Bát Phong xuy bất động

10/08/20203:45 CH(Xem: 2666)
Bát Phong xuy bất động
BÁT PHONG XUY BẤT ĐỘNG
Lời giảng của Sư Cô Thích Nữ Như Thủy

thich nu nhu thuySau đây là bài thuyết pháp "Bát Phong Xuy Bất Động" của Sư cô Như Thủy. Đạo hữu Lưu Minh Quyền đã chép lại từ băng ghi âm, đạo hữu Châu Ngọc đã đánh máy lại, và đạo hữu Minh Quang (BuddhistI@aol.com) gửi đăng trên diễn đàn truyền thông vn-buddhism@saigon.com ngày 14-06-1998

Hôm nay tôi xin nói với quý vị một đề tài mà khi còn là một cư sĩ tôi thắc mắc. Đó là khi tôi đọc về kinh điển của Nam Phương cũng như của Bắc Phương trong đó có nói về Đức Phật sơ sinh, tức là Đức Phật ngồi ở tượng chúng ta thờ đây, Đức Phật Thích Ca.

Theo như trong sử nói, lúc Ngài mới sinh ra thì từ ở trên hư không có hai dòng nước, một nóng, một lạnh, xối xuống và Đức Phật sơ sinh tắm, đó là một truyền thuyết. Truyền thuyết thứ hai là Long Vương Bát Hải, tức là tám biển, đến và xịt cái vòi rồng cho Đức Phật sơ sinh của mình tắm.

Tôi nhớ, tôi học được chuyện đó từ năm chưa tới mười tuổi. Lần đầu tiên, khi học chuyện đó tôi đưa tay lên thắc mắc với vị giảng sư; tôi nói, “Con nghĩ một đứa con nít mới sinh ra là bà mẹ phải tắm trong cái thau, và nước rất là ấm hoặc là nhẹ nhàng; mà hai dòng nước của hai ông rồng từ trên hư không dội xuống, hoặc là tám con rồng phun xuống, giống như là tám cái máy bơm vậy đó, thì làm sao chịu cho nổi! Thành ra, con không tin sự kiện đó.”

Tôi nhớ vị giảng sư đó, ngài cười, ngài nói như thế này, “Bởi vậy mới gọi là Phật con; qua được mấy dòng nước đó mà còn sống mới gọi là Phật con, qua không nổi thì coi như phàm phu.”

Từ đó tôi mới hiểu ý nghĩa này. Hóa ra trong kinh có nói những cái nghĩa đen, những cái nghĩa bóng. Có nghĩa là khi một người được sinh ra trên thế gian này, dù người đó là Phật, là phàm phu, là thánh nhân đi nữa, ít nhất đầu tiên chúng ta cũng bị tắm bởi hai dòng nước, lạnh và nóng, tức là Nghịch và Thuận; nếu qua được thì được gọi là người giác ngộ, là thánh nhân, là Phật; còn nếu không qua nổi thì thuộc về phàm phu. Và nói về tám dòng nước tức là Bát Phong. Bây giờ chúng tôi đã được Thầy dạy cho cách qua được, cách tắm hai dòng nước, hay là cách tắm giữa tám dòng nước.

Làm sao khi sinh ra ở thế gian này, giữa những cảnh Nghịch và Thuận người ta chia ra làm bốn cặp là Được-Mất, Khổ-Vui, Khen-Chê, và Tiếng Tốt-Tiếng Xấu, giữa những cái đó mà chúng ta vẫn tự tại được, thì chúng ta được gọi là một người Phật tử, còn không thì là phàm phu.

Do đó, ở trong lớp học, khi học trò đến mừng tuổi, vào tuổi hạ hoặc vào tuổi đời, tôi hay bắt học trò trả bài, bằng cách định nghĩa chữ “Phật tử.”

Quý vị hiểu Phật tử là cái gì?

Ta thường nói Phật tử là con Phật, nhưng tôi không bằng lòng; vì nếu mình dịch Khổng tử là Đức Khổng, thầy Khổng, Mạnh tử dịch là thầy Mạnh, thiện nam tử là ông thiện nam, thì Phật tử là vị Phật hay ông Phật. Đó là cách tôi dạy học trò: Phật tử có nghĩa là vị Phật.

Như vậy, sự khác nhau giữa Phật giáo và các tôn giáo khác là khi chúng ta mới bước chân vào chùa quy y và nhận cái pháp danh thì chúng ta được gọi là Phật tử, có nghĩa là một vị Phật. Nhà Thiền nhấn mạnh cái ý nghĩa Phật tửchúng ta làm sao tự tại giữa Bát Phong hay là tắm giữa hai dòng nước Thuận và Nghịch mà chúng ta vẫn không đau khổ. Hiểu được điều đó thì gọi là một vị Phật, qua không được điều này thì được gọi là phàm phu.

1. Được và Mất

Trước hết, chúng ta coi hai dòng nước đầu tiên là Được và Mất. Thường thường nếu chúng ta Được thì mừng, Mất thì buồn; chúng ta cho Được là may mắn, là hạnh phúc, và Mất là thất bại, là đau khổ. Tôi xin kể một câu chuyện trong Cổ Học Tinh Hoa để quý vị thấy cái Được cái Mất rất là phù du, và không thể nào hiểu được Được và Mất, cái nào là hạnh phúc, cái nào là đau khổ hết.

