3. Truyện

28/01/20173:05 SA(Xem: 748)
3. Truyện
TUYỂN TẬP 1 & 2
của cư sĩ Hạnh Cơ
Tác giả đánh máy và trình bày trang sách
Cư sĩ Tịnh Kiên đọc và sửa chữa bản thảo
Hoàng Hậu Thái Châu (Calgary)
xuất bản năm 2014

3. TRUYỆN   

Bậc Đạo Sư Cao Cả   
Hiếu Tâm của Đức Phật           
Bồ Tát Quán Thế Âm   
Tì Kheo Ni Pháp Dữ         
Hầm Lửa Hóa Thành Ao Sen   
Vua Ba Tư Nặc Qui Y   
Đại Sư Khương Tăng Hội   
Đại Sư Đạo An   

BẬC ĐẠO SƯ CAO CẢ

(Lược truyện đức Phật Thích Ca Mâu Ni)

 

 

Cách nay hơn 26 thế kỉ, tại phía Nam chân núi Hi-mã-lạp(1) của miền cực Bắc bán đảo Ấn-độ, có một vương quốc nhỏ tên là Thích-ca(2), đương thời được trị vì bởi quốc vương Tịnh Phạn Cồ Đàm và hoàng hậu Ma Ha Ma Da(3). Kinh đô của vương quốc là thành Ca-tì-la-vệ. Cả quốc vương và hoàng hậu đều là những bậc đức hạnh, nhân từ, nhưng về đường con cái thì thật là hiếm muộn.

Mãi đến khi ngoài bốn mươi tuổi, một buổi sáng trời trong mát, sau giấc ngủ an lành, hoàng hậu đã thức dậy trong niềm hân hoan khó tả. Rõ ràng là tiếng hát ca chúc tụngnhạc trời êm dịu vẫn còn đang vang vọng trong tai bà. Với niềm vui đầy ắp trong lòng, hoàng hậu đến ngay tẩm điện của đức vua để kể cho ngài nghe niềm vui ấy, để ngài cùng chia sẻ với bà. Hoàng hậu kể rằng, trong đêm qua, bà nằm mơ thấy một con voi trắng sáu ngà, từ trên trời đi xuống, có tiếng hát chúc tụng của chư thiên, có hương thơm ngào ngạt. Con voi đến sát hông bên phải của bà, rồi chui mất vào trong bụng bà. Bà không hề sợ hãi, mà cảm thấy thanh thản vô cùng, và bà đã thức giấc trong niềm vui thanh thản đó... Thật là một giấc mơ kì diệu! Nghe giấc mộng của hoàng hậu, đức vua cũng cảm thấy hân hoan vô hạn.

Ngay sáng hôm đó, đức vua đã cho mời các vị đạo sĩ Bà-la-môn nổi tiếng trong kinh thành, vào hoàng cung để đoán mộng. Họ đều tâu: Đây là điềm hoàng hậu thọ thai và về sau sẽ sinh một vị hoàng nam lỗi lạc. Vua và hoàng hậu đều vui mừng khôn xiết, bèn truyền lệnh mở kho tổ chức cứu tế cho những thần dân bệnh tật và nghèo khó trong nước, làm cho ai ai cũng cảm thấy ấm áp trong tình thương yêu đùm bọc của bậc cha mẹ muôn dân.

Gần đến ngày sinh, theo tục lệ của Ấn-độ thời đó, hoàng hậu phải về quê hương mình ở kinh thành Lam-mạt(4) của vương quốc Câu-lị để sinh nở. Từ Ca-tì-la-vệ về Lam-mạt chỉ mất chừng một ngày đường đi xe ngựa.

Đó là một buổi sáng mùa xuân thật đẹp, hoàng hậu và đoàn tùy tùng đã rời Ca-tì-la-vệ rất sớm để về quê. Ra đến vùng ngoại ô kinh thành, bà cảm thấy hơi mệt, nên ghé vào vườn Lâm-tì-ni nghỉ chân. Buổi sáng trời trong tươi mát, muôn hoa đang lúc nở rộ đầy vườn, chim hót rộn rã vang lừng, tất cả như đều lộ vẻ tươi vui, hân hoan đón mừng bậc mẫu nghi hiền đức. Hoàng hậu cũng cảm thấy niềm vui dâng lên tràn ngập trước cảnh thiên nhiên mầu nhiệm ấy. Bà bỗng chú ý tới cây Vô-ưu ở giữa vườn, hoa đang nở rực rỡ đầy cành, vẻ tươi đẹp nổi bật hẳn lên giữa vườn hoa vốn đã tươi đẹp. Bà khoan thai bước tới gần. Nhưng bỗng dưng bà thấy người hơi lảo đảo. Bà vội nắm chặt lấy một cành Vô-ưu để đứng được vững hơn; liền lúc ấyhạ sinh thái tử. Hôm đó là ngày trăng tròn tháng thứ hai theo lịch Ấn-độ(5) (nhằm ngày trăng tròn tháng 5 dương lịch, tức ngày Rằm tháng Tư lịch Việt-nam), năm 624(6) tr. TL.

Hoàng hậu và thái tử liền được đưa ngay trở lại Ca-tì-la-vệ để được săn sóc kịp thời. Được tin cấp báo, vua Tịnh Phạn vui mừng không xiết kể, lập tức vào thăm ngay. Thái tử được đặt tên là Tất Đạt Đa Cồ Đàm(7).

Sự ra đời của thái tử đã là niềm vui lớn cho cả vương triều và thần dân khắp vương quốc. Vua Tịnh Phạn cho mời các đạo sĩ Bà-la-môn thông thái nhất vào cung để xem tướng cho thái tử. Họ đều đoán rằng, thái tử sau này sẽ trở thành một vị hoàng đế vĩ đại nhất thế gian, cai trị cả bốn phương thiên hạ; nhưng một vị lỗi lạc nhất trong số ấy đã quả quyết rằng, thái tử sau này sẽ xuất gia và thành bậc chánh giác.

Bấy giờ có một vị đạobác học đa văn tên là A Tư Đà(8), từ một vùng núi xa xôi, nghe tin thái tử giáng trần, cũng tức tốc tìm đến kinh thành Ca-tì-la-vệ để xin được xem tướng cho thái tử. Sau một lúc nhìn thái tử chăm chú, bỗng nhiên ông bật khóc. Cử chỉ lạ lùng ấy của đạo sĩ A Tư Đà đã làm cho đức vua sửng sốt, không biết tai họa gì sẽ xảy đến cho thái tử đây! Nhưng đạo sĩ đã kịp thời trấn an đức vua. Ông lau nước mắt tâu: “Tâu bệ hạ! Thần khóc không phải vì có điềm gì xấu, mà vì tủi cho số phận của thần! Thần biết rõ, thái tử sau này sẽ không làm vua, mà sẽ đi tu và trở thành một bậc đạo sư cao cả, trí tuệ vẹn toàn, thấu suốt mọi lẽ huyền vi của vũ trụ. Tình thương của Ngài thật bao la, coi tất cả chúng sinhthân tộc, và lấy việc truyền bá chân lí làm sự nghiệp cứu độ muôn loài. Thần khóc là vì thần sẽ không còn sống được bao lâu nữa để được nghe lời dạy từ miệng bậc trí tuệ siêu phàm. Quả là phúc lớn cho bệ hạ! Phúc lớn cho vương quốc! Và phúc lớn cho nhân loại!” Nói xong, ông cáo từ lui gót.

Sau khi sinh thái tử được bảy ngày thì hoàng hậu Ma Da băng. Vua Tịnh Phạn bèn giao thái tử cho bà di mẫu (mà cũng là kế mẫu) của thái tử là hoàng hậu Ma Ha Ba Xà Ba Đề (cũng gọi là Kiều Đàm Di) nuôi dưỡng và dạy dỗ thành người.

Đức vua hết sức lưu tâm đến việc giáo dục cho thái tử. Các danh sư Bà-la-môn tiếng tăm lừng lẫy đã được mời vào cung để dạy học. Thái tử cực kì thông minh, các môn triết, văn, lí, số, và cả võ nghệ, môn nào cũng học mau chóng, xuất sắc, trội hẳn các vị vương tử khác trong triều, làm cho các vị giáo sư đều kinh ngạc và bái phục.

Năm chín tuổi, thái tử được theo phụ vương đi dự lễ cày ruộng đầu năm (tức lễ “hạ điền”). Chính trong buổi lễ này, thái tử đã chứng kiến thảm cảnh con người phải đổ bao mồ hôi nước mắt để có miếng ăn; trâu bò vừa phải kéo cày, vừa phải chịu những lằn roi đau điếng trên lưng; những con trùn bị lưỡi cày cắt đứt nhiều đoạn, đau đớn quằn quại trên luống cày; các loài chim thú rình rập, cắn xé ăn thịt nhau... Đây là lần đầu tiên thái tử thấy tận mắt, và cảm nhận được nỗi đau khổ của đời sống, và bắt đầu tư duy về cuộc đời từ thuở ấy. Cái quang cảnh đó, sự tư duy đó sẽ giúp thái tử thật nhiều sau này, khi Người quyết tâm ra đi tìm đạo giải thoát.

Cũng trong năm ấy, một hôm thái tử đang thơ thẩn một mình trong vườn ngự, thì có một con ngỗng trời từ trên không rơi xuống trước mặt, với một mũi tên ghim xuyên qua cánh. Nó nằm giãy giụa trên đất có vẻ đau đớn lắm. Thái tử bèn chạy đến ôm nó lên để cứu chữa. Thình lình, người em chú bác của thái tử là vương tử Đề Bà Đạt Đa(9) xuất hiện với cung tên trong tay. Vương tử đòi thái tử phải giao trả con chim lại cho chàng, nhưng thái tử từ chối. Vương tử nói là chim do mình bắn được; thái tử thì bảo chim do mình cứu sống nên có quyền giữ nó. Một bên viện dẫn hành vi ác độc của mình để giành quyền làm chủ; một bên thì viện dẫn tình thương yêu bảo bọc để giành quyền làm chủ. Cuộc tranh chấp đó giữa hai người, cuối cùng phải nhờ đến triều đình phân xử. Và thái tử được thắng cuộc, được quyền giữ con ngỗng trời. Thái tử vui lắm, vì khỏi phải giao con chim cho Đề Bà Đạt Đa. Thái tử biết chắc chắn, nếu giao cho Đề Bà Đạt Đa thì thế nào con chim cũng sẽ bị giết chết. Mấy ngày sau, thấy vết thương trên cánh chim đã lành, thái tử ôm nó ra giữa vườn, nói mấy lời trìu mến, rồi thả nó bay trở về với trời xanh bao la.

Càng lớn thái tử càng học giỏi. Ngoài những môn học thường thức về văn học, thiên văn, võ nghệ, thái tử còn đặc biệt chăm chú đến tư tưởng hàm chứa trong các kinh Vệ Đà, Phạm ThưÁo Nghĩa Thư(10) –tất cả đều là sản phẩm của đạo Bà-la-môn.

Thái tử quả là một thiếu niên thông minh xuất chúng. Tuy còn nhỏ tuổi, thái tử đã có những suy nghĩ chín chắn, sâu sắc đối với giáo lí Bà-la-môn. Càng đi sâu vào nội dung của các kinh điển trên, thái tử càng thấy rõ những điều vô lí, bất công hàm chứa trong giáo lí ấy. Bởi vậy, trong tâm tư thái tử đang có khuynh hướng không chấp nhận ba giáo điều căn bản của đạo Bà-la-môn(11). Thái tử cũng không thể chấp nhận cái trật tự xã hội với bốn giai cấp đầy bất công(12) đã được xây dựng bằng luật Mã Nỗ của Bà-la-môn. Từ những ý tưởng ấy, cộng với những hình ảnh đau thương đã mục kích trong ngày lễ hạ điền năm xưa, thái tử đã ấp ủ trong lòng một hoài bão, làm thế nào để tìm ra một con đường mới mẻ, có thể thay đổi cái truyền thống ứng xử bất công trong xã hội hiện tại, đồng thời giúp cho mọi người và mọi loài thoát khỏi những nỗi khổ đau, bất hạnh triền miên trong cuộc sống. Nỗi bận tâm đó đã làm cho thái tử thường có dáng vẻ trang nghiêm, nét mặt lúc nào cũng trầm ngâm tư lự.

Thấy thái độ ấy của thái tử, vua Tịnh Phạn cũng đoán biết được tâm ý thái tử đang nghĩ ngợi gì, cho nên rất lấy làm lo lắng. Đức vua nhớ tới lời tiên đoán năm xưa của đạo sĩ A Từ Đà, thì lại càng sợ sệt. Để đánh tan những ý tưởng “bất thường” trong tâm tư thái tử, đức vua cho tổ chức thường xuyên các cuộc vui như hòa nhạc, vũ hội, du ngoạn v.v..., cho thái tử vui chơi. Đức vua cũng khuyến khích thái tử và các vương tử thuộc bộ tộc Thích Ca chuyên cần luyên tập thể thao và võ nghệ, cốt làm cho ý chí của thái tử hăng say phấn chấn lên. Đồng thời, thái tử cũng được phụ vương hướng dẫn thực tập chính trị để sẵn sàng kế vị sau này. Và một việc vô cùng quan trọng khác là chuẩn bị cưới vợ cho thái tử. Với tất cả những việc làm đó, nhà vua đều nhằm tạo các mối dây ràng buộc quấn chặt thái tử, để tránh việc thái tử “có thể bỏ nhà đi tu” –như lời tiên đoán của đạo sĩ A Tư Đà.

Từ lâu, vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Kiều Đàm Di đều đã có ý cưới công chúa Da Du Đà La(13) làm chánh phi cho thái tử. Nàng là một vị công chúa nhan sắc diễm lệ, cốt cách đoan trang, dáng vẻ thùy mị, tính tình lại ôn nhu, giản dị, không kiêu kì, có lòng bao dung, hay thương người nghèo khó, bệnh tật. Theo hoàng hậu thì nàng chính là người xứng đáng và thích hợp nhất để làm vợ thái tử. Các vị hoàng thúc của thái tử, cũng như song thân của công chúa là vua Thiện Giác và hoàng hậu Cam Lộ của nước láng giềng Câu-lị, đều rất hoan hỉ về cuộc hôn nhân này.

Thế là đám cưới của thái tử Tất Đạt Đacông chúa Da Du Đà La đã được tổ chức trọng thể trong niềm hân hoan vô bờ của cả triều đình và dân chúng khắp vương quốc Thích-ca. Riêng vua Tịnh Phạn thì rất lấy làm thỏa mãn, vì tin tưởng rằng mình đã dùng được sợi dây tình ái để cột chân thái tử vĩnh viễn nơi vương cung.

Để làm cho niềm tin ấy càng thêm vững chắc, đức vua đã cung cấp cho thái tử đủ mọi thứ dục lạc của một đời sống đế vương. Ngài truyền dựng cho thái tửcông chúa ba tòa cung điện cao sang lộng lẫy: một cung để ở vào mùa nóng, một cung cho mùa mưa, và một cung cho mùa lạnh. Trong cung nào, kẻ hầu người hạ cũng đông đúc. Những buổi đàn ca xướng hát được tổ chức liên miên, bao nhiêu vũ nữ, nhạc công tài giỏi trong nước đều được tuyển dụng để thường trực giúp vui cho hai người. Và dĩ nhiên, đức vua rất hài lòng về cái công trình tuyệt hảo ấy của mình!

