Phần 4: Vấn Đáp

08/12/201012:00 SA(Xem: 11213)
Phần 4: Vấn Đáp


VÔ NIỆM VIÊN THÔNG YẾU QUYẾT

Thích Minh Thiền
Phật Lịch 2536 - 1992

PHẦN THỨ TƯ
VẤN ĐÁP

1. PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THỒNG VỚI Y ĐẠO LÀ MỘT HAY KHÁC?
 
Không phải một cũng không phải khác. Tại sao? Ngày nay chúng ta bị rơi vào thế hệ khoa học kỹ thuật vật chất tiến đến trình độ năm châu họp chợ. Nhìn trở lại con người, cuộc sống con người càng ngày càng sát mặt nhau mà lòng dạ càng ngày càng cách biệt. Tất cả những văn minh cuộc bộ được gọi là tương đối đẹp đẽ, đều bị thế vật chất năm châu họp chợ phá hủy, làm cho con người rơi vào cái thế hoặc phải thủ tiêu hẳn năng lực khoa học kỹ thuật vật chất năm châu họp chợ đi, để trả về với thời kỳ cuộc bộ, hoặc con người phải nỗ lực tìm đường hướng thượng khắp mọi lĩnh vực tinh thần để cho xứng với thế năm châu họp chợ, thì cuộc sống mới mong lấy lại thế quân bình.
 
Phương chi ngoài nhân sự ra, trật tự thiên nhiên đã đến hồi nối tiếp xảy ra nhiều biến cố, vận thế vận tốc của địa cầu lệch lạc đi nhiều, không biết lúc nào sẽ xảy ra một cuộc đổi cực?!
 
Trải qua một thời gian dài đăng đẳng, nền văn minh Y Đạo Á Đông đã bị lòng người đóng cứng làm chết mất đi sức biến hóa cho đến ngày nay đã hoàn toàn trở thành thất truyền phá sản, trong đó có những khoảng thời gian xen kẻ, nhờ Thiền Học Phật Giáo Ấn Độ du nhập vào Trung Hoa biến thành một sinh lực mới để tiếp dưỡng hơi tàn cho Y đạo. Đến ngày nay Thiền Học cũng bị phá sản thất truyền luôn.
 
Con ngườimột sinh vật xuất hiện từ thiên nhiên, thuộc về của trật tự thiên nhiên, hoàn toàn theo mạng lệnh của trật tự thiên nhiêntồn tại. Con người muốn tồn tại phải hoàn toàn ứng hợp với trật tự thiên nhiên nhất là giai đoạn năng lực của địa cầu xuống dốc, con người lại cần phải ứng hợp với trật tự thiên nhiên hơn nữa để khỏi phải thêm một bàn tay phá hoại.
 
Đây quả là định nghĩa cho Y đạo, mà cũng là minh chứng cho ta thấy đạo phải được vãn hồi.
 
Con người dù có muốn ứng hợp với trật tự thiên nhiên đến đâu chăng nữa, cũng không thể theo dõi thiên nhiên mà bắt chước lấy từ chút, từ chút cho được. Chỉ có một cách duy nhấtcon người phải trở lại với chính mình là hoàn toàn ứng hợp nhất.
 
Nay cả Y đạo lẫn Thiền đạo đều bị thất truyền phá sản, cả hai đều trở thành quá độ, con người biết nương nơi đâu để trở lại với chính mình cho ứng hợp với trật tự thiên nhiên? Trong giai đoạn vật chất năm châu họp chợ, cộng với trật tự thiên nhiên đã xê dịch bất chánh thường, con người đã trở nên hoang mang lạc lõng. Đó là cớ cho phép vô niệm viên thông nương vận mà thành hình vậy.

2. XIN PHÂN BIỆTÝ NGHĨA Y ĐẠO VÀ THIỀN ĐẠO:
 
Tất cả chúng sinh cũng như con người đều là tác phẩm của trật tự thiên nhiên, tự nó không thể không ứng hợp với trật tự thiên nhiên. Chỉ vì tâm mê nên dong ruỗi theo đà hướng ngoại, tạo thành thế vận tréo cho cuộc sống, làm cho cả thân lẫn tâm đều bịnh.
 
Trật tự thiên nhiên là đạo, cuộc sống thuận với trật tự thiên nhiên là cuộc sống có đạo. Nay cuộc sống thuận với trật tự thiên nhiên đã bị đổ vỡ, cả thân tâm đều bị đau khổ bệnh tật: Y khoa chỉ căn cứ và lằn mức chánh điên đảo, cắt khứa lấy một khúc bệnh nhân để chữa trị, và dựng lên danh từ Y khoa. Còn thiền học cứ xoắn ngay căn cội của tâm mê mà lập ra một lối giải thoát.
 
Còn Y đạo thì gốc nó vốn là đạo giải thoát, nó bao gồm cả pháp giới vật chất, thâm nhập vào nguồn cội tâm linh, cho nên Y khoa chỉ là tận ngọn ngành.
 
Chữ “Y” tùy thuộc vào đứng riêng một mình hay có chữ ghép mà định nghĩa giá trị khác nhau. Riêng một chữ Y có nghĩa là điều chỉnh sửa trị.
 
Con người là một tác phẩm bao gồm cả hai hệ thống vật chấttinh thần, vì thế công việc điều chỉnh hay sửa trị không thể chỉ ở hệ thống vật chất hay tinh thần không mà đủ. Phương chi nhiều cá nhân họp lại thành gia đình, nhiều gia đình họp lại thành xã hội, họp xã hội thành quốc gia, họp quốc gia thành thế giớithế giới bao gồm cả hữu tình và vô tình, đều hoàn toàn lệ thuộc vào trật tự thiên nhiên.
 
Cá nhân bịnh thì gia đình bịnh, gia đình bịnh thì xã hội bịnh, xã hội bịnh thì quốc gia bịnh, mỗi quốc gia đều bịnh thì thế giới trở thành sụp đổ đau thương. Vạ lây đến cả hữu tình và vô tình.
 
Cuộc sống của chúng sinh không thể chỉ nói tâm không mà đủ, mà trong đó gồm cả ăn uống, sinh hoạt, hoàn cảnh, khí hậu, tâm tư, xã hội truyền thống …. Huống chi còn thêm điều kiện vật chất năm châu họp chợ nữa. Do đó Y đạo có một cái nhìn suốt từ bao la vô tận xuyên qua vạn hữu, thâm nhập vào tận thâm tâm của chúng sinh vào đến tế bào siêu nguyên tử vi trùng, để thấy đến toàn bộ hệ thống trật tự, để biết thật rõ khi có bệnh tật, dù bệnh ở thân hay bệnh ở tâm, đều tìm đến tận chỗ kẹt mà gỡ hầu trả về với trật tự thiên nhiên, thỏa mãn với cách nhìn không hai.
 
Đó là chỗ khác và giống nhau giữa Y Đạo và Thiền Đạo vậy. Lại nữa cách làm việc của Y đạo không phải chỉ nhắm vào mục đích giải thoát con người, mà còn bao gồm cả hữu tình động vật nữa. Và chữa trị nhỏ từ bệnh thân bịnh tâm, bịnh cá nhân, bịnh gia đình, bịnh xã hội, lớn đến quốc gia, thế giới đều không thể lọt qua tầm mắt nó được. Về đặc điểm rất tương đồng với Thiền Đạo là cái chuôi cuộc sống đều ở tâm thể vô niệm viên thông vậy.

3. CÓ THỂ CĂN CỨ VÀO SÁCH NÀY THỰC HÀNH 
MÀ KHỎI CÓ THẦY THUỐC KHÔNG?
 
Nếu người ở xa hoặc ở những nơi cô tịch có khả năng nghiên cứu kỹ càng làm đúng như đường lối đã vạch sẵn, đừng tự ý thêm bớt, một ngày cũng như một tháng, một tháng cũng như một năm, một năm cũng như suốt đời, đừng có giây phút nào nhàm mỏi thì dù không thầy cũng quyết định thành công.

4. LÀM SAO ĐỂ TỰ MÌNH CÓ THỂ TRẮC NGHIỆM 
TRÌNH ĐỘ TIẾN TRIỂN CỦA TÂM LINH
 
Muốn tự trắc nghiệm mình trên đường hạ thủ công phu, không cách nào khác hơn phải căn cứ vào vọng tâm mà nghiệm xét. Muốn căn cứ vào vọng tâm thì phải căn cứ vào toàn bộ của nó; và nhận định kỹ trạng thái vọng tâm của ta khi mới bắt đầu hạ thủ công phu thì tự khắc thầy được trình độ dần dà tiến triển, cuộc sống tinh thần càng ngày càng được ổn định hơn, yên vui hơn. Chuyện này không đợi người ngoại cuộc nhận biết mới là chắc, vì việc làm đã có phương pháp, có bản đồ, có kỹ thuật. Cứ y cứ vào đây là thấy ngay; cũng có thể hoặc bản đồng tu bên cạnh thấy được.

5. TẠI SAO PHẢI TUYỆT ĐỐI THÀNH THẬT VỚI CHÍNH MÌNH:

Trên đời này có 3 chuyện khó: Một là biết mình khó; hai là thành thật với chính mình khó; ba là sử dụng được mình khó. Tại sao? Vì nếu khôngphương pháp thì dù chính mình cũng không làm sao biết được mình đừng nói chi là người ngoại cuộc.
 
Kìa ta hãy xem trong giới hữu quyền đã biết bao nhiêu kẻ cái gì ngoài miệng hô đả đảo thì bên trong lại là thứ đang bảo tồn. Cái gì đang hoan nghênh chính là cái đó bị đả đảo. Cái gì nói ra chỉ trích hình như hết sức thành thật thì ta lại phải để ý đề phòng hết sức thành thật của Tào Tháo. Cái đó ở đâu ra? Không phải ở lòng người sao?
 
