Bài 3: Bốn giai đoạn trong hệ thống thiền định

30/11/20193:46 CH(Xem: 5926)
Bài 3: Bốn giai đoạn trong hệ thống thiền định

THIỀN ĐỊNH
MỘT PHƯƠNG PHÁP BIẾN CẢI TÂM LINH
Đức Đạt-lai Lạt-ma
và Urgyen Sangharakshita
Hoang Phong chuyển ngữ

***

Bài 3

Bốn giai đoạn trong hệ thống thiền định

 

            Đến đây chúng ta bắt đầu tìm hiểu về toàn bộ hệ thống thiền định, ít nhất là qua các nét đại cương của nó.  Hệ thống này gồm có bốn giai đoạn lớn, được tóm lược ngắn gọn dưới đây.

            Giai đoạn lớn thứ nhất là sự hợp nhất (unification), và đó cũng là điều tiên khởi mà các bạn phải làm trong khi thiền định. Sự hợp nhất đó sẽ đạt được nhờ vào phép luyện tập về sự chú tâm dựa vào hơi thở, và cả các phép luyện tập khác về sự chú tâm và sự ý thức tổng quát (có nghĩa là sự chú tâm hướng vào các cảm nhận của ngũ giác, các cử động trên thân thể, tư duy và xúc cảm trong tâm thức, và cả những gì xảy ra chung quanh mình, thế giới, con người và vũ trụ…). Điều chủ yếu nhất trong giai đoạn này là phải phát huy cho bằng được một cái tôi hợp nhất (tâm thức không phân tán, không bung ra tám hướng, nói một cách khác là phát huy được một sự chú tâm thật mạnh giúp mình ý thức được chính mình qua từng hơi thở, từng động tác , từng tư duy và xúc cảm của mình).

            Giai đoạn lớn thứ hai là  "tích cực hóa" xúc cảm. Nếu muốn thực hiện được điều đó thì phải nhờ vào sự phát huy Metta (lòng nhân ái, lòng từ tâm, tình thương yêu), Karuna (lòng từ bi), Mudita (niềm hân hoan), v.v. Trong giai đoạn này, cái tôi hợp nhất sẽ được nâng lên một cấp bậc cao hơn, tinh tế hơn và đồng thời cũng mạnh hơn (các cảm tính thương người thật sâu xa sẽ nâng tâm thức mình lên một cấp bậc cao hơn so với tâm thức thông thường mang đầy những thứ bám víuthèm khát trong cuộc sống thường nhật). Thể dạng này được biểu trưng bởi một đóa sen trắng đang nở rộ.

            Giai đoạn lớn thứ ba là cái chết tâm linh (spiritual death), cái chết này sẽ đạt được nhờ vào sự hồi nhớ đến sáu thành phần, tuy nhiên cũng có thể nhờ vào các phép suy ngẫm về vô thường, cái chết, hoặc bằng các phương pháp thiền định về shunyata (sự trống không/Tánh Không). Trong giai đoạn này chúng ta sẽ có thể nhìn xuyên qua cái tôi tinh tế của mình để cảm nhận được sự Trống Không của shunyata, cũng như sự Trống Không của cái chết.  

            Sau hết là giai đoạn lớn thứ tư, đó là giai đoạn liên quan đến sự tái sinh trong lãnh vực tâm linh (spiritual rebirth). Phép thiền định mang tính cách trừu tượng về sự quán thấy (có nghĩa là không cần phải dựa vào các đối tượng cụ thể, chẳng hạn như các vị Phật hay các vị Bồ-tát thật chính xác nào đó, mà chỉ cần dựa vào các hình dạng hình học, chẳng hạn như các mandala hay các chữ cái trong tiếng Phạn) cũng có thể thực hiện được giai đoạn này. Trên đây là vài nét tổng quát về các giai đoạn chủ yếu trong hệ thống thiền định.

