Hoài nghi lời Phật, hành giả đi về đâu?

04/09/20143:23 SA(Xem: 8415)
Hoài nghi lời Phật, hành giả đi về đâu?

HOÀI NGHI LỜI PHẬT DẠY, HÀNH GIẢ ĐI VỀ ĐÂU?

Hồ Dụy

blankCó một hiện tượng buồn: trong giới tu hành vẫn nhiều người cho kinh Đại thừa không phải Phật thuyết mà do người đời sau thêm vào. Trong nhà Phật, chữ Tín quan trọng nhất. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tín là nguồn đạo, mẹ công đức, có thể sanh ra hết thảy các thiện căn”. Luận Đại trí độ cũng viết: "Đại tín là đại trí"; "Phật pháp như kho báu, người không có tín cũng như không có tay, sẽ chẳng lấy được gì". Kinh điển là từ Tự tánh thanh tịnh viên minh lưu xuất. Những vị chứng quả xưa nay rất nhiều, chưa ai dám sửa 1 chữ trong kinh Đại thừa; hạng “phàm phu lè tè sát đất” (theo cách gọi của thầy Ấn Quang) lại đòi hoài nghi? Nếu tu, không tin Phật thì tin bất cứ ai trên đời cũng thừa, dễ lầm đường lạc lối. Nghi ngờ các kinh: Địa Tạng, Vô Lượng Thọ, A Di Đà, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Đại Bảo Tích v.v, là nghi ngay chính mình không có Phật tánh, bởi kinh Đại thừa cơ bản nói về điều này (“Hết thảy chúng sanh đều có đức tướng và trí huệ Như Lai”). Đây là điều trọng yếu của bất cứ ai tu bất cứ Pháp môn nào.

Tịnh độ là do Phật Thích Ca truyền giảng. Bộ Vô Lượng Thọ, đương cơ thọ nhận là A NanBồ tát Di Lặc; Quán Vô Lượng Thọ giảng cho Hoàng hậu Vi đề hy; kinh A Di Đà, đương cơ là đệ nhất trí huệ Xá Lợi Phất. Ngay trong kinh Tăng nhất A-hàm thuộc Nguyên thủy Đức Phật đã có bài giảng về pháp niệm Phật: “Hãy tu hành một pháp, hãy truyền bá rộng rãi một pháp. Tu hànhtruyền bá rộng rãi một pháp rồi sẽ có danh dự, thành tựu quả báo lớn, các điều lành đầy đủ, được hưởng vị cam-lồ, đến được chỗ vô vi, sẽ thành tựu thần thông, trừ các loạn tưởng, đạt được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Thế nào là một pháp? Nghĩa là niệm Phật”. Nhìn xa hơn về thời Mạt Pháp lắm nhiễu nhương loạn động, Phật giới thiệu đến chúng sanh cõi nước Cực Lạc trên cơ sở phải chuyên nhất niệm danh hiệu một vị Phật, chuyên nhất về một hướng Tây phương. Chính Ngài đã khuyên cha mẹ mình cầu sanh Cực Lạc. Nếu nghi ngờ tức tự cho mình tỉnh táo vượt lên hết thảy đại đức, cao tăng, các bậc tôn túc và hàng vạn triệu người đang ngày đêm tinh tấnthành tựu nhờ niệm Phật. Trong Quán kinh huyền nghĩa, Thiện Đạo đại sư từng khuyên: "Tuy tín tâmgián đoạn, nhưng không được hoài nghi, báng bổ đối với tất cả Kinh, Luận của Đại thừa. Nếu khởi tâm nghi ngờ, phỉ báng thì dẫu có 1000 Đức Phật đi quanh thân mình cũng không cách gì cứu vãn được!” Người tu Thiền lẽ nào không tin chuyện Ngài Huệ Năng từng giảng kinh Pháp Hoa.

