủ-Độ, em họ Trần-Thừa.

 

Bài Tựa Kinh Kim Cương Tam Muội

 Trẫm nghe! Bản tính nhiệm mầu, chân tâm vẳng lặng. Thành hoại đều dứt, chẳng phải tính trí hay xét ngọn nguồn. Tan hợp đều không, đâu thể mắt tai xem nghe tường tận. Có, không xóa hết, đạo, tục san bằng. Đứng riêng một mình, không chi sánh được. Đó là then chốt của tự tính Kim-cương vậy.

Khốn nỗi! Chúng sinh đã lâu: Vì huân tập ô-nhiễm; thức thần dao-động, bởi sóng gió thấy nghe. Noi hạnh xấu làm theo ấy nhiều, xoay ánh tuệ để soi lại ít. Bèn khiến, bốn phương đổi chốn, mê mất ngả về; lối rẽ sai đường, mơ hồ chính đạo. Gốc ngọn chẳng rõ, chân vọng khó phân. Vàng ròng đem tạp khoáng nấu chung, trăng sáng lẫn bụi trần cùng hiện. Quê, mê ngả về nơi "Hà-hữu" (1), mặt, quên mất cả vẻ bản lai. Trên đường niết-bàn khó tiến lên, trong hố tử sinh cam lùi bước. Nên đấng năng-nhân (Phật) thầy ta, hiện vô-sinh từ-nhẫn, thương mọi khổ trầm luân. Bốn hoằng thệ nguyện để lòng, ba nghĩ (2) đắn đo càng thiết. Pháp-thân lắng, báo thân hiện sao lành ứng ở triền Chu. Tượng-pháp tới, chính-pháp qua, người vàng mộng trong cung Hán. Ma-Đằng, Pháp-Lan truyền đến, Tây-Trúc, Chấn-Đán mới thông. Chữ Phạn phiên thành, văn Hoa rực-rỡ. Thay thế lá bối, lấy lụa chép kinh. Bể giáo phô mọi ngọc châu. Trời nghĩa điểm bao sao sáng. Hoặc muốn thêm chỗ chưa đúng, hoặc đem vá chỗ chưa bằng. Đường nước Y-Ngô nối tung, lối mòn sa-mạc tiếp gót. Lối gần vượt biển, dốc chí tới Hoa. Từ Hán bắt đầu, tới nay mở rộng. Thiên, viên, bán, mãn, đều không thiếu trong tráp ngà; đốn, thực, tiệm, quyền, muôn có thừa trong rương báu. Kinh Kim-cương Tam-muội, há không phải là giáo-viên, mãn, đốn, thực đó sao? Nếu không thế, sao lại, lấy vô-sinh pháp-yếu, dùng phương-tiện thần-thông. Tu-Bồ-Đề hỏi xuất-thế nhân, Đức Như-Lai gieo vô-thượng quả. Muốn ngăn chận só sinh có diệt, trước phải bày vô-tướng vô-sinh. Thấy sinh niệm ở vọng niệm mà mờ, dấy thủy-giác nơi bản-giác để tỏ. Chuyển mọi tình thức, vào Úm-ma-la (vô cấu thanh tịnh thức). Mê đầu chẳng đoái tự thân, thõng tay dẫn về thật-tế (3). Hoặc vin ngoại-trần duyên có, nên nói chân-tính vốn không. Đến lúc ba tướng (4) chẳng quan, ắt hẳn bốn thiền nào có. Hòa các vị thành vô-thượng-vị. nắm mọi dòng làm bất-nhị-lưu. Chuyển xoay biến kế vọng tâm, tiếp vào Như-lai tạng-thức. Thâu tóm mọi pháp, hiển rõ nhất tâm. Nhân chấp mà mê, như nước Thục, nước Man cùng giữ chặt; bởi sai biết sửa, như nước Tề, nước Lỗ đều đổi thay.

Trẫm, vin vào đức làm chủ đất nước, dựa vào pháp để cai trị dân. Lo nghĩ gian nan, quên cả sớm tối. Việc tuy có hàng vạn, giờ rảnh lấy khoảng thừa. Siêng việc quý giờ, học thêm tiến ích. Chữ nghi ngờ chưa biết rõ, đêm đến khuya vẫn còn xem. Để đọc sách nho, lại ngẫm kinh Phật. Kinh này mới thấy, cảm tựa nhiều đời. Tìm lý ẩn, đào nghĩa cao sâu, chín lần nghĩ, ba hồi xét lại. Nghiên ngẫm nghĩa lý, trau chuốt văn hoa. Muốn hiến lời vàng, giúp cho hậu học. Lạm dùng vằn báo thấy một, dẫn dắt đàn khỉ giận ba (5). Bởi thế, Trẫm viết điều chứa trong lòng, lại thân làm văn chú giải. Tìm lời nhiệm mầu non Thứu-Lĩnh, xét nghĩa uẩn-áo đáy Long-Cung. Vá vào giống hạt bụi trên đường chân-như, giảng ra tựa giọt nước trong nguồn chính-giác. Phát huy ý thâm diệu, khai xiển tông chân-thừa. Khiến người, vừa mở văn xem, liển nhận rõ nghĩa. Phá thành-trì kiên cố tà đảng, làm đội quân mưu lược nghĩa đồ (6). Vọng kiến mênh mang, dần biết quay về sao Bắc-đẩu; đường mê khúc-khuỷu, chợt biết hướng theo kim chỉ-nam. Nguyện vì người học có chỗ nương, mới thấy lòng Trẫm không sẻn tiếc.

Nay Tựa,

* Chú thích:

(1) Hà-Hữu: Rút gọn ở câu "vô hà-hữu chi hương" nghĩa là quê hương nơi không có. Tức nơi tịch diệt vô vi. Trang-Tử nói: "Vô hà hữu chi hương, quảng mạc chi dã". Đó là cái nghĩa không-vô. Tam giới vạn pháp đều không.

(2) Ba nghĩ: Dịch ở chữ Tam-tư. Sách Luận-Ngữ chép: "Tam tư nhi hậu hành", ý nói làm việc gì cũng phải đắn đo, nghĩ đi xét lại nhiều lần rồi mới làm.

(3) Thông tay dẫn về thật tế: Dịch ở câu: "Thùy thủ đạo quy thật-tế", nghĩa là tiếp dẫn về nơi chân thật cứu cánh, tức là về nơi bản-thể của bình đẳng nhất như.

(4) Ba tướng (hữu vi): 1) Tướng sinh.

2) Tướng trụ, dị.

3) Tướng diệt. (a)

a) Ba tướng: Cũng là ba thứ tự-tánh:

i) Biến kế sở chấp tánh,

ii) Y tha khởi tánh,

iii) Viên thành thật tánh.

5) Đàn khỉ giận ba: Dịch ở chữ "Thư chúng nộ tam". Theo điển sách Trang-Tử, Tề-vật-luận chép: Xưa có ông Thư-công (chủ đàn khỉ) chia thức ăn cho khỉ. Ông nói: "Sáng cho ba chiều cho bốn, đàn khỉ đều giận. Lại nói: "Thế sáng cho bốn chiều cho ba, đàn khỉ đều mừng". Sáng 3 chiều 4, sáng 4 chiều 3, số lượng bằng nhau, mà đàn khỉ hoặc giận hoặc mừng. Đó là chúng không biết được nghĩa danh với thật chỉ là một.

(6) Làm đội quân mưu lược nghĩa-đồ: Dịch câu "Tác nghĩa-đồ tôn trở chi sư". Tôn là vò rượu, trở là cái kỷ đựng đồ tế, dĩa đựng thịt, ám chỉ cho yến tiệc. Trong yến tiệc có bàn tính mưu lược, mà phá được định quân ngoài ngàn dặm. Văn bia chùa Đầu-Đà chép: "Cố năng sử tam thập thất phẩm hữu tôn trở chi sư, cửu thập lục chủng vô phiên ly chi cố". Chú rằng: "Nghĩa đồ tinh nhuệ, cố mưu sâu trong yến tiệc". Lại chú rằng: Kinh Đại-Phẩm, tam thập thất phẩm nói: Các phẩm này là yếu chỉ của Phật-Pháp, mà các Tỷ-kheo vâng làm để hàng phục chỗ cố chấp của ngoại đạo. Cũng như Yến-Tử ở Trong bữa tiệc mà ngăn chặn được quân Tấn. Vì Tấn muốn đánh Tề, liền sai sứ sang Tề. Nước Tề đặt tiệc khoản đãi. Trong bữa tiệc, sứ nước Tấn nói vui rằng sẽ làm loạn Tề. Thái-sư Yến-Tử biết ý. Khi sứ Tấn trở về liền bảo: "Nước Tề không thể đánh được". Do đó Tấn lui quân. Khổng-Tử nghe biết liền nói: "Bất xuất tôn trở chi gian, triết-xung thiên lý chi ngoại giả, Yến-Tử chi vị dã", nghĩa là trong bữa yến tiệc mà hay ngăn chặn được quân địch ngoài ngàn dặm, chính Yến-Tử đã làm được vậy.

 

Tựa Khoa-Nghi Sáu Thời Sám-Hối

 

Tiện đi lại trên sông, đường bộ là thuyền, xe; rửa bụi nhơ cho thân và tâm là lễ sám. Muốn rửa thân tâm mà không nhờ lễ sám, khác gì muốn tiện lợi đi lại, lại không dùng thuyền, xe. Thế nên, công dụng của lễ sám rất lớn. Kinh Đại-Tập nói "Như chiếc áo dơ bẩn trăm năm, có thể giặt sạch trong một ngày". Nên mọi nghiệp bất thiện chứa góp trong trăm ngàn kiếp, nhờ sức thần của Phật, thuận theo duyên lành, có thể tiêu trừ hết chỉ trong một ngày, một khắc.

Ôi! Chúng sinh bản lại giác-tánh, thanh-tịnh viên-minh. Lắng như thái-hư, không một hạt bụi. Bởi bọt vọng khởi, cõi uế hiện thành. Năng sở nương nhau, Phật, ta hai ngả. tính căn riêng rẽ; ngu, trí chia đường. Chỉ bảo một môn, khó thể ngộ nhập. Nên đức Phật ta, hoằng tứ nguyện lớn, phương tiện mở nhiều pháp-môn, chỉ nẻo đường về, ứng bệnh cho thuốc. Biết huyễn cấu của chúng sinh, từ vọng mà có. Khuyên họ một niềm siêng năng quy-y lễ sám. Khiến thân tâm thanh tịnh, tròn sạch như xưa. Gió lặng sóng dừng, bụi hết gương sáng. Vì, tâm xưa làm ác, như mây che mặt trăng; tâm nay làm lành, như đuốc tan bóng tối. Ôi! Công dụng của lễ sám, thật quả là lớn, đâu chỉ có thế!

Trẫm, nhờ ơn cao siêu chiếu cố, hưởng ngôi vị chí tôn. Việc dân gian-nan, triều chính bề bộn. Bên ngoài phấn hoa dụ dỗ, bên trong trùng bọ muốn ham. Miệng chán vị ngọn, thân mang vàng ngọc. Nghe nhìn theo sắc thanh sai khiến, ăn ở có đài các yên vui. Lại nữa, phép người suy vi, thói đời bạc bẽo. Người học mờ mịt, gốc thiện mỏng manh. Ngày thời căn trần tiếp xúc, lưới nghiệp kéo lôi; đêm thời thụy-cái đậy che, giây oan ràng buộc. Ngày đêm phan duyên, đều là những tội lỗi gây tai gieo họa. Trẫm lấy điều ấy, canh cánh trong lòng. Thương cảm xen nhau, bỏ ăn quên ngủ. Nhân lúc việc triều-chính nhàn rỗi, xem các kinh sách và mọi nghi-văn, soạn thành pháp lợi mình lợi người, để chỉ bảo cho đời. Tìm kiếm rồi suy ngẫm, hễ có nghiệp chứa chất, đều do sáu căn gây ra. Bởi thế, Thích-Ca Văn-Phật, khi đạo chưa thành; trước vào Tuyết-sơn, sáu năm tu khổ-hạnh, dáng là vì sáu căn vậy. Phỏng theo ý ấy, Trẫm lấy sáu căn chia làm sáu thời, mỗi thời lễ sám một căn. Thân chế ra nghi-văn gọi là "Khoa-nghi sáu thời lễ Phật sám hối". Văn thời lời văn rộng, nói thời lời nói xa. Vì văn nhiều thì sám hối trễ nải, nói xa thì ngờ vựa nẩy sinh, nên không tạo bóng bẩy cho đầy pho sách, khiến người đọc tụng đều vui, thấy nghe dễ hiểu. Ngõ hầu, những người có lòng tin, có thể ngày đêm, phát chí-thành, lấy khoa-nghi này làm nghi-thức lễ sám. Như vậy thời chẳng phụ cái nguyện lợi mình lợi người của Trẫm. Người có mắt sáng sau này, xin chớ lấy nghi-văn chế nhạo. Tuy nhiên như thế, nhưng:

Bởi hoa nở sớm ven ngõ tiá,

Nên có oanh vàng đậu liễu xanh.

