Phần 2

06/07/201112:00 SA(Xem: 10039)
Phần 2


THIỆN PHÚC
ĐẠO PHẬT AN LẠCTỈNH THỨC
“Buddhism, a religion of Peace, Joy, and Mindfulness”
Tổ Đình Minh Đăng Quang 

35. THIỀN VÀ SỰ CĂNG THĂNG THẦN KINH

Hiện tượng căng thẳng thần kinh có thể cấp thời hoặc mãn tính. Tuy nhiên, dù là cấp thờichúng ta không để ý điều chỉnh, nó sẽ trôũ thành một hiện tượng dai dẳng. Căng thẳng thần kinh lâu ngày con người sẽ trôũ nên kiệt quệ tinh thần mà người bình dân ta thường hay gọi là “mất thần.” Người bị căng thẳng thần kinh thường mệt mỏi vào buổi sáng, mất ngủ, tay chân hay bị run rẫy, dễ bị kích động, không nhạy bén, tai yếu, mắt mờ, nhức đầu như búa bổ, cả hệ thống tiêu hóa, tuần hoàn máu đều mất cân bằng, có thể đi đến cao máu. Căng thẳng thần kinh có thể xãy ra vì cuộc sống chạy đua với thời gian, làm việc gì cũng bị bức báchgấp rút, kẹt xe ngoài xa lộ, thất nghiệp, sự ly dị, sự thay đổi trong tình bạn, một biến cố thê thảm trong cuộc sống, sự cô đơn, hoặc giả tất cả những sự việc xãy ra theo chiều hướng xấu đều có thể đưa đến hiện tượng căng thẳng thần kinh.

Căng thẳng thần kinh quá độ có thể dẫn tới điên loạn. Chỉ trường hợp căng thẳng thần kinh quá nặng và kinh niên thì mới cần đến những bác sĩ chuyên môn điều trị, chứ còn những hiện tượng nhẹ đều có thể được điều chỉnh lại. Thói thường, phàm phu cũng tìm cách tháo gôõ những căng thẳng nầy bằng nhiều cách. Tỉ như nghe nhạc, xem xi nê, đi vũ trường, uống rượu, hoặc dùng thuốc an thần. Tháo gôõ bằng cách nầy chỉ là tạm bợ vì sau những giải trí, vũ trường, rượu, thuốc... sẽ là cái gì ? Sẽ là sự căng thẳng hơn, hoặc giả nếu uống rượu, hay dùng thuốc thì sẽ phải ngày càng tăng liều lượng. Quá ra chạy ông mồ để bắt ông mả, hoặc tránh vỏ dưa, lại đạp phải vỏ dừa. 

Với đạo Phật, sự căng thẳng thần kinh có thể được điều chỉnh lại một cách hoàn toàn bằng thiền quán. Thiền ngoài công năng trường kỳ, nó còn có thể đưa ta đến chánh địnhgiải thoát. Công năng trước mắt nó giúp con người buông xả tối đa cả thân lẫn tâm. Như vậy sẽ không còn một chút căng thẳng nào trong thiền. Hãy cố gắng tọa thiền ít nhất ngày hai lần, vào buổi sáng và buổi tối, mỗi lần khoảng nửa tiếng đồng hồ thì hiệu quả sẽ thấy rõ. Hãy tin rằng không ai cũng như không sự việc nào làm ta căng thẳng, mà chỉ là những hiện tượng nhất thời; chúng đến rồi đi như những đám mây đen vần vũ trong bầu trời. Hãy vượt lên những tầng mây u ám ấy để thấy rằng bầu trời lúc nào cũng trong xanh và bao la thăm thẳm


36. THIỀN VÀ VÔ TÂM 

Vô tâm ôũ đây không phải là sự hững hờ thiếu chú ý, hoặc giả không để ý đến sự việc xãy ra quanh ta. Ngược lại “Vô tâm” là sự thấy biết sáng suốt. Thấy rõ tất cả những gì xãy ra quanh ta, mà không bị vướng mắc bởi cái nhìn nhị biên của phàm phu, cũng không bị mắc kẹt bởi tư dục. Vô tâm còn có nghĩa là không phân biệt, không bị cái nhìn nhị biên khống chế. Trong vô tâm, không có chủ thể mà cũng không có đối tượng. Người vô tâm là người đã hành trì thiền đến rốt ráo, tỉnh thức tuyệt đối. Không có tâm và cảnh, mê và ngộ, có và không, thiện và ác, tốt và xấu, hay và dôũ... Nhiều người hiểu lầm vô tâmkhông tâm.

Thực ra, vô tâmtâm không. Nghĩa là cái tâm không chứa đựng một mảy may gì cả, tâm thanh tịnh sáng suốt sẳn có ôũ mỗi chúng sanh. Khi thành Phật nó cũng không thêm, lúc phàm phu nó cũng không bớt. Vô tâm chính là cái tâm thường hằng vốn sẳn có nơi mỗi chúng ta. Khi mê thì nó tạo nghiệp, thọ khổ, đi luân hồi; lúc ngộ thì nó chính là nguồn an vui, tự tạigiải thoát. Nó có đầy đủ đức tánh sáng suốttrong sạch như nước hồ, hoặc trong như gương sáng, không cần gạn lọc, không cần lau chùi. Vô tâm chính là tánh giác của cả chư Phật và chúng sanh vậy. Một giờ được vô tâm là một giờ giác ngộ, giải thoát, là một giờ thành Phật.

Trong đời sống hằng ngày ai mà một giờ, một phút sống với đạo, trôũ về nghe ngóng tâm mình, tỉnh thức... thì người đó đang là một vị Phật từ đầu đến chân. Xin hãy hành thiền để thấy rằng khi mê thì người đi theo cảnh, khi ngộ thì cảnh là cảnh, người là người; không ai theo ai. Khi mê thì người bị cảnh khống chế, khi ngộ thì không ai khống chế ai; ta là ta, còn cảnh là cảnh. Hành thiền cho đến khi vô tâm thì chân tâm hiển lộ; tâm là chơn tâm, mà cảnh cũng trôũ thành chơn cảnh; không ai trốn ai, cũng không ai nợ nần ai. Hành thiền cho đến khi vô tâm thì nhạn bay qua hồ không bỏ bóng lại, mà hồ cũng không buồn lưu bóng nhạn. Mặt hồ vẫn phẳng lì không một gợn sóng như cảnh tịnh tịch của Niết Bàn, của Vô Thượng vậy.


37. HÃY TÌM HIỂU THÊM VỀ BÀI KỆ CỦA TỔ BỒ ĐỀ ĐẠT MA

Trong chúng ta ai cũng thường nghe đến bài kệ bất hủ của Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Bài kệ đã môũ đường cho một lối nhìn rất đặc biệt về thiền: 

Giáo ngoại biệt truyền 
Bất lập văn tự
Trực chỉ nhơn tâm 
Kiến tánh thành Phật

Nói rằng bất lập văn tự, truyền ngoài giáo điển, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Tổ Bồ Đề Đạt Ma chẳng những dóng lên một tiếng chuông cảnh tỉnh những người tu thiền thời bấy giờ, chỉ ngày ngày lo trau chuốc lý luận và khái niệm rồi đánh mất đi thời giờ quí báu cho công cuộc tu tập; mà còn là một hồi chuông dài cho muôn đời về sau nầy. Ngài muốn nhấn mạnh cho mọi người một lần nữa là: thiền nên nín, không nên nói. Thiền chỉ chú trọng đến hành vi thực tiển. Nóng lạnh tự ta biết. Muốn thưôũng thức hương vị của trà thì hãy tự mình nâng tách trà lên mà uống, đừng nói, đừng rằng. Thiền không thể nắm bắt được bằng văn tự ngôn ngữ

Còn nói về giáo ngoại biệt truyền là vì không thấy nói hoặc y cứ trong kinh điển. Kỳ thật thiền cũng là giáo pháp của Thế Tôn, chứ làm gì mà có chuyện giáo ngoại. Để ý một chút ta sẽ thấy chính Đức Thế Tôn đã vẽ lại một bức tranh vô cùng sống động về thiền. Hình ảnh Ngài ngồi liên tục bốn mươi chín ngày đêm dưới cội Bồ Đề cho đến khi Ngài vào đại định. Ngài đang làm gì nếu không phải là đang truyền lại cho đời sau bức tranh thiền. Ngài đã biết trướcđời sau nầy sẽ khua môi múa mỏ, lý luận; nên Ngài đã không nói, không rằng, mà chỉ ngồi. Ngụ ý thứ nhứt của Ngài là hãy nín mà thiền, chứ đừng nói, đừng rằng chi cho phí mất thì giờ.

Chúng ta sẽ không còn nhiều thì giờ nữa đâu. Ngụ ý thứ hai của Ngài là thiền không và sẽ không bao giờ được truyền từ bên ngoài; đừng đi tìm nơi đâu khác ngoài ta ra; đừng lý luận; hãy ngồi như Ngài đi rồi sẽ tự chứng nghiệm. Thiền là chân Bát Nhã: không nói, không nghe. Chữ “giáo” mà Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã nói ôũ đây ta phải hiểu một cách đơn giản là tổ muốn ám chỉ văn tự trong kinh sách, chứ không phải là giáo pháp của Phật. Ngài nói như thế để cho tăng chúng đừng phí thêm thì giờ lặn hụp trong kinh điển mà tìm cho được thiền. Không tự thân trực tiếp tiếp xúc với thực cảnh thì không bao giờ thể nghiệm được thực tướng của nó đâu.

Chính vì vậy mà các Tổ Thiền Tông đã liên tục khẳng định “thiền không có một pháp cho người, đừng vào cửa thiềncầu pháp chi cho vô ích.” Thiền không bắt mạch bên ngoài mà chẩn bệnh, thiền mổ xẻ và đi thẳng vào lục phủ ngũ tạng bên trong. Đối với thiền, văn tự như vô dụng, đừng đặt thiền vào ngôn từ nào cho thêm phí thì giờ

Chính vì cái chỗ bất lập văn tự nầy mà có nhiều người tu thiền cố tâm lơ là với việc nghiên cứu kinh điển. Thậm chí còn có khuynh hướng chê bai những ai y cứ kinh điển, nương theo giáo pháp của Phật. Chẳng hạn như có người bảo tu thiềnphá chấp, giữ giới là còn chấp, nên tu thiền không giữ giới để thực hành mục đích phá chấp. Hoặc giả có người cho rằng giáo ngoại biệt truyền, cho nên ai tu theo giáo pháp của Phật cần bị đốn để thực hành mục đích giáo ngoại. Thật là một lý luận điên rồ và không tưôũng của những người không giữ được giới rồi ngụy biện, không tinh tấn trì kinh rồi đi đả kích người tinh tấn. Tổ Bồ Đề Đạt Ma dám nói một cách dõng dạc vì Ngài đã làu thông kinh Phật; những cái cần biết, Ngài đã biết; giờ chỉ còn chuyện thực nghiệm nơi tự thân mà tiến thẳng đến quả vị Phật Đà, chứ Ngài đâu cần phải nói năng chi nữa.

Vì thế những kẻ hậu bối nên cẩn trọng mà lắng nghe cho kỹ lời dạy của Phật và Tổ. Tổ nói “Bất lập văn tự” chứ Tổ đâu có biểu “Bất dụng văn tự.” Không dụng văn tự thì làm gì có phương tiện để mà thực hiện chân lý ? Dụng văn tự mà chẳng câu chấp vào văn tự, ấy là ý của Tổ Bồ Đề Đạt Ma vậy. Ngài dạy rằng một khi đã liễu ngộ thì không có một pháp để truyền. Phật kiến, pháp kiến, hữu tướng, vô tướng đều phải dứt trừ. Trong lòng không còn một vật. Tâm ta lúc ấy bao la như bầu trời xanh thăm thẳm cũng được, mà vi tế như một hạt bụi nhỏ của vũ trụ cũng được. 


38. THIỀN VÀ SỰ KHÔNG DÍNH MẮC 

Sôũ dĩ mà chúng ta có quá nhiều phiền nãođau khổ trong cuộc sống hằng ngàychúng ta hay bị vướng mắc. Chó sủa, ta cũng quay đầu lại hỏi xem chó nhà ai sủa ? Chùa A lớn, chùa B nhỏ, ta cũng đem lên bàn luận mổ xẻ. Anh C giàu, chị D nghèo ta cũng có đề tài bàn cãi.

Anh Nhứt tu, chị Nhị không tu ta cũng khen chê. Thầy Tam thuyết pháp giỏi, thầy Tứ thuyết khó hiểu, ta cũng nhún trề... Như vậy đó mà làm sao không đau khổphiền não cho được. Chùa nào cũng chùa, lớn nhỏ tự mình chấp nơi hình tướng. Giàu nghèo của phàm phu thì nào có ảnh hưôũng gì đến nắng mưa giải thoát ? Ai tu, ai không tu, nếu ta chưa độ được họ thì đừng thị phi chi cho tự tâm ta thêm loạn động. Thầy nào thuyết pháp dễ hiểu thì tới nghe; ví bằng khó hiểu thì ôũ nhà mà tham thiền, chứ nhún trề làm gì cho thêm nặng nghiệp

Người Phật tử tu thiền nên luôn tỉnh thức để thấy mhững gì đang chi phối ta. Để rồi tìm xem coi những thứ ấy nó có liên quan gì đến công cuộc tu hành của ta không. Nếu không thì đừng mời tới; ví dầu chúng có tới, kệ chúng, ta không cầm giữ, cũng không xua đuổi chúng. Không phải xua đuổi là không dính mắc đâu. Có khi vì không muốn mà xua đuổi; cũng có khi vì sự việc quá ư hấp dẫn làm ta sợ hãixua đuổi. Như vậy, muốn không bị dính mắc trong khi thiền tập là cứ để cho nước tự nhiên chảy; đừng đắp bờ cản nước; đừng cố tạo nên bất cứ một trạng thái nào khác vì bất cứ một sự tạo nên nào cũng đều bắt đầu cho một cuộc dong ruổi mới.

Nếu lúc ngồi thiềntâm trí vẫn luôn hổn độntại vì mới chưa được định, hoặc giả sau một ngày làm việc quá vất vã lo âu; hãy cứ chấp nhận sự hổn độn như vậy đi. Chúng ta có thể tự đóng khung sự hổn độn nầy bằng cách tự nhủ thầm; loạn động, loạn động. Đừng bao giờ cố tình cắt đứt hẳn hoàn toàn sự hổn độn nầy vì như vậy ta sẽ tạo ra một cuộc phiêu lưu dong ruổi khác, có khi còn tệ hại hơn là những hổn độn đang có. Làm được như vậy là ta đã đang có thiền với sự không dính mắc. Lúc ấy, cho dù những hổn độn vẫn diễn ra, nhưng tâm ta lúc nào cũng cảm thấy yên ổn. Việc nầy không dễ làm vì tâm ta lúc nào cũng có khuynh hướng chống cự lại những hổn độn. Hãy tạm thời chấp nhận để từ từ đi đến buông xả tất cả từ tư tưôũng, xúc chạm, đau đớn... Hãy để yên sự vật như hiện trạng mà chúng đang là, chúng đến rồi tự chúng đi, chúng ta chẳng cần phải làm một việc gì cả. 

 Luôn nhớ tôn chỉ của người tu thiềngiải thoát, là trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật, chứ không phải là những cảm thọ vui sướng, dễ chịu, hoặc không đau đớn. Nhớ kỹ như vậy để đừng bị dính mắc vào chúng. Trong lúc thiền, chúng ta có thể quan sátghi nhận. - có đau chân, ờ có tê ôũ đùi, ờ có cảm giác kiến bò trên mặt... Quan sátghi nhận, chứ đừng phê bình mà thêm vướng mắc, mà thêm dong ruổi. Thí dụ như chân tê quá, phải chi giờ nầy thầy thỉnh chuông xả thiền thì sướng biết mấy. Như vậy là ta đang vướng mắc, mà vướng mắc nó cũng sẽ lôi cái chánh niệm của ta đi luôn. Cầu cho ai nấy đều có được cái đại dũng cảm của nhà Phật để có đủ kiên trìnghị lực xé tan bức màn vô minh từ vô thỉ. 


39. THIỀN VÀ SỰ BUÔNG XẢ 

Trong cuộc sống hằng ngày, không nhiều thì ít, chúng ta lúc nào cũng trĩu nặng lo âu thấp thỏmsợ hãi. Như có lần thầy Bổn Sư của tôi đã nói: “Nếu không khéo, có khi cuộc đời của chúng ta chỉ là một chuỗi dài những năm tháng lo âu, phiền muộnđau khổ cho đến hết kiếp.” Như vậy chúng ta phải làm sao đây ? Câu trả lời sẽ không đơn giản và dễ dàng cho mọi người; tuy nhiên, câu trả lời sẽ đơn giản cho những người con Phật thôi. Những người con Phật, ngoài chuyện có giáo lý của Đức Phật, lại còn có kinh nghiệm thiền định của Ngài nữa. Ngài đã trình bày thật rõ ràng con đường tu tập, con đường đưa ta đến an nhiên tự tạithanh tịnh, con đường đưa ta về cõi vô sanh, nơi đó ta không còn bị chi phối bôũi tham, sân, si...

Đức Từ Phụ đã vạch rõ cho chúng ta thấy tất cả sự vật và hiện tượng ôũ cõi nước tạm bợ nầy đều là huyễn ảo, phù du, sớm nôũ tối tàn. Đời là vô thường, giả tạm. Cũng chính vì sự vô thường và giả tạm nầy mà Thái Tử Sĩ Đạt Tha đã cắt ái ly gia, ra đi tìm chân lý giải thoát. Ngài đã thương xót chúng sanh cứ mãi lăn trôi, cứ mãi săn tìm những gì mà chính mình cũng không biết. Săn được ngày nay, thì ngày mai đã mất, cứ thế cho đến hết kiếp. Sau khi Ngài đã giác ngộ rồi, Ngài khuyên chúng sanh hãy định tỉnh lại để thấy sự phù du tạm bợ của mọi hiện tượng; mới thấy chúng đây, mà bây giờ chúng đã biến đâu mất hết rồi. Biết các hiện tượng là giả là sanh diệt không ngừng.

Muốn nắm bắt trì giữ thì giữ cũng không được. Ví như sự vui mừng được may mắn hanh thông như làm ăn phát đạt, thi cử thành công, chúng ta cố lưu giữ chúng mãi cũng không được. Nếu nhận biết được, chúng là giả tạm, đến rồi đi thì ta nào có vướng mắc bận rộn, ấy là ta đã thực hiện hạnh buông xả rồi vậy. Vì biết tất cả rồi sẽ lùi về quá khứ một cách nhanh chóng, nên Đức Từ Phụ đã khuyên chúng sanh hãy tu tập thiền quán ngay bây giờ, nếu không sẽ không còn kịp nữa. Hãy từng bước tu tập từ từ. Bước đầu có thể chỉ tháo gở quá khứ và tương lai; vì quá khứ đã không còn, mà tương lai thì chưa tới. Bước đầu tập buông xả tất cả những gì trong quá khứ hoặc những gì chưa đến của vị lai. Bước đầu chỉ biết trân trọng những gì mình đang có trong hiện tại, như thế cũng là nhẹ nhàng lắm rồi.

Đến bước kế tiếp, qua công phu thiền tập lâu ngày, ta sẽ không nghĩ đến quá khứ, tương lai, mà ngay cả đến hiện tại nữa. Lúc ấy ta sẽ buông xả tất cả; lúc ấy ta sẽ thấy không có cái gì là chân giá trị trong cuộc đời nầy; không có cái gì đáng cho chúng ta đeo đuổi; chúng ta sẽ buông xả tất cả. Lúc đó chúng ta cứ thẳng đích mà đi tới, không ghé, không dừng ôũ bất cứ trạm nào, ngay cả Tây Phương Cực Lạc. Tuy nhiên, buông xả không có nghĩa là đầu hàng, mà buông xả trong tinh thần đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xảđại dũng cảm của nhà Phật. Buông xả trong tinh tấn. Buông xả là biết rõ ràng những gì đang xãy ra quanh ta trong giờ phút hiện tại, cái nầy vừa đi thì cái kia đến, cái kia vừa đến rồi cũng lại đi... Buông xả trong tĩnh thức của nhận biết; cứ để chúng đến rồi đi một cách tự nhiên; chúng ta không mời, không thỉnh, không chạy theo, mà cũng không xua đuổi. Ta tựa như không dính líu gì đến chúng, ấy là buông xả

Lúc thiền hãy cố đơn giản hóa mọi việc: đi là đi, ngồi là ngồi, ăn là ăn... Trong cái đi không có cái gì khác; trong cái ngồi, không có cái gì khác; cũng như trong cái ăn, không có cái gì khác chen vào, ấy là buông xả. Chính cái buông xả là cái máy lọc tinh viĐức Phật đã truyền trao cho chúng sanh nhằm lọc lược mớ hành trang dư thừa trên đường đi về quê hương Phật. Buông xả đến độ không còn gì nữa để buông xả, nghĩa là tới một ngày nào đó, cả Phật pháp cũng phải được buông xả. Như lời dạy trong Kinh Kim Cang : “Chánh pháp thượng xả, hà huống phi pháp.” Xin hãy lắng lòng mà nghe lời dạy của Đức Phật để đến ngày giác ngộ thì ngay cả Phật pháp cũng phải từ bỏ, huống hồ là những thứ phi pháp như tốt xấu, lớn nhỏ, hơn thua thường tình. 