Kinh Phật uyên áo bao hàm vũ trụ nhân sinh. Sự nghi ngờ Tịnh tông nằm phần lớn ở những bậc trí thức và người tu ở một số pháp môn khác; khăng khăng Niệm Phật là pháp dành cho những ông bà ít học, kẻ độn căn chờ vận may… Không hay 4 chữ hồng danh nếu dành trọn đời bạc tóc cũng chỉ mới nhìn thấy tảng băng nổi lập lờ trên biển. Có điểm đáng lưu ý: người thông Tịnh ắt dễ hiểu Thiền, còn thông Thiền chưa chắc đã hiểu Tịnh; những người học Mật sẽ dễ thấu suốt nguyện lực Di Đà hơn. Phần nhiều do sở học duy lý ngăn ngại. Ngoài đời, nhà triết học nào dương dương tự đắc thông tuệ, nhưng nếu họ chịu khó đọc vài cuốn do các “triết gia” Phật giáo trước tác như Thành duy thức, Đại trí độ (của Bồ tát Long Thọ), Triết học Thế Thân, hay cuốn Chú giải Phật thuyết Đại thừa Vô Lượng Thọ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác kinh của cụ Hoàng Niệm Tổ sẽ thấy rõ lợi ích. Bởi thế, với người luôn tự cho mình giỏi, các cao nhân luôn đề cao học vấn (có vị Hòa thượng nhận đến 4 bằng Tiến sĩ), để giới trí thức thấy cần học hỏi; khi quen nhau rồi các Ngài mới dơ Phật pháp ra diễn hóa. Còn như độ những người đã có căn duyên tiền kiếp thì dễ hơn; dẫu không biết chữ song khuyên tin nhân quả luân hồi, họ tuyệt không hoài nghi, chuyên tâm niệm "A Di Đà Phật". Nhưng không có cái lý càng học cao càng dễ chứng. Ngay Lão Tử cũng nói: “Vi Đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi” (Theo Đạo thì ngày một giảm, lại càng giảm, giảm cho đến vô vi). Đắc đạotrạng thái đưa tâm trở về Không, trong lặng, không nhiễm ô loạn tạp. Lúc đó cái họ sở đắc là trí HUỆ (có thể câu thông với vũ trụ vạn vật), chứ không phải trí thông minh thế gian (dạng kiến thức cóp nhặt). Không ngẫu nhiên mà bậc Thượng nhân khuyên hãy học Phật chứ đừng Phật học. Đạo Phật trọng thực chất, xem nhẹ hình thức. Nhiều người rất tinh thông giáo pháp lại hành đạo rất kém, khiến con đường giải thoát gập ghềnh. Phật học dẫu sao chỉ là sự thu lượm khối kiến thức khổng lồ dường như không có bờ bến, còn học Phật là quyết chí sống theo Thập thiện, cộng với sự hành trì tụng kinh, trì chú, niệm Phật để Tâm an định, từ đó phát huệ chiếu rọi con đường trở về bờ Giác. Ai Phật học bất quá cũng là người thợ chữ trần ai. Còn học Phật là đang hướng về cõi Thánh. Hiểu sâu sắc và thuyết giảng trôi chảy giáo lý mới chỉ là thế gian pháp. Hành theo giáo lý Đức Phật đó là pháp xuất thế. Giá trị của con ngườithực hành chân lý tối thượng chứ không phải ở việc thấu hiểu chân lý tối thượng.