(Bất nhân tử mạch hoa khai tảo,

Tranh đắc hoàng oanh hạ liễu điều).

 

 Tựa Văn Lễ Sám Bình Đẳng

Ôi! Pháp-tính như như, không vướng mảy may niệm lự; Chân-nguyên vẳng lặng, bản lai chẳng gợn nhiễm ô. Bởi chợt dấy vọng duyên, hiện thành huyễn thể. Theo nghiệp thức chuyển, quên mất viên ngọc sáng tròn; mất gia tài kia, bởi buông sáu căn tham dục. Nếu có chứa đựng tịnh-pháp, ắt phải rửa sạch vọng trần. Phát khởi tâm bình đẳng nhất chân, đảnh lễ thể Pháp-thân vô tướng. Đến được trong ấy, tự tha thọ dụng giao-hòa; hướng bên đó cầu, bản-lai diện mục tự hiện. Tuy nhiên như thế, gươm chưa tuốt khỏi vỏ báu, chốn loạn khó yên; thuốc chưa rót khỏi bình vàng, căn bệnh khó khỏi. Trẫm giành, giờ rãnh muôn việc còn dư, xem nghĩa thậm thâm ba tạng. Gặp pháp-môn này, chỉ thẳng con người làm Phật. Dù là minh-nhãn, ngại gì trên gấm thêm hoa. Nếu là tri âm, chính nên tiến bước.

 Nói Rộng Một Đường Hướng Thượng (1)

Bàn-Sơn thiền-sư (2) để lại lời dạy rằng: "Một đường hướng thượng, ngàn thánh chẳng truyền. Người học nhọc hình, như vượn bắt bóng". Khiến người học khắp nơi, đều hướng con đường ấy, tham cứu thiền-ý (3). Thử hỏi tất cả mọi người, thiền-ý làm thế nào tham được? Nếu quả tham được ý ấy, lại giống như một gã si (4). Đầu lại thêm đầu, đuôi nối đuôi nữa. Bỏ bụi trong mắt, thêm bướu trên thân. Nói đến thời môi miệng méo xiên, ngó thấy thời mắt, người rơi rụng. Cụ già vàng mặt (Phật), liếc mắt dòm bên, Thày Tăng mắt xanh (Tô Đạt-Ma) chau mày đứng cạnh. Mã-Tổ treo phất (5), Thủ-Sơn dấu bề (6). Triệu-Châu xé rách thiên-sam (7), Vân-Môn vứt bỏ hồ bính. Đức-Sơn buông gậy (9), Lâm-Tế nuốt lời (10). Dấu vết Phật Phật, Tổ Tổ đều mờ, gan mật kẻ kẻ, người người đều mất. Châm không chỗ thấu, dùi củng chẳng vào. Đầu đồng tiến tới không đường, trán sắt lao vào chẳng thủng. Lửa đá sẹt mà chẳng kịp, điện chớp loáng còn chậm xa. Tĩnh ngộ vào chốn chìm say, động mê xéo đường sinh tử. Ví khiển, Linh-Sơn Phó chúc, chỉ là nơi chốn rườm rà; Thiếu-Thất đan truyền, cũng là ổ hang rắc rối. Mặc dù cơ đương tựa chốp, tiếng thét ứng cơ. Lời diễn chảy trôi, thoại đầu lưu loát. Tham đi tham lại, ngày lâu tháng dài. Chút vương miệng nói trơn tru, sao thoát thân nằm hang ổ.

Này mọi người! Đến chỗ ấy rồi, chẳng được buông qua một bước. Xô người học đưa mắt nhìn vách đá treo leo, càng khó tiến bước. Ta ngày nay vì tất cả các người! Chẳng khỏi vuốt râu miệng hùm, đầu sào tiến bước. Chốn nói thời như gió bay tùng réo, chốn im thời tựa trăng chiếu đầm trong. Khi đi, nước cuốn mây bay; khi đứng, núi yên non vững. Lời lời là Thích-Ca hoạt-kế, câu câu là Đạt-Ma gia-phong. Buông ra thời 8 chữ mở tung, thu lại thời một môn đóng chặt (11). Ở trong hang quỷ, cũng là Di-Lặc lâu đài, trụ dưới núi đen, chẳng khác Phổ-Hiền cảnh-giới. Nơi nơi là đại-quang-minh-tạng, cơ cơbất nhị pháp môn. Mặc cho sáng lại tối đi, quản gì mây che trăng khuất. Trên tay ngọc sáng, xanh ánh xanh, vàng ánh vàng; gương xưa đương-đài, Hồ hiện Hồ, Hán hiện Hán. Dù ngay huyễn thể, hết là Pháp-thân. Chẳng nhọc trên đỉnh phóng quang, vốn đủ lục-thông diệu-dụng. Cung điện Ma-Vương lật đổ, tâm can ngoại đạo mở toang. Biến trái đất làm cõi nước vàng son, khuấy sông dài cho trời người nước sữa. Trong hổng mũi pháp-luân thường chuyển, dưới lông mày bảo-sát hiện ra. Gái đá (12) trong nước múa điệu bà-sa, người gỗ thổi kèn hát bài khoản-đãi. Hoặc gặp trường bận rộn, hoặc được chốn thảnh thơi. Hoặc thõng tay (xuống núi) giúp đời, hoặc quay đầu đồng nội. Khi biếng nhác ngủ mây gối đá, lúc thích hứng vịnh gió ngâm trăng. Rong chơi nơi quán rượu phòng trà, cười đùa giữa đường hoa ngõ liễu. Hoa vàng tua tủa, đều là Bát-nhã tâm, trúc biếc xanh xanh, hết là Chân-như lý. Vén cỏ hiện bản-lai diện-mục, xới đất dứt đường rẽ tử sinh. quay đầu ngựa sắt (13) cưỡi rong về, xỏ mũi trâu đất đi lùi bước. Chẳng lấy muôn pháp làm bạn, ai bảo một vật hãy còn. Phật cũng không, tâm cũng không, chân cũng được, giã cũng được. Ngoài cửa tam yếu, tha hồ thét hai làm ba, chữ thập đầu đường, mặc sức gọi mười làm chín. Sáo không lỗ (14) tấy vô-sinh khúc, đàn không giây gẩy khoái-hoạt ca. Nơi nơi kia đều là tri-âm, chốn chốn nọ há dung tai lắng. Chỉ một đường hướng thượng này, ngần ngại nói thế nào đây! Chà! Lửa ấy chưa từng đốt miệng! Nghe cho kỹ, nghe cho kỹ! Ví bằng nghe được lời ấy, ắt phải tai điếc ba ngày. Nếu nghe chẳng được, mau nên chạy qua. Còn ngần ngại gì!

Chốn chốn dương xanh kham buộc ngựa,

Nhà nhà có lối đến Trường-An.

Trở về dưới nguyệt người thưa vắng,

Một ánh trăng soi đại-địa hàn. (15)

(Xứ xứ lục dương kham hệ mã,

Gia gia hữu lộ đáo Trường-An.

Hồi trình nguyệt hạ nhân hy đáo,

Nhất đạo thiều quang đại-địa hàn).

 

* Chú thích:

(1) Nói rộng một đường hướng thượng: Nói rộng (phổ thuyết): Trái với độc-tham. Nghĩa là nối về yếu chỉ chính truyền của Phật, Tổ và bàn rộng tới các kinh luận, chứng tích của các thiền-sư xưa nay, để chỉ bảo cho kẻ hậu học. Một đường hướng thượng (nhất lộ hướng thượng) nói về nghĩa tối thượng. Cựa tắc của hướng thượng, ta không thể đem ngôn ngữ suy tư để diễn tả.

(2) Tức Bàn-Sơn Bảo-Tích thiền-sư đời Đường, pháp-tự của Mã-Tổ.

(3) Thiền-ý: ý cùng cực thiền, không dấu vết, không tự tánh, bất khả đắc. Hoặc gọi là tư-tưởng thiền.

(4) Gã Si (Si nhi): Chỉ kẻ ngu, chẳng biết tìm trí-tuệ ở tự mình, tức tự-Phật, lại cứ đuổi theo ngoại-cảnh, tìm phật bên ngoài, chẳng khác gì như kẻ si , đầu lại thêm đầu.

(5) Mã-Tổ treo phất (Mã-Tổ quải phấi): Phất là một dụng cụ đuổi ruồi muỗi. Xưa đức phật chế cho hàng đệ tử dùng, có cán làm bằng tre hay gỗ. Phất làm bằng lông ngựa hay giây gai. Sau này các thiền-sư dùng phất để mỗi khi thượng đường thuyết pháp. Mã-Tổ, tức Mã-Tổ Đạo-Nhất đời Đường, pháp tự của Nam-Nhạc Hoài-Nhượng. Mỗi khi có học nhân tới tham-vấn, Mã-Tổ dựng phất để biểu thị thiền-cơ. Đây nói treo phất tức gác cái phất lại. Có ý nghĩa là không cần tới. Các câu sau ý nghĩa tương tự.

(6) Thủ-Sơn giấu bề: (Thủ-Sơn tàng bề): Bề tức trúc-bề. Các thiền-sư dùng để tiếp dẫn học-đồ. Trúc-bề dài khoảng 3 tấc, làm bằng tre, hình khom cánh cung, sơn son. Thủ-Sơn, tức Thủ-Sơn Tỉnh-Niệm thiền-sư đời Đường, dòng Lâm-Tế. Khi thượng-đường, Thủ-Sơn dựng cây trúc-bề (cây thước) thị chúng rằng: "Này tất cả mọi người. Nếu gọi là cây thước thời phải (khẳng định), nếu chẳng gọi là cây thước thời trái (phủ định). Vậy tất cả mọi người gọi là cái gì?". Giấu bề có nghĩa không cần tới trúc-bề.

(7) Triệu-Châu xé rách thiên-sam (Triệu-Châu liệt phá bố-sam). Triệu-Châu tức Triệu-Châu Tòng-Thẩm, thiền-sư đời Đường, dòng phái Nam-Nhạc. Theo công-án, một vị Tăng hỏi Triệu-Châu: "Muốn pháp trở về một, một về chốn nào?" Sư đáp: "Ta ở Thanh-Châu làm một áo vải nặng 7 cân" (Ngã tại Thanh-Châu tác nhất lãnh bố-sam trọng thất cân). Bố-sam tức là áo thiên-sam bằng vải. Thiên-sam là một thứ áo lót cộc tay, treo từ trên vai phía trái xuống, bọc che hai bên nách. Xẻ rách áo thiên-sam, nghĩa là không cần đến áo thiên-sam.

(8) Vân-Môn vứt bỏ hồ-bính: (Vân-Môn quyên khước hồ-bính). Vân-Môn tức là Vân-Môn Văn-Yển thiền-sư, khai sáng tông Vân-Môn. Theo công-án, có vị Tăng hỏi Vân-Môn: "Thế nào là lời bàn siêu Phật, việt Tổ"? Vân-Môn đáp "Hồ-bính". Hồ-bính là một thứ bánh là bằng bột và vừng.

