Những bài pháp thoại trong ba tháng an cư (11)

10/09/201511:01 SA(Xem: 5426)
Những bài pháp thoại trong ba tháng an cư (11)

blank

    

23- Ngày Thứ 23 (Bài thứ 11)

- Chiều ngày 9/7/ÂL.

Huyen_Khong_Son_Thuong_03Có người viết về thiền, dạy về thiền nói rằng: “Quán chiếu mọi sự, mọi vật vô thường, vô ngã...!”

Có phải vậy không? Nói thế có đúng chăng?

Ồ, mới nghe qua tưởng là đúng! Nhưng thật ra, nó sai lầm hoàn toàn. Xin thưa, mọi sự, mọi vật quán chiếu để làm gì? Mọi sự, mọi vật xung quanh ta, kể cả trăng sao, trời đất, vạn hữu... chúng vận hành theo định luật tự nhiên của nhiên giới. Chúng phải có thành, trụ, hoại, không. Chúng phải có sanh, trụ, dị, diệt. Chúng phải có ngày đêm, mùa tiết tuần hoàn chuyển đổi. Chúng phải mưa nắng, lá xanh, lá vàng. Chúng phải có khi mát mẻ, lúc nóng nực. Có phải thể không? Cái vô thường, vô ngã của vạn hữu ấy, đức Phật có mặt hay không có mặt chúng vẫn vận hành tự nhiên. Và Đại bồ-tát đản sanh, giác ngộ dưới cội bồ-đề không phải là để giải quyết cái vô thường, vô ngã của vạn hữu. Đấy là cái sự thật, là luật tắc muôn đời không ai có thể thay đổi được. Vả lại, nếu khôngvô thường vô ngã của mọi sự mọi vật thì tam thiên thế giới này sẽ diệt vong, một hạt cát, một mảy vi trần cũng không tồn tại!

Đức Phật không quán chiếu mọi sự, mọi vật mà ngài chỉ quán chiếu ngũ uẩn, thập nhị nhân duyên... trong tương quan, liên đới căn-trần-thức để phanh lần nguồn gốc của khổ đau. Thấy khổ mới tìm ra nguyên nhân khổ; và muốn diệt khổ phải có con đường diệt khổ. Như vậy, Tứ Diệu Đế nói lên toàn bộ giáo pháp của đức Chánh Đẳng Giác.

Vậy thì khi nói vô thường, vô ngãchúng ta phải quán chiếu, minh sát sự duyên khởi của căn-trần-thức, không có trong, không có ngoài, vì cả trong cả ngoài đều cùng duyên khởi, tương sanh. Đấy là cách nói khác của thiền Tứ Niệm Xứ thân, thọ, tâm, pháp. Người hành thiền định là cốt để cho tâm yên lặng, là cốt làm cho 5 triền cái lắng dịu. Khi 5 triền cái lắng dịu rồi, ta mới ngắm nhìn sắc thân, cảm thọ, tâm và pháp rõ ràng, chân thực hơn. Chúng đều vô thường, vô ngã; và vì chúng sanh không thấy rõ sự thật duyên khởi ấy, vô thường, vô ngã ấy nên mới đưa đến khổ. Chính chúng tạo tác lăng xăng khi lạc, khi khổ, khi vui, khi buồn, khi ghét, khi yêu, khi thương, khi hận, khi đố kỵ, khi ganh tỵ... mới là vấn đề, là nguyên nhân của sinh tửluân hồi. Sinh tửluân hồi từ tâm niệm của chúng ta! Luân hồi, sinh tử ấy có gốc từ vô minh, vô minh sinh hành, hành sinh thức, rồi lục nhập, xúc, thọ, ái thủ hữu, sinh, lão tử, sầu bi ưu não... Phải minh sát rốt ráo, tận căn sự vận hành duyên khởi luân hồi vô tận nầy mới chấm dứt, diệt tận tất cả khổ được. Cắt lìa được một khoen thì toàn bộ 12 khoen không kết dính với nhau được.

