Nhân Một Câu Văn Của Hòa Thượng Tinh Vân Huỳnh Ngọc Chiến

03/04/201212:00 SA(Xem: 6086)
Nhân Một Câu Văn Của Hòa Thượng Tinh Vân Huỳnh Ngọc Chiến

 Nhân một câu văn của Hòa thượng Tinh Vân
 Huỳnh Ngọc Chiến


Bài “Quan điểm của Phật giáo về vấn đề kinh tế” của Hòa thượng Tinh Vân (Phước Tâm dịch, Nguyệt san Giác Ngộ số 189, tháng 12-2011, trang 36), có một đoạn viết:

“Kinh tế là sự kết nối mạng mạch dân sinh, trước đây hành giả Phật giáo Nguyên thủy mặc dù không coi trọng kinh tế, xem nhẹ của cải, chỉ chú trọng đến tịnh tu, tìm cầu cuộc sống đạm bạc, giản dị, đề xướng tư tưởng thanh bần, cho rằng giản dị mới là tu hành, đạm bạc mới là hữu đạo; nhưng mà, nhìn từ góc độ kinh điển Phật giáo Đại thừa, ví dụ thế giới Cực lạc trong kinh A Di Đà, vàng bạc, châu báu lát trên mặt đất, cung điện lầu các đều làm từ thất bảo, vô cùng trang nghiêm đường hoàng, Bồ-tát không vị nào không đeo mũ miện quý báu, chuỗi ngọc khoác mình, phú quý không gì sánh bằng. Vì vậy, tu học pháp của Phật không nhất định phải lấy sự bần cùng khốn khổ làm thanh cao.”

Trong đoạn văn trên có hai điểm hầu như không ứng hợp với tinh thần Phật giáo chân chính, dễ dẫn đến sự hiểu biết sai lệch về giáo pháp Đại thừa. Đó là quan điểm về thế giới Cực lạc của Đức Phật A Di Đà và cách tu học pháp Phật hiện nay.

Thế giới Cực lạc
của Đức Phật A Di Đà

Có nên hiểu thế giới Cực lạc trong kinh A Di Đà qua hình tượng “vàng bạc, châu báu lát trên mặt đất, cung điện lầu các đều làm từ thất bảo, vô cùng trang nghiêm đường hoàng” theo nghĩa đen, một cách thô thiển và trần trụi như vậy chăng? Có nên hiểu hình ảnh chư vị Bồ-tát theo cách “không vị nào không đeo mũ miện quý báu, chuỗi ngọc khoác mình, phú quý không gì sánh bằng” như thế chăng? Nếu cứ hiểu theo nghĩa đen như thế thì cõi Cực lạc chẳng khác gì một đại siêu thị kim hoàn, và trang phục của các Bồ-tát quá đỗi lòe loẹt, hoa hòe!

Ta thử đọc một đoạn kinh văn tiêu biểu cùng diễn đạt chung ý tưởng này, trong kinh Hoa nghiêm:

“Lúc ấy Hưu Xả ưu-bà-di ngồi tòa chơn kim, đội mão hải tạng chơn châu võng, đeo bửu xuyến chơn kim hơn cõi trời, rũ tóc xanh biếc, đại ma ni bửu trang nghiêm trên đầu, sư tử khẩu ma ni bửu làm bông tai, như ý ma ni bửu làm chuỗi ngọc, bửu võng trùm trên thân. Trăm ngàn na-do-tha chúng sanh cúi mình cung kính…

Có ai thấy ưu-bà-di này thời tất cả các bệnh khổ đều trừ diệt, lìa phiền não, hết kiến chấp, xô núi chướng ngại, nhập cảnh giới vô ngại thanh tịnh”(1).