Đây là một chuyện cụ thể: một anh chàng người lai, lúc tuổi sắp 30, làm ăn khá giả có hiếp dâm một thiếu nữ 13,14 đến bể âm đạo phải đưa đi nhà thương. Khi bệnh lành thì cô bé đã có thai. Người ấy đến nhà cô bé phạt vạ. Việc vỡ lỡ ai cũng biết. Khi đến tuổi gần già, dòng máu con heo trong anh ta vẫn chưa ngừng nghỉ. Có những lúc giữa đám đông, anh ta đem chuyện hiếp dâm khai ra bằng như một cách hết sức thành thật.

Nhưng xuyên tầm mắt của người hiểu biết, thì đây chỉ là một thứ ngi trang cho thiên hạ tin mình là chân thật, cải hối ăn năn để có dịp làm nữa. Cá nhân đã thế, tập đoàn chánh trị nào có khác chi, đay là chỗ sâu xa trong ngăn kéo cõi lòng rất khó mà thành thật. Cho nên người xưa nói: “Dù người chí ngu nhưng khi trách người khác thì vẫn tỏ sáng; kẻ tuy rất thông minh mà có ý che đậy mình thì tối”. 
 
Cho nên nếu đem lòng trách người mà trở lại trách mình, dùng lòng bao dung mình mà bao dung người thì không lo không đến được địa vị thánh hiền vậy.

6. LÀM SAO BIẾT MÌNH CHƯA GIẢI THOÁT?
 
Thực ra thì từ xưa đến nay hết thảy những người xác thân bị trói không ai không biết rằng chính mình đã bị trói, nên không ai không căm hờn oán trách. Đến khi được mở trói cũng không ai không tự biết mình đã được mở trói, nên không ai không tự vui mừng chỉ trừ những người điên.
 
Trên nguyên tắc hình như ở thân hay ở tâm cũng không thể khác hơn. Nhưng khi vào thực tế thì phần xác thân với phần tâm không hoàn toàn hẳn như thế! Thậm chí có những người đang đau khổ trói buộc mà vẫn hãnh diện tự cho mình là vui là giải thoát. Nên ít nhất cũng phải có cách biết. Nếu khi mình bị đau khổ trói buộc, mà không tự biết tự hay thì khi giải thoát làm sao biết? Nên cần nhất phải ý thức cho được nỗi niềm bẩn chật đau khổ của chính mình thì mới nên nói chuyện giải thoát.
 
Một con heo được chủ nuôi săn sóc, nâng niu cho ăn uống đầy đủ. Mặc dù mục đích là nuôi cho lớn để bán làm thịt, nhưng việc chưa xảy ra đương sự làm sao biết được, nếu vô ý thức đợi khi việc đã vỡ lỡ thì dù có trời phật hiện trước mắt cũng không phương cứu chữa.
 
Một con chó, chủ nhà nuôi bắt giữ nhà bỏ đi không được, đói không cho ăn, chỉ xua ra đồng để tìm đến những nơi phóng uế. Con cho không thể nào không oán trách căm hờn. Thế mà có những thứ chó còn hãnh diện lấy đó làm vui! Thế mới biết trói buộc bằng cảnh nghịch mà còn có kẻ không biết, thì trói buộc bằng cảnh thuận lại há dễ gì biết được sao!
 
Jesus có nói: “Rất vô phúc cho các ngươi, bây giờ các ngươi sướng để rồi các ngươi se khổ!”.
 
Thế mới biết: vầng trán chưa răn reo sạm nắng, gót chân chưa dẫm nát gai chông, chén cơm chưa đẫm mùi nước mắt, dong sinh mệnh chưa từng ăn sắt cục uống nước đồng sôi; thế là mùi thế sự chưa đã thèm, thì làm sao máu thánh hiền nổi dậy được!
 
Tuy nhiên đây chỉ mới là phần sâu rộng, trên thực tế trong việc hạ thủ công phu của pháp vô niệm viên thông giải thoát còn có những điểm tế nhị hơn: 

1. Khi hạ thủ công phu đến một lúc biển lòng sóng lặng gió yên, mặt phẳng của chơn tâm được trải ra cho ta trực tiếp với bổn tánh. Đến đây chừng như là xong việc, nhưng không hẳn thế. Có thể vì ta tỉnh táo quá chừng, tiếp xúc thẳng với chơn tâm bổn tánh, để rồi lọt vào kẽ hở có chủ thể có khách thể của nhị nguyên tương đối, chớ không phải kiểu như mình uống nước lạnh nóng tự hay, hoặc cảm giác thanh lương an lạc này kéo dài được độ 5, 10 phút rồi vọng niệm sóng lòng lại tiếp tục phủ lên. Đó là một điểm cho ta biết việc giải thoát chưa xong vậy.

2. Khi hạ thủ công phu tiến được đến mức biển lòng sóng lặng gió yên nhưng không phải trong suốt im lìm như “Muôn dặm không mây muôn dặm trời”, mà là tựa sương mờ che khuất rặng núi, như sáng sớm mặt trời chưa lên, như trăng rằm bị chuyển mưa. Đây là điều thứ hai cho ta biết chưa hoàn toàn giải thoát, hãy còn ở trong chân trời của ông hỗn độn.

3. Mặc dù suốt trong đi đứng nằm ngồi ta thấy hình như thênh thang vô sự, tâm thể phẳng lặng như tờ, nhưng có lúc phát lên cao hứng tựa như kinh Bà La Môn nói: Xưa kia chúng ta ở trên cõi trời sung sướng, nhìn xuống dưới này thấy sáng sáng không biết ra sao, cao hứng muốn xuống coi cho biết. Xuống đây mắc kẹo không về được. Đây là điều thứ ba để biết được ta chưa giải thoát.

4. Hoặc đột ngột bị hoàn cảnh dồn ép vào ngõ bí, không lựa là cảnh thuận hay cảnh nghịch, tinh thần trở nên lạng quạng, nhất thời chỗ đứng bị lung lay.
 
Lục Tổ Huệ Năng có nói: “Niệm trước mê là chúng sanh, niệm sau ngộ là Phật, mới hồi nãy đắm cảnh là phiền não, bây giờ lìa cảnh là Bồ Đề”. Lại nói: “Các ngươi hãy thận trọng đừng khai tri kiến chúng sanh”. Như thế nghĩa là sao? Nghĩa là bổn tánh vốn không chúng sanh không phật, vốn nó nguyên chất như vậy! Hễ động dụng như chúng sanh, theo tướng theo điên đảo, quy y với xác thân là chúng sanh.

Động dụng theo Phật, theo tánh, theo chánh biến tri, theo hướng nội là thành giải thoát. Cho nên mặc dù khi tâm thể đã được vô niệm cũng phải ý thức hàm dưỡng để đừng khai tri kiến chúng sanh. Tức là trong cuộc sống hằng ngày ta cũng ăn, cũng uống, cũng sinh hoạt, đi đứng nằm ngồi mà lòng vẫn thảnh thơi vô sự, khi việc đến, động dụng sáng suốt phân minh không bị mê lầm, chạy lệch ra ngoài vòng bổn tánh. Đến một mức độ mà Bồ Tát Đại Huệ nói trong kinh Lăng Già: “Kim thế hậu thế tịnh” tức là vĩnh viễn thanh tịnh. Đây là điều thứ tư cho ta biết được giải thoát hay chưa vậy.

7. SAO GỌI LÀ MINH TÂM KIẾN TÁNH?
 
Tất cả vẫn chứ chẳng qua chỉ là một thứ dụng cụ tạm bợ bất toàn. Điểm quan trọng câu hỏi này ở ý của người muốn hỏi. Sự thật đáng lẽ phải nói tự mình bổn tâm tự kiến bổn tánh mới đủ ý nghĩa. Tại sao? Vì đây là tự mình mình biết, tự mình mình hay, tựa như người uống nước vào trong bụng cảm biết được lạnh nóng, chứ không phải cái biết trong thế hai tướng. Nói minh tâm kiến tánh đây có bao gồm hai ý nghĩa:

1. Tự thấy được vọng của chính mình nó đang lao xao biến hóa.

2. Khi tâm vọng ngừng, biển lòng sóng lặng gió yên, tâm thể vô niệm xuất hiện, mặt thật của tâm hiển bay, tự mình trực nhận lấy mình thầy được, đó là mình được chọn tâm. Thế là cả tâm chơn và tâm vọng của chính ta, ta đều nhận được. Xa hơn nữa suốt đi đứng nằm ngồi khi tâm chưa động dụng thì tâm thể như hư không. Khi có động dụng, nếu động dụng theo điên đảo theo mê, đam chấp theo tướng thì gọi nghịch dụng hay chúng sinh dụng.

Nếu động dụng theo ngộ, theo chánh biến tri, xứng theo bổ tánh thì gọi là thuận dụng hay Phật dụng. Cho nên trong hằng ngày luôn luôn được rỗng rang rời rảnh động dụng phân minh. Xa hơn nữa, nhờ có minh tâmtrực nhận được chính thân tâm mình cùng với bao la vô tận vốn nằm tròn trong cái thể tuy không phải một nhưng không thể khác. Vốn nó có cái lẽ đồng nhất tương quan quân bình trật tự biến hóa lưu thông chớ không thể khác.
 
Nên khi tâm vọng thì thấy tâm với tánh hình như hai, đến khi tâm chơn xuất hiện thì thấy tâm với tánh hình như một. Đến đay trong ta có tất cả, cũng như trong tất cả đều có ta, chỉ có động dụng mê hay động dụng ngộ, mở hiểu biết theo chúng sanh hay mở hiểu biết theo Phật.

 Người xưa muốn nghiệm biết thêm qủa có minh tâm kiến tánh chưa, đại khái có hai cách:

- Hoặc trắc nghiệm bằng cơ phong không bao dung lý trí tức thì hỏi, tức thì đáp, không chấp nhận dần dà suy nghĩ. Nếu còn thời gian suy nghĩ là chưa toàn bích, chưa nhập diệu việc chưa rồi.

- Hoặc nhìn suốt cả động dụng hằng ngày trong đi đứng nằm ngồi để biết được người đó đã thuần thục chưa vậy.

8. ĐẾN MINH TÂM KIẾN TÁNH LÀ XONG CHƯA?
 