40. THIỀN VÀ THẾ GIỚI CỰC LẠC 

Thiền, theo Tổ Bồ Đề Đạt Ma, là trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật. Người phát tâm tu thiền, chẳng vì cầu phước báu cõi nhơn thiên, cũng chẳng vì cầu quả Thanh Văn, Duyên Giác, lại cũng chẳng cầu quả vị Bồ Tát, quyền thừa nhẩn đến mong cầu về cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A-Di-Đà. Người phát tâm tu thiền y theo giáo lý của Phật mà rũ sạch nợ luân hồi, phát tâm Bồ Đề Vô Thượng để tiến thẳng vào giải thoátchứng quả Vô Thượng, Chánh Đẳng, Chánh Giác. Người tu thiền sẽ đi thẳng, sẽ trực chỉ, tiếp tục đi cho đến khi đạt được quả vị vô thượng, chứ không dừng chân nơi thế giới Cực Lạc. Tuy nhiên, trước khi làm được chuyện nầy, người tu thiền cần nên nhớ nợ nần năm cũ phải trả rồi mới thẳng tiến được. 

Bằng không, không có tư cách gì có thể trực chỉ được đâu ! Ngay ôũ cõi Ta Bà nầy, muốn di cư từ quốc gia nầy sang quốc gia khác, ta phải thanh toán cho xong hết thủ tục từ giấy tờ, nhà đất, thuế má... Giải thoát lại càng khó khăn hơn; nợ Ta Bà có thể giựt, chứ nợ luân hồi thì đừng hòng, mười kiếp, hai mươi kiếp, triệu ức kiếp, nó vẫn còn theo đòi. Như vậy, người muốn tu thiền cho đến giải thoát xin hãy trả cho hết nợ luân hồi, trả cho hết những oan khiên nghiệp báo đi rồi hẳn trực chỉ. Chẳng hạn như như còn giết hại chúng sanh mà đòi tu thiền cũng chỉ là vô dụng, vì luân hồi sanh tử chưa dứt mà đòi vào Niết Bàn, chỉ là ảo tưởng thôi.

Phật tử chân chánh luôn nhớ rằng nền tảng cần thiết cho việc tu tập thiền quán là tối thiểu phải giữ gìn ngũ-giới mà Phật đã dành cho hàng cư sĩ tại gia. Giới luật là một phương thức để duy trì sự trong sạch căn bản của một con người từ lời ăn tiếng nói đến việc làm. Phật coi mọi chúng sanh đều bình đẳng nên không chúng sanh nào có quyền sát hại chúng sanh nào. Người Phật tử quyết không bao giờ lấy bất cứ cái gì không thuộc về mình. Người Phật tử không bao giờ khôũi niệm tà dâm, chứ đừng nói hành động tà dâm, vì như thế là phá hại gia đình ta và gia đình người.

Người Phật tử không và sẽ không bao giờ nói những lời không chân thật, dù cho lời nầy không phương hại đến ai. Cuối cùng, người Phật tử quyết một giọt rượu cũng không uống; vì giọt rượu trong sẽ hú giọt rượu ngoài để rồi cuối cùng đưa chúng ta thẳng đến địa ngục. Người Phật tử mà không giữ được năm giới nầy sẽ không bao giờ phát triển được định lựctrí huệ đâu; nếu có chăng chỉ là trí huệ của loài ma. 

Khi nói tu thiềnđi thẳng, không dừng lại ôũ trạm nào; không có nghĩa là người tu thiền có một mảy may tư tưôũng nào chống báng lại những người cầu sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Trên đường đi đến quả vị vô thượng, ai muốn dừng ôũ trạm Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, hoặc thế giới Cực Lạc, thì cứ dừng, ai muốn trực chỉ thì cứ đi; chúng ta đều là những đứa con Phật, cùng nương theo giáo lý Phật Đà mà tu cho thành Phật cả mà.


41. AI CÓ THỂ DÙNG PHÁP ĐỂ ĐỐN NGỘ TRONG NHÀ THIỀN ? 

Ngay từ những ngày đầu thiền mới bắt đầu du nhập sang Tàu, Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã có một phong thái của một Đại Sơ Tổ, một phong thái dị thườngsinh động. Ai đến hỏi Ngài về thiền thì Ngài bảo đi về mà rằng: ta không có pháp nào để cho người đâu. Hãy về nhà, tự đóng cửa lại sẽ thấy, hoặc giả một chữ ta cũng không, mà một lời ta cũng chẳng... Chính cái chỗ dị thường và bất cần đời nầy mà chẳng bao lâu sau khi đến Trung Hoa, Ngài đã tiếng tăm lừng lẫy, đến độ vua quan nhà Lương cũng phải tìm đến Ngài mà học hỏi. Ngài đâu có đủ thì giờ để trả lời hết mọi người, thế là Ngài cho ra bài kệ cho chung tất cả:

Giáo ngoại biệt truyền
Bất lập văn tự 
Trực chỉ chân tâm
Kiến tánh thành Phật

Chính vì chỗ hiểu lầm ý nghĩa của bài kệ nầy mà nhiều người cho rằng thiền không có văn tự, thiền không có trong kinh điển, thiền là đi thẳng... Họ đã quên mất một điều là Tổ nói bất lập văn tự, chứ tổ nào có nói bất dụng văn tự. Từ ngày có văn tự đến giờ, có cái gì mà người ta lại không dùng đến văn tự đâu ? Ngay cả thời tiền văn tự, người cổ cũng phải dùng hình vẽ, dùng nó như một phương tiện truyền đạt hoặc chỉ nam, chứ không dùng văn tự để lý luận hoặc biện giải... Còn nói về giáo ngoại biệt truyền, Tổ ám chỉ tăng chúng thời bấy giờ cứ trọng từ chương, quên mất đi phần thực nghiệm; mà thực nghiêm lại chính là cốt tủy của thiền. Chứ Tổ nào có bảo là không có trong Phật pháp. Chính Đức Từ Phụ đã vẽ lại một bức tranh thiền sống động để lại cho muôn đời sau: hình ảnh Ngài thiền tọa bốn mươi chín ngày đêm dưới cội Bồ Đề là gì nếu không phải là một bài pháp sống của Ngài ? 

Về sau nầy, lại thêm bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng

Bồ Đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai

Không cây, không đài, không vật, cũng không bụi... Đốn ngộ là gì ? Đốn là dứt trừ vọng niệm tức thời và ngộ là thực nghiệm trực tiếp về sự nhìn thấy, khai môũ một cách viên mãn. Chữ ngộ ôũ đây còn có nghĩa là trôũ về với tực tại qua kinh nghiệm nội tại. Chỉ có chính mình mới ngộ được cho mình mà thôi. Chẳng hạn như tự mình phải bưng tách trà lên mà uống thì mới biết được hương vị của trà. Tuy nhiên, có lắm người lầm hiểu cái nghĩa tầm thường của đốn là chặt. Cũng chính vì không hiểu rõ, hoặc hiểu lầm hai bài kệ nầy mà có một số người “cuồng” thiền đã tự mình bước đi như những kẻ mù mà lại rão bước đi tìm “đốn” người.

Vậy thì những ai có thể “đốn ngộ” cho người ? Ngoại trừ Phật và Thầy Tổ ra, không ai có đủ tư cách làm chuyện nầy cả. Chưa phải là thầy tổ mà đi đốn người ấy là lối hành xữ của những con ma thiền. Hãy nhìn cái gương của Ngài Huệ Khả đấy, lúc chưa ngộ đạo, Ngài vẫn ôũ ẩn mà tu trì; cho đến khi ngộ rồi Ngài mới dám buông thỏng tay, đi vào chợ, vào đời, để mà đốn ngộ cho chúng sanh. Như vậy nếu, ta bị những con ma thiền đốn thì chúng ta phải làm sao ? Mặc dù Phật đã dạy với những người sơ cơ, nếu gặp những ai mà ta chưa có đủ cơ duyên để độ họ, ta quay lưng mà không bỏ; quay lưng tự độ ta trước, chờ cho đủ cơ duyên rồi trôũ về độ họ.

Ta Bà thế giới nầy có hằng sa chư Phật. Nếu ta không độ được một người cũng chỉ vì thiếu duyên. Hãy để chư Phật độ họ. Đừng ôm đồm mà họa vào thân. Phàm phu khó chìu lắm, ta không chìu hết nổi đâu. Đó là với những người sơ cơ, còn những người đang mang hạnh nguyện Bồ Tát đạo, đang thật tình tu hành chính chắn, giữ giới trong sạch, ngôn ngữ và hành động đều thanh tịnh, tâm niệm sáng suốt; mà lại bị những con ma “cuồng thiền” theo phá thì phải làm sao ? Nói ma cuồng thiền nhiều khi cũng hơi quá đáng, xin cứ tạm gọi là những kẻ không biết gì mà học đòi đi đốn người.

Khi họ không biết gì mà họ đi đốn đầu nầy, đốn đầu nọ; vấn nan đầu nầy, vấn nan đầu nọ, là họ xấu chứ gì ? Vậy thì tâm tư của một người hành trì Bồ Tát đạo là tách rời họ, tránh xa họ để cho sự thanh tịnh của ta được viên mãn ư ? Một khi đã mang hạnh nguyện Bồ Tát mà không đi vào điạ ngục để cứu người thì ai vào ? Vì thế cho nên những ai tu hành chân chánh mà lui bước tránh xa trong trường hợp nầy là hãy còn ích kỹ. Làm như vậy mà gọi là hành Bồ Tát đạo ư ? Làm như vậy chưa nói đến hạnh nguyện Bồ Tát, tự ta ta đã tách rời ra khỏi nhân quần, xã hội; tự ta ta có thể làm nản chí hoặc thối chuyển một vị Phật tương lai. Tách bỏ người như vậy ta có cảm thấy còn xứng đáng mang danh là một đứa con Phật không ? 

Tóm lại, trong thiền, đốn hay không đốn, không phải là đáp số cho cuộc tu hành của ta và sự Tịnh Độ hóa cõi Ta Bà nầy. Cái đáp số ôũ đây là cho dù có bị đốn, bị khảo, ta vẫn thẳng đường tiến tu, mà còn giúp cho một vị Phật tương lai bất thối chuyển nữa. Cái đốn, cái khảo của người; nếu ta nghĩ bị đốn, bị khảo thì tự ta ta sẽ mất đi sự kiên trì. Ví bằng ta cứ cho chúng là những trợ duyên cho công cuộc tu tập của ta thì chính chúng sẽ là những bài học dạy cho ta sự kiên nhẫn. Hãy kiên nhẫn; hãy nhẫn những cái đáng nhẫn và ngay cả những cái không đáng nhẫn. Người đã quyết chí tu trì thì gặp thuận duyên cũng tu được, mà nghịch duyên cũng vẫn tu được.

Vã lại, trong nghịch duyênhành trì Phật pháp mới thực sự xứng đáng noi theo hạnh Phật như Ngài đã không thối chuyển trước sự quấy phá của Đề Bà, hoặc sự hành hung của Uơng Quật. Vậy xin đừng bao giờ thối chí nản lòng về sự lỗi lầm của người và ngay cả của mình. Hãy can đảm lên với cái đại dũng cả của nhà Phật mà đứng dậy sau mỗi lần vấp té; hoặc đôũ người đứng dậy sau mỗi lần người té ngả. Hãy nhìn nhau mỉm cườitha thứ cho nhau những lỗi lầm. Như vậy là chúng ta đã đang sống trong sự tỉnh thức tuyệt vời. Như vậy là ta đang biến những sự sai sót thành những an vui bình thản. Như vậy là ta đang biến địa ngục của Ta Bà thành ra thanh tịnh của Niết Bàn


42. PHONG THÁI CỦA NGƯỜI HÀNH THIỀN 

Trong đạo Phật, thiền có một phong thái hết sức đặt biệt. Phong thái đặc biệt nầy khôũi nguồn từ sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma; một phong thái dị thườngsinh động. Thiền sôũ dĩ gọi là thiền là vì một câu cũng không có, mà một chữ cũng không có. Nó vượt qua bờ mê bến ngộ, dứt tuyệt hai mé thị phi. Càng tưôũng rằng mình đã tới gần thì kỳ thật lại càng xa. Càng cầu thì càng bất đắc. Chính vì thế mà Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã dõng dạc tuyên bố: “Bất lập văn tự.” Thiền là đi thẳng, không nhìn quanh, cũng như không ngoảnh lại. Nơi nào có Phật cũng cứ lặng lẽ bỏ đi; nơi nào không có Phật cũng không dừng lại. Đừng hỏi bất cứ ai về thiền vì một người thiền chân chính sẽ chẳng nói gì đâu. Có thể họ sẽ bảo bạn về nhà đóng cử lại thì sẽ thấy, hoặc giả ta không có chi để nói với bạn cả, hoặc giả ai có thể phá được cái cửa ngỏ ấy ngoại trừ bạn ra... 

Thiền là như vậy đó quý bạn ạ; không phải lý luận mà có thiền, cũng không khái niệm mà có được. Thiền là kinh nghiệm trực tiếp tự thân. Thiền là trực giác. Cửa ngỏ vào thiền chỉ có chính mình mới có thể vào; vào mà không cần biện giải hay lý luận. Trong thiền không có ai hết ngoại trừ ta. Bầu trời thăm thẳm là ta và ta là bầu trời thăm thẳm. Cũng thế, thiên nhiên là ta và ta là thiên nhiên. Nơi nào còn có lý luận và khái niệm, nơi đó không có thiền.

Chính những nét đặc thù ấy mà có nhiều người đã trôũ thành ngông cuồng khi chỉ biết thiền qua lý luận. Bôũi lẽ họ đã đi ngược lại với chỉ yếu của thiền mà uống nhằm thuốc độc. Chính tổ Bồ Đề Đạt Ma đã bảo đừng, mà họ cứ, thì không họa vào thân làm sao được ? Ngài đã bảo thiền là là nín, không là nói; cứ trực chỉ chân tâm mà thấy tự tánh. Chỗ nầy cũng là điểm chính yếuvô cùng quan trọng của thiền mà bất cứ người tu thiền nào cũng nên ghi nhớ. Ghi nhớ để học được cái phong thái của thiền một cách đứng đắn. Ghi nhớ để đừng vướng mắc vào văn tự, lý luận và khái niệm, do đó mà không bị Ộcuồng thiền.Ợ Đấy là những điểm đánh thẳng vào những người chỉ biết dăm ba câu về thiền rồi dương dương tự đắc; đi khoe đầu nầy, khoe đầu nọ; ta đã chứng đắc nầy, chứng đắc kia. Bôũi thế, thà rằng đừng biết chữ, đừng biết đi chùa, đừng biết chi hết về kinh; thân tâm như một tờ giấy trắng, mà tu thiền còn dễ tiến và dễ giải thoát. Ngài Lục Tổ Huệ Năng là một thí dụ điển hình. Phật tử nên vô cùng cẩn trọng trên bước đường tu tập, đừng để cho những vướng mắc vô bổ nầy làm cản trôũ bước đường giải thoát của ta.


43. THIỀN VÀ THA LỰC 

Phải thành thậtcông nhận rằng thiền là một cái gì hết sức đặc biệt của Phật giáo. Đức Thế Tôn ngoài những chân lý mà Ngài đã để lại cho muôn đời sau, Ngài còn vẽ lại một bức tranh thực và sống động ngay dưới cội Bồ Đề: hình ảnh của một Thái Tử quyết tâm thiền định cho đến khi thành chánh quả. Theo đạo Phật, thiền cũng đơn giản như hình ảnh của Thái Tử Sĩ Đạt Tha ngồi dưới cội Bồ Đề, thế thôi. Thiền không khúc mắc, cũng như không đòi hỏi lý luận hay khái niệm gì cả. Thiền là sự trôũ về với chính mình; trôũ về với thực tại; sống tỉnh thức; và thực nghiệm nơi chính bản thân mình để nhận ra tự tánh. Từng giây phút ta tỉnh thức là từng giây phút ta đang thiền, là từng giây phút ta trôũ về với chính ta; trôũ về với cái tự tánh tự thuôũ giờ của ta. Sự tu tập nầy phải được liên tục, chứ không nay tỉnh mai mê. Như vậy tu thiền là do từ nội tâm của ta, chứ không do ôũ bất cứ một động lực nào bên ngoài. 

Tuy nhiên, trong suốt cuộc tiến tu của ta, ta cũng cần có một minh sư và những thiện hữu tri thức, giúp đôũ và nhắc nhôũ những lúc ta bị trôũ ngại. Xin hiểu minh sư ôũ đây như một cây kim chỉ nam, còn thiện hữu tri thức như những người bạn đồng hành, chứ không và sẽ không bao giờ là những động lực chánh đưa ta đến giác ngộgiải thoát. Động lực chánh vẫn là ta, trong lúc linh mẫn cũng như ươn yếu cũng vẫn là ta. Chính Đức Thế Tôn đã nhiều lần khuyên nhủ chúng đệ tử là dầu cho thân ta yếu đuối và bị những cơn đau vằn vặt, hãy luôn giữ cho tâm tĩnh thức và chánh niệm. Các chư thiên chỉ giúp chúng ta qua sức mạnh của những hạnh nguyệnlòng từ ái của chính chúng ta mà thôi. Người hoàn tất công việc tu tập cũng chỉ là ta.

Hãy xé tan bức màn vô minh và hãy vững tin vào khả năng tự giải thoát của mình. Tâm ta có khả năng chứa chấp những đau khổphiền não; thì nó cũng có khả năng thanh lọc hết những tham, sân, si. Tâm ta có khả năng đưa ta vào địa ngục, thì nó cũng có khả năng đưa ta trôũ về với tỉnh thứctự tánh. Phật đã dạy rất rõ ràngmọi người trong chúng ta, ai cũng có khả năng giải thoát viên mãn; có điều là ta có muốn hay không mà thôi.


44. CÁI NHÌN CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ  HÀNH THIỀN 

Cả ba vị tổ Thiền từ Huệ Khả, Huệ Năng, đến Trúc Lâm đều cùng có một cái nhìn giống nhau về thiền: Biết niệm niệm đều là những niệm hư ảo nên không theo; biết cảnh là tướng duyên giả hợp nên không theo; chỉ sống với cái chân thật nơi chính mình mà thôi. Thiền là cái gì đơn giản như vậy đó. Thấy bông là bông, chứ không là gì khác, cũng không bị một khái niệm nào chen vào. Không một qui ước nào, một khuôn phép nào có thể đóng khuôn, hoặc định sẳn cho thiền. Người tu thiền nhìn cái bông như một sự hiện hữu của cái bông. Nhìn mà tâm không khôũi niệm thật giả, đẹp xấu, thơm hay không thơm... Không khôũi niệm như vậy thì làm gì có chuyện thương, chuyện ghét, chuyện ái, chuyện thủ... Tuy nhiên, ta có thể nói thiền phô diễn một giáo lý tuyệt đỉnh trong các tư tưôũng của Phật giáo. Mặc dù các tổ đã từng dạy: “Không một chữ, cũng như không một pháp cho người.”

 Đừng thêm, đừng bớt, đừng tô, đừng vẽ, thiền là nhìn sự vật bằng cái nhìn “như thị.” Nhìn sự vật như sự vật; không bị kiến thức nào trói buộc; ngay cả Niết Bàn hay địa ngục cũng không làm sai lệch được cái nhìn của kẻ tu thiền. Cái nhìn “như thị” nầy có đi ra ngoài Phật pháp không ? Là con Phật, nhìn như thị là cái nhìn của chư Phật thì làm gì có chuyện ra ngoài Phật pháp. Tuy nhiên, có rất nhiều người không chịu để ý tường tận lời Phật dạy. Khi Phật nói rằng trong suốt bốn mươi chín năm hoằng pháp, ta chưa hề nói một lời nào là Phật muốn dụng ý gì ? Ý Ngài muốn nói tất cả các pháp mà Phật đã nói đều chỉ là phương tiện, chứ không phải là cứu cánh.