Ta cảm nhận được gì từ đoạn kinh văn nói trên? Nếu cứ hiểu hình ảnh của vị Bồ-tát đó theo nghĩa đen thì hẳn ta thấy trang sức của Ngài quá đỗi hoa lệ đến mức diêm dúa, dễ làm hoa cả mắt, mất cả vẻ tôn nghiêm thù thắng, vốn là thứ do ánh tuệ quang tỏa ra từ tuệ trícông phu đạo hạnh, theo tinh thần Phật giáo. Dĩ nhiên hình dung, sắc tướng sẽ được tôn vinh thêm nhờ vào hình thức, song nếu chấp vào hình thức thì đó chỉ là cái xác rỗng tuênh, bởi vì “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”. Cũng như chân dung Đức Phật Thích Ca mà ta đang thờ phụng trong tất cả chùa chiền tự viện, thật ra chỉ là biểu tượng của “Bi, Trí, Dũng”, chứ hoàn toàn không phải là gương mặt thật của Đức Phật. Đó chỉ là sản phẩm do các nghệ nhân Ấn Độ, trong quá trình giao lưu văn hóa, đã vay mượn gương mặt thần Appolon trong nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp để biểu hiện vẻ đẹp nội tâm của Đấng Giác Ngộ mà thôi(2).

Đoạn hai mới là ý chính: “Có ai thấy ưu-bà-di này thời tất cả các bệnh khổ đều trừ diệt, lìa phiền não, hết kiến chấp, xô núi chướng ngại, nhập cảnh giới vô ngại thanh tịnh”. Mà để đạt đến điều đó thì ta nên quán tưởng vị Hưu Xả ưu-bà-di theo một cách khác, vì chắc hẳn những thứ “bửu xuyến chơn kim, đại ma ni bửu”v.v… quá đỗi rực rỡ đó khó có thể nào giúp những kẻ phàm phu như chúng ta cảm nhận được trạng thái hỷ lạc này. Ngẫm cho cùng, cách mô tả sắc tướng đó chỉ là biện pháp tu từ, mang tính ẩn dụ và ước lệ để diễn đạt cái ý ở ngoài lời.

Trong kinh điển Đại thừa, cảnh tượng Đức Phật thuyết pháp luôn được xây dựng theo một kịch bản hoành tráng về không gian với vô số châu ngọc, lưu ly, mã não, cờ phướn trang nghiêm lộng lẫy. Và số lượng thính chúng cũng gây ấn tượng không kém, với muôn vạn Bồ-tát vân tập về để nghe giảng kinh. Nó hoàn toàn khác hẳn với cái đạo tràng thực sự của Đức Thế Tôn, mà ta thường thấy trong kinh tạng Nikaya. Bồ Đề Đạo Tràng lịch sử - nơi Đức Phật từng thuyết pháp, mà chúng ta có thể tìm thấy trong tư liệu hiện nay, ngày xưa có thể chỉ là cái sân không quá vài trăm mét vuông với những môn đồ lặng lẽ ngồi quanh lắng nghe Chánh pháp, thử hỏi lấy đâu ra chỗ để muôn vạn Bồ-tát cùng về hội tụ? Hoặc trong Duy Ma Cật sở thuyết kinh, căn phòng nho nhỏ vuông vức của cư sĩ Bồ-tát Duy Ma Cật tại thành Tỳ-Da-Ly làm đâu ra chỗ để cho gần mười ngàn môn đệ của Đức Phật gồm nào là Bồ-tát, Thanh văn, nào là thiên nhân cùng tập trung để nghe cuộc đối thoại hy hữu giữa một vị cư sĩ huyền thoại với Bồ-tát Văn Thù? Ta phải nhìn thủ pháp diễn đạt đó qua một lăng kính khác.

Cũng vậy, bồ đoàn hay vật ngồi - mà Đức Phật ngồi để tham thiền hay thuyết pháp - có lẽ cũng chỉ là cái bồ đoàn đơn sơ bằng cỏ bện, nhưng nó được tôn xưng thành “sư tử tọa” vì đã được trang nghiêm bằng trí tuệ của Đấng Giác ngộ. Đó mới là sự trang nghiêm chân chính, theo tinh thầnDuy tuệ thị nghiệp” của Phật giáo. Qua ánh sáng của tuệ giác, các quốc độ của chư Phật không còn là thế giới bình thường nữa, mà đã trở nên cảnh giới siêu nhiên được trang nghiêm bằng thất bảo, qua trí tưởng tượng phong phú dị thường của các Bồ-tát viết kinh. Tất cả thế giới đó đều được quán chiếu từ một cõi tư tưởng khác, nhằm dùng hình ảnh để diễn đạt những gì mà ngôn ngữ không thể diễn đạt trọn vẹn.