Chúng sinh là sản phẩm của trật tự thiên nhiên mắc liền vào bao la vô tận. Thiên nhiên vốn vô thỉ vô chung không đầu không đuôi không khúc giữa. Con người giải thoát là tự trả mình về với trật tự thiên nhiên, không còn vận dụng theo ý riêng nữa. 
Vậy lấy đâu mà nói là xong hay chưa xong.
 
Như thế đủ biết nói xong hay chưa xong hoàn toàn nhắm vào tâm mê vọng mà nói. Sau khi tâm mê vọng dứt rồi, từ nay về sau đều thuộc về pháp thị hiện. Hoặc thị hiện thuận hay thị hiện nghịch để thành diệu dụng mà thôi. Phương chi con sư tử một tuổi tuy vẫn đầy đủ gan ruột, tướng tá oai vệ của một con sư tử, nhưng nếu so với con sư tử già nhất định không thể không có chỗ khác.

9. TÂM VỌNG CÓ THỂ TU SAO?
 
Đúng như thế. Chỉ có nhắm vào tâm vọng mà nói chuyện hạ thủ công phu. Tại sao?
 
Giả sử chúng sinh không hề quên lãng bổn tánh thì tâm vọng không có. Đã không có tâm vọng thì làm gì có chơn tâm hay không tâm chơn, và tâm với tánh là hai hay một cũng không còn thành vấn đề, vậy lấy đâu để tu? Nhưng khi đã có tâm vọng mới có chuyện tâm chơn, và bổn tánh bị tâm vọng che khuất bỏ quên đi tựa như cụm mây nhỏ che khuất mặt trời, bề trên vẫn sáng, bề dưới tối. Cho nên không nhắm vào tâm vọng để tu đều là pháp hướng ngoại, không phải con đường thẳng tắt nữa.
 
Phải biết rằng tâm vọng hay tâm chơn chẳng qua là một pháp trong vạn pháp của bổn tánh, chỉ vì phát triển có biến hóa, có mất chánh thường hay không mà thôi.
 
Một chúng sinh khi bị đau khổ dày vò, tự mình đã cảm thấy bất ổn nên mới nói chuyện chọn đường tìm pháp để tu. Chính hồi ấy cũng là một thứ tâm vọng, nhưng là tâm vọng đẵ bắt đầu chuyển hướng. Kinh Lăng Nghiêm có nói: “Ngay từ hồi tính trừ vọng chính hồi đó là vọng, đến bao giờ tâm cuồng vọng ngừng dứt tức là giải thoát”. Như thế không nhắm vào tâm vọng mà gỡ, vậy dựa vào đâu để giải thoát!

10. LÀM SAO BIẾT CHẮC CON ĐƯỜNG MÌNH ĐI LÀ THẲNG TẮT CHÍNH XÁC BẢO ĐẢM?
 
Trong kinh Lăng Nghiêm có một ví dụ: Phật dùng một cái khăn thắt lại thành nhiều gút, rồi nắm hai mối lại mà bảo ông A Nan: Nếu muốn gỡ phải làm sao? Ngài A Nan thưa: phải bắt từ ngoài mà gỡ lần trở vào đến bao giờ hết gút. Phật bảo đúng thế! Đúng thế! Tâm đã vọng tạo thành trói buộc thì không thể không căn cứ vào tâm vọng mà mở! Như thế không phải là việc là chính xác sao! Chỉ có cách mở có phương pháp hay kỹ thuật hay không mà thôi. Nếu có phương pháp có kỹ thuật thì kết quả sẽ được nhanh chóng, có gì phải thắc mắc!
 
Khi ta đã ý thức được rằng vì mê nên cấu tạo thành khối tâm vọng có thể tạm chia làm 4 phần như trước kia đã nói, nó bao hàm cả không gianthời gian tâm lý. Nay quay hẳn trở vào, căn cứ vào tâm vọng mà gỡ, áp dụng thân giác và nghi tình làm lợi khí thì sao mà không thẳng tắt chính xác được! Phương chi người xưa có nói khi lội trở ra thì biển hận muôn trùng, nhưng nếu quay hẳn trở vào thì lập tức thấy bở mé. Như thế còn gì nữanghi ngờ chứ!
 
Thật không ai ngờ sinh thể của một con đỉa với sinh thể của một khối vọng tâm giống nhau. Con đỉa vì tế bào ngang, và nơi sinh sống của nó ở dưới nước. Nếu đem cắt ra từng đọan cho vào đất ẩm ướt chôn dấu kỹ lưỡng. Ít lâu sau đào lên, mỗi một khúc kéo dài ra thành một con đỉa để ngọ ngoạy chen lấn lẫn nhau. Nhưng nếu người ta rắn mắt bắt nó lộn ngược bề trong ra ngoài liền tức khắc chết.

Thật vậy, khối vọng tâm muôn đời nếu ta chống lại nó bằng cách hướng ngoại hay phân tán, nó sẽ đứt đoạn từng khúc mà biến thành linh tinh để khuấy rối chúng tathiền học gọi là 50 ma tướng. Nhưng nếu ta quay hẳn trở vào mà hạ thủ công phu, thì chúng nó hoàn toàn bị phân hóa mà ta rất dễ bề giải tán. Đây quả là một định tắc hoàn toàn chính xác.

11. THÂN GIÁC VÀ NGHI TÌNH CÓ GÌ BÍ MẬT ĐÂU MÀ SAO LẠI CÓ KHẢ NĂNG TIÊU HÓA VỌNG NIỆM HIỆU LỰC ĐẾN THẾ?
 
Mục đích của hạ thủ công phu tu hành là nhắm vào tiêu hóa tận nguồn của khối vọng tâm muôn thuở. Tâm sở dĩ vọng là tại đắm chắp lấy thân nên mới có chuyện dựng đứng cái tôi. Nay muốn phá trừ tâm vọng, chỗ bí yếu duy nhất là làm cách nào để có thể tách rời sự đắm chấp ấy, để tâm với thân có thể là hai cũng có thể là một.
 
Ý thức về thân giác và nghi tình là vạch một luông tách bạch rẽ đôi giữa thân và tâm vọng. Bởi vậy nếu một người tu mà ý thức sâu xa chính chắn kỹ lưỡng về thân giác và nghi tình mà cách thường trực nằm sâu tận đáy tâm não sẵn sàng, thì đối với vấn đề rẽ đôi giữa thân và tâm vọng của người đó khẳng định sẽ rất dễ dàng, hễ động dụng là thành công.
 
Người xưa có nói: “Không biết bổn tâm học pháp vô ích”, nhưng ngày nay lại có người nói: “Không biết tự thân học đạo vô ích” là tại mẹo này!
 
Bởi vì khối tâm vọng lấy đam mê theo xác thân để tồn tại. Nay giữa thân với tâm vọng bị tách làm đôi, tự nhiên muôn niệm của tâm vọng đều lập tức bị tiêu hóa. Phương chi chỉ một phần thân giác thôi, cũng đã đủ là một thết mẹo tâm lý, để tách rời thân và tâm vọng, mà đằng này lại còn bồi thêm nghi tình, giống như một con đường có lú lấp vừa mới được vạch xong, lại cho thêm một ban đi tép dẹp thúc đẩy sâu vào cho con đường rẻ thêm rộng rãi thênh thang. Do đo khối vọng tâm bị lộn ruột vỡ toang, giống như đĩa bị lộn bề trái ra ngoài tự nó phải chết mất.
 
Qủa thật! quả thật! thân giác và nghi tình là một diệu dược rất nhiệm mầu, một kỹ thuật siêu đẳng để tách đôi thân và tâm vọng ngay hiện tại một cách nhẹ nhàng, chỉ cần biết áp dụng

12. KINH NÓI: “BỔN TÁNH CHÚNG SANH VỖN NGẬM CHỨA VẠN PHÁP (BAO GỔM CẢ HỮU TÌNH VÀ VÔ TÌNH) NÊN GỌI LÀ HÀM TÀNG THỨC …. THẾ THÌ CÁI CHỨA TRONG LÒNG CỦA CHÚNG SANH LÀ CŨNG TỰ NHIÊN, THẾ SAO PHẢI CÓ CHUYỆN ĐIỀU CHỈNH LẠI?
 
Xưa Huệ Minh đuổi kịp Lục Tổ Huệ Năng và thỉnh pháp. Tại sao Lục Tổ Huệ Năng không giải thích mà chỉ giảng vỏn vẹn một câu hỏi: “Vậy ngay khi chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, chính hồi đó cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa”. Như thế không phải là bổn tánh của chúng sanh vốn tự thanh tịnh, vốn có khả năng sanh ra vạn pháp sao?
 
Khi chưa động dụng thì tâm với tánh vốn không hình tướng, vốn không thể phân cũng không thể hợp. Nhưng khi đã động dụng tất có động dụng mê, hoặc động dụng ngộ. Động dụng mê là chúng sanh dụng, động dụng ngộ là xứng tánh dụng. Xứng tánh dụng thì rỗng rang, rời rảnh tỉnh táo thường xuyên. Xứng thân dụng thì chèn ép, ồn ào, lao xao, lầm lẫn, khổ đau, phiền lụy. Như thế há không phải tuy vẫn ngậm chứa vạn pháp mà đã nghịch dụng và đã biến dạng rồi đó sao? Thế tuy là một, nhưng tướng dụng lại khác xa.
 
Nên mới có chuyển thức cho thành trí, chuyển thức hàm tàng thành trí đại viên cảnh. Chuyển cái tâm đam chấp như máy chụp hình trở thành cái tâm giải thoát như gương sáng cho đến chỗ chuyển và tướng chuyển cũng không còn nữa. Thế thì Phật không khác gì chúng sanh mà vẫn khác xa vậy.

13. NGƯỜI TA CÓ NÊN XEM THƯỜNG XÁC THÂN KHÔNG?
 
Bất kỳ một pháp nào trên đời này chính nó vốn sẵn có một tầm vóc giá trị đúng y như nó, không có vấn đề tầm thường hay không tầm thường. Sở dĩxem thường hay không xem thường là vì chính con người không thật hiểu nó mà hóa ra có chủ trương lệch lạc. 
Thử hỏi nếu không có thân thì còn tu cái gì nữa? Từ xưa tới nay có ai nói hư không tu hay không? Hay nói anh xoài anh ổi tu? Giả thử không có thân, lấy đâu nói vọng tâm chơn, không có tướng lấy đâu nói một là tất cả, tất cả là một, một tức tất cả, tất cả tức một, trên đầu kim có đủ tam thiên đại thiên thế giới.
 