Có một ông họ Tái, cho nên người ta gọi là Tái ông; một hôm con ngựa yêu quý và tốt nhất trong nhà ông nó lạc đi đâu mất, tức là bị mất. Vậy hàng xóm mới đến chia buồn và nói, “Tội nghiệp ông cụ quá, người nhân từ phúc hậu như vậy có con ngựa quý mà mất.”

Tái ông mỉm cười và nói, “Cũng chưa chắc, biết đâu trong cái rủi, có cái may.”

Mà may thiệt, vài bữa sau con ngựa đi lạc đi trở về và dắt theo con ngựa còn đẹp hơn nữa, là ngựa bạn của nó. Khi đó hàng xóm đến chúc mừng, và nói, “Đúng là người có phước, tưởng đâu là mất hóa ra còn được con ngựa khác.”

Nghe vậy, ông cụ cười và nói, “Cũng chưa chắc, biết đâu trong cái may có cái rủi!”

Và rủi thiệt, là người con trai độc nhất của ông thấy con ngựa mới về hay quá, tốt quá, cho nên cậu mới leo lên cưỡi và té xuống bị gãy chân. Khi đó, hàng xóm mới đến chia buồn, nói, “Tội nghiệp ông cụ quá, có một người con trai mà bây giờ bị gãy chân, có tật; như vậy là rủi phải không?”

Thì ông cụ nói, “Chưa chắc, biết đâu trong cái rủi có cái may!”

Mà may thiệt; khi đó, nhà vua bắt thanh niên đi lính thú, thì cậu con trai này nhờ bị gãy chân cho nên được ở nhà và sống với cha già trọn vẹn.

Chuyện đó còn kéo rất dài. Cho nên theo luân lý của Đông phương là khoan mừng và khoan buồn, tại vì trong cái may có cái rủi, trong cái rủi có cái may.

Riêng trong nhà Thiền, Tổ Bồ Đề Đạt Ma có dạy là khi chúng ta gặp chuyện bất như ý thì ngay khi đó, chúng ta nên tu hạnh báo oán, tức là nghĩ rằng chuyện đó không phải khi không mà có, mà do cái duyên xấu của mình. Thì thôi, hồi trước mình gieo nhân xấu, bây giờ mình chịu quả xấu, cho nên gặp khổ không buồn, hay là gặp những điều bất như ý, chúng ta không buồn; còn khi chúng ta gặp cái may mắn thì cũng khoan mừng, tại vì cái này là do phước báu của mình, còn phước thì mình hưởng, hết phước thì thôi. Thành ra được may mắn cũng không tự tôn, hay tự kiêu, đó gọi là tùy duyên hạnh. Hiểu được điều này thì đứng trước cái Được cái Mất, chúng ta sẽ tự tại.

2. Khen và Chê

Thường thường, nghe lời khen chúng ta mừng lắm, mà nghe lời chê là chúng ta buồn. Tôi không có dịp chung đụng ngoài đời như quý vị, nhưng có một vị Phật tử miền Tây lên kể cho tôi một câu chuyện như thế này, “Con là một người có bằng cấp, có nhan sắc, có tiền tài, tức là có mọi thứ phụ tùng để khỏi nương tựa vào một người đàn ông khác, và nhất là con có nghề nghiệp; khi con chọn nghề dạy học, hồi trước, là con muốn sống tự lập, để phụng dưỡng ba má rồi thôi, sau này rảnh rang thì tu hành.”

Tức là cô này có tất cả lợi khí mà một người thiếu nữ mơ ước, và cô không lập gia đình, chỉ muốn sống độc thân, tự lực cánh sinh, rồi phụng dưỡng ba má thôi. Cô ấy nói, “Con sống như vậy đến hai mươi lăm tuổi thì bắt đầu nghe hàng xóm họ xầm xì, họ nói cái bà ấy vô duyên thành ra không ai dám rước, rồi cái thứ hai nữa là họ phê bình, ba má ăn ở không có đức thành ra con ế.”

Sau khi nghe bị chê như vậy, cô ấy tức quá, cổ nói, “Con lấy chồng liền để chứng minh cho họ biết rằng mình không ế và nhà mình không phải người vô phước.”

Sau khi cô ấy lập gia đình xong thì cô nghĩ rằng thời đó là thời chinh chiến, ông chồng thì đi lính đi tráng, mà mình ở nhà vừa cưu mang cha mẹ chồng, vừa cưu mang cha mẹ mình, nếu có con cái nữa thì khổ dữ lắm; hơi sức đâu và công sức khỏe ở đâu mà bỏ ra để lo cho con cái nữa, thành ra cô ấy không dám sinh con.

Cô sống đến gần ba mươi tuổi thì bắt đầu nghe họ xầm xì, nói là, “Chị thấy không, cây độc không trái, gái độc không con đó,” tức là cô ấy không sinh con, người ta nói là cô ấy độc ác thành ra không có con.

