04

15/11/201012:00 SA(Xem: 11393)
04


TRUNG PHONG TAM THỜI HỆ NIỆM

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Ký
Lão pháp sư Thích Tịnh Không giảng tại Úc Châu Tịnh Tông Học Viện
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

6.3. Chánh Tông Phần 

 Chư vị đồng học! 

Xin xem tiếp đoạn lớn thứ hai của kinh A Di Đà trong Hệ Niệm Pháp Sự. Đoạn này là một đại bộ phận trọng yếu nhất của kinh A Di Đà; được chia thành ba đoạn: 

1) Đoạn thứ nhất là “quảng trần bỉ độ y chánh diệu quả dĩ khải tín” (trình bày rộng rãi về diệu quả y báo, chánh báo của cõi kia để khơi gợi lòng tin). 

2) Đoạn thứ hai là “Đặc khuyến chúng sanh ưng cầu vãng sanh dĩ phát nguyện” (đặc biệt khuyên chúng sanh nên phát nguyện cầu vãng sanh). 

3) Đoạn thứ ba là “Chánh thị hành giả chấp trì danh hiệu dĩ lập hạnh” (dạy hành giả chấp trì danh hiệu để lập hạnh). 

Phần Chánh Tông cũng là ba đoạn tương ứng Tín, Nguyện, Hạnh. Cả ba đoạn này đều khá dài; nay chúng ta học tập một đoạn. 
 
 

6.3.1. Rộng bày diệu quả y báo, chánh báo để khởi tín 
 
 

Xin hãy xem kinh văn từ

“Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?” 

Đấy là đoạn bắt đầu cho đến

“Chư Bồ Tát chúng diệc phục như thị

Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm”. 
 
 

 Chúng ta lại phải chia thành những tiểu đoạn để nghiên cứu, học tập. 
 
 

6.3.1.1. Minh định tông chỉ: Tín nguyện trì danh
 
 

Tiểu đoạn thứ nhất là “Tín nguyện trì danh, nhất kinh yếu chỉ, tín nguyện vi Huệ hạnh, trì danh vi Phước hạnh” (Tín nguyện trì danhyếu chỉ của kinh, tín nguyện là hạnh thuộc về Huệ, trì danh là hạnh thuộc về Phước). Học tập kinh này, trước hết phải nhận biết chánh xác mới hòng nhận thức chánh xác, hiểu rõ ràng. Ở phần trên, tôi đã báo cáo cùng quý vị sự thù thắng của bản kinh này, mười phương chư Phật cùng tán thán! “Tuyệt đối viên dung, siêu tình ly kiến, chẳng thể nghĩ bàn”. Tông chỉ trọng yếu của bản kinh này là giềng mối để ta học tập, trong nhà Phật nói: Cương lãnh tu hành, tổng nguyên tắc tu hành chính là “tín nguyện trì danh” hay Tín - Nguyện - Hạnh. Tín - Nguyện là Huệ, tức là thiện căn như đã nói ở phần trên. Trì Danh là phước! Người chịu niệm Phật là có phước. Không thể niệm Phật là vì sao? Vì bạc phước! Đúng là có không ít người dạy họ niệm một câu Phật hiệu sáu chữ “nam mô A Di Đà Phật”, thậm chí đơn giản hơn là bốn chữ A Di Đà Phật, họ cũng chẳng niệm được. Nếu chẳng nghiên cứu, thảo luận kinh điển thì chúng tôi chẳng nói; nhưng nếu nghiên cứu, thảo luận kinh điển, tự bản thân chúng ta phải hiểu rõ, phải biết rõ tình trạng đó là tướng trạng bạc phước; ta thường nói là “không có phước báo”. Trong mười hai thời, chấp trì danh hiệu; đó là phước báo thù thắng khôn sánh, phước báo hiếm có trong thế gian. Chúng ta thấy có rất nhiều người cùng khổ, suốt ngày miệng chẳng lìa A Di Đà Phật, tay chẳng lìa xâu chuỗi, một ngày niệm mười vạn tiếng. Niệm rất siêng lẹ! Tôi nghe nói trước khi vãng sanh độ hai, ba tháng, lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ mỗi ngày niệm Phật mười sáu vạn câu. Ngài là một vị Kim Cang Thượng Sư bên Mật Tông, lúc lâm chung nhất tâm niệm Phật, nêu khuôn phép, làm gương cho chúng ta, chúng ta phải biết như thế. Đấy là Ngài đại từ đại bi thị hiện

Các vị chú tâm suy nghĩ, có phước báo thế gian, xuất thế gian nào lớn hơn phước báo niệm Phật chăng? Quý vị tìm không ra. Ai là người có phước báo? Nếu chú tâm quan sát, đó là người “tay chẳng lìa xâu chuỗi, miệng chẳng lìa Phật hiệu”. Người như vậy phước báo lớn nhất. Vì sao biết? Người ấy trong một đời sanh về thế giới Cực Lạc làm Phật, ai bằng người ấy được? Đừng nói là thế gian không ai sánh bằng, Đại Phạm Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương trên trời cũng không cách gì sánh bằng được! Đại Phạm Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương còn là phàm phu trong sáu đường, chưa ra khỏi lục đạo, chẳng niệm Phật! Người ấy chịu niệm Phật, vãng sanh ngay trong một đời này; thật sự hiểu rõ, thật sự minh bạch, thật sự giác ngộ, quyết định tu tập pháp này. Trong thế gian này dù có cho họ vinh hoa, cho họ hưởng thọ thế nào, người ấy đều chẳng thích thú. Hứng thú, chí hướng của người ấy là sống qua ngày tháng, chắc thật niệm Phật! Đấy phải là người chân chánh giác ngộ, triệt để giác ngộ mới có thể làm được như vậy! 

Thế gian đã loạn quá, cụ Lý Bỉnh Nam nói rất hay: “Dù Phật, Bồ Tát, thần tiên đến cũng cứu không được!” Dù chúng ta có tâm đại từ bi, nói trắng ra là tâm có thừa nhưng sức chẳng đủ, trong tình huống ấy, biết làm sao đây? Toàn tâm trì danh niệm Phật, quyết định vãng sanh bất thoái thành Phật! Bởi thế, trong thế gian này thọ mạng dài ngắn không cần đếm xỉa tới, hết thảy đều tùy duyên. Buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật, tự độ, độ người. Chính mình đã thành tựu, người khác trông thấy, học tập theo, mình bèn hóa độ người khác. Bây giờ đối với pháp môn này, chúng tatín nguyện kiên định như thế; chẳng phải là từ xưa đến nay có rất nhiều người niệm Phật thành tựu, nêu gương cho ta thấy, đó gọi là “chứng truyền”. Họ chứng minh, chứng minh sự việc này là thật, chẳng giả. Chúng ta thấy rõ ràng, nghe minh bạch, mới bèn kiên định tín nguyện, mới hòng buông xuống vạn duyên, chuyên tu, chuyên hoằng. Chuyên tu và chuyên hoằng chỉ là một việc, chẳng phải hai; chuyên tu là chuyên hoằng, chuyên hoằng chínhchuyên tu. Phải nhớ kỹ, phải hiểu rõ cương lãnh này. Tiếp đây, tôi trích lục mấy câu hết sức trọng yếu, đều là những câu trích từ sách Yếu Giải. 

“Được vãng sanh hay không, toàn là do tín nguyện có hay không? Phẩm vị cao hay thấp, toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Có được vãng sanh hay không do tín nguyện quyết định, tín nguyện có nghĩa rất sâu. Quý vị thật sự tin tưởng, thật sự phát nguyện, tự nhiên quý vị rất lãnh đạm đối với thế gian này. Thấy thế gian này như thế nào? Coi như một cuộc lữ du, nơi này như lữ điếm, như lữ quán. Tốt cũng được, không tốt cũng xong, ở đôi ba ngày rồi đi. Chỗ này chẳng mảy may liên quan gì đến ta, nó có chủ nhân, ta là khách đi đến. Tự nhiên quý vị có ý tưởng ấy; bởi thế đối với hết thảy mọi sự trong thế gian này, quý vị tuyệt đối chẳng để tâm

Thế nhân có rất nhiều người niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, suốt đời niệm Phật rốt cuộc chẳng thể vãng sanh, là vì nguyên nhân nào? Quý vị nói họ chẳng tin ư? Họ rất tin tưởng, tin rất kiền thành. Quý vị nói họ chẳng có nguyện ư? Suốt ngày miệng cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới; vì sao chẳng đến được? Vì xen tạp! Xen tạp thế duyên chẳng buông xuống được! Trong tâm kẻ ấy vướng mắc, đến lúc lâm chung vướng mắc chẳng dứt, bị chúng lôi lại! Duyên do là như vậy. Khi xưa thầy Lý rất cảm khái nói: “Vạn người niệm Phật, thật sự được vãng sanh chỉ có hai, ba người mà thôi!” Trong một vạn người chỉ có hai, ba người, chín ngàn chín trăm chín mươi bảy người kia chẳng được vãng sanh

Chúng ta phải hiểu nguyên nhân vì sao chẳng được vãng sanh, đó là vì tâm có vướng mắc. Vì sao tâm họ có vướng mắc? Chẳng thật sự tin, nguyện chẳng chân, hành chẳng hết sức, luống uổng một đời, chỉ tăng cường được chủng tử tịnh nghiệp trong A Lại Da Thức, đến khi nào lại gặp được duyên phận để tiếp nhận tu tập thật rất khó nói! Chắc chắn là có lần sau, nhưng lần sau ấy thời gian dài hay ngắn, khó nói lắm. Có kẻ lui sụt bèn lui sụt mấy đời, có kẻ lui sụt bèn lui sụt cả mấy kiếp, đáng sợ lắm! Nếu quý vị hỏi là do nguyên nhân gì ư? Thiện Đạo đại sư nói rất rõ: “Gặp duyên bất đồng”. Phải biết: Được thân người, nghe Phật pháp, gặp được pháp môn Tịnh Độ, đúng là trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ, là một ngày khó gặp gỡ từ vô lượng kiếp đến nay

Mọi người chúng ta cũng là một ngày khó gặp trong vô lượng kiếp, ngày hôm nay chúng ta được gặp. Gặp được mà chẳng biết quý tiếc, chẳng biết nghiêm túc nỗ lực tu tập, đáng tiếc lắm! Cơ hội, người thế gian thường nói là “bỏ lỡ là rồi”, chẳng biết năm nào, tháng nào, ngày nào mới gặp lại. Phàm những người có thành tựu thế gian hay xuất thế gian, người thành công, chẳng có bí quyết mầu nhiệm chi khác, chỉ là nhận biết cơ hội, chụp lấy cơ hội bèn thành tựu. Người chẳng nhận biết cơ hội, hoặc nhận biết cơ hội nhưng không chịu chụp lấy, đều thất bại! Chẳng thể buông thế duyên xuống được! Buông xuống không có nghĩa là mặc kệ, chẳng quan tâm tới. Quý vị thấy điều gì phải quan tâm cứ quan tâm, nhưng đồng thời lại buông xuống, diệu như thế đó! Đấy là gì? Là trí huệ. Người thế gian nếu đã quan tâm bèn bận lòng, chẳng buông xuống được. Vì nguyên nhân nào? Vì tình chấp, họ có tình chấp. 

Sao Phật, Bồ Tát vừa quan tâm, vừa chiếu cố, lại buông xuống được? Các Ngài có trí huệ, trí huệ chân thật, hoàn toàn chuyển tình chấp thành trí huệ, ta thường nói là “trí huệ viên mãn rốt ráo”. Phương tiện thiện xảo thù thắng diệu tuyệt, nói như người hiện tạithủ đoạn khéo léo cao độ. Trong nhà Phật gọi thủ đoạn khéo léo cao độ là “phương tiện thiện xảo”. Trong tâm chẳng vướng mắc mảy may gọi là “buông xuống”. Lại đại từ đại bi phổ độ chúng sanh, dù phổ độ chúng sanh nhưng tâm chẳng có mảy may nhiễm trước, đấy là diệu dụng của tánh đức. 

Đức Phật thường dạy chúng ta: Loại diệu dụng trí huệ ấy chẳng phải chỉ riêng một cá nhân nào có, mà hết thảy chúng sanh ai nấy đều sẵn có. Trọn chẳng phải chỉ mình Phật, Bồ Tát mới có, không phải vậy! Vì sao nay các Ngài có, chúng ta không có? Các Ngài giác, ta còn mê. Giác chẳng có chướng ngại, lý sự vô ngại, sự sự vô ngại. Mê thì nơi nào cũng thành chướng, chốn chốn đều là chướng ngại. Chúng ta cam bề chịu mê, mê mất tự tánh. Chân tướng sự thật ấy chúng ta chẳng thể không biết. Nay Phật, Bồ Tát giúp chúng ta, giúp điều gì? Phá mê khai ngộ! Chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát giúp hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộcông đức bậc nhất, không gì có thể thù thắng hơn được, không gì tốt hơn được nữa. Đó là lợi ích chân thật rốt ráo viên mãn, là sư đạo

Trong kinh Phật dạy “ơn thầy vượt trỗi ơn cha mẹ”, vị thầy vừa nói đó chẳng phải là những thầy giáo thông thường trong thế gian. Những vị thầy thế gian, trong tâm tưởng người Trung Quốc chúng ta thường xem như cha mẹ. Ân đức thầy lớn như ân đức cha mẹ, tương đương, bằng với ân cha mẹ. Nhưng những vị thầy được nói trong Phật pháp chính là chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát, ân đức các Ngài vượt trỗi ân đức cha mẹ; vì sao? Ân đức cha mẹ đối với chúng taân đức một đời; nhưng chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát đối với chúng taân đức vĩnh hằng, đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn chiếu cố, vĩnh viễn quan tâm. Chỉ cần ta có một điểm giác ngộ, các Ngài chẳng lìa bỏ, liền nhanh chóng đến giúp đỡ, mong mỏi một điểm giác ngộ ấy được khuếch đại, trở thành sâu hơn. Ân đức ấy cả thế gian lẫn xuất thế gian không gì sánh bằng được! 

Do đây biết rằng: Nói trên mặt hiện thực, công đức lợi ích thù thắng bậc nhất là gì? Là giúp cho chúng ta TIN pháp môn này, nguyện sanh Tịnh Độ. Đấy là đức bậc nhất, là đại sự bậc nhất của hết thảy Như Lai độ chúng sanh. Chúng sanh căn tánh chưa chín muồi thì không có cách nào hết. Chưa thành thục thì Phật, Bồ Tát chưa giới thiệu pháp môn này. Quý vị phải biết: Giới thiệu cho quý vị các pháp môn khác là chuyện bất đắc dĩ! Bởi vậy, Thiện Đạo đại sư nói một câu mà chúng tôi cho khắc thành ấn chương. Ngài nói: “Sở dĩ Như Lai xuất hiện trong thế gian chỉ nhằm để nói biển bổn nguyện Di Đà”. Câu nói này thật hay. Hết thảy chư Phật Như Lai, hết thảy Pháp Thân Bồ Tát thị hiện trong chín pháp giới của hết thảy cõi nước trọn khắp pháp giới hư không là vì lẽ nào? Vì thành thật nói cùng quý vị, vì giúp cho quý vị tin có Tây Phương Cực Lạc thế giới, tin có A Di Đà Phật tiếp dẫn chúng sanh, tin chính mình có duyên vãng sanh cõi Phật. Giúp cho quý vị tin tưởng sự việc ấy, giúp cho quý vị phát nguyện, giúp cho quý vị niệm Phật! 

 Do đây biết rằng: Chư Phật Như Lai hóa độ chúng sanh chỉ có một môn là pháp môn Tịnh Độ, một môn như vậy. Nếu với một môn này quý vị có chướng ngại, chẳng thể tiếp nhận, có nghi hoặc, có hứng thú khác thì Phật luôn hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức, Phật tuyệt đối chẳng miễn cưỡng. Thiện căn, phước đức, nhân duyên của quý vị chưa thành thục, miễn cưỡng cũng vô ích! Chẳng những miễn cưỡng vô tác dụng, mà phải nói thật là: Miễn cưỡng còn tạo thành chướng ngại bất lợi. Chẳng miễn cưỡng, quý vị thích học điều gì bèn dạy cho học điều đó. Thích Thiền dạy Thiền, thích Mật dạy Mật, thích Giáo dạy Giáo, thích Giới Luật bèn dạy Giới Luật, thích môn gì dạy môn đó. Do đây biết rằng: Tất cả hết thảy pháp môn, tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn là phụ; pháp môn cốt lõi của hết thảy pháp môn, pháp môn chủ chốt là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ

 Bởi thế, quý vị thấy trong kinh Vô Lượng Thọ, Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán A Di Đà Phật. Thích Ca Mâu Ni tán thán là thay mặt cho mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai tán thán, tán thán A Di Đà Phật “tôn quý nhất trong các quang minh, là vua của các Phật”, tán thán đến cùng cực. Chúng ta nghe hết thảy chư Phật tán thán A Di Đà Phật như thế mà vẫn còn nghi hoặc, chẳng thể hạ quyết tâm, vẫn chẳng thể buông xuống muôn duyên, đấy chẳng phải là nghiệp chướng sâu nặng thì là gì vậy? Nghiệp chướng sâu nặng đấy! 

 Kinh Bát Nhã giảng thế gian rất rõ ràng: “Phàm tất cả hình tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Người thông minh, người có trí huệ phải lắng tịnh, phải chú tâm quán sát, nhìn thấu suốt thế giới. Vì sao nói là hư vọng, là mộng, huyễn, bọt, bóng? Lời Phật nói là đúng, Phật giảng cho chúng ta chân tướng vũ trụ. Trong kinh điển Đại Thừa chúng ta thường đọc thấy trong cảnh giới của Như Lai, của Pháp Thân Bồ Tát, các Ngài thấy mười phương các cõi Phật như ở ngay trước mắt. Mười phương các cõi Phật ở tại đâu? Ở ngay trước mắt, chẳng xa cách gì. 

 Chẳng phải như nay ta đối trước màn ảnh máy truyền hình, lúc chúng ta đối trước màn ảnh máy truyền hình, họ chẳng nghe thấy chúng ta nói, chúng ta có câu hỏi gì cũng không hỏi họ được. Trong cảnh giới của các Ngài, ta thấy mười phương chư Phật, mười phương chư Phật không đến đây, ta cũng không đi qua đó, nhưng ở ngay trước mặt là điều chắc chắn! Có thể nắm tay! Có thể trò chuyện! Điều đó nói lên điều gì? Cho thấy trong Nhất Chân pháp giới không có không gian, ta muốn thấy Phật quá khứ, chư Phật cũng như đang ở ngay trước mặt; chúng ta muốn thấy Phật vị lai, vẫn là như ở ngay trước mặt. Trong cảnh giới ấy, chẳng có không gian, chẳng có thời gian, nên gọi là Nhất Chân. Nếu có quá khứ, hiện tại, vị lai thì là ba chẳng phải một; có xa - gần thì là hai chẳng phải một. Chẳng có hai, ba, nên gọi là Nhất Chân Pháp Giới

 Hiện tại, các nhà khoa học dùng số học suy tính bèn nhận thấy “chẳng có thời gian, chẳng có không gian” là điều hoàn toàn có khả năng. Trong một điều kiện nào đó, thời giankhông gian hoàn toàn tiêu mất, đấy chính là điều kinh Phật thường nói, thường gọi là “chân tướng sự thật”. Ngoài ra, họ còn phát hiện Hữu là từ Vô biến hiện ra, trong Vô sanh Hữu. Thật ra, đạo lý này kinh Bát Nhã đã giảng quá nhiều rồi: “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc, Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc”. Sắc là Hữu, Không là Vô, Hữu do đâu mà có? Từ Vô sanh Hữu. Bởi thế, cái Vô ấy chẳng thể nói là cái gì cũng đều không có! Cái gì nó cũng có, lại còn hết sức viên mãn. Đó là gì vậy? Là tự tánh! Kinh Phật gọi là “pháp nhĩ như thị” (pháp vốn là như vậy), đó là đức năng của tự tánh, chúng ta thường nói “tự tánh vạn đức vạn năng”. 

 Kỳ thật, ai cũng biết nói “vạn đức vạn năng”, nhưng không ai thật sự hiểu được ý nghĩa. Thế nào là vạn đức vạn năng? Vốn chẳng có, cái gì cũng không có, lại có thể biến hiện hư không, biến hiện thế giới, biến hiện vạn vật, đó là vạn đức vạn năng. Cái có khả năng, có khả năng hiện được kinh Hoa Nghiêm gọi là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Thức vẫn là tự tánh. Bởi thế, Chân Như bản tánhvạn đức vạn năng, có khả năng hiện, có khả năng biến. Chân Như bản tánh cái gì cũng không có, nhưng có thể hiện ra vạn pháp, biến hiện toàn thể vũ trụ

 Hiện tại các nhà khoa học cũng khẳng định, họ nói toàn thể vũ trụ lúc chưa biến hiện thì giống như thế nào? Toàn thể vũ trụ co rút, đậm đặc, cô đặc lại thành một lạp tử (lepton) rất bé. Bé đến mức độ nào? Các nhà khoa học nói bé đến mức nhổ một sợi tóc, đem sợi tóc đó cắt ngang; nơi mặt cắt ngang đó, ta có thể xếp khít những lạp tử bé tí. Mỗi lạp tử bé tí ấy là vũ trụ co rút lại. Nơi mặt cắt ngang của một sợi tóc ấy, có thể xếp được bao nhiêu hạt nhỏ ấy? Họ nói sau con số một trăm vạn, phải thêm ba chữ Ức, tức là một trăm vạn ức ức ức; hết sức nhỏ bé! Mỗi một lạp tử ấy có thể biến thành đại thế giới. Phương pháp tính toán của họ là dùng số thập phân. Sau dấu phẩy có ba mươi ba con số zero, lạp tử nhỏ bé như vậy đó lại biến hiện thành thế giới lớn như thế đó. 