Khi chưa có tướng lấy đâu để có mê và ngộ, có thời giankhông gian
 
Khi chưa có tôi, có cái biết của tôi thì mọi vật ra sao vốn không thành vấn đề. Khi đã có tôi, có cái biết của tôi thì muôn vạn vấn đề đổ xô kéo tới. Quả thật tôi là trung tâm vấn đề. Đã có tôi mới có mê, có mê mới có thời gian không gian, có mê có thời gian mới nói có tu có ngộ, vậy ai là người dám bảo trên đường đời, trong dòng thế tục, xác thân này đối với người tu không phải con long mã, để đưa đường cho Tam Tạng đi thỉnh kinh?! Hay chiếc thuyền con để cho ta vượt dòng sóng gió?! Mặc dù mới bữa trước chính ta dùng nó làm hệ lụy cho ta? Thế mới biết đi chưa đến tây phương mà định bỏ đói con long mã không cho ăn, không cho tắm, chưa qua bờ bên kia mà đã nghĩ tới chuyện hủy bỏ chiếc thuyền, thì nào có khác chi kẻ đã vượt qua bờ bên kia rồi ngồi đó tiếc rẻ chiếc thuyền không muốn lên bờ giải thoát!.

14. NGƯỜI TA NÓI NGUỒN SỐNG CON NGƯỜI HOÀN TOÀN Ở ÓC LÝ LUẬN NÀY CÓ ĐÚNG KHÔNG?
 
Nếu dựa vào chặt đứt đầu không còn sống để kết luận rằng mạch sống hoàn toàn ở đầu thì ta khỏi cần biện minh; nhưng giả sử có người nói: “Mạch sống của con người hoàn toàn ở tim là chết liền.” Nói như thế thì sao? Thế mới biết: Nếu dựa vào những điều kiện kiểm chứng theo kiểu đó thật chẳng khác nào lấy đất sét đắp bít hai con mắt lại rồi bảo: trời đất chỉ là một khối tối thui, thì chắc là những người xung quanh thương hại mà không buồn cãi, chớ nói hay không riêng gì mạch sống con người mà tất cả chỉ là không ở không chẳng ở; và tất cả vạn hữu chẳng qua chỉ là những tia chớp nhỏ bám vào tia chớp to, xen nhau xuất hiện là thành một chuỗi dài vô tận không đầu không đuôi, không xưa, không nay, không thêm không bớt, không lớn không nhỏ, có ngừng lại khoảng nào đâu, để ta dựa vào đó mà nói mạch sống ở hay không ở!

Tuy nhiên nếu nheo con mắt một cái, nhìn suốt cả bao la chỉ là một nguyên động lực của các làn sóng hội tụ phản xạ tận tự bao la xuyên qua vạn hữu đi vào khắp tất cả chúng sinh, mắc liền vào tạng phủ theo thế hết sức co vào rổi lại giãn ra, làm thành một định luật bất cứ một vật gì, dù khoáng thực hay động, hễ có nhỏ có lớn thì bên trong hay tạng phủ phải có trước, kế đó là phần ngoài hay xác thân có sau, mà đầu thuộc về phần xác thân, tim thuộc về phần tạng phủ, và trong đó ngoài phần vật chất dường như còn có một cái gì … Nếu ai là người đã từng đi vào cõi định, thì đều biết rõ điều này, mà đây là mục đích để kiến thiết lại con người, chớ không phải diễn đàn để cãi lý cãi lẽ.

15. GIẢ SỬ TRONG ĐI ĐỨNG NẰM NGỒI BIẾT ĐƯỢC VỌNG NIỆM NỔI LÊN CÓ THỂ ÁP DỤNG THÂN GIÁC VÀ NGHI TÌNH ĐỂ PHÁ ĐƯỢC KHÔNG?
 
Thực ra nếu một người biết áp dụng đến mức độ ấy chắc khó mà có vọng niệm nổi lên theo kiểu đó. Tại sao? Vì người đó it nhất vấn đề thân giác và nghi tình phải được ăn sâu vào tận nguồn tâm não, mà khi hai vấn đề đó đã được bắt rễ tận nguồn tâm não rồi thì vấn đề thân với tâm vọng mắc liền nhau đến nỗi không còn tách rời ra được sẽ không còn nữa thì làm sao có những vọng niệm linh tinh cho được.

16. KHI ÁP DỤNG THẦN GIÁC VÀ NGHI TÌNH CÓ HIỆU QỦA BÈN XẢY RA TRẠNG THÁI YÊN ỔN, NHẸ NHÀNG, THANH LƯƠNG AN LẠC:
 
Tại sao? Đây là bằng cớ cụ thể để minh chứng cho sự dính mắc một cách keo sơn gắn bó của vọng tâm với cơ thể đã được buông lơi để đi đến có thể tách rời nhau cái thể hình như hai mà cũng hình như một.

17. TU PHÉP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG NÀY CÓ THỂ SỐNG LÂU ĐƯỢC KHÔNG?
 
Nếu chỉ biết nhắm vào tâm thể vô niệm viên thông giải thoátmục đích thì người đó sẽ được hưởng hết tuổi trời. Còn nếu lấy việc đi tìm cái sống lâu làm mục đích thì dù cho người đó có sống lâu 800 tuổi bất quá chỉ là thằng già chết non hay con qủy giữ thây ma mà thôi.

18. PHÉP NÀY ĐỐI VỚI NGƯỜI GIÀ NGƯỜI TRẺ, LỢI ÍCH HƠN KÉM THẾ NÀO?
 
Thực ra nếu triệt ngộ bổn tánh thì già tre như nhau, nếu chưa triệt ngộ bổn tánh thì tuổi trẻ còn đủ sức khỏe tinh tiến nhưng cũng kèm theo đó máu nóng vẫn còn cuộn sôi. Trái lại tuổi già cơ thể suy nhược, tinh tiến không thể như tuổi trẻ, nhưng sự đời có thể có phần nguội lạnh hơn. Nên đồng đi đỗ lại, mỗi bên đều có chỗ ưu khuyết khác nhau; nhưng một lợi một hại cũng vẫn chừng ấy.
 
Tuy vậy nếu tuổi trẻ mà có chí quyết định xuất trần, nghiên cứu phương pháp kỹ thuật phân minh rồi mới quyết định hạ thủ công phu thì có thể vượt bực mà thành công vậy.

19. TRONG THỜI GIAN HẠ THỦ CÔNG PHU CÓ NÊN ĐỌC SÁCH NHIỀU HAY KHÔNG?
 
Khi khối vọng tâm chưa được giải quyết dứt khoát, thì dù ta có muốn nhớ cho thật nhiều cũng khó mà nhớ có mạch lạc, hoặc tiếp xúc trình bày một câu chuyện suốt mấy tiếng đồng hồ hay mấy ngày liên tiếp cũng khó mà giữ cho đầu đuôi ăn nhau, trước sau mạch lạc. Hoặc muốn gạn lọc phê phán một vấn đề nào người ta đưa ra cũng khó bề đen trắng phân minh. Vì thế nên khi quyết định hạ thủ công phu, nếu còn chật vật để tâm rong ruỗi tìm tòi, nghiên cứu chạy theo bên ngoài thì càng làm cho tâm vọng khó bề ổn định.

Nên khi đã quyết định hạ thủ công phu là phải ngừng hẳn mọi sự săn đuổi, thì sau khi vọng tâm đã được ổn định, có muốn học hỏi điều gì mới có đủ khả năng phán đoán chọn lọc. Đến chừng đó không cần phải nhớ thật nhiều hay quên hết, mà khi việc đến đâu đó sẽ phân minh, việc qua rồi không chứ giữ, dù mấy tiếng đồng hồ hay mấy ngày, hay mãn đời vẫn một niệm như một. Như thế chẳng là lý thú hơn sao?!

20. KHÔNG KỂ LÀ NGƯỜI TÔN GIÁO NÀO, TẠI SAO CÓ RẤT NHIỀU NGƯỜI TU THUỘC HÀNG TRÍ THỨC SUỐT MẤY CHỤC NĂM MÀ NGƯỜI NAM VẪN BỊ BỆNH MỘNG TINH THOÁT TINH, NGƯỜI NỮ VẪN BỊ BỆNH UNG THƯ TỬ CUNG?
 
Trước kia tôi đã từng nói: Chữa bệnh tâm cũng như chữa bịnh thân, nếu không biết rõ căn cội của bịnh, cũng như pháp chữa không có kỹ thuật lẽ tất nhiên không thể không hên xui may rủi. Đây là một bằng chứng cụ thể cho thấy các vị tu sĩ này dù họ là ông cha, ông cố, giáo hoàng, hòa thượng, thượng tọa hay sư bà, sư trưởng chi chi ấy, đối với căn bịnh nơi tâm của họ, họ vẫn mù tịt, vấn đề họ hoàn toàn không nắm giữ mặc dù họ có thiện chí rất cao, nhưng đáng tiếc thay thiện chí ấy chỉ đặt trọn vào tín ngưỡng hay hên xui may rủi, chớ không có nghĩa phương pháp hay kỹ thuật trong một tinh thần gạn lọc hiểu biết.
 


Phương chi bịnh thoát tinh và bịnh ung thư tử cung là hai thứ bịnh mắc liền giữa thân và tâm. Nếu khôngphương pháp kỹ thuật tốt để tách rời vọng tâm với thân thì không thể nào không phát sinh cho được! Theo tôi, nếu là người đã trót có bịnh nặng rồi mới áp dụng phương pháp tu thì không thành vấn đề, vì không phải thuộc phạm vi câu hỏi này. Nhưng nếu là người chưa có bệnh đi tu, suốt mấy chục năm chín chắn mà còn mang lấy hai chứng bệnh này, thì đây quả là một chữ ký để bảo đảm cho ta thấy rằng không ngoài tinh thần thiếu hiểu biết, mà chỉ là tôn thờ tín ngưỡng mà thôi vậy.
 