Nhưng không vì thế mà thái tử bị đắm chìm trong nếp sống xa hoa nhung lụa và uy quyền địa vị. Thái tử sống rất nhiều về nội tâm, lúc nào cũng tư duy về cuộc thế. Thái tử nhận thấy, cuộc sống hạnh phúc mà mình đang có, chỉ là cái hạnh phúc tạm bợ, giả dối. Có một động lực nào đó, cứ thôi thúc thái tử phải đi tìm một nếp sống hạnh phúc chân thật. Bên cạnh đó, công nương Da Du Đà La quả là một người vợ hoàn toàn tâm đầu ý hợp của thái tử. Nàng là một người đầy lòng nhân hậu và cực kì thông minh. Dù thái tử chưa dám đường đột thổ lộ điều gì, nhưng nhìn thấy dáng vẻ, cử chỉ của thái tử, nàng cũng hiểu được tâm sự ấy. Tuy không rõ rệt lắm, nhưng nàng cũng thấy được những ưu tư đang dằn vặt trong lòng thái tử. Không những hiểu được tâm ý chàng, công chúa còn tỏ ra ủng hộ ý chí của chàng. Nàng tin tưởng rằng, một người như thái tử, nếu quyết tâm tìm kiếm một con đường sáng, thì nhất định chàng sẽ thành công...

Thế rồi, nhân những lần ra khỏi hoàng cung để du ngoạn phố phường làng xóm đó đây, được trực tiếp nhìn thấy nhiều hơn nữa những thực trạng đau khổ của kiếp người như già nua, bệnh tật, chết chóc, thái tử càng thấy xót xa cho thân phận con người; và cái lực thôi thúc kia cũng càng lúc càng mạnh mẽ hơn. Giữa lúc đó thì hoàng tôn La Hầu La(14) ra đời. Ái tình đã là một sợi dây ràng buộc, vương vị là một sợi dây ràng buộc khác, và bây giờ đây, với cậu bé La Hầu La, thì lại thêm một dây ràng buộc khác nữa. Nhưng thái tử vẫn quyết tâm tháo gỡ những ràng buộc này.

Một hôm, khi vừa nhìn thấy hình bóng thanh thoát của một vị sa môn, thái tử liền cảm thấy tâm hồn rúng động. Trong phút chốc, chàng như thấy rõ con đường đi chính đáng của mình. Ý tưởng xuất gia tìm đạo giải thoát vụt sáng trong lòng thái tử.

Thái tử xin phép phụ vương đi xuất gia học đạo. Đức vua cương quyết chối từ, lại còn tìm mọi cách để ngăn chận, cản trở, không để cho thái tử ra đi. Nhưng ý chí đã quyết, nhân một đêm khuya trăng sáng, mọi người trong cung đều đã ngủ say, thái tử bảo người đánh xe trung thànhXa Nặc, thắng yên cương cho con ngựa Kiền Trắc, rồi hai thầy trò cùng yên lặng ra khỏi hoàng thành, giục ngựa thẳng về phương Nam. Thái tử đã cương quyết xa lìa vợ đẹp con yêu, cha mẹ họ hàng, từ bỏ nếp sống vương giả và cả một tương lai rực rỡ nơi cung vàng điện ngọc, để đi xuất gia tìm đạo giải thoát. Năm đó thái tử được 29 tuổi.

Thái tử phi ngựa suốt đêm không nghỉ, đến tảng sáng hôm sau thì đã vượt khỏi ranh giới vương quốc Thích-ca, tiến vào địa phận vương quốc Mạt-la. Sau khi vượt qua sông A-nô-ma thì thái tử dừng lại, xuống ngựa, lấy kiếm tự cắt tóc, rồi giao kiếm, áo bào và mớ tóc cho Xa Nặc đem về hoàng cung báo tin thái tử xuất gia cho đức vua mọi người biết. Xa Nặc đi rồi, thái tử đổi chiếc áo quí giá đang mặc trên mình để lấy tấm vải màu chàm của người thợ săn, khoác lên người, một mình đi vào rừng sâu... Từ đây, thái tử tự nguyện sống đời tu sĩ, biến mình thành sa môn Cồ Đàm, chấp nhận nếp sống kham khổ về vật chất, không tiền bạc, cửa nhà, đầu không đội nón, chân không dầy dép, chỉ có một quyết tâm dũng mãnh là tìm thầy học đạo.

Trước tiên sa môn Cồ Đàm theo học với các vị đạo sĩ lừng danh đương thời như A La Lam ở gần kinh thành Tì-xá-li của vương quốc Lê-xa, và Uất Đầu Lam Phất ở gần kinh thành Vương-xá của vương quốc Ma-kiệt-đà(15). Không bao lâu, Ngài đã thấu triệt giáo lí vi diệu nhất của các vị này, và chứng đắc quả vị cao nhất ngang bằng với họ, nhưng vẫn không thấy thỏa mãn, vì đó chưa phải là quả vị giải thoát rốt ráo, giác ngộ cùng tột, niết bàn tịch tịnh. Vì vậy, Ngài đã từ tạ các vị này ra đi, không theo học với vị đạo sư nào nữa, mà một mình nỗ lực để tự phát huy ánh sáng giác ngộ nơi chính bản tâm mình. Ngài dừng lại ở một khu rừng bên bờ sông Ni-liên, cạnh thôn Ưu-lâu-tần-loa, thuộc vương quốc Ma-kiệt-đà. Tại đây, cùng với năm vị đạo sĩ bạn hữu, Ngài đã thực hành phép tu khổ hạnh, tự khép mình trong nếp sống cực kì kham khổ, ròng rã gần sáu năm trường, hình vóc khô gầy, nhưng rồi vẫn không có một tia hi vọng nhìn thấy chân lí. Một ngày kia, Ngài suy nghĩ, lối tu khổ hạnh chắc chắn không đem lại lợi ích gì, mà còn làm cho mỏi mệt tinh thần, giảm suy trí tuệ. Ngài bèn dứt khoát từ bỏ lối tu ấy, cũng như trước kia Ngài đã từ bỏ nếp sống đế vương. Ngài quyết định dùng vật thực tối thiểu để giữ cho thân thểsức khỏe thì tinh thần mới sáng suốt được. Ngài lần ra bờ sông, thọ nhận bát sữa do một thôn nữ cúng dường. Sức khỏe hồi phục nhanh chóng, Ngài xuống sông Ni-liên tắm rửa, rồi trở lại rừng, tìm một gốc cây để bắt đầu cuộc phấn đấu mới. Năm người bạn cùng tu, thấy Ngài bỏ phương pháp khổ hạnh, bắt đầu ăn uống, cho rằng Ngài đã thối chí, trở lại con đường lợi dưỡng, bèn cùng nhau bỏ Ngài mà đi sang vườn Lộc-dã, phía Bắc thành Ba-la-nại thuộc vương quốc Ca-thi(16). Biết là họ đã hiểu lầm mình, nhưng sa môn Cồ Đàm vẫn giữ im lặng.

Còn lại một mình, Ngài quyết tâm tu tập thiền quán, vì, bằng những kinh nghiệm đã có của chính mình, Ngài nhận định rằng, chỉ có thiền quán mới là con đường dẫn đến giác ngộ. Với quyết tâm hạ thủ công phu, Ngài chọn một cây tất-bát-la to lớn, cành lá sum sê ở gần bờ sông để thiền tọa. Ngài lập lời thề mạnh mẽ, nếu không thấy được đạo giác ngộ thì nhất quyết sẽ không rời khỏi cội cây này.

Thế rồi, trải qua 49 ngày suy niệm chân lí, quán chiếu thực tại, cuối cùng, buổi khuya hôm ấy, khi sao mai vừa xuất hiện, thì tâm trí Ngài cũng chợt bừng sáng, màn vô minh che lấp tâm trí từ lâu đời, nay đã hoàn toàn bị quét sạch. Ngài đã dứt sạch mọi tham ái, ô nhiễm, chứng nhập thật tướng của vạn pháp. Ngài biết rõ là mình vừa tìm thấy được đạo lớn, thành quả giải thoát giác ngộ trọn vẹn từng ôm ấp bấy lâu, nay đã đạt được. Ngài đã trở thành một bậc “Tối Chánh Giác”, một đấng Toàn Giác, một đức Phật, trong thế gian không có ai sánh bằng, và cũng chưa có người thứ hai. Cây tất-bát-la từ đó cũng được gọi là cây bồ-đề. Năm đó Ngài được 35 tuổi đời.

Sau khi thành đạo, đức Phật đã lưu lại tại cây bồ-đề 49 ngày nữa để an hưởng sự tịnh lạc của hương vị giải thoát, và chiêm nghiệm lại những chân lí vừa khám phá được. Rồi Ngài quán sát căn tánh chúng sinh. Biết rằng đã đến lúc phải trở lại với xã hội loài người, phải cho bánh xe chánh pháp chuyển động để gieo rắc hạt giống giải thoát giác ngộ cho chúng sinh, Ngài bèn từ giã cây bồ-đề, từ giã dòng sông Ni-liên, từ giã thôn Ưu-lâu-tần-loa để ra đi. Khi biết được năm người bạn đồng tu với Ngài thuở trước, nay đang tu tập tại khu vườn Nai (Lộc-dã), Ngài bèn đi về hướng đó. Tại đây, Ngài đã nói pháp Bốn Sự Thật để hóa độ cho năm vị này đều chứng quả A-la-hán, giải thoát khỏi ba cõi. Họ là những vị tì kheo và cũng là những thánh tăng đầu tiên trong giáo đoàn của Phật; đó là các vị: Kiều Trần Như, A Thuyết Thị (Át Bệ, A Xả Bà Thệ), Bà Sa Ba (Thập Lực Ca Diếp), Ma Ha Nam (Ma Ha Nam Câu Li, Ma Nam Câu Li) và Bạt Đề. Chính nơi vườn Nai này, ngôi Tam Bảo đã xuất hiện lần đầu tiên ở thế gian: đức Thích Ca Mâu NiPhật Bảo, giáo pháp Bốn Sự ThậtPháp Bảo, và năm vị tì kheo là Tăng Bảo.

Cũng tại vườn Nai này, sau đó đức Phật đã độ cho vị công tử con nhà quyền quí ở thành Ba-la-nại là Da Xá, cùng 54 bạn hữu con nhà quyền quí khác của Da Xá đều trở thành những vị tì kheo chứng quả A-la-hán. Như vậy, trong vòng hai tháng đầu tiên sau ngày thành đạo, đức Phật đã có tổng cộng 60 vị đệ tử thánh tăng. Cha, mẹ và vợ của Da Xá cũng qui y, và trở thành những vị đệ tử tại gia đầu tiên của đức Phật đã thọ lễ qui y với đầy đủ Ba Ngôi Báu.

Với 60 vị A-la-hán đầu tiên của thế gian, đức Phật đã thành lập Giáo hội Tăng già –đó là giáo hội của những tu sĩ độc thân xưa nhất của lịch sử nhân loại, vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Nửa năm sau đó, khi nhận thấy quí vị tì kheo đã đạt được trọn vẹn về cả trí tuệ cũng như phạm hạnh, đủ tư cách của một người hành đạo để truyền bá chánh pháp, đức Phật đã quyết định gửi họ đi các nơi, đến tận các làng quê hẻo lánh, để truyền đạt giáo pháp mới mẻ ấy, để gieo rắc hạt giống giải thoát giác ngộ đến mọi người trong tình thương yêu bao labình đẳng. Do sự tận tụy, cần mẫn của các ngài, chẳng bao lâu, nhiều người trong hai vương quốc Ca-thi và Ma-kiệt-đà đã nghe biết về đức Phậtgiáo pháp của Ngài. Họ kéo nhau rất đông về vườn Nai để xin qui y tu học.

Đức Phật rất hoan hỉ đối với công việc hoằng pháp rất thuận lợitốt đẹp của các vị đệ tử. Sau đó, Ngài một mình ôm bình bát đi về thăm lại thôn Ưu-lâu-tần-loa ở nước Ma-kiệt-đà. Tại đây, Ngài đã hóa độ cho ba anh em đạo sĩ Ca Diếp (Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, và Già Da Ca Diếp) cùng một nghìn đệ tử của họ, đều trở thành tì kheo và đều chứng quả A-la-hán. Rồi Phật tiến về kinh thành Vương-xá. Vua Tần Bà Ta La (trị vì nước Ma-kiệt-đà) đã xin qui y Tam Bảo, trở thành vị đệ tử tại gia đầu tiên của Phật trong hàng vua chúa. Nhà vua đã xây tu viện Trúc-lâm gần thành Vương-xá để cúng dường Phậtgiáo đoàn. Đây là ngôi đạo tràng to lớn và qui mô đầu tiên được dâng cúng cho giáo đoàn làm nơi tu họchành đạo. Đó là năm thứ hai sau ngày Phật thành đạo. Trong thời gian này, đức Phật cũng đã thu nhận hai vị đệ tử lỗi lạc là các tôn giả Xá Lợi PhấtMục Kiền Liên. Mùa mưa năm đó, Phật và chúng tăng tổ chức an cư tại Trúc-lâm.

Truyền thống an cư của chúng tăng bắt đầu được thiết lập từ đó. Sau mùa an cư, đức Phật trở về thăm cố hương Ca-tì-la-vệ. Vua Tịnh Phạn, hoàng hậu Kiều Đàm Di, công chúa Da Du Đà La, hoàng tôn La Hầu La, các hoàng thân, vương tử, triều thần và nhân dân trong thành đều được Phật giáo hóa và thấm nhuần chánh pháp. Trong dịp này, người thợ cạo Ưu Ba Li, hoàng tử Nan Đà (em cùng cha khác mẹ của Phật), hoàng tôn La Hầu La, và các vương tử Đề Bà Đạt Đa, A Nan Đà, A Na Luật, v.v... đều theo Phật xuất gia. La Hầu La trở thành chú sa di đầu tiên và nhỏ tuổi nhất của giáo đoàn.

Phật giáo hóa ở vương quốc Thích-ca trong nửa năm, rồi trở về lại tu viện Trúc-lâm. Trong mùa an cư tiếp theo, đức Phật lại thu nhận một vị đệ tử lỗi lạc khác nữa là tôn giả Đại Ca Diếp, con một thương gia giàu có vào bậc nhất của nước Ma-kiệt-đà.

Sau mùa an cư này, đức Phật nhận lời thỉnh cầu của trưởng giả Cấp Cô Độc (tên thậtTu Đạt) lên mở đạo tràng hoằng hóa ở kinh thành Xá-vệ của vương quốc Kiều-tát-la. Tại đó, trưởng giả đã dùng vàng mua khu vườn của thái tử Kì-đà (con vua Ba Tư Nặc) để xây cất tu viện Kì-viên (tức là tu viện Cấp-cô-độc, hoặc Kì-thọ Cấp-cô-độc) dâng cúng cho Phật và giáo đoàn. (Kì-viên và Trúc-lâm là hai đạo tràng to lớn, qui mô và quan trọng nhất của giáo đoàn thời Phật tại thế; và trưởng giả Tu Đạt đã là vị thí chủ quan trọng nhất của giáo đoàn.) Nhờ có đạo tràng Kì-viên này mà vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu Mạt Lị của nước Kiều-tát-la đã trở thành những Phật tử thuần thành của Phật.

Năm thứ năm sau ngày thành đạo, đức phật về quê hương Ca-tì-la-vệ lần thứ hai trước khi vua Tịnh Phạn băng. Sau tang lễ của vua, đức Phật thu nhận lệnh bà Kiều Đàm Di, cùng một số đông mệnh phụ phu nhân trong dòng Thích Ca, làm đệ tử xuất gia phái nữ, thành lập giáo đoàn Tì-kheo-ni. Quí bà đều chứng quả A-la-hán. Ni sư Kiều Đàm Di được Phật ủy nhiệm làm ni trưởng để coi sóc ni chúng. Công nương Da Du Đà La cũng được Phật nhận cho xuất gia sau đó, và cũng chứng quả A-la-hán. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo Ấn-độ mà phái nữ được tham dự trực tiếp vào các sinh hoạt tôn giáo, và cũng là đoàn thể nữ tu sĩ độc thân đầu tiên của nhân loại mà ngày nay vẫn còn tồn tại.