 Trong kinh đức Phật dạy tự tánh không lớn nhỏ; phát hiện khoa học nói trên đã chứng minh kinh Hoa Nghiêm. Ở phần trên tôi đã nói qua, trong vi trầnthế giới, Phổ Hiền Bồ Tát có thể vào được. Vi trần ấy nhỏ đến đâu ta chẳng có cách gì tưởng tượng được, kính hiển vi hiện thời chưa thấy được. Mặt cắt ngang của sợi tóc chứa được một trăm vạn ức ức ức lạp tử bé xíu như thế, xếp theo hàng ngang, xếp kín mặt cắt ngang của một sợi tóc. Các nhà khoa học nói những thứ ấy sau một cơn bùng nổ lớn (Big Bang) sẽ biến thành thế giới

 Thế giới này, tức thế giới chúng ta đang cảm nhận đây, biến hiện ra như thế nào? Hiện thời khoa học gia cũng phát hiện thế giới này chẳng phải là tiến hóa (phát triển từ từ), họ gọi là “nhất thời đốn hiện”, đột nhiên hiện ra. Cách giải thích ấy rất giống với kinh Hoa Nghiêm. Rất giống! Hãy nhớ những gì đức Phật thường hay bảo chúng ta, bốn câu kệ trong kinh Kim Cang là:

 Hết thảy pháp hữu vi

Như mộng, huyễn, bọt, bóng, 

Như sương cũng như chớp, 

Phải thường quán như vậy! 

Chúng ta thấy những điều các nhà khoa học nói giống như kinh Hoa Nghiêm đã nói, đúng là nhất thời đốn hiện. Cái nhất thời ấy là lúc nào? Nhất thời đó là “đương hạ” (ngay trong lúc ấy). Chẳng phải là quá khứ. Không có quá khứ cũng không có vị lai; ấy chính là “đương hạ”. Việc này rất khó hiểu. Trước hết, chúng tôi dùng huyễn đăng phiến (1) [để tỷ dụ]. Trong quá khứ, ở Hoa Tạng Đồ Thư Quán hình như có ba cái máy chiếu huyễn đăng phiến (projector). Lúc ấy, chúng tôi có khoảng chừng sáu, bảy ngàn tờ, rất có thể có đến cả vạn tờ huyễn đăng phiến; rất nhiều lúc chúng tôi dùng chúng trong giảng dạy. Huyễn đăng phiến là một tấm màng trong suốt, chúng tôi bỏ vào máy, liền thấy hiện hình toàn bộ trên màn chiếu, nhất thời đốn hiện! Chẳng có trước - sau, chẳng có xa - gần, thời gian, không gian đều chẳng có, nhất thời đốn hiện một trang. Trang thứ hai đặt lên rồi, trang đầu tiên biến mất ngay, trang thứ hai lại nhất thời đốn hiện! Quý vị hãy nghĩ kỹ lời tôi vừa nói đó, hãy nghĩ đến cảnh giới ấy. Máy chiếu huyễn đăng phiến chạy bằng điện, quý vị ấn nút một cái bèn đổi được một trang, trang thứ ba đưa lên thì trang thứ hai bèn mất. Trang thứ ba nhất thời đốn hiện, mỗi trang đều nhất thời đốn hiện. Hiện tượng ấy, chúng ta nghĩ kỹ xem, có phải là như đức Phật đã nói trong kinh Lăng Nghiêm: “Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (Ngay nơi đây sanh ra, cũng từ nơi đây diệt mất) chăng? Huyễn đăng phiến chiếu nhanh chậm tùy ý chúng ta. Nếu ta thấy ảnh đó nhìn rất đẹp, xem hai ba phút mới qua trang khác; không đẹp, chừng mấy giây liền đổi qua trang khác, đều là nhất thời đốn hiện. 

 Sau đó, chúng ta lại tăng tốc độ nhanh hơn, quý vị thấy đó là điện ảnh. Trong quá khứHoa Tạng, chúng tôi có một cái máy chiếu phim tám ly (mm); hình như có một máy chiếu phim, hai máy quay phim, ra rửa ảnh bên ngoài rồi đem về chiếu lại. Toàn bộ thiết bị chúng tôi đều có. Lúc đó, chúng tôi tự chiếu, tự mình cắt ghép phim rồi chiếu cho mọi người xem. Máy chiếu phim tám ly có hai tốc độ: Tốc độ chậm một giây chiếu được mười tám tấm ảnh; tốc độ nhanh một giây chiếu được hai mươi bốn tấm. Quý vị tưởng tượng xem: Những hình ảnh hiện trên màn bạc, mỗi một tấm (vì tốc độ chiếu nhanh) lọt vào ống kính, bèn nhất thời đốn hiện, lập tức hiện hình, rồi biến mất. Chiếu qua tấm thứ hai có phải là tấm thứ nhất “tùy xứ diệt tận” hay không? Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận, chẳng phải là hiện tượng đó hay sao? Đấy là chân tướng vũ trụ. Bởi thế, nhất thời đốn hiện là hiện tiền, chẳng phải là quá khứ, cũng chẳng phải là vị lai

 Thế giới được cảm nhận bởi sáu căn của chúng ta trong hiện tại cũng giống như các nhà khoa học nói, nhưng dùng phim gì? Tấm phim rất nhỏ, trong mặt cắt ngang của một sợi tóc có thể xếp kín một trăm vạn ức ức ức, tốc độ chiếu rất nhanh, đại khái là một ức vạn phần của một giây, chẳng phải là một phần hai mươi bốn giây, mà là một phần vạn ức giây, thế giới hiện tiền của chúng ta là như vậy đó! Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận. Bởi thế, kinh Kim Cang nói: “Như lộ diệc như điển” (như sương cũng như chớp), điển là “thiểm điển” (ánh chớp), ví cho cái gì rất nhanh (chứ thật ra, tốc độ của chớp còn chậm nhiều lắm). Rất nhanh, làm sao phàm phu chúng ta biết được? Đức Phật nói: Phải là Bát Địa Bồ Tát mới thấy được chân tướng của những hiện tượng ấy ! 

 Các nhà khoa học hiện thời chẳng thể thấy được, chỉ từ số học mà tính toán ra, chứ không thấy. Nếu thấy được phải là Bát Địa Bồ Tát. Cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, nếu quý vị thật sự thấu hiểu chân tướng của sự thật, há còn tham luyến thế giới này chăng? Há còn khởi tâm động niệm nơi thế giới này chăng? Thật đấy! Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều đoạn hết. Vì sao thế giới này biến hóa nhiều như thế? Những biến hóa ấy đó là do vọng tưởng, chấp trước, phân biệt thúc đẩy; những thứ đó khiến cho tất cả hết thảy hiện tượng phát sanh phản ứng. Biến hóa là do đạo lý ấy. Trong Nhất Chân pháp giới vì sao chẳng có những phản ứng đó? Trong Nhất Chân Pháp Giới, chư Phật, Bồ Tát đều đã giác ngộ, thảy đều không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vì thế, cảnh giới của họ vĩnh hằng bất biến, chân thật viên mãn, chẳng có một chút khuyết hãm nào; đạo lý là đây! 

 Chúng ta hy vọng khoa học không ngừng phát triển, sẽ chứng thực hết thảy mọi điều kinh Phật đã nói. Họ chứng thực được, nhưng họ chẳng nhập cảnh giới. Vì sao chẳng nhập cảnh giới? Do chẳng đoạn vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Đoạn được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước rồi, họ liền khế nhập cảnh giới, mới thấy được chân tướng sự thật. Bởi vậy, kiến lập tín tâm không dễ, tín tâm kiến lập, nguyện tâm kiến lập, hành tâm kiến lập, triệt để liễu giải chân tướng sự thật, sẽ giải quyết được vấn đề. Nếu quý vị chẳng triệt để liễu giải chân tướng sự thật ấy, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chẳng đoạn được, sẽ bèn có chướng ngại. A! Nay đã đến giờ rồi. 
 
 

*

 Chư vị đồng học! 

 Chúng ta coi tiếp tiểu tiết thứ nhất trong đoạn lớn thứ nhất của phần Chánh Tông. Chúng ta đọc qua một lượt, tiểu đoạn thứ nhất là: “Tín nguyện trì danhyếu chỉ kinh này, tín nguyện là Huệ hạnh, trì danh là phước hạnh. Được vãng sanh hay không, hoàn toàn do có tín nguyện hay không”. Lần trước, chúng tôi đã giảng đến chỗ này, hãy xem tiếp đoạn dưới đây: 

 “Phẩm vị cao hay thấp, hoàn toàn do trì danh sâu hay cạn. Tín nguyện để dẫn đường, trì danh là chánh tu”. Chúng tôi sẽ giảng đoạn này. Tín - Nguyện - Hạnh có thứ tự, đặc biệt là đối với hàng Sơ Học. Trước hết, chúng ta phải phát khởi được tín tâm, tín tâm thật sự chẳng dễ dàng. Ở trên, chúng tôi đã nói khá nhiều, không điều nào chẳng nhằm khiến cho chúng ta phát khởi tín tâm đối với Phật pháp, liễu giải chân tướng nhân sanh vũ trụ. Hiện nay đã chứng thực khoa học thật sự hết sức hữu hạn. Đối với sự tướng, lý luận ở một mức độ sâu hơn, khoa học chẳng có cách nào để giải thích được cả. Ví như nói đến sự trang nghiêm nơi y báo, chánh báo của mười pháp giới, khoa học không có cách nào giải thích được. Các nhà khoa học biết trong vũ trụ này tồn tại những chiều không gian khác biệt; sự trang nghiêm nơi y báo, chánh báo của mười pháp giới chính là tình trạng thuộc về những chiều không gian khác biệt, khoa học không có cách nào hiểu được. Thù thắng hơn cảnh giới của chúng tathiên đạo. Trong thiên đạocõi trời Dục Giới, có Sắc Giới thiên, có Vô Sắc Giới thiên. Ngoài lục đạo lại còn có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật; dưới đó lại có ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục. Trong súc sanh lại phức tạp hơn nữa! Hiểu biết của chúng ta hết sức hữu hạn! Bởi thế, theo nhận định của Phật pháp, tri thức khoa học nói trắng ra, thật hết sức hữu hạn, thật chẳng đáng để nói tới! 

 Một nhà khoa học chân chánh có thái độ rất rõ ràng, điều gì ông ta chứng thực được bèn tin tưởng, điều gì chẳng thể chứng thực, chẳng dám nói là không có. Vì sao? Khoa học kỹ thuật vẫn còn đang tiến bộ không ngừng. Trong quá khứ, có những nhà khoa học tưởng những gì mình phát hiện là chân lý; chẳng ngờ không lâu sau, các nhà khoa học lớp sau lại có những phát hiện mới, phải thay đổi những định luật. Tình trạng như thế rất nhiều. Bởi vậy, nhà khoa học thông minh trong hiện tại luôn nói những chân lý được phát hiện chỉ là tạm thời, nói như vậy rất thông minh. Sau này lại có những phát hiện mới, những phát hiện mới vượt trỗi hơn. Những điều áo diệu trong vũ trụ không có giới hạn, sâu không đáy, rộng vô biên, còn đợi con người từ từ phát hiện ra. Dùng kỹ thuật khoa học, phương pháp cơ giới thì những gì quý vị nghiên cứu được vẫn là hữu hạn. Kinh Phật dùng “nhất thời” để nghiên cứu, hiện tại đều chẳng tách rời “nhất thời”, đạt đến cực hạn. 

 “Nhất thời” được nói trong Phật pháp chỉ có thể duyên A Lại Da Thức, chứ không thể duyên Chân Như tự tánh. Bởi vậy, đối với Chân Như tự tánh đức Phật chỉ nói gọn một câu “chẳng thể nghĩ bàn”. Chẳng thể nghĩ là chẳng thể dùng cái tâm ý thức để hiểu rõ nó; chẳng thể bàn là chẳng thể dùng ngôn ngữ để trình bày rõ rệt được. Đối với chân tướng sự thật, ngôn ngữ chỉ có năng lực hữu hạn, không diễn tả được nổi. Năng lực tư duy cũng hữu hạn, quý vị tư duy, suy nghĩ cũng có mức giới hạn tột cùng. Cái giới hạn tột cùng nằm trong A Lại Da Thức. Chân Như bản tánh chẳng phải là A Lại Da thức, quý vị duyên không được. Bởi vậy, trong lúc ấy, tất cả hết thảy phương pháp khoa học vô tác dụng. 

 Điều này do tiên sinh Phương Đông Mỹ bảo tôi. Nhân vì trước kia tôi ở Đài Loan, Đạo An pháp sư chủ trì Phật Giáo Hội. Trung Quốc Phật Giáo Hội Đại Chuyên Giảng Tòa mời tôi đảm nhiệm vai trò tổng chủ giảng. Tôi rất mong mở được lớp Nhân Minh trong phân ban của chúng tôi. Nhân Minh là la-tập (logic), thuộc biện chứng pháp, cũng thuộc vào phương pháp khoa học. Chúng tôi rất hy vọng mời được tiên sinh Phương Đông Mỹ đến giảng môn học này. Tôi đến tìm cụ, Phương tiên sinh nói: “Phật pháp giảng đến một mức độ cao thì môn này vô dụng. Nhân Minh, biện chứng pháp, la-tập thảy đều vô ích”. Không sai! Cụ nói chẳng sai chút nào. Trong Phật pháptrình độ cao, đúng là chúng vô dụng. Giảng những môn đó cho ai? Cho hàng sơ học. Với sơ cấp, trung cấp còn có ích, chứ với cao cấp thành vô dụng. Họ vượt khỏi rồi, những môn ấy đều thuộc về phương pháp luận của khoa học. Vì thế, sau này chúng tôi không mở lớp đó. 

 Phật pháp cao cấp dùng gì? Dùng Thiền Định, dùng tâm thanh tịnh. Thiền có nghĩa là “tịnh lự”, Tịnh là Chỉ, Lự là Quán. Bởi vậy, Thiền còn gọi là Chỉ Quán. Chỉ là buông xuống, Quán là thấy thấu suốt. Buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quý vị sẽ thấy được chân tướng sự thật. Tất cả phương pháp luận thế gian hay xuất thế gian đều chẳng lìa khỏi ý thức. Nguyên nhân thật sự vì sao bản chú giải Lăng Nghiêm Chánh Mạch của Giao Quang đại sư có mặt cũng là vì đạo lý này. Kinh Lăng Nghiêm do tôn giả Bát Lạt Mật Đế truyền sang Trung Quốc vào cuối đời Võ Tắc Thiên. Kinh Lăng Nghiêm phiên dịch xong nhằm thời vua Đường Trung Tông. Kinh được phiên dịch xong, tất cả chú sớ, giảng giải đều dùng nguyên lý, nguyên tắc Tam Chỉ Tam Quán của tông Thiên Thai để giải thích

 Giao Quang đại sư là người đời Minh, đồng thời với Liên Trì đại sư. Ngài cho rằng cách suy nghĩ trên (tức là cách dùng Tam Chỉ Tam Quán để giải thích kinh Lăng Nghiêm) chẳng phải là chỉ thú của kinh Lăng Nghiêm ; bởi lẽ, Tam Chỉ Tam Quán là dùng Ý thức, chẳng lìa khỏi tâm ý thức. Bởi vậy, lão nhân gia chủ trương ứng dụng giáo nghĩa “xả Thức dùng Căn” của bản thân kinh Lăng Nghiêm, chẳng dùng đến thức thứ sáu là Ý Thức. Dùng gì? Dùng căn tánh của lục căn. Cách thuyết pháp này chánh xác, chứng minh được. Giao Quang cũng là người niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đại khái, thọ mạng Ngài đã hết, A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, Ngài thấy A Di Đà Phật, thưa cùng A Di Đà Phật: “Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh trọng yếu trong Đại Thừa Phật pháp, điều hết sức đáng tiếc là từ cổ đến nay, rất nhiều người chú giải bộ kinh này, đều chẳng thật sự nắm được chỉ thú”. Ngài muốn viết một bộ chú giải mới, “xin A Di Đà Phật cho phép con nay tạm thời chẳng đi, đợi khi con chú giải bộ kinh này xong xuôi, sẽ lại vãng sanh Cực Lạc thế giới”. A Di Đà Phật chấp thuận, Phật liền đi. Câu chuyện này được ghi trong Lời Tựa của sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch, chúng tôi tin tưởng Giao Quang đại sư chẳng dối người, chẳng bịa ra câu chuyện ấy. 

 Xả Thức dùng Căn, nói thật chẳng sai, nhưng khó quá, không ai có thể tu được! Dùng phương pháp Tam Chỉ Tam Quán, người căn tánh trung hay thượng làm được, vẫn còn có thể tu học được. Nếu bỏ Thức dùng Căn thì giống như Thiền Tông, người thượng thượng căn mới hành được; chẳng phải thượng thượng căn chẳng có phần. Kinh Lăng Nghiêm giảng chân tướng nhân sanh vũ trụ; bởi vậy, nó là một bộ kinh rất nổi danh trong Phật môn. Từ cổ, tổ sư đại đức nói: “Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ bậc nhất, thành Phậtkinh Pháp Hoa”, hai câu nói ấy, mọi người học Phật đều biết. Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ, vì sao nói thành Phậtkinh Pháp Hoa? 

 Bởi lẽ, trong quá khứ, trong rất nhiều kinh, đức Phật đều nói Nhất Xiển Đề chẳng thể thành Phật. Nhất Xiển Đề là gì? Nhất Xiển Đề dịch nghĩa sang tiếng Tàu là “người không có thiện căn”, hoặc dịch là “người đoạn thiện căn”. Không có thiện căn làm sao thành Phật được? Đấy là điều đức Phật thường nói. Nhưng trong hội Pháp Hoa, Phật lại nói Nhất Xiển Đề cũng có Phật tánh, Nhất Xiển Đề cũng có thể thành Phật, tức là “không một ai chẳng thể thành Phật”. Ý nghĩa này tương ứng với câu kinh Hoa Nghiêm: “Tình và vô tình đều viên mãn Chủng Trí”. Kẻ ngũ nghịch thập ác, tạo tội ác cùng cực trong thế gian đều có Phật tánh, chẳng thể nói kẻ ấy tội ác lớn cùng cực, chẳng thể thành Phật được! Chẳng có đạo lý ấy! Kẻ ấy có Phật tánh, nếu kẻ ấy gặp duyên cũng thành Phật. Thiện Đạo đại sư nói tuyệt diệu: “Đều do gặp duyên bất đồng”. Kẻ ấy chưa gặp duyên bèn tạo tội nghiệp, phải chịu quả báo, quả báo cũng có ngày xong. Khi nào xong hết quả báo? Không nhất định, nghĩa là sao? Nếu kẻ ấy giác ngộ thì tội báo đó tiêu diệt; nếu kẻ ấy chẳng giác ngộ thì vẫn còn tội báo phải thọ. Giống hệt như nằm mộng, gặp ác mộng khổ ghê lắm, nhưng nếu tỉnh giấc, mộng ấy không còn nữa. Khi nào kẻ ấy tỉnh mộng? Tỉnh mộng rất nhanh thì thọ tội rất ngắn, lìa khổ rất nhanh. Nếu tỉnh mộng chậm, thọ tội lâu dài

 Bởi vậy, người tội đại cực ác đọa A Tỳ địa ngục, lúc nào sẽ thoát ra không nhất định! Tùy thuộc lúc nào người ấy giác ngộ, lúc nào sám hối, hồi đầu, tự thật sự biết mình lầm. Do một niệm sám hối ấy, Phật tánh bột khởi. Vì thế, trong kinh giáo, Phật thường chỉ dạy chúng ta đừng coi thường kẻ ác, vì sao? Rất có thể kẻ ấy thành Phật trước chúng ta, ta phải làm đệ tử kẻ ấy, rất có khả năng! Sức sám hối chẳng thể nghĩ bàn! Thật sự biết sai, thật sự hồi đầu, ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Lãng tử hồi đầu kim bất hoán” (lãng tử quay đầu, vàng chẳng đổi). Bởi vậy, tín nguyện trọng yếu hơn bất cứ điều gì. 

 Chúng tôi hết sức kính ngưỡng Giao Quang đại sư, tán thán Ngài là một vị đại thiện tri thức. Viên Anh pháp sư suốt đời nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm. Qua truyện ký viết về Ngài, chúng tôi thấy năm hai mươi lăm tuổi, Ngài hết sức thích thú kinh Lăng Nghiêm, lập chí chuyên công, đến bảy mươi lăm tuổi, hoàn thành Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, nay rất phổ biến. Chúng tôi xem kỹ bản ấy, hơn sáu phần mười lý luận trong ấy dựa theo sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch, cho thấy Ngài chịu ảnh hưởng sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch rất sâu. Nay chúng tôi học Lăng Nghiêm, học theo sách Giảng Nghĩa của Viên Anh pháp sư. Tốt! Ngài là người cận đại, văn tự khá đơn giản, rõ ràng; Giao Quang đại sư là người đời Minh, văn tự đúng là sâu hơn. Nhất là trong thời hiện tại, chúng ta coi thường văn học cổ Trung Quốc, không có căn bản Hán học, đọc những tác phẩm của cổ nhân khá khó khăn. Học kinh Lăng Nghiêm phải bắt đầu từ sách Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh, sau đấy mới đọc chú giải của cổ nhân. Quý vị phải có cơ sở trước rồi quý vị đọc chú giải của ngài Giao Quang, ngài Trường Thủy. Kinh Lăng Nghiêm chú giải rất nhiều, những chú giải trứ danh có hai mươi, ba mươi loại. Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ! Nhưng những vị đại gia, thiện tri thức ấy tối hậu đều cầu sanh Tịnh Độ. Giao Quang đại sư vãng sanh Tịnh Độ. Quý vị thấy Tam Cầu Đường của Viên Anh Pháp Sư: “Cầu phước, cầu huệ, cầu sanh Tịnh Độ”. Bậc thật sự có trí huệ, có kiến địa, chẳng một ai không cầu sanh Tịnh Độ

 Vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong kinh Vô Lượng Thọ chúng ta đọc được rất nhiều về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Trong quá khứ, chúng tôi đã giảng mười lần bản hội tập của lão cư sĩ Hạ Liên Cư. Lần này giảng ở Tân Gia Ba là lần thứ mười một, vẫn chưa giảng xong. Cứ cách một, hai tháng, chúng tôi lại phải qua Tân Gia Ba giảng tiếp. Lần này, chúng tôi chẳng bị hạn chế thời gian, có thể nói tường tận, các đồng tu bên ấy thích nghe, nghe giảng Đại kinh khoảng chừng một hai ngàn người. Kinh Vô Lượng Thọ cho chúng ta biết bốn cõi, ba bậc, chín phẩm, phẩm vị trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do đâu hình thành phẩm vị cao thấp? Ngẫu Ích đại sư nói: “Hoàn toàn do trì danh sâu hay cạn”. Ngài nói vậy có lý chăng? Có đạo lý! Còn như bốn cõi, ba bậc, chín phẩm, Thiện Đạo đại sư bảo là “đều do gặp duyên bất đồng”, Ngẫu Ích đại sư bảo “hoàn toàn do trì danh sâu hay cạn”. Lời hai vị đại sư nói chẳng hề mâu thuẫn, mà có thể bổ túc lẫn nhau. Trì danh sâu hay cạn cũng chính là nói quý vị có niệm Phật được hay không? Đúng là gặp duyên bất đồng. Vì sao? Nếu quý vị gặp được thiện tri thức chân chánh, dạy cho quý vị phương pháp chẳng giống nhau. Duyên trọng yếu nhất là thầy! Quý vị học với ai? Công phu tu hành của người đó như thế nào? Kế đó là đồng học. Đồng học cũng là duyên hết sức trọng yếu. Bạn đạo đồng tham khích lệ lẫn nhau, thiết tha dùi mài. Kế đến là hoàn cảnh học tập. Đó đều là gặp duyên bất đồng. 

