Từ bi trong đạo Phật

02/12/20154:46 CH(Xem: 2937)
Từ bi trong đạo Phật

TỪ BI TRONG ĐẠO PHẬT
Thích Nhật Từ


tu bi trong dao phatVào ngày 28/11/2015, TT. Thích Nhật Từ đã có buổi chia sẻ với đề tài: Từ bi trong đạo Phật tại chủng viện Phanxicô, nơi đào tạo 200 chủng sinh và tu sỉ của Thiên Chúa giáo. Nhân đây, BBT xin giới thiệu dàn bài sơ lược về chủ đề này do TT. Thích Nhật Từ biên soạn.

I. KHÁI NIỆM

1. Vị trí

- Hai trong bốn tâm cao thượng (P.appamaññā) hoặc bốn phạm trú (Brahma-vihāra"divine abodes"). Hai tâm còn lại là tâm hoan hỷ (Muditā)tâm buông xả (Upekkhā). (D.II.196; D.III.220; Dhs. 262; Vism.320).

- Yếu tố 9 trong trong mười toàn thiện (P.pāramī, S. ), dẫn đến sự giác ngộ (Bodhi), chứng đắc Phật quả (Buddhahood).

- Mười toàn thiện: (i) Tặng biếu (dāna), (ii) Đạo đức (Sīla), (iii) Xuất gia (Nekkhamma), (iv) Trí tuệ (Paññā)(v) Tinh tấn (Viriya), (vi) Kiên trì (Khanti), (vii) Chân thật (Sacca), (viii) Quyết định (Adhiṭṭhāna), (ix) Tâm từ (Mettā), (x) Buông xả (Upekkhā).

2. Ngữ nghĩa

(i) Bi tâm (Karuṇā): Đau xót trước khổ đau của chúng sinh, muốn chúng sinh hết khổ đau, bất hại, không làm khổ chúng sanh. Dịch từ trong tiếng Anh: Compassion.

(ii) Từ tâm (Mettā): Vô sân, không nóng nảy, không bực phiền; tâm mát mẻ, thiện cảm với chúng sanh, mong tất cả được an lạc.

- Dịch từ trong tiếng Anh: loving kindness, universal love, benevolence, friendliness.

- Tâm từ (P. mettā, S. maitrī): Lòng tốt (goodwill) và sự tử tế (kindness) vô điều kiện. Tình thương tử tế (Loving-kindness).

3. Điều kiện: (i) Vô ngã, (ii) Vị tha, (iii) Hiểu biết, (iv) Tha thứ, (v) Buông xả, (vi) Phụng sự.

II. CÁC PHƯƠNG DIỆN CỦA TỪ BI

1. Từ bi bằng hành động # Từ bi thuần túy (pure compassion).

- Từ bi bằng tư duy, từ bi bằng lời nói, từ bi bằng hành vi => quan tâm, giúp đỡ, giải quyết vấn nạn, mang lại an vui.

- Bản Sớ giải giải thích từ bi gồm 5 hành động khẩu và thân và 3 hành động tâm không tổn hại:

(a) tránh và không làm phiền nhiễu (harassment);
(b) tránh và không công kích (offensiveness);
(c) tránh và không tra tấn (torturing);
(d) tránh và không hủy diệt (destructiveness);
(e) tránh và không làm phật ý (vexing);
(f) Mong chúng sinh được thân thiện, không thù địch nhau;
(g) Mong chúng sinh được hạnh phúc, thanh bình;
(h) Mong chúng sinh được phúc lợi, không sầu khổ.

2. Quán tình huyết thống:

- Tất cả chúng sinh đều đã từng là người thân và bạn bè của ta trong các kiếp quá khứ.

- Hại người khác ở hiện tại là đang hại người thân quá khứ của chính mình.

- Cảm thông nỗi đau của chúng sinh, quan tâm, giúp đỡ, cứu vãn, tìm giải pháp dứt điểm.

III. THỰC TẬP TÂM TỪ

Giải thoát tâm bằng từ bi (P. mettācetovimuttithe liberation of the heart by benevolence)

- Thực tập từ bi mang lại tự do của tâm (metta practice leads to freedom of mind).

- Từ bi xóa bỏ hận thù. Hận thùcảm xúc hủy hại. “Khi thoát khỏi hận thù, đó là giải thoát tâm bằng từ bi” (For this is the escape from ill-will, that is to say, the freedom of mind wrought by universal love) (D. III. 234).

1. Kinh Tăng chi(A. ii.7)

Đối tượng thụ hưởng tâm từ bi: (i) Bản thân, (ii) Thân quyến, (iii) Bạn tốt, (iv) Người trung tính, (v) Người khó chịu, (vi) Kẻ thù, (vii) Toàn thế giới.

- “Này các đệ tử, ta biết rằng không có gì hơn được ‘giải thoát tâm bằng từ bi’, theo đó tâm sân chưa khởi lên sẽ không xuất hiện, tâm sân đã khởi lên sẽ bị trừ diệt.”