(9) Đức-Sơn buông gậy: (Đức-Sơn khí bổng). Đức-Sơn, tức Đức-Sơn Tuyên-Giám thiền sư, pháp tự của Long-Đàm Sùng-Tín. Mỗi khi học-đồ tới tham-học, hỏi đạo, ngài đều dùng gậy để chỉ bảo hướng dẫn về ý-chỉ Thiền.

(10) Lâm-Tế nuốt lời (Lâm-Tế thôn thanh): Lâm-Tế tức Lâm-Tế Nghĩa-Huyền thiền-sư, Tổ sáng lập tông Lâm-Tế. Học đồ mỗi khi đến tham thiền hỏi đạo, ngài thường dùng tiếng "Thét" để tiếp dẫn.

(11) Buông ra thời tám chữ mở tung, thu lại thời một môn đóng chặt: Dịch câu "Phóng chi tắc bát tự đả khai, bả chi tắc nhất môn tuyệt hố". Câu trên có nghĩa là nhất phóng tức phóng ra, buông ra. Câu dưới có ý nghĩa là nhất thu, bắt lại. Hướng thượng tới cảnh giới tuyệt đối bằng đẳng cùng cực có nghĩa thu lại, thu lại thời một môn đóng chặt. Khi hướng hạ độ sinh có nghĩa buông ra, buông ra thời tám chữ mở tung. Vậy tám chữ đây, ám chỉ cho tám hướng, mười phương hay nhiều phương hướng, không chỉ giới hạn ở số tám.

(12) Gái đá nhẩy múa (thạch nữ khởi vũ) là người gái khắc bằng đá nhẩy múa. Người gỗ thổi kèn (suy-dịch mộc nhân), đều dụ cho phần diệu dụng thiên-chân vô-tác, xa lìa mọi hình thức phân biệt.

(13) Ngựa sắt, trâu đất (thiết mã, nê ngưu) Ngựa làm bằng sắt, trâu nặn bằng đất, đều dụ cho cảnh giới giải-thoát vô-ý-thức, xa lìa mọi phân biệt.

(14) Sáo không lỗ (một khổng địch), đàn không dây (vô huyền cầm) dụ cho thuyết pháp không lệ thuộc vào ngôn ngữ, lìa mọi tình thức.

(15) Đại ý bài thơ nói: Người người đều có bản lai diện mục (Phật-Tính) nên người người đều có lối đến Trường-An. Trở lại được có rất ít người. Nhưng một khi đã trở về được, thì một ánh trăng soi đại-địa hàn, tức chứng ngộ được nhất chân thế-giới

 

Âm:

Ngữ-Lục Vấn Đáp Môn Hạ

Nhất nhật đế du Chân-Giáo-tự. Tống Đức-Thành tiến vân: "Thế-tôn vị ly đâu-xuất, dĩ giáng vương cung; vị xuất mẫu thai độ nhân dĩ tất, thời như hà?" Đế vân: "Thiên-giang hữu thủy thiên-giang nguyệt, vạn lý vô vân vạn lý thiên". Tăng vân: Vị ly xuất mông khai thị. Dĩ ly dĩ xuất sự nhược hà. Đế vân: Vân sinh nhạc đính đô lô bạch, thủy đáo Tiêu, Tương nhất dạng thanh. Tăng Vân: Tệ lai sơn sắc tình. Vân khứ động trung minh. Vi thậm mạ ẩn hiển nhất như. Đế vân: Trừ thị ngã gia chân đích tử, thùy nhân cảm hướng lý đầu hành. Tăng vân: Cổ kim vô dị lộ, đạt giả cộng đồng đồ. Bệ hạ tương vị đắc đạo độc Thế-Tôn mạ? Đế vân: Xuân vũ vô cao hạ, hoa chi hữu đoản trường. Tăng vấn: Nhân nhân bản tự nhân nhân cụ, cá cá nguyên lai cá cá viên. Vị thậm mạ Thế-Tôn nhập sơn tu đạo. Đế vân: Kiếm vị bất bình khai bảo hạp, dược nhân liệu bệnh xuất kim bình. Tăng vân: Nhãn trung hưu trước tiết, nhục thượng mạc oan sang. Đắc ư học nhân phận thượng hữu tu chứng mạ. Đế vân: Lưu thủy hạ sơn phi hữu ý, bạch vân xuất tụ bản vô tâm. Tăng vô ngữ. Đế vân: Mạc vị vô-tâm vân thị đạo, vô tâm do cách nhất trùng quan. Tăng vân ư tâm ký vô. Hoán thậm mạ tác trùng quan. Đế trùng vân: Lưu thủy hạ sơn phi hữu ý, bạch vân xuất tụ bản vô tâm. Tăng vô đối.

Nghĩa:

Lời Vấn Đáp Trong Môn Nhân (1)

Một ngày nọ vua (Trần-Thái-Tông) thăm chùa Chân-Giáo. Vị Tăng Đức-Thành đời Tống hỏi: - "Đức Thế-Tôn chưa rời cung Đâu-Suất đã giáng xuống vương-cung; chưa ra khỏi thai mẹ, đã độ người hoàn tất, đó là nghĩa thế nào"? - Vua đáp: "Ngàn sông có nước ngàn trăng chiếu, muôn dặm không mây muôn dặm trời". Tăng hỏi: "Chưa rời cung, chưa ra đời, đã được chỉ bảo. Còn, đã lìa cung, đã ra đời, việc ấy như thế nào"? Vua đáp: "Mây sinh đỉnh núi đều màu trắng, nước đến Tiêu, Tương (2) một vẻ trong" - Tăng nói: "Mưa tạnh sắc núi rạng, mây quang trong động sáng", vậy thế nào là ẩn hiện nhất như"? - Vua đáp: "Ngoại trừ con thật của nhà ta, ai dám hướng vào trong nơi đó". - Tăng nói: "Xưa nay không khác lối, người đạt cùng nẻo đường, Bệ-hạ há bảo duy Thế-Tôn đắc đạo ư? - Vua nói: "Mưa xuân không cao thấp, cành hoa có ngắn dài". - Tăng hỏi: "Người người vốn tự người người đủ, kẻ kẻ nguyên lai kẻ kẻ tròn, tại sao Thế-Tôn lại vào núi tu đạo?"- Vua nói: "Kiếm vì bất bình mở hộp báu, thuốc nhân trị bệnh rót khỏi bình". - Tăng nói: "Trong mắt đừng để bụi, trên thịt chớ khoét ung, còn phần người học đạo, có chỗ tu chứng chăng?" - Vua nói: "Nước chảy xuôi non đâu có ý, mây tuôn qua núi vốn không tâm". Tăng im lặng. - Vua nói: "Chớ bảo vô-tâm nói là đạo, vô-tâm còn cách một trùng quan" - Tăng nói: "Tâm đã không, gọi cái gì làm trùng quan". - Vua lại nói: "Nước chảy xuôi non đâu có ý, mây tuôn qua núi vốn không tâm". - Tăng không đáp.

* Chú thích:

(1) Lời: Dịch ở chữ Ngữ-lục. - Ngữ-lục. - những lời nói thiết-yếu của chư Tổ tập hợp lại thành sách, nên gọi là ngữ-lục.

(2) Dòng nước sông Tiêu ở Trung Quốc rất trong và quá sâu, khi sông Tương và sông Tiêu hợp lại với nhau gọi là Tiêu-Tương đều trở thành trong suốc.

 

Niệm Tụng Kệ

  

* Âm:

Niêm Tụng Kệ

(Dĩ hạ tứ thập tam chương)

1 - Cử: Thế-Tôn vị ly Đâu-Xuất dĩ giáng vương-cung, vị xuất mẫu thai độ nhân dĩ tất.

 

Niêm: Kiếm khích vị thi,

Tướng quân dĩ lộ.

 

Tụng: Một hình-hài tử vị ly hương,

Ngọ dạ tương nhân độ điểu mang.

Cao đạp ưu-du vô gián cách,

Bất tu thuyển tử dữ phù nang.

* Nghĩa:

 

Niêm Tụng Kệ (1)

(Dưới đây gồm 43 chương)

1 - Cử: Thế-Tôn chưa rời Đâu-Xuất đã giáng vương-cung,

chưa ra thai mẹ đã độ người xong.

 

Niêm: Gươm giáo chưa vung,

Tướng-quân đã lộ.

 

Tụng: Hình-hài chưa có chửa rời làng,

Sớm tối độ người vẻ rộn ràng.

Nhẹ gót thung dung không xen cách

Chẳng cần tuyền mảng với phù nang. (2)

 

* Chú thích:

(1) Niêm, tụng, kệ tức là Cử, niêm, tụng.

 

Cử: Đưa ra một cổ-tắc hay một công-án làm đề án cho vấn đề.

 

Niêm: Trích ra ý nghĩa của vấn đề để nhận xét.

 

Tụng: Tức kệ tụng, gồm 4 câu để làm rõ y-nghĩa của vấn đề đã được nêu ra.

(2) Phù-nang: Phao nổi, nhờ phao nổi này để qua sông, biển.

***

* Âm

2 - Cử: Thế-Tôn sơ sinh, nhất thủ chỉ thiên, nhất thủ chỉ địa. Thiên thượng địa hạ, duy ngã tộc-tôn.

 

Niêm: Nhất phiến bạch vân hoành cốc khẩu,

Kỷ đa qui điểu tận mê sào.

 

Tụng: Đạt-Đa sơ giáng Tịnh-Vương cung,

Dục hóa quần sinh tự hiển tung.

Thất bộ chu hành chỉ thiên địa,

Kỷ đa Phật-tử táng gia phong.

* Nghĩa:

2 - Cử: Đức Thế-Tôn lúc mới sinh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Trên trời dưới đất duy "Ngã" độc-tôn.

 

Niêm: Một tảng mây bay qua cửa núi,

Bao chim lại tổ lạc đường về.

 

Tụng: Đạt-Đa mới xuống Tịnh-Vương cung,

Muốn hóa quần sinh phải hiển tung.

Bẩy bước chỉ trời cùng chỉ đất,

Bao người con Phật mất gia phong.

***

* Âm:

3 - Cử: Thế-Tôn niêm hoa, Ca-Diếp phá nhan vi-tiếu.

 

Niêm: Dịch khởi mi mao trước nhãn khan,

Tiến tiền nghĩ nghị cách thiên san.

 

Tụng: Thế-Tôn niêm khởi nhất chi hoa,

Ca-Diếp kim triêu đắc đáo gia.

Nhược vị thử vi truyền pháp-yếu,

Bắc viên thích việt (1) lộ ưng xa.

* Nghĩa:

3 - Cử: Thế-Tôn nâng hoa ám chỉ, Ca-Diếp nở mặt mỉm cười.

 

Niêm: Rẽ ngược lông mày để mắt xem,

Nghĩa bàn tiến bước cách thiên san.

 

Tụng: Thế-Tôn chỉ nhắc một nhành hoa,

Ca-Diếp sáng nay được tới nhà.

Nếu bảo đó là truyền pháp-yếu,

Về Nam xe Bắc lối càng xa.

 

* Chú thích:

(1) Bắc viên thích việt: Quay càng xe về hướng Bắc lại đi lùi lại hướng Nam để đến đất Việt, phương hướng trái nhau nên càng đi càng xa.

***

* Âm:

4 - Cử: Ngoại đạo vấn Phật, bất vấn hữu ngôn, bất vấn vô ngôn.

 

Niêm: Trừ thị ngã gia chân đích tử,

Thùy nhân cảm hướng lý đầu hành.

 

Tụng: Lao-quan nan hệ hữu thùy tri,

Ngôn ngữ đô vong một xứ y;

Bất thị thế-trung lương mã tử,

hà do đặc địa đắc tiện nghi.