Vạn pháp quy nhất. Pháp môn vốn không cao thấp. Cái chính là hợp căn, hợp thời. Ngày xưa con người căn tánh trội hơn. Bây giờ tập khí đầy giẫy hư không, ùa ạt vào tâm. Hàng ngày các trò giải trí tăng thêm tính ảo và thực dụng, nội trong ti vi thôi người tu đã quá vất vả chế ngự vọng niệm. Một khi internet toàn cầu hóa, thế giới trở thành ao hồ trong mỗi người, càng khiến vọng tưởng mặc sức sinh sôi. Vọng tưởng ở trong Tịnh tông có thể định nghĩa: Ngoài câu “Nam mô A Di Đà Phật” ra, hết thảy những ý niệm khởi lên đều là chính nó. Vọng tưởng xét đến cùng là giả; chống vọng tưởng cũng bằng biến mình thành vọng tưởng. Lúc thiền, hãy tưởng tượng, trong đêm tối một cánh cửa mở và ánh sáng xuyên ra. Ta cứ ngồi trong phòng, ai ngang qua cũng biết song tâm không động, không gọi tên, không níu kéo. Theo lý của Thiền sư Krishnamurti thì giống như một ông già ngồi xem đám trẻ nô đùa trong khu vườn. Xem mà như không xem. Thực hành việc này cực khó, bởi lũ trẻ tinh quái thường lôi tâm cùng rong chơi, rồi nó dẫn vào mê cung lúc nào không hay… Bên Tịnh độ chỉ cần chú tâm vào Phật hiệu, vọng tưởng “kệ nó”, tức không khởi tâm bám chấp, xua đuổi, chỉ biết mình đang niệm/nghe từng chữ danh hiệu là ổn. Hễ ai còn giương khẩu hiệu chống cái này cái kia, kể cả chống cái ác, người đó chưa thể gọi chánh tri chánh kiến. Thay vào đó họ chú ý mỗi nguồn thiện từ đối tượng. Do vậy để xét một giáo phái có phải Chánh hay không, soi vào vấn đề này cũng rõ. Có những thuyết giáo lập ra rất gần với giáo lý Đức Phật, người chưa tiếp cận Kinh điển rất dễ nhầm, chấp chặt, xem giáo chủ đó trên cả Phật, hoặc là Phật tái lai. Chủ trương “diệt trừ tà ác”, theo đó phủ nhận luôn chân tâm tạm bị lấp vùi trong cái ác, đó không phải là Phật pháp. Thật dễ hiểu, bởi rốt cùng tà ma ngoại đạo đều được Phật rủ lòng thả thuyền từ cứu độ.

Cư sĩ nào từng dự khóa thiền sẽ phải thức đến nửa đêm, sáng 3 giờ đã dậy tụng kinh, tọa thiền v.v, biết mình chẳng thể theo nổi, có nghĩa cả đời khó đạt tới tứ thiền nói gì bát định. Thiền đòi hỏi phải là bậc thượng căn với nghị lực phi thường, bền gan vững trí. Đời nay tu Thiền, nhiều người chỉ tạm đối phó với căng thẳng trước sức ép xã hội, gọi là phàm phu Thiền, còn theo Thiền tông như cổ đại đức, mấy ai tu nổi? Nên dễ khiến hành giả quán gì đều đối trọng với vọng tưởng, đều lấy vọng tưởngkẻ thù cần tận diệt, khiến vọng tưởng như con đĩa càng chặt khúc càng nảy nở. Ngài Lý Bỉnh Nam căn dặn: “Chưa được minh sư [chỉ dạy] mà đã dám tự tiện tĩnh tọa, đó là coi nhẹ Thiền quá sức!” Các Tổ thường khuyên học Thiền phải có sư thừa là vì thế. Ở ta thấy người vào định là chuyện lạ, còn bên xứ Ấn hay Tây Tạng, thậm chí ở các nước Phật giáo Nguyên thủy, người miên man nhập định khá phổ biến. Vào được tứ thiền bát định thì vẫn mới chạm đến cõi trời Phi tưởng, nào dễ gì ra khỏi tam giới. Có thể lấy một ly cà phê đá làm tỉ dụ cho Tâm. Nếu để ly cà phê đó một lúc, phía trên cùng sẽ có lớp nước trắng trong, (tạm gọi chút thanh tịnh nhờ niệm Phật); còn phần lớn cà phê phía dưới vẫn đen kịt, ví như hoặc nghiệp. Người tu Thiền đòi hỏi phải đoạn kiến tư hoặc khiến toàn ly cà phê trở nên trong suốt. Người tu Tịnh tông nhờ vào lớp nước trắng phía trên (nhất là trong thời khắc lâm chung trì niệm từ một đến mười câu Phật hiệu), liền được rước về Cực Lạc thế giới theo bổn nguyện của Phật A Di Đà. Dẫu sao, đó vẫn là công phu thuộc hàng thấp. Công phu cao là những người biết trước ngày giờ, tự tại vãng sanh; vãng sanh cả khi còn sống. Điều này xưa nay rất nhiều. Rất nhiều.