Các Bồ-tát khi viết kinh hẳn đã nhập định trong cảnh giới thù thắng vi diệu, để nói ra những lời thù thắng vi diệu. Cảnh giới bất khả tư nghì đó vượt qua tri kiến của phàm phu chúng ta, khó lòng diễn đạt bằng ngôn ngữ, nên cần phải dùng hình ảnh để minh họa, chứ làm gì có trân bảo châu báu trang nghiêm theo cách hiểu thô thiển của trần gian? Trí tưởng tượng được khơi dậy qua hình ảnh đôi khi giúp chúng ta dễ tiếp cận được chân lý hơn ngôn ngữ, cũng như một tấm gương về đạo đức giúp con người hiểu được đạo lý nhiều hơn các bài học luân lý. Sách vở từ chương đều không thể nào diễn tả hết được lời, lời không thể nào diễn tả hết được ý, cho nên các bậc chân nhân phương Đông phải lập ra tượng để diễn tả cho hết ý, như Văn Vương, Khổng Tử… thực hiện với Kinh Dịch(3); hoặc dùng những âm thanh vi diệu, hình ảnh lộng lẫy nguy nga để diễn đạt những cảnh giới bất khả tư nghì siêu quá ngôn ngữ, như các Bồ-tát thực hiện trong kinh điển Đại thừa. Đọc kinh điển Đại thừa, nếu cứ bám vào ngôn từ, thì vô tình chúng ta đóng khung nội dung kinh điển theo cách suy nghĩ hạn hẹp của chúng ta, đem những suy tư của mình áp đặt lên trên đó. Đó là cách luận giải kinh điển phổ biến hiện nay. Nói như triết gia Spinoza: “Tôi tin rằng nếu như hình tam giác mà biết nói thì có lẽ nó sẽ bảo rằng Thượng đế chắc chắn phải là hình tam giác, và một vòng tròn sẽ bảo bản chất thần linh phải là hình tròn; như thế đó, ai nấy cũng đều đem những thuộc tính của riêng mình mà gán cho Thượng đế(4).

Bất kỳ tôn giáo nào cũng đều xây dựng một thế giới lý tưởng. Tuy cấu trúc và mô hình các thế giới đó có khác nhau tùy theo yêu cầu phổ độ chúng sinh, nhưng đều được xem nhưcảnh giới giải thoát. Phật giáo cũng thế. Thế giới trong kinh tạng Nikaya là thế giới thực của lịch sử, còn thế giới Cực lạc trong kinh điển Đại thừacảnh giới lý tưởng của tôn giáo, nhưng hai thế giới đó vẫn tương thông vô ngạituy hai mà một, tuy một mà hai” nhờ vào diệu dụng của tâm. Thế giới trong kinh tạng Pali chỉ là thế giới thực của “cõi người ta”, nhưng những tư tưởng thù thắng vi diệu của Đức Phật đều cất lên từ mảnh đất đen xám đầy “dưỡng chất trần gian” đó. Nếu tâm ta không còn dục vọng, mọi ý niệm về tự ngã đều tan biến trong cảm xúc tuyệt diệu như nhà thơ trong một phút linh cầu, thì ta sẽ thấy thế giới này thuần nhiên thanh tịnh, theo tinh thầntùy kỳ tâm thanh tịnh nhi quốc độ tịnh” trong kinh Duy Ma, hoặc như lời thơ của Whitman:Tôi đoan chắc rằng trần gian này sẽ toàn bích đối với những ai có tâm hồn toàn bích. Và nó chỉ đổ nát vỡ vụn đối với những ai có tâm hồn đổ nát vỡ vụn(5).