Cứu cánh là cõi vô sanh vĩnh hằng. Đừng nắm chặt vào ngón tay chỉ trăng, mà hãy lên thẳng mặt trăng. Một khi đã lên được trăng rồi thì phương tiện cũng phải quẳng đi, thế mới gọi là rốt ráo được. Cái khổ của chúng ta là ôũ chỗ do hiểu cạn cợt mà chưa lên được trăng đã vội quẳng phi thuyền, thế là chơi vơi ngoài không gian. Thấy như thế, những ai muốn chơi vơi ngoài không gian, cứ quẳng bỏ phi thuyền. Những ai muốn tiếp tục chơi vơi trong kiếp luân hồi cứ tự nhiên mà quẳng bỏ đi Phật pháp. Còn những ai muốn thực sự về cõi vô sanh thì hãy lắng nghe lời dạy của Đức Từ Phụ: nhìn sự vật như sự vật; không dấy tâm động niệm vì dấy tâm động niệm là khơi nguồn cho phiền não, mà phiền não là gốc của luân hồi sanh tử. Nhìn sự vật bằng cái nhìn như thị mà không một kiến giải nào kèm theo. Người tu thiền là thực sự trôũ về với con người thật của mình. Mọi vật dưới mắt người hành thiền đều trần trụi, chứ không bôi son trét phấn. Nếu ai cũng nhìn được cái nhìn như thị thì quả là thảnh thơi không có gì trói buộc

Tóm lại, cái nhìn của người tu thiền là cái nhìn “Đối cảnh vô tâm,” hoặc cái nhìn “như thị.” Vô tâm ở đây không có nghĩa là không có tâm, mà vô tâm ở đây là không chạy theo trần cảnh; vô tâm ở đây là niệm khởi, ta không mời, không thỉnh, không cầm giữ, không chạy theo, cũng như không đuổi. Vô tâm lại càng không có nghĩa là đi diệt hết tất cả các niệm, và lại càng không có nghĩa là rơi vào chỗ “không.” có gì, không được gì... Vô tâm ôũ đây phải được hiểu là “Vô niệm,” nghĩa là một niệm cũng không còn, ngay cả câu niệm Phật. Hơn nữa, người hành thiền nhìn mọi sự vật với lòng an nhiên, tự tại; tu thiền với lòng không cầu đắc. Đắc cái gì đây ? Tam thiền, tứ thiền chăng ? Đã nói không một đối tượng để theo; không một điểm để đến thì làm gì có chứng đắc.

Còn nghĩ đến Tam Thiền, Tứ Thiền là còn vướng mắc; còn theo Tam Thiền, Tứ Thiềnbiết vọng mà còn theo, là đi ngược lại với thiền. Người hành trì thiền nhìn Tam Thiền, hoặc Tứ Thiền một cách dửng dưng. Thiền không có chứng đắc, cũng như không có chỗ để chứng đắc. Nói thì dễ lắm, chứ làm được không phải là chuyện dễ đâu ! Tuy nhiên, không dễ không có nghĩa là không làm. Người con Phật quyết không điên đảotrần cảnh. Không bị trần cảnh dẫn dắt và khống chế. Hãy nhìn bầu trời thăm thẳm; mây đến, mây đi, không ai mời, không ai thỉnh, không ai cầm giữ, không ai chạy theo, cũng không ai đuổi, đó là cái nhìn của những người hành thiền vậy.


45. THIỀN VÀ CHỨNG ĐẮC 

Thiền là trở về với thực tại, là sống tỉnh thức, là thực nghiệm tự thân để trở về với tự tánh. Bấy nhiêu đó cũng đủ cho thấy thiền có chứng đắc cái gì đâu ? Có cái gì đâu để mà chứng với đắc ? Sống tỉnh thức là sống trong chánh niệm; trở về với thực tại là làm cái gì, biết mình làm cái đó; còn trở về với tự tánh là trôũ về với bản chất chân thật tự thuôũ giờ của mình... Đâu có gì để chứng đắc ? Thực hành được những điều trên, ta sẽ không còn một mảy may phân biệt nữa. Lúc đó ta sẽ thấy rằng mọi người là ta, và ta là mọi người. Thiên nhiên là ta, và ta là thiên nhiên; cũng như vũ trụ là ta và ta là vũ trụ vậy. Ta có thể là một vũ trụ bao la, mà cũng có thể là một hạt bụi vi tế. Tình yêu của ta là tình yêu cho mọi người. Lúc đó chẳng những ta yêu ta, yêu người, yêu bạn; mà còn yêu cả những kẻ ngoại đạo hay những kẻ thù. Tự tánh không phân biệt

Thiền chỉ là sự tỉnh lặng, là tâm thức ổn định với một cảm giác an lạc mãnh liệt. Trong thiền, không có một đối tượng để chứng đắc. Lúc trụ thiền, còn hướng về chứng đắc, dù điểm chứng đắc ấy là điểm “định” đi nữa, là còn hướng về vọng. Hễ còn hướng về vọng thì chắc chắn sẽ không có được sự sáng suốt của tự tánh. Tư tưôũng, dù lớn dù nhỏ, cũng không chạy ra ngoài luật sanh, trụ, dị, diệt của nhà Phật. Chơn thiền là cứ để cho nó tự nhiên sanh, tự nhiên trụ, tự nhiên dị, rồi tự nhiên diệt; chứ ta đừng vướng mắc vào. Thiền mà đừng nghĩ đến chứng đắc là chơn thiền; có chơn thiền thì thân lẫn tâm đều thanh thản và ổn định tột độ. Có chơn thiền hình như từ từ cả thân và tâm ta đều lắng đi như một viên đá đang từ từ lắng xuống lòng đại dương, hoặc như một chiếc lá từ từ chạm mặt đất, đến một lúc nào đó ta hình như tan biến vào hư vô. Hư vô là ta và ta là hư vô. Ôi tuyệt diệu làm sao ấy !

Tóm lại, sự an lạc tuyệt diệu của hành thiền nó đơn giản như vậy đó, và Niết Bàn nó cũng đơn giản như vậy đó. Mỗi ngày một chút; nhiều ngày nhiều chút và cứ thế mà ta cứ tiếp tục an trú trong chánh niệm, an trú trong Niết Bàn của đời nầy, kiếp nầy, chứ không phải đi tìm ở đâu đâu. Phật tử nên cẩn trọng, đừng để vướng mắc vào sự chứng đắclắm khi phải họa vào thân. Phải luôn nhớ rằng hễ còn mong có định là chưa phải chơn thiền. Còn mong cầu là còn loạn động thì làm gì có thiền ? Lại cũng nên nhớ thâm ý của chư tổ nhà Thiền: “Trong lúc thiền, gặp ma giết ma, gặp Phật giết Phật, gặp động giết động, gặp định giết định.” Đừng vui khi thấy điều hay hay; mà cũng đừng sợ khi thấy những chuyện ghê rợn. Hay hay hoặc ghê rợn đều là vọng và vui mừng cũng như sợ hãi chính là những nhơn gây ra cuồng thiền. Nếu còn cho mình chứng đắc, dù chỉ là định, tức là còn rơi vào tà thiền; không nghĩ chứng cũng không nghĩ đắc, ấy là thiền.

Ngày xưa Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã dõng dạc tuyên bố rằng trong thiền không có một pháp cho người. Con đường duy nhất để đi đến với thiền là hãy thực nghiệm tự thân mà đến. Muốn biết hương vị của trà, xin đừng hỏi ai; hãy nâng tách trà lên mà uống rồi sẽ biết, thế thôi. 

Thiền rất đơn giản. Thiền chỉ là tự mình trôũ về với tự tánh sẳn có bấy lâu nay mà thôi. Một khi đã gọi là trôũ về thì làm gì có sự chứng đắc ? Xin nhắc lại một lần nữa, trong thiền không có có lý chứng, thân chứng, tâm chứng chi cả; mà chỉ là một cuộc hành trình trôũ về với chính mình. 

Người hành thiền chân chánh sẽ không cầu chứng đắc chi cả, ngay cả việc cầu cho được “Định” cũng là vọng cầu. Người hành thiền chân chánh sẽ dửng dưng trước mọi niệm; không mời, không theo, cũng không đuổi. Niệm đến, cứ đến; niệm đi, cứ đi; không vướng mắc gì đến ta. Người hành thiền chân chánh lúc nào cũng tâm niệm: Chó sủa mặc chó, lữ hành cứ đi. Cứ như thế mà hành trì cho sự dửng dưng ngày càng cao lên; cho đến một lúc nào đó ta hoàn toàn dửng dưng trước mọi tình huống. Bấy giờ còn ai nữa đâu ? Chỉ còn lại một mình ta. Như vậy là ta đã thực sự rốt ráo trôũ về với chính ta. Một khi đã đạt được sự hoàn toàn dửng dưng thì tâm ta đâu còn gì để mà chấp trước; đâu còn gì để mà vướng mắc ? Như vậy là gì nếu khônggiải thoát ? Lúc ấy cho dù ta chẳng mong cầu được như Ngài Huệ Năng đi nữa thì tự tánh mình vẫn hiển bày và ta vẫn luôn biết rằng: 

 Tự tánh mình vẫn luôn thanh tịnh !
 Tự tánh mình vẫn luôn không sanh diệt !
 Tự tánh mình vẫn luôn đầy đủ !
 Tự tánh mình vẫn luôn không dao động !
 Tự tánh mình Vẫn hay sanh muôn pháp !

46. THIỀN LÀ TÌM TRỞ VỀ VỚI CÁI PHẬT TÁNH 
 SẲN CÓ CỦA MÌNH 

Thiền trong đạo Phật là tự tìm về với cái Phật tánh sẳn có của mình. Mà tại sao lại phải trôũ về với cái Phật tánh sẳn có ấy ? Một con người sống tỉnh thức sẽ thấy rằng thân nầy bèo bọt, tâm nầy huyễn ảo. Cả thân lẫn tâm như chiếc lá trôi giữa dòng; không có nghĩa lý gì , hoặc giả như một đám mây, mới thấy đó liền mất đó. Thân tâm vô thường chứ có gì bền lâu, có gì quí báu đâu? Như vậy thì ta sống để làm gì ? Chính cái câu hỏi nầy đã có từ vô thỉ, mà mãi cho tới cái ngày Đức Phật đản sanh, nào có ai trả lời được đâu ? Đức Thế Tôn cũng đã vì câu hỏi nầy mà Ngài đã cắt ái ly gia và ra đi tìm đạo vô thượng. Cuối cùng, Ngài đã chứng quảtìm ra lý do của khổ đau cũng như ý nghĩa cho cuộc sống của ta. Ngài đã chỉ cho chúng ta rằng trong ta, ai cũng có một cái tự tánh sáng suốt, tức là cái tánh thấy biết thanh tịnh, sáng suốt, chưa bao giờ mất, cũng như chưa bao giờ thêm bớt, lên xuống một tí nào: Ấy là cái Phật tánh sẳn có của mình. 

Cái Phật tánh ấy là cái gì ? 

Từ nguyên thủy, cái gì cũng chẳng có, rồi vì cái vô minh nó dẫn dắt ta đi hết chỗ này đến chỗ khác để lượm lặc những thứ rác rưôũi. Bây giờ tu và hành thiền để trôũ về với cái gì cũng chẳng có ấy. Muốn được như vậy thì trước hết ta phải tìm cách loại bỏ đi những rác rưôũi mà ta đã lượm lặc ở dọc đường. Bỏ những thứ rác rưới ấy có khó lắm không ? Nếu ta muốn khó thì nó khó, mà ta muốn không khó thì nó cũng không khó. Tất cả đều tùy thuộc ôũ ta; hễ ta nhứt quyết tu hành là ta sẽ bỏ những thứ ấy không một chút luyến tiếc. Tuy nhiên, trước tiên ta nên biết những thứ rác rưôũi ấy là những thứ nào ? Lúc đã tu rồi thì hành trang duy nhất của một người Phật tử chân chánh là chánh pháp và những giới luật của nhà Phật; ngoài những thứ trên, tất cả còn lại đều là rác rưởi cần phải loại bỏ để cho hành trang ta được nhẹ.

Càng loại bỏ càng sớm chừng nào thì sự đi về đất Phật của ta càng nhanh chừng ấy. Những thứ cần được ưu tiên loại bỏ là cái chấp trướcchấp trước là những chướng ngại bậc nhất cho việc tu tập của ta. Chính cái chấp trước nó đưa ta đến cái ngã mạn cống cao; vì có chấp ta nên mới cống cao. Vì chấp có ta nên ta mới tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố... Lúc tu rồi ta coi những thứ nầy như những rác rưôũi mà ta đã vì không biết mà góp nhặt chúng ở dọc đường, nay biết rồi nên quẳng chúng đi. Chúng ta cứ quăng, quăng mãi và quăng mãi cho tới khi nào chúng ta chẳng còn gì cả. Đó chính là lúc ta đã thật sự trở về với cái Phật tánh sẳn có của mình. 

Phật tử chân chánh, nên nhận rõ ra đâu là chánh pháp và đâu là rác rưới mà ta cần phải loại bỏ. Chỉ có con đường duy nhất là nương theo chánh pháp của nhà Phật ta mới có thể biết được đâu là rác rưởi để mà loại bỏ chúng ra. Hãy can đảmloại bỏ đi những cái giả tạo bên đường; hãy can đảm lên mà làm nhẹ đi những hành trang không cần thiết trên con đường đi đến giải thoát của ta


47. LÀM CÁCH NÀO ĐỂ TÂM TA LÚC NÀO CŨNG CÓ CHÁNH NIỆM

Thường thì chúng ta ít khi sống thực cho chúng ta; chúng ta không sống cho hiện tại mà tâm chúng ta cứ dong ruổi đến những vùng quá khứ hoặc chạy theo những ảo tưôũng của tương lai. Quá khứ còn đâu ? Tương lai có đâu ? mà chúng ta lại phí thì giờ hoài công vô ích ? Hãy để thì giờ đó mà sống cho hiện tại của ta. Cái mà chúng ta đang có là ngày hôm nay, ta vẫn còn hơi thôũ, chứ tương lai nào ai biết ? Chúng chỉ là những ảo tưôũng, thế nhưng có rất nhiều người trong chúng ta vẫn hằng mơ tưôũng đến chúng hết ngày nầy đến ngày khác. Làm sao ta có thể nhất tâm chánh niệm ? Muốn nhất tâm chánh niệm thì có nhiều cách; chẳng hạn như niệm Phật, hoặc thiền.

Tuy nhiên, trong hạn hẹp bài nầy chúng ta chỉ nói về thiền. Thiền sẽ giúp ta chú tâm vào cái gì ta đang làm để từ đó quán chiếu vào đời sống hằng ngày của chúng ta. Thí dụ như lúc ta đi, ta biết lúc nào ta dở chân lên, bước chân tới và để chân xuống, ấy là ta đang có chánh niệm, ấy là ta đang thiền vậy. Cái lợi lạc trước nhất là ta biết những gì đang xãy ra, hoặc những chướng ngại vật để tránh, để không bị vấp ngả, do đó mà ta đi được đến nơi đến chốn an lành. Kế nữa, nếu ta thực hiện được như vậy, tâm ta chỉ chú tâm vào những bước đi, chứ không dong ruổi, không bị những vọng niệm vây quấn... Ấy là ta đang có chánh niệm

Tâm ta lúc nào cũng dong ruổi như con vượn chuyền cây, chứ không lúc nào nó chịu ôũ yên một chỗ. Chính vì vậy mà ta phiêu lưu từ hết vọng niệm nầy đến vọng niệm khác. Hôm nay ngồi đây mà tâm cứ nhớ đến thời quá khứ vàng son, hoặc mơ tưôũng đến tương lai xa mờ. Làm sao để ta trút bỏ những vọng niệm hầu thật sự sống với chính ta ? Muốn được như vậy, chỉ còn cách là ta hãy tu tỉnh lại; hoặc ôũ chùa, hoặc ôũ nhà, hoặc ôũ bất cứ đâu. Đừng hẹn, đừng đợi cho tội ác chồng chất lên, hoặc đến già, hoặc đến hưu trí rồi mới tu. Nên nhớ rằng: “Mồ hoang lắm kẻ tuổi còn xanh.” Ta phải tự tạo cho ta cái duyên để được gần gủi Phật pháp và phải tu ở bất cứ đâu.

Chẳng hạn như khi lái xe ta biết là ta đang lái xe và chỉ chú tâm vào việc lái xe, ấy là ta đang tu vậy. Được như vậy, chẳng những ta an toàn, mà người cũng an toàn; được như vậy, chẳng những ta không sợ hãi, mà người cũng được yên tâm. Hãy xem cái xe như vị Bồ Tát đã giúp đưa ta an toàn từ chỗ nầy đến chỗ khác; từ đó tay chân ta sẽ dịu dàngcẩn thận hơn trong mọi động tác. Nếu trên xe có người, xin hãy vì họ, lái làm sao cho họ cảm thấy thoải mái sung sướng, chứ đừng để họ phải hoảng sợ mà luôn miệng niệm Phật. Hãy tập thiền ngay cả trong lúc lái xe để thấy cái vi diệu của nó. Xin đừng lầm tưôũng thiền là mơ mơ màng màng, lái xe mà mơ mơ màng màng là chết sớm. Thiền ôũ đây là tâm thanh tịnh, tỉnh thức, biết rõ ràng ta đang làm gì. Thiền là để chánh niệm chế ngự vọng niệm. Thiền trong khi lái xe có nghĩa là ta biết ta đang lái xe, chứ không để chen vào bất cứ vọng niệm nào. Lắm tai nạn đã xãy ra chỉ vì trong lúc lái xe mà tâm ta dong ruổi. 

Tóm lại, chánh niệm chẳng những giúp ta tu giải thoát, mà còn tạo cho ta một đời sống tỉnh thức nữa. Muốn có chánh niệm, hãy vào thiền vì thiền-tập là một trong những phương thức hữu hiệu nhất. Thiền tập không có nghĩa là chỉ ngồi yên lặng để suy tư về một vấn đề gì, dù đó là một công án; mà thiền tập là để thực sự thấy rõ mặt mũi của chính mình cũng như của sự vật. Ngoài ra, thiền tập còn giúp ta loại trừ những mê muội và loạn tưôũng; từ đó tâm ý ta sẽ dừng lại, chứ không phải là nhốt tâm. Thiền-tập còn khiến những kẻ ồn ào vọng động trôũ về ngay với họ mà từ tốn êm dịu hẳn lại. Thiền tập còn giúp những kẻ hay ganh tị và bươi móc dừng hẳn lại để không tạo ra bất cứ một cuộc tranh luận nào. Thiền tập sẽ giúp mọi người cùng biết lắng tai nghe nhau và sống an vui với nhau trong tình thương yêu của từ, bi, hỉ, xả. 


48. KIẾN TÁNH 

Chữ kiến tánh có nghĩa là ngộ đạo hay là giác ngộ. Tuy nhiên, từ xưa đến nay, cho dù không nói nhưng chúng ta cũng hiểu là chỉ có Đức Thế Tôn là bậc toàn giác mà thôi; cho nên sau khi Phật nhập diệt, danh từ kiến tánh chỉ dùng để chỉ các Tổ. 

Kiến tánh ôũ đây không phải là cái tánh thấy tầm thường, mà là thấy được tánh giác của mình. Thấy được tánh giác là thấy được cái gì không có hình tướng, hoặc giả một cái gì bao la thăm thẳm. Cái thấy như vậy không là cái thấy tầm thường. Kiến tánhgiác ngộ và đã hoàn toàn ra khỏi khu rừng vô minh. Người có kiến tánh sẽ không còn chấp nữa. Không chấp tâm, mà cũng không chấp thân. Người có kiến tánh sẽ thấy rõ tánh không của đạo Phậtvô cùng vi diệu. Chẳng hạn như Lục Tổ Huệ Năng qua bài kệ của Ngài: 

Bồ Đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bổn lai vô nhứt vật
Hà xứ nhạ trần ai

Bôũi vì đã thấu triệt được thể không nên Lục Tổ đã ứng thành hai câu ỘXưa nay không một vật, thì chỗ nào mà dính trần ai ?Ợ Người học đạo hãy cố mà lần về với kiến tánh của mình; nếu không, chẳng khác nào chỉ đang ôũ bên lề của đạo Phật. Nếu không được như Phật hoặc các Tổ, thì ít ra cũng được phần giác. Người tu theo Phật mà không được phần giác thì không khác chi những kẻ đang đi trong đêm tối, hoặc giả như đang đi trong vô vô minh minh; chứ làm sao mà thưôũng thức được mùi vị của đạo, nói chi đến chuyện giải thoát ?

Muốn thoát ra khỏi đêm tối u u minh minh hãy nhìn và noi theo gương của Đức Từ Phụ. Ngài đã vẽ lại một bức tranh tuyệt kỹ nơi cội Bồ Đề. Ngài đã thực sự thoát ra khỏi vô minh bằng nẻo vào thiền. Tại sao chúng ta lại không ? Ngài đã thực sự tự do độc lập với mọi trói buộc của thế giới Ta Bà. Tự tánh của Ngài đã sai khiến được phiền não. Lúc ấy với Ngài, phiền não, không phiền não, có quan hệ gì ? Với Ngài, sanh tử hay Niết Bàn, phiền não hay Bồ Đề, còn có gì ràng buộc được ? 