Đây mới là chánh pháp. Đây mới là con đường duy nhất, độc lộ, độc đạo đưa đến chánh trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Trở lại với buổi thiền tập hôm nay. Ta phải thấy rõ sự quan trọng của tâm yên lặng, của 5 triền cái yên lặng. Tâm chưa yên lặng, 5 triền cái chưa yên lặng thì ta chưa minh sát được. Đếm hơi thở vài ba số liền quên thì làm sao mà nói thiền? Theo dõi hơi thở 5, 7 lần thì nó vọt chạy đi đâu mất sao gọi là thiền? Không chịu gia công nỗ lực, cứ để cho cái tâm hoang dã chi phối thì uổng phí thì giờ xiết bao? Nội lực yên lặng tâm, yên lặng trí là tiền đề, là cơ sở, là lập cước cho mọi bước đi của định và tuệ, là đôi cánh hướng đến chân trời của giải thoát, của tự do!

Niệm, niệm, chuyên niệm... là việc làm duy nhất của tất cả chúng ta hôm nay! Trong trường hợp này, đừng nghe ngài Huệ Năng nói: “Vô Niệm, niệm thành chánh; hữu niệm, niệm thành tà!” Ngài Huệ Năng nói vô niệm với nghĩa khác đấy, là cách nói khác của “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà thầy đã dặn lui dặn tới từ khi bắt đầu vào ngồi, là để tâm rỗng rang, trong sáng đó!

- Tối ngày 9/7/ÂL

Có người than phiền là: “Sao không để cho cái tâm được tự nhiên, hồn nhiên như nhiên mà bắt phải như thế này, bắt phải như thế kia? Tại sao lại phải bắt ép cái tâm đi vào trong những khuôn khổ, quy định, phạm trù như vậy?”

Đừng than phiền khi bị câu thúc, trói buộc trong số đếm, trong hơi thở, các con ạ! Con trâu của chúng ta đang trong giai đoạn bị xỏ mũi, buộc giàm kia mà! Nếu không câu thúc, trói buộc trong giới thì cứ để mãi cho cái tâm hoang dã, con trâu hoang dã muốn làm gì thì làm hay sao? Hãy thử tưởng tượng cái tự nhiên như nhiên của cái tâm hoang dã đang có mặt giữa cuộc đời đấy: Ưa chém, cứ chém! Ưa hiếp, cứ hiếp!... Kinh khủng chưa? 

Các con cũng đừng xem hình ảnh ông sư vô ngại“thõng tay vào chợ”hành trạng đai bi của chư vị bồ-tát! Cái đó bụi bặm lắm! Cái đó mang hơi hướm đạo sĩ! Hoặc nửa đạo sĩ nửa nghệ sĩ thuộc văn hoá bản sắc Tàu. Cái đó không phải là hình ảnh thiêng liêng phạm hạnh của những sa-môn vào làng ôm bát xin ăn trong giáo pháp chánh truyền: “Như ong kiếm tí mật thôi. Nhuỵ hương chẳng hại, lá chồi cũng không. Khẽ khàng chút nhuỵ lót lòng. Bậc thánh, cũng vậy, thong dong vào làng!”

Vậy khi các con chưa biết bơi thì đừng có nhảy xuống biển cứu người. Chưa có chút tuệ nào thì đừng có nóng lòng rêu rao thắp sáng nhân loại tối tăm. Chưa biết phủi bụi cho chính mình mà đòi làm Như Lai sứ giả! Chưa hề tu tập bốn vô lượng tâm mà cứ đòi từ bi cứu độ chúng sanh! Chưa có pháp bảo vệ mình mà cứ đòi bảo vệ chánh pháp!

