Phần 1: Mạch Sống Của Mỗi Chúng Sinh

08/12/201012:00 SA(Xem: 14249)
Phần 1: Mạch Sống Của Mỗi Chúng Sinh


VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT

Thích Minh Thiền
Phật Lịch 2536 - 1992

 

PHẦN THỨ NHẤT
MẠCH SỐNG CỦA MỖI CHÚNG SANH

Đã vốn không đầu không đuôi, không xưa không nay, không tên không chữ, thê là con số không chưa viết. Mà đã là con số không chưa viết thì đâu còn gì mắc kẹt trong cái có với không, mê hay ngộ! thì làm gì có Phật với chúng sinh! Và tất cả bổn lai là Phật thì lấy đâu để nói để viết là mạng mạch hay không mạng mạch! Tuy bổn lai là Phật, nhưng chỉ vì quên mình là Phật nên bị kẹt vào chúng sinh. Đã có kẹt tất phải có gỡ. Đã nói gỡ tất phải biết rõ chỗ mắc kẹt. Cho nên sự thể không thể khác hơn! Chỉ có khi gỡ bằng cách nào để khỏi kẹt vào tướng gỡ và tướng bị gỡ mới đích thực là tài tử giải thoát.
*

THÂNcon người là một động vật như bao nhiêu động vật khác, là một tác phẩm kết hợp một cách chặt chẽ của hai hệ thống thân và tâm. Cả hai đều thuộc lãnh vực tướng, nên cả hai đều tổ hợp vô thường sanh diệt bất tề trong một quy luật khẳng định của trật tự thiên nhiên. Nếu tách rời tâm ra thì thân chỉ là một thiên nhiên. Nếu tách rời tâm ra thì thân chỉ là một khối thịt vô tri như bao nhiêu vật chất khác.

Nhưng khi đã mắc liền với tâm rồi thì tất cả những ăn uống sinh hoạt, hoàn cảnh tâm tư, gia đình, xã hội, khí hậu, thời tiết thọ bẩm … đều có thể chi phối nó. Cho nên lòng buồn sanh bịnh, bịnh sanh lòng buồn, “Lòng quanh quéo sông càng quanh quéo, cảnh đìu hiu dạ lại đìu hiu”. Nếu nghiêm cách mà nói thì phần xác thân chưa hẳn là chánh phạm hay nguồn bịnh mà chỉ là một công cụ để cho tâm vọng có chỗ đam mê bám sát vào và biến thân thành một kho tàng tội lỗi làm cho những người nhìn theo kiểu cạn cợt đều lầm lạc may quy tội cho thân, cho nên có người nói: “Không biết bổn tâm học đạo vô ích”. Nói như thế đâu phải là vô cớ!
 
TÂM” thế nào là tâm của mỗi chúng sinh? Làm sao biết chắc qủa có cái gọi là tâm chứ?
 
Ta hãy chọn lúc đêm trường canh vắng, vào phòng ngủ ngồi xếp bằng tròn nhắm mắt lại, và đừng nghĩ đến bất cứ điều gì, lặng lẽ ngồi im độ 15 phút là ta sẽ thấy ngay trong ta không phải chỉ là một khối im lìm lặng hơ như ta tưởng mà là có cả sông ngòi, rừng cây xóm làng, thành ấp, trời đất, trăng sao thành phố, xe cộ, người vật, gà gáy, chó sủa … đang lao xao di động. Đó chính là tâm của chúng sinh. Tâm này còn vô số tên như là NGHIỆP THỨC, là TẬP NGHIỆP, là TÂM NHÓM CHỨA, là TÂM CUỒNG LOẠN, là TÂM VỌNG, là TÂM SANH DIỆT
 
bao gồm cả pháp sắc và pháp tâm do bao cuộc tiếp xúc chạm tương giao tận tự lũy kiếp theo đà mê muội nhóm chứa thành một kho tàng vĩ đại mà trong đó chỉ là bóng dáng của tất cả những sự việc đã qua, kết thành một khối to tát, lúc nào cũng hoạt động dồn dập, dạt dào, khi náo nhiệt, khi tiêu trầm tựa như biển khơi sóng gió, ngoài sức khống chế của trí óc thường tình làm cho thiện chí thường bị bẻ cong.