* Nghĩa:

4 - Cử: Ngoại đạo hỏi Phật: "Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời".

 

Niêm: Ngoại trừ con thật của nhà ta,

Ai dám hướng vào trong nơi đó.

 

Tụng: Cửa Lao (1) khó buộc có ai hay,

Ngôn ngữ nào vương ở chốn này;

Chẳng có trong đời nòi ngựa tốt,

Do đâu biết được tiện nghi này.

 

* Chú thích:

(1) Cửa Lao = Lao-quan: Cửa trần lao bền chắc, dù có hiểu biết phân biệt tới đâu chăng nữa, cũng không thể lãnh hội được con đường hướng thượng.

***

* Âm:

5 - Cử: Thế-Tôn thăng tọa, Văn-Thù bạch chùy vân: "Đế quan Pháp-vương pháp. Pháp-vương pháp như thị".

 

Niêm: Vô huyền cầm thượng tấu dương xuân,

Thiên cổ vạn cổ thanh bất tuyệt.

 

Tụng: Tuy ngôn cú cú một tỳ hà,

Quải dốc ưng do lộ vĩ ba.

Tranh tự nhất chi vô Khổng-địch,

Vị quân xuy khởi thái-bình ca.

* Nghĩa:

5 - Cử: Thế-Tôn bước lên toà pháp, Văn-Thù đánh kiền-chùy bạch chúng rằng: "Nghe kỹ pháp của Pháp-vương. Pháp của Pháp-vương như thế".

 

Niêm: Đàn cầm không chỉ tấu dương-xuân, (1)

Ngàn thuở muôn đời tiếng vẫn ngân.

 

Tụng: Dẫu rằng lời nói chẳng tỳ-hà (2)

Sừng gác nhưng đuôi vẫn hiện ra;

Sao tựa sáo kia không lỗ hổng,

Vì người trỗi khúc hát hòa-ca.

 

* Chú thích:

(1) Không chỉ tấu dương-xuân: Không chỉ có nghĩa đàn không dây. Dương là mùa xuân, chế khúc hát cho đàn cầm gọi là khúc "Dương-Xuân".

(2) Tỳ-hà: Vết xấu, lời nói sai lầm.

***

* Âm:

6 - Cử: Kế-Tân quốc-vương bỉnh kiếm, vị nhị-thập-tứ Tổ Tôn-Giả vân: "Sư đắc uẩn không phủ"? Viết: Dĩ đắc. Viết: Ly sinh tử phủ? Viết: Dĩ ly. Viết: Khả thí ngã đầu phủ? Viết: "Thân phi ngã hữu huống ư đầu hồ"! Vương tiện trảm. Bạch nhũ dũng xuất. Vương tý tự đọa.

 

Niêm: Tương đầu lâm bạch nhẫn,

Do như trảm xuân phong.

 

Tụng: Lợi đao đoạn thủy hỏa xuy quang,

Ná sự ứng tri dã bất phương;

Báo đạo kim triêu viễn yên lãng,

Thùy tri biệt hữu hảo tư lường.

* Nghĩa:

6 - Cử: Vua nước Kế-Tân tuốt gươm, bảo Tôn-Giả Tổ thứ 24 rằng: Sự được "Uẩn" không chăng? Sư đáp: Đã được. Hỏi: Lìa sinh tử chăng? Đáp: Đã lìa. Hỏi: Có thể cho ta cái đầu chăng? Đáp: "Thân còn chẳng có, nữa là đâu ư"! Vua liền chém đầu, sữa trắng vọt ra, tay vua tự rơi.

 

Niêm: Đem đầu lao vào gươm bén,

Tựa như chém làn gió xuân.

 

Tụng: Chém nước bằng dao có bận gì,

Lửa lùa ánh sáng chẳng hề chi

Báo tin sớm ấy xa mây nước,

Biết được riêng ai tốt nghĩ suy.

***

* Âm

7 - Cử: Đạt-Ma Đại-Sư chí Lạc-Dương Thiếu-Lâm, cửu niên diện bích nhi tọa.

 

Niêm: Trước nhãn khan, hưu khạp thụy.

 

Tụng: Bằng đoàn nhất phấn đáo Nam-Minh

Tiếp chủng đồ lao vạn lý trình

Tạc dạ chỉ tham diên thượng lạc

Kim triêu bất giác túy nan tinh

* Nghĩa:

7 - Cử: Đạt-Ma Đại-Sư đến chùa Thiếu-Lâm, thành Lạc-Dương, 9 năm ngồi quay mặt vào vách.

 

Niêm: Dương mắt nhìn,

Đừng ngồi ngủ.

 

Tụng: Chim bằng vỗ cánh tới Nam-Minh (1),

Muôn dặm noi theo luống nhọc hình.

Đêm trước chỉ tham vui yến tiệc,

Sáng nay chẳng tỉnh lúc bình minh.

 

* Chú thích:

(1) Nam-Minh tức Nam-Hải.

***

* Âm:

8 - Cử: Nhị-Tổ khất Đạt-Ma an tâm. Ma viết: "Tương tâm lai dữ nhữ an". Viết: "Mịch tâm liễu bất khả đắc". Ma viết: "An tâm kính".

 

Niêm: Tam tuế hài nhi bão hoa cổ,

Bát thập lão ông cổn tú cầu.

 

Tụng: Tâm ký vô tâm đạo hướng thùy,

Mộng hồi á tử nhãn ma di;

Lão-tăng man đạo năng an kính,

Tiếu sát bàng quan bất tự tri.

* Nghĩa:

8 - Cử: Đệ nhị Tổ xin Đạt-Ma an tâm. Đạt-Ma bảo: "Đem Tâm lại đây để an cho". Thưa: "Con tìm tâm rồi mà không thể được". Đạt-Ma bảo: "Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó".

 

Niêm: Hài nhi ba tuổi chơi trống bỏi,

Cụ già tám chục mặc áo hoa.

 

Tụng: Tâm đã không tâm hướng chỗ nào,

Người câm ngái ngủ nói chiêm bao.

Lão tăng lại nói an tâm được,

Cười ngất bàng quan (1) tự biết sao.

 

* Chú thích:

(1) Bàng quan: Người đứng bên cạnh nhìn, không có quan hệ với sự việc.

***

* Âm:

9 - Cử: Văn-Thù kiến nữ tử cận Phật tọa tam-muội. Văn-Thù xuất bất đắc. Phật sắc Võng-Minh xuất đắc.

 

Niêm: Oan gia chi tử,

Táng ngã gia-phong.

 

Tụng: Phật tiền đồng xuất hữu sơ thân,

Thử định ưng vi vị chính chân.

Nhược thị hóa công vô hậu bạc,

Luật hồi hà địa bất dương xuân.

* Nghĩa:

9 - Cử: Văn-Thù thấy người nữ ngồi nhập định gần Phật. Văn-Thù xuất định không được, Phật sai Võng-Minh (1) xuất được.

 

Niêm: Đứa con oan trái,

Mất gia-phong ta.

 

Tụng: Đều cùng xuất định có sơ thân,

Định ấy xem ra chửa chính chân:

Nếu đấng hóa công không hậu bạc,

Luật về (2) mặt đất khắp dương xuân.

 

* Chú thích:

(1) Võng-Minh (Jatiniprabha) tức Võng-Minh Bồ-Tát, hoặc gọi là Võng-Minh Đồng-Tử Bồ-Tát, một trong 16 vị tôn-giả đời Hiền-Kiếp, một trong 5 vị Tôn-giả ở 5 phương trong Kim-Cương-Giới Mạn-trà-la của Mật-Tôn.

(2) Luật về - Luật có nghĩa là trần thuật sự biến hóa về thời tiết của trời đất. Luật được chia ra Âm-luật và Dương-luật, 6 luật thuộc dương, 6 luật thuộc âm, hợp thành 12 luật để phối hợp với sự biến hóa về thời tiết của 12 tháng trong một năm, nên tháng xuân tới, gọi là dương xuân.

***

* Âm:

10 - Cử: Mã-Tổ đạo: Tòng Hồ-loạn hậu tam thập niên, bất tằng khuyết diem tương.

 

Niêm: Trực nhiêu bất phạm hào mang,

Dã thị niêm chùy chỉ chỉ.

 

Tụng: Tiền thời tằng bạn tham bôi khách,

Gia tại thường vi tửu điếm lân;

Túng lễ đồ khoa linh lợi hán,

Đồ trung định tác thất y nhân.

* Nghĩa:

10 - Cử: Mã-Tổ nói: "Từ sau loạn Ngũ-hồ 30 năm, chưa từng thiếu tương muối". (1)

 

Niêm: Mặc dù chẳng phạm tơ hào,

Cũng là cầm bánh dính tay.

 

Tụng: Thuở xưa từng bạn khách bê-tha,

Quán rượu thường ngay cạnh nách nhà;

Ví dẫu khoe khoang người lanh lợi,

Giữa đường mất áo chịu thôi mà.

 

* Chú thích:

(1) Loạn Ngũ Hồ: Dịch ở chữ Hồ-loạn còn có ý nghĩalờ mờ. Sách Hồ-loạn bí thư chép: "Cái ngày loạn Ngũ-Hồ, quân người Hán rút đi vội vàng không được hoàn-bị". Người nay cho những việc làm vội vàng cẩu thả, gọi là "Hồ-loạn". Ý Mã-Tổ nói: Từ 30 năm nay ta nói ngược nói xuôi, nhưng chưa từng phạm lỗi lầm.

***

* Âm:

11 - Cử: Bách-Trượng tái tham Mã-Tổ, Mã-Tổ nhất hát. Bách-Trượng đại-ngộ.

 

Niêm: Lợi chùy thiên đáp,

Bất như độn thu nhất nại.

 

Tụng: Tích nhật xa thư vi hỗn đồng,

Tứ biên phấn vị khởi quần phong;

Nhất huy Mã lão Thái-A kiếm,

Đạo lộ lòng tư tín tức thông.

* Nghĩa:

11 - Cử: Bách-Trượng trở lại thăm Mã-Tổ. Mã-Tổ thét một tiếng.

Bách-Trượng đại-ngộ.

 

Niêm: Dẫu rằng ngàn mũi dùi nhọn,

Không kịp một nhát mai cùn.

 

Tụng: Trục xe, lối viết chửa hòa đồng, (1)

Bốn phía rối bời tựa lũ ong;

Mã-Tổ một lần vung kiếm báu, (2)

Từ-đây đường lối được truyền thông.

 

* Chú thích:

(1) Trục xe, lối viết chửa hòa đồng. Kích thước khuôn khổ của chiếc xe và lối viết, trong sách vở chưa được thống nhất, ý nói thiên hạ chưa thống nhất.

(2) Kiếm báu - Dịch từ chữ Thái-A kiếm. Âu Dương-Tử và Can-Tương nước Ngô đục núi lấy sắt nung, đúc thành 3 thanh bảo-kiếm: 1) Long-Uyên, 2) Thái-A, 3) Công-Bổ.

***

* Âm:

12 - Cử: Quốc-Sư nhất nhật tam hoán thị giả. Giả tam ứng nặc. Sư viết: Tương vị ngô phụ nhữ, khước thị nhữ phụ ngô.

 

Niêm: Như nhân ẩm thủy,

Lãnh noãn tự tri.

 

Tụng: Tôn ty xướng họa lưỡng tương-đương,

Thử ý bằng thùy hiệu đoản trường;

Phế phủ hướng tiền phi lộ tận,

Cá trung chỉ hứa tự thương lường.

* Nghĩa:

12 - Cử: Quốc-Sư (1) một ngày 3 lần gọi thị-giả. Thị giả 3 lần dạ! Sư nói: "Hầu bảo ta phụ (2) ngươi, lại là ngươi phụ ta".

 

Niêm: Như người uống nước,

Tự biết nóng lạnh.

 

Tụng: Thấp cao xướng họa xứng cùng hai,

Ý ấy nương đâu sánh vắn dài;

Gan ruột phơi bày cho đến hết,

Việc này duy chỉ tự lường thôi.