Đến đây thì tiếng tăm của Phật đã vô cùng lừng lẫy, giáo đoàn của Ngài gồm đủ mọi thành phần xã hội, đủ mọi lứa tuổi, cả phái nam lẫn phái nữ, có mặt khắp mọi nơi, từ hang núi, rừng sâu, đến thôn quê, thành thị, không chỗ nào là không có chư tăng hành đạo. Trừ miền Nam Ấn-độ ra, còn thì các vương quốc từ miền Trung đến miền Bắc, từ miền Đông đến miền Tây, nơi nào cũng có đạo tràng tu họchành đạo của giáo đoàn. Cứ như thế, bước chân của Phật trải khắp mọi nẻo đường, không ngừng nghỉ, suốt 45 năm ròng rã. Sức hoạt động của Phật, từ trước tới nay chưa có vị đạo sĩ nào sánh kịp. (Chỉ có một lần, vì phải đi gấp để về Ca-tì-la-vệ kịp trước khi vua Tịnh Phạn băng, và do lời thỉnh cầu tha thiết của sứ giả triều đình, đức Phật mới phải ngự chung xe với sứ giả, còn ngoài ra, Ngài hoàn toàn đi bộ chân trần, cho đến ngày nhập diệt.) Tăng đoàn của Phật đông hàng vạn, mà số thánh chúng chứng quả cũng không phải là ít. Đệ tử tại gia của Phật thì nhiều không xiết kể.

Cho đến một hôm, khi cảm thấy còn không bao lâu nữa mình sẽ nhập niết bàn, tại tu viện Trùng-các ở ngoại ô thành Tì-xá-li, đức Thế Tôn đã thông báo quyết định nhập niết bàn của Ngài cho chư tăng ni biết. Rồi đó, có hai tôn giả A Na LuậtA Nan Đà hầu cận, Ngài cùng với khoảng 300 vị tì kheo, đã rời thành Tì-xá-li đi về phương Bắc. Phật vừa đi vừa nghỉ lại tại nhiều thị trấn, nơi nào Ngài cũng thuyết pháp và dặn dò những lời cuối cùng cho chư tăng ni địa phương. Buổi chiều nọ, Ngài và chư tăng đi đến thành Câu-thi-na (vương quốc Mạt-la) thì dừng lại. Ngài cảm thấy người đã yếu lắm, bèn dẫn chư tăng vào trú trong khu rừng cây ta-la ở ngoại ô kinh thành. Đêm ấy, sau khi đã dạy những lời cuối cùng cho chư tăng, Ngài an nhiên vào thiền định, rồi nhập niết bàn. Năm đó Ngài được 80 tuổi đời.

 

 

 

 

CHÚ THÍCH

 

(01) Hi-mã-lạp (Himalaya): tức là núi Tuyết, tên một rặng núi cao, quanh năm tuyết phủ, ở miền Trung Á. Núi này từ Tây sang Đông trải dài hơn 2.400 cây số, bắt đầu từ sông Ấn (Indus - Phạn ngữ là Sindhu) ở phía Bắc Pakistan, qua vùng Kashmir của Bắc Ấn-độ, tiếp đến, một phần nằm vắt sang Tây-tạng, và phần lớn còn lại thì trải dọc theo Nepal, Sikkim, và Bhutan; chiếm một diện tích rộng lớn khoảng 594.400 cây số vuông. Đó là rặng núi đồ sộ, hùng vĩ nhất thế giới, với hơn 30 ngọn cao tối thiểu từ 7.620 thước trở lên, trong đó, ngọn Everest được coi là cao nhất thế giới (8.848 thước).

 

(02) Thích-ca (Sakya): tên một bộ tộc, có nghĩa là “có khả năng”. Lãnh thổ Ấn-độ thời bấy giờ gồm rất nhiều vương quốc, mỗi vương quốc do một bộ tộc cai trị. Bộ tộc Thích-ca chiếm cứ vùng đất nằm giữa chân núi Hi-mã-lạp ở phía Bắc, các vương quốc Câu-lị (Koliya) ở phía Đông, Mạt-la (Malla) ở phía Nam, và Kiều-tát-la (Kosala) ở phía Tây. So với một số vương quốc khác đương thời, thì vương quốc Thích-ca rất nhỏ, đất đai cũng không phì nhiêu lắm. Hết phân nửa lãnh thổ về phía Bắc là vùng cao nguyên, toàn đồi núi; phân nửa còn lại ở phía Nam là vùng đồng bằng. Kinh đô Ca-tì-la-vệ (Kapila-vatthu) của vương quốc nằm trong vùng đồng bằng ấy. Vương quốc này ngày nay là địa phận nước cộng hòa Nepal.

 

(03) Tịnh Phạn Cồ Đàm (Suddhodana Gotama) và Ma Ha Ma Da (Maha Maya): tên của quốc vương và hoàng hậu trị vì vương quốc Thích-ca vào giữa thế kỉ thứ 7 trước Tây lịch. Các ngài là song thân của thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhattha Gotama) mà về sau trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni). Vua Tịnh Phạn thuộc bộ tộc Thích-ca, là con trưởng của tiên vương Sư Tử Giáp (Simhahanu). Ngài có ba người em trai là các hoàng đệ Bạch Phạn (Sukkodana), Cam Lộ Phạn (Amitodana), Hộc Phạn (Dotodana), và một người em gái là quận chúa Cam Lộ (Pamita). Hoàng hậu Ma Ha Ma Da là em gái của vua Thiện Giác (Suppabuddha), trị vì vướng quốc Câu-lị, nước láng giềng phía Đông của vương quốc Thích-ca. Bà còn có một người em gái là Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Maha Pajapati). Hai vương quốc Thích-ca và Câu-lị đã giao hảo với nhau, và cũng từng là thông gia của nhau từ lâu đời, cho nên họ vừa là láng giềng mà cũng vừa là họ hàng của nhau. Như vào thời đại đó chẳng hạn, mẹ của vua Tịnh Phạn là cô ruột của vua Thiện Giác, trong khi đó, mẹ của vua Thiện Giác cũng lại là cô ruột của vua Tịnh Phạn; cả hai bà vợ của vua Tịnh Phạn (Ma DaBa Xà Ba Đề) đều là em ruột của vua Thiện Giác, và vợ của vua Thiện Giác cũng lại là em ruột của vua Tịnh Phạn.

 

(04) Thành Lam-mạt (Ramagama) cũng gọi là thành Thiên-tí (Devadaha). Hai vương quốc Thích-ca và Câu-lị là láng giềng của nhau, ngăn cách bởi con sông nhỏ Lô-hề-đa (Rohini). Hai quốc gia ấy vừa là thông gia, vừa là họ hàng với nhau từ lâu đời. Tuy nhiên, vì cả hai đều lấy nông nghiệp làm nguồn lợi chính, đều lấy nước từ sông Rohini để làm ruộng, mà Rohini chỉ là một con sông nhỏ, ít nước, cho nên các cuộc tranh chấp trầm trọng về vấn đề thủy lợi giữa hai bộ tộc cũng rất thường xảy ra; thậm chí có lần đức Phật phải đích thân can thiệp hòa giải.

 

(05) Tháng Vesaka (hay Vaisakha) là tháng thứ hai của lịch Ấn-độ. Lịch Ấn-độ cũng tính theo tuần trăng, chia một năm làm 12 tháng, mỗi tháng có 29 hoặc 30 ngày. 12 tháng lần lượt có tên tiếng Phạn như sau: Caitra (tháng đầu), Vaisakha (tháng thứ hai), Jyaistha (tháng thứ ba), Asadha (tháng thứ tư), Sravana (tháng thứ năm), Bhadrapada (tháng thứ sáu), Asvayuja (tháng thứ bảy), Karttika (tháng thứ tám), Margasirsa (tháng thứ chín), Pausa (tháng thứ mười), Magha (tháng thứ mười một), Phalguna (tháng thứ mười hai). Về thời tiết thì có ba mùa: mùa Nóng (Grisma), tương đương với mùa Xuân, gồm bốn tháng, bắt đầu từ ngày 16 tháng Caitra đến ngày 15 tháng ravana; mùa Mưa (Varsakala), tương đương với mùa Hạ, gồm bốn tháng, bắt đầu từ ngày 16 tháng Sravana đến ngày 15 tháng Margasirsa; và mùa Lạnh (Hemanta), tương đương với mùa Đông, gồm bốn tháng, bắt đầu từ ngày 16 tháng Margasirsa đến ngày 15 tháng Caitra.

 

(06) Các nước theo Phật giáo trên thế giới đã thống nhất lấy năm Phật nhập niết bàn làm năm thứ nhất Phật lịch. Theo đó, các niên đại quan trọng trong cuộc đời đức Phật được công nhận như sau: Đức Phật nhập niết bàn năm -544 (Phật 80 tuổi); thành đạo năm -589 (35 tuổi); xuất gia năm -595 (29 tuổi); và đản sinh năm -624.

 

(07) Thích Ca (Sakya) là tên bộ tộc, còn Cồ Đàm (Gotama) là họ (thị tộc) của thái tử Tất Đạt Đa. Về sau, trong thời gian xuất gia, người ta thường gọi Ngài là sa môn (hay đạo sĩ) Cồ Đàm. Lại nhân Ngài xuất gia sống đời tu sĩ, cho nên người ta đã tôn xưng Ngài là Mâu Ni (Muni), nghĩa là bậc ẩn sĩ, bậc cao thượng, bậc thánh. –“Thích Ca Mâu Ni” nghĩa là bậc ẩn sĩ của bộ tộc Thích Ca.

 

08) A Tư Đà (Asita), quê quán ở vương quốc A-bàn-đề (Avanti), thuộc miền Tây Ấn-độ, là một trong mười sáu nước lớn ở Ấn-độ thời Phật tại thế. Ông là một vị đạo sĩ Bà-la-môn, vừa có học lực uyên bác, vừa chứng đắc thần thông. Ông lại là cậu ruột của tôn giả Ca Chiên Diên (Katyayana), một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật.

 

(09) Đề Bà Đạt Đa (Devadatta): một vị vương tử thuộc dòng Thích Ca, con trưởng của hoàng thân Bạch Phạn, anh ruột của vương tử A Nan Đà (Ananda), và là em chú bác của thái tử Tất Đạt Đa. (Xin xem thêm chú thích số 3 ở trên.)

 

(10) Vệ Đà (hay Phệ Đà - Veda): kinh điển căn bản của đạo Bà-la-môn. Khoảng 1.500 năm trước TL, giống dân du mục Arya từ miền Trung-Á tràn vào vùng Tây-Bắc Ấn-độ. Họ đã chiến thắng dân bản xứ (Dravida), chiếm cứ vùng đất rộng lớn từ Punjab xuống đến lưu vực sông Hằng. Họ tự đặt mình ở địa vị chủ nhân ông, và biến người dân bản xứ thành hàng nô lệ. Sau khi mọi việc đã được bình định, giai cấp lãnh đạo tinh thần của giống Arya là các giáo sĩ Bà-la-môn, đã sưu tập lại tất cả những bài ca tán tụng thần thánh đã có từ trước và trong suốt thời kì chinh phục Ấn-độ, làm thành bộ thánh thư xưa nhất của Ấn-độ là Vệ Đà, gồm có bốn tập: 1) Lê Câu Vệ Đà (Rigveda): gồm những bài ca nói về sự sáng tạo vũ trụ, giải thích về số mạng dài ngắn của con người, cùng các cách tu dưỡng để bảo tồn tính lành. 2) Sa Ma Vệ Đà (Samaveda): gồm những bài ca dùng trong việc tế tự, cầu đảo chư thần linh. 3) Dạ Nhu Vệ Đà (Yajurveda): gồm những bài kệ dùng trong các việc như cưới gả, chôn cất, tiệc tùng v.v..., cùng đề cập đến các cách bói toán, binh pháp, quân trận. 4) A Thát Bà Vệ Đà (Artharvaveda): gồm những thần chú dùng để giải trừ tai nạn. Trong bốn tập trên thì Rigveda được thành hình sớm nhất, khoảng từ thế kỉ 14 đến thế kỉ 11 trước TL, được coi là cuốn thánh thư tối cổ của nhân loại; ba tập sau xuất hiện trong mấy thế kỉ kế tiếp. Bốn tập Vệ Đà này đã là nền tư tưởnghọc thuật căn bản và dành riêng cho giới thượng lưu (Bà-la-môn, vua chúa, công hầu khanh tướng) của Ấn-độ trước khi Phật giáo xuất hiện; và theo truyền thống, chỉ có các giáo sĩ Bà-la-môn mới có quyền giảng giải các thánh thư ấy mà thôi. Sau đó, trong khoảng từ thế kỉ thứ 7 đến thế kỉ thứ 4 tr. TL (tức trong khoảng thời gian Phật giáo xuất hiện), lại có thêm Phạm Thư (Brahmana) và Áo Nghĩa Thư (Upanisad) ra đời. Nội dung của Phạm Thư gồm những bản “anh hùng ca”, được xem là phần nối dài của bộ Vệ Đà. Trong khi đó thì nội dung của Áo Nghĩa Thư hàm chứa những giáo lí cực kì uyên áo của đạo bà-la-môn, mà các triết thuyết về “tự ngã”, “không hai”, “nghiệp báo luân hồi” và “giải thoát” là những đặc điểm vô cùng quan trọng, ảnh hưởng không ít đến tư tưởng của Phật.

 

(11) Ba giáo điều căn bản của đạo Bà-la-môn: 1. Phạm Thiên là đấng tối cao sáng tạo và ngự trị muôn loài; 2. Kinh Vệ Đà là do chính thiên chúa Phạm Thiên (Brahma) mặc khải riêng cho dòng giống Bà-la-môn; 3. Tế lễ có công hiệu vạn năng.