2. Karaniya Metta Sutta (Sn 1.8)

- Đối tượng: yếu hay mạnh, nhỏ hay lớn, tế hay thô, thấy được hay không thấy được, gần hay xa, người hay vật

- Trong hạnh phúcan toàn, mong chúng sinh bình an, trong đi, đứng, ngồi, nằm

- Làm lợi ích chúng sinh như “từ mẫu” bảo vệ sự sống của đứa con duy nhất bằng tâm từ vô hạn

- Không lừa dối, không giận dữ, không sát hại, không lười biếng, không thất niệm, không tà kiến, không vướng khoái lạc, không tái sinh.

3. Patisambhidamagga 2: Mục hướng dẫn về tâm từ (Mettākathā)

Phủ khắp 12 đối tượng và 10 phương

- Nội dung thiền: Cầu tất cả chúng sinh thoát khỏi: hận thù, bệnh tật, lo lắng và sống hài lòng (Sabbe sattā, averā abyāpajjā anīghā, sukhī attāna pariharantu)

- Năm đối tượng chung (anodhiso pharaṇā): (i) các chúng sinh (sabbe sattā ), (ii) các vật có sự thở (sabbe pāṇā bhāvapariyāpannā), (iii) các sinh vật (sabbe bhūtā bhāvapariyāpannā), (iv) mọi người (sabbe puggalā bhāvapariyāpannā), (v) tất cả với nhân cách (sabbe attabhāvapariyāpannā)

- Bảy đối tượng cụ thể (anodhiso pharaṇā): (i) tất cả phụ nữ (sabbā itthiyo), (ii) tất cả người nam (sabbe purisā), (iii) tất cả thánh nhân (sabbe ariyā), (iv) tất cả phi thánh nhân (sabbe anariyā), (v) tất cả chư thiên (sabbe devā), (vi) tất cả con người (sabbe manussā), (vii) chúng sinhcảnh giới thấp (sabbe vinipātikā)

- Mười phương (disā-pharaṇā):  (i) Đông, (ii) Tây, (iii) Bắc, (iv) Nam, (v) Đông Nam, (vi) Tây Nam, (vii) Đông Bắc, (viii) Tây Bắc, (ix) Thượng, (x) Hạ. 

IV. LỢI ÍCH CỦA THIỀN TÂM TỪ (Mettānisaṃsa): A.IV.150.

- Lợi ích: Không lừa dối (uju), chân thành (suju), dễ tu sửa (suvaco), nhẹ nhàng (mudu), không hung hăng (anatimānī)

 (i) Ngủ an lạc (sukhaṃ supati).

(ii) Thức giấc an lạc (sukhaṃ paṭibujjhati).

(iii) Không thấy ác mộng (Na pāpakaṃ supinaṃ passati).

(iv) Được mọi người thương mến (manussānaṃ piyo hoti).

(v) Được phi nhân (non-human beings) thương mến (amanussānaṃ piyo hoti).

(vi) Được thiên thần (deva) bảo hộ (Devatā rakkhanti).

(vii) Lửa, chất độc hoặc vũ khí không xâm phạm người từ bi (N'assa aggi vā visaṃ  satthaṃ vā kamati).

(viii) Chưa đắc quả vị cao thượng cũng sanh về cõi Phạm thiên (Uttariṃ appaṭi vijjhanto brahmalokūpago hoti).

Trong A.V.342, lợi ích tâm từ gồm 11 điều, ba điều thêm là: (ix) Định tâm đạt nhanh, (x) diện mạo trong sáng, (xi) chết không hôn mê.

- Stanford University: Thực tập thiền từ bi (Benevolence meditation, compassion meditation, meditate in metta) 7 phút giúp ta tăng cường nối kết xã hội (social connectedness)

- University of North Carolina at Chapel Hill: Thiền từ bi tạo ra cảm xúc tích cực (positive emotions) và phúc lợi (well-being)

V. GIÁ TRỊ CỦA TỪ BI

Đặc điểm/ biểu hiện của tâm từ bi (Mettā bhāvanā)

(i) Đặc điểm chung: (a) Ứng xử bất bạo động (ahimsa), dứt trừ phẫn nộUd.128., (b) Thiết lập tình thân hữu, (c) Mang hạnh phúc cho tha nhân, (d) Nhiệt tâm vô tận (boundless warm-hearted feeling), (e) Kiên trì, (f) Đánh giá tốt người khác.