 

* Chú thích:

(1) Quốc-Sư - Tức Nam-Dương Tuệ-Trung Quốc-Sư (-775), pháp-tư Lục-Tổ Tuệ-Năng, người phủ Thiệu-Hưng, Việt-Châu (tỉnh Triết-Giang) Trung-Quốc, được phong tên hiệu "Đại-Chứng Thiền-Sư".

(2) Phụ - Cũng đọc là cô-phụ, có nghĩa là trái ngược nhau.

***

* Âm:

13 - Cử: Đại-Qui vân, Hữu cú vô cú như đằng ỷ thụ. Sơ-Sơn vân viết. Thụ đảo đằng khô. Cú qui hà sở. Ha ha đại tiếu.

 

Niêm: Thủy lưu nguyên tại hải,

Nguyệt lạc bất ly thiên.

 

Tụng: Lãng tĩnh hồi như phong trận thu,

Đồ lao hướng ngoại khổ khu khu;

Nghi-đoàn nhất tiếu bách tạp toái,

Tự thử ưng phân ngọc thạch thù.

* Nghĩa:

13 - Cử: Đại-Qui (1) nói: "Có câu không câu, như dây leo cây". Sơ-Sơn (2) hỏi: "Cây đổ đây khô," Câu "về nơi nao?". Đại-Qui phá cười ha hả.

 

Niêm: Nước chảy xuôi ra biển,

Trăng lặn gắn với trời.

 

Tụng: Gió táp yên rồi im sóng vỗ,

Hướng ngoài nhọc xác uổng công phu;

Khối ngờ cười vỡ tan tram mảnh,

Ngọc, đá từ đây rõ dị thù.

 

* Chú thích:

(1) Đại-Qui - Tức Đại-Qui An Hòa-Thượng. Qui thượng đường viết: "Hữu cú vô cú, như đằng ỷ phụ".

(2) Sơ-Sơn: - Tức Sơ-Sơn Bố-Đan Thiền-sư, pháp-tự Động-Sơn Lương-Giới Thiền-sư.

***

* Âm:

14 - Cử: Bách-Trượng viết. Như hà thị bất vị nhân thuyết để pháp. Tuyền viết. Bất thị Tâm, bất thị Phật, bất thị vật.

 

Niêm: Thiên thánh mịch tha tung bất đắc,

Toàn thân ẩn tại đại hư-không.

 

Tụng: Hướng tiền công-án một thiên phủ,

Đối diện khan khan tằng dã ma;

Phật pháp vị trung lưu bất trụ,

Dạ lai y cựu lư-hoa.

* Nghĩa:

14 - Cử: Bách-Trượng (1) nói: "Như thế nào là chẳng vì người nói pháp thâm sâu"? Nam-Tuyền (2) đáp: "Chẳng là Tâm, chẳng là Phật, chẳng là vật".

 

Niêm: Ngàn thánh tìm đấu chúng chẳng được,

Toàn thân ẩn ở đại hư-không.

 

Tụng: Trước đài công-án chẳng thiên vì,

Đối diện xem xem hiểu được chi;

Phật pháp ngôi nào đều chẳng trụ,

Hoa lan chư cũ ngủ đêm về.

 

* Chú thích:

(1) Bách-Trượng - Tức Bách-Trượng Hoài-Hải (720-814), người huyện Trường-Lạc, Phúc-Châu, Trung-Quốc, pháp-tự của Mã-Tổ Đạo-Nhất được ban tên hiệu "Đại-Trí Thiền-Sư".

(2) Nam-Tuyền - Tức Nam-Tuyền Phổ-Nguyện (785-934), người huyện Tân-Hương, Trịnh-Châu, Trung-Quốc, pháp-tự của Mã-Tổ Đạo-Nhất phái Nam-Nhạc.

***

* Âm:

15 - Cử: Nam-Tuyền vân. Tâm bất thị Phật. Trí bất thị đạo.

 

Niêm: Hấp tận huyền vi yếu,

Hồi trình nguyệt dạ hành.

 

Tụng: Vạn lại thanh trầm đẩu bính di,

Toàn khung trừng triệt tuyệt hà tỳ;

Trượng lê đổ ỷ đăng lâu vọng,

Tịch tịch liêu liêu hà sở vi.

* Nghĩa:

15 - Cử: Nam-Tuyền nói: "Tâm chẳng là Phật, Trí chẳng là Đạo".

 

Niêm: uống cạm lẽ huyền vi,

Đường về trăng chiếu sáng.

 

Tụng: Muôn tiếng (1) lắng chìm sao đẩu chuyển,

Áng mây chẳng gợn khắp bầu trời;

Gậy lê luống tựa trên lầu ngắm,

Đêm vắng im lìm lặng lẽ trôi.

 

* Chú thích:

(1) Muôn tiếng lắng chìm sao đẩu chuyển - Dịch câu "Vạn lại thanh trầm đẩu bính di". Vạn lại nghĩa là muôn tiếng vang động. Đẩu bính di nghĩa là khi sao Bắc-Đẩu chỉ về góc Đông-Nam thì vạn vật nhất tề thanh-khiết.

***

* Âm:

16 - Cử: Lâm-Tế xuất thế hậu, duy dĩ bổng hát thị đồ.

Phàm kiến Tăng nhập môn tiện hát.

 

Niêm: Ngũ nguyệt ngũ nhật ngọ thời thư,

Xích khẩu độc thiệt tận tiêu trừ.

 

Tụng: Nhập môn tiện hát dục hà hành,

Dẫn đắc nhi tôn túy lý tinh;

Bất thị xuân lôi thanh nhất chấn,

Tranh giao hàm giáp tận khai manh.

* Nghĩa:

16 - Cử: Sau kh Lâm-Tế (1) ra đời, chi lấy gậy và tiếng thét để khai thị đồ chúng. Hễ thết Tăng mới nhập môn liền "thét".

 

Niêm: Giờ ngọ ngày 5 tháng 5 viết,

Miệng đỏ lưỡi độc hết tiêu trừ.

 

Tụng: Nhập môn liền thét để đề tê,

Muốn dẫn cháu con tinh giấc mê;

Chẳng có sấm xuân vang một tiếng,

Cỏ cây sao nẩy khắp muôn bề.

 

* Chú thích:

(1) Lâm-Tế - Tức Lâm-Tế Nghĩa-Huyền (867). pháp-tự Tổ Hoàng-Nghiệt Hy-Vân, khai sáng Lâm-Tế-Tôn.
***

* Âm:

17 - Cử: Nam-Tuyền vân. Bình thường tâm thị Đạo.

 

Niêm: Hàn tức ngôn hàn,

Nhiệt tức ngôn nhiệt.

 

Tụng: Bạch ngọc nguyên lai một phủ ngân,

Hà tu chùy trác khổ cầu tân;

Đổ trình bất thiệp gia hương đáo,

Phó dữ huyền nhai tản thủ nhân.

* Nghĩa:

17 - Cử: Nam-Tuyền nói: "Tâm bình thường là Đạo".

 

Niêm: Lạnh nói rằng lạnh,

Nóng nói rằng nóng.

 

Tụng: Ngọc trắng nào vương dìu búa đẽo,

Hoài công nạo gọt để cầu tân;

Quê hương đến được đâu cần lối,

Vách đá buông tay chẳng ngại ngần.

***

* Âm:

18 - Cử: Triệu-Châu vân. Chư nhân bị thập nhị thời sở tiện. Lão tăng xử đắc thập nhị thời.

 

Niêm: Hiệp thế khi nhân,

Vô bản khả cứ.

 

Tụng: Lão hán năng ư thập nhị thần,

Linh Long mãnh hổ sử chi thuần;

Dục tri điểm thiết thành kim pháp,

Bất dữ nhân gian hữu sư văn.

* Nghĩa:

18 - Cử: Triệu-Châu (1) nói: "Mọi người bị 12 thời sai khiến, Lão tăng sai khiến được 12 thời (2).

 

Niêm: Cậy thế lừa dối người,

Thật không nơi căn cứ.

 

Tụng: Lão tăng với cả mười hai thần,

Mãnh hổ ác long khiến chúng thuần;

Sắt luyện thành vàng ai muốn biết,

Chẳng nghe việc ấy ở nhân gian.

 

* Chú thích:

(1) Triệu-Châu - Tức Triệu-Châu Tùng-Thẩm (778-897), người Tào-Châu, tỉnh Sơn-Đông, Trung-Quốc, Pháp-tự của Nam-Tuyền Phổ-Nguyện. Thọ 120 tuổi, được ban pháp hiệu "Chân-Tế Đại-Sư".

(2) 12 thời - Tức 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

***

* Âm:

19 - Cử: Tăng vấn Lâm-Tế. Như hà vô vị chân nhân. Tế vân: Can thỉ quyết.

 

Niêm: Đạn thước thất châu,

Đầu thử ô khí.

 

Tụng: Vo vị chân nhân can thỉ quyết,

Tòng giao Thích-tử táng gia phong;

Khan khan hướng hạ hoàn tri phủ,

Nhập hải nê ngưu thất cước tung.

* Nghĩa:

19 - Cử: Tăng hỏi Lâm-Tế: "Thế nào là vô vị chân nhân"? Lâm-Tế đáp: "Que gạt phân".

 

Niêm: Bắn chim mất hạt châu,

Bẫy chuột nhơ đồ vật.

 

Tụng: Vô vị chân nhân que gạt phân,

Chỉ người con Phật mất bản chân;

Con đường hướng hạ xem cho đặng,

Vào biển trâu bùn mất dấu chân.

***

* Âm:

20 - Cử: Triệu-Châu Vân. Ngũ-Đài sơn kham phá bà tử.

 

Niêm: Ngũ nghịch văn lôi,

Bất dung yểm nhĩ.

 

Tụng: Đạn chỉ đài sơn tuyệt thị ngoa,

Bất lao tiến bộ đắc hoàn gia;

Can qua bất động nhung tâm phục,

Bảo-hạp hà tu xuất Thái-A.

* Nghĩa:

20 - Cử: Triệu-Châu nói: "Đã khám phá ra bà lão ở núi Ngũ-Đài".

 

Niêm: Kẻ ác nghe sấm động,

Chẳng dung kịp bịt tai.

 

Tụng: Chỗ đến Ngũ-Đài đâu chính xác,

Không cần tiến bước được về nhà;

Can qua chẳng động lòng người phục,

Hộp báu cần chi tuốt Thái-A.

***

* Âm:

21 - Cử: Triệu-Châu vân. Kim Phật bất độ lô, mộc Phật bất độ hỏa, nê Phật bất độ thủy. Chân Phật ốc lý tọa.

 

Niêm: Sơn thị sơn, thủy thị thủy,

Phật tại thậm mạ xứ.

 

Tụng: Võng-xuyên đồ thượng liệt thành hình,

Tích nhật Vương-Duy lãng đắc danh;

Uống phí đan thanh nan họa xứ,

Không trung nguyệt hạo dữ thanh phong.

* Nghĩa:

21 - Cử: Triệu-Châu nói: "Phật vàng chẳng qua lò, Phật gỗ chẳng qua lửa, Phật đất chẳng qua nước. Chân Phật ngồi trong nhà.

 

Niêm: Núi là núi, Nước là nước.

Phật ở nơi chốn nào?

 

Tụng: Võng-xuyên đồ (1) ấy xếp thành hình,

Ngày trước Vương-Duy vẽ nổi danh;

Uổng phí nét son nơi khó tả,

Trong không trăng sáng với phong thanh.

 

* Chú thích:

(1) Võng-xuyên đồ - Bức vẽ phong cảnh Võng-Xuyên ở huyện Lam-Điền tỉnh Thiểm-Tây, do Vương-Duy đời Đường vẽ. Vương-Duy là nhà vẽ nổi tiếng về sơn thủy mây đá. Vì Vương-Duy có một biệt trang ở bên sông Võng, nên ông thường theo phong cảnh của Võng-Xuyên mà vẽ, nét vẽ rất độc đáo.