 Trong hoàn cảnh, đại hoàn cảnhquả địa cầu chúng ta đang sống, hoàn cảnh kế đó là khu vực chúng ta đang sanh sống, hoàn cảnh nhỏ hơn nữa là đạo tràng. Thiện duyên giúp ích cho chúng ta tu học. Duyên bất thiện thường dẫn dụ, phát khởi những tập khí phiền não trong A Lại Da Thức của chúng ta, những duyên ấy là bất thiện! Thiện duyên là gì? Những gì có thể hóa giải phiền não tập khí, tăng trưởng đạo tâm, tăng trưởng Tín - Nguyện - Hạnh, đó là duyên thù thắng. Bởi vậy, hết thảy duyên đều thù thắng, hết thảy đều đạt được chẳng phải là một chuyện dễ. Chúng tôi thấy rất nhiều người lúc mới học rất giỏi, học chừng đâu mười năm, thậm chí hai mươi năm sau, ba mươi năm sau, gặp phải chướng duyên, bèn buông bỏ, chẳng còn học pháp môn này nữa, xoay sang pháp môn khác. Những người như vậy rất nhiều, tại trong nước lẫn ngoài nước thấy rất nhiều, há chẳng phải là gặp duyên bất đồng ư? 

 Hoàn cảnh tối căn bản là sư thừa, anh không có sư thừa, hoặc chẳng gặp được thầy giỏi, chẳng có lòng tin đối với thầy, trí huệ chẳng khai, làm việc theo cảm tính, chẳng chống đỡ nổi dụ dẫn, mê hoặc, nhà Phật gọi những điều đó là “ma chướng”, anh gặp phải ma chướng. Nhìn từ nhân quả, chúng ta hiểu rõ ma chướng có nghĩa là trong đời đời kiếp kiếp quá khứ có lầm lỗi, toàn là mình chướng ngại người ta, đời này mình tu đạo, lại gặp phải người ta đến chướng ngại mình, oan oan tương báo mãi không xong! 

 Vì vậy, thiện căn chân chánh dù là pháp thế gian hay xuất thế gian đều kiến lập trên cơ sở hiếu đạo. Thiện căn chân chánh là hiếu đạo. Việc này khó lắm! Một đời chúng tôi gặp rất nhiều chướng ngại, thử thách rất nhiều, bị đả kích rất nhiều, vẫn có tín tâm, vẫn có nguyện tâm, vẫn chẳng lui sụt, vẫn có thể tinh tấn nỗ lực, là do nguyên nhân nào? Do thật sự lúc nhỏ có chút cơ sở. Cơ sở ấy chẳng phải là khi học tiểu học, mà là khi học ở trường tư, lúc nào? Lúc sáu, bảy tuổi, trong khoảng thời gian đó, thầy dạy học trò hiếu thuận cha mẹ, cha mẹ dạy con cái tôn sư trọng đạo, có căn cơ từ đó. Nếu bây giờ chúng tôi chẳng tôn kính thầy, chẳng xem trọng đạo nghiệp, chúng tôi biết mình có lỗi đối với cha mẹ, chẳng dám! Đấy là như cổ nhân Trung Quốc thường nói: “Thiếu thành nhược thiên tánh, tập quán thành tự nhiên” (Lúc nhỏ tập thành thiên tánh, theo thói quen trở thành tự nhiên): Giáo dục lúc nhỏ ảnh hưởng cả một đời! Một đời tôi được một chút thành tựu đều là do lúc nhỏ, lúc đó học đâu chừng hai năm, còn sống ở quê nhà. Sau này học ở trường, sự giáo dục trong trường dạy những điều này rất ít! 

 Bởi thế Ấn Quang đại sư nói rất hay: “Có thành tựu hay không là do thành kính”. Chân thành, cung kính, “một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Nếu chẳng thành chẳng kính, chẳng đáng bàn tới nữa! Nói cách khác, chẳng thành tựu gì! Bởi thế, chúng tôi có thể chịu đựng được đả kích, chịu đựng được thử thách; người khác tranh, chúng tôi nhường, người khác chửi chúng tôi, sỉ nhục chúng tôi, chúng tôi quyết chẳng đáp trả. Người khác đánh chúng tôi, chúng tôi nhất định không đánh trả. Kinh luận dạy chúng ta: “Chẳng những không có tâm oán hận mà còn phải có tâm cảm ơn”. Cảm cái ơn gì? Ơn tiêu nghiệp chướng. Họ hủy báng tôi, nhục mạ tôi, vì sao họ chẳng hủy báng người khác, chẳng nhục mạ người khác, chỉ tìm tôi? Nếu tôi có thần thông, tôi sẽ biết chuyện trong đời quá khứ, rất có thể trong quá khứ tôi đã đối xử với kẻ ấy như vậy, ngày nay họ đối với tôi như vậy là đền trả. Lần lượt đền trả, người hiểu biết cứ tiếp nhận sẽ hóa giải được. Đời sau, đời kế gặp nhau nữa bèn thành bạn tốt, báo xong rồi! 

 Chẳng nên tranh, chẳng nên có tâm oán hận. Có một chút tâm oán hận, oan kết ấy vĩnh viễn tồn tại, sẽ biến thành gì? Oan oan tương báo chẳng xong, vậy là không được rồi! Đời đời cả hai bên đều đau khổ, đó là sai lầm vô cùng. Người giác ngộ, người hiểu biết chẳng tạo chuyện tồi tệ ấy. Vì vậy, giữ gìn cõi lòng mình thanh tịnh, quyết định chẳng mê, quyết định chẳng loạn, quyết định chẳng điên đảo, vĩnh viễn trong tình trạng trong lặng, tỉnh thức, chúng ta chịu đựng quả báo. Chịu đựng quả báo, nghiệp chướng bèn tiêu! Nghiệp chướng tiêu rồi, trí huệ liền hiện tiền. Pháp thế gian hay xuất thế gian chẳng ra ngoài lệ đó. Bởi vậy, công phu trì danh sâu hay cạn vẫn cần phảitrí huệ, vẫn cần có thiện tri thức chỉ dạy. Trong đây, để có thể tránh được hết thảy chướng nạn thì điều trọng yếu nhất là phải nhờ vào trí huệ, phải nhờ vào công phu định lực, phải nhờ vào nhẫn nhục. Thật sự học theo người tu đạo thời cổ, làm một người có học vấn, vĩnh viễn tuân giữ “không tranh cùng người, không cầu nơi sự”. 

 Vì thế, Ấn Quang pháp sư dạy con người hiện tại chúng ta: Nếu các đồng học chí đồng đạo hợp cùng tu một chỗ, số người chẳng được quá hai mươi người, đạo tràng quy mô nhỏ. Tại Trung Quốc, trước kia chúng tôi nói ở am tranh rất tốt. Cuộc sống rất đơn giản, ít người! Chẳng cần hóa duyên, chẳng phải lôi kéo tín đồ, chẳng cần phải làm pháp hội, không làm kinh sám Phật sự, Phật thất suốt năm, đả Phật thất theo cách thông thường, Phật thất suốt năm! Nỗ lực tu! Nếu thật sự có thể tu học theo đúng phương pháp ấy của Ấn Quang Đại Sư, tôi tin tưởng sâu xa rằng trong vòng từ ba năm đến năm năm, hai mươi người ấy thảy đều vãng sanh

 Nếu quý vị nghe lời đó mà run sợ là không được rồi! Trong vòng từ ba năm đến năm năm phải chết ư? Thôi đi! Không tu nữa! Vậy là không có cách gì hết! Vì sao? Mục đích của quý vị chẳng phải là cầu vãng sanh ư? Thế giới Cực Lạc tốt như vậy, ở đây khổ nạn quá chừng, bên kia không khổ nạn. Do đây biết rằng: Quý vị chỉ nói cái miệng là vãng sanh; chứ thật ra, tâm quý vị tham sống sợ chết, chẳng thể thành tựu nổi! Cụ Lý nói một vạn người tu, thật sự chỉ có hai ba người vãng sanh rất có lý. Hai ba người đó thật sự muốn đi, còn đại đa số miệng nói muốn vãng sanh, nhưng mong sống ở đây đến trăm tuổi, hai trăm tuổi, họ không muốn đi, không còn cách nào nữa cả! 

 Nói tóm lại, những chuyện như thế vẫn là gặp duyên bất đồng, chẳng gặp được thiện tri thức chân chánh, chẳng gặp được sự chỉ dạy chân chánh, tự mình vẫn mê chứ không giác, đối với duyên thế gian vẫn tham luyến rất sâu, nên công phu niệm Phật chẳng đắc lực! Bởi thế, người chân chánh tu hành trong hiện tại, chí đồng đạo hợp, đồng tham đạo hữu tìm được hai ba người, nói thật ra là rất khó! Tìm đâu được hai mươi người? Tìm không ra! Nói thật đó! 

 Thích Ca Mâu Ni Phật đầu tiên độ năm vị tỳ-kheo tại vườn Lộc Dã, kể cả chính Ngài là sáu người. Sáu người đồng tâm đồng đức có thể lập giáo, chí đồng đạo hợp. Bởi thế, trong quá khứ tôi đã từng nói: Vào thập niên 70, Tẩy Trần pháp sư ở Hương Cảng đến Đài Loan tìm tôi, cùng tôi thảo luận cách nào hưng vượng Phật giáo. Tôi bảo pháp sư: “Muốn hưng vượng Phật giáo thì phải có người chân chánh phát tâm, chân tâm cầu đạo”. Tôi nói: Bao nhiêu người? Năm người là được rồi! Thích Ca Mâu Ni Phật năm người lập giáo. Nay có được năm người thì có thể hưng giáo; nhưng năm người ấy hành trì nhất định phải học theo Thích Ca Mâu Ni Phật, phải thực hành chế độ khất thực. Ngày nay ngủ dưới gốc cây, chúng ta chẳng cần phải cất đạo tràng nào; tôi nói năm người đó du hóa nhân gian. Lúc ấy tôi đề nghị: “Chúng ta ở trong một cái lều tranh nhỏ, mỗi một người sống một lều, năm người thôi!” 

 Những cái lều hiện tại, quý vị thấy lều của lộ doanh đồng tử quân hết sức gọn nhẹ, mỗi một cái lều (tôi đã hỏi rồi) dùng được ba năm. Năm người sống vây quanh dưới gốc cây, là một Tăng đoàn nhỏ. Ngày ăn một bữa, đi khất thực. Chúng tôi làm như vậy, nhất định có thể xin được một bát cơm. Mỗi ngày một bát cơm là được rồi, trở về năm người chúng ta cùng nghiên cứu kinh giáo, niệm Phật. Tăng đoàn như thế nhất định có thể hưng vượng Phật giáo. Lúc ấy, pháp sư rất có hứng thú, tôi nói: “Thầy về Hương Cảng trù bị. Lúc nào trù bị sẵn sàng, tìm được năm người, tôi nhất định đến tham gia”. Sư trở về bên đó, dần dần bặt tin tức, tìm đâu ra năm người chịu ăn uống khổ sở, thật sự có thể buông xuống được? Chẳng dễ đâu! 

 Bởi thế, hiện thời chúng tôi có một đạo tràng nhỏ như thế này, đạo tràng nhỏ này cũng là gặp duyên bất đồng. Hàn quán trưởng sáng lập Hoa Tạng Đồ Thư Quán, cả một đời tôi chẳng có ý niệm tạo dựng đạo tràng. Hoa Tạng Đồ Thư Quán do bà ta lập, chúng xuất gia ở Đồ Thư Quán cũng do bà tuyển chọn. Thâu được nhiều vị xuất gia như thế xong, bà bèn tịch. Bà tịch rồi, tôi chẳng thể không coi sóc. Nếu tôi chẳng coi sóc là có lỗi với bà. Thành tựu của tôi chính là thành tựu của bà, tôi thất bại chính là bà thất bại; mọi người đều hiểu như vậy. Bà hộ trì tôi suốt ba mươi năm, tôi mới có thành tựu như ngày nay, mở được một chút trí huệ, có nhận biết đôi chút đối với Phật pháp. Chúng tôi cảm cái ơn của bà, nay ở đây kiến lập được đạo tràng thế này, đạo tràng được to lớn như thế này cũng là quá vượt phận. Nhưng so với đạo tràng của bà, đạo tràng chúng tôi vẫn là đạo tràng nhỏ. Bởi thế, hết thảy kiến thiết làm đến đây là thôi, chúng tôi hạ quyết tâm nghiên cứu kinh, niệm Phật! 

 Kinh Vô Lượng ThọDi Đà Yếu Giải là nguyên tắc chỉ đạo tối trọng yếu của chúng ta. Vì thế, hai câu tiếp đó: “Tín nguyện để dẫn đường, trì danh là chánh tu”. Chánh tu không phải là giảng kinh, chánh tu là niệm Phật. Giảng kinh giúp cho chúng ta tin sâu nguyện thiết, khiến cho chúng tanhận thức chánh xác đối với y báo, chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới, của thế giới Sa Bà đang sống và của mười pháp giới khắp hư không pháp giới. Tuyển chọn ổn thỏa nhất là tuyển chọn Tây Phương Tịnh Độ. Nếu quý vị chẳng thể nhận biết, trong tâm có nghi hoặc: Còn có pháp môn nào tốt hơn pháp môn này, còn có thế giới nào lý tưởng hơn thế giới Cực Lạc, tâm sẽ chẳng thể buông xuống được! Quý vị phải hiểu rõ, phải minh bạch, chết lòng trọn ý tu hành pháp môn này. 

 Tiếp đó là: “Lúc trì danh, tâm như Phật, nguyện như Phật, giải như Phật, hành như Phật, thì một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Đó gọi là Niệm Phật, đó gọi là Trì Danh. Trì Danh tuyệt đối chẳng phải là miệng có tâm không, tâm quý vị có phải là tâm Phật hay chăng? Phật là tâm gì? Mười năm trước, chúng tôi đã nêu rõ: “Chân thành tâm, thanh tịnh tâm, bình đẳng tâm, chánh giác tâm, từ bi tâm”. Chúng ta có những tâm ấy hay không? Những tâm ấy là tâm Phật. Tuy những thứ đó là tâm Phật, nhưng tâm A Di Đà Phật còn thù thắng hơn nữa. Thù thắng ở chỗ nào? Thù thắng tại bốn mươi tám nguyện. Bốn mươi tám nguyện tổng kết: Niệm niệmcứu độ hết thảy chúng sanh. Cứu độ bằng cách nào? Niệm niệm giúp cho hết thảy chúng sanh cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đấy là tâm A Di Đà Phật

 “Chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi” là tâm hết thảy chư Phật, chúng ta có hay không? Nếu chẳng có cái tâm ấy, niệm Phật chẳng tương ứng! Bởi thế quý vị công phu chẳng đắc lực, suốt ngày vẫn suy nghĩ bậy bạ, tâm chẳng thanh tịnh, ngu si, chẳng có trí huệ, tự tư tự lợi, chẳng từ bi, cái ải đầu tiên không vượt qua được. Niệm Phật như thế chỉ là một loại thiện căn, chẳng thể dễ dàng vãng sanh trong một đời. Bởi vậy, đầu tiên là “tâm phải như Phật”. Nay đã hết giờ rồi, buổi học hôm nay giảng đến đây thôi! 

*

 Chư vị đồng học! 

 Xin xem tiếp đoạn Tín Nguyện Trì Danh trong cuốn A Di Đà Kinh Nghiên Tập Báo Cáo, chúng tôi giảng đến: “Lúc trì danh, tâm như Phật, nguyện như Phật, giải như Phật, hành như Phật, thì một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Ở trên, tôi đã thưa cùng quý vị, tâm chúng ta vốn là tâm Phật, đáng buồn là chính ta tự mê mất nên mới luân lạc phàm phu, luân lạc lục đạo bao kiếp chẳng thể xuất ly, càng mê càng lún sâu, càng hãm càng khổ trong ấy. Nếu trong một đời này chúng ta chẳng nghe đến Phật pháp, làm sao hiểu được chuyện ấy? Chẳng biết chân tướng sự thật ấy, sao có thể quay đầu? Đấy là một vận hên lớn nhất trong đời này, là duyên phận thù thắng khôn sánh, nghe được Phật pháp, nghe được pháp môn Tịnh Độ, đấy chẳng phải là chuyện dễ dàng gì! 

 Không ít Bồ Tát, Thanh Văn trong thế gian này muốn nghe được pháp môn này nhưng chẳng có cơ hội. Chính như đức Thế Tôn đã nói trong kinh Vô Lượng Thọ, mỗi một vị đồng học chúng ta trong vô lượng kiếp đến nay đã kết pháp duyên rất sâu dầy với A Di Đà Phật, nên trong một đời này mới có cơ hội gặp gỡ. Kết pháp duyên rất sâu, nhưng vì sao vẫn chẳng thể vãng sanh? Pháp duyên dù sâu vẫn chưa đủ, trong kinh, đức Thế Tôn đã dạy chúng ta: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để sanh về cõi ấy”. Chữ “ít” thông cả ba câu, tức là chẳng thể ít thiện căn, ít phước đức, ít nhân duyên. Nói cách khác, thiện căn phải nhiều, phước đức phải nhiều, nhân duyên phải nhiều thì một đời này nhất định được vãng sanh. Ba điều kiện ấy thiếu một điều không được, đều thành chướng ngại! 

 Làm thế nào để đầy đủ cả ba điều kiện trên trong một đời này? Câu hỏi này rất hợp lý. Thật ra, có đủ ba điều kiện ấy hay không, tự mình biết, thiện tri thức biết, thậm chí quỷ thần cũng biết. Nói chung, quỷ thầnNgũ Thông, họ thấy được. Chuyện đó không quan trọng, quan trọng nhất là chính mình. Chính mình làm sao biết? Tổ sư đại đức thường nói: Quý vị có chân tín hay không? Chân tín thì tư tưởng, kiến giải, hành vi tự nhiên khác rất nhiều với lúc chưa gặp Phật pháp! Lòng tin chân thành!

 Quý vị có thật sự nguyện được sanh về thế giới Cực Lạc hay không? Nếu thật sự nguyện sanh thế giới Cực Lạc, hết thảy người, sự, vật trong thế gian này quý vị tự nhiên buông xuống hết. Nếu quý vị không buông được, chỉ cần một sự chưa buông được, cái nguyện của quý vị chẳng chân. Có chân tín, chân nguyện, lại phải coi quý vị có chân hạnh hay không! Nếu quý vị thật sự niệm Phật, coi niệm Phật là chuyện quan trọng nhất trong một đời này, biến niệm Phật thành chuyện quan trọng nhất trong suốt một ngày từ sáng đến tối. Việc xảy đến phải làm, đành để Phật hiệu xuống, chuyên tâm làm việc. Lúc xong việc, buông công việc xuống, Phật hiệu lại đề khởi, thật sự niệm! 

 Tịnh Tông Học Viện chúng ta đề xướng kinh giáo; kinh giáo là chuyện chúng tôi phụ thêm, chẳng phải là quy tắc chánh, chỉ là phụ thuộc! Phải phân định chủ - khách rõ ràng; bởi lẽ kinh giáo không phải là chuyện ai cũng có thể học được, chính mình phải hiểu rõ điều này, muôn vàn chẳng được điên đảo! Vãng sanh là chuyện lớn! Chúng ta học kinh giáo ở đây là chính mình có đủ thiện căn, phước đức, nhân duyên kinh giáo nên quý vị học được. Chẳng hoài nghi kinh giáo, hiểu được kinh giáo thì có hai điều kiện trọng yếu: Một là ký ức, hai là giải ngộ. Quý vị thật sự nhớ được kinh giáotrí nhớ tốt. Trước kia, thầy Lý bảo chúng tôi: “Nghe pháp sư giảng kinh, nghe xong, anh nhắc lại một lần, anh có khả năng giảng được tối thiểu sáu phần. Anh có năng lực ấy thì có thể học kinh giáo được. Không có năng lực ấy thì tùy hỷ. Vì sao? Không có năng lực đừng miễn cưỡng quá phận, học chẳng thành công!” 

 Khi xưa, lúc tôi cầu học ở Đài Trung, tôi quen biết pháp sư Huệ Nhẫn là một người rất thông minh. Nếu vị này thật sự khéo học, trong tương lai sẽ thành một nhân tài giảng kinh hoằng pháp. Tôi giới thiệu ông ta đến Đài Trung, thầy Lý gặp mặt cũng rất hoan hỷ. Ông ta lớn hơn tôi chừng năm tuổi, cùng tuổi với Hàn Quán Trưởng, xuất gia từ nhỏ, chưa từng học kinh giáo, nghe tôi giảng kinh hết sức hoan hỷ. Tôi nói: “Chúng ta cùng đến học với nhau”. Đến Đài Trung, tôi học Lăng Nghiêm với thầy Lý, khi đó thầy Lý đang giảng kinh Lăng Nghiêm. Chúng tôi học từ đầu, còn ông ta thầy dạy được một nửa mới đến học, tôi khuyên ông học một bộ kinh nhỏ, đừng học Lăng Nghiêm. Lăng Nghiêm lớn quá! Tôi bảo ông ta: “Tôi đã nghe thầy Lý giảng hơn ba mươi bộ kinh nhỏ”. Nói cách khác, tôi đã có hơn ba mươi bộ kinh nhỏ làm cơ sở, hễ nghe qua bộ nào một lần tôi đều có thể giảng được. 