 

(12) Bốn giai cấp: 1. Giai cấp Bà-la-môn (Brahmana – cũng gọi là giai cấp Tăng-lữ). Các giáo sĩ Bà-la-môn bảo rằng, khi Phạm Thiên sinh ra loài người thì dòng giống của họ đã được sinh từ miệng ngài. Chỉ có họ mới có thể tiếp xúc trực tiếp với thần linh; vì vậy, chỉ có họ mới thông hiểu được các kinh Vệ Đà, và cũng chỉ có họ mới có quyền cúng tế, xướng tụng và giảng dạy các kinh điển ấy. Để củng cố địa vịáp chế các giai cấp khác, họ đã tạo ra bộ luật Mã Nỗ (Manu), tự cho mình là giai cấp trên hết và tôn quí nhất trong xã hội, phải nắm độc quyền về tôn giáo, tư tưởng, học thuậtgiáo dục, bắt buộc ba giai cấp dưới phải tuân phục. 2. Thứ đến là giai cấp Sát-đế-lị (Ksatriya), đã được sinh ra từ hai tay của Phạm Thiên. Họ là lớp người thuộc các dòng họ vua chúa, quí tộc, tướng quân, được nắm các quyền hành về chính trị và quân sự, nói chung là quyền cai trị. Họ có toàn quyền sinh sát đối với nhân dân và xem lãnh thổ cai trị như vật tư hữu của dòng giống họ. 3. Đứng hàng thứ ba là giai cấp Phệ-xá (Vaisya), đã được sinh ra từ bắp đùi của Phạm Thiên, gồm những thành phần giàu có thuộc lớp thượng lưutrung lưu trong xã hội. Họ thường được gọi là trưởng giả, là những thương gia, địa chủ, hương chủ, hoặc là chủ nhân các xưởng tiểu công nghệ. 4. Giai cấp thấp nhất là Thủ-đà-la (Sudra), đã được sinh ra từ bàn chân của Phạm Thiên. Đây là giai cấp của thợ thuyền, lao động, nông dân, binh lính. Giới này chiếm đại đa số dân chúng, nhưng cũng là giới nghèo khổ nhất trong bốn giai cấp. Họ phải làm mọi công việc nặng nhọc và nguy hiểm mà ba giai cấp trên không bao giờ phải đụng tay tới. Ngoài ra, dưới bốn giai cấp trên còn có giới “ngoại cấp”, được gọi là Ba-lị-a (Pariah) hay Chiên-đà-la (Candala). Thủ-đà-la đã là giai cấp thấp nhất rồi, nhưng vẫn còn có “cấp”; đàng này, Chiên-đà-la không được thuộc cấp nào cả. Họ gồm những bộ lạc thổ dân đã từng bị thua trận trong các cuộc xâm lăng của giống người Arya thuở trước. Họ là lớp người nghèo hèn nhất, có số phận bi đát nhất, bị áp bức tàn nhẫn nhất. Luật Mã Nỗ nói rằng, Chiên-đà-la là loại người sinh ra chỉ để làm nô lệ. Bởi vậy, họ phải làm tất cả mọi công việc cực nhọc, dơ dáy như chăn trâu, nuôi và giết súc vật, thợ cạo, hốt phân, tôi tớ, ăn mày v.v... Cũng theo luật ấy, giới này bị coi là giống ti tiện, ô trược, cho nên họ không được vô tình hay cố ý đụng vào người hoặc nói năng đụng chạm đến những người ở các giai cấp trên, nhất là Bà-la-môn và Sát-đế-lị. Nếu lỡ phạm phải, họ có thể bị đánh đập tàn nhẫn, thậm chí có thể bị giết chết mà không ai bênh vực cả. Tất cả các giai cấp đều có tính cách “cha truyền con nối”; ai sinh ra ở giai cấp nào thì phải chấp nhận và ở yên trong giai cấp đó, không thể thay đổi tình trạng được!

 

(13) Da Du Đà La (Yasodhara): là công chúa con vua Thiện Giác và hoàng hậu Cam Lộ của vương quốc Câu-lị. Bà Cam Lộ là em út của vua Tịnh Phạn, cho nên thái tử Tất Đạt Đacông chúa Da Du Đà La là anh em cô cậu. Theo luật lệ thời đó ở Ấn-độ, phải những người cùng chủng tộc (vừa là giai cấp, vừa là bộ tộc, và vừa là thị tộc) mới được kết hôn với nhau, mục đích là để khỏi bị lai giống và lai giai cấp. Tuy nhiên, luật vẫn không cho anh em ruột kết hôn.

 

(14) “Rahula” có nghĩa là sợi dây trói buộc, là chướng ngại, là nguyệt thực, là nhật thực. Kinh chép rằng, La Hầu La đã ra đời nhằm vào lúc có nhật thực toàn phần.

 

(15) Ma-kiệt-đà (Magadha) cùng với Kiều-tát-la (Kosala) là hai vương quốc lớn nhất và hùng mạnh nhất trong toàn lãnh thổ Ấn-độ thời Phật tại thế. Những thế kỉ trước ngày Phật ra đời, nền văn minh Ấn-độ (được hiểu là nền văn minh Bà-la-môn giáo) đã tập trung tại miền Tây-Bắc Ấn-độ, bao gồm vùng thượng lưu hai con sông Hằng-hà và Ấn-hà. Các bộ tộc hùng mạnh đều lấy vùng này mà lập nên các vương quốc phú cường, như Kamboja, Gandhara, Kuru, Matsya, Pancala và Surasena, là 6 nước lớn nhất (mà đặc biệt, Gandhara và Kuru được xem là căn cứ địa của văn minh Bà-la-môn). Các khu vực khác đều còn bị coi là man rợ. Đến thế kỉ thứ 7 tr. TL, các vương quốc ở các vùng phía Tây, Đông, Đông-Bắc và lưu vực sông Hằng bỗng nhiên phát triển mạnh mẽ về mọi lãnh vực, vượt hẳn các vương quốc trên kia, và chiếm địa vị trung tâm. Mười vương quốc mới nổi tiếng được nhắc tới nhiều nhất là Kosala, Malla, Licchavi (cũng gọi Vrji), Asvaka, Kasi, Vatsa, Avanti, Cedi, Anga và Magadha; cộng chung với sáu vương quốc trên kia, là mười sáu vương quốc lớn nhất (thập lục đại quốc) của Ấn-độ thời Phật tại thế. Tất cả 16 nước lớn này đều nằm trong lãnh thổ nửa phía Bắc Ấn-độ. Dưới thời đại của Phật, nền văn minh vẫn chưa phát triển xuống nửa phía Nam của bán đảo Ấn-độ. Từ khi các vương quốc kém phát triển ở phía Tây, Đông, Đông- Bắc và lưu vực sông Hằng bỗng nhiên vùng dậy mạnh mẽ trở thành các cường quốc, thì uy thế của Bà-la-môn giáo truyền thống lại bắt đầu suy yếu tại các khu vực đó. Các hệ phái triết học khác đua nhau bộc phát, làm cho tư tưởng giới đương thời trở nên rối ren, phức tạp. Một cách tổng quát, tư tưởng giới lúc đó chia làm hai xu hướng: Xu hướng trung thành với truyền thống Vệ Đàxu hướng phản Vệ Đà. Xu hướng thứ nhất gồm có ba trào lưu: Bà-la-môn chính thống, tín ngưỡng tập tục (sùng bái nhiều vị thần nhân cách hóa), và triết học (lấy Phạm ThưÁo Nghĩa Thư làm chủ yếu). Xu hướng thứ hai bao gồm các trào lưu chủ trương nghiên cứu các vấn đề triết học một cách tự do, độc lập, phủ nhận hoàn toàn uy thế cũng như đặc quyền của Bà-la môn truyền thống. Các nhà tư tưởng (hay tôn giáo) này được gọi là “sa-môn” (samana). Họ tổ chức thành từng giáo đoàn, được gọi là “sa môn đoàn”. Các vương quốc mới phát triển như Kiều-tát-la, Lê-xa, Ca-thi, A-bàn-đề, Ma-kiệt-đà v.v... là địa bàn hoạt động rất nhộn nhịp của các đoàn sa môn này. Các đạo sĩ A La Lam và Uất Đầu Lam Phất chẳng hạn, đều là thủ lãnh lớn của các đoàn sa môn ấy, và đã lấy vùng lưu vực sông Hằng làm căn cứ địa, mở các đạo tràng hướng dẫn đồ chúng.

 

(16) Ba-la-nại (Baranasi) là kinh đô của vương quốc Ca-thi (Kasi), một trong các vương uốc vùng lưu vực sông Hằng mà sự phú cường bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thế kỉ thứ 7 tr. TL. Sáu đô thị nổi tiếng phồn thịnh nhất của các vương quốc thời Phật tại thế là: Xá-vệ của Kiều-tát-la, Vương-xá của Ma-kiệt-đà, Kiều-thưởng-di của Bạt-sa, Tì-xá-li của Lê-xa, Chiêm-ba của Ương-già, và Ba-la-nại của Ca-thi. Ca-thi là vương quốc nổi tiếng có nhiều loại tơ lụa và trầm hương tốt nhất.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HIẾU TÂM của ĐỨC PHẬT

 

 

Bấy giờ là năm thứ 5 sau ngày thành đạo, đức Phật về an cư tại tu viện Trùng-các trong rừng Đại-lâm, ngoại ô thành Tì-xá-li.

Một ngày nọ sau mùa an cư, khi đức Phật đang an trụ trong cảnh giới niết bàn tịch tĩnh, thì bỗng nhiên lòng phát sinh một nỗi niềm bi thương kì lạ. “Chắc là phụ vương đang lâm trọng bệnh, sắp thăng hà!” Ngài nghĩ thế.

Quả đúng như vậy. Chẳng bao lâu, có sứ giả của vua Tịnh Phạnhoàng thân Ma Ha Nam, từ kinh thành Ca-tì-la-vệ đến tu viện, xin yết kiến đức Phật, thưa rằng, đức vua bệnh tình nghiêm trọng, sắp từ trần, đang rất mong được trông thấy đức Thế Tôn lần chót!

Được tin khẩn cấp ấy, không dám chậm trễ, Ngài liền dẫn theo Nan Đà, A NanLa Hầu La, tức tốc cùng sứ giả trở về thành Ca-tì-la-vệ.

Vua Tịnh Phạn đang nằm trên giường ngự trong tẩm điện. Hoàng hậu Ma Ha Ba Xà Ba Đề, công chúa Da Du Đà La, các quan đại thần văn võ, tất cả cung nữ đều có mặt đông đủ. Mặc dù bệnh tình đã rất trầm trọng, nhưng tinh thần đức vua vẫn còn tỉnh táo. Thấy đức Phật về đến, ngài liền nở nụ cười hoan hỉ, nét mặt tươi tỉnh hẳn lên. Ngài từ từ đưa tay ra, đức Phật ôm lấy cánh tay của ngài và ngồi xuống bên giường ngự. Sau một khoảnh khắc yên lặng, đức Phật đã nói bài pháp để khai thị cho đức vua về sự kết hợp rồi lại tan rã, rồi lại kết hợp, rồi lại tan rã... của tứ đại. Ẩn sâu trong đôi mắt đức Phật, người ta thấy được niềm thương cảm vô biên của Ngài đối với bậc sinh thành. Đại đức Nan Đà thì đã nấc lên thành tiếng, đại đức A Nansa di La Hầu La đều đã đầm đìa nước mắt, các quan và cung nữ thì khóc lóc vô cùng thảm thiết.

Nhưng đức vua mỉm cười bảo: “Các ngươi không được khóc lóc thảm thiết như thế! Đức Thế Tôn đã từng dạy, tất cả sự vật là vô thường. Hiện tại ta cảm thấy đã đạt được hạnh phúc chân thật. Thái tử yêu quí của ta ngày trước, nay đã thành tựu được quả vị Phật-đà tối tôn quí trong khắp các cõi Trời, Người. Người đã đạt được bản nguyện rộng lớn trải từ muôn ngàn kiếp trước. Ta không những rất được vinh diệu, mà còn hưởng được trạng thái vô cùng an lạc do thực tập lời dạy của Người. Trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời hôm nay, ta vẫn còn được diễm phúc trông thấy đức Thế Tôn, khác nào như ta được trông thấy ánh đại quang minh trước khi nhắm mắt!”

Mọi người đều im lặng lắng nghe, vì ai cũng hiểu rằng, đây là những lời nói vô cùng chân thành, sáng suốt, và thật quan trọng của một người trước phút lìa đời. Không khí trong tẩm điện trở nên tĩnh lặng, trang nghiêm dị thường. Đức vua nói xong, từ từ chắp hai tay lên ngực, nhờ Phật cử người kế vị mình. Đức Phật đã tiến cử hoàng thân Ma Ha Nam nối ngôi chấp chính, và hứa sẽ giúp đỡ cho vị tân vương an định mọi việc. Đức vua mỉm cười mãn nguyện, nhìn đức Phậtmọi người thân tín trước mặt lần chót, rồi an nhiên nhắm mắt lìa trần. Năm ấy đức vua được 82 tuổi. Hoàng hậu Ma Ha Ba Xà Ba Đề, công chúa Da Du Đà La, các quan và cung nữ lại bật khóc thành tiếng, thương tiếc một vị quốc vương tài đức toàn vẹn hiếm có trên đời.

Đức Phật đứng dậy, đặt hai tay của đức vua xuôi thuận ngay ngắn trở lại, ra hiệu cho mọi người nín khóc để chú tâm hộ niệm cho đức vua.

Di thể của vua được tắm rửa bằng dầu thơm, và liệm bằng các loại gấm vóc sang quí nhất. Kim quan của đức vua được gắn lên các loại ngọc thạch quí giá, đặt ngay chính giữa đại điện, có các tấm trướng trân châu treo chung quanh. Hoa tươi đủ màu được rải khắp nơi. Đức Phậtđại đức Nan Đà đứng hầu hai bên trước kim quan; đại đức A Nansa di La Hầu La đứng hầu hai bên sau kim quan. Lễ trà tì dự định sẽ cử hành 7 ngày sau.

Đêm cuối cùng trước ngày động quan, đại đức Nan Đà bạch Phật:

“Bạch đức Thế Tôn! sáng mai động quan, kính xin Thế Tôn cho phép con được khiêng kim quan của phụ vương.”

Hai đại đức A NanLa Hầu La nghe vậy, cũng đồng xin đức Phật được cùng khiêng kim quan. Đức Phật hứa khả:

“Tốt lắm! Như Lai cũng sẽ khiêng kim quan cùng với quí thầy và La Hầu La.

Nhân dân toàn quốc nghe tin vua Tịnh Phạn băng, đều vô cùng cảm xúc, thương tiếc bùi ngùi. Dân chúng trong thành Ca-tì-la-vệ, nghe nói chính đức Phật sẽ cùng với quí vị đại đức vương tử vương tôn khiêng kim quan đức vua từ hoàng cung đi đến nơi trà tì, thì lại càng cảm động. Mới sáng tinh sương, họ đã lũ lượt kéo nhau đến cửa hoàng cung, tự động sắp xếp nhau đứng thành hàng dài hai bên đường, từ hoàng cung ra đến hỏa đàn; khi kim quan di chuyển tới trước mặt là họ quì xuống khóc lạy. Sau đó, họ tháp tùng theo sau kim quan, ra đứng quanh hỏa đàn để dự lễ trà tì.

Khi kim quan đã ra đến địa điểm trà tì, nhiều vị hoàng thân và các quan cùng phụ với đức Phật và chư vị đại đức, đỡ kim quan đặt trên hỏa đàn. Đức Phật đi nhiễu ba vòng quanh hỏa đàn, rồi nói một bài pháp về bốn cảnh khổ sinh già bệnh chết, khuyên mọi người phát tâm tu tỉnh, không chìm đắm trong sự đam mê ngũ dục. Sau khi nói bài pháp ngắn gọn, đức Phật đã tự tay châm lửa cho hỏa đàn. Ngọn lửa bùng cháy phừng phực, có tiếng chiêng tiếng trống hòa lẫn với tiếng tụng kinh hộ niệm của chư tăng; tất cả thần dân đều quì lạy, vừa thương tiếc một bậc quân vương đức độ, vừa kính mộ đấng Đạo Sư của cả trời người mà vẫn giữ trọn đạo hiếu với đấng sinh thành.