***

* Âm:

22 - Cử: Triệu-Châu vân. Ngã tại Thanh-Châu tác nhất lĩnh bổ sam trọng thất cân.

 

Niêm: Trấn-châu la bực do tự khả,

Thanh Châu bổ sam cánh sầu nhân.

 

Tụng: Nhất lĩnh bổ sam đặc dị thường,

Triệu-Châu khiếp tứ bất bao tàng;

Cá trung nghĩ nghị phân thù lạng,

Tiếu sát đông phongg Mạnh Bát Lang.

* Nghĩa:

22 - Cử: Triệu-Châu nói: "Ta ở Thanh-Châu may một chiếc áo vải nặng bảy cân".

 

Niêm: Củ cải Trân-châu còn khả dĩ,

Áo vải Thanh-Châu lại rầu người.

 

Tụng: Áo vải một manh thật khác thường,

Triệu-Châu chẳng cất dấu trong rương;

So đo trong ấy chia thù lạng,

Cười vỡ nhà bên Mạnh-Bát-Lang. (1)

 

* Chú thích:

(1) Mạnh-Bát-Lang - Ý nghĩa không xác thực, không biết phép khinh trọng, lẽ sinh tử, để ám chỉ người u-mê gọi là Mạnh-Bát-Lang.

***

* Âm:

23 - Cử: Tăng vấn Triệu-Châu. Cẩu-tử hữu Phật-tính dã vô. Châu vân vô. Hựu vấn: Chân vân hữu.

 

Niêm: Lưỡng thải nhất tái.

 

Tụng: Vấn trước đương tiền đới hữu vô,

Trực giao ngôn hạ diệt quần hồ;

Nhất sinh tự phụ anh lính hán,

Dã thị do vi bất trượng phu.

* Nghĩa:

23 - Cử: Tăng hỏi Triệu-Châu: "Con chó có Phật-tình không?" Triệu-Châu đáp: "Không". Lại hỏi, Châu đáp: "Có".

 

Niêm: Nửa cân tám lạng,

Tám lạng nửa cân.

 

Tụng: Hỏi đáp nhịp nhàng giữa hữu vô,

Dưới lời nói ấy diệt hàm hồ;

Một đời tự phụ trang hào kiệt,

Thế cũng vẫn là chẳng trượng-phu.

***

* Âm:

24 - Cử: Triệu-Châu: Hữu Phật xứ bất đắc trụ. Vô Phật xứ cấp tẩu quá.

 

Niêm: Thủy đáo cừ thành,

Bổng thùy ngân hiện.

 

Tụng: Hữu vô Phật xứ lưỡng câu quyên,

Giá ngữ đô lai vị thị tuyền;

Mạt hậu dương hoa hoàn cử tự,

Bất ly thốn bộ đáo Tây-thiên.

* Nghĩa:

24 - Cử: Triệu-Châu nói: "Nơi có Phật chẳng dừng lại, nơi không Phật gấp chạy qua".

 

Niêm: Nước đến thành ngòi,

Gậy lăn hiện vết.

 

Tụng: Có không chốn Phật xứ đều quên,

Lời ấy xem ra vẫn chửa tuyền;

Tựa thế sau này hoa nhắc "cử",

Không rời tấc bước tời Tây-thiên.

***

* Âm:

25 - Cử: Thủ-Sơn niêm trúc-bề vân: Hoán tác trúc-bề tức xúc. Bất hoán tác trúc-bề tức bội. Thả hoán tác thập ma.

 

Niêm: Vật động trước,

Động trước tam thập bổng.

 

Tụng: Trúc bề bội xúc chính nan phân,

Trực hạ minh minh cử tự nhân;

Tuy thị thản đồ trần bất động,

Nhất tràng lậu đậu mãn kinh trăn.

* Nghĩa:

25 - Cử: Thủ-Sơn (1) giơ cây trúc bề (thước tre) nói: "Nếu cái này gọi là trúc bề tức "xúc" (khẳng định), chẳng gọi là trúc bề tức "bội" (phủ định), vậy gọi là gì?".

 

Niêm: Chớ có động tới,

Động tới ba mươi gậy.

 

Tụng: Trúc-bề phải trái khó phân rành,

Lập tức nâng lên chỉ chúng nhân;

Dẫu chẳng bụi mời đường phẳng lặng,

Một trường gai góc khó hoàn thành.

 

* Chú thích:

(1) Thủ-Sơn: - Tức Thủ-Sơn Tỉnh-Niêm (926-993) người đất Lai-Châu, Trung Quốc, pháp tự của Phong-Huyệt Duyên-Chiểu Thiền-Sư, tôn Lâm-Tế.

***

* Âm:

26 - Cử: Tăng vấn Động-Sơn. Như hà thị Phật, Sơn vân: Bích thượng ma tam cân.

 

Niêm: Hoán nhất vật hoàn bất trúng.

 

Tụng: Vấn Phật như hà thuyết báo quân,

Động-Sơn bích thượng sổ ma cân;

Tuy nhiên vô hữu phong trần thiệp,

Dã thị do tương cảnh thị nhân.

* Nghĩa:

26 - Cử: Tăng hỏi Động-Sơn (1): "Thế nào là Phật?" Động-Sơn đáp: "Ba cân gai trên vách".

 

Niêm: Gọi một vật lại chẳng đúng.

 

Tụng: Hỏi Phật là sao cần biết rõ,

Động-Sơn chỉ vách mấy cân gai;

Dẫu rằng gió bụi không can thiệp,

Cũng vẫn còn vương cảnh chi người.

 

* Chú thích:

(1) Động-Sơn: Tức Động-Sơn Thủ-Sơ, hiệu là Sùng-Tuệ Đại-Sư, pháp-tự của Vân-Môn Văn-Yển, kiến lập pháp-tràng ở Động-Sơn thuộc Tương-Châu.

***

* Âm:

27 - Cử: Tăng vân Hiện-Tử Hòa-Thượng. Tây lai ý. Hiện vân. Thần tiền tửu đài bàn.

 

Niêm: Nhược phi sư-tử nhi,

Bất miễn trục chuyển khối.

 

Tụng: Trực tiệt căn nguyên vô xứ y,

Mục tiền cử tự dữ quân tri;

Nhược ngôn Tổ ý thần tiền thị,

Đại tự hô quần tác khố nhi.

* Nghĩa:

27 - Cử: Tăng hỏi Hiện-Tử Hòa-Thượng (1) về ý "Tây Lai". Hiện-Tử đáp: "Mãn rượu trước bàn thờ thần".

 

Niêm: Nếu chẳng phải nòi giống sư-tử,

Tránh sao khỏi vờn khối đất lăn.

 

Tụng: Chặt đứt cỗi nguồn chẳng chốn nương,

Bảo người trước mắt phải am tường,

Rượu thần nếu bảo là cơ Tổ,

Gọi khố làm quần thật đáng thương.

 

* Chú thích:

(1) Hiện-Tử Hòa-Thượng: - Hòa-Thượng chỉ mặc một chiếc áo vào mùa đông, và hạ; thường ngày đi bắt trai, hến ở bờ sông, biển để sinh sống, nên người đời gọi là Hiện-Tử Hòa-Thượng. Theo "Ngũ Đăng Hội-Nguyên" chép: "Hiện-Tử Hoà-Thượng, người phủ Kinh-Triệu, chẳng rõ là người gì, sư tích rất lạ lùng, chỗ ở không nhất định, mùa đông cũng như mùa hạ, chỉ mặc một manh áo, hằng ngày men theo bờ sông bắt trai, hến để ăn, nên cư dân gọi là Hiện-tử Hoà-Thượng".

***

* Âm:

28 - Cử: Vô-Nghiệp Quốc-Sư vân. Nhược nhất hào đầu phàm thánh vị tân. Vị miễn nhập lư thai mã phúc lý khứ. Bạch-Vân-Đoan Hòa-Thượng vân; Thiết sử nhất hào đầu phàm thánh niệm tận. Diệc vị miễn nhập lư thai mã phúc khứ.

 

Niêm: Phần sơn tu hổ tỵ, Đả thảo yếu xà kinh.

 

Tụng: Thử ngữ đô lai vô chí khí,

Đẳng nhàn đả thảo yếu xà kinh;

Nhược nhân quán thiệp Trường-An lộ,

Tản thủ hà tu khổ vấn trình.

* Nghĩa:

28 - Cử; Vô-Nghiệp Quốc-Sư (1) nói: "Nếu một mẩy may ý niệm phàm thánh chưa hết, chưa tránh khỏi vào bụng ngựa, thai lừa". Bạch-Vân-Đoan Hòa-Thượng (2) nói: "Vì khiến một mẩy may ý niệm phàm thánh đả hết, cũng chưa tránh khỏi vào bụng ngựa thai lừa".

 

Niêm: Đốt núi nên hổ lánh, Phạt có để rắn kinh.

 

Tụng: Lời ấy xem ra chí chẳng minh,

Bỗng dưng phạt có để xả kinh;

Người quen lối đến Trường-An nọ,

Chỉ cái vung tay vượt lộ trình.

 

* Chú thích:
(1) Vô-Nghiệp Quốc-Sư: -Tức Vô-Nghiệp Thiền-Sư, pháp tự của Mã Tổ Đạo-Nhất. Trong "Vô-nghiệp Quốc-Sư quảng lục', ngài Vô-Nghiệp chỉ nói: "Mạc Vọng Tưởng".

(2) Bạch-Vân-Đoan Hòa-Thượng: - Tức Bạch-Vân Thủ-Đoan Thiền-Sư, người Thư-Châu, pháp-tự của Dương-kỳ-Hội.***

* Âm:

29 - Cử: Huyền-Sa thị chúng vân. Chư phương lão túc tận thị tiếp vật độ sinh. Hốt ngộ tam chủng bệnh nhân lai. Như hà tiếp. Hoạn manh giả. Niêm chùy thụ phất. Tha hựu bất kiến. Hoạn lung giả. Ngữ ngôn ta muội, tha hựu bất văn. Hoạn á giả. Giáo y thuyết, hựu thuyết bất đắc.

 

Niêm: Khát ẩm cơ san,

hàn y nhiệt phiến.

 

Tụng: Ưu chi thích thích lạc hi hi,

Tỵ trực mi hoành bất dị tri;

Cơ khát nhiệt hàn tùy xứ đắc,

Hà tu đặc địa khước sinh nghi.

* Nghĩa:

29 - Cử: Huyền-Sa (1) bảo chúng rằng "Các bậc lão túc khắp nơi, đều nói tiếp vật độ sinh, chợt gặp 3 thứ người bệnh lại, phải tiếp họ như thế nào? Gặp người bệnh mù, nếu giơ "Chùy" dựng "Phất", họ lại chẳng thấy. Gặp người bệnh điếc, nếu nói "Tam muội", họ lại chẳng nghe. Gặp người bệnh câm, nếu dạy "nói", họ nói chẳng được.

 

Niêm: Khát uống đói ăn,

Rét áo nóng quạt.

 

Tụng: Khi buồn ủ rũ thích tươi cười,

Mũi thẳng mày ngang dễ thấy thôi;

Đói khát lạnh nồng theo sở thích,

Sao sinh khác biệt dạ bồi hồi.

 

* Chú thích:

(1) Huyền-Sa: - Tức Huyền-Sa Sư-Bị (831-908) người Mân-huyện, Phúc-Châu, Trung-Quốc, thuộc phái Thanh-Nguyên.
***
* Âm:

30 - Cử: Thụy-Nham thường hoàn chủ-nhân ông, tỉnh tỉnh trước, hướng hậu mạc bị nhân khi man.

 

Niêm: Đề đắc huyết lưu vô dụng xứ,

Bất như giam khẩu độ tàn xuân.

 

Tụng: Thụy-Nham thường hoán chủ nhân ông,

Anh lược trầm cơ diệc vị hùng;

Nhược thị thế gian vô địch tướng,

Tranh giao kỹ kích nhật vi long.