Nếu phân ra mà nói, thì bịnh thoát tinh có trường hợp ngủ có mơ mà thoát hay không mơ mà thoát, hoặc không ngủ ngay lúc thức cũng bị thoát. Có mơ mà thoát là bịnh hoàn toàntâm thức, không mơ mà thoát là bịnh có liên đới đến ăn uống sinh hoạt. Mà như thế là bộ tiêu hóa đã bị mất quân bình phần nào do thiếu nhiệt lực. Nếu không phải trong lúc ngủ mà thoát là thuộc vào loại hoạt tinh. Trường hợp này nếu không phải bởi tâm cuồng loạn về tư dâm trải qua một thời gian từ bịnh mộng tinh đi đến không mộng mà thoát rồi mới đến hoạt tinh thì cũng phải kèm theo yếu tố ăn uống sinh hoạt chớ không thể khác.
 
Về bệnh ung thư tử cung, người ta rất lạ lùng là đa số bệnh ung thư âm đạo của đàn bà đều thuộc trường hợp mang tính chất lạm dụng sinh lý, vì bị cọ xát nhiều cho nên kỹ nữ dễ bịnh nặng hơn. Còn bịnh ung thư ở lòng tử cung đa số xảy ra từ nữ tu sĩ hay sư nữ độc thân đến tuổi già, kỳ thực chẳng có gì lấy làm lạ. Tất cả đều bởi tác dụng tâm lýthần kinh hệ, chịu sự kích thích trường lưu mà ra vậy. Chỉ có khác là kích thích bằng hóa học hay lý học, bằng vật chất hay bằng tinh thần mà thôi.
 
Như thế đủ thấy muốn thoát trần, vượt vòng tục lụy mà thiếu tinh thần y đạo, và phương pháp kỹ thuật hạ thủ công phu để phân hoá tách rời vọng tậm với thân, là không thể được vậy.

21. TU PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG NÀY CÓ ĐƯỢC VÃNG SANH VỀ TỊNH ĐỘ HAY KHÔNG?
 
Nếu câu nói: “ Tự tánh là nghĩa A DI ĐÀ, duy tâmTịnh Độ. Muốn thanh tịnh quốc độ trước phải thanh tịnh cái tâm, tùy theo tâm được thanh tịnh thì quốc độ được thanh tịnh là nghĩa cứu cánh”, thì tu pháp này quyết định sẽ được tịnh độ.
 
Nếu đặt vấn đề tịnh độ ngoài tâm theo chiều hướng ngoại tít tận trời tây, thì pháp vô niệm viên thông này thuộc về pháp hướng nội so với tinh thần hướng ngoại, hai thứ trái ngược nhau, làm sao họp lại mà cùng bàn được! Vẫn biết rằng đạo vốn không có gần có xa, nhưng hướng nội và hướng ngoại hai thứ muôn trùng khác biệt.

22. PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG VỚI PHÁP TỊNH ĐỘ, ĐƯỜNG NÀO THẲNG TẮT HƠN?
 
Gốc bệnh ở chỗ nào thì nhắm vào đấy mà chữa, bịnh ở tại tâm quay vào tâm mà chữa. Đây là một định tắc đã nói từ trước, giờ đây nếu so sánh để biết thẳng tắt hay không thẳng tắt; Vậy thử hỏi bịnh ở tại tâm mà không quay hẳn theo chiều hướng nội để chữa, mà quay ra theo chiều hướng ngoại qua mười muôn ức cõi hướng mặt trời để tìm kết quả. Sự thật hai việc là thế, còn thẳng tắt hay không thẳng tắt xin nhường cho diễn đàn chung nhận xét.

23. TÔNG TỊNH ĐỘ NÓI: “NIỆM PHẬT NHỚ PHẬT TỰ ĐƯỢC TÂM KHAI” CÓ ĐÚNG KHÔNG?
 
Cũng đúng mà cũng không đúng. Tại sao? Nếu trong lúc nhớ Phật tưởng Phật mà được tâm khai, thì tâm nào khai … mà tâm nào nhớ Phật tưởng Phật! Không lẽ vừa khép vừa mở một lúc. Còn nói niệm bằng miệng, lần chuỗi để kiếm cái tâm khai thì lại càng khép kín hơn, nên tôi nói không đúng. Nhưng nếu bởi đem hết tâm tư châm bẩm tưởng Phật nhớ Phật, sự đời không hề có đeo cứng một chỗ lâu mà không có biến hóa, đến khi quá sức mệt mỏi, tâm bỗng dưng biến hóa, cả chúng sanh và Phật cũng không còn nhớ tưởng được nữa. Đến chỗ đó cơ tâm khai xuất hiện, nên tôi nói có thể đúng! Nhưng phải đến đúng trình độ đó mới được.
 
Phương chi nhớ với không nhớ là hai, tưởng với không tưởng là hai. Pháp Phật là pháp không hai thì làm sao có nhớ với không nhớ, tưởng với không tưởng mà được. Theo đây ta có thể nghiệm biết chủ trương niệm Phật, nhớ Phật tự được tâm khai là một chủ trương không cần phương pháp kỹ thuật hay chước mẹo, mà chỉ giáp mặt đối đầu với vọng niệm bằng cách dùng sức mạnh để thắng địch mà thôi vậy.

24. VỚI LÝ LUẬN ĐỚI NGHIỆP VÃNG SANH, ÔNG NGHĨ THẾ NÀO?
 
Nếu có uế độn thì có tịnh độ là lẽ tất nhiên. Do đó uế độ là hậu qủa của nghiệp nhiễm, thì tịnh độ cũng phải là hậu quả của nghiệp tịnh. Cả nghiệp nhiễm và nghiệp tịnh cũng như cõi uế và cõi tịnh đều thuộc lãnh vực nghiệp cả. Người có đạo giải thoát phải là người không nghiệp, cho nên đới nghiệp có được vãng sanh hay không chưa phải là vấn đề quan trọng, mà chỗ quan trọng là ở chỗ có giải thoát hay không mà thôi vậy.

25. NIỆM PHẬT BẲNG MIỆNG RA TIẾNG, LẦN CHUỖI, VỚI MẶC NIỆM CỦA PHÁP NÀY KHÁC NHAU THẾ NÀO?

Niệm bằng miệng ra tiếng, lần chuỗi, trong đó hàm ẩn hai ý nghĩa: một là tập trung tinh thần theo chiều hướng ngoại, hai là đồng thời bài tiết bớt những hơi độc do ăn uống sinh hoạt, do tâm tư tạo nên, để đuổi ra khỏi cơ thể đến mức bình thường của một con người hầu cho khí độc này đừng xung động lên đầu, kích thích thần kinh các bộ phận ở thân cũng như nội tạng, thúc đẩy ta rơi vào con đường của các nghiệp ác.
 
Một người khi chưa tu mà giấc ngủ nặng nề trằn trọc, ác mộng, diễm mộng không yên, đó là triệu chứng của chất độc vừa kể trên nó kích thích. Sau khi siêng tu pháp môn này, it lâu sẽ thấy giấc ngủ yên lành, và thỉnh thoảng nằm mơ trong lĩnh vực mình tu. Đó là bẳng cớ hơi độc ấy đã bài tiết được phần nào. Đến khi tu thật lâu, thật tinh tiến, trong giấc ngủ đến chỗ không còn mơ nữa. Nhưng nếu không phải là giấc ngủ tỉnh táo thì trái lại đó là một bằng cớ ta đã lạm dụng pháp này làm cho nhiệt lực trong cơ thể xuống dưới mức bình thường, để rơi vào bầu trời của ông hỗn độn vô ký, mặc dù tạm thời cơ thể trấn an sức thúc đẩy của người khác.
 
Còn pháp mặc niệm của vô niệm viên thôngthiện tịnh song tu, là một phương pháp, một kỹ thuật đi đến kết quả tâm thể vô niệm viên thông giải thoát, trong đó bao hàm ý nghĩa hoàn toàn hướng nội đóng bít các cửa, nuôi dưỡng năng lực, biến hóa chỗ của vọng tâm cho trở thành vô thượng bồ đề, hai pháp khác nhau một trời một vực.

26. NGƯỜI TA NÓI KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT LÀ THUỘC VỀ PHẬT PHÁP TĂNG, KHÁC VỚI PHẬT BÁO THÂN XA LẮM, LÀM SAO SÁNH KỊP, NGHĨA NÀY THẾ NÀO?
 
Ta hãy nghe Lục Tổ Huệ Năng nói về ba thân:
 
Pháp thân là bổn tánh. Báo thântrí tuệ giác ngộ thấy được bổn tánh. Hóa thâny cứ trên pháp thân, báo thân mà hiển hạnh. Vậy thử hỏi có chúng sanh nào thành Phật báo thân mà bỏ qua pháp thân được không? Phương chi pháp báo hóa thân là một cách nói khác của thể tướng mà không đến thể và dụng được không? Như thế đủ biết, lìa bổn tánh đi tìm Phật báo thân là làm chuyện leo cây tìm cá vậy.

27. AI CŨNG NÓI TU THIỀN KHÓ LẮM KHÔNG CHẮC ĂN! NÊN THEO TỊNH ĐỘ CHO DỄ, NGHĨA ĐÓ THẾ NÀO?
 
Thế nào là dễ? Thế nào là khó? Nghĩa nói dễ đay có phải là ỷ lại vào nghe trong kinh nói về nguyện lực của phật A DI ĐÀ rồi mỗi ngày niệm hơ hà mấy câu bỏ đi nằm nghỉ. Đến khi lâm chung bề nào cũng có Phật đến rước, có phải thế không? Này, ta hãy nghe trong kinh nói: Này Xá Lợi Phất, không thể dùng thiện căn phước đức nhân duyên nhỏ mà sanh về cõi nước đó. Nếu có thiện nam tín nữ nào nghe nói về Phật A DI ĐÀ bèn chập trì danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày … cho đến bảy ngày, một lòng không loạn thì người này khi sắp mạng chung có Phật A DI ĐÀ cùng các Thánh chúng hiện ở trước. Người này khi lâm chung nếu tâm không điên đảo là được vãng sanh về nước Cực Lạc … Gìơ đây ta hãy xét:
 
Đã nói không được dùng thiện căn phước đức nhân duyên nhỏ, đó là yếu tố thứ nhất. Nói chấp trì danh hiệu. “Chấp” nghĩa là cầm, “Trì” nghĩa là nắm. Nghĩa là giữ chặt lấy danh hiệu, thế tức là nắm. Niệm là thuộc về tâm. Tụng là thuộc về miệng. Đây là yếu tố thứ hai.
 