Tang lễ của vua Tịnh Phạn đã được tổ chức vô cùng trang nghiêm trọng thể. Nhân dịp này, theo lời dạy của đức Phật, hoàng gia đã tổ chức một cuộc phát chẩn thật qui mô để cứu tế những người nghèo khó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

 

 

“Sáng cho nguời thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ.”, đó là một trong những lí do thiết yếu để đạo Phật có mặt ở thế gian. Bởi vậy, cho vui cứu khổ đã trở thành một nhiệm vụ chánh yếu của mọi người tu học theo Phật pháp –dù xuất gia hay tại gia, ở bất cứ phương trời nào, bất cứ thời khắc quá hiện vị lai nào. Đặc biệt, đối với các hành giả phát tâm tu tập Bồ Tát Đạo, nhất là chư vị Đại Bồ Tát, thì cho vui cứu khổ còn là một trong những hạnh nguyện trọng đại, được thực hiện thường xuyên, không gián đoạn, không ngưng nghỉ. Vì vậy, trong trường hợp này, đạo Phật cũng được gọi là đạo Từ Bi, hay đạo Cứu Khổ, hoặc đạo Từ Bi Cứu Khổ. Trong các vị Đại Bồ Tát, hình ảnh cứu khổ tiêu biểu nhất, đó là đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Phật tử Việt-nam, lòng tín ngưỡng đối với Ngài rất là mãnh liệt. Hình ảnh của Ngài thật vô cùng quen thuộc, gần gũi; hầu như trong tâm khảm của người Phật tử Việt-nam nào cũng in đậm hình ảnh đáng tôn kính của Ngài, bởi vì đã có vô số trường hợp người ta cảm nhận được sự linh ứng cứu độ của Ngài. Vậy nên, việc thờ kính Ngài, niệm danh hiệu Ngài, từ lâu đời, đã trở thành một trong các pháp môn tu tập quan yếu của Tăng tín đồ Phật giáo Việt-nam.

Đức tin của Phật tử chúng ta đối với Bồ Tát Quán Thế Âm tuy đã thâm sâu vững chắc, nhưng nhiều người có lẽ còn chưa biết rõ về Ngài. Vậy chúng tôi  xin giới thiệu sau đây vài nét cụ thể về sự tíchcông hạnh của Ngài.

 

A. DANH HIỆU “QUÁN THẾ ÂM”

Tên tiếng Phạn của Ngài là Avalokitesvara, dịch âm ra Hán ngữ là A-phược-lô-chỉ-đê-thấp-phạt-la, dịch nghĩa là Quán Thế Âm (dân gian Việt-nam thường quen gọi là Quan Âm). Với tâm nguyện đại bi, Ngài dùng tánh nghe viên thông để quán nghe tiếng kêu cầu của chúng sinh đau khổthị hiện cứu độ, đó là ý nghĩa của danh hiệu “Quán Thế Âm”. Kinh Pháp Hoa (phẩm Phổ Môn) nói: Chúng sinh bị khổ não, nếu nhất tâm xưng niệm danh hiệu Bổ Tát Quán Thế Âm, Ngài liền quán sát âm thanh của họ mà cứu độ họ được thoát khổ; vì thế mà gọi là Quán Thế Âm. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, cách nay vô lượng vô số kiếp về đời quá khứ, từ thời đức Phật Quán Thế Âm tại thế độ sinh, Bồ Tát Quán Thế Âm đã từng sở trường về pháp tu tam muội gọi là “nhĩ căn viên thông”, đầy đủ khả năng quán sát sâu rộng âm thanh kêu cầu của chúng sinh đau khổ, để hiện thân cứu độ. Cho nên trải qua bao nhiêu kiếp tu hành đạo Bồ-tát, cho đến hiện nay, Ngài vẫn giữ lấy danh hiệu của đức Phật kia Quán Thế Âm làm tên của mình.

“Quán Thế Âm” là cách dịch cũ (trước thời đại pháp sư Huyền Trang); các nhà dịch kinh Trung-hoa từ pháp sư Huyền Trang (thế kỉ thứ 7 dương lịch) trở về sau, đã dịch danh hiệu của Ngài là Quán Thế Tự Tại –gọi tắt là Quán Tự Tại, với ý nghĩa rằng, Ngài quán sát thế gian để cho vui cứu khổ một cách tự tại, không bị bất cứ một thứ gì, một thế lực hay hoàn cảnh nào làm cho chướng ngại. Quán Tự Tại cũng có nghĩa là Ngài dùng trí tuệ bát nhã để quán sát và thấy rõ tất cả các pháp là hư huyễn, không có tự tánh, không chân thật, cho nên không còn bị vướng mắc vào bất cứ pháp nào, hoàn toàn giải thoát mọi khổ đau sinh tử.

Phật tử Việt-nam, với lòng tôn kính thiết tha, thường xưng niệm Ngài bằng một danh hiệu thật dài, và thật đầy đủ ý nghĩa: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát”.

 

B. SỰ TÍCH BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

Trong Kinh Bi Hoa, đức Phật Thích Ca có dạy: Vào thời quá khứ xa xôi, khi chưa xuất gia tu hành, có một kiếp đức Quán Thế Âm sinh làm một vị thái tử, tên là Bất Huyến, con trưởng của vua chuyển luân Vô Tránh Niệm, trị vì cả bốn châu thiên hạ của thế giới San-đề-lam. Lúc đó có đức Phật ra đời, hiệu là Bảo Tạng. Vua Vô Tránh Niệm phát tâm qui y Tam Bảo, đồng thời khuyến khích một ngàn vị hoàng tử con mình, cùng toàn thể quần thần đều qui y Tam Bảo. Đức vua phát tâm sắm sửa các thứ cần dùng hằng ngày như ẩm thực, thuốc men, y phục, giường nệm v.v... đem đến đạo tràng cúng dường lên Phật và chúng tăng suốt ba tháng; nguyện đem công đức ấy hồi hướng về đạo quả Vô thượng Bồ đề; liền được Phật Bảo Tạng thọ kí, vô số kiếp về sau sẽ thành Phật hiệu là Vô Lượng Thọ, giáo chủ thế giới An-lạc. Thái tử Bất Huyến cũng vâng lời phụ vương, hết lòng tin kính, sắm sửa lễ vật trân quí như vua cha, đem đến đạo tràng cúng dường lên Phật và chúng tăng suốt ba tháng. Nhờ nghe lời giảng giải của một vị đại thần thiện tri thức, thái tử tự nghĩ rằng: Bởi chúng sinh trong đời không gặp được những bậc hiền nhân khuyên dạy việc lánh dữ làm lành, chỉ gặp toàn những kẻ ác tâm xúi giục làm điều bất thiện, hủy báng Chánh Pháp, khinh bỉ Tam Bảo, ngập sâu tà kiến, khiến cho mất hết căn lành, không còn biết đến đạo đức là gì, nên phải chịu đày đọa trong ba dường dữ, không ngày giải thoát.

Nghĩ như thế xong, thái tử đến trước Phật, cung kính bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nay con ở trước Thế TônThánh Chúng, xin nguyện rằng: Con nguyện đem công đức cúng dường Tam Bảo và những phước lành đã tu tập được, xin hồi hướng về đạo quả Vô thượng Bồ đề. Trong khi tu hành đạo Bồ-tát, con nguyện luôn luôn làm lợi lạc cho chúng sinh. Như có chúng sinh nào chịu nhiều điều khốn khổ, bị tù hãm trong hoàn cảnh tối tăm, cô đơn buồn rầu, không nơi nương tựa, không có người giúp đỡ, nếu chúng sinh ấy nghĩ đến và xưng niệm danh hiệu con, tức thì con dùng thiên nhĩ để lắng nghe, dùng thiên nhãn để quan sát, xem kẻ đau khổ kia đang ở chỗ nào, con hiện đến để cứu giúp cho họ thoát khổ được vui. Nếu không được như lời nguyện ấy thì con quyết sẽ không thành Phật. Bạch đức Thế Tôn! Nay con vì hết thảy chúng sinh mà phát lời nguyện lớn, tu học pháp xuất thế, chóng được tự giác tự lợi. Khi phụ vương con là Vô Tránh Niệm, trải hằng sa kiếp, chứng thành quả Phật, hiệu là Vô Lượng Thọ Như Lai, giáo chủ thế giới An-lạc; lại trải qua vô lượng kiếp, đức Phật ấy hóa độ chúng sinh xong rồi, liền nhập niết bàn, Chánh Pháp truyền lại, con ở trong ấy tu tập hạnh Bồ-tát, thường làm Phật sự. Đến khi Chánh Pháp của đức Phật ấy sắp diệt, hễ diệt vào đầu hôm, thì cuối đêm con sẽ thành Vô thượng Chánh giác. Cúi xin đức Thế Tôn từ bi thọ kí cho con.”

Phật Bảo Tạng nghe những lời nguyện ấy, liền đặt hiệu cho thái tử Bất Huyến là Quán Thế Âm, và thọ kí cho thái tử, sau khi đức Phật Vô Lượng Thọ (tức Phật A Di Đà) nhập niết bàn, thế giới An-lạc (tức Cực-lạc) sẽ được đổi tên là Nhất-thiết-trân-bảo-sở-thành-tựu, Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ thành Phật, hiệu là Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai, thọ mạng dài đến chín mươi sáu ức na do tha kiếp, sau khi nhập niết bàn, chánh pháp sẽ còn truyền đến sáu mươi ba ức kiếp.

Từ đó, trải qua hết kiếp này đến kiếp khác, ngài Quán Thế Âm đều giữ vững bản nguyện, tinh tấn tu hành hạnh Bồ-tát, cầu đạo Bồ-đề, cứu giúp chúng sinh đau khổ, không khi nào xao lãng hạnh nguyện đại bi. Hiện tại, vua Vô Tránh Niệm, do tu hành tinh tấn, công hạnh viên mãn, đã thành Phậtthế giới Cực-lạc, hiệu là A Di Đà, cách nay đã mười kiếp (theo Kinh A Di Đà); còn đức Quán Thế Âm (tức thái tử Bất Huyến), công hạnh cũng tròn đầy, trở thành một vị Đại Bồ Tát, chứng đến bậc Đẳng-giác, cũng đang ở thế giới Cực-lạc hầu cận đức Phật A Di Đà, hằng ngày tiếp dẫn chúng sinh khắp mười phương về cõi ấy.

Trong Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Đắc Đại Thế Bồ Tát Thọ Kí có nói: Trong vô lượng kiếp sau, đức Phật A Di Đà sẽ nhập niết bàn. Sau đó, đức Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ thành Phật, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, thay thế Phật A Di Đà nhiếp hóa chúng sinh.

Trong Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni có ghi lời Phật dạy rằng: “Bồ Tát Quán Thế Âm vốn đã thành Phật từ kiếp xa xưa, có danh hiệuChánh Pháp Minh Như Lai, nhưng vì lòng đại bi, muốn thành tựu đạo nghiệp cho tất cả chúng sinh, muốn cho chúng sinh được an vui, ngài thường thị hiện làm thân Bồ-tát...”

Trong nền văn học cổ điển Việt-nam có hai tác phẩm văn vần, viết về hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, rất được truyền tụng trong dân gian Việt-nam, mọi người đều kính ngưỡng thiết tha; đó là hai truyện Quan Âm Thị Kính Quan Âm Nam Hải.

Truyện Quan Âm Thị Kính viết về một nàng con gái xinh đẹp ở nước Cao-li, tên Thị Kính, vì bị nghi oan có ý định giết chồng, không có cách gì giải tỏa được, bèn ngậm mối oan tình mà trở về nhà cha mẹ, rồi giả dạng nam nhi vào chùa xin tu hành; trở thành chú Kính Tâm. Nàng đã xa lánh trần tục, quên nỗi oan cũ, quyết tâm tu hành, tưởng được yên thân nơi chốn thiền môn; nhưng trớ trêu làm sao, nàng lại bị một cô gái khác tên Thị Mầu, để ý yêu thích! Cô gái này vốn tính trăng hoa, tư thông với chính người đầy tớ trai trong nhà, đến nỗi có mang; bị làng tra hỏi, cô bèn đổ oan cho Kính Tâm. “Chú” bị làng dùng đủ thứ cực hình tra khảo, nhưng vẫn nhẫn nhục chịu đựng. “Chú” không nhận tội, nhưng cũng nhất quyết giữ bí mật cái “phận gái” của mình. Thấy “chú” có thể bị tra tấn đến chết, sư cụ Trú Trì bèn xin nộp phạt cho làng để bảo lãnh “chú” về chùa. Về sau Thị Mầu sinh được một bé trai, chẳng biết giấu đi đâu, cô bèn mang bé lên chùa, bỏ trước cổng tam quan. Kính Tâm nghe tiếng trẻ con khóc ở ngoài cổng chùa, ra xem, thấy đứa bé, rất xót thương, nên bồng vào nuôi. Dù bị người làng dèm pha, nguyền rủa, Kính Tâm vẫn nhẫn nhục chịu đựng, không một lời minh oan biện bạch. Khi đứa bé lớn lên, cũng là lúc Kính Tâm kiệt sức. “Chú” biết mình sắp lìa đời, bèn viết bức di thư để lại cho cha mẹ, kể rõ hết sự tình oan khuất của mình. Sau khi nàng qua đời, sư cụ trú trìmọi người trong làng mới biết nàng là gái, và bao nhiêu sự thật mới được phơi bày rõ ràng. Do tâm chí thành tinh tấn tu hành, do lòng từ bi bao la và đức nhẫn nhục kì vĩ, Kính Tâm đã công thành quả mãn, đắc đạo, được tôn hiệu là Phật Quan Âm.

Truyện Quan Âm Nam Hải kể chuyện một nàng công chúa tên Diệu Thiện, con vua Diệu Trang ở nước Hưng-lâm (thuộc lãnh thổ nước Ấn-độ ngày nay), sang nước Đại-Việt (tên xưa của Việt-nam) tu hành chứng quả; vì thường cư trú ở vùng biển nước Nam ta, nên được gọi là Quan Âm Nam Hải. Nguyên vua Diệu Trang có ba người con gái, đều xinh đẹp, hiền lành, hiếu thuận. Hai công chúa lớn đã vâng lệnh phụ vương đi lấy chồng, còn Diệu Thiện là công chúa út thì không muốn lập gia đình, mà quyết chí xuất gia tu hành để cứu giúp mọi người đang đau khổ. Nhà vua đã tìm mọi cách để cản trở việc xuất gia của cô con út, nhưng không thành công; nàng vẫn nhất quyết sống đời phạm hạnh trong một ngôi chùa, trở thành một vị ni cô mẫu mực. Thấy thế, nhà vua vô cùng tức giận, cho lệnh đốt ngôi chùa ấy; nhưng thình lình trơi mưa xối xả, dập tắt hết lửa, cứu sống mọi người trong chùa. Nhà vua lại sai quân lính bắt ni cô Diệu Thiện đem xử chém. Khi lưỡi gươm của đao phủ chém gần đến cổ ni cô, thì bất chợt một con mãnh hổ xuất hiện, cõng ni cô chạy mất! Con mãnh hổ cõng ni cô Diệu Thiện chạy vượt qua bao núi non hiểm trở, sang đến lãnh thổ nước Đại-Việt, đặt ni cô xuống đất, rồi bỏ đi. Sau đó ni cô gặp được vị hoàng tử con vua đầu nhà Lí (thế kỉ 11 TL), biết ni cô quyết tâm tu hành, ông giúp ni cô đến động Hương-tích (tức núi Hương-sơn, tỉnh Hà-đông, Bắc-Việt) để ẩn tu. Sau nhiều năm tu hành tinh tấn, ni cô Diệu Thiện bừng sáng trí tuệ, đắc thành đạo quả, có sức nghe mầu nhiệm, nghe được nhiều tiếng kêu thương của mọi người, dù ở thật xa, cho nên ni cô thường xuống núi để cứu giúp và hóa độ mọi người. Tiếng đồn vang khắp chốn nơi, dân gian kính ngưỡng thiết tha, đều tôn xưng ni côBồ Tát Quan Âm, hoặc gọi là Phật Bà Quan Âm Hương-tích.