Tu về Cực Lạc chẳng những hợp với bậc độn căn mà đến hàng Bồ tát cũng cầu dự vào hàng bất thối ấy. Phàm phu bất cứ lúc nào rỗi trí đều có thể niệm Phật, sự động thân va chạm ngoài đời không hề trở ngại việc niệm Phật. Ai chuyên tu, sau một vài năm đã thấy rõ lợi ích. Tịnh độ được mười phương chư Phật gia trì; niệm 1 danh hiệu Phật cũng bằng niệm mười phương chư Phật. Thiền cũng như nhiều pháp môn khác là tự lực, Tịnh ngoài tự lực còn dựa vào Phật lực. Người không tin nhận pháp Niệm Phật cũng bằng vỗ ngực: Không dám phiền Phật, tự con đủ sức tìm đường tới Niết bàn!

* THƯỜNG TÂM KHÔNG PHẬT, CHÚNG TA NIỆM NHỮNG GÌ?

Phật là bậc giác ngộ toàn triệt, nhìn thấu chúng sanh cơ bản do vọng tưởng che lấp tự tánh, nên giới thiệu pháp môn Niệm Phật cho thời mạt. Đó là di ngôn tối thượng, căn bản nhất dành cho hậu thế. Chúng sanh vốn sống trong vọng tưởng, Phật khuyên niệm Phật để từ tướng mà lìa tướng, dần dà Phật hiệu “đồng hóa” vọng tưởng một cách lặng lẽ diệu kỳ. Theo cách nói của Tổ Thiện Đạo: “Rời tướng mà cầu hoàn thành sự việc thì cũng chả khác gì người không có chú thuật, thần thông lại đi làm nhà, xây lầu giữa hư không!”

Xưa nay để chọn ra bộ kinh quan trọng nhất trong sự nghiệp giảng Pháp của Phật Thích Ca, giới tu hành phần lớn xem Hoa Nghiêm trọng yếu. Nhiều vị cao tăng đúc kết: tinh hoa kinh Hoa Nghiêmkinh Vô Lượng Thọ; tinh hoa kinh Vô Lượng Thọkinh A Di Đà; tinh hoa kinh A Di Đà là 48 lời đại nguyện; tinh hoa 48 đại nguyệnlục tự hồng danh. Phật dự liệu sau thời mạt Pháp hết thảy kinh đều dần dà bị diệt, vẫn còn danh hiệu Di Đà truyền khẩu trong dân gian, ai tin sâu, nương vào trì niệm sẽ giải thoát. Cổ đức mới dạy: “Vạn pháp tinh hoa lục tự bao”. Nam mô A Di Đà Phật chính là vua của mọi kinh chú, thần lực vô biên và sẽ khởi tác dụng viên mãn. Tam tạng kinh điển được gói gọn trong đó; một khi người tu chí thành, khẩn thiết niệm ngày đêm, Nam mô A Di Đà Phật sẽ in sâu vào Tâm, tự tâm phát khởi như tiếng chuông ngân vang, thăm dò, đánh thức Tự tánh lặn sâu dưới vô minh phiền não.