            Thế nhưng các bạn cũng có thể nêu lên các thắc mắc như sau: vậy phép thụ phong (với ý nghĩa rộng là nghi lễ xuất gia, đối với Phật giáo Tây Tạng thì thụ phong là một nghi lễ đặc biệt dành riêng cho các đệ tử hay các tỳ-kheo đã đạt được một trình độ nào đó) sẽ được thực hiện vào giai đoạn nào? Boddhicitta (Bồ-đề tâm) sẽ hiển hiện vào lúc nào? Phép thiền định chỉ cần dựa vào tư thế tọa thiền nghiêm túc là gì? Tôi sẽ giải thích ngắn gọn về các thắc mắc này dưới đây.

            Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu xem phép thụ phong thuộc vào giai đoạn nào [trong số bốn giai đoạn của hệ thống thiền định]? Thụ phong có nghĩa là Bước vào nơi an trú, nhưng cũng có nghĩa là dấn thân. Dấn thân thì có nhiều cấp bậc khác nhau. Về mặt lý thuyết, người ta có thể thụ phong cho một người nào đó chưa hề biết thiền định là gì, thế nhưng trên thực tế thì khác, tôi có thể bảo rằng chuyện đó khó có thể xảy ra, và theo sự hiểu biết của tôi thì chưa bao giờ xảy ra cả. Thật vậy, không bao giờ có thể dấn thân được - ít nhất là với ý nghĩa của sự thụ phong - khi mà mình chưa thực hiện được sự hợp nhất một cách nghiêm chỉnh (có nghĩa là tâm thức vẫn còn bung ra khắp hướng, chưa tạo được cho mình một cái tôi tập trung và hợp nhất, một cá thể rõ nét, nói một cách vắn tắt là chỉ khi nào tạo được cho mình một sự quyết tâm thật mạnh và vững chắc nhờ vào sự hợp nhất của cái tôi thì khi đó mình mới có thể  "đi tu" một cách vững chắc được). Thiếu sự hợp nhất đó thì các bạn sẽ dấn thân hôm nay theo chiều hướng này, ngày mai lại bỏ để theo một hướng khác, chẳng qua vì các bạn chưa huy động được trọn vẹn con người của mình. Hơn nữa, các bạn cũng không thể nào dấn thân khi chưa tạo được cho mình một số vốn liếng xúc cảm tích cực. Thiếu cái vốn liếng đó các bạn sẽ không thể nào thăng tiến được. Ngoài ra nếu muốn dấn thân thì cũng cần phải có một chút lóe sáng của sự Quán thấy hoàn hảo (tức là một tí xíu Giác Ngộ nào đó), hoặc ít nhất cũng phải là một chút phản chiếu từ tia lóe sáng đó. Tuy nhiên một tia lóe sáng - hay một chút phản chiếu từ tia sáng đó - vẫn chưa thật sự đủ để biến các bạn trở thành một người Bước vào Dòng chảy ( "Bước vào Dòng chảy" là một thuật ngữ Phật giáo dùng để chỉ những người gia nhập vào một Tăng đoàn để bước theo vết chân của Đức Phật, kinh sách Hán ngữ gọi là "nhập lưu") mà chỉ là một cái gì đó mang cùng một bản chất, thế nhưng tia sáng đó hay một chút phản chiếu từ tia sáng đó, cũng thật hết sức cần thiết (giúp mình thoáng trông thấy Con Đường để bước theo). Chính vì thế nên vị trí của việc thụ phong sẽ nằm vào giữa giai đoạn thứ hai và thứ ba của hệ thống thiền định trên đây (xin nhắc lại: giai đoạn thứ hai là tạo được cho mình một số vốn liếng tích cực chẳng hạn như lòng nhân ái, lòng từ bi…, giai đoạn thứ ba là ý thức được vô thường, shunyata/sự trống không của thế giới hiện tượng và của cả cái chết, và chỉ khi đó thì mình mới "đi tu" một cách nghiêm chỉnh được). Người ta cũng có thể cho rằng phép thụ phong có thể thực thi vào lúc mới bắt đầu giai đoạn thứ ba, tức là giai đoạn của cái chết tinh thần (spiritual death), hoặc ít ra cũng phải là một sự mở rộng sẵn sàng giúp mình cảm nhận được cái chết tinh thần đó (có nghĩa là chỉ "cảm nhận" được cái chết tinh thần hay tâm linh nhưng chưa hoàn toàn thực hiện được cái chết đó hầu giúp mình tái sinh đúng với ước vọng mà mình muốn thực hiện, nói một cách khác là cảm nhận được shunyata/sự trống không, nhưng chưa hoàn toàn thực hiện được nó và hòa nhập với nó). Tuy nhiên, những gì trình bày trên đây cũng chỉ là Con đường chủ trương từng bước một (tức là các học phái chủ trương sự Giác Ngộ xảy ra tuần tự từng cấp bậc), bởi vì chúng ta cũng hiểu rằng có một Con đường khác chủ trương những bước không tuần tự (các học phái cho rằng Giác Ngộ mang tính cách đột phát và trực giác).