 

C. TRÚ XỨ của BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

Theo Kinh Tân Hoa Nghiêm ghi chép, đức Bồ Tát Quán Thế Âm cư trú tại núi Bổ-đà-lạc-ca (hoặc gọi là Phổ-đà-lạc-già – tiếng Phạn là Potala), một hải đảo nhỏ ở gần bờ biển Nam của nước Ấn-độ; chính tại nơi đây, Thiện Tài Đồng Tử đã đến tham bái Ngài để cầu đạo Bồ-đề.

Theo các kinh Đại A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Thế Âm Thọ Kí, thì Bồ Tát Quán Thế Âm thường cư trú tại thế giới Cực-lạc, cùng với Bồ Tát Đại Thế Chí, là hai vị hầu cận và trợ thủ đắc lực nhất của đức Phật A Di Đà trong việc tiếp dẫn chúng sinh ở cõi Ta-bà về thế giới Cực-lạc. Bởi vậy, tông Tịnh Độ đã tôn xưng đức Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát này là “Tây Phương Tam Thánh”.

Một hòn đảo nhỏ ở gần bờ biển phía Đông của huyện Định-hải, tỉnh Triết-giang, Trung-quốc, cũng được đặt tên là núi Phổ-đà; và theo tín ngưỡng từ lâu đời, người Phật tử Trung-hoa đã coi đó là đạo tràng của đức Bồ Tát Quán Thế  Âm trên đất nước Trung-quốc.

Theo tín ngưỡng của Phật tử Việt-nam, đức Bồ Tát Quán Thế Âm, qua hóa thâncông chúa Diệu Thiện (trong truyện Quan Âm Nam Hải vừa ghi trên), đã tu hành đắc đạo tại động núi Hương-tích, miền Bắc Việt-nam; và Ngài thường xuyên có mặt trêm biển Nam-hải (Việt-nam) để cứu độ chúng sinh.

Phật giáo Tây-tạng thì tin rằng, đức giáo chủ của họ (tức vị Đạt-lai Lạt-ma) chính là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì vậy mà cung điện của vị Đạt-lai Lạt-ma (cũng đồng thờiquốc vương nước Tây-tạng) đã được xây cất vô cùng nguy nga hùng tráng, được đặt tên là điện Potala; và đức Bồ Tát Quán Thế Âm luôn luôn được dân chúng xứ này sùng kính đặc biệt.

 

D. HẠNH NGUYỆNOAI THẦN của BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

Hạnh nguyện độ sinh của Bồ Tát Quán Thế Âm thật là rộng lớn vô biên. Qua lời giới thiệu của đức Phật Thích Ca (trong Kinh Đại Bi), đức Bồ Tát Quán Thế Âm là một vị cổ Phật, đã thành Phật từ vô lượng kiếp trước –hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai,– vì hạnh nguyện đại bi muốn cứu độ chúng sinh, nên Ngài hiện thân làm Bồ-tát. Ở trước đức Phậthội chúng đông vô lượng, chính Bồ Tát Quán Thế Âm đã nói thần chú “Đại Bi Tâm Đà La Ni”. Trước khi nói thần chú này, Ngài bạch Phật rằng: “Con nói thần chú này vì muốn cho chúng sinh được an vui, dứt tất cả bệnh hoạn; được sống lâu, giàu có, diệt trừ tất cả nghiệp ác, khỏi các chướng nạn, tiêu tan mọi sợ hãi; được tăng trưởng mọi công đức lành, mau chóng đầy đủ mọi điều mong cầu.” Ngài cũng tự kể rằng, trong vô lượng kiếp về trước, có đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ ra đời, lúc đó Ngài vừa chứng bậc Bát-địa Bồ-tát, liền phát nguyện trước đức Phật kia rằng: “Nếu về sau con có thể thành tựu được những việc lợi ích an lạc cho tất cả chúng sinh, thì ngay bây giờ đây, nơi thân con hãy sinh đủ ngàn tay ngàn mắt!” Nói lời ấy xong thì thân thể Ngài liền hiện đủ ngàn tay, ngàn mắt.

Trong Kinh Bi Hoa, Ngài từng phát nguyện trước đức Phật Bảo Tạng rằng: “Trong khi tu hành đạo Bồ-tát, con nguyện luôn luôn làm lợi lạc cho chúng sinh. Như có chúng sinh nào chịu nhiều điều khốn khổ, bị tù hãm trong hoàn cảnh tối tăm, cô đơn buồn rầu, không nơi nương tựa, không có người giúp đỡ, nếu chúng sinh ấy nghĩ đến và xưng niệm danh hiệu con, tức thì con dùng thiên nhĩ để lắng nghe, dùng thiên nhãn để quan sát, xem kẻ đau khổ kia đang ở chỗ nào, con hiện đến để cứu giúp cho họ thoát khổ được vui.”

Theo phẩm “Phổ Môn” trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, hễ ai thờ Ngài thì đều được phước đức lớn; ai cầu nguyệnxưng niệm danh hiệu Ngài, đều được Ngài chở che và cứu giúp thoát khỏi mọi hoàn cảnh đau khổ, hiểm nguy.

Trong Kinh Địa Tạng, đức Phật có khen ngợi Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: “Ông có nhân duyên lớn đối với thế giới Ta-bà này. Các hàng trời, người, rồng, thần, quỉ, cho đến các chúng sinh đau khổ trong khắp nẻo luân hồi, hễ nghe danh hiệu ông, thấy hình ảnh ông, mà kính ngưỡng, tán thán, thì các chúng sinh ấy đều được hưởng phước báo an vui mầu nhiệm nơi các cõi Trời và Người, đối với đạo quả Bồ-đề thì không bị thối chuyển, và đến khi nhân duyên thành thục thì được gặp chư Phật thọ kí cho.”

Hạnh nguyện của đức Bồ Tát Quán Thế Âm đã vô cùng rộng lớn như vậy, mà oai thần diệu dụng cứu độ chúng sinh của Ngài lại càng không thể nghĩ bàn. Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương nói rằng, từ vô lượng vô số kiếp xa xưa (trong những thời đại của các đức Phật Tì Bà Thi, Thi Khí, Tì Xá Phù v.v...), khi đức Thích Ca Mâu Ni còn đang tu tập hạnh Bồ-tát, Ngài đã từng nhiều lần nghe biết và thán phục công đức cũng như sức oai thần lớn của Bồ Tát Quán Thế Âm. Trong lúc đức Phật sắp bắt đầu nói kinh này ở tinh xá Kì-viên (thành Xá-vệ), thì đức Quán Thế Âm đang ở đại địa ngục A-tì để cứu độ chúng sinh đau khổ; và lúc đó, từ trong địa ngục ấy, ánh hào quang rực rỡ của đức Bồ Tát đã rọi lên chiếu sáng cả khu vườn Cấp-cô-độc, làm cho quang cảnh Kì-viên tăng phần trang nghiêm vi diệu. Đồng thời đức Bồ Tát cũng cứu độ vô số ngạ-quỉ được vãng sinh về thế giới Cực-lạc, trở thành những vị Bồ Tát bất thối ở cõi Tây-phương. Kinh này cũng chép rằng, có một lúc Bồ Tát Quán Thế Âm đến thành Ba-la-nại, bấy giờ thành phố này rất dơ bẩn, vô số trăm ngàn vạn loại sâu bọ dòi trùng chen chúc. Ngài phát tâm từ bi, muốn cứu độ các chúng sinh dơ bẩn kia. Ngài liền hóa thân thành một con ong, bay tới chỗ ấy, trong tiếng kêu vo-ve có phát ra tiếng “Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng”. Các loài sâu bọ dòi trùng nghe tiếng ấy cũng đều bắt chước kêu theo như thế: “Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng”; tức thì tất cả đều mạng chungvãng sinh về thế giới Cực-lạc.

Trong Kinh Đại Bi, đức Phật bảo tôn giả A Nan rằng: “Bồ Tát Quán Thế Âm thần thông oai lực không thể nghĩ bàn. Vị Bồ Tát ấy có ngàn tay, mỗi tay đều tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các điều mong cầu của chúng sinh (như cầu được giàu sang, được khỏi bệnh, được yên ổn, được gặp bạn lành, thoát khỏi ách nạn, hàng phục ma quỉ, quyến thuộc hòa thuận, được thân cận Tam Bảo, được vững tâm bồ-đề, v.v...). Đó là do tâm đại bi của vị Bồ Tát ấy hóa hiện.” Kinh này còn nói, vì tâm đại bi cứu độ chúng sinh mà đức Bồ Tát Quán Thế Âm nói ra thần chú “Đại Bi”. Chính Ngài đã bạch lên đức Phật về sức oai thần của thần chú ấy: “Nếu chúng sinh nào tụng trì thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào ba đường dữ, không được sinh về các cõi Phật, con thề không thành Chánh-giác. Những người tụng trì thần chú này, mọi điều mong cầu đều được toại nguyện – ngoại trừ mong cầu những điều bất thiện. Ai tụng trì thần chú này với lòng tin tưởng chân thành, đều được chư Phật mười phương chứng minh hộ niệm, cho nên mọi tội lỗi nặng nhẹ, kể cả trọng tội ngũ nghịch, cũng đều được tiêu trừ...”

Trong Kinh Pháp Hoa (phẩm Phổ Môn), sức oai thần diệu dụng cứu độ của Bồ Tát Quán Thế Âm còn được đức Phật chỉ dạy cho chúng ta thấy một cách cụ thể:

- Ái dục, sân hậnsi mêba loại phiền não độc hại nhất từng nhận chìm chúng sinh trong biển sinh tử luân hồi từ vô thỉ đến nay; nhưng nếu ai bị nhiều nỗi đau khổ hành hạ vì tâm ái dục quá nhiều, hoặc vì tâm sân hận quá cao, hoặc vì tâm si mê quá nặng, mà được phước duyên nghe được danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm, rồi thành tâm trì niệm danh hiệu Ngài, sẽ được Ngài cứu độ cho cởi bỏ được ba loại phiền não độc hại ấy.

- Trong tất cả các trường hợp bị tai nạn, nếu thành tâm xưng niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm, do “sức niệm Quán Âm”, liền được thoát khỏi tai nạn – mà điển hình là bảy loại tai nạn: nạn lửa, nạn nước, nạn gió, nạn dao gậy, nạn gông cùm, nạn giặc cướp, nạn ác quỉ.

- Một cách tổng quát, oai thần diệu dụng cứu độ của Bồ Tát Quán Thế Âm lớn lao không thể nghĩ bàn. Người trì niệm danh hiệu của Ngài sẽ được vô lượng vô biên phước đức; chỉ cần chí thành niệm danh hiệucung kính lễ bái cúng dường Ngài một lần trong đời, thì phước đức ấy cũng sánh bằng với người trọn đời niệm danh hiệulễ bái cúng dường sáu mươi hai ức hằng sa chư vị Bồ Tát khác trong mười phương.

- Do oai thần diệu dụng rộng lớn như thế, đức Bồ Tát Quán Thế Âm thường xuyên có mặt ở thế giới Ta-bà, bằng đủ mọi loại thân hình thị hiện (từ thánh nhân cho đến trời, người, cùng 8 bộ long thần), để cứu độ rộng khắp mọi chúng sinh đau khổ. Trong phẩm “Phổ Môn” này, đức Phật đã kể ra 32 hiện thân như thế của Bồ Tát Quán Thế Âm, đó là thân Phật, thân Phật Bích-chi (Kinh Thủ Lăng Nghiêm thì kể làm hai thân: Độc-giác và Duyên-giác), thân Thanh-văn (3 loại thân thánh nhân); các thân trời Phạm Vương, trời Đế Thích, trời Tự Tại, trời Đại Tự Tại, Đại tướng quân của trời Đế Thích, trời Tì Sa Môn (6 loại thân trời); các thân quốc vương, trưởng giả, cư sĩ, quan lại, bà la môn, tì kheo, tì kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, phụ nữ, đồng nam, đồng nữ (12 loại thân người); các thân thiên, long, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, thân người nói chung, thân các loài phi-nhân khác, thân thần cầm chày kim cang (11 loại thân nhânphi nhân). Thật ra, chúng sinh thì nhiều vô lượng, nỗi đau khổ của chúng sinh thì vô biên, cho nên thân ứng hóa của Bồ Tát Quán Thế Âm ở trong thế gian cũng vô biên vô lượng; sự liệt kê 32 (hoặc 33) thân ở trên chỉ mang ý nghĩa tượng trưng mà thôi.

Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, ngoài 32 ứng thân như trên (liệt kê có khác đôi chút), đức Bồ Tát Quán Thế Âm còn thành tựu được 14 năng lực vô úy; nhờ đó mà “tất cả chúng sinh trong mười phương, những ai đang bị khổ nạn, nếu thành tâm xưng niệm danh hiệu Ngài, liền được thoát khỏi các khổ nạn; dù vào hầm lửa lớn, lửa không đốt cháy được; dù bị rớt xuống nước, nước không nhận chìm được; dù vào nơi ác quỉ, ác quỉ không hại được; dù gặp nạn đao kiếm, đao kiến liền bị gẫy; v.v...”thế cho nên trong Kinh Pháp Hoa (phẩm Phổ Môn), Ngài được gọi là “bậc bố thí đức tính không sợ hãi”.

 

*

 

Nói tóm lại, đức từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm rộng lớn vô biên, hạnh nguyện cứu độ chúng sinh của Ngài bao la vô tận, và oai thần diệu dụng cứu độ của Ngài thật không thể nghĩ bàn. Vì tình thương là đức tính tiêu biểu của Ngài, cho nên ở các nước Á-đông, người Phật tử thường tôn thờ Ngài bằng hình ảnh một bà Mẹ hiền; vì qua hình ảnh đó, họ mới cảm nhận được trọn vẹn niềm thân thương ấm cúng, sự đùm bọc che chở của Ngài.

Tất cả hạnh nguyện độ sinh của Bồ Tát Quán Thế Âm được đặt trên nền tảng tâm đại bi. Bi tâm ấy hoàn toàn thanh tịnh, sáng suốt, bình đẳng. Vì thế, bất cứ ở đâu, lúc nào, hễ có chúng sinh đau khổ là liền có Ngài thị hiện để cứu độ; và cũng vì thế mà sự cứu độ của Ngài luôn luôn được thi thiết trên nguyên lí “cảm ứng” –nghĩa là có cảm tất có ứng. Những người có lòng tin tưởng vững chắc nơi Ngài, thời thời thờ kính Ngài, mỗi khi có điều kêu cầu (cảm) liền được Ngài cứu độ (ứng) đã đành; đến như những người xưa nay chưa từng tin tưởng và thờ kính Ngài (như người ngoại đạo chẳng hạn), trong trường hợp nguy hiểm khẩn cấp, bỗng dưng được biết và chí thành xưng niệm danh hiệu Ngài để cầu xin cứu độ, tức khắc họ được Ngài cứu độ. Thậm chí, những kẻ suốt đời làm ác, phỉ báng Tam Bảo, phá hoại Phật pháp, rồi trong một hoàn cảnh nguy khốn, quá sợ hãi, bỗng dưng nhớ được danh hiệu Ngài, chí thành xưng niệm, kêu cầu cứu độ, cũng tức khắc được Ngài cứu độ! Có điều nên biết, là chúng ta không thể nào hiểu biết được sự cứu độ của Ngài, vì nó hoàn toàn vượt ra ngoài tầm hiểu biết của chúng ta; chúng ta chỉ cảm nhận được bằng trực giác rằng, chúng ta “đã được Ngài cứu độ” mà thôi –hạnh phúc riêng ai nấy biết.