 Tôi từng bảo các vị đồng học tôi có khả năng phúc giảng lại chín mươi lăm phần trăm, tôi có khả năng ấy. Có trí nhớ như vậy, cũng như có khả năng hiểu. Tôi khuyên ông nên học dần dần từ những kinh nhỏ, theo học từng bộ; ông ta chẳng vui lắm, nghĩ tôi coi thường ông ta: “Ông học Lăng Nghiêm, sao tôi không học được?” Vậy là hết cách, chịu thôi! Đương nhiên căn tánh mỗi người không giống nhau, cũng có thể ông ta căn tánh cao hơn tôi, tôi chẳng bằng được ổng. Tôi từ kinh nhỏ tiến lên dần dần, ổng vừa bắt đầu đã học ngay kinh lớn, thật bất phàm! 

 Huệ Nhẫn pháphết sức dụng công, ngày đêm chẳng gián đoạn nghe thầy giảng kinh. Thấy chú giải của cổ nhân bèn dùng làm tài liệu tham khảo, mỗi tối đều học đến hai, ba giờ sáng. Tôi thấy ông ta thật dũng mãnh tinh tấn, được khoảng mười tháng, thân thể suy sụp. Có một buổi tối đang xem kinh, bỗng thấy tối đen, không thấy gì nữa cả. Đến hôm sau, sư bảo tôi vì dụng công quá độ, không có cách nào, đành phải rời Đài Trung lên Đài Bắc. Ông ta xuất gia từ nhỏ, xướng niệm hết sức hay. Khi đó, trong số những pháp sư trẻ tuổi giỏi xướng tụng, ông cũng là người có hạng. Do giỏi dùng pháp khí, ông đi làm pháp hội, làm kinh sám Phật sự. Làm độ hai năm, dành dụm được không ít tiền, mua một ký nhi viện (nhà giữ trẻ) ở vùng Mộc San thuộc Đài Bắc. Người ta muốn bán ký nhi viện ấy, ông ta liền mua ngay, lập một tiểu đạo tràng, gọi là Pháp Tạng liên xã. Đến Đài Trung bảo tôi: “Nay tôi có đạo tràng, thỉnh thầy lên Đài Bắc giảng kinh”. Tôi nói: “Tốt lắm! Chúng ta là bạn bè cũ mà!” 

 Lúc ấy, ông ta bảo tôi: “Tôi hối hận không nghe lời ông. Nếu tôi bắt đầu từ những kinh nhỏ, học dần dần từng bộ, há cũng chẳng thành công ư?” Đúng vậy! Khi đó, tôi đã đề nghị, khuyên chỉ ông ta lời hay, tuyệt đối chẳng coi thường ông ta. Học tập pháp thế gian hay xuất thế gian đều có thứ tự, từ cạn đến sâu, từ bộ nhỏ sang bộ lớn mới không mất sứcdụng công quá độ. Vị pháp sư ấy hình như mấy năm trước, độ chừng bốn năm năm trước đã vãng sanh tại Hương Cảng. Về sau, ông ta qua Hương Cảng, chúng tôi rất ít qua lại với nhau

 Bởi thế, học kinh giáo phải có điều kiện học kinh giáo. Mục đích trọng yếu nhất của việc học kinh giáo là tự mình đoạn nghi sanh tín. Tôi đề xuất “tâm, nguyện, giải, hạnh”, vì sao chúng ta chẳng được như Phật? Chúng ta chẳng thể lý giải thấu triệt. Nếu quả thật lý giải thấu triệt tương đương, tức là đối với chân tướng của nhân sanh vũ trụ, chân tướng của nghiệp nhân quả báotrình độ lý giải tương đương thì đoạn nghi hoặc rồi, chẳng còn vấn đề gì nữa! Khi trước tôi thường nói: “Các đồng học niệm Phật, quý vị gặp tôi nêu lên rất nhiều câu hỏi, tôi dùng một câu chung để đáp, câu gì vậy? Chẳng chắc thật!” Nếu quả thật quý vị niệm chắc thật, há còn vấn đề gì nữa? Vấn đề gì cũng chẳng có! Đó là lời thật. Vì sao chẳng chắc thật? Vọng tưởng quá nhiều, phân biệt, chấp trước quá nhiều; bởi vậy, quý vị không chắc thật. Vì sao vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nhiều đến thế? Vì chưa hiểu rõ chân tướng sự thật

 Do vậy, chúng ta học kinh giáo nhằm mục đích gì? Mục đích chủ yếu nhất là giúp chính mình đoạn nghi sanh tín, chân chánh chắc thật niệm Phật, tự mình được thọ dụng, tự mình có thành tựu! Tôi chẳng giúp chúng sanh sao? Quý vị đã giúp, nhưng chính mình không hiểu. Tôi giúp như thế nào? Quý vị đã là tấm gương niệm Phật tốt nhất cho người khác. Người hữu duyên trông thấy hành vi, ngôn ngữ quý vị, kẻ ấy sẽ cảm động, giác ngộ. Người vô duyên nhìn chẳng ra, người hữu duyên nhìn ra: Đây là người chân chánh niệm Phật! 

 Bởi vậy, tự hành chính là hóa tha, chúng tôi thường nói bất luận tại gia hay xuất gia, đệ tử Phật môn niệm niệm, thời thời, chốn chốn đều phải là gương tốt cho hết thảy đại chúng trong xã hội. Làm người phải là một con người tốt, làm gương tốt cho hết thảy mọi người. Những đồng học tại gia, gia đình mình phải là gương tốt cho mọi gia đình khác trong xã hội, là gia đình mô phạm. Trong đạo tràng này, nhất định phải biến đạo tràng này thành gương mẫu cho hết thảy đạo tràng. Chớ cầu ai hết, phải cầu chính mình; người khác làm gì chẳng ăn nhập gì mình cả, nhất là trong thời đại hiện tại, dân chủ, tự do, cởi mở, mỗi cá nhântự do ngôn luận, được tự do xuất bản. Bởi thế, phải dốc lòng nhớ kỹ giáo huấn của các cổ đức, ta đối xử với người, quyết định chẳng thể nói người khác là sai lầm. Nói người sai lầm, gây thị phi, kết oan cừu, tự mình đã sai mất rồi! 

 Cổ đức dạy chúng ta: “Tịnh tọa thường nghĩ đến lỗi mình”. Tự mình phản tỉnh, kiểm điểm, sám hối, sửa đổi tốt hơn, “nhàm đàm chớ luận người sai đúng”, chẳng những không nên nói mà hết thảy những điều bất thiện của người khác đừng ghim vào lòng. Quý vị để tâm là sai rồi. Tôi thường hay nói như vầy: “Để tâm đến hết thảy những chuyện bất thiện của người khác, tâm quý vị biến thành cái thùng rác!” Chuyên môn thâu thập những thứ phế thải của người ta, tâm ta biến thành thùng rác, tâm hỏng mất rồi, chẳng còn là tâm Phật nữa, tâm mình sao biến thành tâm Phật được? Quý vị chuyên môn thâu thập mọi ngôn luận, mọi đức hạnh của chư Phật Như Lai, tâm không còn bày biện những thứ gì khác, chỉ toàn trang hoàng bằng những thứ tốt đẹp của chư Phật Như Lai. Đọc tụng kinh điển, tư duy ý nghĩa kinh, nghiên cứu làm sao để thực hiện những gì giáo huấn trong kinh vào cuộc sống, áp dụng vào công việc, áp dụng vào xử sự, đãi người, tiếp vật. Đấy là tâm Phật

 Tâm giống Phật, nguyện như Phật, Phật nguyện gì? Nói chung, các nguyện của mười phương tam thế hết thảy chư Phật, quy nạp lại, không ngoài bốn nguyện lớn, đức Thế Tôn gọi là Tứ Hoằng Thệ Nguyện; quy nạp lại chẳng ngoài bốn nguyện lớn! Bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà, nếu quý vị quy nạp lại cũng chẳng ngoài bốn đại nguyện ấy. Bốn đại nguyện ấy chúng tôi thường nói, thật sự chỉ gồm một nguyện, chỉ có một điều thôi: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Những chúng sanh nào? Chúng sanh trong chín pháp giới, ai chưa chứng đắc Phật quả đều là chúng sanh. Độ nghĩa là gì? Nói theo ngôn ngữ hiện tại, độ là giúp đỡ, thành tựu cho người ấy. Chư Phật Như Lai chỉ có một nguyện ấy, giúp đỡ hết thảy chúng sanh, chẳng riêng gì loài người mà cả chúng sanh trong chín pháp giới. Trong đó bao gồm ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, bao gồm cả yêu ma quỷ quái, họ đều là chúng sanh. Quý vị phải giúp họ thành Phật. Vì sao họ lại biến thành ra như thế? Mê mất tự tánh, do vậy mới biến thành ra như thế. 

 Phật đã giác ngộ, đã hoàn toàn hiểu rành hết thảy chân tướng. Hết thảy chúng sanh có quan hệ gì với mình? Quan hệ rất mật thiết! Trong kinh điển Đại Thừa chúng ta thường đọc thấy “tự - tha bất nhị”. Tôi và anh về hình dáng chẳng giống nhau, nhưng Phật tánh hệt như nhau, cùng một Phật tánh. Bởi thế, trong kinh điển Đại Thừa đức Phật nói bao nhiêu lần: “Mười phương tam thế Phật cùng chung một pháp thân”. Mười phương tam thế Phật bao gồm cả anh lẫn tôi, loài người chúng ta, thậm chí tất cả chúng sanh trong lục đạo, ngạ quỷ, địa ngục, hết thảy chúng sanh đều là vị lai Phật. Nói tam thếquá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật; vị lai Phật là hết thảy chúng sanh hiện tiền, cùng chung một Pháp Thân, “một tâm, một trí huệ”. Chúng ta thường nói một tâm một đức, chẳng sai chút nào. 

 Chúng sanh mê mất tự tánh, chẳng biết chân tướng sự thật, khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước trong hết thảy cảnh giới. Từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước lại khởi tham - sân - si - mạn. Mê mất tự tánh, càng đi càng xa. Mê quá lâu, càng mê sâu hơn, chẳng biết quan hệ giữa mình và chúng sanh, chẳng những ta cùng hết thảy hữu tìnhmột thể, với vô tình chúng sanh (như cây cối, hoa cỏ, sơn hà đại địa) toàn thể vũ trụ đều là Pháp Thân thanh tịnh của chính mình. Ai biết? Pháp Thân Bồ Tát biết, họ chứng đắc được. Chứng đắchiểu rõ, chẳng còn nghi hoặc. Bởi thế, họ chủ động giúp hết thảy chúng sanhđiều kiện. Tự mình giúp chính mình, tự mình thành tựu chính mình! Sự nhận biết ấy trong Phật pháp gọi là “đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”. Hiểu rõ ràng quan hệ giữa hết thảy người, sự, và vật trong vũ trụ, hiểu minh bạch; đến lúc đó, nguyện người ấy tự nhiên giống hệt như nguyện của Phật. 

 Quý vị muốn độ chúng sanh thì độ bằng cách nào? Phải biết chúng sanh đang mê, chính mình khai ngộ rồi, giác ngộ rồi, làm thế nào khiến chúng sanh hồi đầu, giúp họ thành tựu bằng cách nào? Ba điều nguyện sau chính là phương pháp: “Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”. Quý vị phải cho họ thấy đoạn phiền não như thế nào, họ thấy sẽ giác ngộ, sẽ minh bạch: Phải làm như thế nào! Bồ Tát sơ học thì chư Phật Như Lai vì kẻ ấy thị hiện, có đức Phật nào chẳng thị hiện trì giới trong chín pháp giới? Trì giới để làm gì? Để đoạn phiền não! Trì giớiphương pháp, đoạn phiền nãomục đích. Nhân Giới đắc Định, Định khuất phục được phiền não. Nhân Định khai Huệ, Huệ chuyển được phiền não, chuyển phiền nãoBồ Tát. Đấy là công khóa tu hành thứ nhất, tức đức hạnh! Giáo học thế gian lẫn xuất thế gian đều lấy đức hạnh làm đầu. Quý vị muốn giúp đỡ hết thảy chúng sanh, bọn họ là chúng sanh điên đảo mê hoặc, là chúng sanh mê mất tự tánh. Quý vị muốn giúp đỡ họ, điều trước tiên là phải thành tựu đức hạnh của chính mình. Nay chúng ta chẳng phải là Phật, Bồ Tát tái lai; chúng ta xác thực là phàm phu. Phàm phu thì càng phải làm! Vì sao? Độ chính mình, đoạn phiền nãothành tựu đức hạnh của chính mình. 

 Điều này tôi phải học mất năm mươi năm, chẳng phải trong thời gian ngắn. Thoạt đầu, Chương Gia đại sư dạy tôi, quả thật lão nhân gia dùng trí huệ chân thật, thiện xảo phương tiện khiến tôi thay đổi quan niệm, tiếp nhận Giới học. Nguyên tôi nẩy sanh quan niệm sai lầm nghiêm trọng đối với Giới học, hết sức ưa thích kinh luận, nhưng đối với Giới Luật rất coi nhẹ, chẳng buồn để mắt đến. Chương Gia đại sư lao tâm khổ tứ khiến tôi giác ngộ. Giới Luật chẳng phải là những khuôn mẫu sanh hoạt thế gian như ta thường tưởng; nó chính là ranh giới phân chia phàm - thánh, là khuôn mẫu sanh sống của thánh nhân, chẳng phải của phàm nhân. Vì vậy, nó vĩnh hằng bất biến, siêu việt không gian lẫn thời gian. Chúng ta phải hiểu đạo lý này! 

 Thông thường, Đại Thừa Phật pháp thường nói hai mươi sáu món phiền não, tức hai mươi sáu loại. Phiền não vô lượng vô biên; vì để dạy dỗ cho thuận tiện, đức Thế Tôn quy nạp thành hai mươi sáu loại. Trong hai mươi sáu loại này, lại chia thành hai loại lớn: thứ nhất là Căn Bản phiền não, thứ hai là Tùy phiền não. Căn Bản phiền não sáu điều, Tùy phiền não hai mươi điều. Trong Tùy phiền não lại chia thành Đại Tùy phiền não, Trung Tùy phiền nãoTiểu Tùy phiền não. Nếu đoạn được hai mươi sáu loại phiền não này thì mọi phiền não đều đoạn sạch, khởi công từ đó. Đặc biệtcăn bản phiền não; sáu điều căn bản phiền não cũng là sáu loại lớn: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Trong ác kiến lại chia thành năm loại lớn: thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến. Bởi thế, trong sáu món phiền não, ác kiến lại chia ra thành năm thứ, trên thực tế thành ra mười điều. Mười điều đó chia thành Kiến phiền não và Tư phiền não, gọi chung là Kiến Tư phiền não

 Đức Phật bảo luân hồi lục đạo là do năm món tham, sân, si, mạn, nghi trong Kiến Tư phiền não biến hiện. Nếu quý vị thật sự đoạn được Kiến Tư phiền não, sẽ không còn luân hồi lục đạo nữa. Kiến Tư phiền não chưa đoạn, vĩnh viễn trong lục đạo luân hồi, lục đạo do đâu có? Do Kiến Tư phiền não biến hiện thành. Quý vị nếu muốn vượt thoát lục đạo, đức Phật dạy rất đơn giản: Quý vị phải bỏ hết những thứ có khả năng biến hiện ra luân hồi lục đạo thì lục đạo luân hồi sẽ chẳng còn nữa! Ai làm được? A La Hán làm được. A La Hán đoạn Kiếnphiền não, vượt thoát lục đạo luân hồi

 Trong Chứng Đạo Ca của Vĩnh Gia đại sư có mấy câu: 

 Mộng lý minh minh hữu lục thú

 Giác hậu không khôngđại thiên

 (Trong mộng rành rành phân sáu nẻo, 

 Giác rồi ba cõi rỗng toang hoang). 

 A La Hán giác ngộ rồi, vừa giác ngộ sáu nẻo không còn nữa, sáu nẻo trống rỗng không còn tam thiên đại thiên thế giới. Chúng tôi nói thế giới Sa Bà là một đại thiên thế giới, tức là lục đạo luân hồi. Trong kinh giáo, Phật thường giảng về tam thiên đại thiên thế giới rất rõ ràng. Tinh cầu chúng ta đang sống đây trong kinh Phật gọi là Nam Thiệm Bộ Châu. Tinh cầu này di chuyển trong hư không, xoay chuyển quanh núi Tu Di. Núi Tu Ditrung tâm. Thái dương, mặt trăng, rất nhiều tinh cầu đều xoay quanh eo (khoảng giữa) núi Tu Di. Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ giảng rất có lý. Quý vị thấy đó: Chẳng phải là Thái Dương hệ chuyển động trong Ngân Hà hệ đó ư? 

 Hoàng lão cư sĩ gọi trung tâm của Ngân Hà hệ là núi Tu Di. Núi Tu Di chẳng ở trên địa cầu, cũng chẳng thuộc Thái Dương hệ. Trung tâm của Ngân Hà hệ, thiên văn học cổ Trung Quốc gọi là Hoàng Cực. Hoàng Cực là núi Tu Di. Chúng ta biết Hoàng Đạo là quỹ đạo của chín đại hành tinh xoay quanh mặt trời, chúng ta gọi quỹ đạo ấy là Hoàng Đạo. Trước kia người ta không biết địa cầu xoay quanh mặt trời, cho địa cầu là trung tâm, trông thấy các hành tinh (mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao) có quỹ đạo nên gọi là Hoàng Đạo. Lúc các hành tinh xoay quanh địa cầu, họ phát hiện ra Nam Cực và Bắc Cực, hoàn toàn lấy địa cầu làm bản vị. Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ bảo trên thực tế, Phật đã dạy trong kinh, nếu quý vị chú tâm quan sát, tư duy, sẽ thấy núi Tu Di chính là trung tâm của Ngân Hà hệ. 

 Hiện nay có người nói trung tâm của Ngân Hà hệ là lỗ đen (black hole), có năng lượng rất lớn, ngay cả ánh sáng chiếu đến lỗ đen cũng bị nuốt mất. Đến bên nó, chịu ảnh hưởng bởi dẫn lực, ánh sáng đều bị co rút lại. Năng lượng lớn như thế đó. Một Ngân Hà hệ như vậy là một đơn vị thế giới, một ngàn đơn vị thế giới gọi là một tiểu thiên thế giới. Ở ngay thiên đỉnh của một đơn vị thế giới (Ngân Hà hệ) là Sơ Thiền Thiên; một Ngân Hà hệ chỉ có một Sơ Thiền thiên. Như vậy, một ngàn đơn vị thế giới, tức là một ngàn Ngân Hà hệ, là một tiểu thiên thế giới. Ở ngay thiên đỉnh của một tiểu thiên thế giới chính là Nhị Thiền thiên. Một tiểu thiên thế giới chỉ có một Nhị Thiền Thiên. Tiếp đó, lấy tiểu thiên thế giới làm đơn vị, hợp một ngàn tiểu thiên thế giới thành một trung thiên thế giới, trên thiên đỉnh của trung thiên thế giớiTam Thiền Thiên. Rồi lại dùng trung thiên thế giới làm đơn vị, gộp một ngàn trung thiên thế giới lại, gọi là một đại thiên thế giới, một đại thiên thế giới chỉ có một Tứ Thiền Thiên

 Vì vậy, lục đạothế giới Sa Bà, thế giới Sa Bà là một tứ thiên hạ, một ngàn Tam Thiền Thiên, một ngàn nhân một ngàn, thành một trăm vạn Nhị Thiền thiên, lại nhân cho một ngàn, thành mười ức Sơ Thiền thiên. Vậy thì đơn vị thế giới là Ngân Hà hệ, phạm vi rất lớn. Chúng ta độ chúng sanh, tối thiểu phải phát nguyện độ một cõi như vậy. Sa Bà thế giới là bổn quốc, quý vị phải có tâm lượng lớn như thế. Quý vị phải dùng tâm lượng ấy đối với hết thảy chúng sanh. Nếu ai đối với chúng sanh thấy chẳng thuận mắt, tức là kẻ ấy có thành kiến, chẳng phải là học Phật, chẳng đoạn được phiền não. Đoạn phiền não bằng cách nào? Quý vị phải học pháp môn nào? Nguyện chẳng phải là chuyện dễ! Nay đã hết giờ rồi! 

*

 Chư vị đồng học! 

 Chúng tôi lại giảng tiếp về “nguyện đồng Phật”, chẳng thể giảng quá nhiều, chỉ đơn giản giảng Tứ Hoằng Thệ Nguyện

 Phải hiểu chánh xác Tứ Hoằng Thệ Nguyện, phải phát nguyện, phải thực hiện, phải làm được những nguyện đó. Bởi lẽ, đoạn được Kiến Tư phiền não bèn vượt khỏi lục đạo, thoát ly biển khổ Sa Bà. Niệm Phật là một pháp môn nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, dễ dàng đơn giản, lại thành tựu thù thắng khôn sánh. Bởi vậy, trong kinh này, đức Thế Tôn bốn lần khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh Độ, một rồi hai, hai rồi ba, ba rồi bốn lần khuyên, đau lòng rát miệng như thế, tất cả chúng ta phải nhớ kỹ. Bởi vậy, chẳng thể không đoạn phiền não, pháp môn chẳng thể không học. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, nay chúng ta chỉ học một môn, học để áp dụng, chuyên tu tịnh nghiệp. Ấn Quang pháp sư thường dùng bốn chữ “chuyên tu tịnh nghiệp” để khích lệ, khuyến tấn học nhân.