            Đến đây chúng ta sẽ đề cập đến điểm thắc mắc thứ hai là Bodhicitta (Bồ-đề tâm) shiển hiện ở đâu? Bodhicitta có nghĩa là  "Quyết tâm đạt được Giác Ngộ" (desire to awaken). Quyết tâm đó không hề mang tính cách ích kỷ (không mang chủ đích mang lại sự Giác Ngộ cho riêng mình) mà đúng hơn là mang bản chất của một niềm ước vọng siêu-cá-thể (supra-individual/vượt lên trên con người của chính mình). Bodhicitta chỉ có thể hiển hiện khi nào tính cách cá thể (individuality) (với ý nghĩa là một cá thể bình thường) đã bị đâm thủng ở một mức độ nào đó. Tóm lại Bodhicitta là ước vọng đạt được Giác Ngộ vì sự tốt lành của tất cả [chúng sinh] - thật ra thì đấy cũng chỉ là một cách giải thích thông thường mà thôi, chưa phải là trường hợp ước vọng của một con người "tự chủ " (tự chủ ở đây có nghĩa là đã tạo được cho mình một sự nhất thể, một cái tôi hợp nhất, cùng một số vốn liếng xúc cảm tích cực - độc giả có thể xem lại cách định nghĩa về con người "tự chủ" trong bài giảng thứ nhất) tìm cách đạt được sự Giác Ngộ vì sự tốt lành của "những con người rất thật khác" (có nghĩa là rất cụ thể, rất thật, không phải vì các "kẻ khác", các "chúng sinh khác" xuyên qua sự tưởng tượng của mình). Sự hiển hiện của Bodhicitta vượt lên trên cái tôi (cái ngã) [của mình] và cả những người (mà chúng ta gọi là kẻ) khác - dù rằng chẳng có cái tôi nào và cũng chẳng có một người khác nào cả (tất cả chỉ là shunyata/sự trống không). Bodhicitta sẽ hiện ra khi cái tôi trần tục đã bị đâm thủng, thế nhưng thể dạng đó vẫn còn thuộc vào giai đoạn trước sự hiển lộ thật sự của cái tôi siêu nhiên. Bodhicitta chỉ thật sự hiện ra khi nào chúng ta không còn tìm kiếm sự Giác Ngộ cho cái gì đó mà chúng ta gọi là cái tôi (cái ngã) của mình - thế nhưng đấy cũng vẫn chưa phải hoàn toàn là vì người khác. Vì thế Bodhicitta chỉ có thể hiện ra giữa giai đoạn thứ ba và thứ tư, có nghĩa là giữa cái chết tinh thần và sự tái sinh tâm linh. Do đó Bodhicittahạt giống đưa đến sự tái sinh tâm linh. Trong lễ thụ phong người đệ tử tiếp nhận một cái gì đó trước cả sự hiển hiện của Bodhicitta, đó là câu mantra (do người thầy đưa vào bên trong người đệ tử qua các nghi thức thụ phong). Đấy là cách mà câu mantra trở thành "hạt giống của hạt giống" Bodhicitta. Tóm lại, sau khi được thụ phong chúng ta sẽ trở thành những người đi trước (rút ngắn giai đoạn bằng cách nhờ người thầy đưa thẳng hạt giống Bodhicitta vào bên trong chính mình, không cần phải chờ hạt giống đó hiển hiện nhờ vào luyện tập phát huy ước vọng thực hiện sự tốt lành cho tất cả các chúng sinh khác rất thật, và đâm thủng được cái tôi trần tục của mình). Phép thụ phong giúp chúng ta khởi hành sớm hơn, tách ra khỏi nhóm (tức là những người cùng bước đi với mình), ít nhất cũng là trên phương diện tâm lý, nếu không muốn nói là cả thể xác. Đấy cũng là cách mà chúng ta chết, chết vì nhóm (cái tôi trần tục bị đâm thủng) và cũng là vì niềm ước vọng đạt được Giác Ngộ (để tái sinh trên phương diện tâm linh). (Nói chung những gì trên đây là ý nghĩa của các nghi lễ thụ phong dành riêng - private ordination - cho một hay nhiều người đã hội đủ một số tiêu chuẩn nào đó. Điều này cho thấy không có gì là "mật" trong Phật giáo Tây Tạng để gọi "chi phái" này hay Phật giáo này là  "Mật tông". Chữ "Mật tông" (密宗/mì-zong) trong các kinh sách Hán ngữ là để chỉ một giáo phái được hình thành tại Trung quốc vào thế kỷ thứ VII dưới thời nhà Đường). Thật hết sức hiển nhiên, điều đó cho thấy chúng ta không phải chỉ ước vọng vì sự tốt lành của riêng mình, mà trên phương diện tối hậu là vì tất cả mọi người khác. Chính vì thế nên quả không là một sự ngạc nhiên khi cảm thấy vào chính lúc đó (trong khi lễ thụ phong đang diễn tiến) một tia sáng mong manh phản chiếu từ Bodhicitta hiện ra với mình, ít nhất là trong một vài trường hợp nào đó.