Phật tử chúng ta không những trọn lòng tín ngưỡng đức Bồ Tát Quán Thế Âm, mà còn nên tu tập theo hạnh đại bi của Ngài, làm cho công hạnh độ sinh của Ngài được thể hiện ngay nơi mỗi người Phật tử chúng ta. Con người hiện nay ngày càng tàn ác; càng văn minh tiến bộ về vật chất thì càng dơ bẩn, thụt lùi về tâm linh. Bởi vậy, những khổ nạncon người trên thế giới phải gánh chịu do thiên tai, do chiến tranh, do lừa lọc, do cướp bóc, do bạo hành, do đâm chém bắn giết, v.v..., cứ xảy ra không những hằng ngày, hằng giờ, mà phải nói là hằng phút, hằng giây. Số chúng sinh đau khổ quá nhiều, dù chúng ta cũng thấy có xuất hiện không biết bao nhiêu tấm lòng nhân ái, nhường cơm xẻ áo, trợ giúp kẻ khốn cùng, dùng lời từ ái để xoa dịu phần nào nỗi đau thương thống khổ cho người bất hạnh, nhưng vẫn không làm sao vơi hết khổ đau được! Người Phật tử thấy rõ tình trạng đó, hãy cùng khuyến tấn nhau thời thời sống với tâm từ bi, không tham lamtinh tấn bố thí; không hận thùhỉ xảyêu thương người; nghe nơi nào cần giứp đỡ liền tùy khả năng mà ra tay tế độ. Đó chính là hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm. Một triệu người Phật tử sống đời sống như thế, là một triệu hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm trong cõi đời đau khổ này!

Sáng cho người thêm niềm vui; chiều giúp người bớt khổ.

 

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÌ KHEO NI PHÁP DỮ

(dịch)

 

 

Thời Phật tại thế, ở kinh thành Vương-xá (thủ đô vương quốc Ma-kiệt-đà, miền Trung Ấn-độ) có hai ông trưởng giả tên là Thiên Dữ và Lộc Tử. Cả hai ông đều rất mực giàu có, tài sản to lớn không ai sánh bằng, có thể nói, họ chỉ đứng dưới vị quốc vương mà thôi.

Nhưng giữa hai ông ấy, ai giàu hơn ai?

Thực sự thì không ai có thể biết được là giữa hai ông ấy, ai giàu hơn ai. Cả hai người, ai cũng tự khoe là mình giàu hơn, tài sản của mình nhiều hơn đối phương, không ai chịu thua ai. Cuộc tranh hơn tranh thua đó giữa hai người, ban đầu còn xảy ra trong âm thầm, về sau thì công khai, đến nỗi kết oán, trở thành hai kẻ đối đầu không nhân nhượng nhau.

Nhưng tục ngữ có câu rằng: “Không phải oan gia, không họp mặt.”, khi sự tranh chấp giữa hai ông trưởng giả trở nên căng thẳng đến cực độ, thì một vị thiện tri thức tình nguyện đứng ra hòa giải. Nhờ đó mà hai ông cảm thông nhau, rồi trở thành bạn bè của nhau. Tình bạn của hai người ngày càng trở nên sâu đậm. Họ còn hi vọng, tình bạn thân thiết giữa hai gia đình vẫn được giữ mãi cho tới thế hệ con cháu. Một hôm họ tâm sự với nhau:

– Này huynh! Tôi nghĩ chỉ có biện pháp này là giữ mãi được tình thân hữu tốt đẹp giữa hai gia đình chúng ta cho đến đời con cháu.

Biện pháp gì, xin huynh nói thử!

Chúng ta hãy kết thành thông gia với nhau!

Ý kiến của huynh rất hay, nhưng rất tiếc, chúng ta đều chưa ai có con cái gì cả!

– Giản dị thôi! Chúng ta đều đã có vợ, thế nào rồi cũng sinh con. Vậy, bất cứ là huynh hay tôi, một bên có con trai, một bên có con gái, thì cho hai trẻ chúng nó kết hôn với nhau; thế có phải tốt đẹp không?

– Rất tốt, chúng ta cứ quyết định như vậy đi!

Không lâu sau đó, trưởng giả Thiên Dữ sinh được một bé gái, dung mạo đoan chánh, sắc đẹp hơn người; rất tiếc, từ sau khi sinh ra đời, bé rất hay khóc, khóc hoài! Nhưng nếu chú ý thì thấy cô bé có điểm đặc biệt: Cứ khi nào trưởng giả Thiên Dữ thỉnh chư tăng đến nhà thuyết pháp, thì bé nín khóc; chẳng những thế, bé lại còn vểnh hai vành tai nhỏ xíu lên nghe pháp, nghe một cách chăm chú, say sưa! Ở tuổi bé thơ như vậy, cô nghe pháp có hiểu gì không? Điều đó không cần biết, chỉ biết rằng, cô bé rất thích nghe pháp, đó là sự thật. Chính vì cô bé ưa thích nghe pháp, cho nên, đến lúc cần đặt tên cho cô, ông trưởng giả đã suy nghĩ chín chắn, phải dùng một pháp tự sao cho vừa phù hợp với tính tình của cô, lại có liên hệ đến tên của ông. Nhân vì tên của ông là Thiên Dữ (nghĩa là: những gì ông có được là do trời cho – HC), cho nên ông đã đặt tên cho cô bé là Pháp Dữ (nghĩa là: những gì cô bé có được là do Phật Pháp cho – HC).

Ông trưởng giả Lộc Tử, khi biết tin bạn mình vừa sinh một bé gái sắc nước hương trời, thì mừng rỡ vô cùng. Ông nghĩ: “Tuy mình hiện giờ chưa có con, nhưng nếu như mình đã có con rồi, thì có phải cháu bé kia sẽ là con dâu tương lai của mình không?” Nghĩ vậy, ông liền sắm sửa một mâm lễ phẩm gồm y phục, chuỗi ngọc v.v..., đem sang nhà trưởng giả Thiên Dữ để chúc mừng, trông chẳng khác gì đem đưa sính lễ. Ông Thiên Dữ vui mừng vô kể, nói:

– Nhờ phước đức của lão huynh mà tôi có được một đứa con gái. Sau này lão huynh có được con trai thì nhất định chúng ta sẽ thành thông gia.

Ông Lộc Tử cũng vui mừng không kém, đáp lời:

– Xin cám ơn lão huynh. Đúng vậy, tôi tin chắc rằng, nhất định tôi sẽ có con trai.

Quả thật vậy, sau đó không lâu, bà vợ ông trưởng giả Lộc Tử sinh được một bé trai. Vì ngày em bé được sinh ra thuộc tháng Tì-xá-khư (tháng 2 của lịch Ấn-độ), nên bé được đặt tên là Tì Xá Khư.

Ông trưởng giả Thiên Dữ nghe được tin này, cũng vô cùng mừng vui, tại vì, sự ra đời của cậu bé Tì Xá Khư thật là đúng lúc để hai gia đình trở thành thông gia. Để mừng mình có thằng con rể, ông Thiên Dữ liền sắm sửa một mâm lễ phẩm quí giá, đem sang nhà ông Lộc Tử để chúc mừng...

 

*

 

Ngày qua tháng lại, dần dần cô bé Pháp Dữ đã đến tuổi trưởng thành, nhưng tâm tư của cô không giống với các cô gái cùng lứa tuổi trong xã hội; cô hoàn toàn không để ý đến chuyện lập gia đình. Thế rồi, một sự việc đã xảy ra thật ngoài sức tưởng tượng của mọi người, làm ai cũng kinh ngạc!

Một hôm nọ, với dáng vẻ nghiêm túc, cô đến trước phụ thân, và quì xuống. Cử chỉ ấy của cô thật quan trọng, từ trước đến giờ cô chưa từng làm như thế bao giờ. Ông trưởng giả Thiên Dữ có vẻ lo lắng, hỏi:

– Pháp Dữ! Con đang có chuyện gì khó khăn phải không?

Cô thưa:

– Dạ có, thưa Ba! Nhưng trước hết xin Ba chấp thuận cho điều con sắp thưa.

– Ba chấp thuận rồi, con cứ nói đi!

– Thưa Ba! Điều này con đã suy nghĩ và muốn thưa với Ba từ lâu rồi, nhưng con sợ, chưa dám thưa.

– Con đừng sợ! Ba đang đứng đây, con cứ nói đi!

– Thưa Ba! Con muốn đi xuất gia học đạo! Con rất thích đi xuất gia tu hành!

– Cái gì? Con muốn xuất gia?

Ông Thiên Dữ thật hoàn toàn bất ngờ, nên giọng nói có vẻ gay gắt. Nhưng bản tính ông vốn hiền từ, hòa ái, chưa bao giờ ông nặng lời, lớn tiếng, làm cho con buồn. Bởi vậy, ông vội nén xuống niềm kích động, nhỏ nhẹ nói:

– Con à! Con đừng nói đùa như vậy! Con không thể làm hỏng chuyện được đâu! Hôn sự của con, ba và bác Lộc Tử đã đính ước từ trước khi con sinh ra đời kìa. Con không nên gây khó cho ba! Con đừng nói nữa! Chuyện gì con xin cũng được, ngoại trừ chuyện con đi xuất gia.

Chắc chắn là ông trưởng giả từ chối, chuyện ấy Pháp Dữ đã dự liệu trước. Vì vậy, khi nghe xong những lời trên của thân phụ, cô đã không lặp lại lời thỉnh cầu, không tiếp tục nài nỉ, không nói thêm gì nữa. Tuy nhiên, cô vẫn kiên quyết giữ vững ý chí, vẫn tích cực với con đường xuất gia học đạo. Cô đang suy nghĩ để tìm một biện pháp khác khả dĩ giúp cô hoàn thành chí nguyện xuất gia.

Việc trước tiên, cô xin qui y Tam Bảo. Cô xin làm đệ tử của tôn giả ni Liên Hoa Sắc. Do nhân duyên này, tôn giả rất thường lui tới nhà trưởng giả Thiên Dữ để dạy dỗ Pháp Dữ, và được mọi người trong nhà đều kính ngưỡng. Và cũng do nhân duyên này mà Pháp Dữ đã có cơ hội trình lên tôn giả chí nguyện của mình:

– Bạch Tôn giả! Trước hết con xin thành tâm tri ân Tôn giả đã thương xót con mà dạy dỗ bấy lâu nay. Giờ đây con thỉnh cầu một việc, không biết Tôn giảhoan hỉ thành tựu cho con hay không?

Phật pháp thành tựu cho tất cả chúng sinh, thì đương nhiên con cũng được thành tựu.

– Bạch Tôn giả! Con thỉnh cầu Tôn giả độ cho con xuất gia, thọ giới cụ túc, làm tì kheo ni.

Tâm nguyện của con rất tốt! Nhưng trước hết phải được song thân con chấp thuận.

– Bạch Tôn giả, không được! Tại vì phụ thân con không bao giờ chấp thuận! Con xin Tôn giả giúp cho con được xuất gia một cách âm thầm ở tại nhà mà thôi.

– Việc xuất gia là phải công khai, không thể thực hiện trong âm thầm bí mật được. Tuy nhiên, thầy sẽ đem việc này về thỉnh ý đức Thế Tôn, Ngài sẽ có biện pháp tốt giúp con toại nguyện; bởi vì, con đã phát tâm xuất gia chân chánh, thì đó là công đức tối thượng.

Quả vậy, tôn giả ni Liên Hoa Sắc, đã ngay tức khắc, đem chí nguyện của cô Pháp Dữ trình lên đức Phật để xin chỉ thị. Đức Phật quán xét biết rõ tâm nguyện của Pháp Dữ; đồng thời Ngài cũng biết rõ cơ duyên của Pháp Dữ đã đến lúc thành thục. Cho nên Ngài đã cho phép tôn giả được âm thầm độ cho Pháp Dữ được đặc biệt xuất gia tại nhà.

Vâng lãnh ý Phật, tôn giả vẫn tới lui nhà trưởng giả Thiên Dữ bình thường như bấy lâu nay, để dạy dỗ cô Pháp Dữ. Và thừa dịp những lần lui tới này, tôn giả lần lữa từng bước một, kín đáo truyền giới cho Pháp Dữ: trước tiênnăm giới tại gia; một thời gian sau thì truyền mười giới Sa-di-ni; rồi đến sáu pháp học của Thức-xoa-ma-na-ni. Nghi thức truyền giới bí mật này chỉ là phương tiện hóa độ đặc biệt, trước hết được đức Thế Tôn cho phép, sau đó được thông qua tăng đoàn Tì-kheo-ni, và tôn giả ni Liên Hoa Sắc đã thừa lệnh “tăng sai” mà thi hành, để thành tựu giới thể cho cô Pháp Dữ. Cho nên, tuy nói là “bí mật”, mà kì thật là “công khai”.

Nhờ có thiện căn sâu dầy đời trước, sau khi được thọ giới Thức-xoa-ma-na, và nghe lời khai thị của tôn giả Liên Hoa Sắc, cô Pháp Dữ liền ngộ đạo, chứng được Sơ-quả Dự-lưu. Cô vô cùng hoan hỉ, và càng tin tưởng vững chắc vào tiền đồ giải thoát của mình.

 

*

 

Kì hạn hai năm thọ giới Thức-xoa-ma-na của cô Pháp Dữ trôi qua như nháy mắt. Và cũng đã đến lúc hai bên gia đình trưởng giả Lộc Tử và trưởng giả Thiên Dữ lo chuẩn bị hôn sự cho cậu Tì Xá Khư và cô Pháp Dữ. Cả mọi người trong hai gia đình đều không biết gì về việc xuất gia của cô Pháp Dữ. Hai gia đình thật là “môn đăng hộ đối”. Ai cũng vui mừng hớn hở về ngày cưới sắp tới, và không cần nói thì ai cũng thấy rõ, người sung sướng nhất trong lúc này chính là cậu Tì Xá Khư, con trai ông trưởng giả Lộc Tử. Nghĩ tới chuyện mình sắp làm chồng một cô gái “thiên kim tiểu thư”, cậu thấy hạnh phúc của mình sao mà lớn lao quá! Cậu háo hức trông mong cho mau tới ngày cưới.

Tin tức về đám cưới của hai nhà triệu phú giàu nhất kinh thành chẳng mấy chốc được loan truyền rộng rãi. Dân chúng khắp thành Vương-xá đều nô nức trông chờ được xem một đám cưới mà họ cho là “vô tiền khoáng hậu”.

Trong khi đó thì cô Pháp Dữ không hề để ý gì đến sự việc này. Thân phụ cô, vì đã một lần biết cô có ý muốn xuất gia, cho nên, tuy vẫn lo chuẩn bị mọi việc cho đám cưới của cô, nhưng ông không nói gì cho cô biết hết. Ông muốn để đến giờ chót, mọi việc đâu vào đó cả rồi, ông bảo sao thì cô phải làm vậy.

Hôm ấy, thấy trong nhà mình được trang hoàng cực kì lộng lẫy, tất cả gia nhân đều vô cùng bận rộn, cô Pháp Dữ tưởng thân phụ sắp tổ chức “Hội Trăm Hoa” như mọi năm. Cô bèn hỏi một gia nhân:

– Nhà ta sắp mở Hội Trăm Hoa phải không?

– Dạ không phải, thưa cô nương! Vả lại, mùa này đâu phải là mùa trăm hoa rộ nở!

– Lạ nhỉ! Vậy có tiệc vui gì mà sửa soạn linh đình thế?

– Dạ thưa, hoàn toàn nhờ phúc đức của cô nương mà chúng tôi sắp được uống rượu mừng đó!