 Đối với các kinh luận khác, tôi đã có nói rồi, quý vị tu Tịnh nghiệp thì phải nắm cho chắc, có nghĩa là nắm chắc vãng sanh. Nếu quý vị dư nhiều thời gian, nghiên cứu các kinh giáo khác chẳng trở ngại gì, có thể học được. Nếu chưa nắm chắc Tịnh nghiệp, quý vị hãy nghĩ xem có nên buông xuống, chuyên tu hay không? Rất nhiều kinh luận mình chưa học đến thì làm thế nào đây? Về Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ học sau, còn trong thế gian này ta không quan tâm đến chúng; vì sao vậy? Ta là hạng căn tánh trung hạ, ta không có năng lực

 Nếu quý vị thật sự đủ sức, đủ điều kiện như vậy thì được! Quý vị học những điều đó để làm gì? Để giúp đỡ người khác. Trong thế gian này có những người không thuộc căn cơ Tịnh Độ, họ chẳng thể tiếp nhận kinh giáo Tịnh Độ. Giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, trong một đời Phật giảng rất nhiều kinh luận, rất phong phú! Bất luận ai tìm đến, Phật đều có khả năng dạy hết, đúng như vậy. Chúng ta không có năng lực như Phật, tốt nhất là ngoan ngoãn nghe lời thâm nhập một môn. Thật sự thông được một môn; thế nào là thông? Ngộ nhập môn ấy, khai ngộ, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Trong Tông môn gọi là “minh tâm kiến tánh”, Giáo Hạ gọi là “đại khai viên giải”, pháp môn Niệm Phật gọi là “nhất tâm bất loạn”. Danh từ khác nhau nhưng cảnh giới hoàn toàn tương đồng, đều là minh tâm kiến tánh, đều cùng một cảnh giới. Đến lúc ấy cái gì cũng thông. Bởi thế nói: “Một kinh thông, hết thảy kinh thông”. Quý vị thông suốt toàn bộ, chẳng có gì quý vị chẳng thể giảng được! 

 Đến lúc đó, tôi có cần phải giảng hết thảy kinh nữa hay không? Rất có thể. Hết thảy kinh là để tiếp dẫn các căn cơ bất đồng, nhưng tự mình thì chuyên tu Tịnh Độ. Quý vị chẳng tin tưởng ư? Quý vị nhìn vào Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát đi. Văn Thù, Phổ Hiền giáo hóa hết thảy chúng sanh, pháp môn gì cũng nói, nhưng như quý vị thấy trong kinh Hoa Nghiêm đó, chính họ phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Tự mình nêu gương cho chúng ta thấy, hòng bảo với đại chúng: “Bất luận tu học pháp môn nào, tối hậu quay về Tịnh Độ là bậc nhất; bất luận tu học pháp môn nào, phải đem công đức tu học của mình hồi hướng cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thảy đều vãng sanh”. 

 Chúng ta thấy trong khoa phán của Vô Lượng Thọ Kinh, pháp sư Từ Châu phán định đoạn cuối của phần Ba Bậc Vãng Sanh là “nhất tâm tam bối”, nghĩa là đoạn kinh ấy nói về những người tu các pháp môn Đại Thừa khác, chẳng phải là chuyên tu Tịnh tông. Bất luận tu theo tông phái Đại Thừa Phật pháp nào, Hiển giáo, Mật giáo, đến cuối cùng đem công đức đã tu học hồi hướng cầu sanh Tịnh Độ, thì đều được vãng sanh cả. Pháp môn rộng lớn thay! Trọn chẳng nhắc tới A Di Đà Phật, chẳng tu pháp môn Tịnh Độ, quý vị chẳng thể vãng sanh ư? Không phải vậy! Bất luận quý vị tu học pháp môn nào, chỉ cần quý vị tu có thành tựu; thành tựu điều gì? Đoạn được phiền não, mở mang trí huệ, có đại nguyện độ chúng sanh, [Phật] đều nhất luật hoan nghênh. Pháp môn rộng lớn thay! Nói rõ hơn, bản kinh ấy giảng về bốn mươi tám đại nguyện của Phật A Di Đà

 Chúng tôi thành lập Tịnh Tông Học Hội, đặc biệt lấy chương thứ sáu “Phát đại thệ nguyện” của kinh Vô Lượng Thọ làm kinh văn để tụng khóa sáng, nhằm dụng ý gì? Nguyện như Phật! Dụng ý là đây! Kinh văn để tụng vào khóa chiều chọn từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy kinh Vô Lượng Thọ nhằm dụng ý gì? Hành như Phật. Từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy là Như Lai hạnh, nội dung những phẩm ấy quý vị đều đã biết cả rồi: Ngũ Giới, Thập Thiện, chẳng giảng quá cao, quá huyền, quá diệu, rất chất phác, thành thật. Đấy là ưu điểm của kinh Vô Lượng Thọ, đặc biệtbản hội tập, càng đọc càng thích thú

 Lão cư sĩ Hạ Liên Cư là bậc tái lai, chẳng phải người tầm thường! Không phải là tôi nói như vậy, vị có công năng đặc dị ở Mại A Mật (Miami), Mỹ quốc, nói như thế đó. Trong Phật pháp ta thường nói là có thần thông, người Tàu gọi là “công năng đặc dị”. Vị ấy không phải là người Tàu, mà là người Mỹ, chưa hề gặp mặt cụ Hạ, trông thấy ảnh cụ Hạ, liền bảo với mọi người: “Vị này thân thể trong suốt”. Chúng ta chỉ cần nghe nói “thân thể trong suốt” thì hiểu có nghĩa là gì? Phiền não đoạn sạch rồi. Phiền não thuộc về vô minh, chẳng trong suốt. Thân thể trong suốt, tức phiền não đoạn sạch. Phiền não đoạn sạch há phải người tầm thường ư? A La Hán Kiến Tư phiền não đoạn sạch, Trần Sa, Vô Minh chưa đoạn. Nói cách khác, thân A La Hán trong suốt một phần, chẳng trong suốt hoàn toàn. Mức độ trong suốt của Bồ Tát phải cao hơn A La Hán, đạt đến quả địa Như Lai sẽ hoàn toàn trong suốt, chúng ta hay nói là giống như thủy tinh, như lưu ly

Hội tập chẳng phải là việc dễ dàng gì, cụ hội tập khéo như thế. Cư sĩ Vương Long Thư đời Tống là người thứ nhất soạn hội tập, cư sĩ Ngụy Mặc Thâm là người thứ hai, các bản ấy vẫn còn! Quý vị mở ba bản hội tập ra so sánh, quý vị mới thấy bản hội tập của cụ Hạ rất tuyệt, đúng là khiến người đời phải khen là quán chỉ (2). Lão cư sĩ Mai Quang Hy tán thán khẳng định: “Trong kinh, Phật từng thọ ký, đến lúc Phật pháp diệt, tất cả hết thảy kinh giáo thảy đều diệt mất, kinh Vô Lượng Thọ còn lưu lại trong thế gian này hơn một trăm năm nữa. Bản diệt sau cùng chắc chắnbản hội tập của lão cư sĩ Hạ Liên Cư”. 

 Chúng tôi tin tưởng! Nếu quý vị hỏi vì sao tôi tin tưởng? Tôi có số liệu thống kê để làm căn cứ. Trong mười mấy năm qua, bất luận quốc nội hay quốc ngoại, chưa có ai chẳng yêu thích bản kinh này, cho thấy bản này rất khế cơ! Khế lý, khế cơ, bản này đương nhiên trường tồn trong thế gian, đó là đạo lý! Bởi thế, chúng tôi hữu duyên được giảng kỹ càng bản này một lần lưu lại cho hậu học tham khảo. Vì vậy, chúng tôi dùng bốn mươi tám nguyện làm khóa sáng, dùng một đoạn kinh lớn Phật giảng rất tường tận về Ngũ Giới, Thập Thiện làm khóa tối. Khóa sáng là cảnh tỉnh chính mình: Ngày hôm nay tâm nguyện chúng ta phải giống như Phật. Khóa tối là để phản tỉnh, phải sám hối, những gì Phật dạy ta làm, ta có làm được không? Những gì Phật dạy chúng ta đừng làm, ta có vi phạm hay không? Phải phản tỉnh, phải kiểm điểm, sửa lỗi đổi mới. 

Trước khi Hành, nhất định phải Giải, chữ Giải ở đây hiểu theo nghĩa rộng, tức là liễu giải chân tướng nhân sanh vũ trụ, liễu giải hết thảy người, sự, vật, giống như trí huệ của Phật, hiểu rõ mọi thứ, thấu hiểu mọi thứ, đối với mọi thứ chẳng mê hoặc; xử sự, đãi người, tiếp vật chẳng sai lầm. Có vậy mới có thể thật sự diễn nói cho người khác. Chúng ta thường nghe cổ đức nói: “Nhất niệm tương ứng nhất niệm Phật; niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Một niệm ấy tương ứng với gì? Tương ứng tâm, nguyện, giải, hạnh của Phật. Nếu quý vị chẳng biết rõ, chẳng hiểu rõ tâm, nguyện, giải, hạnh của Phật thì làm sao tương ứng được? Muốn hiểu rõ, muốn thấu hiểu thì phải nương vào lời dạy. Bởi thế, khi Thích Ca Mâu Ni Phật còn tại thế, Ngài theo đuổi việc dạy học suốt bốn mươi chín năm. Dạy điều gì? Vẫn dạy chẳng ngoài những điều “tâm như tâm Phật, nguyện như nguyện Phật, giải như Phật giải, hành như Phật hành”, dạy những điều như thế. Chớ lấy tri kiến của mình làm tiêu chuẩn, chớ lấy cách nghĩ, cách làm, cách nhìn của mình làm tiêu chuẩn. Vì sao? Chúng taphàm phu, thành kiến sai lầm; tư tưởng, kiến giải chẳng chánh xác. Những điều Phật dạy trong kinh thật ra cũng là phương tiện nói, vẫn chưa phải là chân thật nói. Phật nói đến khi nào quý vị chứng đắc quả A La Hán rồi, tức là khi Kiến Tư phiền não đoạn rồi, quý vị mới có thể tin vào ý nghĩ, vào cách nhìn của chính mình, Phật phương tiện nói như thế. Bây giờ đừng nói chi quả A La Hán, ngay Sơ Quả Tu Đà Hoàn ta cũng chẳng có phần, vì sao? Tu Đà Hoàn đã đoạn hết Kiến phiền não, thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến thật sự đoạn sạch. Kiến giải như Phật, nhưng suy tưởng vẫn chưa giống hệt Phật, kiến giải như Phật, chứng Tiểu Thừa Sơ Quả, trong kinh Hoa Nghiêm của Đại Thừa gọi là Sơ Tín Vị Bồ Tát. Ngay địa vị ấy chúng ta còn chưa đạt được, sao có thể tin vào chính mình được đây? 

Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hoàn, A Na Hàm, A La Hán là bốn quả Tiểu Thừa, quý vị thấy với ba quả đầu, đức Phật chẳng nói: “Các ngươi có thể tin vào suy nghĩ của chính mình!” Phật chẳng nói như vậy. Nói cách khác, đều chưa thể tin vào suy nghĩ của chính mình. Tôi thường hay nói: “Phải buông xuống thành kiến, vứt bỏ cách nghĩ, cách nhìn, cách nói, cách làm của chính mình, tùy thuận sự giáo huấn của đức Phật”. Trong cách nghĩ, cách nhìn đối với vũ trụ, cách nghĩ, cách nhìn đối với hết thảy con người, sự vật, chúng ta phải coi đức Phật nghĩ như thế nào thì học theo như thế đó. Phật thấy như thế nào ta phải học theo thế ấy. Dù đã chứng quả A La Hán, Tiểu Thừa, thoát khỏi lục đạo, nhưng chưa ra khỏi mười pháp giới; dẫu mình là chánh giác, nhưng còn kém Bồ Tát rất xa, Bồ Tátchánh đẳng chánh giác. Bởi vậy, tốt nhất vẫn là tiếp tục không ngừng tùy thuận lời Phật răn dạy, sẽ chẳng sai, chúng ta sẽ sớm có một ngày thành Vô Thượng Đạo.

Lời giáo huấn chân thật của chư Phật Như Lai là khuyên chúng ta niệm Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ; như Thiện Đạo đại sư đã nói: “Sở dĩ Như Lai xuất hiện trong thế gian chỉ nhằm nói ra biển Di Đà bổn nguyện”. Chúng ta phải nhớ kỹ, đấy mới là giáo huấn chân thật bậc nhất. Tùy thuận lời giáo huấn của đức Phậttương ứng, đấy mới là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. 

“Bởi thế, kinh dạy: Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật”. Mười hai chữ ấy nằm trong kinh văn chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm. Nhớ gì nơi Phật? Niệm gì nơi Phật? Phải biết điều này. Nhớ tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật, niệm tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật. Đó gọi là “thật sự niệm Phật”, chẳng phải là nghĩ đến tướng hảo hay danh hiệu Phật. Tướng hảo, danh hiệuphương tiện. Chẳng thể buông bỏ phương tiện, do phương tiện mà nhập chân thật, chân thật là tâm - nguyện - giải - hạnh. 

Chúng ta nghĩ đến tướng hảo của Phật, trông thấy tượng Phật ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, trông thấy tượng Phật bèn nghĩ đến tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật. Niệm một câu danh hiệu A Di Đà Phật phải nghĩ đến thực chất của danh hiệu Phật. Thực chất của danh hiệu Phật là gì? Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh! Ta tự mình niệm một câu Phật hiệu, hoặc nghe người khác niệm một câu Phật hiệu, lập tức nhắc nhở, đánh thức chính mình, phải giữ tâm mình sao cho giống hệt tâm Phật, nguyện giống hệt như Phật, giải giống hệt như Phật (giải là trí huệ), hạnh giống hệt như Phật (hạnh là đức hạnh). Một câu Phật hiệu chứa đựng thật viên mãn tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật, không thiếu sót chút nào. 

Chúng ta lại phải hỏi: “Tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật có tài liệu tham khảo nào để ta học tập hay không?” Có chứ, đơn giản nhất là kinh A Di Đà. Đó là tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật. Tỉ mỉ hơn chút nữa là kinh Vô Lượng Thọ, tỉ mỉ hơn chút nữa là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. Cổ đức nói Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinhđại bổn của kinh A Di Đà; nay chúng ta niệm kinh A Di Đà chính là niệm tiểu bổn kinh Hoa Nghiêm. Vô Lượng Thọ kinhtrung bổn. Ba kinh này giảng những điều rộng lược khác nhau. Kinh A Di Đà nói lược, nói rất đơn giản, rất thiết yếu, nói lược. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh nói rộng, nói rất chi tiết. Toàn kinh giảng điều gì? Giảng Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh. Quý vị nghĩ có phải vậy không? Hiểu được đạo lý này, quý vị sẽ hiểu vì sao chúng tôi đối với việc nghiên cứu kinh giáo, nghiên cứu giáo lý coi trọng đến thế! Chẳng có gì khác cả, chúng ta học Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh. Đó là niệm Phật, đó là nhớ Phật. 

Sau câu “nhớ Phật, niệm Phật” là Quả: “Hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật”. Hiện tiềnhiện tại, tương lai là sau khi vãng sanh; hiện tiền là lúc ta chưa vãng sanh. “Nhất định”: Chúng ta thấy ngữ khí câu này rất khẳng định, người ấy lâm chung thấy Phật đến tiếp dẫn, nói với người bên cạnh: “Tôi thấy A Di Đà Phật rồi!” Đó là hiện tiền thấy Phật. Kẻ ấy được thấy, chúng ta cùng ở trong phòng bệnh, chẳng ai thấy cả mà kẻ ấy thấy được. Chuyện này chẳng phải giả, là thật đấy! 

Vào lúc ấy, người bình thường trông thấy người nhà thân quyến, bảo mọi người chung quanh: “Tôi thấy ông X. đến, ổng đứng ngoài cửa”. Những người được nhắc đến ấy đều là người nhà, thân quyến của kẻ ấy, đều đã chết rồi, lúc ấy kẻ sắp chết trông thấy. Đó có phải là người nhà, thân quyến của kẻ ấy chăng? Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện giảng rõ sự tình này: Chẳng phải là người nhà, quyến thuộc của kẻ ấy. Là ai vậy? Là oán thân trái chủ. Oán thân trái chủ biến hiện ra hình dạng người nhà, quyến thuộc đến làm gì? Đến kéo kẻ ấy đi, kéo kẻ ấy đi tính sổ, trong kinh Địa Tạng đức Phật dạy như vậy. 

Người niệm Phật phải đặc biệt cẩn thận, người lâm chung nói những câu ấy, phải đặc biệt cảnh tỉnh kẻ ấy: “Đừng quan tâm đến! Bất luận thấy ai cũng đừng quan tâm đến, cứ nhất tâm niệm Phật. Ông (bà) thấy A Di Đà Phật đến tiếp dẫn thì ông (bà) có thể theo Ngài; ngoại trừ A Di Đà Phật ra, Phật, Bồ Tát nào khác đến cũng chẳng được theo. Trong số đó chỉ có Quán Âm, Thế Chí, A Di Đà Phật, đó là Tây Phương Tam Thánh; còn tất cả Phật, Bồ Tát khác, ông (bà) trông thấy đều chẳng được theo. Vì sao? Có thể là ma giả mạo đấy!” 

Ma giả mạo Phật, Bồ Tát, giả mạo người nhà, quyến thuộc đều chẳng phạm pháp, nhưng nó chẳng thể giả mạo Bổn Tôn. Chúng ta tu Tịnh Độ, Tây Phương Tam Thánh là Bổn Tôn. Yêu ma quỷ quái chẳng thể giả mạo Bổn Tôn, giả mạo Bổn Tôn, thần Hộ Pháp bèn trừng phạt nó, nó chẳng dám làm vậy. Nó giả mạo Phật, Bồ Tát khác, hộ pháp thần chẳng can thiệp, nhất định chẳng được giả mạo Bổn Tôn. Bởi thế, mọi người đừng sợ hãi: Lúc lâm chung gặp A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí, cứ an tâm đi theo, đó là thật, chẳng giả đâu! “Hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật”. 
 
 

6.3.1.2. Y Báo diệu nghiêm 

6.3.1.2.1. Tổng thuyết y báo diệu nghiêm
 
 

Chúng ta xem tiếp đoạn dưới, giảng về sự mầu nhiệm của Y Báo. Đoạn kinh văn này tiếp theo đoạn Tự Phần ở trên, trước hết là: 
 
 

 “Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?” 

 (Này Xá Lợi Phất! Cõi ấy vì sao tên là Cực Lạc?) 
 
 

 Còn đây là câu giải đáp

 “Kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc”. 

 (Chúng sanh cõi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng các sự vui, nên tên là Cực Lạc). 
 
 

 Vì sao thế giới ấy tên là thế giới Cực Lạc? Câu này giải thích: Chúng sanh sống trong thế giới ấy gồm có trời, người, Thanh Văn, Bồ Tát, không có ba ác đạo, Tây Phương Cực Lạc thế giới không có ba ác đạo. Cư dân nơi đó không khổ, không khổ là lạc; vì vậy thế giới ấy tên là Cực Lạc. Dưới đoạn này, chúng tôi thuyết minh đơn giản “nói chung, không có các khổ, hưởng các sự vui”. Các khổ rất ư là nhiều, trong kinh Đại Thừa, Phật nói có vô lượng khổ; lại nói đến tám vạn bốn ngàn nỗi khổ. Tám vạn bốn ngàn chẳng phải là nói tùy tiện, quý vị hãy tra trong Phật Học Từ Điển, hoặc tra Giáo Thừa Pháp Số sẽ thật sự liệt kê từng điều cho quý vị thấy, tám vạn bốn ngàn sự khổ! Trong nền giáo học nhà Phật, tất cả hết thảy sự khổ quy thành ba loại lớn, thường được nói đến rất nhiều trong khi dạy dỗ. Ba loại lớn ấy Đại Thừa Phật pháp cũng thường gọi là Tam Khổ, tức là ba loại khổ lớn: Thứ nhất là Khổ Khổ, thứ hai là Hoại Khổ, thứ ba là Hành Khổ. Trong các từ ngữ này, chữ thứ nhất là động từ, chữ thứ hai là danh từ. Như Khổ Khổ, chữ đầu là động từ, chữ sau là danh từ. 

 Gì gọi là Khổ? Nói chung là “phiền não bức bách thân tâm” (nay ta gọi là “áp lực”), thân chịu áp lực, tinh thần chịu áp lực. Thân thểáp lực, chẳng tự tại, rất đau khổ, cái khổ ấy nói mãi chẳng tận. Phật lại chia thành tám loại lớn, bởi thế Khổ Khổ cũng gọi là Bát Khổ, tức tám thứ Khổ Khổ. Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ gọi là Tam Khổ; đó là ba loại lớn. So Bát Khổ với Tam Khổ thì Tam là ba loại lớn, còn Bát thuộc một loại trong ba loại. Bát Khổ thuộc về Khổ Khổ, tám cái khổ nào? “Sanh khổ, tử khổ, bệnh khổ, lão khổ” là bốn loại lớn; “Cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội ngộ khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ” (khổ vì cầu chẳng được, khổ vì yêu thương biệt ly, khổ vì chán ghét mà cứ phải gặp gỡ, khổ vì năm ấm lừng lẫy) là bốn loại lớn nữa, gộp thành tám loại, gọi là Bát Khổ. Khổ được định nghĩa như sau: “Phiền não bức bách thân tâm”. 

 Chúng ta thấy đức Thế Tôn nói tám loại lớn ấy hết thảy chúng sanh đều chẳng thể tránh khỏi. Đã ở trong lục đạo thì phải chịu đựng hết. Đúng là người người bình đẳng. Đừng nói là đế vương, ngay cả thiên vương – thiên ở đây là Dục Giới, Sắc Giới thiên không có Khổ Khổ, nhưng có Hoại Khổ, có Hành Khổ – trong Dục Giới thiên, Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ thảy đều đầy đủ. Đúng là khổ chẳng nói nổi. 