49. THIỀN VÀ MA

Thiền là trôũ về với thực tại, là sống tỉnh thức, là thực nghiệm tự thân để trôũ về với cái bản tánh chân thật tự thuôũ giờ của mình. Thiền là biết vọng không theo, là đối cảnh không tâm, và hằng sống với cái chân thật. Ngoài những thứ nầy ra, tất cả những thứ khác chen vào trong lúc ta hành thiền đều là ma. Ma là cái gì ? Ma theo Bách Khoa Tự Điển có nghĩa là linh hồn của người chết đeo theo ám người đang sống; còn theo đạo Phật, ma là những chướng ngại mà các bậc tu hành thường hay gặp phải trên bước đường tiến tu. Có nhiều thứ ma: ma phiền não, ma nghiệp, ma uẩn, ma tâm, ma tử, ma thiên, ma thiện căn, ma tam muội, và ma thiện tri thức... Ma phiền não là những mối tham lam, hờn giận, ngu si che lấp chánh đạo.

Ma nghiệp là những ác nghiệp mà ta tạo ra bằng thân, khẩu, và ý. Ma uẩn là sự dày vò của năm uẩn: sắc, thọ, tưôũng, hành, thức. Ma tâm là lòng tự cao ngã mạn. Ma tử là cái chết đến không chừng không đổi làm cản trôũ bước tiến tu của ta. Ma thiên là ma của cảnh trời, là những cảnh thần tiên để mê hoặc lòng người. Ma thiện căn là những chấp trước mê dại của con người, nói rằng mình có nhiều căn lành, phước báo, không chịu tăng trưôũng tu hành, mà còn đi phá đầu nầy đầu nọ. Ma tam muội là những kẻ tu hành ham chứng đắc nầy nọ mà không chịu chân chánh tu học và chẳng cầu tinh tấn. Ma thiện tri thức là loại người ỷ tưôũng mình đã học cao, hiểu rộng rồi chẳng chịu giúp đôũ người, mà còn quay ra tranh luận bậy bạ, khiến cho người phiền não trong công cuộc tu hành

Còn ma thiền là những bóng uế của những con ma vừa kể, chúng đeo đuổi và ám ảnh người hành thiền. Chúng làm cho người hành thiền có khi vui, có khi sợ, có khi khó chịu, đau đớn... Trong khi hành thiền mà tướng lạ xuất hiện, nghe thân nặng nề như có vật gì đè lên, hoặc giả nhẹ nhàng như muốn bay bổng, hoặc giả như có những con li ti bò ngứa trên mặt, hoặc thân người lay động, lắc lư, hoặc thấy như có hào quang trước mặt... Chúng đều là ma. Biết là ma để đừng sợ hãi; tất cả đều là hư ảo, không có thật. Đừng quan tâm chi đến chúng mà hãy tiếp tục an trú trong chánh niệm

Lúc tọa thiềncảm thấy toàn thân nóng lên là thế nào ? Lúc ngồi thiền mà nghe như toàn thân nóng lên là chuyện bình thường của phản ứng sinh và vật lý. Trong lúc ngồi, ta buông xả tất cả từ thân đến tâm. Các cơ thịt đã không làm việc mà bộ não cũng nghỉ ngơi, như thế thì tất cả năng lượng trong cơ thể sẽ không tiêu phí đi nhiều, một phần chúng sẽ biến thành nhiệt lượng mà chuyển đi khắp châu thân. Do đó mà ta cảm thấy như có hơi nóng toát ra. Chính hơi nóng nầy xua tan hết mọi thứ cảm hàn từ bên ngoài và giúp người hành thiền tránh được bệnh hoạn.

Trong lúc hành thiền chúng ta nên dẫn cái luồng nóng nầy đến những chỗ cần thiết để tiêu diệt ma. Chẳng hạn như bị hôn trầm, ta nên chuyển luồng nóng đi khắp thân mà mắt nên môũ to ra thì tự nhiên hôn trầm sẽ từ từ lui ra. Nếu có những tiểu chứng như ho, ngứa cổ, ngứa ngái, nhẩy mũi... thì chúng ta cũng nên bền chí mà vận chuyển hơi nóng trong người tới ngay vùng ấy để mà đối trị nó, dùng hơi thôũ ấm áp của ta để xoa ngay chỗ khó chịu. Ráng làm như vậy chừng vài lần thì bọn tiểu ma nầy sẽ phải thối lui. 

Ngoài những tiểu ma và những thứ ma vừa kể trên, hãy còn nhiều thứ ma khác cũng có khả năng làm não loạn việc hành thiền của ta. Luôn nhớ rằng ma và Phật là hai thái cực trái nghịch nhau, cũng giống như đời và đạo.

Hễ bước vào đạo là lội ngược dòng đời; hễ bước vào thiền là đi ngược với ma. Có thể chúng là những con ma oan nghiệt nhiều đời, nhiều kiếp; tự thuôũ giờ ta theo chúng đi phá làng phá xóm, thì chúng không quấy nhiễu ta. Bây giờ ta tách ra khỏi chúng, chúng nổi tam bành lục tặc lên mà phá ta. Tự thuôũ giờ ta ngày ngày theo chúng đi phá hết đầu nầy đến góc nọ thì chúng cười hể hả, bây giờ ta trụ lại, đương nhiên chúng phải níu kéo. Níu kéo không được, chúng phải phá. Ma ôũ đây có thể là những con ma mà ta đã kể ôũ trên; chúng cũng có thể là ma bất tín, nhỏ mọn, tự cao, ngã mạn, thô lổ, ỷ tài, ỷ tiền, nói lời ác, cho mình giỏi rồi mục hạ vô nhân, cho mình tài cao nên đi giáo hóa người trong khi chân mình vẫn lấm mê mê, thấy người làm việc thiện như cát bay vào mắt, không bằng người không chịu nhẫn nại cố gắng, mà còn tìm cách trì kéo người lại cho bằng mình... Ma ôũ đây cũng có thể là đối với kẻ thấp kém thì kiêu ngạo, mà đối với người có quyền thì luồn cúi, gặp thuận cảnh thì mừng, gặp nghịch cảnh thì sanh lòng sân hận.

Ma đây cũng có thể là những cái hiểu biết phàm phu của ta, chúng là những trôũ ngại chính trong những bước tu thiền của ta. Lại còn một thứ ma nữa, ấy là ma tà kiến. Vì ngã mạn cống cao mà ta đi đến chỗ lấy tà làm chánh. Thấy người bàn chánh đạo, sanh lòng phiền não; thấy người giữ giới, muốn người cũng phá giới như ta. Đây là con ma nguy hiểm nhất trong các loài ma; chúng chính là con ma đưa đường dẫn lối cho ta vào địa ngục vô gián vì thứ gì nó còn làm được, huống hồ là hủy báng chánh pháp, huống hồ là thân Phật rướm máu... 

Ngoài ra, trong lúc hành thiền chúng ta còn phải để ý những con ma vọng tưôũng. Mỗi ngày ít nhất đã có đến sáu mươi chín ngàn (69.000) niệm đến và đi trong ta. Nếu ta chịu chứa chấp chúng thì ô hô chỗ đâu mà chứa đây ? Biết bao nhiêu là thứ vọng tưôũng; nào là vọng tưôũng đã ngộ đạo, đã định, đã phát huệ, đã biết nhiều, đã có thần thông, đã giỏi hơn người, đã chứng đắc thiền nầy thiền nọ... Thậm chí có những con ma vọng tưôũng đến độ lố bịch, rằng chỉ có mình mới có đủ khả năng tiếp nối thầy tổ; chỉ có mình mới có khả năng đốn ngộ người, chỉ có mình mới có thần thông... Phật tử ôi ! tất cả đều là ma, đều là loạn động, đều là cuồng vọng mà thôi.

Một ngày còn chúng là ngày đó ta chưa có thiền. Bên cạnh anh ma vọng nầy thì anh ma khẩu luôn theo sát. Hễ vọng đi trước thì khẩu đi sau. Khẩu chính là xướng ngôn viên cho vọng. Vọng xúi khẩu đừng kiểm điểm ngôn ngữ của mình; vọng xúi khẩu cứ cao đàm hùng biện; vọng xúi khẩu đi đốn người một cách bậy bạ; vọng xúi khẩu đi khoe mình đắc ngộ; vọng xúi khẩu đi chê người còn ngu mê; vọng xúi khẩu luận người dôũ ta hay; vọng xúi khẩu đi thối chuyển những vị Phật tương lai; vọng xúi khẩu vô cớ khen chê những việc hơn thua của người; vọng xúi khẩu nói ra những điều mà người nghe phát phẩn; vọng xúi khẩu trước mặt đề cao, sau lưng biếm nhẽ...

Người tu thiền nên nhớ ma bệnh khổ mà còn dễ trị hơn những con ma oan nghiệt, ma tri kiến phàm phu, ma tà kiến, ma vọng và ma khẩu. Chúng chính là những tên cai ngục, lúc nào cũng môũ toang những cánh cửa địa ngục đón ta vào. Tâm tĩnh lặng không phải một ngày một bửa mà có; thế nhưng chỉ một sát na bất cẩn trọng, tâm loạn động sẽ dấy lên ngay. Muốn diệt những con ma nầy không phải dễ, nhưng với sự trì chí thì việc gì cũng không khó. Biết chúng là huyễn, là hư giả nên ta không vui, không sợ, không lo, không buồn. Chúng đến cứ để cho đến; ta không mời, không thỉnh, không chạy theo; chúng đi cứ để chúng đi, ta không đuổi mà cũng không cầm giữ chúng lại. Luôn nên nhớ rằng tất cả đều là huyễn mộng, là hư không từ đời nầy đến kiếp khác; chẳng lẽ ta lại cứ mãi ôm những cái huyễn giả ấy để cứ tiếp tục dừng chân hết trạm nầy đến trạm khác hay sao ? Hãy tự hồi đầu để thấy thực ta là ai ? Hãy tự hồi đầu để thấy rằng tự tánh của ta nó bất biến, nó bao la thăm thẳm như bầu trời không một vẩn mây. Hãy tự hồi đầu để thấy rằng ta và vũ trụ chỉ là một. 


50. THIỀN VÀ TÁM CON ĐƯỜNG CAO QUÝ

Thiền là trôũ về với thực tại, là sống tỉnh thức, là đi vào thế giới của tâm ta bằng kinh nghiệm tự thân. Như vậy thiền là một cuộc hành trình nhằm trở về tìm lại bản lai chân diện mục. Tìm lại xem mặt mũi thật sự của ta thế nào ? Lục Tổ Huệ Năng đã cho nổ một tiếng sét chẳng những đã làm thức tỉnh những tăng chúng thời bấy giờ, mà còn cho muôn đời về sau nữa. Tại sao lại: 

Bồ Đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài 
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai

Cuộc hành trình về lại với bản lai chân diện mục chẳng khác nào một cuộc leo núi Hy Mã Lạp Sơn; chúng ta cũng cố leo cho lên tới đỉnh trí tuệ. Tuy nhiên, tất cả những sự thật đều tàng ẩn chỉ trong ta và trong ta mà thôi. Chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy sự thật nầy ôũ bất cứ nơi nào bên ngoài ta. Sôũ dĩ Tổ đã phải dõng dạc tuyên bố như vậy là do bôũi Tăng chúng thời bấy giờ mãi mê vọng ngoại. Hết cầu tìm nơi nầy, lại cầu tìm nơi khác, mà quên mất đi lời Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.” Vậy là Thế Tôn đã chỉ quá rõ ràng rồi, còn phải chạy Đông chạy Tây đâu nữa ? Thấy lòng tăng chúng chỉ lo hướng ngoại, mà quên hồi nội nên Lục Tổ đã cho nổ một tiếng sét long trời lở đất. Nói là tiếng sét cho đừng động chạm đến ai, chứ kỳ thật đây là một cái tát tay nhá lửa cho những ai cứ mãi mê vọng ngoại. 

Đã là con Phật dĩ nhiên là phải tin theo Phật; thế mà lại không chịu dùng những tấm bản đồ giải thoát mà Phật đã vẽ ra tự năm nào, thật là vô lý quá ! Hãy về lật lại những bức dư đồ năm cũ, ta sẽ tìm thấy tám con đường cao quý, không ôũ đâu xa, mà ôũ ngay trong kinh điển của Đức Từ Phụ. Tám con đường cao quý nằm trong Đạo Đế của Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Chính tám con đường nầy chẳng những giúp ta tu thân, cải thiện hoàn cảnh xung quanh, mà còn giúp ta đạt được quả Vô Thượng Bồ Đề nữa. Ngay trong những cuộc hành trì thiền quán hằng ngày, nếu không am hiểu một trong tám con đường nầy, ta sẽ không đi đến đâu cả. 

Trước tiên là sự liên hệ giữ thiền và con đường cao quý đầu tiên là chánh kiến. Nếu thiền mà thiếu “chánh kiến” thì không cách gì ta thấy và hiểu biết được chân như của sự vật. Mà chính sự hiểu biết nầy dần dà sẽ trôũ thành trí huệ. Thoạt tiên thì chánh kiến giúp ta thấy được những định luật của thiên nhiên đã chi phối đời sống của chúng ta. Nếu chúng ta hành động vì tham, sân, si kết quả sẽ là đau khổ. Nếu ta hành động vì từ, bi, hỉ, xả thì kết quả sẽ là hạnh phúcan lạc, cho mình và cho người. Ngoài ra, chánh kiến còn giúp ta có đầy đủ hiểu biết để buông bỏ, để không bám víu, không quyến luyến. Chánh kiến còn cho ta cái tánh thấy biết chân thật cũng như sự vô thường của các pháp, các hiện tượng. Mọi hiện tượng của tâm và thân chỉ tồn tại trong chốc lát rồi tan biến. Niệm đến rồi đi; hơi thôũ vào rồi thôũ ngay trôũ ra; những tế bào sinh ra rồi diệt; có cảm giác rồi không cảm giác; thương rồi ghét... Chính nhờ chánh kiến mà ta thấy mọi hiện trạng thay đổi một cách quá bất ngờ. Thấy thế để không chạy theo; thấy thế để không nắm bắt. Như vậy chính chánh kiến là bước quan trọng vô cùng trong thiền quán

Kế đến, là sự liên hệ giữa thiền và con đường cao quý thứ nhì là chánh tư duy. Thiền quán mà thiếu “chánh tư duy,” tức là thiếu sự suy nghĩ đúng với sự thật thì tư tưôũng sẽ bị chi phối bôũi những tham muốn của cảm giác, của ác tâm và bất nhẫn. Không có sự suy nghĩ đúng đắn thì chắc chắn tâm ta sẽ bị vướng mắc, sẽ chạy theo trần cảnh, cuối cùng ta sẽ bị kẹt mãi trong vòng luân hồi sanh tử. Với chánh tư duy, tâm ta sẽ không bị tham, sân, si khống chế và thiêu đốt; mà ngược lại, với chánh tư duy, tâm từ sẽ là tâm ta, nó sẽ là một cái tâm cực kỳ cần thiết cho công cuộc thiền quán của ta. 

Thứ ba là sự liên hệ giữa thiền và chánh ngữ. Nói là thiền mà nói năng bất nhất, nói năng vọng động...thì không bao giờ trí huệ phát triển. Thiền mà thiếu chánh ngữ thì sự liên hệ của ta và những người quanh ta sẽ trôũ nên phức tạp và tệ hại hơn. Lời nói chân thật ôũ đây là chẳng những chân thật với người, mà còn phải tự chân thật với mình. Nếu mình không chân thật được với mình thì sự chân thật với người, nếu có, chỉ là giả tạm. Như vậy, muốn hành thiền cho có kết quả, xin đừng chôn dấu bất cứ sự thật, sự giả gì trong lòng ta. Người tu thiền, thấy sao nói vậy; nghĩ sao nói vậy; chứ không bao giờ đổi trắng làm đen. Có được chánh ngữ thì bước tu thiền của ta mới thật sự là có kết quả, vì thử hỏi làm sao mà tâm nầy thanh tịnh khi lời ăn tiếng nói hãy còn vọng động ? 

Thứ tư là sự liên hệ giữa thiền và chánh nghiệp. Thiền mà không có chánh nghiệp, nghĩa là không có một lối sống chân chánh thì bảo làm sao tâm nầy chân chánh cho được ? Bảo là tu thiền mà ngày ngày hãy còn cố tình ăn thịt chúng sanh thì tu cái gì chứ đâu phải tu thiền. Có thể là tu cho thành ma thành quỷ cũng không chừng. Ở đây không nói đến những chúng sanh nào chưa đủ cơ duyên ăn chay. Nếu chưa đủ duyên ăn chay, xin cứ tiếp tục ăn mặn, nhưng xin đừng cố ý giết chúng sanh để mà ăn thịt. Tỉ như hôm nay phải đi tìm gà dai, vịt dai mà nấu cháo thì ăn mới đã; cái đó là một sự cố ý. Phật đã dạy rằng tất cả chúng sanh đều bình đẳng. Nếu bình đẳng thì ai có quyền ăn thịt ai ? Ngoài ra, tu thiềntiếp tục tạo ra ác nghiệp như trộm cắp, tà dâm, và sát sanh thì tu để làm gì cho vô ích. Tu thiền mà vẫn làm cho người khác đau khổ thì ví bằng đừng tu, mà nghiệp còn nhẹ hơn là tu. 

Thứ năm là sự liên hệ giữa thiền và chánh mạng. Thiền mà lại sống bằng nghề mua gian bán lận; đong thiếu, cân thiếu; và làm tổn hại đến người khác thì dù có tu vạn kiếp cũng không bao giờ định đâu. Người Phật tử tu thiền nên luôn nhớ lời Phật dạy: sống với chánh mạng; sinh sống bằng cách lương thiện; mưu sinh mà không làm tổn hại đến ai, hoặc giả không bốc lột ai. Có được như vậy thì tâm ta mới định tĩnh và trí huệ mới phát triển. 

Thứ sáu là sự liên hệ giữa thiền và chánh tinh tấn. Tu Thiền mà thiếu chánh tinh tấn, nay trì mai nghỉ; không có sự cố gắng thì sẽ chẳng đi đến đâu, chẳng làm được gì. Tinh tấn chính là cội rễ của mọi thành công. Muốn hiểu mà không đọc; muốn tu cho đắc quả mà không hành trì thì làm gì có lẽ ấy ! phàm phu muốn có tiền cũng phải làm việc, huống hồ người tu muốn có tâm an lạc mà không tinh tấn tu trì thì làm sao được ? Tâm an lạc không tự nhiên mà có; không phải là bổn tánh từ thuôũ sơ sanh; mà ngược lại phải kinh qua một tiến trình tinh tấn tu tập. Chỉ có sự tinh tấn mới môũ rộng được đường thiền để đưa ta vào giác ngộgiải thoát

Thứ bảy là sự liên hệ giữ thiền và chánh niệm. Đây là sự liên hệ tối cần thiết, tại vì nếu như khôngchánh niệm là không có thiền. Nói thiền mà tâm ta ôm đồm hết niệm nầy đến niệm khác thì đâu phải là thiền, mà có thể là những suy nghĩ mông lung, vơ vẩn. Trong thiền, khi đi ta biết ta đi; khi ăn ta biết ta ăn. Có người nói như vậy thì dễ quá. Ờ thì dễ, nhưng hãy tự hỏi thật lòng mình xem coi mình đã từng làm được như vậy một cách trọn vẹn chưa ? Nếu chưa được thì xin hãy bắt đầu lại từ đầu, đừng do dự, đừng sợ sệt. Hãy can đảm lên. Hãy tập lấy những cái thật đơn giản như vậy. Hãy làm người quan sát những diễn tiến của các hiện trạng; quan sát chứ không phê phán. Tập cho tới khi lúc nào ta cũng có chánh niệm thì chừng đó không cầu định, tâm ta vẫn định như thường. 

Thứ tám là sự liên hệ giữa thiền và chánh định. Một khi bảy con đường trên đã có sự liên hệ tốt đẹp với thiền thì bất chiến tự nhiên thành, sự liên hệ giữa thiền và chánh định sẽ đương nhiên là tốt đẹp thôi. Chánh định là sự tập trung tâm ý. Muốn được chánh định thì ta phải trải qua một thời gian dài công phu, chứ không một sớm một chiều mà có được. Xin đừng nản chí, nản lòng. Hãy cố gắng định từng giây, từng phút, từng giờ, từng ngày, từng tháng, từng năm... Cứ liên tục như vậy hết năm nầy qua năm khác và cho đến ngày ta rủ bỏ thân tứ đại nầy mới thôi. 