Thành ra cô ta tức quá, chịu cho đến năm ba mươi tuổi, cô ta sinh một hơi năm đứa con, cứ mỗi năm một đứa vậy. Lúc đó cô vừa đi dạy, vừa lo nuôi năm đứa con; ông chồng thì đi lính đóng miền xa, còn cổ lo cưu mang gia đình bên chồng, gia đình bên mình, thành ra nhan sắc tàn phai, đầu bù tóc rối, lúc đó mệt quá không còn nghĩ gì hết… thì bây giờ ông chồng bắt đầu “vườn mới thêm hoa,” có nghĩa là có bà vợ bé.

Khi đó cổ nói chồng của cổ mà như vậy thì còn khỏe cho cổ, “Mình bao nhiêu đây đủ mệt rồi, ai rinh ổng đi tôi còn bù lỗ thêm nữa.”

Nhưng không ngờ lúc đó người ta xúm chung quanh, người ta xúi cổ, “Sao chị ngu quá vậy, chị để cho nó đập nát gia đình chị! Chị làm tới đi, tụi tui phụ, chị phải đi rạch mặt con nhỏ đó, giựt ổng về đây chớ!” tức là xúi, xúi riết, từ từ cho đến năm băm bảy, băm tám tuổi gì đó, cổ cầm lòng không đậu, cổ thấy mình ngu thiệt, cho nên cổ cùng một nhóm bạn gái đi đánh ghen.

Cạo được cái đầu của tình địch, đổ lên đầu nó một bình mực rồi giựt được ông chồng về. Khi đó đám bạn bè của cổ xúi cổ, “Bây giờ chị chạy đi, kiếm tiền chạy cho ổng về gần nhà đi thì ổng không có lẹo tẹo với ai hết!”

Giựt được ổng về rồi, chạy được cái giấy hoãn dịch cho ổng về sum họp gia đình rồi, thì bây giờ thêm cái nợ nữa là hầu chồng. Mà ổng về ổng còn làm eo, ổng không làm gì nữa, ổng đi ra đi vô, rồi ăn hàng hút thuốc, nghĩa là đi chơi không, hoàn toàn giao cả bầy con, gia đình chồng, gia đình cổ cho cổ lo nuôi, còn thêm cưu mang một ông chồng nữa. Cô nói cô giữ vững hạnh phúc gia đình được cho tới bây giờ, hơn sáu mươi tuổi rồi; con cái gả hết rồi, và ổng mất rồi, coi như cổ khoẻ; thì bây giờ người ta đến chia buồn, “Tội nghiệp chị quá, sao ở có một mình!”

Cổ nói, “Nếu con còn son trẻ chắc con bước thêm bước nữa quá, vì họ xúi.”

Quý vị thấy không? Như vậy chúng ta thấy những lời khen, tiếng chê đó có giá trị thật hay không?

Hóa ra chúng ta quá ngây thơ khờ dại! Quý vị thấy rõ chỗ này chớ! Thành ra vị nữ Phật tử đó sau khi kể cho tôi nghe câu chuyện của bà, bà nói, “Bây giờ đi chùa, con mới thấy con ngu, là mình cứ sống theo mình chứ mắc mớ gì sống theo lời khen chê của người khác; vì lời khen chê của người ta mà suốt đời con khổ, đến bây giờ hoàn toàn tay trắng. Biết được cảnh này, thời con gái thà rằng con sống phòng không gối chiếc còn khỏe hơn.”

Nói về khen và chê, tôi đọc trong kinh thấy chưa ai mà bị chê như Đức Phật hết, và trong Trường Bộ Kinh có ghi một câu chuyện:

Một hôm Đức Phật đi trước, có một đám sa môn ngoại đạo đi theo phía sau; những vị sa môn trẻ mới khen Đức Phật là một vị có trí huệ, biết bỏ cung vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con xinh, để đi tu, và là một vị giáo chủ xứng đáng nhất của thời đó. Khi nghe như vậy, các vị tỳ kheo tùy tùng Đức Phật rất là khoái chí, tại vì người ta khen ông thầy mình, mình cũng được thơm lây.

Rồi lát sau gặp một người nói rằng, “Đức Phật là người phá hoại sự sống; trên đời này có những niềm vui là tài, là sắc, là ăn, là ngủ, thì ổng đã phủ nhận rồi; mà những người đi theo ổng, ổng cũng cấm không cho xài những thứ đó nữa, đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai, Đức Phật là người phá hoại gia cang của người ta; ổng đi tới đâu thì vợ mất chồng, con mất cha, tại vì người ta bỏ đi tu theo ổng hết; và nhà tan, cửa nát, là cũng một tay ổng.”

Như vậy, mình thấy khen cũng có, chê cũng có. Nghe như thế đó, Đức Phật ngài vẫn bình tĩnh, trong khi đó các vị tỳ kheo rất là bực bội. Lúc đó Đức Phật mới dẫn các môn đệ ngồi xuống rồi Đức Phật mới thuyết một bài pháp như thế này, “Khi nghe lời khen tụi con khoan mừng, vì mừng thì sẽ mất bình tĩnh, mà hễ mất bình tĩnh thì không biết người ta khen đúng hay khen sai; và khi nghe người ta chê thì con đừng có buồn, vì buồn thì sẽ mất bình tĩnh, mà mất bình tĩnh thì không biết lời chê đó đúng hay sai.”