Lại nói: Tâm chẳng điên đảo thì mới được vãng sinh. Vậy thế nào là điên đảo? Là hướng ngoại. Mà đã là hướng ngoại thì làm sao tâm chẳng điên đảo! Đây là yếu tố thứ ba. 
 
Vậy thử hỏi tại sao tiền thân của Phật A DI ĐÀtỳ kheo Pháp Tạng và tại sao Phật A DI ĐÀ còn gọi là “pháp giới tàng thân A DI ĐÀ PHẬT”. Như thế là lìa bổn tánh để tìm Phật A DI ĐÀ, theo pháp tụng niệm của đà hướng ngoại có thể dễ dàng gặp Phật A DI ĐÀ không? Phương chi, nếu nói tu thiền là khó thì căn cứ vào đâu? Quả thật, quả thật! Nếu khôngphương pháp, không có kỹ thuật thì có thể khó như lên trời. Nếu có phương pháp có kỹ thuật, thì biết đâu sẽ dễ như hằng ngày ăn cơm bữa! Cho nên nếu người có nghiên cứu kỹ từ đầu quyển sách này, thì sẽ không còn nghi ngờ nói khó nói dễ nữa.
 
Nên kinh có nói “Y theo văn chữ mà giải nghĩa thì Phật ba đời cũng chết hết. Nếu lìa kinh một chữ là bị lọt vào đường tà” là nghĩa thế nào?

28. KINH NÓI: “TU PHẢI TRẢI QUA BA A TĂNG TỲ KIẾP” SO VỚI PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG Ý NGHĨA RA SAO?
 
Mỗi khi chúng ta lật kinh Phật ra đều bắt gặp bài kệ mà câu đầu là “Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp”. Chớ không thấy nói vô thượng thậm thâm vi diệu lý. Như thế nghĩa là sao?
 
Có phải Phật chứng lý rồi lập pháp để cho chúng sanh nương pháp mà ngộ lý không? tại sao Phật bảo không một chúng sinh nào mà không tu? Nếu mỗi một chúng sanh đều phải tu, đang tu, và đã tu, vậy thử hỏi từ khi hiện tướng thành đạo là bao nhiêu kiếp? Nói “A tăng kỳ” nghĩa là vô lượng, Vô lượng nghĩa là không thể tính đếm. Mà đã không thể tính đếm thì một cái không thể tính đếm với ba cái không thể tính đếm khách nhau thế nào?

Như thế phải chăng nghĩa tu phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp chỉ có giá trị trong phạm vi của người vận dụng pháp chớ không có giải nghĩa y theo văn chữ mà tin. Phương chi chíngh miệng Phật còn nói: muốn xét một việc gì đã qua, dù việc ấy ở trong kinh Phật cũng phải hội đủ năm điều kiện nhận xét mới không lầm, tức là nói cái gì? Nói với ai? Nói ở đâu? Nói hồi nào? Ai nói  (What, Whom, Where, When, Who).
 
Nếu không như thế không có giá trị phán đoán. Hơn nữa nếy y vào nghĩa Phật nói, không chúng sanh nào mà không tu, thì nghĩa chữ tu này không phải chỉ để ám chỉ riêng cho một số người tu ở trong chùa mà là tất cả bò bay máy cựa, đồ tể, sát sanh, sát nhân, giặc cướp … đều tu. Thế thì nghĩa chữ tu này không thể hiểu khác hơn là nói thấy điều lợi ích trước mắt cho nó, nó nhảy bổ vào.

Khi thấy tai hại nó lại dang ra, cứ kinh nghiệm chuyền níu thế mãi đến bao giờ đục nước cùng đường mới bắt đầu rơi vào chánh vị của chữ tu. Và từ rơi vào chánh vị của chữ tu mà nếu chưa phải hoàn toàn đắc pháp, thì từ đây cho đến khi nhập vào vô thượng chánh giác lại phải trải qua bao nhiêu kiếp nữa?
 
Như thế câu nói ba a tăng kỳ kiếp này qủa là một ẩn ngữ bao hàm hai nghĩa: một là đa số người tu sự thật chẳng có tu gì hết; hai là nếu theo pháp ngoài tâm hay theo xúc động thì đều là làm việc phí công vô ích hết cả.

29. THẾ NÀO LÀ NGẦM TRUYỀN PHÂN PHÓ?
 
Trên ngôn ngữ của con người thường có hai cách nói: thứ nhất nói bằng cách giải thích kỹ lưỡng, cắt nghĩa rõ ràng làm cho người nghe chừng như không cần dùng lực cũng vẫn hiểu được vấn đề. Nhưng thực ra không có chút công cán gì cho chính mình cả, mà toàn là hiểu theo miệng người khác mà thôi. Cho nên chỉ có giá trị tài bồi thêm sự đầu tư kiến thức của bộ óc mà không thể nào có một tác động cực kỳ mạnh mẽ ảnh hưởng vào toàn thân, để chuyển hóa toàn triệt con người. Đó là ngôn ngữ của pháp thế gian, của người ngày nay mà nhất là của Tây phương.
 
Hai là cách nói không vận dụng cắt nghĩagiải thích mà có khi chỉ là những câu hỏi hay những câu nói, để làm bít lối cùng đường cho tinh thần sáng tác tự tuệ giác của người đương cơ bùng dậy, ảnh hưởng chấn động toàn thân, chuyên hóa toàn triệt con người để thay đổi toàn hệ cuộc sống. 

Thí dụ như kinh Pháp Bảo Đàn chép: Lục Tổ hỏi Huệ Minh: “Vậy chớ ngay khi chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, chính hồi ấy cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa?” hoặc Lục Tổ hỏi đồ đệ: “Ta có một vật không đầu không đuôi, không xưa không nay, không tên không chữ, đố các người biết vật gì?” Thần hội nhảy ra nói: “Đó là nguồn cội của chư Phật, là tánh Phật của Thần Hội”.

Liền bị Lục Tổ trách: “Ta đã nói với nhà ngươi không tên không chữ mà còn đặt tên là nguồn cội, là tánh phật, không khéo rồi sẽ là tông đồ cho bọn tri giải”. Vì thế mà Thần Hội bị hố, mà cũng vì thế mà càng ngoe của lý trí trong kẻ đương cơ bị thung mất. Từ đó Thần Hội mới được kể là một thiền sư chân chính trên con đường giải thoát. Đó là ngôn ngữ của tâm học, của thiền đạo, của giải thoát, của siêu lý, của nghịch lý, của nhất thừa tôn giáo, của giáo ngoại biệt truyền.

Chỉ có thứ ngôn ngữ này mới đủ sức mạnh để nhất thời làm vỡ toang khối vọng tâm muôn thuở. Nếu chưa biết được lý này là chưa lọt vào được cửa của thiền đạo. Chỉ có người thọ lành được biết, có khi người bàng quang không thể biết.
 
Ngầm truyền phân phó là vậy, chớ không có nghĩa đem vào phòng kín nói nhỏ riêng. Nếu ai có đọc kỹ kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng thì hiểu rõ.

30. THẾ NÀO GỌI LÀ CƠ PHONG:
 
Nguyên hai chữ này có nghĩa như sau: cơ là then máy, phong là mũi nhọn. Hai chữ cơ phong dùng chung nghĩa gần có thể nói hai mũi nhọn chạm nhau đúng thì đúng chỗ. Nhưng trong thiền học thì hai chữ này là dùng để ám chỉ cho nghệ thuật khám nghiệm người học bằng cách đối đáp mà không bao dung lần lựa suy nghĩ. Câu hỏi vừa mở miệng, đối đáp đã hiện liền tựa như bóng gương phản chiếu.

Nếu có dần dà suy nghĩ là không trúng tuyển. Vì thế nên cơ phong trước đây thuộc về căn cơ siêu tuyệt chớ không còn là chuyện hạ thủ công phu nữa. Ai đã từng đọc kỹ câu đối đáp giữa Huyền GiácLục Tổ Huệ Năng thì rõ, và sau đây chúng tôi chép thêm nguyên văn cuộc đối đáp giữa bà Seining con một vị mục sư người Mỹ, với một vị tăng đệ tử của hòa thượng Hư VânTrung Quốc gần đây như sau:
 
Tăng hỏi: “Đại sĩ vượt biển xa xôi đến với bao nhiêu khó nhọc, vì mục đích gì”?
 
Khách đáp: “Để cầu học Phật”.
 
Tăng hỏi: “Học Phật phải cần được liễu sanh thoát tử. Vậy trên phần sanh tử của đại sĩ đã đến đâu rồi?
 
Khách đáp: “Vốn không có sanh tử lấy gì để liễu thoát”.
 
Tăng hỏi: “Đã không sanh tử hà tất phải học Phật?”
 
Khách đáp: “Bổn lai không có Phật, học giả là Phật”.
 
Tăng hỏi: “Phật có đủ 32 tướng, bấm ngón chân là hải ấn phát quang. Vậy đại sĩ có thể làm được không?”
 
Khách đáp: Có thể hay không thể đều là chuyện nói chơi.
 
Tăng hỏi: “Đại sĩ diệu giải, mỗi câu đều khế hợp. Tuy thế giống như nói ăn mà không no vậy, vậy cứu cánh phải có một câu gì để làm bằng cớ?
 
Khách đáp: “Rốt ráo không câu, nói cũng vốn không. Nếu không như thế thì nghĩa giác tánh vốn không phải là không thể nghĩ bàn. Và đó mới là mẹ đẻ ra vạn vật.
 