* Nghĩa:

30 - Cử: Thụy-Nham thường gọi chủ nhân ông: "Tỉnh tỉnh đi. Từ đây về sau chớ bị người lừa dối".

 

Niêm: Kêu cho đứt ruột đều vô dụng,

Chi bằng im miệng đợi tàn xuân.

 

Tụng: Thụy-Nham (1) thường gọi chủ nhân ông,

Anh lược cơ chìm vẫn chửa hùng;

Nếu bảo thế gian không địch tướng,

Sao ngày chiến thuật lại hưng long.

 

* Chú thích:

(1) Thụy-Nham: - Tức Thụy-Nham Sư-Ngạn, người Mân huyện, Trung-Quốc, thuộc Thanh-Nguyên, sau khi tịch được ban tên hèm là "Không-Chiếu Thiền-Sư".

***

* Âm:

31 - Cử: Tam-Thánh-Vân: Ngã phùng nhân tức xuất. Xuất tắc bất vị nhân. Hưng-Hóa vân: ngã phùng nhân tắc bất xuất. Xuất tắc tiện vị nhân.

 

Niêm: Nhất cá manh qui

Bán song bí miết.

 

Tụng: Phùng khát chi thời tiện ẩm tương,

Chung triêu thuyết thực bất,sung trường;

Lưỡng điều lợi nhận hưu niêm mật,

Dị nhật nhi đồng khẩu nội thương.

* Nghĩa:

31 - Cử: Tam-Thánh (1) nói: "Ta gặp người liền ra đời, ra thời chẳng vì người". Hưng-Hóa (2) nói: "Ta gặp người thời chẳng ra đời, ra đời thời liền vì người".

 

Niêm: Một con rùa mù mắt,

Nửa cặp ba ba què.

 

Tụng: Khát nước tức thời phải uống ngay,

Nói ăn trọn bữa ruột sao đầy;

Đôi bên bén nhọn đừng niêm kín,

Đứt miệng trẻ con ắt có ngày.

 

* Chú thích:

(1) Tam-Thánh: - Tức Tam-Thánh Tuệ-nhiên Thiền-Sư ở viện Tam-Thánh, thuộc Trấn-Châu, pháp-tự của Lâm-Tế Nghĩa-Huyền Thiền-Sư.

(2) Hưng-Hóa: - Tức Hưng-Hóa Tồn-Tưởng Thiền-Sư, người đời Đường, thuộc tông Lâm-Tế, sau được ban tên hèm là "Quảng-Tế Thiền-Sư".

***

* Âm:

32 - Cử: Nam-Tuyền kiến Đặng-Ẩn-Phong lai. Chỉ tịnh bình vân. "Tịnh bình thị cảnh. Nễ bất đắc động trước cảnh".

 

Niêm: Thuyết hữu hướng thập ma xứ trước.

 

Tụng: Kinh trung vô cấu tự đồ ma,

Phí tận công phu bất nại hà;

Mặc mặc hưu hưu tùy xứ lạc,

Đương thời phạn hậu nhất bôi trà.

* Nghĩa:

32 - Cử: Nam-Tuyền (1) thấy Đặngj-Ẩn-Phong (2) tới chỉ cái tịnh bình nói: "Tịnh bình là cảnh, ngươi chẳng được đụng tới cảnh".

 

Niêm: Nói có hướng chốn nào đụng?

 

Tụng: Trong gương không bụi tự lau chùi,

Luống phí công phu uổng sức thôi;

Lặng lẽ nghỉ ngơi tùy chỗ thí,

Chén trà sau lúc bữa cơm rồi.

 

* Chú thích:

(1) Nam-Tuyền: - Tức Nam-Tuyền Phổ-Nguyện (748-834), người Trịnh-Châu, Trung-Quốc, pháp-tự của Mã-Tổ Đạo-Nhất, thuộc phái Nam-Nhạc.

(2) Đặng-Ẩn-Phong: - Tức Ngũ-Đài Ẩn-Phong Thiền-Sư, cũng tham thiền nơi Mã-Tổ Đạo-Nhất, thuộc hệ phái Nam-Nhạc.

***

* Âm:

33 - Cử: Thạch-Đầu vân: Nhậm ma dã, bắt đắc. Bất nhậm ma dã, bắt đăc. Nhậm ma, bất nhậm ma tổng bất đắc.

 

Niêm: Chư hành vô thường,

Nhất thiết giai khổ.

 

Tụng: Hảo cá thoại đoan tương tự nhữ,

Tạm vi cốc khẩu bạch vân hoành;

Túng nhiêu toàn đắc thập phân cử,

Do tại độ trung vạn lý trình.

* Nghĩa:

33 - Cử: Thạch-Đầu (1) nói: "Như thế cũng chẳng được, chẳng như thế cũng chẳng được. Như thế, chẳng như thế đều chẳng được".

Niêm: Mọi hiện tượng đều vô thường,

Hết thảy đều là khổ cả.

 

Tụng: Chuyện này tương tự nói cùng ngươi,

Cửa núi mây ngang chốc lát thôi;

Cho dẫu mười phần nay cử được,

Hành-trình muôn dặm nửa đường thôi.

 

* Chú thích:

(1) Thạch-Đầu: - Tức là Thạch-Đầu Hy-Thiên (700-790), người Cao-Yêu, Đoan-Châu, Trung-Quốc, pháp-tự của Thanh-Nguyên Hành-Tư, được ban tên hèm là "Vô-Tế Đại-Sư".

***

* Âm:

34 - Cử: Tăng vấn: Như hà thị Giáp-Sơn cảnh. Sơn vân: Viên bão tử qui thanh chướng hậu, Điểu hàm hoa lạc bích nham tiền.

 

Niêm: Can mộc tùy thân,

Phùng tràng tắc hý.

 

Tụng: Giáp-Sơn u cảnh vô nhân đáo,

Trực hạ ưng đương tác mạ sinh;

Nhược thị thắng lưu chân cụ nhãn,

Nhậm giao nhật ngọ cổ tam canh.

* Nghĩa:

34 - Cử: Tăng hỏi: "Thế nào là cảnh của Giáp-Sơn"? Giáp-Sơn (1) đáp: "Vượn ẵm con về sau núi biếc, chim tha hoa rụng trước non xanh".

 

Niêm: Cây gậy đem theo mình,

Gặp đâu làm trò đấy.

 

Tụng: Núi Giáp cheo leo người vắng bóng,

Xem ra cảnh ấy tuyệt hồng trần;

Tròn đầy mắt tuệ là ai đó,

Giữa ngọ canh ba trống cứ ngân.

 

* Chú thích:

(1) Giáp-Sơn: - Tức Giáp-Sơn Thiện-Hội (884 - ), người Quảng-Châu, Trung Quốc, pháp-tự của Thuyền-Tử Đức-Thành, sau kiến thiết Thiền-Viện ở núi Giáp-Sơn, được ban tên hèm là "Truyền-Minh Đại-Sư", thuộc hệ phái Thanh-Nguyên.

***

* Âm:

35 - Cử: Tăng vấn Mục-Châu: Nhất khí hoàn chuyển đắc nhất Đại-Tạng kinh dã vô. Châu vân. Hữu thậm tất-la chuy tử khoái tương lai.

 

Niêm: Tản thủ đáo gia,

Bất lao tiến bộ.

 

Tụng: nhất khí tự năng hồi nhất tạng,

Bất lao trích diệp dữ tầm chi;

Vô biên huyền nghĩa chiêu nhiên hiện,

Vấn trước sơn-tăng tổng bất tri.

* Nghĩa:

35 - Cử: Tăng hỏi Mục-Châu (1): "Thiền-Sư một hơi có thể chuyển một Đại-tạnh kinh chăng?" Mục-Châu đáp: "Có bánh bao mau mang lại đây".

 

Niêm: Vung tay tới nhà,

Chẳng nhọc cất bước.

 

Tụng: Một hơi chuyển được cả tàng kinh,

Hái lá tìm cành chẳng nhọc mình;

Diệu nghĩa vô biên đều hiển hiện,

Sơn-Tăng chẳng biết đáp sao rành.

 

* Chú thích:

(1) Mục-Châu: - Mục-Châu Trần-Tôn-Túc, húy là Đạo-Minh, con họ Trần ở Gianh-Nam, pháp tự của Hoàng-Nghiệt Hy-Vận Thiền-Sư, thuộc về phái Nam-Nhạc.
***

* Âm:

36 - Cử: Lâm-Tế hội trung, lưỡng đường Thủ-Tọa tề hạ hát. Tăng vấn hoàn hữu tân chủ dã vô. Tế vân tân chủ lịch nhiên.

 

Niêm: Dã thị hầu bạch loạn thuyết.

 

Tụng: Thánh chúa đương thiên cổ hóa phong,

Bản đồ văn phạm tận tương đồng;

Do khai viễn cận phân cương lý,

An đắc lâm dân tế thế công.

* Nghĩa:

36 - Cử: Trong hội Lâm-Tế (1), Thủ-Tọa của hai Đường (Đông đường, Tây đường) đều cất tiếng thét. Vị Tăng hỏi: "Lại có khách, chủ hay không"? Lâm-Tế đáp: "Khách, chủ rõ ràng".

 

Niêm: Cũng là loài vượn nói lăng xăng.

 

Tụng: Giữa trời Thánh Chúa thổi thuần phong,

Văn-phạm bản đồ mát mẻ chung;

Cương giới phân chia thành bờ cõi,

Công lao tế thế thiếu viên dung.

 

* Chú thích:

(1) Lâm-Tế: - Tức Lâm-Tế Nghĩa-Huyền ( - 867), người Nam-Hoa, Tào-Châu, Trung-Quốc, pháp-tự của Hoàng-Nghiệt Hy-Vân. Khai sáng Lâm-Tế Tôn, được ban tên hiệu "Tuệ-Chiếu Đại-Sư".

***

* Âm:

37 - Cử: Huyền-Sa vân: Nhược luận giả sự. Dụ tự nhất phiến điền địa chủ. Chí giới phận khế mại dữ chư nhân liễu dã. Chỉ hữu trung tâm thọ tử. Do thuộc Lão Tăng tại.

 

Niêm: Đại hải bất nạp tử thi.

 

Tụng: Túng lễ minh minh ngộ liễu nhân,

Tâm đầu vạn lự một vân phân;

Cá trung thượng hữu ty hào tại,

Nhập nhãn hoàng kim khước thị trần.

* Nghĩa:

37 - Cử: Huyền-Sa (1) nói: "Nếu bàn là "Sự". Ví như chủ một mảnh ruộng đất, trong phạm-vi giới hạn đem bán cho mọi người rồi. Chỉ có hạt cây nơi trung tâm, còn thuộc về Lão-Tăng".

 

Niêm: Biển cả chẳng dung thây chết.

 

Tụng: Dẫu kẻ rõ ràng người liễu ngộ,

Nơi tâm trút hết nỗi phân vận;

Ty hào trong ấy còn vương mắc,

Vào mắt vàng kia vẫn bụi trần.

 

* Chú thích:

(1) Huyền-Sa: - Tức Huyền-Sa Sư-Bị Thiền-Sư, thuộc phái Thanh-Nguyên.

***

* Âm:

38 - Cử: Tăng vấn Tư Hòa-Thượng Phật-Pháp đại ý. Tư vân. Lư-Lăng mễ tác ma giá.

 

Niêm: Trúc ảnh tảo giai trần bất động,

Nguyệt luân xuyên hải thủy vô ngân.

 

Tụng: Giá ngôn chân thị anh linh hán,

Thâu tận căn cơ tiếp hữu tình;

Nhất vấn Lư-Lăng hà mễ giá,

Toàn nhiên tổng bất thiệp đồ trình.

* Nghĩa:

38 - Cử: Tăng hỏi Tư Hòa-Thượng (1) về đại ý Phật-Pháp. Hòa-Thượng đáp: "Giá gạo ở Lư-Lăng ra sao"?