Ta hãy nghe văn hào Herman Hesse tả hình ảnh Đức Phật, theo những gì ông cảm nhận được từ kinh điển phương Đông: Đức Phật lặng lẽ đi, dáng đăm chiêu suy nghĩ. Nét mặt bình an của Ngài không sung sướng cũng không buồn khổ. Ngài dường như hiền dịu mỉm cười trong tâm với một nụ cười kín đáo không khác nụ cười của một trẻ thơ khỏe mạnh. Người bước đi bình an, lặng lẽ. Ngài đắp y và đi bộ giống hệt các vị Tỳ-kheo khác nhưng nét mặt Ngài cùng bước chân Ngài, cái nhìn xuống trầm lặng và đôi tay buông thả, và mỗi ngón tay Ngài đều nói lên một niềm bình thản đầy đặn, không tìm kiếm gì, không học đòi một cái gì, mỗi ngón tay phản chiếu một sự bình lặng liên tục, một ánh sáng không phai mờ, một niềm bình an bất khả tổn thương(6).

Đoạn văn rất đơn giản, nhưng khi đọc, ta thấy như bừng lên hào quang của sự giác ngộ, và cảm nhận được niềm thanh thản vô biên. Đó chính là hình ảnh Đức Phật trong kinh tạng Nikaya. Và sự bình yên vô lượng đó sẽ tỏa thành ánh sáng lộng lẫy của châu ngọc, lưu ly… với thất bảo trang nghiêm, theo cách diễn đạt trong kinh điển Đại thừa. Ta nên quán tưởng các Bồ-tát trong cõi Cực lạc theo hình tượng đó, thay vì "không vị nào không đeo mũ miện quý báu, chuỗi ngọc khoác mình, phú quý không gì sánh bằng". Đọc kinh điển Đại thừa là để tìm thấy được sự bình dị "Bình thường tâm thị Đạo" nằm sau biển ngôn ngữ vô biên vô tế, diễn tả thế giới "Sự sự vô ngại" của Hoa Nghiêm tông, "Bách giới thiên như" của Thiên Thai tông, hoặc "Tứ trùng nhị đế" của Trung Quán tông… Bên dưới những lớp sóng ngôn ngữ trùng trùng điệp điệpcảnh giới thiên thu lặng lẽ của đại dương.

Trong tác phẩm U mộng ảnh, Trương Trào có một câu nói thông minhvô cùng dí dỏm:

Văn nhân thường chê bai, khinh rẻ bọn nhà giàu, nhưng đối với thơ văn hay thì lại dùng toàn vàng ngọc, châu báu, gấm vóc để ngợi ca. Vì sao vậy?”(7).

Đặt ra câu hỏi như thế tức là đã trả lời. Thế giới trang nghiêm trong kinh điển Đại thừa cũng nên được hiểu theo tinh thầnvì sao vậy?” đó. Dùng vàng bạc châu báu, mã não, lưu ly… để trang nghiêm, tất cả chỉ là biện pháp tu từ mang tính ước lệ, nhằm diễn đạt một ý khác, để phản ánh diệu dụng của Diệu quán sát trí trong đạo Phật. Trong cảnh giới đó thì nói năng động tĩnh đều phát huy diệu dụng, đi đứng nằm ngồi đều biểu lộ huyền cơ; cho nên sỏi đá cũng đều là lưu ly thất bảo, bất kỳ nơi nào cũng đều có “vàng bạc, châu báu lát ở trên mặt đất”; các bậc chân nhân giác ngộ có mặc tăng bào bình dị vẫn tỏa hào quang rực rỡ như Hưu Xả ưu-bà-di, muôn vạn Bồ-tát đều có thể về vân tập về trong một căn phòng nhỏ bé trong thành Tỳ-da-ly. Hay nói theo ngôn ngữ các thiền sư, thì núi Tu-di có thể được nhét trong một hạt cải, thập phương thế giới có thể hiển lộ trên đầu một sợi chân lông. Đó mới thực sự là “thất bảo” trong thế giới Cực lạc.