Nếu là Tịnh độ nói về Tịnh độ có thể chưa tin, nhưng thiền sư lỗi lạc giảng về Tịnh độ, lẽ nào phớt lờ? Rất nhiều bậc đạo sư thông Thiền, Mật, họ vẫn khuyến tấn mọi người hướng về Cực Lạc. Từ Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền cho đến Tổ sư Long Thọ; Đại sư Pháp Chiếu vốn chuyên tu Thiền, sau nhờ Đức Phổ Hiền khai thị mới quay về Tịnh nghiệp, rồi trở thành Tổ sư; Hòa thượng Hư Vân tu Thiền đắc định, vẫn khuyên học trò niệm Phật và đã thành tựu viên mãn; Hòa thượng Tịnh Không, bậc Thượng nhân hiện thời chuyên hoằng dương Tịnh độ vốn là học trò ruột của Đại sư Chương Gia bên Mật tông. Đã gần 90, Hòa thượng vẫn ngày ngày giảng bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ. Cụ Hoàng vốn là Kim Cang A Xà lê của Mật tông, lại từng tham học Thiền tông với đương đại Thái Sơn bắc đẩu Hư Vân hòa thượng, mà 6 tháng cuối đời 1 ngày niệm 14 vạn danh hiệu Phật cầu sanh Cực Lạc; Hòa thượng Quảng Khâm tu thiền nhập định hàng tháng trời, kim chỉ nam truyền pháp của Ngài vẫn chỉ vỏn vẹn “sáu chữ”; Hòa thượng Tuyên Hóa lúc còn trụ thế ở Mỹ quốc dành hết tâm sức giảng Thiền nhưng ai đọc cuốn sách nhỏ “Quê hương Cực Lạc” mới hiểu thấu pháp môn Ngài đã nương vào làm nền tảng. Và hơn thế lúc Di Lặc ứng Phật tại dương gian cũng dựa trên kinh Vô Lượng Thọgây dựng thời Chánh pháp.

Câu Phật hiệu đầy đủ năng lực gom tâm chuyên trụ vào một chỗ như mũi khoan xuyên vào bức màn vô minh dày đặc. Thường niệm "Nam mô A Di Đà Phật" cũng chính là hành thiền. Lúc nào đi đứng nằm ngồi ta đều niệm Phật (niệm câu nào nghe rõ câu đó), ấy là tỉnh giác. Nếu ai chuyên tĩnh tọa, lúc xả thiền hòa vào dòng đời làm Phật sự rất khó giữ chánh niệm. Người tịnh niệm tiếp nối tức tâm lúc nào cũng tỉnh thức. Như vậy, Niệm Phật thật sự là phép thiền vi diệu. Không cứ dựa vào pháp môn nào, điều trọng yếu đều phải đạt được tâm thanh tịnh. Không thể lấy cái gọi là công năng đặc dị lại đòi bay lên nước Phật. Tu - là giữ tâm trong lặng, hòa ái, trải lòng với muôn loài; ý nghĩ hành động đều nghĩ về người trước. Trong suốt thời gian đó câu Phật hiệu luôn in sâu trong tâm như được khắc chạm, vậy cũng xem là "tu chuyên nghiệp". Dẫu sự tu này nhiều lúc không ai biết (do niệm thầm danh hiệu Phật); sự tu đó làm lợi cho mọi ngườihoàn cảnh xung quanh chứ nào ảnh hưởng đến ai. Từ đây xả bỏ dần tri kiến thế gian, xả bỏ sự bon chen, ghanh ghét, đối kị, tham lam, sân hận, ích kỷ hẹp hòi, nhìn nhận về tất cả mọi người đều là quyến thuộc của mình, chuyên trì niệm và sống theo hạnh bồ đề, trí huệ sẽ mở dần và phát lộ viên-ngọc-Phật chói sáng. Chợt nhớ lời khai thị của Đại sư Triệt Ngộ: “Phàm đã có tâm thì không thể vô niệm. Nếu chẳng thuận cảnh Phật mà niệm cảnh Phật thì liền niệm chín cõi; chẳng niệm Tam Thừa thì liền niệm Lục Phàm; chẳng niệm cõi trời người thì liền niệm Tam Đồ; chẳng niệm ngạ quỷ, súc sanh thì liền niệm địa ngục”. Điều này được gói trong một câu của kinh Địa Tạng: “Chúng sanh Nam diêm phù đề khởi tâm động niệm không gì không tội, không gì không nghiệp”. Từng xem qua Duy thứctham cứu về tâm sở đa phần bất thiện, đọc đến đây lẽ nào không run sợ. Và một khi ai đó được tự tánh hé lộ điều này, việc truy gốc kinh Đại thừa có phải Phật thuyết hay không liệu có dư thừa?