 

Niêm: Bóng trúc quét thềm trần chẳng động,

Vầng trăng xuyên biển nước không ngân.

 

Tụng: Lời này quả thật bậc thông minh,

Thâu hết căn cơ tiếp hữu tình;

Hỏi chuyện Lư-Lăng về giá gạo,

Hoàn toàn chẳng bén tới đồ-trình.

 

* Chú thích:

(1) Tư Hòa-Thượng: - Tức Thanh-Nguyên Hành-Tư Hòa-Thượng ( - 740), người An-Thành, Cát-Châu, Trung-Quốc, pháp-tự của Lục-Tổ Tuệ-Năng, vì trụ trì chùa Tĩnh-Cư ở núi Thanh-nguyên thuộc Cát-Châu, nên có tên là Thanh-Nguyên, được vua ban tên hiệu là "Hoàng-Tế Thiền-Sư".

***

* Âm:

39 - Cử: Tăng vấn Văn-Thù: Vạn pháp qui nhất. Nhất qui hà xứ. Thù vân: Hoàng-Hà cửu khúc.

 

Niêm: Hữu thời nhân hảo nguyệt,

Bất giác quá Thương-Châu.

 

Tụng: Hoàng-hà cửu khúc vị quân cử,

Một thiệp đồ-trình tự đáo gia;

Bạch trú kỷ đa khai nhãn vọng,

Bất tri Diêu-tử quá Tân-La.

* Nghĩa:

39 - Cử: Tăng hỏi Văn-Thù (1): "Vạn pháp trở về một, một đi về đâu"? Văn-Thù đáp: "Sông Hoàng-Hà chín khúc". (2)

 

Niêm: Nhân lúc có trăng đẹp,

Thình lình qua Thương-Châu.

 

Tụng: Hoàng-Hà chín khúc đáp sâu xa,

Chẳng thiệp đường dài tự tới nhà;

Mở mắt ban ngày bao kẻ ngóng,

Nào hay chim trĩ vượt Tân-La. (3)

 

* Chú thích:

(1) Văn-Thù: Có thể là Văn-Thù Tuyên-Năng phái Hoàng-Long, hoặc Văn-Thù Tâm-Đạo phái Dương-Kỳ, chưa biết rõ.

(2) Hoàng-Hà chín khúc: Sông Hoàng-Hà, con sông lớn thứ hai ở Trung-Quốc, dài hơn 8.000 đặm, cứ mỗi ngàn dặm là một khúc, nên gọi là Hoàng-Hà chín khúc.

(3) Chim trĩ vượt Tân-La: Chim trĩ đã bay xa, ý nói đã chậm mất rồi.

***

* Âm:

40 - Cử: Nam-Tuyền vấn Triệu-Châu. Nhữ thị hữu chủ Sa-Di, vô chủ Sa-Di. Châu vân hữu chủ. Tuyền vân. Như hà thị hữu chủ, Châu xoa thủ vân. Tức nhật cung duy tôn hậu động chỉ vạn phúc.

 

Niêm: Phục thủ hoạt chùy bất hoán nhận,

Thiện sử chi nhân giai đắc tiện.

 

Tụng: Triệu-Châu xoa thủ thị ư nhân,

Bất lạc song biên chủ tự phân;

Khởi thị Hoa-Lam Hàn lệnh thuật,

Tranh tri hội tạo tửu tuân tuần.

* Nghĩa:

40 - Cử: Nam-Tuyền hỏi Triệu-Châu: "Ngươi (1) là Sa-Di có chủ, hay Sa-Di không chủ"? Triệu-Châu đáp: "Có chủ" Nam-Tuyền hỏi: "Thế nào là có chủ"? Triệu-Châu khoanh tay đáp: "Ngay lúc này đây, cung kính sức khỏe Thầy luôn luôn vạn phúc".

 

Niêm: Khoanh tay hoạt chùy chẳng đổi gươm,

Người khéo sử dụng tiện muôn phương.

 

Tụng: Khoanh tay Tùng-Thẩm (Triệu-Châu) trả lời người,

Chủ khách đôi bên vẹn cả mười;

Có được Hoa-Lam hàn lệnh thuật, (2)

Tuân tuần (3) rượu nấu dễ như chơi.

 

* Chú thích:

(1) Ngươi: - Dịch ở chữ Nhữ, trongsách nguyên bản chữ Hán đã khắc lầm chữ Nhữ thành chữ Pháp nay đính chính lại cho đúng nghĩa.

(2) Hàn lệnh thuật: - Thuật nấu rượu của Hàn-Tương-Dũ ở Hoa-Lam.

(3) Rượu tuân-tuần: - Tương truyền, Hàn-Tương-Dũ có đạo thuật, hay nấu rượu được chỉ trong khoảnh khắc, nên gọi là rượu tuân-tuần. Tuân-tuần có nghĩa chỉ trong giây phút. Theo Thái bình quảng-ký.

***

* Âm:

41 - Cử: Tăng vấn Mộc-Am. Như hà thị nột-y hạ sự. Am vân: Châm chùy bất nhập.

 

Niêm: Tĩnh tọa tuyệt tiêm trần,

Hư không bất thông tuyến.

 

Tụng: Trí chi tắc nhuyễn nữu chi nhu,

Thiết ngạch đồng đầu tiến mạc du;

Tuy thị hư không vô gián khích,

Dạ lai y cựu quế hoa thu.

* Nghĩa:

41 - Cử: Tăng hỏi Mộc-Am (1) "Thế nào là công việc của một nột-y (Tăng-sĩ)". Mộc-Am đáp: "Kim đâm chẳng vào".

 

Niêm: Ngồi tĩnh dứt bụi trần,

Hư không chẳng lối thông.

 

Tụng: Cầm thời mịn mượt ấn thời mềm,

Trán sắt đầu đồng đụng chẳng xuyên;

Dẫu thật hư không, không kẽ hở;

Đêm về hoa quế giấc thu-yên.

 

* Chú thích:

(1) Mộc-Am: - Tức Mộc-Am Tính-Thao (1611-1684), người đất Tân-Giang, Tuyền-Châu, Trung-Quốc, một Thiền-Sư trứ danh thuộc Tôn Hoàng-Nghiệt. Tác giả của "Đông-Sơn ngữ lục"10 quyển và "Tượng-Sơn ngữ lục" 1 quyển.

***

* Âm:

42 - Cử: Bàng cư-vĩ vân. Thử thị tuyển Phật tràng. Tâm không cập đệ qui.

 

Niêm: Nhạn tháp đề danh,

Bất dung duệ bạch.

 

Tụng: Thuần y bách kết thảo hài xuyên,

Tuyển Phật tràng trung đoạt quế tiên;

Nhược vị không tâm lai ứng cử,

Bất tao tiên thát dã tao quyền.

* Nghĩa:

42 - Cử: Bàng cư-sĩ (1) nói: "Đây là trường tuyển Phật, Tâm không đỗ trở về.

 

Niêm: Tên đề tháp nhạn, (2)

Chẳng dung giấy trắng. (3)

 

Tụng: Áo may trăm mảnh đạp giầy rơm,

Tuyển Phật trường thi bảng có tên;

Nếu bảo tâm không về ứng cử;

Roi đòn chẳng gặp cũng thoi quyền.

 

* Chú thích:

(1) Bàng cư-sĩ: - Bàng cư-sĩ, người đời Đường, Trung-Quốc. Họ Bàng, tên là uẩn, tên chữ là Đạo-Huyền, đời đời theo Nho-Giáo. Tham-thiền ở ngài Thạch-Đầu Hy-Vận, giao thiệp với ngài Đơn-Hà Thiên-Nhiên, pháp tự của Mã-Tổ Đạo-Nhất. Đời gọi là Duy-Ma của Chấn-Đán. Trưởng nữ của ông là Linh-Chiếu cũng tỏ ngộ về thiền.

(2) Tên đề tháp nhạn: - Chữ Hán là "nhạn tháp đề danh" để gọi người đã đậu Tiến-sĩ. Trong đời Đường, người đậu Tiến-sĩ đều được ghi tên vào gia ở dưới Tháp Nhạn chùa Từ-Ân thuộc huyện Trường-An tỉnh Thiểm-Tây.

(3) Giấy trắng: - Dịch ở chữ duệ bạch. Khi thi chỉ cầm bút trên giấy mà trầm ngâm suy nghĩ không viết được một chữ, đến giờ nộp bài phải nộp giấy trắng, nên gọi là duệ bạch.

***

* Âm:

43 - Cử: Từ-Minh vấn Chân-Điểm-Hung Phật-Pháp đại ý. Chân viết Vô vân sinh lĩnh thượng. Hữu nguyệt lạc ba tâm. Minh hát viết. Đầu bạch xỉ hoàng, do tác thứ kiến giải. Chân lệ hạ cửu viết. Bất tri như hà thị Phật Pháp đại ý. Minh viết. Vô vân sinh lĩnh thượng, hữu nguyệt lạc ba tâm. Chân đại ngộ.

 

Niêm: Nhân giả kiến chi vị chi nhân,

Trí giả kiến chi vị chi trí.

 

Tụng: Bỉ thử đồng minh nhất điệu cầm,

Tu đương phân phó dữ tri âm;

Vô vân hữu nguyệt tuy đồng thị,

Tranh nại sơn cao dữ thủy thâm.

* Nghĩa:

43 - Cử: Từ-Minh (1) hỏi Chân-Điểm-Hung về đại ý phật-Pháp. Điểm-Hung đáp: "Không mây sinh đỉnh núi, có trăng lặn lòng sông". Minh thét và nói: "Đầu bạc răng vàng, còn sinh kiến giải như thế". Chân Điểm Hung rơi lệ lúc lâu rồi thưa: "Chẳng biết như thế nào là đại ý Phật-Pháp". Minh nói: "Không mây sinh đỉnh núi, có trăng lặn lòng sông". Chân "Đại-ngộ".

 

Niêm: Ngươi nhân thấy đó bảo đấy là nhân,

Người trí thấy đó bảo đấy là trí.

 

Tụng: Kia đây cùng gẩy một cung đàn,

Trao phó tri âm biết điệu vang;

Có nguyệt không mây tuy cũng thế,

** Nuí sông cao thấp lại đôi đàng.

Ủa! Trọn ngày theo hồng trần,

Chẳng biết báu nhà mình.

Ôi! Vung tay không vướng toàn thể hiện,

Lão chài thuyền nhỏ đậu hoa lau.

 

* Chú thích:

(1) Từ-Minh: - Tức Thạch-Sương Sở-Viên (987-1040) người Toàn-Châu, Trung-Quốc, pháp-tự của Phần-Dương Thiện-Chiêu, tông Lâm-Tế. Thọ 54 tuổi, được phong tên hiệu là "Từ-Minh Thiền-Sư".

(2) Chân-Điểm-Hung: - Chân-Điểm-Hung Thiền-Sư, pháp-tự của Thạch-Sương Sở-Viên Thiền-Sư, còn có tên riêng là "Thúy Nham Khả-Chân Thiền-Sư".

Hết Quyển Thượng


Tạo bài viết
Thời gian cơn đại dịch hiểm ác Virus corona này, khi các nhân viên y tế tuyến đầu bận rộn trong việc phòng chống và kiểm soát Covid-19, một số người đang âm thầm quan tâm lo lắng cho người dân với tinh thần vô ngã vị tha, những người gián tiếp bị con ác quỷ Covid-19 này tấn công. Thượng tọa Tiến sĩ Bodhipala là một trong những chiến sĩ ở tuyến đầu của trận chiến chống đại dịch Covid-19, Ngài là một trong những anh hùng thầm lặng trên mặt trận không tiếng súng, chiến đấu với kẻ thù vô hình nhưng đầy hiểm nguy.
Thật sự ai có chút từ tâm hẳn cũng phải nghẹn thở khi nhìn hình ảnh người cảnh sát da trắng đè gối lên cổ người da đen cho đến chết, mặc lời van xin thảm thiết.