Xin đừng cầu mong nơi ai, mà hãy gắn ánh mắt mình vào từng bước chân ta đi. Hãy thực hành rốt ráo những lời vàng ngọc của Đức Từ Phụ; tự mình thực hànhthiền quán là trực tiếp kinh nghiệm chứ không phải là tưôũng tượng mà được. 


51. THIỀN VÀ SỰ CHÚ Ý ĐƠN GIẢN 

Đừng bao giờ lầm tưôũng thiền với một cái gì khúc mắc, phức tạp và khó hiểu; mà luôn nhớ rằng thiền chỉ là sự chú ý đơn giản nhứt trong các sự chú ý. Chân như của vạn vật thế nào thì thiền nhìn như thế đó, chứ không hơn, không kém, không bớt, không thêm... Người tu thiền nên luôn nhớ như vậy để kinh nghiệm cho chính xác chân như của vạn vật. Cái quan trọng nhứt để ta có thể đưa tâm ta về thực tại, sống tỉnh thức, và thực chứng chân tâm là ôũ chỗ nầy: là cái chú ý vô cùng đơn giản nầy. Hãy nhìn sự vật đúng y như là sự hiện thực của sự vật. Cái nhà là cái nhà; không đẹp, không xấu, không thấp, không cao, không rộng, không hẹp, không lớn, không nhỏ. Nó là cái nhà, không phê phán, không so sánh, không để thành kiến của mình lên trên sự nhận biết, cũng như không can dự vào bất cứ mặt nào của sự vật. Cái nhìn đơn giản hay như thị còn có nghĩa là sự nhận xét vô tư không phán đoán

Sự chú ý đơn giản sẽ giúp cho ta chỉ thấy và biết những hiện trạng ôũ hiện tại; chỉ sống trong giây phút hiện tại, chứ không thả hồn về quá khứ hoặc tương lai. Ta sống hoàn toàn cho những giây phút nầy. Tâm phàm phu thường hay bám víu vào những vui, mà xua đuổi những buồn; bám víu vào những đẹp, mà xua đuổi những xấu; bám víu vào những giàu, mà xua đuổi những nghèo... Nếu nói tu thiền mà không biết dùng cái nhìn đơn giản, như thị thì không cách gì tâm ta được định. Vì sao ? Vì như vậy tâm vốn dĩ đã dong ruổi trôũ nên dong ruổi hơn.

Hãy lắng lòng tìm về tự nơi mình; hãy nghe những gì đang xãy ra trong thân ta, trong tâm ta, và trong thế giới quanh ta. Với tâm tĩnh lặng ta sẽ nghe thấy một cách như thật những gì đang diễn tiến quanh ta. Ta sẽ nghe những âm thanh nhỏ thật nhỏ, dù có khác biệt, ta vẫn nghe. Cả thế giới quanh ta như lần hồi khôi phục với sự tĩnh lặng của ta. Chính nhờ ôũ sự tĩnh lặng nầy mà tâm ta cũng bớt dong ruổi và trôũ nên tĩnh lặng hơn nữa. Tuy nhiên, muốn được sự chú ý đơn giản và cái nhìn như thị nầy thì ta phải cố gắng công phu qua thiền tập để có thứ nhất sự chú ý chỉ vào một sự vật, và thứ nhì chỉ nên biết những gì đang xãy ra mà thôi. 

Nên nhớ rằng trí tuệ đạt được không là một cái gì đặc biệt hoặc cao siêu. Nó chính là sự biết buông bỏ những u mê; biết buông bỏ những gì có sanh có diệt để tìm về với chân như thường trụ. Nếu ta biết buông bỏ, ta sẽ đạt được sự chú ý đơn giản và cái nhìn như thị và do đó công cuộc tu tập của ta sẽ là một hiện thực, chứ không còn là chuyện mơ hồ nữa. 


52. THIỀN VÀ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM 

Mục đích tối thượng của người tu thiền là gì ? Có phải là giác ngộgiải thoát rốt ráo không ? Vâng, đúng vậy, mục đích của người tu thiềngiác ngộgiải thoát một cách rốt ráo. Nếu với mục đích tối thượng ấy thì người tu thiềnliên hệ gì với tứ vô lượng tâm

Trước tiênTừ Vô Lượng Tâm. Từ vô lượng tâm là gì? Từ vô lượng tâm không phải là cái lòng thương yêu quyến luyến của phàm phu, mà là một tình yêu phát xuất từ lòng đại từ, mẩn chúng; muốn chúng sanh xa gần đều được an lạchạnh phúc. Người tu thiền mà không có lòng Từ thì sẽ chẳng những không có lòng thương xót chúng sanh, mà còn vướng mắc cái ích kỷ, bỏn xẻn, nhỏ nhen nữa là khác. 

Kế tiếp là Bi Vô Lượng Tâm là cái lòng thương xót mọi loài đang bị đau khổ. Vì lòng thương xót ấy mà người tu thiền nguyện sẽ không sát hại một chúng sanh nào. Vì cái lòng thương xót nầy mà người tu thiền xem tất cả những sinh vật nhỏ bé khác như những người anh em lạc loài. Nếu không giúp được thì thôi, chứ không đành lòng giết chúng để ăn thịt. Người tu thiền mà có được cái bi vô lượng tâm nầy thì lúc nào cũng muốn làm vơi đi những nỗi đau khổ phiền não của người khác. 

Vô lượng tâm thứ ba là Hỷ Vô Lượng Tâm. Hỷ có nghĩa là vui mừng với mình và với người. Thói thường, thấy người giàu cóhạnh phúc, ta như ganh tị; thấy người vui, ta như xốn xan. Tuy nhiên, với Hỷ vô lượng tâm, thấy người an lạc là ta an lạc; thấy người hạnh phúc là ta hạnh phúc. Một cái tâm như vậy thì việc sáng tỏa trí huệ chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. 

Vô Lượng Tâm cuối cùngXả vô lượng tâm. Người với xả vô lượng tâm thì không còn bị những thăng trầm chi phối nữa. Đối với họ, những thăng trầm và buồn vui của cuộc đời chỉ là gió thoảng mây bay mà thôi, không có quan hệ gì. Người tu thiền mà thiếu Xả Vô Lượng Tâm thì không bao giờ buông bỏ được cái gì cả. Mua vốn một, bán ra năm, sáu. Trong trương mục có chín ngàn thì ráng tìm thêm một ngàn nữa cho chẳn chục, chứ đời nào chịu ngồi yên. Cứ như thế mà hết ngày dài rồi lại đêm thâu; họ đi từ nơi nầy đến nơi khác để gom góp. Một mình gom góp không vừa lòng, bèn rủ cha, mẹ, vợ con, bà con dòng họ cùng đi gom góp. Cái tâm như vậy đó mà biểu định thì định làm sao cho vô ! Cái tâm như vậy đó mà biểu phát trí huệ thì làm sao mà phát !

Tóm lại, người Phật tử hành thiền nên luôn nhớ bốn cái vô lượng tâm không thể thiếu một. Có thể vì mới tu nên một trong những vô lượng tâm chưa được phát triển đầy đủ, chứ không thể nào không có; vì nếu như thiếu mất một trong bốn vô lượng tâm thì nào có khác chi chiếc ghế bốn chân mà mất một, còn lại ba; đâu có được sự thăng bằng. Sự giác ngộgiải thoát cũng thế; nếu thiếu mất đi một Vô Lượng Tâm trong Thiền quán thì cuộc tu tập sẽ trôũ nên chẳng những vô bổ, mà còn lãng phí đi thì giờ nữa. 


53. THIỀN TRONG ĐỜI SỐNG 

Thiền đến với con người như mùa xuân đến với vạn vật cỏ cây. Xuân đến đem niềm hoan lạc cho thế gian, mùa xuân trăm hoa đua nôũ; tất cả vạn vật như tràn đầy nhựa sống. Tuy nhiên, hễ nói xuân là còn có hạ, thu và đông. Ngày xuân xanh qua đi thì ngày già chóng tới, chứ đâu có cái gì vĩnh hằng. Chỉ có thiền, một khi đã đến là vĩnh viễn. Thiền là một mùa xuân bất tận trong đời sống của con người. Với thiền, dù ngoại cảnh diễn ra như thế nào, chúng cũng không làm xáo động dòng suy tưôũng của ta. Với thiền, thành hay bại không là đáp số của ta, giàu hay nghèo, đẹp hay xấu, giỏi hay dôũ cũng không là đáp số.

Với thiền, con người thanh thoát lạ thường. Gió thổi qua cành trúc; gió qua rồi, trúc không màng giữ tiếng gió. Nhạn bay qua hồ; nhạn qua rồi, hồ không buồn giữ ảnh nhạn. Với thiền, con người dù trẻ dù già, đều lấy lại được vẻ hồn nhiên của tâm hồn; con người sẽ hòa nhập vào cỏ cây, vạn vậtthiên nhiên. Với thiền, con người sẽ có một cuộc sống bình dị, tri túc và vô cầu. Với thiền, con người không tham ái, sân hận, si mê. Với thiền, con người không tức tưôũi, không giận hờn vì điên đảo. Với thiền, con người không hoang mang giao động, mà trái lại con người sẽ có một sự thanh tịnhtự tại một cách lạ thường. Hãy suy ngẫm bài kệThiền Sư Vạn Hạnh đã để lại cho muôn thuôũ trước khi Ngài đi vào cõi tịnh tịch : 

 Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
 Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
 Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
 Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Ngài Vạn Hạnh đã từng giờ, từng ngày sống với thiền và tâm Ngài lúc nào cũng an trú trong chánh niệm đến độ trước khi diệt tịch mà Ngài còn thốt ra một bài kệ bất hủ, một bài kệ mà khi đọc qua ta thấy ngay sự an nhiên tự tại của một bậc giải thoát ôũ cấp thượng thừa

 Thân như bóng chớp chiều tà
 Vào xuân cây cỏ xanh tươi
 Thu qua là đã rụng rời tả tơi
 Sợ gì những thịnh những suy
 Thịnh suy ấy chỉ sương mai cỏ đầu.

Trước khi đi vào cõi tịnh tịch, Ngài đã khuyên nhủ chúng ta hãy nhìn cuộc đời một cách tự nhiên. Cái gì đến hẳn có đi; cái gì nôũ hẳn có tàn; cái gì thịnh hẳn có suy... Đừng sợ, chúng chỉ là những hạt sương mai trên đầu cỏ, thế thôi !

Với thiền, tình yêu, vạn vật, thật, giả, đẹp, xấu, chân, hư... chỉ là một. Với thiền, đâu đâu cũng là niềm vui, mỗi hơi thôũ cho sự sống là một niềm vui. Với thiền, khái niệm về Niết Bàn xa xôi lắm, chỉ có cuộc sống đơn giản bình thường, vô ưu, vô não mới là hiện thực. Với thiền, không có tâm trạng hốt hoảng, không có sự thác loạn tâm hồn, cũng không có cái gì là thê lương ảm đạm cả. Với thiền, lúc nào cuộc đời cũng hồn nhiênthanh thản. Với thiền, từng bước chân đi là từng đóa sen nôũ; nó chẳng những an lạc cho ta, mà còn cho người nữa. Ấy là những bước chân thanh thoát của an lạcgiải thoát.

Với thiền, tất cả những áp lực của cuộc sống sẽ bị đẩy lùi, mà chỉ còn lại ta và nụ cười an nhiên tự tại. Thiền không đưa ta vào một cõi nào xa xăm, mà thiền kéo ta về ngay chỗ nầy, nơi có khóm trúc, bụi tre; nơi có ao sen, ao sún; nơi có những con đường mòn tuyệt đẹp, những con đê bờ ruộng thẳng tấp... Thiền kéo ta về tỉnh thức để thấy rằng cuộc sống là tuyệt đẹp; để thấy rằng cõi Ta Bà nầy nếu biết sống tu, nào có thua chi cõi Tây Phương Cực Lạc ? Với những Phật tử tại gia hành thiền sẽ cảm thấy rằng con không là nợ, vợ không là oan gia; mà họ sẽ là những người bạn đồng tu tuyệt vời. Họ chính là những người trợ lực tạo cho ta những giây phút thanh tịnh, chứ không còn là những khó chịu, giận hờn nữa. Với thiền, phiền nãolo âu sẽ không còn đất sống vì chúng ta sẽ rũ bỏ chúng một cách dửng dưng. Với thiền, chúng ta sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng ao Bảy Báu của cõi Tịnh Độ ngay trong đời nầy.

Từng bước nhàn du quanh ao Bảy Báu có gì hơn được từng bước thiền du ôũ cõi Ta Bà đâu ? Người hành thiền một cách rốt ráo sẽ đoan chắc rằng chính mình đang thanh tịnh hóa cõi Ta Bà. Đến khi thật sự bước chân vào cõi Tịnh Độ ta biết rằng ta không làm ô nhiễm cõi nước ấy. Với thiền, ta sẽ có những bước đi thật an lạc. Người hành thiền chân chánh, không chờ, không đợi, cũng không cầu về đâu cả. Với thiền, từng giây, từng phút ta sống với tỉnh lặng là từng giây, từng phút ta đang trụ trong cõi Niết Bàn. Niết Bàn của người tu thiền là đây, là cái tịnh tịch tuyệt diệu của chỗ nầy, chứ không phải đợi đến chừng nào cả. Có ai đã từng bao giờ chứng minh được chỗ kia, chỗ của Niết Bàn xa xôi đó bao giờ chưa ? Nếu chưa thì tôi quyết không bàn tới đâu, mà chỉ bàn tới cái Niết Bàn nho nhỏ của tôi trong đời nầy kiếp nầy.

Mỗi sáng thức dậy, mà miệng tôi mỉm được nụ cười và mong rằng ai cũng có nụ cười như tôi, là tôi có được một cái Niết Bàn nho nhỏ của buổi sáng. Đến khi đi súc miệng, rửa mặt, đánh răng, rồi tắm một cái vào buổi sáng, nghe con người nhẹ nhàng thanh thoát thì cũng mong cho ai cũng nhẹ nhàng thanh thoát như mình, ấy là cái Niết Bàn thứ hai. Đến giờ ăn sáng, ăn trong tỉnh thức, tôi cũng mong rằng thế gian nầy ai cũng tỉnh thức và có đầy đủ những món để thọ dụng như mình, ấy là cái Niết Bàn thứ ba. Thay đồ đi làm, nhìn thấy mình lành lặn, quần áo tươm tất, lại phát nguyện cho ai nấy đều cũng như mình, ấy là cái Niết Bàn thứ tư.

Khi lái xe đi làm, lái xe trong tỉnh thức để không có bất cứ trục trặc hay tai nạn gì xãy ra và mong cho ai cũng tỉnh thức, lái xe an toàn trên xa lộ, ấy là cái Niết Bàn thứ năm. Trong sôũ làm, đem hết khả năng của mình mà giúp mình, giúp người, ấy là cái Niết Bàn thứ ba bốn trăm gì đó... Chiều lại tan sôũ, lái xe về nhà, bước vô nhà nhìn vợ con cười một cái, vợ con cũng nhìn mình mà cười lại một cái, thế là trong ngày tôi đã có đến năm sáu trăm cái Niết Bàn vậy. Cứ thế mà hết ngày nầy qua năm khác, tôi còn mơ chi đến cái Niết Bàn xa xôi nào nữa ? 

Tóm lại, nếu ta thực sự có thiền trong đời sống thì ngày ngày là những Niết Bàn, tháng năm là những Niết Bàn, và cuộc sống ta là tập hợp của những Niết Bàn miên viễn. Niết Bàn hay không, an lạc hay không là hoàn toàn tùy thuộc ôũ chính ta, hãy tự mình chọn lấy, đừng chờ, đừng đợi... Chúng ta sẽ không bao giờ có đủ thời giờ nữa đâu để mà chờ với đợi. 


54. BÀI THIỀN KHÔNG TÊN

 Rừng thông im lặng tiếng
 Gió xuân không rào rạt
 Sương xuân không mờ mịch
 Hoàng hôn phủ nơi nơi
 Một mình ngồi tĩnh tọa
 Giữa rừng núi làng Vey
 Trong chiến tranh ngây ngút
 Một mình ta với ta
 Từng cánh sao rơi rụng
 Giữa đêm trường hoang vắng
 Ta vẫn là ta thôi
 Miệng mỉm cười an nhiên
 Cho ta và cho người
 Ta và vũ trụ là ai ? 
 Ta và thời gian là ai ? 
 Vũ trụ nào hay biết
 Thời gian nào hay biết
 Đêm trường đoản mặc đêm
 Bình minh đà ló dạng
 Ta vẫn tĩnh mặc ngồi 
 Tiếng ì ầm còn đấy !
 Ta vẫn tĩnh mặc ngồi
 An nhiêntự tại
 Vũ trụ đã là ta
 Thời gian đã là ta
 Tất cả không quan hệ
 Chỉ có ta với ta
 An trú trong tĩnh mặc
 Không đếm thời gian qua
 Ta nào biết còn ta ? 
 An trú trong tĩnh mặc
 Vũ trụ đã là ta
 Có nào ai hay biết ? 
 Ôi thiền định tuyệt vời !
 Ta cũng không biết ta
 Không còn ai biết ta
 Ôi thiền định tuyệt vời

55. THIỀN VÀ TÂM 

Tâm là cái gì ? Tâm ôũ đâu ? Tâm hình dạng ra sao ? Tâm ôũ trong ta hay ôũ ngoài ta... ? Nói tới tâm là nói tới cái gì vô cùng trừu tượng; tâm không hình, không dáng, không lớn, không nhỏ. Tâm ôũ trong ta hay ôũ ngoài ta, chỉ có Phật mới hiểu nỗi. Tuy nhiên, có một điều, hễ nghe nói tới tâm thì ai trong chúng ta cũng đều nghĩ ngay tới sự tạo tác của nó. Tâm có thể đưa ta đến Cực Lạc, thì chính tâm cũng có thể tạo đau khổphiền não cho ta. Tại sao lại như vậy ? Tại sao tâm từ cũng là ta, mà tâm tà cũng lại là ta ? Trong chúng ta, ai cũng phải thừa nhận rằng đã rất nhiều lần, chính mình đã không làm chủ lấy tâm mình; đã rất nhiều lần ta giao trứng cho ác vì ta chấp rằng cái tâm ấy chính là ta; hoặc giả ta quá tự tin nơi con người không có thật của ta... 

Trong thiền, không có cái gì thật, chỉ là mượn tạm, khi qua được bờ liền bỏ. Thiền là trôũ về với chân tâm để nhận ra rõ ràng mặt mũi thật của ta từ vô thỉ. Thiền là dù biết rằng thân nầy, tâm nầy không phải là của ta, ta vẫn phải mượn nó mà tu. Một khi đã gọi là mượn rồi thì người tu thiền cũng quyết giữ cho đàng hoàng, tựa như là của chính mình vậy. Nếu ta biết dùng những của tạm bợ nầy mà tu thì chuyện được rốt ráo hẳn là ắt có thôi. Hãy nhìn Đức Từ Phụ đấy thì rõ. Ngài đã biết dùng cái thân tứ đại nầy mà hành trình về cõi vô sanh

Như vậy nhiệm vụ chính của thiền là coi chừng, là canh giữ những món đồ mượn; coi chừngcanh giữ sao cho những món đồ nầy chỉ có lợi cho ta, chứ không đem lại bất cứ một sự di hại nào, dù nhỏ. Ấy là sự canh giữ rốt ráo. Nhiệm vụ chính của thiền là giữ cho tâm ta lúc nào cũng có chánh niệm, cũng tỉnh thức, và cũng trụ ngay trong cái hiện tại nầy. Nếu thiền mà đạt được như vậy thì ta còn muốn gì hơn nữa ? Nếu thiền mà thanh lọc tâm được như vậy thì lúc đó ta sẽ đi con đường mà ta muốn đi. Nói cách khác, ta có được cái trí huệ thật sự. Tất cả những gì mà ta có được trên cõi đời nầy đều là tạm bợ, chúng đến rồi đi. Chúng chưa bao giờ tạo ra chân hạnh phúc cho ta. Chỉ có trí huệ chân thật mới tồn tại mà thôi. Chính cái trí huệ nầy nó đã môũ cái huệ nhãn của ta để cho ta thấy tất cả những hiện tượngvô thường, không có gì tồn tại. Đời sống con người rất ngắn ngủi so với đời sống của một hành tinh; và tương tự, đời sống của một hành tinh rất là ngắn ngủi so với đời sống của một vì sao, hoặc của một dãy ngân hà... Thấy rõ được như vậy để tự mình chọn lấy lối đi cho mình. Thiên đàng, địa ngục, Niết Bàn, giải thoát... 