Thành ra chúng ta sống trên thế gian này, phải nghe lời khen tiếng chê để chúng ta biết mà sửa mình, nhưng phải bình tĩnh, nghĩa là khoan mừng, khoan buồn, khoan giận, khoan ghét, thì chúng ta mới sáng suốt để nhận thức được điều đó đúng hay sai, và chúng ta sẽ chỉnh những cái sai thành những cái đúng.

3. Khổ và Vui

Thế nào là khổ và thế nào là vui? Thường thường phân biệt hai cái khổ: cái khổ tâm lý và cái khổ sinh lý.

Khổ sinh lý

Cái khổ sinh lý ở đây là cái khổ lệ thuộc vào thân. Chẳng hạn chúng ta khổ vì chúng ta bị bệnh, khổ vì chúng ta bị già, khổ vì chúng ta bị bệnh hoạn bức bách, hoặc đói bụng, thế này thế khác, thì những cái khổ này chúng ta có thể thoát khỏi được. Bệnh thì chữa bệnh cho hết, đói bụng ăn cơm cho no thì hết đói. Chúng ta có thể chỉnh cái khổ sinh lý này, tức là thuộc về thân.

Tôi nhớ khi nghe Thầy dạy về bộ Kinh Kim Cang. Trong kinh có kể một câu chuyện về tiền thân của Đức Phật Thích ca, khi Ngài còn là tu nhân, có ông vua tới hỏi ngài tu hạnh gì, Ngài nói là Nhẫn. Khi đó ông vua mới chặt Ngài một cái tay, hỏi, “Nhẫn được không?”

Ngài trả lời, “Nhẫn được.”

Chặt thêm cái tay nữa, Ngài vẫn nói, “Nhẫn được.”

Rồi chặt hai chân, thẻo mắt, thẻo lỗ tai mà Ngài vẫn nhẫn được.

Khi nghe tới đó tôi nghĩ, “Con người của Ngài không biết đau cho nên Ngài nhẫn được, còn ai nhéo mình một cái là mình la làng rồi, làm sao nhẫn cho được.” Thành ra tôi mới nói với Thầy, “Con mà thân không biết đau, không còn cảm giác, con sẽ làm Bồ tát. Còn bây giờ, hãy còn đau, nên con không làm Bồ tát đâu!”

Thầy đưa thí dụ, “Giả sử như bây giờ, một đứa con nít năm tuổi bị bệnh, má nó mời ông y tá đến chích thuốc; khi ông y tá chích thuốc, cây kim găm vô thịt của nó thì đứa bé đau, nó la khóc, rồi sau đó nó hận, nó không thèm nhìn mặt ông y tá nữa. Đó là thái độ của con nít. Nhưng đến khi mà một người lớn bị bệnh thì người lớn tự động đi tìm bác sĩnăn nỉ bác sĩ tiêm thuốc cho mình. Cây kim tiêm vô da thịt người lớn có đau không? Đau chớ! Con nít đau, người lớn cũng đau chớ! Nhưng mà người lớn có trí thông minh, biết là đằng sau mũi kim tiêm này chúng ta hết bịnh cho nên cám ơn, trả tiền ông y tá, và bữa sau gặp ổng còn tay bắt mặt mừng nữa; còn đứa con nít thì nó ghét đi, nó hận ổng tới lớn.

“Như vậy, bị đau thì người lớn đau, con nít cũng đau; nhưng người lớn có trí huệ cho nên chịu cơn đau đó mà mang ơn cái người làm cho mình đau; đứa con nít trái lại, sau khi rút mũi kim ra rồi, từ đó về sau nó gặp ông y tá nó sợ và nó oán ổng là bởi vì nó chưa có trí huệ.

“Ở đây cũng vậy, các vị Bồ tát hay Phật khi mang thân phàm phu như con, các Ngài vẫn đau, tức là vẫn đói, vẫn bệnh, vẫn khổ, nhưng mà các Ngài có trí huệ, biết cái thân này là hư giả, là vì trí huệ của các Ngài mạnh, thắng lướt được cơn đau thể xác.”

Khổ tâm

Bây giờ bước qua cái đau tâm. Giả sử có một người đến chửi bới mình, và người đó tát mình một bợp tai, đó là cái đau của thân, đau sinh lý. Nhưng nếu người này không tát mình, người này lại chửi mình “đồ vô duyên, đồ vô học” hay gì đó, thì chúng ta cũng cảm thấy đau. Tuy cái đau này không có tổn thương đến thể xác mình, nhưng chúng ta vẫn thấy đau, và đây là cái đau về tâm thần.

Chúng ta thấy đau vì người đó nhục mạ mình, coi mình không ra gì. Giả sử họ chửi “đồ giả dối, đồ vô học” tới cùng năm người, đến lỗ tai năm người cùng lúc, nhưng chỉ có một người bị trúng tên thôi, thì người đó là người chấp ngã.