(ii) Bốn điều cảm hóa nhân tâm (Saṅgahavatthu): (a) Thích bố thí (dāna), (b) Ái ngữ (Piyavācā haypeyyavajja), (c) Lợi hành (Atthacariyā) tức tâm vị tha phục vụ, (d) Đồng sự (Samānattatā): dấn thân, hòa đồng, đồng đẳng, cộng vui cộng khổ. D.III.152,232; A.II.32,248;A.IV.218.363

(iii) Tránh được 4 loại thiên vị (agati): (a) Thiên vị do tình cảm (chandāgati), (b) Thiên vị do ác cảm (dosāgati), (c)  Thiên vị do thiếu hiểu biết (mohāgati), (d) Thiên vị do sợ/ áp lực (bhayāgati). D. III.182, 228; A. II.18.

(iv) Giải phóng được 4 điều kém thành đạt: (a) Tâm phẫn nộ (Kodhano), (b) Tâm ganh tỵ (Issukī), c) Tâm bỏn xẻn (Maccharī), d) Tâm thiếu hiểu biết (Duppañño). A.II.82.

VI. KẾT LUẬN

- Thái độgiải pháp của các lãnh đạo thế giới về vụ khủng bố Paris 13-11-2015, do IS gây ra, chết 129 người Nga và Pháp, 350 bị thương. Đối với Pháp đây là khủng bố tồi tệ nhất sau thế chiến II.

1. Tổng thống Vladimir Putin:

- “Tha thứ cho bọn khủng bố là việc của Chúa, nhưng tiễn chúng về với Chúa là việc của tôi' (To forgive them is up to God, but to send them to him is up to me), russia-insider.com, ngày 18-11-2015).

- "Chúng tôi sẽ truy lùng chúng bất cứ nơi nào mà chúng đang ẩn náo. Chúng tôi sẽ phát hiện ra chúng bất kỳ nơi nào trên địa cầu này và trừng trị chúng” (We will search for them everywhere wherever they are hiding. We will find them anywhere on the planet and punish them).

2. Đức Giáo hoàng Francis nói trên TV2000 ngày 14-11-2015 (the official network of the Italian Bishops' Conference): “một phần của thế chiến thứ ba” (piecemeal third world war).

- “Tôi thấy thương tâm và tôi rất đau lòng. Tôi không hiểu, nhưng những điều này thật là khó hiểu, làm sao mà con người có thể làm những việc [nông nỗi] này. Không có cái gì có thể biện hộ cho hành động này…. Tôi rất gần gũi với quần chúng Pháp, với gia đình của các nạn nhân và tôi đang cầu nguyện cho họ.”

“I am moved and I am saddened. I don’t understand, but these things are hard to understand, how human beings can do this…. There are no justifications for these things… I am close to the people of France, to the families of the victims, and I am praying for all of them,” (bản dịch English của Vatican's official radio station)

3. Đức Dalai Lama 14 trả lời với đài Deutsche Welle,16.11.2015:

- Không thể giải quyết khủng bố bằng cầu nguyện

"Chúng ta không thể giải quyết vấn đề nầy [khủng bố Paris] chỉ bằng cầu nguyện. Tôi là một Phật tử và tôi tin vào sự cầu nguyện. Nhưng chính con người đã tạo ra vấn nạn nầy, rồi bây giờ lại xin Chúa giải quyết nó. Thật không logic chút nào. Chúa sẽ nói rằng các ngươi hãy tự giải quyết lấy vì chính các ngươi đã tạo ra nó mà”.

 (We cannot solve this problem only through prayers. I am a Buddhist and I believe in praying. But humans have created this problem, and now we are asking God to solve it. It is illogical. God would say, solve it yourself because you created it in the first place.)

- Đức Dalai Lama 14: “Chúng ta cần một cách tiếp cận có tính hệ thống để xiễn dương những giá trị nhân bản, nguyên lý về tính nhất như và sự hòa hợp. Nếu chúng ta bắt đầu bây gi, thì hy vọng rằng thế kỷ nầy sẽ khác với thế kỷ trước. Vì lợi ích của tất cả mọi người. Hãy xây dựng hòa bình từ trong mỗi gia đìnhxã hội chúng ta, và đừng trông chờ vào sự trợ giúp của Chúa, của Phật hay của những chính phủ”.

"We need a systematic approach to foster humanistic values, of oneness and harmony. If we start doing it now, there is hope that this century will be different from the previous one. It is in everybody’s interest. So let us work for peace within our families and society, and not expect help from God, Buddha or the governments.”

-  “Ngoài ra, những vấn đềchúng ta đối diện hôm nay là kết quả của những khác biệt hời hợt về niềm tin tôn giáoquốc gia. Chúng ta là một dân tộc mà”. (Furthermore, the problems that we are facing today are the result of superficial differences over religious faiths and nationalities. We are one people.)


Bài đọc thêm:
Kinh Từ Bi (Metta Sutta) (Thích Thiện Châu)
Kinh Từ Bi (Metta Sutta) - Song Ngữ Việt Và Anh (Thích Thiện Châu)
Kinh Từ Bi (Thích Nhất Hạnh)


Tạo bài viết
18/12/2015(Xem: 7308)
16/01/2016(Xem: 5717)
06/10/2016(Xem: 5265)
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.