Tu học pháp của Phật
không nhất định phải lấy sự bần cùng, khốn khổ làm thanh cao

Từ việc quán chiếu thế giới Cực lạc gồm “vàng bạc, châu báu lát trên mặt đất, cung điện lầu các đều làm từ thất bảo, vô cùng trang nghiêm đường hoàng, Bồ-tát không vị nào không đeo mũ miện quý báu, chuỗi ngọc khoác mình, phú quý không gì sánh bằng” dĩ nhiên sẽ dẫn đến hệ quả “tu học pháp của Phật không nhất định phải lấy sự bần cùng, khốn khổ làm thanh cao”. Câu nói của Đại sư Tinh Vân nếu ở thời Đức Phật còn tại thế thì đó là lời cảnh tỉnh tốt, vì hành giả nào cũng muốn đi vào cõi thanh tu khổ hạnh, xa lánh thế gian nên không quan tâm nhiều đến việc tôn tạo tự viện, hay các hoạt động xã hội, khiến cho việc hoằng pháp trở nên hạn chế; nhưng ở thời mạt pháp hiện nay, khi hầu như cả thế giới đang đắm chìm trong vật dục thì câu nói đó dễ trở thành công cụ để biện minh cho nếp sống hưởng thụ trong tu tập đang đầy dẫy hiện nay, nhất là khi người phát ngôn được coi như một bậc cao Tăng thời hiện đại.

Đối với chúng ta, tu tập trong điều kiện hạn chế về vật chất không phải là điều dễ thực hiện, trừ những bậc chân tu khổ hạnh. Các vị đó dĩ nhiên không bận tâm gì đến những thứ “thanh caophù phiếm của trần gian, mà họ chỉ muốn dùng sự tiết dục, quả dục để nâng cao đời sống tinh thần. Nhưng nếu chỉ muốn tu tập trong điều kiện vật chất đầy đủ hơn nhu cầu thực sự, thì cũng dễ tự cắt bỏ con đường đi vào cõi đạo. Với một chút cực đoan, tôi cho rằng cuộc sống thỏa mãn về vật chất luôn là trở ngại lớn cho tu tập. Cây đại thụ đạo hạnh chỉ lớn lên từ mảnh đất thanh tu khắc kỷ. Mảnh đất lợi dưỡng phì nhiêu chỉ có thể làm nảy sinh loài lau lách trì độn mà thôi.

Đối với tôn giáo, đành rằng cần phải có các tự viện to lớn hoành tráng để hỗ trợ việc hoằng dương Chánh pháp, nhưng trong nếp tu tập thì cần phải luôn giữ sự thanh bần. Bần chứ không cùng. Thanh bần có nghĩa là sống đạm bạc, tiết giảm nhu cầu bản thân đến mức tối thiểu, dùng tư tưởng khắc kỷ để rèn tâm luyện chí. Tu tập trong điều kiện thuận lợi hiện nay mà giữ được nếp sống thanh bần theo tinh thần giới luật của đạo Phật đã là chuyện thiên nan vạn nan, chứ đừng nói chi đến việc “lấy sự bần cùng, khốn khổ làm thanh cao”. Nếu tu tập trong môi trường thuận lợi mà không giữ được nếp sinh hoạt thanh bần thì sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy, vì rất khó mà kiềm chế được lòng tham lam chiếm hữu. Sự cám dỗ vật chất và tiền bạc rất khủng khiếp, không kém gì danh vọng, vì chúng là những thứ âm thầm nuôi lớn lòng ngã mạn của chúng ta, đem lại chúng ta cảm giác hả hê thỏa mãn, do thấy mình “hơn người khác”, dù chỉ là “hơn” bằng những thứ vật chất vô cùng phù phiếm, ngay cả trong môi trường “Duy tuệ thị nghiệp”.