Tịnh độ Chân tông Nhật Bản thường trên tinh thần phá chấp, dựa vào nguyện thứ 18 mười niệm vãng sanh của Phật A Di Đà, đã ảnh hưởng nhiều đến giới tu hành Tịnh tôngViệt Nam. Khá nhiều người dễ dãi đã quá nương cậy vào Phật lực. Trước hết phải cắt nghĩa sự tiếp dẫn. Lúc ta trì mười lượt hồng danh, khoảng thời gian đó phải tương ưng với tâm thanh tịnh. Ta niệm Phật tức ta chính là Phật, chứ không phải niệm với tâm tạp loạn lại chờ Phật phóng hào quang; sự chờ đó chính là cầu Phật bên ngoài. Thử liên tưởng, chiếc radio hay ti vi, ta muốn nghe muốn xem phải rà đúng sóng kênh ấy mới rõ ràng, còn không sẽ chẳng rõ tiếng mà hình cũng nhảy giật, là lúc nhiễu sóng cảnh giới ma quỷ, khó thể vãng sanh. Mặt khác, một đến mười niệm là đang nói đến thời điểm cận tử nghiệp, khoảng thời gian vừa đủ để Phật phóng hào quang tiếp dẫn. Câu hỏi đặt ra: mười niệm nối nhau dễ không? Câu trả lời là khó. Nhiều người niệm Phật mấy chục năm trời song bảo thử nhắm mắt khởi mười niệm không vọng tưởng xen ngang, cũng chịu. Quen với miệng niệm tâm nghĩ gì tùy thích càng trượt đà, lúc lâm chung sẽ khó ứng với tâm Phật. Hiện giờ thân thể khỏe mạnh, tâm thế phấn chấn, ngồi niệm một cây hương, hỏi có mấy lần được thanh tịnh mười niệm? Huống hồ lúc thân đau đớn quằn quại, nếu không cũng tâm thần bấn loạn ngổn ngang, oan gia trái chủ tìm đến thanh toán nợ nần, nghiệp lực thừa cơ trỗi dậy. Hành giả nào để ý việc này, cứ thực hành từ 3 câu thanh tịnh nối tiếp, cho đến 5, rồi nâng lên mười hay chú tâm trong một hơi, xếp lại, rồi tiếp tục hơi khác, dần dà mười niệm thuần thục sự nhất tâm, là việc không quá khó. Dẫu biết công hạnh niệm Phật để đến với cõi nước An Lạc có nhiều cách hành trì, song thiết nghĩ nếu niệm Phật mà mặc tâm làm màn hình chiếu phim cho a-lại-da, sẽ chẳng khó hiểu khi nhiều sinh mạng vẫn trách Phật A Di Đà lỡ hẹn.