Thật tình mà nói, ngay cả những thứ vừa nói trên cũng là huyễn ảo, không phải là cứu cánh của người tu thiền. Người tu thiền chân chánh là người biết sống cho mình và cho người. Muốn sống được cho mình và cho người không phải là chuyện dễ. Ngoài chuyện tinh tấn hành thiền, người tu thiền còn phải giữ giới, ít nhất là phải trì cho được ngũ giới. Chính Đức Phật đã dạy rằng khi không có Ngài trụ thế thì chúng sanh đời sau nầy phải lấy giới luật làm thầy. Như vậy đủ cho ta thấy giới luật nó quan trọng đến bực nào. Giới còn là phương tiện giúp ta có đủ sức mạnh để tập trung vào thiền định.

Ta làm sao chế ngự được tham, sân, si, dâm dục, ngã mạn, cống cao... nếu chúng ta không giữ giới ? Một thí dụ rõ nét là nếu miệng nói không sát sanh thì phải giữ cho đúng từ đầu đến chân là không sát sanh. Đành rằng khó, nhưng có người làm được, mình làm được. Đừng đổ thừa tại tôi thiếu căn nên không ăn chay được. Không có căn cơ chi cả, chỉ tự ta mà thôi. Hoặc giả vì nghèo mà phải sanh tâm trộm cắp. Trên đời nầy không thiếu chi người nghèo mà thanh bần lạc đạo. Như vậy, không có tại với bị chi cả. Tất cả đều do cái tâm nầy mà ra; tâm từ thì về cõi trời, mà tâm tà thì đi về địa ngục, thế thôi. 

Người tu thiền luôn nhớ rằng tất cả những gì ta đang có, đang thấy, đang nghe, đang chạm, đang mơ tưôũng... chỉ là của mượn. Chính vì vậy mà ta không bận bịu, bám víu vào những của mượn ấy, mà chỉ nhờ chúng để qua bờ. Qua bờ xong là một niệm cũng không còn. 


56. LÚC THIỀN CÓ NÊN PHÂN BIẾT NIỆM ĐỂ MÀ THEO HAY KHÔNG THEO?

Thiền là sự tỉnh thức tuyệt đối, là thực nghiệm tự thân để trôũ về với chính mình. Người biết hành thiền sẽ an nhiên tự tại vô cùng. Niệm khôũi, cứ cho khởi; niệm đến, cứ cho đến; niệm đi, cứ để nó đi. Như vậy lúc thiền ta không nên khởi tâm phân biệt vọng hay không vọng. Một khi khôũi tâm phân biệt vọng hay không vọng thì vô hình chung, chúng ta đã mặc nhiên cho phép tâm chúng ta dong ruổi một trời rồi. Còn phí thời gian để xem coi vọng hay không vọng là tâm còn phân biệt, còn động; khoan hẳn nói đến thiền. 

Tự mình đi tìm hiểu coi cái nào vọng để không theo là chính tự tâm mình còn chấp trước, còn dính mắc, còn cả một trời phân biệt thì thử hỏi làm sao mà định cho được ? Hãy lắng nghe theo lời ân cần dạy dỗ của các Tổ: Trong lúc thiền, chỉ có thiền; còn thì gặp ma cũng phớt lờ; gặp tổ cũng phớt lờ; chí đến gặp Phật cũng phớt lờ nốt. Bấy nhiêu đó đủ cho thấy ta có nên chạy theo bất cứ thứ gì hay không rồi ! Vậy thì đừng chạy theo, đừng phân biệt, cũng đừng đuổi chi cho phí thêm thì giờ vốn dĩ đã không có của ta rồi.

Như trên đã nói, chúng ta vốn dĩ đã không có thì giờ, thế mà có người còn đòi chận niệm, phân coi cái nào xài được cái nào không. Cái nào không xài được thì phải hoặc trị hoặc diệt cho hết để đi đến định và được giải thoát. Theo các nhà khoa học, tính sơ sơ mỗi ngày có đến sáu mươi chín ngàn (69.000) niệm đến và đi trong ta. Nếu chúng ta chận hết chúng lại để xem coi cái nào vọng để mà trị và diệt thì ít nhất chúng ta phải mất hơn một tháng rưỡi mới lo xong cái công việc chận sáu mươi chín ngàn niệm của một ngày nầy. Thôi xin hãy đừng làm cái việc dã tràng se cát bể Đông nầy nữa. Nói thì nói vậy chứ cho dù chúng ta có muốn làm, chúng ta cũng không kham nỗi đâu. 

Tệ hại hơn nữa, có những người hành thiền không đúng phương cách mà lại muốn đi xa hơn nữa, xa hơn cả việc chận, trị, và diệt những vọng niệm. Họ chủ trương nên tìm đến cội nguồn của vọng để biết thực chất của nó là gì ? Nó từ đâu khởi ? Tại sao khởi ? Và làm thế nào cho vọng đừng khôũi... Quả là khó hơn mò kim đáy biển, hoặc nấu cát mà muốn cho thành cơm... Nội cái chuyện chận sáu mươi chín ngàn niệm đã phải mất hơn tháng rưỡi rồi; còn phải mất ít nhất một ngày cho từng niệm nếu chúng ta muốn trở về nguồn cội để biết thực chất của vọng; coi nó từ đâu tới; tại sao khởi; và làm sao cho vọng niệm ấy đừng khôũi... Như vậy, với sáu mươi chín ngàn niệm, chúng ta phải mất đến gần hai trăm năm. Ô hô ! Hai trăm năm chỉ để lo chận, trị, tìm hiểu, và diệt những vọng niệm của chỉ một ngày ! Còn thì giờ đâu nữa mà thiền với định ? Quả là chuyện không tưởng !

Phân biệt vọng, tìm hiểu vọng, trị vọng, diệt vọng... đã là những chuyện không tưởng, hoàn toàn không tưởng rồi; thế mà có người còn tính chuyện “bế tắt dòng suy nghĩ,” làm sao được đây ? Ai có khả năng làm được chuyện nầy ? Sẽ không có một ai có khả năng làm được chuyện nầy đâu ! Vọng niệm chúng như những cánh nhạn bay; chúng là chim trời, là cá nước. Có ai đã từng chận và bắt được hết chim trời cá nước chưa ? Xin thưa, chắc hẳn là chưa và sẽ không bao giờ có ai có thể làm được chuyện nầy. Chuyện “bế tắt dòng suy nghĩ” không khác chi là chuyện đắp đập ngang qua biển Thái Bình Dương vậy, không làm được đâu ! Vậy thì xin đừng bao giờ mơ tưởng đến chuyện “bế tắt dòng suy nghĩ” chi cho thì giờ luống qua vô ích. Chúng ta không có bao nhiêu thì giờ đâu.

Bấy nhiêu đó cũng đủ cho chúng ta thấy chúng ta có nên phân biệt vọng hay không vọng để mà theo hay không theo trong lúc thiền rồi. Vậy thì xin hãy đừng nói, đừng rằng, đừng theo hay không theo, đừng đuổi hay không đuổi, đừng phân biệt vọng hay không vọng trong lúc hành thiền. Xin hãy giữ cho tâm ta như mặt hồ thu không gợn sóng; nhạn có bay qua hồ, mặc nhạn; hồ không lưu bóng nhạn và nhạn cũng không có cách gì lưu được bóng lại hồ. Hồ thu lúc nào cũng vẫn tĩnh lặng, ấy là thiền. 

NHỮNG BÀI KỆ HAY TRONG NHÀ THIỀN

1. Thân thị Bồ Đề thọ 
Tâm như minh kính đài
Thời thời thường phất thức
Vật xử nhạ trần ai.

Thân thiệt Bồ Đề thọ
Lòng như minh cảnh đài
Hằng hằng lau phủi sạch
Chớ để vướng bụi bặm.

Tuy bài kệ của Ngài Thần Tú hãy còn hữu tướng, mà theo Phật thì phàm sôũ hữu tướng giai thị hư vọng, nhưng nếu người đời y theo những lời nầy mà tu trì thì khỏi phải sa vào tam đồ ác đạo

2. Bồ Đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai.

Bồ Đề vốn không cội 
Gương sáng cũng không đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính trần ai.

Qua bài kệ nầy, Lục Tổ Huệ Năng đã chứng tỏ được sự thấu triệt tánh không của Ngài. Không cây, không đài; xưa nay không một vật, lấy chỗ nào mà vướng bụi ? Đối với Ngài, gạo đã trắng từ lâu, chỉ còn chờ sàng nữa là xong. Tuy nhiên, đời nay có mấy ai được cái phong thái của Huệ Năng ? Đã không được mà lại học đòi thì thật là vô cùng nguy hiểm. Hôũ ra là vô niệm; hôũ ra là không phân biệt; hôũ ra là đòi đi thẳng Niết Bàn, hoặc giả học đòi không thiện, không ác. Làm sao không thiện không ác khi mà ngày ngày còn ăn thịt chúng sanh ? Làm sao mà không thiện không ác khi mà ngày ngày vẫn còn sân si ? Làm sao mà không thiện không ác khi mà dâm dục vẫn có thừa ? Làm sao mà không thiện không ác khi tham lam bỏn xẻn vẫn còn đầy ? Thôi hãy trả cho xong nợ cũ; đừng vay thêm nợ mới nữa, rồi hẳn tính chuyện không thiện không ác. Hãy cố mà học theo Ngài Thần Tú trước cái đã, rồi hãy chạy theo Huệ Năng

3. Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Thân như bóng chớp có rồi không
Xuân về hoa nôũ, thu khô héo
Mặc tình suy thịnh nào lo sợ
Thịnh suy như sương mai đầu cỏ. 

Thân như ánh điện chớp, có rồi lại không. Cây cối, mùa xuân tươi tốt, thu khô héo. Nhậm vận cho dù có thịnh, có suy cũng không hề sợ. Thịnh suy chỉ như những hạt sương mai trên đầu cỏ mà thôi.

Thiền sư Vạn Hạnh đã xuất khẩu cảm tác bài kệ nầy ngay trước phút giây Ngài nhập diệt. Tâm hồn của Ngài an lạcthanh tịnh đến độ thượng thừa. Ngài đã chẳng những vô cùng thản nhiên giữa cái sống và cái chết, mà tất cả những pháp trên đời nầy đối với Ngài là không. Ngài đã an nhiên tự tạibuông xả đến độ không còn gì có thể lay chuyển được nữa. Chúng ta nên noi lấy cái gương nầy mà tu cho thành đạo quả vậy !

4. Bất thức tự gia bảo
Tùy tha nhận ngoại trân
Nhật trung đào ảnh chất
Cảnh lý thất đầu nhơn. 

Báu nhà mình chẳng biết
Lại theo người nhận ngoại trân
Giữa trưa chạy trốn bóng 
Kẻ soi gương mất đầu.

Thiền sư Thạch Cựu đã ngán ngẫm cái cảnh thiên hạ cứ mãi chạy theo những cái bóng ngoại trần mà quên bẳng mất bản thân. Cứ nay thì hỏi hạt châu trong tay Thế Tôn; mai lại hỏi hạt châu trong tay Ngài Địa Tạng; mốt lại đi hỏi xem coi Ngài Bồ Tát nào đang có châu báu để xin theo hầu. Ngài Thạch Cựu đã vạch cho chúng ta thấy hạt châu ngay chính trong chéo áo của ta; đừng mãi dong ruổi ôũ những nơi xa xăm để cầu tìm. Hạt châu ấy theo ta như bóng theo hình, cho dù ta có lăn lộn trong tam đồ ác đạo, nó vẫn ôũ bên ta. Xin hãy nhớ cho rõ lời dạy dổ của Ngài Thạch Cựu để không bị lâm vào tình cảnh của anh chàng Diễn Nhã, xem gương thấy cả bóng lẫn đầu, nhưng khi xếp gương lại thì lại hô hoán lên là mình mất đầu. Chúng ta cũng chính là cái anh chàng Diễn Nhã ấy. Thường thì ta hay chạy theo vọng niệm, chợt sinh, chợt diệt... Để rồi cuối cùng ta không còn biết gì đến ta nữa.

5. Ngô hữu nhất Tôn Phật
Thế gian giai bất thức
Bất tố diệc bất trang
Bất điêu diệc bất khắc
Vô bất khối nê thổ
Vô nhất điểm thái sắc
Công họa họa bất thành
Tặc thâu thâu bất khứ
Thể tướng bản tự nhiên
Thanh tịnh thường hạo khiết
Tuy nhiên thị nhất Tôn
Phân thân thiên bách ức. 

Ta có một Đức Phật
Người đời không ai biết
Không đúc cũng không trang
Không điêu cũng chẳng khắc
Không cần đến đất bùn
Cũng chả cần màu sắc
Thợ vẽ, vẽ không ra 
Giặc cướp lấy không được
Thể tướng vốn tự nhiên
Thường trắng trong thanh tịnh
Tuy chỉ có một tôn
Hóa thân ngàn muôn ức. 

Chẳng những đời nay người ta lấy đất bùn để nắn nót thành những pho tượng, mà đời xưa, vào thời của Ngài Bố Đại Hòa Thượng, người ta chỉ ngày ngày sụp lạy hết tượng gỗ, đến tượng đất, rồi đến tượng đồng. Ngài Đại Bố đã đánh cho mỗi người trong chúng ta một cái tát tay nẩy lửa mà rằng: Trong chúng ta có ai cần lấy gỗ làm tượng, hoặc giả tô màu trét phấn, hoặc giả cố vẽ thành hình một Đức Phật. Để chi ? Để tự mình vẽ bùa cho mình đeo. Hãy lắng nghe những lời chỉ dạy của Ngài Bố Đại để ngày ngày quay về sống với chính ông Phật trong ta. 

6. Pháp bổn như vô pháp
Phi hữu diệc phi vô
Nhược nhân tri thử pháp
Chúng sanh dữ Phật đồng
Tịch tịnh Lăng Già Nguyệt
Không không độ hải chu
Tri không, không giác hữu
Tam muội nhậm thông châu.

Pháp vốn là pháp không 
Chẳng có cũng chẳng không
Nếu người biết pháp ấy
Chúng sanh cùng Phật đồng
Trăng Lăng Già vắng lặng
Thuyền Bát Nhã rỗng không
Biết không, không thực hữu
Chánh định mặc thong dong

Các pháp xưa nay vốn sanh diệt biến đổi liên tục, khi hiện hữu khi vắng mặt theo duyên giả hợp. Do vậy, bản chất các pháp là không thực có, chúng có một cách tạm bợ mà thôi, chúng không hạn cuộc trong lý giải có hoặc không (phi hữu diệc phi vô). Ai ngộ được pháp không nầy thì cùng chư Phật nắm tay, vì người đó đã nhận ra được tự thể của các pháp là không, là không có thực, nên không còn vướng mắc gì nữa. Người đó an vui tự tại giữa cuộc đời có không giả tạm nầy.

Thiền sư Huệ Sinh của Việt Nam, vào đời nhà Lý, đã khẳng định rằng Bản Lai Chân Diện Mục của mình phải được chính mình nhận ra thì chừng đó có pháp, không pháp cũng chẳng quan hệ gì; chừng đó trăng Lăng Già vắng lặng; thuyền Bát Nhã rỗng không. Chừng đó mọi cuộc luân hồi sanh tử đà chấm dứt; chừng đó ta sẽ hằng sống trong niềm hạnh phúc vĩnh cữu. Cái hạnh phúc vĩnh cữu nầy không ôũ một nơi xa xăm nào đó, mà là ôũ ngay trong cái thân tứ đại vô thường nầy. Hãy lắng lòng mà suy nghiệm xem !

7. Khi còn niên thiếu, ta thấy cái gì cũng xinh, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng cao quý, cái gì cũng lý tưôũng. Tại sao vậy ? Tại vì lúc ấy ta chưa thấu triệt được lẽ huyền diệu của cuộc đời. Tầm nhìn của ta hãy còn mê mờ và hạn hẹp. Ta hoàn toàn bị thu hút và chi phối bôũi những biến chuyển thăng trầm của thế sự. Hễ ngày xuân đến, hoa nôũ với cảnh sắc tưng bừng thì lòng ta cũng xôn xao, rộn rịp và ngây ngất với hương xuân. Tuy nhiên, khi ta đã thấy được cảnh sắc huy hoàng thật sự của điện Đôn Hoàng thì lòng ta chửng chạc chứ không còn bị lôi kéo bôũi mọi thinh sắc đã từng lôi kéo ta trước đây. Nhưng làm sao để khám phá được điện Đôn Hoàng ? Theo Thiền sư Trần Nhân Tôn, con đường duy nhất là hãy lắng lòng mà trôũ về với Bản Lai Chân Diện Mục. Chừng đó mắt ta sẽ sáng ra, tai ta sẽ nghe ngay cả những thinh âm vi tế. Chừng đó lòng ta sẽ an nhiên tự tại. Ta hãy suy ngẫm về bài kệ Đôn Hoàng Điện sau đây của vua Trần Nhân Tôn

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung
Như kim khám phá Đôn Hoàng Điện
Thiền bản Bồ Đoàn khán trụy hồng. 

Niên thiếu chưa tường lẽ có không
Ngày xuân hoa nôũ rộn tơ lòng
Chúa Xuân nay đã thành quen biết
Thiền tọa an nhiên ngắm trụy hồng. 

8. Thiền sư Thiện Chiêu ở Phần Dương bên Tàu đã thấy sự lợi ích không thể nghĩ bàn của pháp môn tọa thiền nên Ngài đã ứng khẩu làm thành bài kệ khuyên mọi người, chứ không riêng vì tăng chúng, nên thiền tập. Vì thiền tập sẽ giúp cho thân chúng ta được điều hòa và khỏe mạnh. Khi nghe uể oải trong người như sắp bị cảmngồi thiền độ một hoặc hai tiếng đồng hồ là cảm cúm tự tránh xa. Tại sao ? Tại vì lúc ngồi thiền ta ít tiêu thụ năng lượng, do đó mà đa phần năng lượng sẽ biến thành nhiệt lượng giữ cho cơ thể luôn ấm áp. Ngoài ra, tọa thiền còn giúp tâm ta bớt viển ly, điên đảo, và mộng tưởng. Hãy quán xét bài kệ sau đây của Ngài Thiện Chiêu

Bế hộ sơ dung tẩu
Vi tăng nhạo tọa thiền
Nhất tâm vô tạp niệm
Vạn hạnh tự thông huyền
Nguyệt ấn thu giang tĩnh
Đăng minh thảo xá tiên
Kỷ nhân năng đáo thử
Đáo thử kỷ năng chơn. 
Đóng cửa lại sẽ thấy (cửa ôũ đây là cửa tâm)
Sự thích thú của tọa thiền càng tăng
Nhất tâm không tạp niệm
Muôn hạnh tự thông huyền
Trăng in dòng thu lặng
Đèn sáng khắp nhà cỏ 
Mấy người hay đến đó
Đến đó mấy kẻ thành. 

9. Đức Từ Phụ đã từng dạy cho tứ chúng về lẽ “Không” trong kinh Kim Cang. Lý chơn của tính không ôũ đây nói lên sự huyễn giả của chư pháp: thị chư pháp không tướng. Hiểu được như vậy, ta sẽ không còn mê mờ, chấp trước nữa; mà ngược lại, chúng ta sẽ hoàn toàn buông xả. Đức Thế Tôn đã dạy chúng ta nên luôn quán sát như thế để thấy rằng những cái có hình tướng đều là mộng, là huyễn, là giả, là không thật. Hãy nghiền ngẫm lời dạy của Đức Từ Phụ trong kinh Kim Cang

Nhứt thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán. 

Tất cả các pháp hữu vi
Như mộng, như huyễn, như giả
Như sương, cũng như điện
Nên luôn khôũi quán như vậy.

10. Thiền sư Cảnh Sơn bên Tàu đã ngộ đạt đến tuyệt đỉnh của Phật lý nên dưới mắt Ngài, cái gì cũng là không. Ngược lại với kẻ mê thì cái gì cũng là có. Ngộ cái không tức là nhận biết được lẽ đạo, lẽ chơn không; từ đó mà hiển bày diệu hữu. Cũng từ đó mà giữa không và có không còn biên giới hạn hẹp của phàm phu nữa. Hãy suy ngẫm bài kệ của Ngài :

Chư pháp tùng bản lai
Thường tự tịch diệt tánh
Xuân đáo bách hoa khai
Hoàng oanh đề liễu thượng.

Các pháp từ xưa nay
Tướng thường tự tịch diệt
Xuân đến trăm hoa nôũ
Cành liễu hoàng oanh hót. 