Vì những lý do ấy, các con đừng để cho những tư tưởng tự do, vô ngại đầu độc. Coi chừngtự do của bản năng nguyên thuỷ đấy! Chúng ta còn ngại nhiều thứ lắm chứ chưa vô ngại được đâu. Đừng tự huyễn hoặc mình, quyến dụ, ru ngủ mình bởi những tữ ngữ cao siêu mà không ích dụng, không có ý nghĩa thiết thực cụ thể. Văn chương chữ nghĩa, văn học thiền có thể rất hay, nhưng là để nói cho vui thôi. Nói với ý nghĩa hàm dụ! Ví như: “Nhập lâm bất động thảo, nhập thuỷ bất lập ba!” Hay quá đi chứ! Vào rừng không động cỏ, vào nước không dậy sóng! Tuyệt! Nó hàm dụ cái tâm vô vi, vô hành, vô tác, vô cấu, vô nhiễm... đó! Nhưng chúng ta đang là phàm phu mắt thịt, chân dẫm trần ai, mắt rây bụi đỏ - rõ ràng là ta vào rừng phải động cỏ, ta vào nước thì sóng nó dậy lên! Phải thế chăng? “Vào chơi ngục lửa mắt hun khói. Đến viếng nhà lan, áo dính hương”. Đấy là sự thật. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Hãy lựa chọn chỗ đi, chỗ đến. Chưa có áo giáp của giới thì đừng có ngã mạnrong chơi giữa thế gian ngũ trược. “Đi với Phật mặc áo cà-sa, đi với Ma mặc áo giấy!” Câu ấy của ai? Họ khen hay họ chê những kẻ linh động học cách biến màu như chú tắc kè?

Hãy ghi nhớ đây! Đức Đạo Sư của chúng ta, đêm ba canh chỉ nằm nghỉ nghiêng lưng nửa canh, ngày sáu khắc đâu có thèm sống tự do, tự tại, vô ngại? Bao giờ ngài cũng trang nghiêm thân, trang nghiêm giới để giáo hoá sinh quần. Chư thánh tăng thời Phật đều y như vậy cả. Tự do, vô ngại đích thực, hạnh phúc đích thực phải như câu thiền ngôn minh triết của ngài Viên Minh, nói được tâm và tuệ của bậc giải thoát:Tự doung dung trong ràng buộc. Hạnh phúctự tại giữa khổ đau”. Nghe thủng chưa?

Còn nữa. Đừng để cho những triết thuyết hiện sinh chủ nghĩa tung khói bụi ô nhiễm trên bầu trời tâm thức. Đừng để cho những hình ảnh thiền ôm, thiền nhảy, thiền múa, thiền ca, thiền hát, thiền bắt ấn, thiền đuổi quỷ trừ tà, thiền núi, thiền biển, thiền quán chợ đầu đình... len lỏi vào trong những sát-na tập thiền nghiêm túc của chúng ta.

Thiền của chúng ta đang tu họcthiền của Phật, thiền Nguyên thuỷ, là thiền bảo nguyên... nó “khô như ngói” chứ không ướt át mát mẻ như một số thiền hiện đại! Lại càng không phải là các loại thiền hét, thiền gậy, thiền trợn mắt; hoặc là thiền tuỳ nghi phát triển, là thiền của ông sư này, của bà sư nọ, của phái này, của phái khác...

Nó cũ xưa nhưng lại như nắng sớm! Nó mới mẻ như thực tại hiện tiền ta đang thở đây, đang hít bây giờ đây!

Hít và thở đi!

Thực tại hiện tiền, thiết thực hiện tại (sandiṭṭhiko) đấy!

MỤC LỤC


Chú thích riêng:
Phần tô mầu là do người phụ trách post bài thực hiện


Tạo bài viết
18/12/2015(Xem: 7782)
16/01/2016(Xem: 6112)
06/10/2016(Xem: 6091)
Chùa Hương Sen hôm cuối tuần đã nhận một món quà tặng quý giá: 120 thùng sách Phật học. Đó là toàn bộ thư viện Phật học của Cư sĩ Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả lưu giữ trong nhiều thập niên tu học, hoạt động.
Khi 12 chàng trai trẻ Thái Lan bị mắc kẹt trong một hang động và được giải cứu từng người một được phát hiện đầu tiên bởi các thợ lặn người Anh cách đây một tuần, được báo cáo là đang thiền định.
Đản sinh, là nói chuyện Đức Phật đản sinh. Đặc khu, là nói chuyện thị trấn Lumbini, nơi Đức Phật ra đời, và cũng là nơi một giáo sư Bắc Kinh bỗng nhiên “khám phá” rằng Lumbini thời xa xưa là một đặc khu của triều đình Thục Vương của Trung Hoa cổ thời. Nghĩa là, lịch sử Phật giáo sẽ bị một vài giáo sư TQ viết lại...