Chẳng hạn như bây giờ tôi nói với quý vị: “Đồ vô học!” sau khi tôi nói như vậy, quý vị không biết là tôi nói ai, thành ra chửi bông lông như vậy, cả một trăm cái lỗ tai ở đây đều nghe hết, nhưng mà chưa thấy đau. Nhưng nếu bây giờ tôi nói rằng tôi nói là tôi nhắm đến một bà, bà đó ở Châu Đốc mới lên, thì bây giờ, mấy người ở Châu Đốc đều rúng động hết. Nếu tôi nói bà đó bả bán đồ chay, bả tên là cô Út chẳng hạn, thì một người này bị thôi, mấy người kia trắng án, quý vị thấy không? Như vậy mình thấy, âm thanh là những làn sóng đến lỗ tai mình bình đẳng, nhưng mà người nào chấp cái chữ cô Út là tên mình, thì người đó thấy đau khổ, còn những người không thấy chữ cô Út là mình, thì người này thấy khoẻ dữ lắm.

Bây giờ, để cho cô Út buồn bã đã đời, rồi tôi mới nói, “Quý vị chưa hiểu chữ vô học đó; ở trong nhà thiền, ở trong nhà Phật đó, hữu học là những người còn tham sân si, còn phải học tu mới đạt đến bậc vô học. Vô học là người đã hết trơn phiền não, đã chứng A La Hán rồi. Thành ra ở trong này chỉ có cô Út là người vô học.” Nghe như vậy, tức thì cô Út khoái chí quá, tự nhiên cơn đau đó nó mất.

Như vậy cái đau, cái buồn về tâm lý nó phát xuất từ đâu?

Trong kinh, chúng tacâu chuyện về Phá Táo Đọa. Có một vị Thiền tăng nọ, không biết tên gì, chỉ ghi là ông đi qua một thôn xóm kia, thấy người ta đang giết heo để cúng thần Táo. Ông mới hỏi là, “Thần Táo ở đâu, ra sao?”

Dân địa phương mới nói, “Ông thần Táo ổng linh dữ lắm, người nào qua đây mà giở nón, cúi đầu chào, và giết thú vật cúng ổng thì cầu gì được nấy. Còn người nào qua miếu ổng mà không tụt xuống bái lễ thì ổng sẽ bắt bệnh, có khi ổng giật cho hộc máu nữa, thành ra ổng rất là linh.”

Vị Thiền tăng nghe nói mới tò mò đi vô miếu thờ ông Táo; vô trong đó chỉ thấy ba ông đầu gạo, tức là ba cục gạch bắt thành cái bếp, còn ngoài ra không thấy gì hết. Vị Thiền tăng mới đứng mà nói thế này, “Ủa, nghe nói linh thiêng lắm mà sao chỉ có ba cục gạch hà; ba cục gạch này mà thiếu một cục thì không thành cái bếp được. Mà phải ba cục bắt trong tư thế này mới thành cái bếp. Hóa ra nhờ bắt tình cờ mà thành cái bếp, không biết linh thiêng chỗ nào?”

Ông vừa nói tới đó, thì ba cục gạch rã ra thành bụi hết. Ông sợ bị người ta bắt lỗi là cái miệng ăn nói tầm bậy tầm bạ, làm sập đồ của người ta, cho nên ông lật đật bỏ đi. Khi ra đi được một dặm đường, ông thấy có một cụ già mặc áo sậm quỳ bên vệ đường và nói, “Con xin đảnh lễ thầy ba lạy, cám ơn thầy vì con mà thuyết pháp vô sinh.”

Vị Thiền tăng này rất đỗi ngạc nhiên, “Ủa, mà tôi có gặp cụ lần nào đâu?”

Khi đó ông già mới nói, “Con nguyên là một vị quỷ thần đi ngang qua vùng này, con vào trú mưa trong cái miếu, và thấy ba cục gạch bắt như vậy, thì con chấp vào ba cục gạch và cái miếu này, con cho là thân con. Cho nên khi ai đi ngang mà cúi đầu, thì con cho là kính trọng con, và cúng dường thì con ban phúc; còn người nào đi ngang mà không cúi đầu, con cho là khi dễ, con sẽ giáng họa. Vì ba cục gạch chấp là thân mình cho nên con tạo không biết bao nhiêu là nghiệp ác và nghiệp thiện trong thời gian qua.

“Hồi nãy trong lúc con đang chứng kiến cuộc tế lễ thì nghe thầy nói, ‘Ba cục gạch bắt thiếu một cục không thành, linh thiêng ở chỗ nào?’ thì con mới khám phá ra rằng, trong thời gian vừa qua, con ngu quá thành ra con bị cột vào cái miếu này không đi đâu được hết; nhờ thầy nói, cảnh tỉnh cho con biết ba cục gạch đó không phải là thân con, cho nên ngày hôm nay con là một vị thần tự do, đi đâu tùy ý, không cần phải cột vào đây để làm tôi mọi cho cư dân vùng này bằng cái lời khen chê nữa.”

Câu chuyện đó mình không biết là thiệt hay hư; nhưng ông thần Táo này là một người tự do, mà vì chấp ba cục gạch là của mình cho nên ổng ban phúc, giáng họa và tạo không biết bao nhiêu nghiệp thiện và nghiệp ác để làm vừa lòng cư dân chung quanh mà mua lấy những lời khen chê; bây giờ, khi khám phá ra ba cục gạch không phải là của mình thì ổng được giải thoát.