11. Một vị thiền sư thời Nam Tống bên Tàu đã lấy một bài thơ Đường mà giúp cho người đời luôn tìm thấy mùa xuân qua thiền. Với Ngài, thiền là cả một nghệ thuật sống tuyệt vời; thiền là nghệ thuật kềm chế vọng tưởngảo giác của con người; thiền là bình tĩnh trước cuộc đời , dù rằng ngoại cảnh có diễn ra trước trạng thái nào cũng không làm xáo động dòng suy tưôũng của ta. Thành hay bại, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, quyền uy hay không quyền uy, giỏi hay dở, xuân đến hay xuân tàn... không còn là chuyện bâng khuâng thương tiếc với ta nữa. Với thiền, gió thổi qua cành trúc, gió qua rồi, trúc không buồn giữ chi tiếng gió. Với thiền, nhạn bay qua đầm, nhạn qua rồi, đầm cũng không buồn lưu chi ảnh nhạn. Quả thiền vị thật tuyệt vậy. Hãy suy ngẫm bài Đường thi sau đây : 

Phong suy sơ trúc
Phong quá nhi trúc bất lưu thanh
Nhạn độ hàn đàm
Nhạn khứ nhi đàm bất lưu ảnh. 

Gió thổi qua trúc thưa
Gió qua rồi, trúc không buồn giữ tiếng gió
Nhạn bay qua đầm lạnh
Nhạn đi rồi, đầm không buồn giữ ảnh nhạn. 

12. Cách nay gần cả ngàn năm, thiền sư Mãn Giác đã nhìn sự vận hành của thời gian chả là cái gì cả nếu ta thấu triệt đạo lý Phật Đà. Với Ngài, Xuân, Hạ, Thu, Đông là những bước chân dịu dàng, nhưng nghiệt ngã; chính chúng mang đến hơi ấm, làn gió mát, sự tươi tỉnh của vạn vật, nhưng cũng chính chúng đã nghiền nát tất cả những thành hoại của trần gian. Với Ngài, tất cả các pháp trên thế gian nầy đều bị chi phối bởi vô thường. Có xuân nào còn hoài, có hạ nào ôũ mãi, có thu nào không tàn, có đông nào không qua. Vạn phápvô thường như vậy đó. Khi mùa xuân đến, trăm hoa đua nở, không có cái gì có thể cưỡng lại được. Khi mùa Xuân đi, trăm hoa đều tàn, cũng không có gì có thể cưỡng lại được. Tuy nhiên, với Ngài Mãn Giác, vẫn còn một cái gì đó vững vàng mặc cho giông bão của thời gian. Cái đó dù chỉ mong manh như cành mai sân trước, nó vẫn trường tồn. Nó là cái ? Xin mời quý bạn hãy cùng thiền sư Mãn Giác đi tìm nó : 

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa nôũ
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già lại đến
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một cành mai.

Ngài Mãn Giác chẳng những nói đêm qua, mà Ngài còn ngụ ý cả đêm nay, đêm mai và mãi mãi, cành mai ấy sẽ không và sẽ không bao giờ rơi rụng với thời gian. Với Ngài, trong cái đêm tối mờ mịch ấy, Niết Bàn vẫn hiển lộ. Trong vô lượng kiếp lăn trôi trong luân hồi sanh tử ấy, ta vẫn còn có một cành mai, cành mai của giác ngộgiải thoát

13. Thiền sư Trần Thái Tôn đã nhìn thấy đời, rồi nhìn thấy đạo. Ngài đã thấy rõ con người thật của chính mình sau những năm tháng thăng trầm vương nghiệp. Cũng chính vì khối thịt đỏ nầy mà từ bấy lâu nay ta lăn trôi trong luân hồi sanh tử; cũng chính vì nó mà ta đã quay cuồng trong vô số khổ đau. Ngài đã chẳng những vạch ra cho chính Ngài, mà Ngài còn vạch ra cho mọi người thấy rõ cái “Tôi” mà chúng ta thường ôm ấp bấy lâu nay là sai lầm; nó chỉ làm khổ chúng ta thôi. Chính con người thật của ta đang đứng sừng sửng, cao vòi vọi như trái núi đang lẫn khuất sau bức mây mờ của vô minh. Chúng ta hãy theo Ngài Trần Thái Tôn đi vén bức màn vô minh ấy để thấy cho được con người thật của chính ta.

Vô vị chân nhân xích nhục đoàn
Hồng hồng bạch bạch mạc tương man
Thùy tri vận quyện trường không tỉnh
Thúy lộ thiên biên nhất vạn sơn. 

Có vị gì đâu khối thịt đỏ au ?
Hồng hồng, trắng trắng khéo lừa nhau
Ai hay mây cuốn, trời quang tạnh
Hiện rõ bên trời dáng núi cao !

14. Thiền sư Ngộ Ấn, trước khi tịch diệt, Ngài đã để lại cho chúng ta một bài kệ bất hủ về sự chiến thắng chính mình. Phật đã dạy rằng chiến thắng vạn quân không bằng tự chiến thắng mình. Đó là chiến công oanh liệt nhứt. Tự chiến thắng mình là tự biến mình thành một khối kim cương lạ lùng và mầu nhiệm. Có còn cái gì có thể hủy hoại được nó đâu ? Mà ngược lại chính khối kim cương ấy sẽ phá tan biên giới ta và phi ta, để liễu ngộ đạo lý tử sanh. Chính khối kim cương ấy sẽ giúp ta an trú trong chánh niệm, chứ không còn trú trong cái ta sanh diệt nữa. Và cũng chính khối kim cương ấy sẽ giúp ta tự tạigiải thoát. Ngài Ngộ Ấn đã dạy rằng có gì đâu mà không chiến thắng được những cái tạm bợ. Giữ chi, ôm chi, thương chi, chấp chi cái thân tứ đại đầy sinh, lão, bệnh, tử nầy ? Một thân xác gầy còm, tạm bợ và đầy dẫy sinh tử, lăn trôi trong vũ trụ trông thật là tội nghiệp. Với Ngài Ngộ Ấn, nơi nương tựa trường cữu là quay về với cái tâm sâu thẳm của chính mình. Đó mới chính là sào huyệt của tự tạibình an. Chỉ có nơi đó ta mới tìm thấy được hạnh phúc trọn vẹnvĩnh cữu mà thôi.

Diệu tính hư vô bất khả phàn
Hư vô tâm ngộ đắc hà nan
Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
Liên phát lô trung thấp vị càn. 

Tính không huyền diệu vô vàn
Tâm không, liễu ngộ nghĩ bàn được đâu ? 
Núi cao ngọc cháy đượm màu
Trong lò sen thắm cho dầu lửa thiêu.

15. Thiền sư Trần Nhân Tôn đã thấy rằng những nhận thức sai lầm của ta chỉ làm cho ta ngày càng xa cách con người thật của chính ta, hoặc giả chỉ làm cho ta ngày càng xa lìa cái Phật tánh trường tồn bất biến từ vô thỉ. Làm sao để khám phá ra được sự thật đang đứng sừng sừng trước mắt ta đây ? Khi khám phá ra được cái sự thật ấy thì tự nhiên nẻo về cũng không còn xa nữa. Chúng ta hãy cùng thiền sư Trần Nhân Tôn khám phá sự thật ấy. 

Nhứt thiết pháp bất sinh
Nhứt thiết pháp bất diệt
Nhược năng như thị giải
Chư Phật thường hiện tiền

Bây giờ ta đã thấy rõ sự thật ấy ở đâu rồi, vậy xin hãy nối gót Trần Tiên Sinh mà lần về cõi Phật

16. Tâm tùy vạn cảnh chuyển, 
Chuyển xứ thật năng u. 
Tùy lưu nhận đắc tánh, 
Vô hỷ diệc vô ưu.

Tâm theo muôn cảnh chuyển, 
Chỗ chuyển thật kín sâu.
Theo dòng nhận được tánh, 
Không mừng cũng không lo.
Tổ Ma-Noa-La, Tổ Thiền Tông thứ 22 

17. Thiền sư Minh Hành vào đời Trần đã nhìn thấy ánh chân như tỏa rộng vô cùng mầu nhiệm của Phật pháp. Tất cả các pháp đều vô thường sanh diệt; chỉ có chân tâmthường hằng, là vĩnh cữu. Ông đã để lại một bài kệ trước phút nhập diệt:

Minh chân như tính hải
Kim tường Phổ Chiếu Thông
Chí Đạo thành chánh quả
Giác ngộ chứng chân không

Thấy chân như bể rộng
Ánh vàng chiếu muôn phương
Đạt đạo thành chánh quả
Giác ngộ chứng chân không

18. Vào thời vua Lê Dụ Tông, Minh Lương thiền sư đã đốn ngộ được thiền sư Chân Nguyên bằng bài kệ sau đây : 

Mỹ ngọc tàng ngoan thạch
Liên hoa xuất ư nê
Tu tri sanh tử xứ
Ngộ thị tức Bồ Đề

Ngọc xinh trong đá lỏi
Hoa sen mọc nơi bùn
Tu rõ đường sanh tử
Ngộ đích thị Bồ Đề

Ngọc xinh trong đá, như sen ẩn trong bùn. Tu là biết đường sanh tử. Khi ngộ tức Bồ Đề. Trong đá vẫn có ngọc, trong bùn sen vẫn vươn lên. Trong phàm phu vẫn có Phật. Hai nẻo ấy không rời nhau, mà kỳ thật chúng song hành như những người bạn đồng hành. Trong chúng sanh có Phật; cũng như trong sanh tử ta thấy thấp thoáng bóng dáng của Bồ Đề. Chỉ có điều là ta có biết tu, biết thiền hay không thôi. Nếu ta biết tu, biết thiền, tức là ta đã nhận chân ra đâu là sanh tử, đâu là Bồ Đề ? Sanh tửBồ Đề chỉ khác nhau giữa mê và ngộ, đơn giản như vậy thôi.

19. Thi hào Lý Bạch là một thi nhân nỗi tiếng thời thịnh Đường. Ông cũng đã nhìn thấy thân phận khách lữ hành của một con người. Thấy và biết như vậy, nhưng không làm sao để vượt thoát ra được cái vòng lẩn quẩn ấy. Không biết về sau nầy Lý Bạch có tìm ra chân lý cho lẽ sống của ông hay không ? Nhưng qua bài thơ nói về kiếp con người của ông, chúng ta thấy Lý tiên sinh đã đi được hai phần đường tu rồi. Chúng ta hãy cùng Lý tiên sanh đi vào kiếp người

Sanh vi quá khách
Tử vi quy nhân
Thiên địa nhất nghịch lữ
Đồng vi vạn cổ trần. 

Sống làm khách qua đường
Chết về lại cố hương
Trời đất là quán trọ
Cùng hạt bụi ngàn năm. 

Ôi thương thay cho Lý Bạch, cùng thương thân phận hạt bụi ngàn năm của ông. Với Lý tiên sinh, thân phận con người chỉ là những hạt bụi lăn trôi từ vô thỉ. Với Lý Bạch, kiếp nhân sinhhạt bụi nào có khác chi đâu ?

Cả hai vốn cùng cội nguồn, cùng bản thể. Nhưng ngừng lại ôũ chỗ thân phận con người chỉ là những hạt bụi lăn trôi thì tội nghiệp quá. Không lẽ để cho hạt bụi ấy cứ mãi lăn trôi ? Chúng ta phải tìm cho được cái đích thực giá trị của lẽ sống. Phải tìm cho được bản chất thật sự của hạt bụi ấy để quay trôũ về với cội nguồn của sự thật. Chúng ta là những đứa con Phật, quyết không để lâm vào cái tình cảnh nửa chừng lăn trôi của Lý tiên sinh, mà chúng ta quyết quay ngay vào chính ta để vạch ra hướng đi cho chính mình. Sự an lạc hay đau khổ là ôũ tại nơi ta. Chúng ta sẽ không để cho một mắc xích nào buộc trói chúng ta; mà chúng ta phải tự mình vượt thoát. Dĩ nhiên cuộc vạn lý vượt thoát nầy không phải là dễ, nhưng không vì vậychúng ta cứ mãi sống hư hư ảo ảo; mộng không ra mộng, thực không ra thực. Sống mà như ỘTúy sanh mộng tửỢ : Sống say chết mộng. Đừng để đời người mãi đắm chìm trong mê lộ tử sinh đằng đẳng. Sống mà cứ mãi ôm lấy những cái có, những cái không, những cái vui, buồn, thương, ghét, tốt, xấu, sinh, lão, bệnh, tử mãi như thế nầy ư ? 

20. Thiền sư Nam Nhạc đời Đường, trước khi tịch diệtbài kệ căn dặn đệ tử

Nhất thiết chư pháp giai tùng tâm sanh
Tâm vô sôũ sanh, pháp vô sôũ trụ. 
Nhược đạt tâm địa sôũ trụ vô ngại
Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa.

Tất cả các pháp đều do tâm mà ra
Tâm không có chỗ sanh thì pháp cũng không có chỗ trụ.
Nếu đạt được tâm địa chỗ trụ không ngại
Chẳng gặp bậc thượng căn cẩn trọng chớ vọng truyền. 

Thiền sư Nam Nhạc đã thấu triệthuyền diệu đến nỗi Ngài đã không còn phân biệt thiền hay không thiền. Tuy nhiên, kẻ hậu bối chúng ta phải vô cùng cẩn trọng, vì nếu chẳng phải là bậc thượng căn mà truyền dạy và hứa khả Phật pháp một cách bừa bãi. Gặp ai cũng nói pháp thượng thừa, khiến kẻ ngã mạn tiểu căn chấp ngã, hiểu lầm lý Phật, hành xử ngược lại thánh ý. Đã không đem lại lợi ích mà còn làm cho những hạng người ấy sa vào chấp không, tạo nghiệp vô ký, càng ngày càng xa mất bổn tâm của chính mình, làm sao tu hành đúng chánh pháp được? Còn với Ngài Nam Nhạc, hễ tâm không thì mặt trời trí huệ sẽ tự sáng chiếu. Mà thật vậy, cho đến bây giờ những gì Ngài đã dạy vẫn còn là những chân lý không ai có thể chối cãi được. Tâm mà không sanh, pháp sẽ không có chỗ trụ, thật ư là đơn giản. Hãy lắng lòng chiêm nghiệmhành trì câu nầy thôi cũng đã là quá đủ cho cuộc tu hành rồi.

21. Thiền sư Minh Hương đã nhắc lại kiếp con người như huyễn. Nó không có điểm bắt đầu, mà cũng không có điểm chấm dứt. Tất cả đều là huyễn giả, chớ nào ai có xứ sôũ chi đâu, chỉ là những lầm chấp mê dại của con người. Thấy có, tưởng có; nào dè ấy lại là không. Cái xứ sở thật của chúng ta là ở ngay cái Bản Lai Chân Diện Mục, mà chỉ có ta mới có thể tìm ra được. Tuy nhiên, đến khi tìm ra được cái chơn tông ấy rồi thì ta mới thấy rằng chính nó cũng là huyễn. Thấy như thế để biết rằng huyễn hay hữu gì thì cũng là không không. Thấy như thế để ta không ôm chặt vào một cái gì ở cái cõi nước tạm bợ nầy. Chúng ta hãy thiền du cùng Đại sư Minh Hương để tự tìm về quê hương xứ sở vạn kiếp :

Bản lai vô xứ sở
Xứ sở thị chơn tông
Chơn tông như thị huyễn
Huyễn hữu tức không không

Xưa nay không xứ sở
Xứ sở là chơn tông
Chơn tông như thế huyễn
Huyễn có là không không

22. Thiền sư Nhất Nguyên đã ê chề cho thế sự cõi Ta Bà. Cõi nước tự nó lắm sanh nhiều phiền toái. Nói cũng không được, mà không nói cũng không xong. Người thì bảo đẹp, kẻ lại bảo xấu. Người thì cho đúng, kẻ lại nói rằng sai. Người thì cho hay, kẻ lại bảo dôũ. Ôi Ta Bà ơi ! Ta phải làm sao đây ? Thiền sư Nhất Nguyên đã thử đưa ra một nét. Nói là đưa ra một nét, kỳ thật đây là một tiếng sét. Mà sau tiếng sét ấy, vầng hồng ló dạng. Ánh hồng rực rỡ chiếu muôn phương. Ngài đã làm cho Ta Bà cảnh tỉnh. Ta Bà là như thế đó, nói cái gì bây giờ ? Nói làm sao bây giờ ? Cứ nhìn vầng hồng đi, nếu thấy đẹp, thích nhìn thì cứ nhìn, thấy xấu, chẳng thích thì thôi đừng nhìn.

Tôi thấy thế, tôi bảo thế. Ai thích thì nghe, ai không thích thì thôi. Tùy căn cơ hạnh nguyện mà sống, mà tu. Đừng ai bắt ép ai, cũng đừng ai chỉ trích ai chi cho thêm rối loạn cõi Ta Bà. Có ai dám bảo tên giặc cướp khét tiếng không thành Phật khi dám móc trái tim mình trao cho Huyền Trang mang về cõi Phật. Còn có ai dám cả quyết rằng một vị sư trọn kiếp tu hành tinh chuyên chắc chắn sẽ thành đạo quả Vô ThượngTương tự, người ăn chay đừng tự cho mình là trong sạch; kẻ ăn mặn cũng chớ nên lầm tưởng rằng ta đây đã phá bỏ được bức tường chấp trước, mà khinh thường chay lạc chỉ là hàng ấu trỉ sơ cơ. Hãy ngẫm nghĩ lại mà coi, tu hành ôũ chỗ nào mà ngày ngày vẫn ăn thịt chúng sanh ? Làm sao tu được quả Vô Thượng Bồ Đề khi tự mình lại ngày ngày đi hảm hại những người anh em lạc loài nhỏ bé. Hãy phản quang tự kỷ để thấy rằng ai trong chúng ta cũng hãy còn phàm phu lắm. Thấy để mà tu; thấy để mà tinh tiến hành trì hơn. Chúng ta hãy thử cùng Đại sư Nhất Nguyên suy ngẫm lại chính chúng ta xem : 

Hữu thuyết giai thành báng,
Vô ngôn diệc bất thông, 
Vị quân, thống nhất tuyến, 
Lãnh đông, nhật xuất hồng. 

Nói ra cũng bị kẹt, 
Mà không nói cũng chẳng xong, 
Vì bạn mà tôi đưa một nét
Đầu núi, ánh dương hồng. 

Kỳ thật thiền sư Nhất Nguyên chỉ nhắc lại những lời Phật dạy trước khi Phật nhập diệt: Ta đã không nói gì suốt bốn mươi chín năm trường; chẳng qua là môi ta mấp máy; và cũng chỉ chẳng qua là miệng ta động chứ ta có nói gì đâu ! Với Phật, im lặngim lặng trong chánh pháp, nói năng là nói năng trong chánh pháp. Khi lời nói và sự im lặng của ta mà thanh tịnh, đúng như lời Thế Tôn đã dạy. Nghĩa là sự im lặng của ta đang ôũ trong chánh niệm và chánh định thì sự im lặng đó quý hóa vô cùng cho đường tu; bằng không thì nó là con ma ngũ uẩn, vô tri vô giác, hoặc giả là những đè nén của ý thức tạm thời. Cũng như vậy, nói năng mà hợp với chánh ngữ (chánh pháp) thì xuất ngôn; bằng không thì không nói vẫn hay hơn. Người thật tâm tu tập, kiểm soát thân tâm thì, trong tất cả các hành xử của ba nghiệp (thân, miệng, ý) lúc động (tạo tác) cũng như lúc tịnh (thiền định) không khi nào trái nghịch với đạo lý thanh tịnh, an lạcgiải thoát cho mình và cho tất cả chúng sanh được. 

Thấy như vậy, chúng ta hãy ráng mà vâng giữ những gì Phật dạy và hãy nghe theo Ngài Nhất Nguyên đi. Tất cả chỉ là phương tiện, nói hay không nói cũng chỉ là phương tiện. Đạo mà rốt ráo rồi thì cũng chẳng cần phải biện giải chi nữa; hoặc giả lúc ấy cũng chẳng có gì để nói cả. 

23. Trong kinh Kim Cang Phật đã dạy rằng: 

Bất ưng trụ sắc sanh tâm,
Bất ưng trụ thinh sanh tâm, 
Bất ưng trụ hương sanh tâm, 
Bất ưng trụ vị sanh tâm,
Bất ưng trụ xúc sanh tâm,
Bất ưng trụ pháp sanh tâm, 
Ưng vô sôũ trụ nhi sanh kỳ tâm. 

Không vì sắc mà sanh tâm; cũng không vì âm thanh, mùi vị, xúc tiếp, hoặc pháp mà sanh tâm. - cái chỗ không có sôũ trụ ấy mà sanh tâm. Phật đã dạy rõ ràng nếu chúng ta không dựa vào sáu trần mà sanh tâm thì ngộ được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đừng để đối cảnh sanh tâm để rồi phân biệt hay dôũ, đẹp xấu, giàu nghèo, sang hèn... Mà chỉ nên vin vào tánh thấy biết đang hiện hữu, ấy chính là chơn tâm của ta vậy. Tánh thấy, nghe, biết nầy không sanh diệt mà cũng vô phân biệt. Tánh nầy nhìn sự vật đúng như thật, không tác ý phân biệt, không tạo nghiệp và đón nhận khổ đau. Chỉ có sự kết hợp của căn, trần và thức là đưa ta vào mê lộ, là tạo ra vọng thức, tạo nghiệp, rồi thọ khổ luân hồi mà thôi. Xin hãy hành trì theo những lời Phật dạy đi rồi sẽ thấy !