 Cái ải Sanh Khổ chúng ta đã trải qua, khổ đến mức nào nay đã quên hết rồi. Trong kinh đức Phật đã giảng, chúng ta phải chú tâm tư duy quán sát mới hiểu được đôi chút. Chúng tôi lấy con người làm thí dụ, tất cả hết thảy hữu tình chúng sanh chẳng ra ngoài lệ ấy. Quý vị sanh vào thế gian này là vì có duyên với cha mẹ; không có duyên chẳng thể biến thành người cùng một nhà. Phật nói những duyên nào? Duyên rất phức tạp! Phật giảng kinh đích thật có phương tiện thiện xảo, Ngài đem những thứ duyên phức tạp đó quy nạp thành bốn loại lớn, rất dễ nói. Thứ nhất là báo ân, thứ hai là báo oán, thứ ba là đòi nợ, thứ tư là trả nợ. Người cùng một nhà chẳng ngoài bốn mối quan hệ này. Nếu chẳng có bốn mối quan hệ ấy, chẳng thể thành người một nhà. Trong một đời quý vị, một cá nhân nào quý vị quen biết, bất luận nhân vật nào cũng đều là bốn mối duyên ấy. Bốn mối duyên ấy sâu cạn, dày, mỏng khác nhau. Duyên sâu, duyên dày biến thành người một nhà. Người duyên cạn, duyên mỏng hơn một chút biến thành thân thích, bằng hữu. Cạn hơn nữa, mỏng hơn nữa biến thành những người quen thân. Thậm chí, ngay cả những người ta gặp trên đường, cười với họ, gật đầu chào nhau là duyên rất cạn. Phải có duyên, không có duyên họ chẳng chào quý vị. Thậm chí người ta gặp ngoài đường, vốn chẳng quen biết, người ta thấy mình ngứa mắt, liếc một cái cũng là duyên, nhưng duyên rất cạn, cũng có thể những người ấy cả đời ta chỉ gặp một lần. Cổ nhân thường nói: “Hữu duyên ngàn dặm gặp nhau, vô duyên đối diện nhìn nhau chẳng màng”. 

 Vì thế, Phật, Bồ Tát, thiện tri thức thường chỉ dạy chúng ta phải kết thiện duyên cùng người, phải kết pháp duyên, điều này rất có lý. Đã hiểu bốn mối quan hệ giữa người với người, nếu ai trong quá khứ chịu ân mình họ sẽ đối xử hết sức tốt với ta. Lúc ta gặp gian nan, khốn khổ gì, kẻ ấy chẳng tiếc nuối mảy may, toàn tâm toàn lực giúp mình, báo ân mà! Còn báo oán thì kẻ ấy thấy mình hoàn toàn gai mắt, thường hay lăng nhục, hủy báng, dối trá, thậm chí làm thương tổn mình, báo oán đấy! Kẻ đến lừa đảo tài vật, trộm cắp của cải mình đều là đòi nợ. Ai đến giúp quý vị kiếm tiền, giúp cuộc sống quý vị được giàu có, dư dật, là trả nợ vậy! 

 Chú tâm quan sát, tùy thuận lời đức Phật răn dạy, ai báo ân thì hy vọng đôi bên chúng ta ân đức càng sâu, chẳng những càng sâu thêm mà còn phải giác ngộ, mình làm sao đền đáp? Phải giúp cho kẻ ấy giác ngộ. Với kẻ báo oán, muốn hóa giải oán thì phải có trí huệ, phải có phương tiện thiện xảo. Phương pháp không nhất định, cốt sao vận dụng hết sức thích đáng, oán ấy sẽ hóa giải. Nhưng nguyên tắc, cương lãnh tối trọng yếu nhất để hóa giải oán kếtnhẫn nhục, nhường nhịn. 

 Cổ nhân thường dạy chúng ta nghịch cảnh xảy đến phải thuận chịu, ta vĩnh viễn gìn giữ tấm lòng nhân từ, lòng khoan thứ, lòng báo ân. Người ta đến lừa dối mình là có ân gì với mình? Hóa giải oán kết là ân. Huống hồ chẳng cần biết có lý hay không có lý, họ đến lừa dối mình, hủy báng mình, khinh nhục mình, ta không có khả năng báo thù, hay nếu có khả năng báo thù nhưng không báo, đó chính là đức hạnh, chính là giác ngộ. Trong tâm không oán hận, rõ ràng minh bạch, sổ nợ của mình với họ đến đây thanh toán xong. Vui mừng, cũng như tôi ghi sổ nợ trong quá khứ: Tôi lừa dối anh, trong đời này anh cũng lừa dối tôi, có đi, có lại là huề, rất vui mừng, xóa nợ rồi! 

 Ân ở chỗ nào? Thành tựu Nhẫn Nhục Ba La Mật cho mình, Nhẫn Nhục Ba La Mật được hiển thị vào lúc nào? Trong những lúc ấy, quý vị thấy có Nhẫn Nhục Ba La Mật hay chăng? Có Bát Nhã Ba La Mật hay chăng? Có Thiền Định Ba La Mật hay chăng? Có Trì Giới Ba La Mật hay chăng? Có Bố Thí Ba La Mật hay chăng? Nhẫn một điều là tu trọn sáu Ba La Mật. Người ta giúp mình, thành tựu “lục độ đều tu” cho mình, quả là việc tốt, chứ không phải việc xấu! Bởi vậy, quý vị phải hiểu đạo lý ấy, tự mình thật sự thọ dụng, sao chẳng cảm ơn? Nếu quý vị chẳng tiếp nhận sự răn dạy của thánh hiền, do thói quen nhất định chúng ta sẽ làm sao? Ôm lòng sân hận, nay ta chẳng có năng lực thì trong tương lai sẽ báo thù, nếu ta có năng lực sẽ phản kháng ngay trong hiện tại. Nhất định là vậy! Thế thì oan oan tương báo bao giờ xong? Chẳng phải chỉ một đời này đâu! Một đời này lầm lỗi nhỏ nhặt, đời sau càng nghiêm trọng hơn, cứ mỗi một đời lại càng nghiêm trọng hơn; hai bên cùng đau khổ, lầm lạc quá! Bởi thế, phải có trí huệ cao độ, phải thật sự nhẫn nhục, hóa giải oán kết, đôi bên cùng lợi. Chỉ có bậc thánh hiền mới dạy chúng ta như thế, người tầm thường chẳng thể. Vậy thì bốn mối duyên ấy chúng ta phải hiểu biết rõ ràng. Sanh chính là đến thọ sanh. Sanh vẫn chưa giảng xong, bây giờ đã hết giờ rồi. A! Ngày mai chúng tôi giảng tiếp. 
 
 

*

 Chư vị đồng học!

 Xin xem tiếp phần “Y báo diệu”, chúng ta đọc kinh văn tới câu này: 

 “Kỳ quốc chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc. Cố danh Cực Lạc”. 
 
 

 Tiết trước, chúng tôi đã giảng “vô chúng khổ”, đã nói đến Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ. Trong Khổ Khổ, giảng tám thứ khổ: sanh, lão, bệnh, tử, cầu chẳng được, thương yêu chia lìa, chán ghét phải gặp gỡ, năm Ấm lẫy lừng. Tám thứ phiền não ấy bức bách thân tâm, nói như chúng ta bây giờ là thân thể chịu áp lực rất lớn, tâm tình chịu áp lực rất lớn. Ở phần trên, chúng tôi đã giảng đến Sanh, tức Sanh Khổ. Thật ra, chúng tôi nói Sanh Khổ vẫn chưa xong. Trước hết, nói đến việc thọ sanh đầu thai, đầu thai (sanh vào thai mẹ) thì có bốn duyên: Báo Ân, Báo Oán, Trả Nợ, Đòi Nợ. 

 Con người, thật ra là hết thảy động vật, trong lục đạo xả thân thọ sanh nói chung chẳng ngoài bốn duyên. Chúng ta liễu giải sự thật chân tướng ấy, nhất định phải nhớ cho thật kỹ: Nhất định đừng để thiếu nợ, nhất định chẳng nên kết oán. Hai việc ấy trọng yếu hơn bất cứ gì khác. Trong một đời này, chúng ta gặp được thánh nhân giáo huấn nên hiểu biết. Nếu trong một đời này, chúng ta chẳng gặp được thánh nhân giáo huấn sẽ chẳng hiểu, chẳng biết, chẳng thể liễu giải đạo lý ấy, chẳng liễu giải chân tướng sự thật; thử hỏi có kết oán cừu cùng chúng sanh hay chăng? Chắc chắn có! Có thiếu nợ hay chăng? Chắc chắn có! Thiếu nợ người những gì? Chiếm tiện nghi của người ta, đó là thiếu nợ. Thiếu nợ phải trả nợ, kết oán phải bị báo đền, oan oan tương báo mãi chẳng thôi, sự tình ấy đáng sợ, đáng hoảng hốt hơn bất cứ chuyện gì khác. 

 Con người chẳng hiểu chuyện chịu lép. Chịu lép là có phước, nói như vậy chẳng sai chút nào. Vì sao chịu lép là phước? Chịu lép thì nghiệp chướng từ trước bèn tiêu, làm sao tu? Tu hành: Hành là hành vi, hành vi sai lầm; Tu là sửa cho đúng, sửa đổi cho đúng những hành vi sai lầm thì gọi là “tu hành”. Từ trước đến giờ chúng ta chẳng chịu thiệt; ý niệm ấy, hành vi ấy là sai lầm. Nói chung, khi chúng ta bị thiệt thòi bèn oán hận, bèn mong báo thù. Hễ tâm niệm ấy khởi lên thì chủng tử bèn gieo vào A Lại Da thức, tương lai gặp duyên, chủng tử ấy khởi hiện hành rất phiền phức, rất đáng sợ! 

 Phải làm sao chân chánh giác ngộ giống như Phật, thật sự hiểu thấu suốt như Phật. Trong một đời này nhất định chẳng kết oán cừu với người khác. Mình bị thiệt thòi chuyện chi, bị người khác lừa gạt điều gì, bị người khác hãm hại như thế nào, trong tâm cảm thấy như không chuyện gì xảy ra, nhất định chẳng để tâm, đó gọi là “tu hành”. Chẳng có tâm oán hận, chẳng có tâm báo thù. Sửa đổi như thế; đời sau lúc gặp lại sẽ thành bạn bè tốt. Giải được oán kết rồi, hóa giải rồi thì đó chính là phước. Người bị thiệt thòi tương lai nhất địnhphước báo. Chẳng chịu thiệt thòi, ôm hận trong lòng, niệm niệm chẳng quên, sau này gặp lại nhau, báo thù, oan oan tương báo. Báo thù như vậy chẳng phải là hai bên đều đau khổ ư? Đó là họa, đâu phải phước! Đời đời kiếp kiếp không xong, quý vị nói chẳng phải rất khổ ư? 

 Oan gia đối đầu phải là hai bên, nếu một bên đã giác ngộ sẽ bèn hóa giải. Chúng ta chẳng cần đợi người khác giác ngộ, tự mình giác ngộ; hễ tự mình giác ngộ sẽ hóa giải. Cam lòng chịu thiệt, cam lòng bị lừa gạt, nhất tâm nhất ý tích cực nỗ lực tu học, học tập, nỗ lực niệm Phật, quyết định trong một đời này sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi, trí huệ mở mang, đức năng, thần thông hiện tiền, thả chiếc bè từ, lại trở vào trong chín pháp giới giúp đỡ chúng sanh hữu duyên trong quá khứ. Duyên gì vậy? Chính là những kẻ ân, oán, đền nợ, đòi nợ, họ có những duyên ấy cùng ta, chúng ta giúp đỡ họ, độ họ. 

 Nhớ kỹ “Phật chẳng độ kẻ vô duyên”, chỉ cần có duyên là quý vị đều có thể dùng trí huệ, phương tiện thiện xảo giúp đỡ họ, giúp họ phá mê khai ngộ, giúp họ chuyển phàm thành thánh. Phải hiểu đạo lý này, phải liễu giải chân tướng sự thật. Thành tựu người khác chính là thành tựu đức hạnh, trí huệ, thần thông, phước báo của chính mình. Chướng ngại người khác, ngăn trở người khác, dù hữu ý hay vô ý gây thương tổn người khác, ngạn ngữ gọi là “tổn người lợi mình”. Chẳng được tổn người lợi mình! Nếu quý vị vị kỷ, một đời này thọ mạng rất ngắn, được hưởng nhiều lợi ích ư? Được thụ hưởng lâu dài ư? Nhưng tội báo trong tam đồ, trong địa ngục, chẳng biết phải chịu khổ như thế gấp trăm, gấp ngàn, gấp vạn lần, sao lại làm những chuyện như thế? 

 Trước kia, thầy Lý có kể cho chúng tôi một câu chuyện, chuyện ngụ ngôn, thầy kể đâu chừng mấy lần. Bởi vậy, chúng tôiấn tượng rất sâu, kể chuyện một gã thầy lang dở giết người. Chẳng phải là cố ý, y thuật không cao minh nên chẩn đoán sai lầm, dùng lầm thuốc! Phàm ai cho thầy lang chữa bệnh, bệnh nhẹ không sao, còn bệnh nặng mời gã đến, trị một cái là chết, trị chết chẳng ít người! Đến lúc chính gã chết, tiểu quỷ bắt đi, giải đến vua Diêm La. Gã ta đến trước điện Diêm La, thấy trong điện Diêm La có không ít người, đều là những người bị mình trị chết. Vua Diêm La phán đày gã thầy lang xuống tầng địa ngục thứ mười tám, gã tâu cùng vua Diêm La

- Oan uổng! Tôi đâu cố ý hại người! Vì tôi y thuật không cao minh, dùng sai thuốc, tôi chẳng hữu ý giết hại họ!

- Chẳng phải hữu ý, nhưng nhiều mạng người như thế, mi phải gánh chịu. Trước hết đọa địa ngục, từ địa ngục trở ra lại phải đền mạng. Hữu ý thì hữu ý đền mạng, vô ý thì vô ý đền mạng, vô ýngộ sát. Chẳng tránh khỏi nhân quả, cổ nhân nói đúng đấy, chẳng giả đâu; nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai, tống hắn xuống địa ngục

Xuống đến địa ngục vẫn kêu oan, chẳng cam lòng, chạy loạn lên trong địa ngục. Gây náo loạn như thế, chợt nghe phía dưới có người nói: “Lão huynh! Ông đừng chạy lung tung như thế. Ông vừa cất bước, tro bụi đều rớt đầy xuống người tôi!” Ông ta nghĩ: “Mình đã ở tầng địa ngục thứ mười tám, sao còn có tầng địa ngục thứ mười chín?” Bèn hỏi: “Lão huynh làm gì vậy?” 

- Tôi dạy học! Thầy thuốc dở làm chết người đọa tầng địa ngục thứ mười tám. Thầy dạy dở đọa tầng địa ngục thứ mười chín, tức là anh dạy học, dạy lầm con em người ta còn nặng tội hơn thầy thuốc dở làm chết người. 

Nhưng quý vị phải biết: Một vị thầy giỏi có công đức cả pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian không gì sánh bằng được. Ở Trung Quốc, quý vị thấy Khổng lão phu tử có ai sánh bằng được Ngài chăng? Ngài có công đức gì? Dạy học! Ông thầy tốt chẳng dạy lầm con em người ta. Quý vị thấy Thích Ca Mâu Ni Phật là vị thầy tốt, tuyệt đối chẳng dạy người lầm lạc, dạy suốt bốn mươi chín năm. Bởi thế, công đức dạy học của Phật bậc nhất trong mọi pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian. Dạy học phải gánh lấy trách nhiệm nhân quả, giống như thầy thuốc vậy. Dạy học vụng về phải đọa tầng địa ngục thứ mười chín! Đó là ngụ ngôn, chưa chắc là sự thật, nhưng quý vị phải hiểu, như chúng ta mới vừa đọc trong kinh, tôn giả Châu Lợi Bàn Đà Già đời xưa kia là Tam Tạng pháp sư: Tuy không dạy sai lầm, nhưng vì tiếc pháp, dạy cho người chỉ dạy một nửa, nửa sau không dạy. Vì sao? Sợ người tương lai hơn mình, đấy là gì? Tâm ghen ghét, tiếc pháp! Đọa địa ngục, tội báo địa ngục mãn rồi, được ra, tuy được thân người, nhưng ngu si! Tiếc pháp mắc quả báo ngu si như thế, chúng ta phải hiểu việc ấy. 

Trung Quốc, công án “dã hồ” (chồn hoang) trong Thiền Tông rất nhiều người biết. Con chồn hoang ấy năm trăm năm trước là một pháp sư giảng kinh, thuyết pháp, nói sai một câu, tức là nói câu chuyển ngữ sai một chữ. Nói sai một chữ thôi, bị quả báo đọa làm thân chồn hoang năm trăm năm! Bách Trượng đại sư cứu cho. Nếu chẳng gặp Bách Trượng, vẫn phải thọ tội trong đường súc sanh. Nghĩa là gì? Dạy học không thể không cẩn thận

Biết thì nói biết, không biết nói không biết, chẳng được miễn cưỡng không biết nói biết, chẳng được thể diện hão. Người ta đến hỏi mình, mình không biết cảm thấy quê quá, phải dùng đại điều gì đó đáp cho xuông, làm vậy rất đáng sợ! Nếu quý vị dạy điều gì sai lầm, hãy nghĩ đến chuyện con chồn hoang trong nhà Thiền, hãy nghĩ đến Châu Lợi Bàn Đà Già, mình sẽ gặp phải quả báo. Nếu nói người ta đến hỏi mình, cái gì mình cũng không biết thì làm cách nào đây? Niệm A Di Đà Phật là xong. A Di Đà Phậtvô thượng pháp môn, quyết định chẳng hại người, quyết định chẳng dối người. Khuyên mọi người cầu sanh Tịnh Độ, thù thắng hơn bất cứ gì khác. Sao chúng ta không làm như vậy? Các đại đức, thiện tri thức xưa kia làm như vậy không ít; bất luận quý vị hỏi các Ngài điều gì, các Ngài đều niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật. Ngoại trừ một câu A Di Đà Phật ra, chẳng có câu thứ hai nào hết. Các Ngài tự mình tu hành thành công, dạy hết thảy chúng sanh cũng thành công, đạo lý ấy hết sức sâu xa

Chúng tôi giảng pháp nhiều năm, nói thật ra cũng nêu lên vô lượng vô biên Phật pháp, nhưng đến cuối cùng đều quy vào một câu A Di Đà Phật. Quý vị nêu lên một câu A Di Đà Phật, đấy chính là vô thượng pháp bảo. Vạn pháp quy nhất, nhất là gì? Nhất chính là một câu danh hiệu, vạn đức hồng danh. Nhất quy về đâu? Quy về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, được oai thần bổn nguyện của Phật A Di Đà gia trì, tu học trong hoàn cảnh ấy, một đời chứng đắc quả Phật rốt ráo viên mãn chẳng thể nghĩ bàn! Đúng là như trong kinh nói: “Vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc” (không có các khổ, chỉ hưởng các vui) nên thế giới ấy tên là Cực Lạc, quyết định chẳng sai! 

Bởi vậy, chúng ta phải hiểu rõ nhân duyên của việc đầu thai, giữa con người với nhau không tránh khỏi bốn duyên ấy. Sanh là khổ, phần trên đã giảng rồi, chúng tôi đã nói rồi, [quý vị] quên rồi! Trong kinh đức Phật giảng rất rõ ràng, quý vị đầu thai thì đầu thaimê hoặc; nếu quý vị hiểu rất rõ ràng, rất tỉnh táo, sẽ chẳng đầu thai nữa. Hữu tình đến đầu thai, đến thọ sanh trong lục đạonguyên nhân nào? Trong kinh Phật nói là vì dâm dục. Hết thảy chúng sanh (chỉ lục đạo chúng sanh) đều lấy dâm dục làm tánh mạng chánh, đều đến đầu thai như thế. Nếu lúc đầu thai quý vị mang thân nữ, tức là quý vị thích thân nữ bèn mang thân nữ; nếu thích thân nam bèn mang thân nam. Bởi vậy, chẳng đoạn tình dục, chẳng thể không đầu thai. Bởi vậy, tình dục chẳng đoạn, chẳng thoát khỏi lục đạo luân hồi. Do vậy, giới luật tại gia, đặt Sát làm đầu, chẳng sát sanh, chứ không phải tà dâm; còn trong giới luật xuất gia, chẳng dâm là điều đầu tiên. Vì sao? Xuất gia muốn liễu sanh tử, muốn thoát tam giới, dâm dục chẳng đoạn thì chẳng thể thoát tam giới được. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật nói rất tường tận: Dục là gốc luân hồi lục đạo; chẳng nhổ tận rễ làm sao ly khai lục đạo được? Bởi vậy, quý vị đầu thai, đầu thai rồi, nằm trong bụng mẹ, Phật gọi mười tháng hoài thai ấy là “thai ngục”, trong bụng mẹ chịu nỗi khổ giống như trong địa ngục. Khi mẹ uống một chén nước lạnh, quý vị cảm thấy như đang ở trong địa ngục Hàn Băng. Mẹ ăn thứ gì nóng, cảm thấy như đang ở trong Đại Hỏa địa ngục, khổ chẳng nói nổi, “thai ngục” là vậy! Bởi thế, mười tháng hoài thai, những ký ức thuộc đời trước quên sạch sành sanh, rất khổ! Chúng ta phải tin vào sự kiện này. 

Trong quá khứ, tôi có một người bạn già, con ông ta độ chừng mười mấy tuổi, rất khờ khạo. Ông ta bảo tôi: “Đứa nhỏ này hồi bé hết sức thông minh, lên ba bốn tuổi mắc phải một trận bệnh nặng. Lành bệnh rồi, thông minh, ký ức đâu mất hết!” Một trận bệnh nặng trong thế gian còn có thể khiến ký ức bị mất, mất sạch thông minh, trí huệ. Thời gian mười tháng rất dài, ở trong thai, tất cả hết thảy ký ức đời trước đều quên sạch hết, đẻ ra không biết gì hết. Trong kinh Phật nói: Thai nhi nằm trong bụng mẹ cứ mỗi bảy ngày lại biến hóa, Phật giảng sự biến hóa cách mỗi bảy ngày rất tường tận, đó là “khổ chẳng thể nói nổi”. Bởi vậy, đứa nhỏ sanh ra, âm thanh thứ nhất là gì? Quý vị có chú ý chăng? Âm thanh thứ nhất là “khổ a!” Sanh ra là khổ, khổ suốt đời, đó là Sanh Khổ! 