Trong lĩnh vực tư tưởng, đạt đến trạng thái hư tâm vô chấp là điều cực khó, đòi hỏi phải có một trí tuệ phi thường; nhưng trong lĩnh vực vật chất, điều đó cũng gian nan không kém. Muốn thanh thản bước ra khỏi sự cám dỗ của vật chất và tiền bạc, muốn tu tập trong môi trường thuận lợi mà vẫn giữ được nếp thanh tu, nếu không phải là những tâm hồn nghệ sĩ coi thường danh lợi, hay những bậc chân tu sẵn sàng đạp mọi vinh hoa của thế gian xuống dưới gót chân để tìm cầu giác ngộ, thì cần phảicơ duyên và một tâm lực kiên cường. Khi ta chiếm hữu một vật để làm chủ nó thì trong thực tế vật đó cũng sẽ làm chủ lại ta. Đó là mối quan hệ hỗ tương mà khi còn trong cuộc thì ta mê muội nên không lưu ý. Vật càng quý báu thì sự nô lệ của ta càng lớn, và sự nhiễu loạn của tâm càng trầm trọng, vì nó càng củng cố vọng tưởng của ta về tự ngã. Con người luôn bị lừa phỉnh bởi cái mình đang có hay tưởng mình đang có. Ta luôn luôn đồng nhất ta với những cái thuộc về ta, và tự huyễn hoặc “giá trị” bản thân mình qua những thứ mà ta chiếm hữu. Không phải ngẫu nhiênthông điệpbuông xả”, “vô chấp”, “vô nhiễm”… hơn mấy ngàn năm qua vẫn vang rền trong các điện đài minh triết phương Đông, xem như là tiền đề để con người hướng đến tự do, tự tại.

Giống như mọi tông phái khác ở Ấn Độ thời cổ đại, Phật giáo vẫn lấy giới luậtthiền định làm kim chỉ nam để đưa đến trí tuệ. Tam học Giới-Định-Tuệ vẫn luôn có giá trị vĩnh cửu trong tu tập, trong đó giới luật là bước khởi đầu. Trong quá trình phát triển của đạo Phật, giới luật được nâng lên thành một tông pháiLuật tông, đủ thấy tầm quan trọng của nó. Trong giới văn nghệ sĩ, ta thấy có nhiều bậc thượng trí chỉ có tuệ, nhưng vì sống mà không có giới luật kiềm chế, nên cuộc sống đôi khi vẫn bị rối loạn và mất quân bình, dù họ để lại cho đời vô vàn châu ngọc trong lĩnh vực thi ca, tư tưởng. Cũng không phải ngẫu nhiênPhật giáo chủ trương ăn chay để hỗ trợ cho nếp sống thanh tu quả dục. Ăn chay đúng nghĩa, chứ không phải cách ăn chay xa xỉ với những món chay dưới hình thức mặn đang phổ biến hiện nay. Dục ở đây hiểu theo nghĩa rộng, nhưng trước hết hãy nhìn từ góc độ sinh lý. Thông thường, khi cơ thể càng được hưởng thụ đầy đủ thì bản năng cơ bản là tình dục càng phát triển mạnh, bất kể là tăng hay tục. Ngay cả các tông phái Phật giáo Nguyên thủy cũng không xem A-la-hán là quả vị tối cao, vì những vị đó vẫn còn hiện tượng xuất tinh trong lúc ngủ say, mà Đại chúng bộ gọi là “bất tịnh lậu thất”. Nhìn dưới góc độ khoa học thì đó chỉ là hậu quả tất yếu của sự ức chế tình dục một cách vô thứcvô cùng vi tế. Dùng thiền định để chuyển hóa nguồn năng lượng đó thành trạng thái hỷ lạc như một số tông phái Mật tông, thử hỏi có mấy ai làm được? Tôi tin rằng chỉ có những vị giữ nếp thanh tu mới có được đời sống tinh thần thật sự. Bởi vậy trong Phật giáo, vĩnh viễn phải cần gìn giữ nếp sinh hoạt quả dục, thanh bầntu tập trong bất kỳ môi trường nào.