Thí dụ như khi ta bị đột ngột va chạm với sắc, tình, danh, lợi chẳng hạn. Do đó nếu nói dễ thấy, dễ biết, thì cũng rất dễ thấy dễ biết, nếu nói khó thấy khó biết thì cũng khó thấy khó biết ghê! Nay ta muốn khống chế tâm này một cách dễ dàng hầu chủ động hoàn toàn cuộc sống cho ứng hợp với trật tự thiên nhiên, cắt đứt sức hấp dẫn của luân hồi sanh tử, vượt khỏi khổ đau, thoát vòng tục lụy đem lại sự bình an ngay kiếp sống hiện tại, không còn bị lệ thuộc vào bất cứ một thành kiến nào, thì ít nhất ta phải có cách biết hết những chỗ hiểm yếu của nó. Do đó ta có thể chia vọng tâm ra làm 4 phần như sau:

1. PHẦN HIỆN TẠI:
 
Phần này ta có thể khống chế được, thí dụ bắt nó niệm Phật chẳng hạn. Nên cũng có khi người ta gọi là trí óc hay ý thức.

2. PHẦN NHÓM CHỨA
 
Vì do sự nhóm chữa của lũy kiếp muôn đời cộng lại nên gọi là “Tâm nhóm chứa”. Vì nó có khả năng tự động để thúc đẩy chúng sinh sa vào con đường ngoài ý muốn, nên gọi là NGHIỆP NHÓM CHỨA HAY NGHIỆP LỰC

3. PHẦN VỪA BIẾT CÓ THẤY BIẾT:
 
Phần này còn có tên là “Căn bản vô minh”. Vì phần này chính là phần dựng đứng cái TÔI trong khi mới vừa cục cựa nứt mắt, do sáng tối, nóng lạnh động tĩnh đánh thức ngay từ kiếp đầu tiên. Tất cả tâm lý nhị nguyên sau này đều lấy đây làm nền tảng.

4. PHẦN HỖN ĐỘN VÔ KÝ:
 
Vì là phần chưa phân rõ là khoáng, động hay thực, hãy còn nằm trong thế hôn me chưa sống động, chưa hẳn là có biết, của kiếp hóa sanh nguyên thỉ và làm nền tảng cho tánh hôn mê mờ mịt sau này, mà nhà Phật thường gọi là tánh vô ký. Chính nó là một cụm mây ở gần mặt trời nhất, mỏng nhất, mà lại che khuất nổi mặt trời. Cho nên đây cũng là cửa ải cuối cùng của tận đáy tâm hồn của chúng sinh vậy.
 
Thông qua 4 phần vọng tâm này, ta thấy phần hiện tại qúa yếu đuối, bé bỏng, ngắn ngủi, còn 3 phần đã qua lại dài lê thê vĩ đại và quá nặng nề, bảo sao phần hiện tại không đủ sức điều động nổi phần quá khứ?! Đây cũng là thế tất nhiên. Nếu giàu tưởng tượng một chút ta có thể tưởng tượng biến guồng máy vọng tâm này ra thành một tập đoàn áp tải của một đảng cướp do 3 anh em ruột điều động mà anh thứ ba là “phần hiện tại” điều khiển chiếc tàu đầu tiên.

Đó là phần thứ nhất. Và móc nối theo phần thứ hai là một đoàn ghe, chài dài giăng giẳng chở đầy nhóc khẩm ứ những tang vật đánh cướp, cộng thêm một mớ lâu la thâu phục được ở dọc đường, đang lầm lì gắng hết sức nhắm hướng biển khơi mà đi tới. Tiếp theo phần thứ ba và thứ tư là hai con tàu nhỏ hậu tập do anh thứ hai (phần vừa biết có biết thấy) và anh cả (phần hỗn độn vô ký) điều khiển.

Mới trông qua hình như quyền điều động ở đằng đầu, nhưng không ai ngờ sự thực lại không phải thế. Nếu anh ba có thế lực mạnh thì quyền lãnh đạo bị anh ba chi phối. Nhưng nếu anh ba thế lực yếu thì quyền điều động lại thuộc về anh hai và anh cả. Cho nên dù ngài là người thuộc lãnh vực tôn giáo nào, giai cấp nào, địa vị nào, quyền thế nào, tài năng nào, hay ngài có thể đi vào lửa, vào nước, lên cung trăng, lên hỏa tinh, thiên biến vạn hóa như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký chăng nữa cũng không vì thế mà sự thể có đổi khác. Nếu ngài không giải tán được tập đoàn này thì cuộc sống của ngài dù có tột bậc đến đâu cũng không vì thế mà được yên vui bảo đảm.
 