Có một số nhỏ trẻ sanh ra còn nhớ được chuyện đời trước là do nguyên nhân gì? Trong kinh, đức Phật gọi tình trạng đó là “đoạt thai”. Lúc mẹ nó hoài thai chẳng phải là hoài thai nó, mà là mang thần thức của người khác. Kẻ ấy đến đòi nợ, nhưng không thiếu nợ nhiều lắm. Người mẹ mang thai phải thọ tội, phải chịu tội hoài thai mười tháng, thân thể chẳng được thong dong. Vừa sanh ra liền chết, tức là thần thức ly khai liền, vì sao? Hai bên chỉ có quan hệ đến đó mà thôi. Nhưng kẻ khác có duyên đối với gia đình đó, khi thần thức kẻ kia vừa ly khai, thần thức kẻ này bèn dựa ngay vào thân thể đó. Nói cách khác là thay đổi thần thức, trong nhà Phật gọi chuyện ấy là “đoạt thai”. Lúc hoài thai chẳng phải kẻ này, lúc sanh ra kẻ này mới đến. Vì thế, cái gì nó cũng hiểu rõ, chẳng quên một mảy sự tình đời trước; nhưng hiện thời biến thành một đứa trẻ nhỏ. Cũng có lúc đứa trẻ nói được, mọi người chẳng chấp thuận, cho nó là quái vật. Bị quở như vậy chẳng dám nói nữa, nhưng hiểu rành rẽ, minh bạch. Đoạt thai chỉ là một số ít, nhưng không phải chẳng có. Người đoạt thai như vậy không có Sanh Khổ, không phải ở trong thai mười tháng, chẳng chịu nỗi khổ thai ngục. Nhưng đó chỉ là thiểu số, hết sức là ít! 

Hễ có sanh thì phải có lão, cho nên con người phải giác ngộ. Thích Ca Mâu Ni Phậtchúng ta thị hiện: Ngài giác tánh rất cao, hết sức linh mẫn, linh hoạt mẫn tiệp. Tuy mình chưa già, nhưng trông thấy người già, trông thấy cái khổ của người già cả, lập tức nghĩ mình trong tương lai có bị già hay không? Già rồi có giống người kia hay không? Cảm thấy rất hoảng sợ. Người sống trong thế gian sống nhờ vào ngũ cốc và các món lương thực, chẳng thể không sanh bệnh. Dẫu tự mình chưa sanh bệnh, nhưng thấy người khác mắc bệnh khổ sở mọi bề như thế liền giác ngộ. Những tướng ấy (sanh, lão, bệnh, tử) không một cá nhân nào tránh khỏi được. 

Sanh - lão - bệnh - tử là tướng bày ra trước mắt ta mỗi ngày, vây bủa ta khắp bốn phía, thời thời khắc khắc cảnh cáo chúng ta, nhưng quý vị có nhận biết, có nhìn ra hay không? Trong Phật pháp nói người thiện căn sâu dầy rất dễ nhận biết, cảm nhận. Nhận biết, nhìn ra rồi, liền nghĩ cách giải quyết vấn đề như thế nào? Với sự tình này, tất cả hết thảy phương pháp thế gian đều chẳng thể giải quyết được. Thích Ca Mâu Ni Phật vứt bỏ ngôi vua, vứt bỏ những vinh hoa phú quý hưởng thọ, đi tu đạo, đi xuất gia, để giải quyết vấn đề tử sanh đại sự ấy. 

Chư vị đồng tu phải nghe cho kỹ! Tôi chẳng nói “sanh tử” mà nói là “tử sanh”. Sanh tử là từ sanh đến tử đã xong, tử sanh khôngý nghĩa như vậy. Chết rồi, cách mấy ngày lại sanh ở chỗ nào đó. Tử sanh vĩnh viễn tuần hoàn, vĩnh viễn chẳng gián đoạn. Đấy là luân hồi, sự tình ấy rất rắc rối. Nếu tử lẫn sanh đều chẳng có thì tốt quá, không còn chuyện gì nữa. Tử rồi lại sanh, sanh rồi lại tử, tử rồi lại sanh, phiền phức quá! Trong kinh, Phật nói lục đạo chúng sanh nhọc nhằn sanh tử, đều là chân tướng sự thật. Chúng ta có bao giờ nghĩ đến sanh - lão - bệnh - tử hay chăng? Sanh Khổ có nhân là dục ái, phải trừ dục ái, phải đoạn cái nhân sanh tử. Đó là điều Phật dạy. 

Suy lão, ngạn ngữ cổ Trung Quốc nói rất hay: “Buồn lo khiến con người già cỗi”. Một con người trong đời ưu lự quá nhiều, vướng mắc quá nhiều, buông không được, rất dễ dàng suy lão. Ưu tư khiến con người già cỗi! Lại nói: “Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”, những câu như vậy đều rất có lý. Nhiều bệnh, đa phần là vì tham ăn tham uống, ăn bậy bạ. Gần đây nhất, có nhiều báo cáo cho thấy chất độc bệnh SARS do đâu mà có? Không ít người nói do từ động vật hoang dã. Ở phía Nam Trung Quốc, người ta thích ăn động vật hoang dã (“dã vị”). Hiện tại, người ta truy tìm căn nguyên bệnh SARS, nghi ngờ bệnh này hình như truyền từ các dã vị. Đấy đều là truy tầm trên sự tướng biểu hiện, thật sự đã chứng minh “họa tùng khẩu nhập”, tham ăn! Phật dạy chúng ta: Nguyên nhân chân chánh chẳng ngoài nhân quả nghiệp báo; nói như vậy mới là thật sự thấu triệt, mới giải thích minh bạch được. 

Như trong kinh nói, lục đạo phàm phu trong tâm chẳng buông Kiến Tư phiền não xuống được, liền phải thọ nghiệp báo. Thiện nghiệp thì được thiện quả nơi ba đường lành; ác nghiệp thì nhất định phải thọ báo nơi ba đường ác. Nhưng với hết thảy chúng sanh, ta chẳng tìm được người nào thuần thiện không ác, tìm không ra; cũng chẳng tìm được một ai thuần ác vô thiện. Hết thảy chúng sanh hạnh nghiệp thiện ác lẫn lộn, mỗi một chúng sanh có thiện có ác, nhưng có nặng - nhẹ, nhiều - ít, lớn - nhỏ chẳng giống nhau. Vì thế, thọ sanh rồi quả báo chẳng giống nhau. Thiện nhiều ác ít, trong đời này sẽ hưởng phước báo nhiều, tai nạn ít. Nếu ác nhiều thiện ít, một đời này phải gặp lắm đổ vỡ; nhưng vì có chút thiện, nên cũng có những thời gian ngắn rất bình tịnh. Nói chung, chẳng ngoài nhân quả báo ứng, quý vị phải thật sự hiểu được đạo lý này, liễu giải chân tướng sự thật này, mới hòng bổ cứu trong một đời này, tức là có thể xoay chuyển quả báo mạng vận

Vân Cốc thiền sư dạy Viên Liễu Phàm điều này. Liễu Phàm tiên sinh là người đọc sách, có trí huệ, vừa nghe bèn hiểu rõ, lại chịu làm theo. Đổi lỗi hướng lành hết sức tích cực, thật sự thay đổi quả báo, thay đổi rất nhanh, thay đổi rất hữu hiệu. Cuốn sách thứ nhất tôi đọc khi học Phật là Liễu Phàm Tứ Huấn do lão cư sĩ Châu Kính Trụ tặng. Khi tôi có được cuốn sách nhỏ đó, xem từ đầu đến cuối ba mươi lần, hết sức cảm động; vì tôi lúc trẻ tuổi đã phạm những tật giống như tiên sinh Viên Liễu Phàm. Nhưng bất luận trí huệ hay phước báo của mình đều chẳng bằng tiên sinh Liễu Phàm, cuộc sống của tôi còn đáng thương hơn nữa, càng khổ hơn nữa! Có một phương pháp thay đổi vận mạng như thế tốt quá, như gặp được của báu, tiếp nhận lời thầy răn dạy, tiếp thọ thiện tri thức chỉ dạy. 

Tôi quen biết lão cư sĩ Châu Kính Trụ, hình như cụ đã sáu mươi tám tuổi, tôi mới hai mươi sáu. Lão cư sĩ hết sức yêu thương, che chở bọn người trẻ tuổi chúng tôi, nhất là thấy ai đọc thiện thư liền nẩy lòng ưa thích, có thể y giáo phụng hành thì cụ bèn đặc biệt yêu mến người ấy. Đúng là xem như con của chính mình vậy. Cụ dạy chúng tôi phải biết nhân quả báo ứng, dạy chúng tôi phải biết sửa lỗi làm lành, “chớ làm các điều ác, vâng làm các điều lành”. Chúng tôi tiếp thọ sự giáo huấn từ bi, thiện ý của cụ, được thật nhiều lợi ích, có dịp chuyển được sanh - lão - bệnh - tử của cả một đời mình. Đúng là giảm chậm sự lão hóa, chẳng phải không già, nhưng là giảm chậm, giống như kéo dài thời gian vậy. Điều này về sau học Phật, mới dần dần hiểu ra đạo lý, đó chính là như cổ nhân nói “ưu lự khiến con người già cỗi”. Đối với hết thảy sự trong thế gian tôi xem nhẹ hơn, chẳng còn bận lòng nữa. 

Từ nhỏ hiếu học, thích đọc sách, lúc tuổi trẻ sống rất khổ, thâu nhập ít ỏi. Vì thế, những người tuổi trẻ thường tìm đến những nơi ăn chơi, chúng tôi tuyệt đối chẳng dám la cà, gần gũi. Nguyên nhân gì? Chẳng có tiền bạc. Bởi thế, tuổi trẻ sanh trong nhà giàu có chưa phải là chuyện tốt. Người gia cảnh bần cùng chẳng dám đến những nơi ăn chơi, suy nghĩ cuộc sống tương lai của mình sẽ ra sao? Nếu chẳng phát phẫn, chẳng nỗ lực, chẳng gắng học hành giỏi giang, sau này sẽ ra sao? Bởi thế chúng tôiquan niệm khác với mọi người tuổi trẻ. Khi họ rảnh rỗi, thường đến những nơi ăn chơi vui thú, tôi gần gũi những vị thầy nổi tiếng. Tôi đi đến đâu? Đến thư viện, tiệm sách, đấy là những nơi tôi la cà

Không có tiền mua sách thì đến tiệm đọc sách. Ở tiệm sách có lúc giở sách ra, đọc cả một hai tiếng. Xem xong, đặt trả sách lên giá, đi qua tiệm khác xem sách. Người thời đó rất tử tế, tôi thường ghé tiệm sách, chủ tiệm quen mặt, có lúc còn giới thiệu sách hay. Tôi muốn mua, không có tiền, chẳng gấp gì, cứ lấy trước, khi nào có tiền trả sau. Chủ tiệm tin tôi, hễ lúc nào tôi có tiền sẽ mau mắn đem đến trả, có tín nhiệm. Hầu như mấy tiệm sách ở Đài Bắc, tôi đến mua sách đều có thể ghi nợ, có tín nhiệm mà! Vì tâm địa thanh tịnh, chẳng bị ngũ dục lục trần ô nhiễm, con người chẳng dễ bị suy lão. Sống cuộc đời đơn giản, chẳng ăn quà vặt (không có tiền ăn), sống quy củ, ít đổ bệnh. 

Sau khi học Phật, phải hai ba mươi năm mới hiểu ra, hết thảy chúng sanh vốn đều chẳng sanh chẳng diệt. Chẳng riêng gì chư Phật, Bồ Tát, tất cả hết thảy chúng sanh đều chẳng sanh chẳng diệt. Chết giống như thay một bộ y phục. Tôi thường nói là thân thể này đã già rồi, đã dùng không ít năm, dùng cũ mèm rồi, chẳng tái sử dụng được nữa, phải thay đổi, càng thay càng tốt, càng đổi càng thù thắng. Đó chẳng phải là chết, chỉ thay đổi thân thể mà thôi, giống như quần áo mặc cũ, mặc rách rồi, không cần đến nữa, bỏ đi, đổi lấy bộ mới. 

Trong sanh - lão - bệnh - tử, phải hiểu rõ, thấu hiểu lý sự thì chính mình mới làm chủ được! Nếu chẳng hiểu rõ lý, chẳng minh bạch sự tướng thì đối với bốn sự việc này, ta rất sợ sệt, ta suy nghĩ không thích đáng, xử sự chẳng thích đáng, càng rắc rối to! A! Bây giờ đã hết giờ rồi. 
 
 

*

Chư vị đồng học! 

Chúng ta coi tiếp: 

“Kỳ quốc chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc”.
 
 

Trong Khổ Khổ, chúng tôi giới thiệu đơn giản Sanh - Lão - Bệnh - Tử, thứ năm là Cầu Bất Đắc. Hết thảy chúng sanh có ai không có dục vọng? Cá nhân nào chẳng mong cầu? Dục vọng, mong cầu, hết thảy chúng sanh đều có; nhưng dục vọng, mong cầu chẳng có giới hạn, mong cầu phần nhiều đều thất vọng, chân tướng sự thật ấy rất khổ. Dục vọng nhiều, khổ càng nhiều; mong mỏi nhiều, thất vọng càng nhiều! Người chân chánh tu đạo đối với sanh hoạt vật chất, sanh hoạt tinh thần đều tùy duyên, thế nào cũng xong, chẳng mong cầu nên ít khổ. Trong tâm ít vọng niệm, ít mong cầu, chỉ cần duy trì được cuộc sống đã hết sức thỏa mãn. Người như vậy luôn luôn mạnh khỏe sống lâu, thế mà rất ít người hiểu được! 

Xưa kia, lúc Trung Quốc mới mở cửa, rất nhiều người đến thăm viếng du lịch, nhận thấy nội địa Trung Quốc bần cùng lạc hậu, nói như bây giờ là điều kiện vệ sinh, điều kiện vệ sinh gì cũng không có, thế mà dân cư sống rất lâu khỏe mạnh. Tám chín mươi tuổi vẫn là trẻ, người một trăm hai mươi, một trăm ba mươi tuổi không ít, do nguyên nhân nào? Tôi nghe nói người ngoại quốc tiến hành khảo sát, tìm chẳng ra nguyên nhân. Nguyên nhân thật sự rất đơn giản, trong kinh Phật thường nói là tâm thanh tịnh, ít ham muốn, ít mong cầu. Đấy là nguyên nhân khỏe mạnh sống lâu. Biết đủ thường vui, chẳng có những sự phiền muộn trong tâm, chẳng có điều gì phải lo lắng, mỗi ngày được no bụng đã rất đẹp dạ rồi! Bởi thế, ngạn ngữ thường nói: “Ưu lự khiến con người già cỗi”. Những quốc gia đã phát triển, cuộc sống người dân hết sức giàu có, nhưng thường ưu lự, chẳng biết tri túc, ngày đêm truy cầu hưởng thụ, theo đuổi việc nâng cao phẩm chất cuộc sống, sao không bị lão hóa? Rất dễ dàng suy lão, đạo lý là đây. 

Thế gian cũng có hiền thánh, vấn đề là chưa thấy ai gặp được, chưa thấy ai gặp được thánh nhân mà có thể tiếp nhận giáo huấn, chuyện này phải xem phước báo của mọi người. Thánh hiền thế gian, xuất thế gian chỉ dạy chúng ta, ta có thể cầu được, không phải là không cầu được. Trong Phật pháp càng nói hay hơn: “Trong cửa Phật, có cầu ắt ứng”. Chẳng có gì không cầu được, nhưng quý vị phải hiểu đạo lý cầu, phương pháp cầu! Nếu mong cầu đúng lý, đúng pháp, không gì chẳng đạt được. Những gì Vân Cốc thiền sư truyền cho Liễu Phàm tiên sinh chính là đạo lý này. Liễu Phàm tiên sinh nghiêm túc làm theo, quả nhiên có ứng nghiệm, cầu công danh được công danh, cầu con cái được con cái, chứ mạng ông ta không có. 

Số mạng ông ta không có công danh, thời cổ gọi “công danh”, nay gọi là “học vị”, Trung Quốc thời cổ chẳng gọi là học vị, mà gọi là công danh. Công danh còn chia thành ba đẳng cấp: Thấp nhất là Tú Tài, nói thật ra, Tú Tài chẳng thể tínhcông danh. Cao hơn Tú Tài một bậc là Cử Nhân, Cử Nhânthể tínhcông danh. Cao nhất là Tiến Sĩ. Trên thực tế, Tiến Sĩ có thể sánh với học vị Bác Sĩ (3) hiện tại của chúng ta. Học vị tối caoTiến Sĩ, thấp hơn là Cử Nhân, tương đương Thạc Sĩ [hiện tại], Tú Tài tương đương Học Sĩ. Đó là ba đẳng cấp của người đọc sách Trung Quốc thời cổ. 

Liễu Phàm tiên sinh chỉ đậu Tú Tài, trong mạng không có Cử Nhân, Tiến Sĩ đương nhiên khỏi bàn tới. Quý vị thấy trong mạng không có, trong mạng không có công danh, ông ta cầu công danh, quả thật ông ta đậu Cử Nhân, đậu được Tiến Sĩ. Mạng không có con cái, kết quả ông ta cũng có con cái. Đúng là “trong nhà Phật, hữu cầu tất ứng”. Mạng ông ta chỉ thọ năm mươi ba tuổi, gần như kéo dài tuổi thọ hai mươi năm nữa, sống đến năm bảy mươi bốn tuổi, đúng là hữu cầu tất ứng! 

Thánh nhân chẳng lừa dối người, phàm muốn cầu phải hiểu lý luận, hiểu phương pháp. Lý luậnnhân quả, gieo nhân thế nào, được quả báo thế ấy. Nay trong thế gian này, mong mỏi, dục vọng đã biến thành chuyện lớn nhất trong tư tưởng con người hiện tại, cả đời người theo đuổi phương hướng ấy, hướng theo mục tiêu ấy liều mạng truy cầu. Chẳng hiểu lý luận, chẳng biết phương pháp, cứ cậy vào phiền não tập khí, tri kiến thế tục để phán đoán, cho nên cạnh tranh! Tranh có được hay chăng? Tranh không được! Tranh không được bèn dùng thủ đoạn phi pháp, tổn người lợi mình, xâm phạm người khác, xâm đoạt người khác để thỏa mãn dục vọng của chính mình. Có lúc tợ hồ có hiệu quả, thật sự đoạt được của cải người ta, nào biết mình đoạt được rồi, hưởng thọ trong một thời gian ngắn, vẫn là vì trong mạng mình có. Nếu mạng mình không có, dẫu tranh cũng chẳng được, có đoạt cũng chẳng được. Ví dù đoạt được, chính mình chẳng thể hưởng dụng được, trong mạng không có mà! Đấy mới là cái nhân chân chánh, trong mạng đã có thì cớ gì phải tranh? 

Thoạt đầu, Liễu Phàm tiên sinh được Khổng tiên sinh đoán mạng, đoán mạng ông ta có của cải, mỗi năm có bao nhiêu thâu nhập nhất định. Mỗi năm ông ta thử thí nghiệm, chẳng sai chút nào, chẳng sai chạy chút mảy may nào so với lời đoán của Khổng tiên sinh. Bởi thế, ông ta tin tưởng con người có vận mạng chẳng thể miễn cưỡng. Vì thế, ý niệm cạnh tranh, tranh thủ đều buông xuống hết, cũng chẳng cầu, cũng chẳng tranh. Vì sao? Cầu không được, tranh chẳng được, trong mạng không có. Những vọng niệm ấy thảy đều không có, tâm định, nên mới cùng Vân Cốc thiền sư ngồi trong thiền đường ba ngày ba đêm không có một vọng niệm nào. Vân Cốc thiền sư cảm thấy rất hy hữu, ba ngày ba đêm chẳng khởi vọng niệm, chẳng phải người tầm thường làm được như vậy, rất bội phục: “Công phu tu hành của ông chẳng sai”. 

Liễu Phàm tiên sinh nói: 

- Chẳng phải là tôi không có vọng niệm, nhưng khởi vọng niệm cũng vô ích, chẳng làm được gì, nên tôi sảng khoái không nghĩ tới nữa. 

Vân Cốc thiền sư hỏi: 

- Tại sao? 

- Mạng tôi đã được Khổng tiên sinh đoán định rồi. Những gì tôi gặp gỡ, thành tựu trong một đời này, tôi đều đã biết rõ cả rồi, đều hiểu hết rồi, khởi vọng tưởng ích gì cơ chứ? 

Vân Cốc thiền sư nghe xong bèn cười ha hả: 

- Tôi vốn tưởng ông có công phu tu hành, nào ngờ là như vậy, phàm phu, phàm phu! 

Bèn khai thị cho ông: 

- Không sai! Phàm phu đúng là có vận mạng, ai cũng chẳng thoát khỏi vận mạng, vì sao? Chỉ cần ông có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, ông bèn có vận mạng. Ai không có vận mạng? Người đoạn sạch vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Thánh nhân đã vượt khỏi vận mạng. 

Nói cách khác, nếu anh có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chắc chắn anh là lục đạo chúng sanh, anh đương nhiên bị câu thúc bởi mạng số trong lục đạo, động đậy chẳng được “nhất ẩm, nhất trác, mạc phi tiền định” (một hớp uống, một miếng ăn không gì chẳng phải là tiền định). Nếu anh không hiểu đạo lý này, cứ muốn cùng người tranh đoạt, làm bậy làm bạ thì sao? Tổn hại phước báo nơi mạng. Chẳng hạn như (chúng tôi nêu thí dụ để giảng), giàu có đến một triệu, trong mạng anh có như vậy, giàu có một ức, nhưng anh khởi tâm động niệm, toàn làm chuyện bất thiện, toàn làm chuyện ác, ác niệm, ác hạnh. Kết quả mạng anh giàu có, có một ức nhưng bị hao tổn đi, chỉ còn năm ngàn vạn. Anh kiếm được năm ngàn vạn tự cảm thấy rất phi thường, nhưng phải dùng phiền não làm như thế này như thế nọ, bị giảm bớt rồi. Nếu tạo thành ác nghiệp rất nặng, đoạt được tài sản bằng cách thương thiên hại lý, đại khái càng hao tổn lớn hơn nữa. Rất có khả năng một ức tiền tài của anh biến thành một ngàn vạn. Cổ nhân Trung Quốc gọi là “tổn phước, tổn thọ”. Đấy là chẳng hiểu đạo lý, chẳng biết phương pháp chánh xác, làm sai! 