Ở đây, chúng ta thấy rằng, chúng ta khi sinh ra đời, thân mượn tinh cha, mượn huyết mẹ, mượn đồ ăn, mượn sữa, mượn cơm, mượn gạo và đấp đổi để nuôi thành cái thân này. Và chúng ta cũng chấp vào thân này là mình cho nên ai đi qua mà giở nón, cúi đầu, ai mà cúng dường, tôn trọng cái thân này thì chúng ta ban phúc, còn người nào khi dễ, chê bai, không giở nón, cúi đầu thì chúng ta giáng họa. Cho nên, khi chúng ta chấp vào thân này là mình, thì chúng ta bị đọa đầy vào cái thân này; còn không chấp thân này là mình, thì chúng ta vẫn có thể sử dụng thân này mà giải thoát.

Cái tu đầu tiên của người Phật tử trong chùa là phá ngã, tức là phải nhìn cho đúng vào cái ngã của mình, thực chất nó là cái gì? Quý vị nhớ khi chúng ta được sinh ra đời, một tấm tã cũng không có, bây giờ ít nhất đồ phụ tùng cũng rất nhiều; khi chết đi, chúng ta cũng đem theo ít nhất là một rương. Nhưng rồi tất cả cũng đều trở về cho cát bụi hết. Chúng ta còn là cái gì? Như một người cỡi chiếc xe Honda, khi phải đi đây đi đó, thì chúng ta phải sử dụng cái xe; mà cái xe đó phải đổ xăng đổ nhớt, phải bảo trì để chúng ta đi. Nhưng mà nhớ là xe không phải là mình! Giả sử họ chê cái xe này xấu quá, cổ lỗ sĩ quá thì mình cũng đừng buồn; chê là chê cái xe chứ không phải là chê mình.

4. Tiếng TốtTiếng Xấu

Tôi đang trình bày những cặp Được-Mất, Khen-Chê, Tiếng Tốt-Tiếng Xấu, Khổ-Vui, tất cả đều là tương đối thôi, không biết cái nào là khổ, không biết cái nào là vui. Và thường thường chúng sinh ưa cái vui, ghét cái khổ, ưa cái khen, ghét cái chê, ưa tiếng tốt, ghét tiếng xấu, và ưa cái được, ghét cái mất; trong khi đó trong nhà Thiền, người ta sử dụng nghịch cảnh để tu.

Như vậy ngày hôm nay, tôi trình bày về Bát Phonggiả sử quý vị được thuận cảnh, thì điều đó đáng mừng, phước báu dữ lắm mới xuôi chèo mát mái giữa thế gian này; nếu quý vị rủi ro gặp nghịch cảnh, thì cũng nên mừng đi, sắp ngộ đạo tới nơi. Trong nhà thiền có nói thế này: “Chỗ mà phàm phu sợ bắt chết là chỗ thánh nhân đại ngộ.” Thành ra khi gặp những cảnh làm mất, khi bị chê, khi bị tiếng xấu, và khi gặp cảnh khổ, chúng ta khéo một chút xíu thì đây là chân trời mới được mở ra.

Chuyện kể, có một vị hòa thượng có năm trăm đồ đệ, tuổi già, bệnh hoạn mà chưa có đồ đệ nào giác ngộ để nối pháp; bữa đó, ổng lập mưu để chọn nhân tài kế thế cho ông. Ông cứ lâu lâu lén giấu một món đồ trong chùa, rồi ông phao tin là mất, cho nên tăng chúng rất là hỗn loạn, vì cứ thấy mất tiền, mất đồ hoài, và ai cũng bực, muốn tìm cho ra tên ăn trộm trong chúng này.

Một bữa ông đang ngủ, ông la lên, “Ăn trộm, ăn trộm!”

Tên đệ tử cưng nhứt và mạnh dạn nhứt của ông đang ở bên ngoài, nghe vậy chạy vô thiệt lẹ. Ông thộp ngay cổ áo và nói, Bắt được rồi.”

Khi đó tên đệ tử nói, “Không, con nghe la ăn trộm, con chạy vô phụ thầy bắt ăn trộm.”

Ổng nói không, ổng bắt được rồi! Và khi đó mọi người lục tục kéo tới. Giả sử quý vị tới đây, thấy thầy nắm áo tôi, thầy nói bắt được tôi ăn trộm, quý vị tin lời thầy chứ đâu có tin lời tôi. Cho nên vị đệ tử này bị khai trừ ra khỏi chùa; và ông thầy còn viết giấy truyền cho các chùa xung quanh không được chứa, vì nó là cái tên mà bữa nay cháy nhà mới ra mặt chuột, lâu nay trong chùa mất không biết bao nhiêu đồ đạc, mà bữa nay mới bắt được quả tang.

Tên đệ tử, ngày hôm qua còn là thượng thủ trong chùa, còn là người mô phạm dạy dỗ em út, bữa nay bị mang tên là ăn trộm và bị đích thân thầy mình viết bảng và khai trừ. Nó đau khổ kinh khủng. Suốt ba ngày đau khổ như vậy, đi đứng nằm ngồi không yên gì hết, bao nhiêu kinh điển mình học, mà bây giờ gặp nghịch cảnh mình qua không được.

Cho nên tên này mất ăn mất ngủ, đến bữa thứ ba, chạy đến phòng thầy gõ cửa. Ông thầy hỏi có chuyện, nó nói, “Con ngộ rồi.” Khi đó hòa thượng mới truyền y bát cho đệ tử này; và ổng mới nói, chuyện ăn trộm là tạo lập ra để đưa người đệ tử vô cái khổ cùng cực.