Nếu tập đoàn này chưa được quét sạch, dù ngài có khả năng kiến thiết cả một nước cực lạc hay thiên đàng, thì nước cực lạc hay thiên đàng ấy chẳng qua cũng là thứ kiến thiết dựa lưng vào làn mây hỗn độn vô ký thuộc phần anh cả cai quản mà thôi vậy.
 
Nếu muốn kiến thiết lại con người, làm lại cuộc đời, xây dựng lại cuộc sống, đem lại hạnh phúc cho chính mình cũng như cho người khác, xây dựng lại yên vui vĩnh cửu mà bỏ qua tập đoàn này không nghĩ cách giải quyết dứt khoát, thì hình thức tôn giáo càng xây dựng đẹp đẽ bao nhiêu càng chỉ là một thứ thuốc an thần, một cơ quan đầu tư lợi dụng lẫn nhau một cách hấp dẫn, rồi cuối cùng sẽ làm giàu và tăng cường thêm sức mạnh cho tập đoàn cướp bóc này chớ không thể khác.

Hơn nữa nếu tập đoàn này vẫn còn nguyên, dù chúng ta được Phật hay Chúa … rước về cho ở chung, hay sờ đầu làm phép lạ chi chi … cũng không vì thế mà cuộc sống trở nên mới mẻ. Mà giả sử có giải tán hết tập đoàn này đi chăng nữa nhưng tất cả tàu bè ghe cộ nếu còn nguyên thì chắc chi không có kẻ khác nhảy vào lợi dụng đạo đức giả để nối tiếp! Thế là cái thuộc về TÔI đã hết nhưng cái TÔI vẫn còn nguyên, rồi sẽ đâu hoàn đấy! Đây là điều không thể xem thường.
 
TÁNH” thế nào là tánh? Làm sao biết chắc có cái gọi là TÁNH? 
 
Từ xưa đến nay, điểm này không mấy ai chịu nói trắng ra vì sợ tài bồi thêm cho sự nghiệp của những kẻ đầu tư kiến thức. Tuy nhiên không phải vì thế mà không có tiêu chuẩn ấn định để ai muốn nói sao thì nói.
 
Ngũ Tổ nói: “Bổn tánh nếu bỏ quên thì phúc nào cứu được” thế là bổn tánh là cái mà mỗi chúng sinh đều cần phải biết chớ phải đâu là cái không thể biết!
 
Khi Lục Tổ Huệ Năng trực nhận được bổn tánh này có nói: 

 “Không dè bổn tánh của mình vốn tự thanh tịnh.
 Không dè bổn tánh vốn không sanh không diệt.
 Không dè bổn tánh vốn không lay động.
 Không dè bổn tánh vốn có khả năng sinh ra vạn pháp.
 Không dè vạn pháp vốn không lìa tự tánh.”
 
Thế là Lục Tổ Huệ Năng đã nói toạc ra rằng bổn tánh là không hình tướng, là suốt khắp, là không có trong và ngoài – nên không có sanh diệt, không có chuyện không thanh tịnh hay thanh tịnh. Nhưng chính nó là nền tảng để hóa sinh ra vạn hữu. Vạn hữu không thể lìa nó mà tồn tại, con người không thể lìa nó mà có sự sống; theo đây ta có thể nói thêm nếu không có nó thì vạn hữu còn không có làm sao có con người để có thấy có nghe, có hay có biết, cho đến làm sao có phi thuyền vượt không gian, vô tuyến truyền thanh truyền hình … thậm chí những chuyện hết sức tre con nhỏ nhít như bói toán cũng không có được. 
 
Vì thế không có một mảy may nào ngoài nó và không phải nó. Giả sử có người hỏi có cách nào chỉ thẳng cho thấy ngay lập tức tánh này được không? Lục Tổ hỏi Huệ Minh: “Ngay khi chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác chính hồi đó cái gì là bổn tánh của thượng tọa?” Đấy chỉ thẳng là thế! Nếu không tiếp nhận ngay thì hãy đợi đến bao giờ quét sạch đám thảo khấusự nghiệp bất chánh dài dòng thêm là ta đã quy y theo bọn tri giải của triết học ngoại quan rồi đó!
 