Trong mạng chẳng có của cải, người ấy phải biết tích đức tu thiện, dùng thiện tâm, thiện hạnh đãi người tiếp vật, bỏ mình vì người. Của cải là Tài Bố Thí, dẫu tự mình chẳng có của, ta vẫn có một bát cơm ăn, người ta không có gì ăn, mình xẻ nửa bát cho. Đó đều là cái nhân của giàu có. Trong mạng đã có của cải, càng chứa càng nhiều, của cải hiện tiền, phước báo hiện tiền, trí huệ hiện tiền. Liễu Phàm tiên sinh trong mạng có một chút của cải, chẳng nhiều, rất ít! Vân Cốc thiền sư dạy ông ta như vậy, ông ta hiểu rõ, hoảng nhiên đại ngộ. Mạng do đâu có? Do đời trước tạo, do chính mình tạo, tự mình tạo thì tự mình thay đổi. Bởi thế, hiểu được đạo lý, hiểu phương pháp, vấn đề bèn được giải quyết

Trong kinh luận, Phật thường dạy chúng ta rất nhiều, bố thí được giàu to. Những người giàu có trong thế gian này, của cải do đâu mà có? Do đời trước tu Tài Bố Thí; bởi vậy, trong mạng có kho tàng dư dật đến thế, bất luận làm việc gì, của cải cuồn cuộn kéo tới. Tài Bố Thí càng thí càng nhiều, nhất định chẳng được keo lẫn. Làm nhiều việc tốt chẳng sợ bị gạt, chẳng sợ người khác dối mình. Hiện tại rất nhiều người làm việc tốt, người xấu trong thế gian này rất nhiều, ta làm việc tốt đều bị họ lừa gạt. Chẳng sao, cứ lừa đi, trong tương lai họ sẽ phải trả nợ. Nhân quả thông ba đời, mình bị người ta gạt thì sao? Của cải mình lưu lại kiếp sau, đời sau nó đền trả cho mình. Quý vị hoàn toàn chẳng bận tâm; quyết định chẳng để chuyện đó gây chướng ngại, chẳng dám làm việc tốt. 

Ví như cứu tai ách, cứu tai nạn, chúng ta biết quả thật phải qua tay rất nhiều người lo liệu, có rất nhiều người nói phát tài nhờ tai nạn, đó là chuyện của họ, ai có nhân quả nấy. Có người nói: “Như vậy khác gì tôi giúp kẻ ấy tạo tội nghiệp đâu?” Nếu quý vị có tâm giúp kẻ ấy tạo tội nghiệp thì quý vị mắc tội báo. Mình không có tâm đó, nhưng người ta ôm lòng bất thiện, trộm của cứu tế tai nạn, nhân quả kẻ đó phải gánh. Chúng ta phát thiện tâm, là cứu tế tai nạn. Thiện tâm, thiện hạnh ấy của quý vị không một chút nào hao tổn, đó là chánh lý. Nếu vì có đôi kẻ thừa cơ nuốt mất tiền bạc ấy, người mắc tai nạn chẳng được hưởng, hoặc được hưởng rất ít, mà quý vị không làm thì chính mình chẳng có phước báo, đã đánh mất cơ duyên tu phước báo. Như vậy là không có trí huệ, là làm việc theo cảm tình. Người chân chánh tích đức tu phước không có tâm niệm ấy, đối với ai cũng tin tưởng, đúng như cổ nhân nói: “Ngờ người chẳng dùng, dùng người chẳng ngờ”. Tôi tin tưởng anh, anh làm sai thì anh phải gánh lấy trách nhiệm

Toàn bộ vấn đềgiáo dục, nhưng hiện tại giáo dục băng hoại, chúng tôi chỉ có thể cảnh tỉnh, khuyên người tu phước. Quý vị phụ trách vấn đề cứu tế tai ương, tất cả tiền tài nằm trong tay quý vị, nếu đối với tiền tài ấy quý vị chẳng chút tư tâm, đem đi cứu tai nạn, quý vị sẽ có phước báo rất lớn, phước sau này vô cùng! Quý vị nuốt mất tiền tài cứu tế tai nạn, hậu quả chẳng thể tưởng tượng được! Kẻ ấy chẳng hiểu đạo lý đó, ngu si, chúng ta chỉ có thể cảnh tỉnh kẻ đó. Cảnh tỉnh nhưng hắn vẫn cứ làm, tương lai hắn đọa lạc ta chẳng lạ gì hết, hắn vẫn phải cảm tạ: “Đáng tiếc khi ấy, tôi không nghe lời ông, hiện thời phải chịu khổ nạn lớn lao như thế!”

Giáo dục phải bắt đầu từ lúc nhỏ mới đi học, đã thành niên rồi, tập khí đã dưỡng thành thói, quan niệm sai lầm đã ăn sâu, chẳng dễ gì cải biến. Nhưng phải nhớ kỹ: “Trong cửa Phật, chẳng bỏ một ai”, phải có lòng nhẫn nại, phải có trí huệ, phải có phương tiện thiện xảo, thành tựu chính mình, thành tựu chúng sanh. Đừng sợ! Phải tin tưởng Phật, Phật dạy chúng ta càng thí sẽ càng nhiều. Thí tài được của cải, quý vị liên tục đem của cải bố thí cho chúng sanh khổ nạn, vĩnh viễn chẳng ngơi nghỉ. Cuộc sống mình tàm tạm là được rồi, chớ mong cầu hưởng thọ quá phận, kẻo tạo nghiệt! Người thế gian khổ rất nhiều. 

Bố thí Pháp tăng trưởng thông minh, trí huệ. Vô úy bố thí, thường hay nói ăn chaybố thí vô úy, chẳng sát sanh! Tích cực hơn nữa thì phóng sanh, bố thí thuốc men, giúp kẻ quan quả cô độc (4), chúng sanh tàn tật đau khổ. Quý vị toàn tâm toàn lực giúp đỡ họ, sẽ được quả báo gì? Mạnh khỏe sống lâu, vô úy bố thí được sống lâu mạnh khỏe. Quý vị phải làm! Không làm là không đúng. Bởi thế, phước báo, trí huệ, khỏe mạnh sống lâu là do chính mình tu được, cầu được, chẳng phải không cầu được. Thánh nhân hiểu đạo lý, hiểu nhân quả, muốn có quả tốt thì phải tu nhân tốt. Nếu quý vị tạo nhân sai trái, gieo đủ mọi nhân bất thiện, hậu quả sẽ rất khổ, khổ chẳng thể nói nổi. Bởi vậy, chúng tôi thấy chữ “Cầu Bất Đắc”, đúng là người thế gian cầu chẳng được, nhưng chúng ta hữu cầu tất ứng. 

Thứ sáu là Ái Biệt Ly. Phạm vi sự khổ này rộng lớn phi thường. Quý vị chẳng thường được kề cận người mình yêu mến, đó là Ái Biệt Ly. Vật chất quý vị yêu mến dẫu có thừa, nhưng không thọ hưởng được; điều mình ưa thích, thường haybiến hóa. Phàm những gì quý vị yêu, ưa thích nhưng chẳng dễ gì đạt được, chẳng dễ gì hưởng thọ được thì đều thuộc về loại này. Nhất là sanh ly tử biệt, lúc sống rất ít thời gian đoàn tụ, thậm chí những người mình rất yêu thích, tuổi trẻ mất sớm để lại người già buồn tủi, khổ lắm! 

Oán Tắng Hội là oan gia đối đầu, chẳng thích gặp, chẳng thích gặp thì sao? Ngày ngày chạm mặt nhau. Khi xưa, lúc tôi mới giảng kinh, giảng đến tám nỗi khổ, tôi nêu lên thí dụ: Khi còn đi học, đa phần là rất nhiều bè bạn tốt, rất ưa thích ngày ngày ở cùng một chỗ, rồi sao? Đến khi phân ban, học theo những ban khác nhau. Oan gia đối đầu, người mình chán ghét nhất cứ ở gần mình suốt, thầy xếp hai đứa ghét nhau vào cùng một bàn, quý vị nói có bực hay không? Tôi nghĩ mỗi cá nhân chúng ta đều có kinh nghiệm đó, đúng là Oán Tắng Hội. Người mình chán ghét cứ gặp mặt hoài, người mình ưa thích mong gặp không gặp được. Trong nỗi khổ này có người, có sự, có vật, cảnh giới rộng lớn không ngằn mé. 

Đức Phật dạy chúng ta tất cả đều là duyên, thiện duyên hay ác duyên, chẳng ngoài bốn mối duyên quan hệ như phần trên đã nói: Báo oán, báo ân, đòi nợ, trả nợ. Làm sao lìa được nỗi khổ này? Phải giác ngộ, khổ đều do mê sanh khởi. Mê chấp, tình chấp, những thứ khổ ấy. Giác ngộ rồi trí huệ hiện hữu, trí huệ làm chủ. Bởi thế, đối với Ái nhất định chẳng tham luyến, đối với Oán tuyệt đối chẳng sân hận, hai thứ khổ đó được hóa giải. Trong Ái chẳng thể không có tình chấp. Cái Ái của lục đạo phàm phu chẳng rời khỏi tình chấp, bởi thế mới khổ. Đại ái của chư Phật, Bồ Tátđại từ đại bi, tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng giác. Tâm ấy chẳng có tình chấp, bởi thế không khổ, chẳng thuộc vào loại này. 

Chúng ta phải hiểu đạo lý này, chúng ta phải chuyển biến, hóa tình chấp thành trí huệ. Bởi vậy lòng ái của Phật, Bồ Tátchân thành, là thanh tịnh, là bình đẳng, là trí huệ. Phật pháp sợ mọi người hiểu lầm chữ Ái này, nên gọi bằng danh từ khác là Từ Bi, hoặc chỉ nói độc một chữ là Từ. Lòng Từ ấy là Ái. Trong lòng Từ Ái ấy chẳng có vọng tưởng, không có phân biệt, không có chấp trước, chỉ có chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, trí huệ. Ái tình của chúng ta chẳng bình đẳng, trong lòng ái đó chẳng chân thành, vì sao không chân thành? Lòng ái ấy biến thành luyến, thậm chí luyến như thế nào, luyến đến mức độ nào chính mình cũng chẳng biết, không tin tưởng được.

Vì thế, qua lại cùng lục đạo phàm phu, quý vị phải có trí huệ cao độ, giác ngộ cao độ. Vì sao? Lục đạo phàm phu như đứa trẻ lên ba, quý vị phải nhìn họ bằng tâm thái ấy, tánh tình họ chẳng ổn định. Vừa mới nói tôi rất thích anh, rất mến anh, chập sau lại chán ghét anh lắm. Chẳng nghiêm túc gì cả! Nếu quý vị nghiêm túc sẽ khổ đấy. Quý vị biết sao không? Họ hỷ nộ vô thường, biến hóa quá chừng, biến hóa không lường được. Họ sử dụng vọng tâm, bị chuyển theo cảnh giới, bị bên ngoài khích động, tâm tình sanh ra biến hóa. Vì vậy, chẳng ổn định! Không như chư Phật, Bồ Tát, tâm chư Phật, Bồ Tát định, chẳng bị cảnh giới bên ngoài quấy nhiễu; do vậy, lòng ái của các Ngài vĩnh hằng, từ bi vĩnh hằng. 

“Từ bi là gốc, phương tiện là cửa”, thế nào là phương tiện? Rất nhiều người không hiểu. Phương là phương pháp, tức là ta dùng phương pháp nào để bày tỏ lòng từ bi; người hiện thời gọi là “biến thành hiện thực”. Quý vị có phương pháp [làm như vậy]. Tiện nghĩa là gì? Tiện là tiện nghi. Nói cách khác, đó là phương pháp thích đáng nhất. Phương pháp rất nhiều, phương pháp nào đối phương thích nhất, dễ dàng tiếp nhận nhất, đó là tiện nghi. Mình có phương pháp nhưng người ta không tiếp nhận, chẳng hoan hỷ, thì phương pháp ấy không thuận tiện. Bởi vậy, phương tiện là cửa, lòng từ bi, trí huệ, đức năng của quý vị nếu khôngphương tiện thì hoàn toàn chẳng bày tỏ được. Từ bi là như trong các buổi giảng tôi thường nói, trong Đại Thừa Phật pháp, từ bi nhất định phải bao gồm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác. Từ bi? Phương tiện! Quý vị khiến người ta thật sự sanh tâm vui thích, khiến người ta vui vẻ tiếp nhận, y giáo phụng hành

Do đây biết rằng, đức Thế Tônchúng ta thị hiện, dạy dỗ chúng ta, nguyên tắc tối cao của phương tiện là vì người diễn thuyết; đặc biệt chú trọng đến diễn. Diễn là biểu diễn, quý vị phải thể hiện ra. Nói cách khác, trước hết phải thực hiện ngay trên thân mình, áp dụng ngay trong cuộc sống của chính mình, thực hiện ngay trong cách mình xử sự, đãi người, tiếp vật. Quý vị chẳng thực hiện được, há phải là phương tiện? Độ người trước hết phải độ mình, cứu người trước hết phải cứu mình; nói chung, chính mình phải niệm niệm đều làm gương cho xã hội đại chúng, phải có ý niệm đó. Hễ có ý niệm ấy sẽ tự nhiênhành vi ấy; không có ý niệm ấy, chẳng thể khởi lên hành vi. Đấy là Phật tâm, đấy là chân tâm. Trong vọng tâm chẳng có! Vọng tâmtự lợi, khởi tâm động niệm chỉ nghĩ đến lợi ích của chính mình!

Phật tâm, chân tâm nghĩ lợi ích hết thảy chúng sanh trong pháp giới hư không giới. Nếu khởi tâm động niệm được như vậy, sẽ chẳng khác gì Phật, Bồ Tát. “Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”. Thực hiện tám chữ này ra sao? Là khởi tâm động niệm đều nghĩ đến lợi ích của hết thảy chúng sanh trong hư không pháp giới, mình phải giúp đỡ họ như thế nào. Có được ý niệm ấy, phước báo của quý vị sẽ chẳng thể nghĩ bàn. Lại còn có những hành vi như thế thì phước báo của quý vị sẽ hiện tiền rất nhanh. Tâm yêu thương trọn khắp pháp giới, thiện xảo phương tiện đầy ắp Sa Bà. Nỗi khổ Ái Biệt Ly, Oán Tắng Hội tự nhiên hóa giải. Tâm lượng càng nhỏ càng khổ, người tự tư tự lợi đáng thương nhất. Người tự tư tự lợi khổ nhất, hiện tại đã khổ, tương lai càng khổ. Vì sao nói tương lai càng khổ? Hiện tại tự tư tự lợi, việc làm đều là tổn người lợi mình, tổn người thì chẳng tránh khỏi. Đừng nói tổn người lợi mình không sao, sau này ắt có quả báo. Anh hại người càng sâu, tương lai người ta báo đền chẳng chỉ có thế thôi đâu mà còn gấp bội, có phiền phức hay không vậy? 

Bởi thế, có nên ở thế gian này hay chăng? Nói thật ra, chẳng thể ở được. Vì sao chẳng thể ở được? Vì chắc chắn chẳng thể bảo đảm tương lai gặp được Phật pháp, chẳng thể bảo đảm đời sau giác ngộ. Đời sau chẳng gặp được Phật pháp, lại hồ đồ tùy thuận phiền não, chẳng hiểu lại tạo nghiệp nhiều đến đâu nữa! Lại làm nhiều chuyện lầm lỗi! Chúng ta phải hiểu rõ, phải minh bạch lẽ này: Tiền đồ càng ngày càng tệ! Một đời sau chẳng bằng được đời trước, đi lên rất khó khăn, đọa lạc đi xuống rất dễ dàng!

Trong thế gian hiện tại này, các đồng học học Phật chúng ta nếu thật sự giác ngộ một chút sẽ bèn hiểu rõ: Trong thế giới này, làm quan lớn, đại phát tài, cuộc sống tợ hồ rất khiến người khác hâm mộ, chết đi quá nửa đọa trong tam đồ. Rất nhiều đồng học đều hiểu đọa tam đồ là khổ! Quý vị thấy người trong thế gian hưởng thọ phước báo nhân gian, hưởng được mấy năm? Nếu quý vị chú tâm quan sát, có thể nói là họ chẳng hưởng được ngày nào cả! Sống trong địa vị cao như thế, dẫu có tài sản nhiều như thế, tâm chẳng được tự tại! Bận tâm, lo lắng quá nhiều, lo được, lo mất, một mặt phải nghĩ cách làm sao để giữ gìn, làm sao kiếm nhiều hơn một chút, thời thời khắc khắc nhọc lòng, chẳng có một ngày có thể buông xuống hết thảy để sống được một ngày thanh nhàn, chẳng bao giờ có! Vui ở chỗ nào? 

Địa vị cao nhất là làm người lãnh đạo một quốc gia, bị kẻ dưới lừa dối, chẳng báo trình chân tướng sự thật, bị che giấu! Chuyện như vậy từ cổ đến nay thường có; được mấy vị minh quân chẳng bị dối gạt đâu? Văn võ đại thần đều lừa dối: Thiên hạ thái bình, rất tốt. Nhân dân phải chịu khổ nạn cũng không cách nào tâu lên được. Chuyện mình lẫn người đều chẳng biết điều gì cả, tự cho mình là một vị thái bình thiên tử. Đâu đâu cũng tạo tội nghiệp như thế, chết đi đều có báo ứng

Lúc tôi còn trẻ, Chương Gia đại sư dạy tôi trì giới, Ngài dạy tôi đừng dính đến chánh trị. Một quan niệm lầm, một chánh sách lầm, bao nhiêu người mắc hại! Anh phải gánh lấy trách nhiệm nhân quả, có dám chắc cả đời anh không làm sai điều gì hay không? Cả một đời chẳng hại ai hay không? Có rất nhiều trường hợp vô ý tổn hại người, hữu ý càng không được, tội càng nặng hơn, đấy đâu phải là chuyện dễ dàng. Vì vậy, đại sư chỉ cho tôi một con đường ra: Đã muốn phát tâm giúp đỡ hết thảy chúng sanh khổ nạn, phục vụ hết thảy chúng sanh khổ nạn, ngài bảo tôi xuất gia tốt nhất! Hoằng pháp lợi sanh, theo đuổi việc giảng kinh thuyết pháp, làm công tác dạy dỗ, vậy là tốt! Tôi thích đọc sách, cũng là điều tôi ham thích, Ngài chỉ dạy tôi như vậy, tôi đi theo con đường đó. Con đường tôi đi do Chương Gia đại sư thay tôi chọn lựa, tôi tin tưởng Ngài. Vì sao? Ngài hết sức thương yêu tôi. Ngài thương yêu tôi, tôi cũng tôn kính Ngài, y giáo phụng hành. Ngài chỉ cho tôi con đường chẳng lầm. 

Vậy thì hết thảy khổ nạn trong nhân gian chẳng dễ dàng lìa thoát. Nói cách khác, không cách nào thoát được. Muốn thoát khỏi, phải ra khỏi lục đạo. Muốn thoát ly, trừ Phật pháp ra, không còn gì hết. Bao nhiêu tôn giáo trong thế gian, cảnh giới tối cao của họ là thiên đạo, Dục Giới thiên, Sắc Giới thiên, Vô Sắc Giới thiên, chẳng có cách nào vượt thoát lục đạo, nên Thích Ca Mâu Ni Phật mới xuất thế. Thích Ca Mâu Ni Phật nói lời chân thật, lão nhân gia thân tâm thanh tịnh: “Nhiều thêm một việc chẳng bằng ít đi một việc, ít đi một việc chẳng bằng vô sự”. Nếu có kẻ có thể giúp cho chúng sanh trong thế giới Sa Bà thoát ly luân hồi lục đạo, chắc chắn Ngài chẳng giáng sanh. Ngài đến đây làm chi? Chẳng có gì để làm cả. Thật sự nghĩ siêu việt lục đạo luân hồi chẳng có biện pháp nào cả, quý vị nói xem Phật có cần phải vào thế gian này chăng? Ngài không vào không được; Ngài chẳng vào thế giới này là chẳng từ bi. Trong lục đạo quả thật có không ít người giác ngộ, mong cầu vượt khỏi lục đạo luân hồi, đó là Cảm, Phật phải Ứng. Chúng sanh hữu Cảm, Phật bèn Ứng, bèn đến nơi đây. Phật giúp cho chúng ta siêu việt luân hồi, siêu việt mười pháp giới. Vì vậy, Phật đến trong thế gian này. 

Đấy là Ái Biệt Ly, Oán Tắng Hội, chúng ta phải nhận biết rõ ràng, Ái chẳng được tham luyến, Oán nhất định phải hiểu cách hóa giải. Nay đã hết giờ rồi! 

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm 
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Ký, 
Phần 4 hết


(1) “Huyễn đăng phiến” tức là những tấm slide trong suốt, hoặc microfilm, có in những văn bản hay hình ảnh, ta thường dùng trong máy projector để chiếu lên một tấm màn cho thính chúng thấy để trình bày một vấn đề. Chúng tôi không biết tiếng Việt gọi chính xác là gì nên đành để nguyên tiếng Hán. Trong nước thường dùng từ ngữ “phim đèn chiếu”. 
(2) Quán chỉ: hiểu theo mặt văn tự, quán chỉ là đáng khen ngợi hết lời. Quán chỉ thường được dùng như một mỹ từ để khen ngợi những tác phẩm văn chương hay, như Cổ Văn Quán Chỉ là một tuyển tập những áng văn chương trứ danh của văn học Trung Quốc cổ.
(3) Bác Sĩ của Tàu có nghĩa là học vị tiến sĩ (PhD). Tàu không gọi bác sĩ y khoa như ta mà gọi là y sư. 
(4) Quan: góa vợ, quả: góa chồng, cô: không cha mẹ, độc: không con cái. 
Tạo bài viết
Hơn 150 năm sau khi chế độ nô lệ chấm dứt, nghiệp phân biệt chủng tộc bi thảm của nước Mỹ vẫn tiếp diễn đến ngày nay. Giáo viên Phật giáo Larry Ward nói rằng nếu chúng ta hiểu rõ nghiệp thực sự hoạt động như thế nào, chúng ta có thể ngăn chặn được nó.
Những người ăn ớt có thể ít bị tử vong hơn do bệnh tim hoặc ung thư và có thể sống lâu hơn những người không ăn, theo một nghiên cứu mới sẽ được trình bày tại Phiên họp Khoa học của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2020 vào thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Với lượng thông tin khổng lồ trong thời đại Internet hiện nay, nguồn gốc và mức độ tin cậy của chúng đang là một vấn đề đáng lo ngại. Lợi dụng khả năng lan truyền nhanh chóng của các trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, những người đứng sau các tin tức sai lệch, giả mạo đang đưa chúng tiếp cận đông đảo người dùng hơn chỉ trong tích tắc nhằm trục lợi. Nếu không được trang bị kiến thức đầy đủ, người dùng Internet sẽ rất dễ sa vào những cái bẫy thông tin đó.