Như vậy, nếu không có gặp cái khổ kinh khủng này, người đệ tử không ngộ đạo. Mà giả sử người nào yếu, khi bị vu oan như vầy, dám đi đến chỗ tự vận. Còn người nào mạnh, bắt buộc phải đem tất cả vốn liếng kinh điển, bao nhiêu công lực của mình để chống đối với cái khổ. Ngày hôm qua cái ngã mình được khen, được danh thơm, được vui sướng, được hạnh phúc; chỉ một lời nói của ông thầy là bị đảo lộn qua cái mất, qua cái thất bại, qua tiếng xấu và qua cái khổ đau. Nếu mà vượt qua được cái này, thì gọi là tối thượng thừa, cho nên sau ba ngày, người đệ tử ngộ ở chỗ này, ông thầy truyền Y Bát lại.

Cảnh khổ là nấc thang cho bậc anh tài, một kho tàng cho người hiểu biết, và một vực thẳm cho người yếu đuối. Ông thầy biết rõ người đệ tử qua được cảnh huống này, và phải tạo cho nó cái khổ cùng cực nó mới qua được. Như vậy gặp nghịch cảnh người này qua được, qua được rồi thì thành một vị Phật chớ gì, thành ra được Tổ truyền y.

Làm sao đạt được Bát Phong Bất Động?

Cuối cùng tôi xin kể một câu chuyện để truyền kinh nghiệm chống chỏi với Bát Phong. Chuyện kể thế này:

Có một chàng chiến sĩ nọ, con của một kiếm sĩ lừng danh, nhưng mà cha không truyền nghề, nói anh không có cái thiên tài, cái khả năng để học nghề cung kiếm. Anh buồn quá vì thấy bao nhiêu người đến học và thành tài, trong khi mình là con cưng mà cha không truyền, cho nên anh đến một vùng khác, tìm một ông kiếm sư khác cũng nổi danh như ba mình để xin học. Anh đến nói với ông kiếm sư đó thế này, “Con còn cha già, mẹ già, và bổn phận phải phụng dưỡng ba má, xin ngài dạy cho con biết hết kỹ xả của nghề kiếm. Con học bao lâu mới thành tài?”

Ông thầy nói, “Bộ vó của ngươi cỡ mười năm!”

Anh ấy nói, “Mười năm lâu quá đi, là tại vì con phải phụng dưỡng ba má, và có biết là bao nhiêu bổn phận chờ đợi. Bây giờ con xin thầy, con sẽ làm một người ở đợ không công, gánh nước, nấu ăn, và làm tất cả những việc như một người ở mà xin thầy đem hết tất cả tài nghệ truyền cho con. Con trả giá học và chuyên cần như vậy, học suốt ngày đêm không quản ngại điều gì hết, thì thầy nhắm con bao lâu?”

Ông Thầy nói, “Cả cuộc đời còn lại của ngươi đó!”

Khi đó, người đệ tử mới nhận ra cái khuyết điểm của mình là quá nôn nóng đi; và nôn nóng thì không thể học được gì hết, cho nên anh ta không đòi nữa. Anh mới đến nên anh làm những chuyện rất bình thường, như quét nhà, nấu ăn, bửa củi, đi chợ, ẵm con cho ông thầy. Ba năm như thế trôi qua, ông thầy không nói chuyện gì về cung với kiếm hết. Biết bao nhiêu chàng thanh niên đến học, tốt nghiệp ra đi, mà anh chàng này chưa bao giờ được rờ tới thanh kiếm.

Một hôm anh buồn bã, đang ngồi chẻ củi thì ông thầy núp đằng sau và phóng vào lưng anh một thanh kiếm gỗ. Thanh kiếm đó dù bằng gỗ nhưng rất đau. Từ đó, bất cứ lúc nào, ngủ hay là thức, ở bên vườn rau, ở ao cá, ở ngoài chợ, trong bếp nấu ăn, bất cứ ở đâu, ông thầy cũng lén đánh anh bằng thanh kiếm gỗ hết; cho nên anh bắt buộc đặt mình trong trạng thái đề phòng, để né thanh kiếm gỗ của ông thầy.

Ông thầy đánh lén như vậy được ba năm, thì anh chàng này cũng phát triển khả năng tránh né đường kiếm bất cứ từ đâu, dù trong bóng tối, ánh sáng, trước mặt hay sau lưng. Khi đó ông thầy tổ chức một buổi lễtuyên bố người đệ tử đã thành nghề. Đây là người đệ tử tuyệt luân, ưng ý nhất mà ông tìm kiếm.

Có nghĩa là khi chúng ta né tránh được những đường kiếm đánh lén thì sẽ né được những đường kiếm đánh trước mặt. Ông thầy truyền nghề đánh kiếm lại cho anh chàng này bằng kiểu đó. Học kiếm mà không có học về lý thuyết mà cũng không có thực hành gì hết, chỉ né những đường kiếm đánh lén mà người này thành nghề; nghệ thuật đó gọi là kiếm đạo trong nhà thiền của Nhật Bản.