Dĩ nhiên, phàm bàn đến Pháp nhất nhất phải soi vào Kinh điển. Phật Thích Ca từng khẳng định trong kinh A Di Đà, rằng chúng sanh lâm chung nếu thiết nguyện sẽ được chư thánh hiện tiền, khiến tâm bất điên đảo. Ở đây có một điểm trọng yếuniềm Tin. Vào thời khắc đó, hành giả phải tin sâu, tin chắc Phật A Di Đà sẽ đến. Chưa chế ngự được tà niệm, song niềm tin vững, một lòng chí thiết đợi Phật, phiền não ắt lắng xuống; cộng với năng lực gia trì giữa một không gian đầy ắp từ trường siêu thiện và hào quang tỏa rạng, hành giả sẽ hóa sanh về Cực Lạc, vượt qua cả hàng A La Hán tốn công phu vô vàn kiếp trồi lên trụt xuống.

Đến đây mới hiểu tại sao pháp môn niệm Phật không lấy chữ Hạnh làm đầu (hạnh niệm Phật) lại xem Tín bậc nhất trong ba món tư lương. Bằng niềm tin sâu chắc, hành giả dẫu không đạt nhất tâm trong mười niệm vẫn nhiều cơ hội lách qua khe cửa hẹp tử sanh. Cũng xin mở ngoặc: Nhất Tâm trong niệm Phật bước đầu nên hiểu là tức thì khởi niệm Giác. Hễ vọng tưởng nổi nên ngay lập tức A Di Đà Phật khởi động. Suối đời hành niệm Phật cốt yếu xoáy vào đây. Hồng danh Đức Phậthạt giống, hành giả chăm sóc nẩy mầm, lớn lên vươn cành tỏa bóng, cây bồ đề thành cổ thụ. Từ miệng niệm đến tâm niệm rồi thần niệm, câu Phật hiệu từ ngoài nghe vào nay từ tâm phát ra, là lúc hành giả xoay được sự nghe vào trong, xoay cái nhìn vào bổn tánh. Có người một mình niệm Phật mà ngỡ trăm người cùng niệm, rầm rập như sóng vỗ bờ; như hàng trăm bước chân nhịp nhàng hùng dũng tiến đến, vọng tưởng không kinh hồn bạt vía biến mất còn dám trụ lại đối đầu? Có người ngồi niệm mà như đang trụ giữa hư không, dàn đồng ca “A Di Đà Phật” vang vang dội xuống. Những người khác lại vô niệm mà niệm, niệm mà tâm tuyệt tĩnh yên vắng. Lại có người khởi được Phật hiệu cả trong giấc mơ…

Bản thân tôi chưa thực hành được chút xíu so với những loại công phu đó. Vốn học mót từ ân đức chư tổ và bậc chân tu lặng lẽ giấu mình chờ thời hóa độ, những lời viết ra chỉ là cảnh tỉnh bản thân đang ở trong vòng nguy hiểm luôn có nguy cơ bị đọa vào ác đạo mà thôi.

H.D
Tạo bài viết
18/12/2015(Xem: 8583)
16/01/2016(Xem: 6722)
06/10/2016(Xem: 7176)
Penang - hòn đảo xinh đẹp đậm đà nét văn hóa độc đáo của đất nước Malaysia ( Mã Lai), một trong những điểm đến lý tưởng nhất trên thế giới trong những ngày này đã đón tiếp hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử từ các châu lục gồm 30 quốc gia về tham dự Đại Hội Tăng Già Phật Giáo Thế Giới (The World Buddhist Sangha Council - WBSC) lần thứ 10. Khách sạn Equatorial là địa điểm chính, nơi diễn ra suốt kỳ đại hội lần này từ ngày 10 đến 15.11.2018.
Cộng đồng những đạo hữu của Ngôi Chùa Phật giáo ở Quận Cam (Orange County Buddhist Church – OCBC) trở nên càng lúc càng đa dạng về chủng tộc, và một số cho rằng nguyên nhân là những tương đồng với Thiên Chúa giáo.
Hận Thù không thể chấm dứt bằng hận thù. Chỉ có tình thương yêu (lòng từ bi) mới xóa bỏ được hận thù. Đó là định luật ngàn thu (Photo: Ty Lohr, York Daily Record)