Theo thế giới quan của Phật giáo thì thế giới của chúng ta được gọi là Nam Thiệm Bộ Châu ở phương Nam, còn ở phương Bắc thì có Bắc Câu Lô Châu, một nơi được xem như xã hội lý tưởng, hoàn toàn không chính phủ, pháp luật, kinh tế, lao động, thương mại…, con người sống cả ngàn năm. Tưởng chừng như đó là Bồng Lai tiên cảnh, nhưng Phật giáo lại cho rằng sinh vào nơi đó lại là điều bất hạnh, vì sống trong điều kiện quá thoải mái, con người dễ đâm ra lười biếng và sẽ ham hưởng thụ, làm trì trệ con đường tu tập.

Con người chỉ khám phá ra mình khi đương đầu với trở ngại, khổ đau. Không có trở ngại, khổ đau thì tâm thức và nhân cách con người khó mà phát triển để tìm đến cảnh giới giải thoát. Nếu ta đi qua một cánh đồng bằng phẳng, thì đường đi vẫn chỉ là đường đi, nhưng nếu ta đặt một lưỡi cày xuống đất thì đất sẽ cản trở lưỡi cày, ta phải nỗ lực đẩy lưỡi cày tiến lên, đường đi sẽ biến thành luống cày, và từ luống cày sẽ nảy sinh hạt lúa. Không có sự cản trở của đất đối với lưỡi cày thì không bao giờ có được hạt lúa. Cánh đồng là tâm thức, lưỡi cày là nếp tu tập thanh bần, nỗ lực đẩy lưỡi cày tiến lên là tinh tấn, luống cày là công phu hành đạo và hạt lúa là trí tuệ. Giữ nếp sống thanh bần, ngay cả trong điều kiện tu tập thuận lợi, vẫn luôn là tiền đề để khơi nguồn trí tuệ.

Đọc sách võ hiệp, ta thường thấy nhân vật chính lâm vào cảnh khốn cùng như rơi vào tuyệt cốc, lạc vào hoang đảo… rồi đột nhiên tìm được bí cấp võ công hoặc ăn được kỳ hoa dị thảo, rồi tự luyện thành võ công siêu đẳng thượng thừa; thực ra đây cũng là cách diễn đạt ý tưởng này bằng một thủ pháp khác, theo lẽ “nhất dĩ quán chi” của phương Đông. Lâm vào cảnh khốn cùng, trong cuộc sống và trong tư tưởng, con người mới có điều kiện để phát tiết anh hoa, còn “bí cấp võ công” hay “kỳ hoa dị thảo” cũng chỉ là cách diễn tả nguồn năng lượng nội tại, hay Phật tính tiềm ẩn trong mỗi con người, khi nhìn từ một bình diện khác. “Sơn cùng thủy phúc nghi vô lộ. Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn” (Tại nơi tuyệt lộ sơn cùng thủy tận, cứ ngỡ như không còn lối đi nữa, thì lại thấy có một thôn xóm thấp thoáng trong những rặng liễu mờ và những cành hoa sáng - Thơ Lục Du). Điều kiệnsơn cùng thủy phúc” sẽ là luống cày để khơi nguồn trí tuệ trong chốn “liễu ám hoa minh”.