Tăng hỏi: “Việc này đã được nói rõ mỗi câu đều hợp ý Tổ. Duy còn lại một chữ “Biết” là cửa của muôn tai họa. Đại sĩ đã theo nẻo giải mà vào. Vậy dám hỏi ly ngôn tuyệt cú thì thế nào là bổn lai diện mục?”
 
Khách đáp: “Kinh Kim Cang có nói: Vô thượng Bồ Đề tức là không vô thượng Bồ Đề”.
 
Tăng hỏi: “Nói như thế hình như phải. Chỉ vì mạng căn chưa dứt đại khái cũng thuộc về tri kiến. Dám mong đại sĩ phát tĩnh”.
 
Khách nói: “Tôi ít có dịp đọc kinh, trước đây có bế quan 4 năm, sau khi giải chế cùng với người mà đàm thoại. Người đều bảo tôi là thuyết pháp Phật”.
 
Tôi nói: “Không phải từ kinh luận mà được, hình như hầu hết không thuộc tri kiến”.
 
Tăng nói: “Chẳng từ kinh luận mà được là do tĩnh tọa, xiển phát túc tuệ. Nhưng túc tuệ cũng chẳng qua là tri kiến”.
 
Khách hỏi trở lại: “Pháp Phật trọng thực chứng, nếu khôngtri kiến thì cứu cánh như thế nào?”
 
Tăng đáp: “Chẳng câu nệ kinh luận, chẳng cổ chấp tánh tướng, thì chỗ nào cũng là đạo, chỗ nào cũng là giải thoát. Miễn cưỡng gọi là cái gì ấy chẳng qua cũng là quyền mà thôi”.
 
Hai câu chuyện vừa kể trên là hai câu chuyện thuộc về cơ phong có thể dễ hiểu nhất, nên chép vào đây để tiêu biểu.

31. NGOÀI PHÁP NÀY RA CÒN PHÁP GÌ BÍ MẬT NỮA KHÔNG?
 
Kinh Pháp Bảo Đàn chép: Khi Huệ Minh đuổi kịp Lục TổLục Tổ bảo: “Nếu ông vì pháp mà đến thì hãy ngừng dứt các duyên chớ móng sanh một niệm, giây lát tôi nói cho nghe”. Giây lâu Lục Tổ bảo: Chính ngay khi chẳng nghĩ thiện nghĩ ác, vậy hồi ấy cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa? Huệ Minh nhờ đó mà khai ngộ, rồi cũng lại bỗng dưng khuất lấp trở lại nên lại hỏi: “Ngũ Tổ còn có truyền phápbí mật nữa không?”
 
Lục Tổ đáp: Tôi đã nói cho ông nghe rồi, có gì là bí mật? Nếu ông chịu soi trở vào ông thì bí mật thuộc về phía ông chớ đâu phải phía tôi. Đấy! Chính chỗ ấy mới là bí mật.
 
Trong thiền học có câu: Nếu ai còn theo cửa nẻo mà vào là không phải con cái của nhà này. Kinh có nói: “Phật phát tức bất định pháp! Có nghĩa là phát Phật biến hóa vô cùng không có ngưng trệ, tùy chỗ kẹt mà gỡ, tùy cơ duyên mà lập pháp. Cho nên pháp vô niệm viên thôngpháp ứng cơ đối với hiện tại, cho tất cả những người nào thuộc căn cơ không thể không theo cửa nẻo, không thể khônghạ thủ công phu. Âu cũng là việc bất đắc dĩ mà thôi!.

32. SO SÁNH PHÁP TĨNH TỌA CỦA ÔNG VIẾT KHI XƯA VỚI PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG NGÀY NAY KHÁC NHAU THẾ NÀO?
 
Phương pháp tĩnh tọa khi xưa là để ứng cơ với số người không tu được vì bịnh tật chướng ngại. Cho nên cách lập pháp có nghìêng về chú trọng nâng đỡ cho xác thân để thân dễ chuyển hóa. Còn pháp vô niệm viên thông này thì chú trọng đến căn cơ vì bị kẹt với khối vọng niệm muôn đời mà xác thân bị hệ lụy, không thể tu tập theo pháp trên được.

Làm cho hành giả đạt đến tách rời vọng tâm với thân, tiến về tâm thể vô niệm rôi thân cũng được khỏi hệ lụygiải thoát. Nhưng nếu nhắm vào cứu cánh giải thoát mà nói thì cả hai đều cũng chỉ là phương tiện. Nhưng phương pháp tĩnh tọa cũng chỉ có một số người làm được, còn pháp vô niệm viên thông này theo tôi có lẽ ai cũng thực hành được để đạt đến kết quả. Nên mỗi bên đều có giá trị đặc biệt riêng.
 
Nếu nhìn bên ngoài mà nói thì thấy phương pháp tĩnh tọa hình như không chú trọng mấy về tâm lý kỹ thuật, vì không mở mang hai điểm thân giác và nghi tình. Nhưng thực ra trong đó hàm súc nhiều ẩn ý để cho hành giả phải tự phát minh lấy. Vì sao thế? Vì có hai điểm khác hơn pháp vô niệm viên thông
 
Một là lấy việc điều khiển, theo dõi hơi thở làm tập trung, hai là lấy trụ tâm dưới rún để thay thế cho nghi tình. Hai đặc điểm này nương tựa lẫn nhau làm thành tác dụng nhiếp muôn niệm về một niệm, biến một niệm thành vô niệm. Nếu hành giả điều động được hơi thở đến mức tế nhị, và tinh thần theo dõi thực hành đúng pháp, thì đến đây bất thần bỗng rơi tõm vào cảnh giới tâm thể vô niệm.

Nhưng nếu người thiếu ý thức sẽ có nhiều chỗ sơ hở. Vi khi tinh thần đã đến mức thật bén nhạy, thì cả phía nghịch lẫn phía thuận đều có thể bén nhạy. Đến đay nếu hành giả không đủ sáng suốt để tự điều động lấy mình, thì sẽ gặp ngõ cụt. Đó là chỗ phương pháp tĩnh tọa khác với vô niệm viên thông vậy.

33. GIẢ SỬ CÓ NGƯỜI NGỘ ĐƯỢC BỔN TÁNH RỒI MÀ TRONG KHI VA CHẠM VỚI SỰ VIỆC VẪN CÒN RẤT KHÓ ĐIỀU ĐỘNG ĐƯỢC MÌNH. THÍ DỤ NHƯ VA CHẠM VỚI SẮC TÌNH, HOẶC CẢNH TRÁI CHƯỚNG, NHƯ THẾ CÓ THỂ DÙNG PHÁP NÀY ĐỂ ĐIỀU CHỈNH ĐƯỢC KHÔNG?
 
Tất cả cuộc sống đau khổ bệnh tật làm mất hẳn sức tự tại của con người, không đâu không bởi khối vọng tâm muôn thuở nó điều động. Tâm vọng là tâm đắm chấp. Nên dù người đã đốn ngộ bổn tánh mà chưa điều động nổi được mình, tức là chưa phải triệt ngộ. Vì thế nên người này ngoài việc cần có công phu hạ thủ ra, còn phải thường trực giác ngộ sâu về thân giác để vọng tâm với xác thân không còn sức cấu kết chặt chẽ nữa, thì khi va chạm mới không còn nặng nề khó điều động.

34. HIỆN NAY ĐANG CÓ KHÔNG BIẾT BAO CHỦ THUYẾT NÀO XUẤT HỒN, NÀO VÔ VI, NÀO LUYỆN ĐAN, NÀO BÙA CHÚ, NÀO KHAI THÔNG NHÂM ĐỐC, NÀO HIỆP KHÍ, NÀO CƠ BÚT, NÀO SẤM GIẢNG, NÀO DƯỠNG SINH, NÀO DUY VẬT, NÀO DUY TÂM … V.V… LÀM CHO QUẦN CHÚNG KHÔNG CÒN BIẾT ĐÂU LÀ PHẢI TRÁI, LÀ CHÁNH TÀ. NAY MUỐN CỨU VÃN TÌNH THẾ, LÔI CUỐN CHÚNG SANH TRỞ VỀ ĐƯỜNG CHÁNH LÀM SAO CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC?
 
Bổn tánh của chúng sanh vốn không sư không thiếu, đầy đủ cả vạn pháp kể cả pháp thuận và pháp nghịch đều có giá trịtác dụng của nó. Cho nên nói tất cả pháp đều là phát Phật, không độ thuận thì độ nghịch, không có pháp chúng sinh thì phát Phật hết thành vấn đề. Không có pháp Phật thì pháp chúng sinh cũng không lấy đâu để hiện thế độ nghịch. Vạn pháp đã vốn thị hiện, dòng đời đang lúc đổ dốc, thế mê của chúng sinh nếu không có pháp phản tá, bỗng dưng muốn theo hạnh thuận mà kéo lại theo thế ngược dòng, chắc chắn sẽ hoài công vô ích! Sao bằng cứ để tùy sở thích tha hồ mà đổ dốc, kiến bò miệng chén có mất đi đâu.

Việc chúng sinh, chúng sinh cứ làm, việc của Phật, Phật cứ nói! Đến lúc đã thèm theo thế chúng sanh rồi trở về với Phật. Cho nên hai pháp vốn nương nhau mà tồn tại, thị hiện để độ rỗi chúng sanh, tuy thấy trái ngược nhau nhưng kỳ thực là giúp nhau. Vì thế nên pháp Phật vốn thường hằngliên tục không hề gián đoạn. Nếu thế gian này tất cả đều như ý, không có chướng ngại, vị tất là hay! Nên nếu thiếu pháp chúng sinh thì pháp Phật không có giá trị.

Pháp chúng sinh càng ngặt nghèo thì pháp Phật càng mầu nhiệm. Người ta nói: “Đạo cao một thước, ma cao một trượng”, vậy tại sao không thể “Ma cao một thước, đạo cao một trượng”. Cũng như nói “Thầy hay gặp quẻ mắc”. Vậy tại sao không nói: “Không có quẻ mắc khó có thầy hay”. Cho nên hai pháp phải nương tựa lẫn nhau mà hiển dụng.
 