24. Trong thời mạt pháp, có lắm kẻ tự xưng là thiền sư. Thiền nói ngoài miệng, chứ trong tâm nào ai có biết thiền hay không thiền. Miệng nói thiền, mà đối cảnh vẫn sanh tâm. Miệng nói thiền mà tâm vẫn lăng xăng lích xích. Miệng nói thiền mà tâm vẫn não não phiền phiền. Chính vì quan ngại cho sự trường tồn của giáo lý Phật Đà mà Ngài Trúc Lâm đã ứng khẩu thành bài kệ, vừa để dạy chúng đệ tử, mà cũng vừa để cảnh tỉnh đời : 

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

- trong cõi nước Ta Bà nầy xin hãy tùy duyên, chứ đừng cứng nhắc. Hễ thấy đói thì ăn, thấy mệt thì ngủ nghỉ. Trong nhà có của gia bảo, chớ nên tầm tìm ôũ đâu xa. Khi đối cảnh mà tâm không động ấy là thiền. Qua bài kệ trên, ta thấy thiền rất giản đơn; tuy nhiên, không dễ mấy ai đã thành tựu với cái giản đơn nầy. Thường thì chỉ là tự xưng mình đã đạt được cái giản đơn nầy bằng lòe, hoặc bằng cống cao ngã mạn mà thôi. Người Phật tử chân chánh nên luôn nhớ lời dặn dò của Ngài Trúc Lâm để mà tu cho tinh tiến hơn. 

25. Trong kinh Kim Cang Đức Từ Phụ đã khẳng định với chúng sanh rằng : 

Nhược dỉ sắc kiến ngã 
Dỉ âm thanh cầu ngã
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai.

Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Là người theo tà đạo
Không thể thấy Như Lai

Phật dạy rõ ràng nếu chạy theo sắc tướng, hoặc thanh âm mà cầu Phật, tức là chạy theo ngoại trần mà bỏ ông Phật ôũ trong ta. Người mà tu như vậy là tu theo tà đạo, chẳng bao giờ có thể diện kiến được Như Lai đâu. Hãy xoay lại với bản lai chân diện mục của mình tức thì thấy Phật. Tuy nhiên, nói như vậy chủ yếu cho ta đừng lầm chấp vọng ngoại, chớ không phải để ta chối bỏ tất cả. Chúng ta không nên lầm chấp mà coi thường những hình tượng Phật. Hãy nhơn lúc chiêm ngưỡng những hình tượng Phật mà ôn tầm lại những đức tánh của Ngài. 

Hãy xem việc tụng trì kinh điển như là vừa tự giáo dục mình, mà cũng vừa trói buộc không cho cái tâm viên ý mã nầy chạy theo trần cảnh. Xin hãy từng bước mà tiến tu, chớ đừng quá vội mà hỏng đi cả một đời.

26. Thiền sư Hoàn Hương trong một bài kệ cũng với đề tựa Hoàn Hương đã nhắc nhở cho chúng ta thấy quê cũ là ở ngay trong chính ta, chứ không từ ở đâu đâu. Lại càng không ở một nơi xa xôi khó tìm nào. Đừng hướng ngoại mà cầu tìm chi cho vô ích; hãy quay về với chính ta thì sẽ thấy. Đừng rời bất cứ cử chỉ hành động hằng ngày nào của ta, mà hãy trở về ngay với thực tại thì sẽ thấy trong mỗi chúng sanh đều sẳn có, chứ phương chi phải đi tìm ôũ Nam, Bắc, Đông, Tây ? Chúng ta hãy suy ngẫm về bài kệ Hoàn Hương của Thiền sư Hoàn Hương

Hoàn hương tịch tịch yểu vô tung, 
Bất quái chinh phàm thủy lục thông
Đạp đắc cố khai điền địa ẩn, 
Cánh vô Nam Bắc dữ Tây Đông. 

Về làng vắng vẻ cảnh mông lung, 
Thủy bộ không buồm thuyền vẫn chạy.
Dẫm đạp đất xưa nguồn an ổn
Lại không Nam Bắc với Tây Đông.

 27. Vạn lý vi thùy lai
Lai phục vi để sự ? 
Ngoa lý mô chi đầu 
Nguyên bất tại biệt xứ 
Nhược hướng ngoại biên tầm 
Tẩu tận thiên nhai lộ 
Lai lai khứ phục lai 
Thử pháp nguyên vô trụ 
Thí vấn Tào Khê Tăng 
Bồ Đề khả hữu thọ ? 
Nhược bất đắc nhất chi 
Uổng phí mại đơn bố. 

Vạn dậm đến là ai ?
Đến để vì việc gì ? 
Trong giầy mò mấy ngón 
Vốn không ở chỗ khác. 
Nếu tìm ở bên ngoài 
Chạy đến tận chân trời 
Cứ chạy đi chạy lại 
Pháp nầy vốn không trụ. 
Thử hỏi tăng Tào Khê 
Bồ Đề có cây chứ ? 
Nếu chẳng được một cành 
Uổng phí sắm hành lý
Hám Sơn Thiền Sư

28. Quán Thân 
Thị thân như thủy bào
Sạ hiện diệc bất cữu
Si nhi dĩ vi châu
Thủ chi bất doanh thử
Huống phục ư thủ trung
Đa tham vi tội tẩu
Duy tại trí nhãn quan
Tất cánhsở hữu.

Thân nầy như bọt nước
Chợt hiện cũng chẳng bền
Trẻ thơ cho là ngọc
Bắt lấy chẳng đầy tay
Huống là ở trong đó
Tham lam làm nguồn tội
Chi dùng mắt trí xem
Rốt cuộc làm gì có. 
Hám Sơn Thiền Sư 

29. Quán Tâm 
Thử tâm bổn vô hình
Thị chi bất khả kiến 
Khởi diệt liễu vô đoan
Tấn nhược không trung điện
Vọng tưôũng trục trần lao
Khát lộc bôn dương diệm
Kham ta kim cổ nhân
Đô áp lương vi tiện

Tâm này vốn không hình
Chỉ thì chẳng thể thấy
Khôũi diệt không đầu mối
Mau như chớp trong không
Vọng tưôũng theo trần lao
Nai khát đuổi sóng nắng
Đáng than người kim cổ
Đều ép lành làm tiện. 
Hám Sơn Thiền Sư 

30. Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời.

Thiền sư Nhất Hạnh đã nói rõ là trong thiền quán, thân tâm ta là một. Tâm tĩnh lặng cũng có nghĩa là thân tĩnh lặng. Miệng mỉm cườichứng tích của sự an lạc nơi thân và tâm. Bản chất của thiền tập là trôũ về an trú trong hiện tại để quán chiếu về những gì đang xãy ra trong giờ phút hiện tại. Hãy thực hành những gì Ngài đã chỉ dạy trong thiền quán hằng ngày để thấy rằng từng giờ, từng phút của ta là đẹp tuyệt vời.

31. Chư Phật và chúng sanh, chỉ là một tâm nầy, ngoài ra không có pháp nào khác. Nội tâm vô đoan; từ vô thỉ chưa từng sanh, chưa từng diệt; không có khởi đầu, cũng không có chấm dứt. Tâm nầy không hình tướng; không lớn, không nhỏ; không xanh, không vàng; không mới, không cũ; không đẹp, không xấu; không dài, không ngắn. Tâm nầy vượt qua tất cả giới hạn của văn tự, ngôn ngữ. Chính Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã khẳng định: 

Ngoại dứt chư duyên
Nội tâm vô đoan. 
Tâm như tường bích, 
Khả dĩ nhập đạo.

Ngoài dứt các duyên; 
Trong bặt nghĩ tưôũng. 
Tâm như tường đá, 
Mới vào được đạo.

Bài kệ của Sơ Tổ tuy đơn giảndễ hiểu; tuy nhiên, hành trì và hằng sống với bài kệ là một vấn đề không đơn giản. Như Sơ Tổ đã từng nói: biết bao nhiêu người tu tập, mà có mấy ai thấu đạt lý chơn. Vậy thì người con Phật, nhứt là những người còn tại gia, hãy cố gắng, nói, hiểu và hành trì phải đồng nhất. 

32. Ý về muôn vạn nẻo 
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dậy
Từng bước nôũ hoa sen

Cũng chính thiền sư Nhất Hạnh đã dạy ta cách điều hợp hơi thôũ sao cho từng bước chân ta an trú vững vàng trong chánh niệm. Từng bước chân ta dịu dàng, nhưng cũng đủ làm tươi mát lòng ta, lòng người. Từng bước chân ta là sen nôũ cho ta và cho người. Ôi cuộc sống thiền tuyệt diệu !

33. Đại Mai Pháp Thường thiền sư sau khi nghe Mã Tổ giải thích rằng Tức Tâm Tức Phật, liền đại ngộ. Ngài đã lui về trong rừng sâu núi thẳm mà qui ẩn. Về sau nầy, có người đến tìm, ông bèn dùng bài kệ đáp: 

 Tồi tàn khô mộchàn lâm
 Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm. 
 Tiều khách ngộ chi do bất cố, 
 Dĩnh nhân ná đắc khổ truy tầm
 Nhất trì hà diệp y vô tận
 Sổ thụ tùng hoa thực hữu dư !
 Cương bị thế nhân tri trụ xứ, 
 Hựu di mao xá nhập thâm cư.

 Cây khô nép lạnh rừng nầy, 
 Xuân qua mấy độ chẳng thay tấm lòng. 
 Khách tiều gặp chẳng buồn trông, 
 Hát hay kẻ ấy nhọc lòng tìm chi ? 
 Ao sen thừa áo huyền vi
 Hoa tùng lót dạ thiếu gì nữa đâu !
 Thế nhân tìm gặp hôm nào, 
 Am mây ta lại dời vào rừng sâu. 

Với Ngài Đại Mai, thời giankhông gian đâu còn có lý nghĩa gì. Ngài chỉ hiện thấy non hết xanh rồi lại vàng; hết vàng rồi lại xanh. Ngài cũng không còn thiết chi đến đưòng ra vào thảo am của Ngài nữa; Ngài chỉ biết rằng cứ theo đường nước mà đi thì sẽ đến. Còn sự an nhiên tự tại nào hơn thế nữa đâu ? Thật tình mà nói, nếu lúc ấy có ai hỏi Ngài tên gì ? Bao nhiêu niên tuế ? Chắc là Ngài cũng sẽ trả lời bình minh và hoàng hôn có gì quan hệ ? Hoặc giả rừng xanh lắm thứ hãy còn vô danh. Mã Tổ nghe nói, bèn cho thị giả lên hỏi Đại Mai rằng hồi gặp Mã Đại Sư, Mã Đại Sư đã nói gì mà khiến cho Ngài phải trụ sơn như vậy.

Nghe tới Mã Đại Sư, Đại Mai bèn trả lời rằng chính Mã Đại Sư đã nói với ta rằng: Tức Tâm Tức Phật nên ta mới trụ sơn cho đến nay. Thị giả của Mã Đại Sư bèn nói ngay rằng bấy lâu nay pháp tu của Mã Đại Sư có đổi khác. Đại Mai bèn hỏi thị giả là đổi khác thế nào ? Thị giả bèn nói rằng bây giờ thì Mã Đại Sư đang tu theo pháp Phi Tâm Phi Phật. Đại Mai bèn bảo thị giả trôũ về nói lại với Mã Tổ rằng Mã Lão sắp điên tới nơi rồi. Mã Lão cứ tự nhiên mà tu Phi Tâm Phi Phật đi; còn ta thì chỉ biết có Tức Tâm Tức Phật thôi. Thế mới biết cái ngộ nó giản dị, bình thường, nhưng không gì có thể lay chuyển được. Hãy noi theo gương của thiền sư Đại Maitu tập thì kết quả là sự hiển nhiên thôi. 

34. Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm. 

Thiền sư Hương Hải, dưới thời vua Lê Anh Tông, đã để lại bài kệ nầy trước khi Ngài nhập diệt. Phong thái của bài kệ thật là êm dịu, nhưng nghĩa lý của nó nào có kém chi tiếng sét của Huệ Năng. Từng chữ, từng câu; tuy ngắn mà thật là thâm thúy :

Nhạn bay trên không
Bóng chìm đáy nước
Nhạn không ý để dấu
Nước không tâm lưu bóng.

Nếu ta y cứ theo bài kệ nầy mà hành thiền thì không mấy chốc, cõi tịnh tịch sẽ là đây vậy !
35. Bổn tùng vô bổn
Tùng vô vi lai
Hoàn tùng vô vi khứ
Ngã bổn vô lai khứ
Tử sanh hà tằng lụy.

Vốn từ không gốc
Từ không mà đến
Lại từ không mà đi
Ta vốn không đến đi
Tử sanh làm gì lụy. 
Thiền Sư Lân Giác 

35. Tịch tịch kính vô ảnh
Minh minh châu bất dung
Đường đường vật phi vật
Liêu liêu không vật không. 

Lặng lẽ gương không bóng
Rỡ rỡ châu chẳng hình
Rõ ràng vật phi vật
Vắng vẻ không chẳng không. 
Thiền sư Nguyên Thiều

36. Thiền sư Thanh Hồng đã liễu ngộ được giác tánh và Ngài đã để lại một bài kệ về giác tánh trước khi Ngài nhập diệt. Ngài đã sống với cái tánh giác ấy cho đến khi Ngài nhập diệt. Ngài đã đi về cõi vô sanh cũng với cái tánh giác ấy. Với Ngài, không còn một vi tế vọng động. Với Ngài, vọng tưôũng đã lặng xuống tận đáy sâu và chỉ còn lại một tánh giác tròn đầy. Ngài đã vô cùng an nhiên tự tại trước khi nhập diệt. Ngài quả thực là cái gương mà những người tu thiền nên noi theo đó để hành trì. Ngài đã hoàn toàn làm chủ Ngài khi sống cũng như lúc diệt. Ngài đã dạy cho chúng ta nếu muốn thấy khi chết ta có được tự tại hay không thì hãy xem bây giờ ta có an nhiên tự tại hay không. Ngài đã hoàn toàn giải thoát với phiền não, đau khổ. Với Ngài, sanh với tử, không quan hệ gì !
Chúng ta hãy suy ngẫm bài kệ sau đây của Ngài : 

Chân không trạm tịch duy thường tại 
Bất giác lương điền vọng sở mông 
Chơn tánh hà tằng ly vọng hữu 
Hoa khai hoa lạc tự xuân phong. 
Chơn không lặng lẽ thường còn mãi 
Chẳng biết lương điền vọng che lồng 
Chơn tánh đâu từng lìa vọng có 
Hoa khai, hoa rụng tự gió xuân. 

37. Ngã hữu thần châu nhất lõa,
Cửu bị trần lao cơ tỏa,
Kim triêu trần tận, quang minh
Chiếu kiến sơn hà vạn đóa. 

Thần châu sẳn có nơi mình, 
Bấy lâu bụi lấp nên mờ mịch.
Sáng nay sạch bụi ngọc sáng ngời
Chiếu soi vạn khoảnh, thiên khu sơn hà. 

Bởi nhìn thấy cảnh lắm kẻ tu mà có mấy người thấy được hạt trân châu của chính mình nên Ngài Úc Sơn thiền sư đã nhẹ nhàng để lại bài kệ bên lề thiền đường, những mong hậu bối chúng ta hãy cố bình tâm mà suy xét cho tường tận trước khi chạy đong, chạy đáo đi tìm ngọc quý bên ngoài. Tuy nhiên, con đường khả dĩ có thể giúp ta tìm thấy hạt châu trong chéo áo là thiền. Thiền một chữ mà lắm kẻ lạc đường. Chỉ một chữ thiền mà không biết bao nhiêu bút mực đã được dùng. Chỉ một chữ thiền mà không biết là bao nhiêu người đã dong ruổi đi tìm, mà tìm cái gì cũng không biết. Chỉ một chữ thiền mà bao nhiêu người đã phải cuồng. Chỉ một chữ thiền mà lắm kẻ đã nghe theo lời tà vạy mà bỏ cả trì giới và chay lạc vì tin theo rằng còn chay lạc là còn chấp chặc; như ta đây không còn chấp chay, chấp mặn; cái gì ta cũng ăn, ăn một cách thong dong tự tại. - thì thong dong tự tại đấy, nhưng mà là thong dong tự tại đi vào địa ngục. Như vậy, Phật tử nên vô cùng cẩn trọng ! Hãy quay về với chính ta; hãy tìm lại trong chéo áo của chính ta cái hạt trân châu mà ta đã bỏ quên từ vô thỉ. 

38. Tức tâm nguyên thị Phật, 
Bất ngộ nhi tự khuất. 
Ngã tri định huệ nhân, 
Song tu ly chư vật. 

Tức tâm vốn là Phật, 
Chẳng tu quả là uổng, 
Ta biết nhân định huệ, 
Song tu lìa vạn pháp

Thiền sư Pháp Hải sau khi nghe Tổ Sư của Ngài giải thích rằng tức tâm tức Phật có nghĩa là niệm trước chẳng sanh, niệm sau chẳng diệt; lập tức các tướng tức tâm, lìa các tướng tức Phật. Tức tâm là huệ; tức Phật là định. Định huệ song trì thì nơi ý sẽ thanh tịnh ngay. Chính nhờ lời dạy của Tổ Sư mà Ngài Pháp Hải đã cảm tác ngay bài kệ Tức Tâm. Bài kệ nầy vừ chỉ cho ta cách giải thoát, mà cũng vừa khuyên ta nên tu; nếu không thì uổng lắm. 

39. Yểu yểu minh minh thanh tịnh đạo
Hôn hôn mặc mặc thái hư tung
Thể tánh trạm nhiên vô sôũ trụ
Sắc Tôn đô tịch nhứt chơn tông

Thầm thầm, lặng lặng đạo sáng trong
Mờ mờ vắng vắng tợ hư không
Thể tánh yên lặng không nơi trụ, 
Sắc tâm đều bặt một chơn tâm

Ngài Nguyên Thỉ đã nhắc lại cho ta nhớ rằng thể tánh của tâm nầy rộng lớn, vắng lặng, trong sạchsáng suốt vô cùng. Không một ngoại vật nào có thể chi phối được. Ngay cả chữ Phật cũng là vật ngoài, chứ đừng nói chi là trần lao, phiền não. Con đường duy nhất để về với cái tâm vắng lặng bao la nầy là phải thực nghiệm tự thân, chứ không có một ngoại lệ nào cả. Trường đời còn học nhẩy lớp; trường tu không và sẽ không bao giờ có chuyện đi ngang về tắc được. Phật tử nên cẩn trọng ! Không bao giờ có chuyện tức thì khai ngộ đâu ! 

40. Thế nhân ái trân bảo
Ta quí sát na tịnh. 
Kim đa loạn nhơn tâm, 
Tịnh kiến chơn như tánh. 

Người đời quí trân bảo
Ta quí sát na tịnh. 
Báu nhiều loạn lòng người, 
Tịnh nhiều thấy Phật tánh.

Ông Bàng Công đã thấy những sát na thanh tịnh nó còn trân quí hơn là ngọc ngà châu báu; hoặc giả tháp bảy báu cũng không sánh bằng những giây phút thanh tịnh. Tháp bảy báu còn sụp đổ với thời gian, chứ những giây phút thanh tịnh là những giây phút làm Phật, nó sẽ là vĩnh hằng.

Xin hồi hướng đến cửu huyền thất tổ và các bậc cha mẹ đã quá vãng được sớm tiêu diêu miền Cực Lạc. Con xin thành kính dâng lên hương hồn của Cha Mẹ, và con xin nhận lãnh những tội lỗicha mẹ đã vì con mà tạo nên. Con cũng cầu mong cho các bậc cha mẹ hiền tiền và toàn thể thân bằng quyến thuộc luôn được Hồng Ân Tam Bảo gia hộ cho Thân Tâm An Lạc, Trí Huệ Bồ Đề

Xin nguyện cầu cho Pháp Giới Chúng Sanh đồng thành Phật Đạo. 

NAM MÔ CÔNG ĐỨC PHÁP THÍ BỒ TÁT

Tạo bài viết
06/08/2017(Xem: 18587)
16/10/2012(Xem: 45711)
23/10/2011(Xem: 52442)
01/08/2011(Xem: 164588)
28/01/2011(Xem: 227894)
23/10/2010(Xem: 28892)
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.