Khi tâm ta chưa đủ định lực để chuyển hóa và thăng hoa dục vọng, thì cách hay nhất để chiến thắng nó là ta nên tránh nó đi, bằng lối sống thanh tu theo giới luật. Sống theo giới luật luôn đồng nghĩa với sự chế ngự tư dục, giảm thiểu nhu cầu đến mức tối thiểu để làm chủ bản thân; điều đó sẽ giúp ta nuôi lớn tinh thần khắc kỷ để trau dồi đạo hạnh, tạo tiền đề cho trí tuệ phát triển, vì làm chủ được thân thì mới làm chủ được tâm. Nếu tâm ta luôn vô nhiễm với vật chất và tiền bạc, như con ngỗng trắng trong hồ nước, đủ tâm lực để xem viên ngọc như hòn sỏi, xem cung vàng điện ngọc như túp lều tranh, đủ tuệ trí để thấy “cái ta” là hư giả, một lòng tìm cầu giác ngộ, thì lúc đó mọi yêu cầu của giới luật hay nếp sống thanh tu không còn làm ta vướng bận nữa, và ta có thể thong dongthõng tay vào chợ” như các Bồ-tát nhập thế, mặc tình du hý thần thông trong cõi Ta-bà. Còn như nếu chưa đạt đến cảnh giới đó, thì tu tập nghiêm túc theo giới luật với nếp sống thanh tu quả dục vẫn luôn là con đường chân chính dẫn đến cảnh giới của đạo tâm. n

 

(1) Kinh Hoa Nghiêm, tập 4, bản dịch của Thượng tọa Thích Trí Tịnh, Sài Gòn, Phật lịch 2511, tr.149-150.

(2) Theo nhà sử học Will Durant thì tượng Phật Thích Ca ngày nay mang dáng vẻ của tượng thần Apollon, do ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp, chứ hoàn toàn không phải là chân dung thật sự của Đức Phật : “Dưới sự giám hộ của các ông thầy Hy Lạp, nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ có một thời mang gương mặt mịn màng kiểu của Hy Lạp, Đức Phật biến thành tượng mang dáng vẻ của thần Apollon, và có vẻ như khao khát leo lên đỉnh Olympus nữa” (Under the tutelage of Greek instructors Hindu sculptures took on for a time a smooth Hellenistic face; Buddha was transformed into the likeness of Apollon and became an aspirant to Olympus. W. Durant, Our Oriental Heritage, NXB. Simon and Schuster, 1954, t.594). Đỉnh Olympus là nơi ngự trị của chư thần trong thần thoại Hy Lạp.

(3) “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý, nhiên tắc thánh nhân chi ý kỳ bất khả kiến hồ? Thánh nhân lập tượng dĩ tận ý, thiết quái dĩ tận tình ngụy, hệ từ yên dĩ tận kỳ ngôn, biến nhi thông chi dĩ tận lợi, cổ chi vũ chi dĩ tận thần”. (Sách không nói hết lời, lời không diễn đạt hết ý, vậy thì ý của Thánh nhân không thể thấy được sao? Thánh nhân lập ra tượng là để diễn đạt hết lời, bày ra quẻ là để diễn đạt hết sự chân thực và điều giả trá của sự vật, buộc thêm văn từ là để nói hết lời, tạo sự biến thông của các hào để trình bày hết điều lợi, dùng tiếng trống và điệu múa để diễn đạt hết điều thần diệu). (Kinh Dịch, Hệ từ thượng truyện).

(4) I believe that a triangle, if it could speak, would … say that God is eminently triangular, and a circle that the divine nature is eminently circular; and thus would every one ascribe his own attributes to God (Dẫn theo Will Durant, The story of philosophy, Time Incorporated- New York, 1962 p.165).

(5)  I swear the earth shall surely be complete to him or her who shall be complete,

The earth remains jagged and broken only to him or her who remains jagged and broken. (trích từ bài A Song of the Rolling Earth, trong tập Leaves Of Grass).

(6) Herman Hesse, Câu chuyện dòng sông, Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch, tái bản lần thứ 8, NXB Văn Hóa Sài Gòn, 2009, tr. 45.

(7) Văn nhân mỗi háo bỉ bạc phú nhân, nhiên ư thi văn chi giai giả, hựu vãng vãng dĩ kim ngọc châu cơ cẩm tú dự chi, tắc hựu hà dã? (文 人 每 好 鄙 薄 富 人, 然 於 詩 文 之 佳 者, 又 往 往 以 金 玉 、 珠 璣 、 錦 繡 譽 之, 則 又 何 也? - U mộng ảnh).


Tạo bài viết
03/04/2012(Xem: 11713)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!