            Thắc mắc thứ ba là phép thiền định chỉ cần chú tâm vào tư thế tọa thiền thật nghiêm túc có nghĩa là gì? Thật hết sức khó giải thích dông dài một khi đã khẳng định:  chỉ cần ngồi thiền thật nghiêm tức cũng chỉ có nghĩa là chỉ cần ngồi thiền thật nghiêm túc " (đây là phép hành thiền của các học phái thiền học nói chung - nhất là các học phái Zen - khi các học phái này chủ trương chỉ cần chú tâm vào tư thế tọa thiền thật đúng đắn và nghiêm túc, sự giác ngộ hay Ngộ/Satori là một sự đột phát không cần tìm kiếm). Tuy nhiên ít ra người ta cũng có thể nêu lên một nhận xét là có những lúc người ta ngồi thật nghiêm túc, nhưng cũng có những lúc người ta ngồi không nghiêm túc. Đối với các phép thiền định khác thì không phải chỉ cần ngồi thật nghiêm túc là đủ, chẳng hạn như đối với các phép luyện tập về sự chú tâm hướng vào hơi thở, phép thiền định Metta bhavana (Lòng nhân ái vô biên) hay cách hồi tưởng lại sáu thành phần, v.v., thì không phải chỉ cần ngồi thật nghiêm túc là đủ, bởi vì tất cả các phép thiền định này đều đòi hỏi phải có một sự cố gắng ý thức (một sự cố gắng suy nghĩ, tìm hiểu, phân giải về một sự kiện hay một chủ đề nào đó). Thế nhưng phải cẩn thận không nên để cho sự cố gắng đó trở thành một sự ước mong quá đáng, hay một sự quyết tâm căng thẳng. Nếu muốn hóa giải các xu hướng này (tức là tình trạng thúc đẩy sự lý luận một cách quá mức) thì chúng ta có thể thực thi phép thiền định "chỉ cần ngồi thật nghiêm túc ", điều này có nghĩa là chúng ta sẽ thực thi phép thiền định "chỉ cần ngồi thật nghiêm túc" xen vào giữa các phép thiền định khác (khi cảm thấy mình đang có xu hướng thúc đẩy sự lý luận quá đáng thì nên chú tâm ngay vào tư thế ngồi thiền của mình xem có thật đúng đắn và nghiêm túc hay không hầu tái lập sự tập trung của mình). Điều đó cho thấy có những lúc năng hoạt (tức là đang luyện tập về sự chú tâm hướng vào hơi thở hay đang thực thi phép hành thiền Metta bhavana chẳng hạn), thế nhưng cũng có những lúc có thể xem nhưthụ động, hay thụ cảm (receptivity/tiếp nhận xúc cảm và các sự cảm nhận ngoài ý muốn của mình, tức là một thể dạng buông lỏng sự chú tâm của mình). Đó là một sự diễn tiến mang tính cách liên tục và xen kẽ: năng hoạt - thụ cảm -năng hoạt - thụ cảm, v.v., thí dụ: chú tâm vào hơi thở - chỉ cần tọa thiền nghiêm túc - Metta bhavana - chỉ cần tọa thiền nghiêm túc - hồi tưởng sáu thành phần - chỉ cần tọa thiền nghiêm túc - luyện tập sự Quán thấy - chỉ cần tọa thiền nghiêm túc, v.v. Trong khi hành thiền chúng ta cứ tiếp tục theo phương cách đó với một nhịp độ đều đặn và một sự thăng bằng hoàn hảo: có lúc chúng ta chú tâm, nhưng cũng có lúc chúng ta buông lỏng, chúng ta nắm bắt trở lại và lại buông lỏng, "năng hoạt" và "phi-năng-hoạt xen kẽ nhau. Đấy là cách giúp chúng ta hành thiền một cách hoàn toàn thăng bằng, có nghĩa là bao gồm toàn bộ hệ thống thiền định (nhà sư Sangharakshita không bác bỏ phương pháp thiền định "chỉ cần ngồi thật nghiêm túc" mà ghép chung với các phương pháp "hành thiền phân giải" để tạo ra một hệ thống thiền định chung)



Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
08/03/2015(Xem: 12937)
23/11/2010(Xem: 76159)
Hiện tượng của thầy Thích Pháp Hòa là hợp với logic của cuộc sống bất cứ thời nào. Bên cạnh ma quỷ luôn có thánh thần, bên cạnh ác tăng luôn có những cao tăng kềm chế. Nếu kẻ lợi dụng mảnh áo cà sa để hướng dẫn Phật tử vào chốn u minh nhằm bóc lột tiền tài, công sức của họ, bằng cúng dường bằng tà thuyết phải cúng Phật mới được siêu sinh thì thầy Pháp Hòa mở ra từng pháp thoại có khả năng giác ngộ người nghe thầy thuyết giảng. Thầy khẳng định những điều đơn giản nhưng hiếm người hiểu rõ, đó là: “Phật Giáo là một triết lý, một lối sống để tìm đến sự an lạc trong tâm hồn, không phải là một tôn giáo vì Phật không phải là đấng toàn năng để có thể ban phước lộc cho người này hay trừng phạt người kia.”
Hãy cẩn trọng với giọng nói, video và hình ảnh làm từ trí tuệ nhân tạo AI: một số người hoặc đùa giỡn, hoặc ác ý đã làm ra một số sản phẩm tạo hình giả mạo liên hệ tới các tu sĩ Phật giáo. Những chuyện này đã được nhiều báo Thái Lan và Cam Bốt loan tin. Trong khi chính phủ Thái Lan xem các hình ảnh giả mạo tu sĩ là bất kính, cần phải ngăn chận ngay từ mạng xã hội, nhiều nước khác, như tại Hoa Kỳ, chuyện này không được chính phủ can thiệp, vì xem như chỉ là chuyện đùa giỡn của một số người ưa giỡn. Bởi vì rất nhiều người trong chúng ta không phải là chuyên gia về trí tuệ nhân tạo để phân biệt hình giả và hình thật, nên thái độ phán đoán cần được giữ cho dè dặt, cẩn trọng.
Bài viết này chỉ là những suy nghĩ rời. Nói theo ngôn ngữ thường dùng là viết theo thể văn tản mạn. Nghĩa là, không phải sắp xếp, lý luận theo một hệ thống. Bài viết khởi lên từ cuộc nói chuyện rời trong khi ngồi trên xe của nhạc sĩ Tâm Nhuận Phúc Doãn Quốc Hưng từ Quận Cam tới tham dự một Phật sự tại Riverside, California.