Vì nó vốn đã không bớt không thêm, không dơ không sạch, không sanh không diệt, không phải có, không phải không, muôn thuở vốn thường hằng. Tất cả vạn vật đều có thể hư hoại, nó vẫn y nguyên. Như thế đâu cần chúng ta mó tay vào xoay xở sửa đổi nó chứ! Thế thì, nếu ta lỡ dại dột, dốt nát mó tay vào, không những không tốt đẹp gì hơn mà là gây nên phản ứng tạo thành sứt mẻ. Cho nên thiền sư Đạm Hư trong bài thơ chứng đạo có câu:

 “Thiên nhiên đại nghiệp tối kỵ trang hoàng,
 Hữu ý cầu toàn phản trí tổn thương”.

Như thế đủ biết tánh này hoàn toàn không chấp nhận điều kiện sửa đổi, mà chỉ cần tự chứng tự biết.
 
Có người hỏi: “Như thế bổn tánh đã là của chung của vạn loại của bao la của pháp giới, nhưng sao lại là tự tánh?”
 
Trong vạn vật, khoáng và thực thuộc loại vô tình, nhìn không thấy nó cục cựa. Còn hữu tình thì sanh ra không một lượt, chết đi cũng không một lượt, trình độ cũng không như nhau, duyên cấu tạo ra chính nó cũng khác nhau nốt. Vì thế nên bổn tánh tuy là của chung của vạn loại, kho tàng này không thiếu một mảy may gì, và chúng sanh nào cũng đều có khả năng tự động để thọ dụng bổn tánh này.

Nhưng chỉ vì duyên cấu tạo không như nhau, trình độ không như nhau, nên sự thọ dụng cũng theo đó mà khác. Nên tuy chung mà riêng, tuy riêng mà chung vậy! Nhìn qua bản đồ hệ thống mạng mạch của mỗi chúng sinh cũng như mỗi con người, ta thấy phần thân không phải là chánh phạm, phần tánh vốn vô can, phần tâm mới là thủ phạm. Đành rằng thân với tâm cũng là tánh, nhưng khi tâm mê đắm chấp tướng “thân” nên đuổi theo đà hướng ngoại, dong duỗi theo vật chất sáu trần, làm cho tuy vốn từ tánh nhưng đã biến dạng biến chất trở thành vật chất chướng ngại cho cuộc sống yên vui.

Nếu có phương pháp kỹ thuật nào xoay chiều cho tâm này trở về với bổn tánh theo chiều hướng nội, thì chúng nó đều trở lại chánh thường và thành yên vui giải thoát, chớ không có nghĩa thủ tiêu cho mất tích chúng sinh, mà tạo một ông Phật nào khác! Tuy vậy, khi tâm mê hướng ngoại không những làm cho guồng máy tâm thức mâu thuẫn lộn mèo, mà còn tạo thêm liên lụy đến xác thân, đến xã hội nữa là khác. Cho nên tất cả những bệnh tật nội thương nặng nề nguy hiểm, nan y bất trị, đều mắc liền từ tâm thức rối rắm lộn mèo mà ra cả. Kinh dịch có nói:

 “Cơ mầu dấy động, họa phúc liền sanh”.
 
Nội kinh nói: “Điềm đạm rỗng rang bịnh nào phát khởi”.
 
Người xưa nói: “Càng thông minh càng u tối, càng tính toán càng hụt hao” là một bản án kê khai tội trạng cho sự nghiệp trí thức vọng tâm hướng ngoại của chúng sanh, và để đánh giá cho tác dụng vô niệm vô ngã vậy!”.

 
Nhắm vào mục đích thiết thực dễ hiểu, ta có thể dùng ngôn ngữ tạm chia mạng mạch của mỗi con người ra làm ba phần. Nếu theo thứ tự từ dễ đến khó thấy mà nói thì THÂN rồi TÂM và TÁNH.
 
Vì sao mà nói là tạm chia? Vì trông qua hình như ba, nhưng nhìn kỹ kỳ thực không phải ba, cũng không phải một. Vì không thân và tâm thì không lấy đâu để biết tánh, không tánh không lấy đâu có thân và tâm. Vì Tánh là thể, Thân là tướng, còn Tâm là phần biểu hiện diệu dụng linh tri của tánh mà thôi. Giờ đây ta hãy xét qua đại khái từng phần để biết rõ chỗ nào là căn cội bịnh tâm của chúng sinh
Tạo bài viết
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.