Chúng ta học Phật cũng vậy, có những người học Phật bằng kinh chữ Nho, chữ Pali, rồi chúng ta ngồi thiền, lễ Phật, tụng kinh… đủ thứ, đó là học theo công thức. Nhưng có một cách học Phật ngoài công thức đó giúp chúng ta tránh được những đường kiếm của thế gian này là Bát Phong.

Tức là khi gặp những cảnh Khổ Vui, Khen Chê, Được Mất… những cái đó là những nghịch cảnh, thuận cảnh, mà chúng ta giữ được tâm mình bình tĩnhsáng suốt thì người đó sẽ đạt được nghệ thuật Thiền.

Chúng ta thấy các Phật Học Viện, khi các vị tăng sĩ đi vô thì sẽ học kinh, từ bộ này sang bộ khác, còn các Thiền Viện là học để chơi thôi, cho nó đúng quy ước vậy, chứ thiệt ra người thiền sinh mới vô sẽ học nấu cơm, học xách nước, học trồng rau, học trồng tiêu, học trồng nho, học tất cả mọi việc bình thường, không dính dáng gì đến thiền hết. Nhưng trong những cảnh đó, chúng ta thấy cuộc đời này là ông thầy rất tận tâm, luôn luôn đánh chúng ta bằng những thanh kiếm gỗ; có nghĩa là khi chúng ta bị chê, bị mất, bị khổ, bị tiếng xấu, bị những niềm đau ray rứt mà chúng ta vẫn giữ được sự bình tĩnh sáng suốt, thì khi đó người này được gọi là Bát Phong Bất Động.

Bát Phong Bất Động là một nghệ thuật mà các vị Thiền sư muốn truyền cho người đệ tử của mình. Ở trong nhà Thiền, thầy chúng tôi dạy thế này, “Tụi con tu không cốt để có thần thông, không cốt để thuyết pháp hay, không cốt để viết văn làm thơ giỏi, mà chỉ làm sao đạt được cái mức giữa Thuận và Nghịch, giữa Bát Phong mà vẫn bình tĩnh, thì đó là điều mà thầy muốn truyền cho bọn con.”

Những điều này chúng tôi học trong chùa, quý vị cũng có thể học ở nhà; tức là ở giữa chợ, ở gia đình, làm dâu, làm vợ, làm cha, làm mẹ, làm tất cả mọi việc bình thường của một thế nhân, nhưng mà lúc nào chúng ta cũng bị ông thầy đánh bằng thanh kiếm gỗ mà nãy giờ tôi đã nói.

Khi bị đánh đầu tiên chúng ta bị đau, sau đó chúng ta tìm cách chống chỏi với cái đau đó, và làm sao giữ được sự bình tĩnhsáng suốt thì đó là nghệ thuật đánh kiếm, nghệ thuật sống, nghệ thuật Thiền.

Nếu quý vị được hạnh phúc, được khen, được gặp thuận cảnh, điều này nên cám ơn nhân duyên tốt là mình có phước báu vô cùng mới được những hoàn cảnh như ý này, giả sử như chúng ta bị những điều trái ý làm khổ lòng, rối trí thì nhớ rằng cơ duyên giác ngộ rất gần, nếu chúng ta biết một điều là nên bình tĩnh. Giống như Đức Phật dạy, “Khi gặp cảnh thuận con nên khoan mừng, là vì nếu mừng sẽ mất bình tĩnh. Khi gặp cảnh nghịch con khoan buồn tại vì buồn sẽ mất bình tĩnh.”

Chỉ bình tĩnh thôi. Cái bình tĩnh này trong Thiền gọi là Định. Do bình tĩnh cho nên chúng ta duy trì được sự sáng suốt, và duy trì được sự sáng suốt đó trong nhà Thiền gọi là Huệ. Như vậy chúng ta chỉ sử dụng được có hai cái để tu thôi. Là bình tĩnh thì sẽ sáng suốt, nhờ sáng suốt nên duy trì sự bình tĩnh, và do đó chúng ta sống trên thế gian này có thể tắm được những giòng nước nóng lạnh, gọi là tắm nước của Bát Hải Long Vương mà vẫn không bị sứt mẻ gì.

Một vị Phật được ra đời là như vậy!

(Bài này được tóm lại từ toàn bài thuyết pháp “Bát Phong Xuy Bất Động” khá dài của Sư cô Như Thủy được lưu truyền qua băng cassette mà không rõ được giảng ở đâu, lúc nào. Đạo hữu Lưu Minh Quyền đã chép lại từ băng ghi âm, đạo hữu Châu Ngọc đã đánh máy lại, và đạo hữu Minh Quang gửi đăng trên diễn đàn truyền thông vn buddhism@saigon.com ngày 14tháng 6, 1998. Đa tạ công đức của ba vị đạo hữu và xin chia sẻ với quý độc giả.)
(Tinh Tấn Magazine)

Bài đọc thêm:
Thong dong trước tám ngọn gió đời (Thích Nữ Tịnh Quang)
Tám ngọn gió đời (Quảng Tánh)


tam-ngon-gio-doi 2 (1)




.

Tạo bài viết
10/10/2014(Xem: 9247)
08/09/2015(Xem: 11089)
05/10/2014(Xem: 12652)
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.