Người ta đều than vãn đời mạt pháp pháp tà thuyết bạo hành, nhưng riêng tôi, tôi nói: “Tâm chúng sinh đang hồi nguy ngập nên phát Phật siêu tuyệt không thể lường. Chỉ có người căn cơ nhỏ hẹp mới băn khoăn than vãn”.

35. PHÁP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG CÓ ĐIỀU GÌ CẤM KỴ KHÔNG?
 
Có, có cấm kỵ. Vì sao? Từ xưa đến nay trâu tìm về trâu, ngựa chạy theo ngựa, bợm nhậu về với rượu, bợm hút về với á phiện, kẻ muốn giải thoát phải về với pháp giải thoát. Nếu thiếu hiểu biết, thiếu lòng thành, hay dùng ý riêng ghép bừa làm bậy thì sẽ gặp thất bại sa đọa. Đủ hiểu biết, đủ lòng thành, có chí xuất trần, thực hành chính xác thì bảo đảm hoàn toàn thành công. Ta cứ để tha hồ cho thiên nhiên gạn lọc. Nên chính chỗ hữu ý cầu toàn mới đích là điều cấm kỵ.

36. CÓ TRƯỜNG HỢP KHÔNG PHÁT ĐỘNG MỐI NGHI TÌNH THÌ SAO?
 
Vì không biết rõ vọng tâm mắc liền với xác thân nguy hiểm như thế nào, nên vấn đề thân giác không ảnh hưởng sâu vào tâm não. Do đó nghi tình khó phát khởi, nếu có nghiên cứu kỹ, biết rõ thì không còn khó khăn nữa.

37. ĐỐI VỚI KHỐI VỌNG TÂM MUÔN THUỞ, NGOÀI CÁCH ÁP DỤNG PHÉP VÔ NIỆM VIÊN THÔNG ĐỂ HẠ THỦ CÔNG PHU RA, CÒN CÓ PHÁP NÀO HAY HƠN NỮA KHÔNG?
 
Thật ra dùng pháp vô niệm viên thông để hạ thủ công phu vẫn chỉ là pháp thứ hai, tại sao? Sở dĩ có ra khối vọng tâm muôn thuở là tại cái thấy mê lầm buổi đầu của chúng sanh chỉ lục đục quanh quẩn theo lợi hại bổn thân, lấy cái Tôi làm trụ cột nên càng ngày càng bẩn chật khó khăn, mất hẳn tầm mắt thấy xa nhìn rộng, làm cho khối vọng tâm càng thêm sức mạnh.

Nếu ai có đủ tầm mắt thấy xa nhìn rộng đúng sự thật, thì khối vọng tâm không còn hiệu lực nữa. Bởi vậy Ngũ Tổ nói với các đồ đệ rằng: “Các ngươi suốt ngày chỉ lo cúng bái làm phước. Đến giờ phút chót, bổn tánh nếu mê thì phước nào cứu được”. Hay như có người hỏi Bồ Đề Đạt Ma: “Đồ tể còn nghiệp sát sanh, cư sĩ còn vợ con dâm dục thì làm sao thành Phật được?”. Đáp: “Đây không bàn đến vợ con dâm dục hay đồ tể sát sanh, mà chỉ nhắm vào thấy tánh. Một khi thấy được bổn tánh ròi, nghiệp dâm nghiệp sát tự rỗng lặng”. Cũng vì thế mà Lục Tổ Huệ Năng đến với Ngũ Tổ một cách hết sức tự nhiên với một bài kệ họa vận với bài kệ của Thần Tú:

 Bồ Đề vốn không phải cội
 Gương sáng cũng không phải đài
 Bổn lai không một vật
 Lấy gì bám trần ai
 
Thế là được trúng tuyển!
 
Ý nghĩa này đã nói qua ở câu chuyện con quạ ở trên chiếc thuyền ra biển, ai có đọc kỹ thì rõ. Bởi vậy nếu có một cách nhìn thật sâu rộng nhẹ nhàng thì tự nhiên vọng tâm không còn thành vấn đề nữa. Chỉ vì không có được cách nhìn như thế, nên bất đắc dĩ phải dùng pháp thứ hai.

- Có ai ngờ, hồi Mậu Thân có một cậu trai con một của một bà lão bị tử nạn, khi qua cơn khói lửa, có nhiều người đến thăm hỏi chia buồn, bà có nói một câu: “Nếu không ai chết chắc tôi sẽ chết theo con tôi, nhưng khi thấy người ta chết nhiều quá bỗng dưng vấn đề con tôi chết hết thành vấn đề trong tâm tôi nữa!” Ôi! Nếu khôngđiều kiện thấy suốt nhìn khắp, mà cũng không thực hành được pháp thứ hai thì chỉ còn chờ pháp độ nghịch theo kiều bà lão nói trên mà thôi vậy!

- Có ai ngờ một vi hòa thượng rất tốt, chỉ vì nuôi nhiều đệ tử nữ, cộng thêm cách ăn nhiều dầu, thích uống nước đá lạnh theo bữa ăn mà trở nên bịnh áp huyết lên cao không trị được.

- Có ai ngờ chỉ vì một bức hình thiếu nữ lõa thể quảng cáo trước rạp hát, mà một số thanh niên tạm thời huyết áp vọt lên.

- Có ai ngờ một vi tu sĩ xuất gia từ bé cho đến tuổi già mà không trị được chứng mộng tinh, đến nỗi phải đoạn âm và tuyệt thực để cho vãng sanh về nước cực lạc cho dễ tu.

- Có ai ngờ một ni trưởng xuất gia từ thuở bé, tu đến ngoài 50 tuổi mà phải mang lấy bịnh ung thư tử cung rồi chết.

- Có ai ngờ vị hòa thượng tánh tình rất tốt, xuất gia từ nhỏ thực hành bao nhiêu hạnh khó như tụng một chữ lạy một lạy, chích lấy máu viết kinh, ngồi hoài không nằm, ráng thức không ngủ … thế mà phải kẹt một bào thai con rơi đến phải chuyển sang xứ khác.

- Có ai ngờ chỉ vi một ly nước đá lạnh mà biến hóa một vị thiền sư thành một khối mỡ cười nói không phân minh.

- Có ai ngờ cả hệ thống thiền tông nước Nhật chỉ vì không biết chứng ngủ gục nguyên do từ đâu mà phải chế ra cái ghế ngồi thiền.

- Có ai ngờ từ củ khoai lang sang chứng dư nước chua bao tử đến một tâm lý lừng khừng không quyết định, trệ theo tình cảm, vốn có một hệ thống tương quan chặt chẽ.

- Có ai ngờ từ ly nước đá lạnh với chứng có sạn trong thận vẫn có một hệ thống tiến hóa của nó.
 
Thế mới biết: Trong thế kỷ địa cầu đang hồi xuống dốc (kiếp giảm), khoa học kỹ thuật tiến đến năm châu họp chợ, thì dù con người có muốn tín ngưỡng hay đi theo một đường lối nào, đó là quyền của con người. Nhưng nếu lìa tay thước hướng nội của Y đạo mà đi tìm sự giải thoát, thì quyết định càng cầu toàn càng bị tổn thương, không thể không gặp hên xui may rủi.
 
Hết thảy chúng sinh sở dĩ mải mê không giải thoát được là tại không biết rõ toàn bộ của mê là gì. Nay đã được trình bày nói toạc ra một cách rõ ràng minh bạch, tác giả hy vọng sẽ có người đọc một cách say xưa, lý thú. Khi được thấy suốt rồi lập tức liền siêu, chớ không đến nỗi cần cù phí sức, như thế chẳng sướng hơn sao?!

*
* *

Hết Phần 4.

 
Vừa viết xong, định dừng bút, lại có khách hỏi: Trường hợp người khi ngồi lại, trong lòng chẳng thấy có bàn soạn thì thào, nhưng mỗi khi xúc cảnh lâm tình, hoặc với khác phái, hoặc những biến cố đột ngột, thường không khỏi biển lòng sóng dậy. Vậy thì làm sao có thể hoàn toàn chủ động vấn đề? Vì muốn có chủ nên mới có khách.

Nếu trong lòng ta không có vấn đề khác phái, thì khác phái bên ngoài phỏng có linh thiêng nữa không? Mọi biến cố đột ngột cũng không ngoài nghĩa lý ấy. Không những thể thôi, cho đến tửu sắc tài khí cũng không thể khác. Nếu qủa thiệt biết ghiền là cái gì, á phiện là cái gì thì tự nhiên á phiện sẽ rớt ra. Cho nên điều quan hệ độc đáo là có thấu suốt vấn đề hay không, còn áp dụng cách này hay cách khác, pháp nọ hay pháp kia chẳng qua cũng chỉ là pháp thứ hai.
 
Bên bến đò Rạch Miễu có một người ngồi bên vệ đường với một ván cờ, một cọc tiền để khiêu khích khách qua lại. Đã biết bao người qua đường đến đây trút hết ruột ngựa. Có một ông già tướng trông thật cùi đài đi đến, thấy thế liền móc túi lấy tiền đặt ván. Chủ nhường khách đi trước, khách mới đặt tay xuống con cờ, chủ lập tức đỡ tay và móc túi lấy 5 đồng tạ khách và xin lỗi ông ta để được làm ăn.
 
Đối phó với tất cả những biến cố của vọng tâm một cách có kỹ thuật cũng tương tự như vậy.
 
Nếu ai có đọc suốt tận từ lúc đầu, và vấn đề được thông qua 1 cách chính chắn thì lập tức liền siêu, chớ không đến nỗi phải hao công phí sức.
 
Nhưng giả sử không được như thế mà trong tâm còn được thường xuyên thấm nhuần công cụ thân giác và nghi tình thì sóng lòng muôn mặt cũng vẫn hóa giải được nhẹ nhàng. Nếu không như thế dù có nói bao nhiêu nữa cũng chẳng qua vẽ rắn thêm chân mà thôi. 
Tạo bài viết
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.