Vừa nghe gia nhân nói thế, cô biết ngay là chuyện gì sắp xảy ra. Cô hốt hoảng, muốn khóc! Cô chạy nhanh đi tìm ông trưởng giả, và cũng như lần trước, cô quì xuống thưa:

– Thưa Ba! Từ lâu con đã thưa với Ba là con không muốn lập gia đình, con đã phát tâm xuất gia, và chỉ quyết một lòng đi xuất gia. Xin Ba cho con được toại nguyện, con gái của Ba chỉ muốn đi đến tinh xá để làm tì-kheo-ni!

– Con gái cưng của ba, không thể như thế được đâu! Con nên biết, từ lúc mẹ con mới mang thai con, ba đã hứa gả con cho con của bác Lộc Tử rồi. Hiện tại trong cả thành Vương-xá này, chỉ một mình con chưa biết mà thôi, chứ trên từ đức vua, xuống đến các vị đại thần, quan viên các cấp, và khắp cả dân chúng, không ai là không biết tin mừng: Ngày mai là ngày lễ thành hôn của con và Tì Xá Khư. Con đã chẳng mau đi chuẩn bị để làm dâu, lại còn đòi đi xuất gia! Con nên biết, vương pháp của nước ta, dối gạt hôn nhâncoi thường vua quan là hai tội rất nặng, con đừng làm cho ba của con phải phạm hai tội nặng ấy nhé!

Ông trưởng giả nói gì thì nói, vẫn không lay chuyển được ý chí của con gái ông. Cô Pháp Dữ vẫn cương quyết giữ tâm nguyện xuất gia của mình. Đến nước này thì không cần phải giấu giếm gì nữa, cô thưa rõ:

– Thưa Ba! Con hiểu rõ những điều Ba vừa nói. Nhưng bây giờ con cũng xin thưa rõ cho Ba biết: Con đã bí mật xuất gia rồi!

– Con đã xuất gia?

– Dạ vâng! Gần ba năm trước đây, con gái của Ba đã xuất gia, đã cạo đầu, đã thọ mười giới Sa-di-ni, và cũng đã thọ sáu pháp học Thức-xoa-ma-na-ni!

– Con nói sao? Con đã cạo đầu?

– Dạ vâng, thưa Ba! Đầu con đã cạo sạch tóc. Hiện tại trên đầu con chỉ là tóc giả mà thôi!

– Thật là bực mình! Con muốn hại ba của con hay sao? Nhưng thôi, bất luận thế nào, con phải chuẩn bị để đi làm dâu cho đúng ngày giờ!

– Con thà chết chứ không chịu lập gia đình! Con quyết chí xuất gia, từ bỏ ái dục!

– Con à! Đường đời con mới chập chững bước đầu, con không nên mù quáng, nếu về sau con không kham nổi nếp sống của người xuất gia, lúc bấy giờ ăn nói làm sao? Ba nghe nói, phải chứng quả A-la-hán thì mới li dục; bây giờ nếu con đã là vị A-la-hán li dục, thì ba cho con đi xuất gia liền.

– Thưa Ba! Hiện giờ con đang hướng đến quả vị A-la-hán, chứ chưa thành A-la-hán.

– Đã không phải là A-la-hán li dục thì con phải về làm con dâu của bác Lộc Tử. Con gái lấy chồng mới đúng với qui luật tự nhiên của trời đất. Hơn nữa, gia sản bên người ta cũng không thua kém gì nhà mình; mà công tử Tì Xá Khư cũng không thua kém gì con.

– Con không cần những thứ đó. Con muốn xuất gia, và chỉ muốn xuất gia mà thôi!

Trong lúc hai cha con ông trưởng giả Thiên Dữ đối đáp qua lại như vậy, thì thân bằng quyến thuộc dần dần tụ tập đông đúc. Họ đứng hết về phía ông trưởng giả. Họ được nghe câu chuyện giữa hai cha con, và ai cũng vào hùa với ông trưởng giả, góp lời khuyên lơn cô Pháp Dữ hãy bỏ ý nguyện xuất gia. Ai cũng phụ họa với ông trưởng giả để nói rằng, con đường đi đến quả li dục A-la-hán thật vô cùng khó khăn; người trẻ tuổi xinh đẹp như cô thì làm sao kham nổi đời sống phạm hạnh; v.v... Cô hoàn toàn bị cô lập giữa đám đông miệng lưỡi tục tình! Dù vậy, cô vẫn không mảy may sợ sệt, không chút nào tuyệt vọng. Khi thân phụ cô và tất cả thân bằng quyến thuộc vây quanh đều nhắc tới vấn đề “li dục”, cô thấy không tiện tranh luận với họ; trái lại, cô đã nhân cơ hội này mà tự sách tấn mình, chuyên tâm nhất ý tinh tấn tu tập, quyết cố gắng sớm chứng quả Li Dục. Quả thật không ngờ, tâm chân thành, chí dõng mãnh của cô lúc ấy, đã cảm thông đến đức Thế Tôn!

 

*

 

Cùng trong thời khắc ấy, lúc bấy giờ đức Phật đang đi kinh hành trên một lối đi im vắng trong tinh xá Trúc-lâm, bỗng Ngài mỉm cười, từ miệng phóng ra ánh sáng năm màu vi diệu. Nếu khôngnguyên do, không bao giờ đức Phật mỉm cười và miệng phóng ánh sáng như vậy. Cho nên, tôn giả A Nan đã cung kính thỉnh Phật khai thị:

– Bạch đức Thế Tôn! Con chưa từng thấy đức Thế Tôn vô cớ mà mỉm cười!

– Này A Nan, đúng vậy! Gần ba năm trước đây, Như Lai đã dạy chúng Tì-kheo-ni truyền thọ ba qui, năm giới, rồi mười giới, tiếp đến là sáu pháp học cho cô gái Pháp Dữ; thế nhưng ngày mai lại đúng là ngày hôn lễ của cô ấy!

– Bạch đức Thế Tôn! Việc này chính con cũng đã được biết.

– Nhưng có điều thầy không biết: Không bao lâu nữa cô ấy sẽ chứng quả Bất-hoàn, rồi lại chứng quả Vô-sinh! Chúng ta không thể để cô ấy ở lâu hơn nữa trong nhà thế tục. Chúng ta phải giúp cô ấy thọ giới Tì-kheo-ni, và ở chung với Ni chúng.

Tôn giả A Nan vâng lãnh ý Phật, đem truyền đạt cho chúng Tì-kheo-ni. Tôn giả ni Liên Hoa Sắc lại được Ni chúng suy cử làm Hòa-thượng, đến tận nhà trưởng giả Thiên Dữ, kín đáo truyền thọ giới Tì-kheo-ni cho Thức-xoa-ma-na-ni Pháp Dữ.

Đúng như câu tục ngữ nói: “Dưa chín muồi thì cuống rụng.” Vừa thọ giới Cụ-túc xong, Pháp Dữ tuân theo phương pháp tu trì mà dốc sức tu tập. Chỉ một thời khắc ngắn sau đó, tâm trí cô bỗng bừng sáng, một niệm vô minh phiền não cuối cùng bị đoạn tận, cô chứng quả vị A-la-hán li dục, với đầy đủ thần thông của bậc A-la-hán. Giờ đây cô đã là tôn giả ni Pháp Dữ, phạm hạnh đã trọn, chỗ làm đã xong, không còn thọ thân sau. Tâm tôn giả không còn chướng ngại, hoàn toàn tịch tĩnh, không còn dấu vết, không phân biệt thương ghét, vàng ngọc và bùn đất không khác nhau, tất cả danh lợi, của cải, không thứ gì là không đáng xả bỏ.

Cô Pháp Dữ đã chứng thánh quả A-la-hán li dục, đó là sự thật, ông trưởng giả Thiên Dữ không thể nào phủ nhận! Nhưng ngày mai là ngày cử hành hôn lễ của cô con gái, đó cũng lại là sự thật, mà vì trách nhiệm, vì uy tín của một danh gia triệu phú, ông không thể hủy bỏ được! Ông phải tìm một kế sách thiện xảo, khả dĩ chu toàn tốt đẹp một lúc cả hai trường hợp khó xử này. Ông suy nghĩ một lúc, rồi nói với cô Pháp Dữ:

– Bây giờ thế này: Để ba khỏi bị phạm vương pháp, cũng không thất tín với ông trưởng giả Lộc Tử và các thân bằng quyến thuộc, ngày mai chúng ta vẫn cứ cử hành hôn lễ như đã dự định. Nhưng, trước khi cử hành hôn lễ, chúng ta thiết lễ trai tăng để cúng dường Phậtchư tăng. Sau khi thọ trai xong thì đức Phậtchư tăng trở về tinh xá, liền lúc đó, con theo chân Ngài ra khỏi nhà. Mong nhờ thần lực của Phật, và thần lực A-la-hán của chính con, việc kế tiếp sẽ diễn ra trong không khí thuận lợi, trang nghiêm, hoàn hảo.

Sáng hôm sau, lúc sắp cử hành hôn lễ, đức Thế Tôn suất lãnh chư tăng đến nhà trưởng giả Thiên Dữ. Bên nhà ông trưởng giả Lộc Tử, công tử Tì Xá Khư cũng dẫn bà con bạn bè kéo sang. Về phía quan khách, ngoài đức vua ra, còn có bao nhiêu triều thần, quan viên các cấp lớn nhỏ trong kinh thành Vương-xá, đều đến tham dự đông đủ; đó là chưa kể đến sự có mặt đông đảo của dân chúng trong kinh thành Vương-xá.

Giờ cử hành hôn lễ đã tới! Tiết mục đầu tiên là lễ cúng dường trai tăng, đức Phậtchư tăng thọ thực. Theo lệ thường, sau khi thọ thực, đức Thế Tôn đã vì thí chủ cúng dườngthuyết pháp. Bài pháp này của đức Phật thuyết, đã đánh thức tâm linh của nhiều người, làm họ rất xúc động. Nhưng đó mới chỉ là sự hiển nhiên, vì lời dạy của đức Thế Tôn, dù ở đâu, bất cứ trường hợp nào, cũng đem lại lợi lạc cho chúng sinh; còn sự việc xảy ra sau đây mới là sức tác động đặc biệt lớn lao đối với tâm ý mọi người trong buổi lễ ấy:

Sau khi nói xong bài pháp, đức Thế Tôn rời pháp tòa, ra khỏi nhà trưởng giả Thiên Dữ để trở về tinh xá. Tức thì, cô Pháp Dữ cũng đi liền theo sau Ngài ra khỏi nhà. Công tử Tì Xá Khư đứng ngay trước cửa chờ đợi đã lâu, bây giờ thấy cô Pháp Dữ ra khỏi cửa, tưởng là đã đến lúc bắt đầu hôn lễ, bèn bước tới trước nắm tay cô Pháp Dữ.

Nhưng thật là không thể tưởng tượng nổi, rõ ràng kia là cánh tay ngọc ngà của người đẹp, và cậu đã nắm được nó, sao lại cậu có cảm giác như mình vừa nắm hư không! Trong khi đó thì cô Pháp Dữ đã ung dung bước ra sân nhà. Rồi trông kìa! Một cảnh tượng diệu kì lại xuất hiện làm kinh động lòng người: Rõ ràng là cô gái kiều diễm đó, nhưng lại bay lên không trung như một con đại bàng; cô phi hành tự tại, đi đứng nằm ngồi tự nhiên; rồi cô còn diễn bày nhiều loại thần thông biến hóa khác nữa!

Trước cảnh tượng huy hoàng ấy, mọi người có mặt ở hiện trường lúc bấy giờ, kể cả cậu công tử Tì Xá Khư, đều cảm thấy như có luồng gió mát thổi tới làm cho tỉnh mộng. Một cách tự nhiên, không ai bảo ai, họ đều ngưỡng vọng lên không trung, chí thành đảnh lễ vị Thánh ni Pháp Dữ! Cái ý niệm về “hôn lễ” bỗng chốc biến mất hết trong tâm mọi người –ngay cậu công tử Tì Xá Khư cũng vậy!

Thấy rõ được tâm ý của mọi người như thế, Thánh giả Pháp Dữ bèn từ không trung hạ xuống, vì đại chúngtuyên thuyết Phật pháp. Tất cả những người đi dự hôn lễ hôm đó, đều trở thành những chúng sinh có căn lành được Phật Pháp hóa độ. Sau bài pháp của Thánh giả Pháp Dữ, mọi người hiện diện đều quay về tín phụng Tam Bảo, mà nhiều người trong đó, nhân cơ hội này, còn chứng được cả Sơ-quả Dự-lưu!

Do thành quả này mà tì kheo ni Pháp Dữ đã được đức Thế Tôn khen ngợi là vị thuyết pháp đệ nhất trong Ni chúng.

 

 (Trích dịch từ sách Thánh Giả Đích Cố Sự,

nguyên tác Hoa văn của Pháp sư Thánh Nghiêm,

Đông Sơ Xuất Bản Xã Đài-bắc in lần thứ 6, năm 1990)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HẦM LỬA HÓA THÀNH AO SEN

(Chuyện Trưởng Giả Thất Lị Cấp Đa – dịch)

 

 

Hồi đức Phật còn tại thế, trong kinh thành Vương-xá của vương quốc Ma-kiệt-đà, có một vị trưởng giả tên là Thất Lị Cấp Đa, vốn là tín đồ thuần thành của giáo phái ngoại đạo Lõa-hình.

Đức Phật là đấng Cha Lành cứu độ thế nhân và tất cả chúng sinh. Ngài chỉ khuyến hóa ngoại đạo cải tà qui chánh, chứ tuyệt đối không bao giờ làm tổn thương danh dự của ngoại đạo. Đức Phật là như thế, mà chư vị đệ tử của Ngài cũng giống như vậy, đã không kì thị ngoại đạotrái lại còn giúp đỡ họ những khi cần thiết.

Nhưng, người ngoại đạo thì thường là tâm lượng hẹp hòi, chỗ thấy biết thì hoàn toàn tà ngụy, cho nên, nhìn thấy công cuộc giáo hóa độ sinh của đức Phật luôn luôn thành tựu tốt đẹp, không những họ đem lòng ganh ghét, mà lại còn ôm mối hiềm khích, lúc nào cũng tìm cách phá hoại Phật giáo, gặp dịp là mưu hại đức Phật và các vị tì kheo.

Ông trưởng giả Thất Lị Cấp Đa, vì là tín đồ trung thành của phái ngoại đạo Lõa-hình, cho nên cũng không ra ngoài lệ chung đó. Nhưng ông lại là em rể của ông Tụ Để Sắc Ca, một Phật tử thuần thành. Cả đại gia đình của ông Tụ Để Sắc Ca đều là những tín đồ trung kiên của Phật giáo, thì dĩ nhiên, phu nhân của ông trưởng giả Thất Lị Cấp Đa (tức em gái của ông Tụ Để Sắc Ca) cũng là một Phật tử thuần thành! Do vậy, ngoài mặt thì ông trưởng giả Thất Lị Cấp Đa luôn cố giữ tình thân gia đình đối với ông anh vợ Tụ Để Sắc Ca, nhưng bên trong, do tâm đố kị tôn giáo, ông vẫn coi Tụ Để Sắc Ca là kẻ thù địch.

Ông Tụ Để Sắc Ca thấy người em rể của mình thường hay thỉnh các đạo sĩ Lõa-hình về nhà để cúng dường, thì nẩy sinh thiện ý, muốn ông em rể phát tâm gieo hạt giống lành trong thửa ruộng phước Tam Bảo. Cho nên một hôm, nhân được cơ hội thuận tiện, ông nói với trưởng giả Thất Lị Cấp Đa rằng:

– Chú đã phát tâm cúng dường quí vị đạo sĩ Lõa-hình để cầu phước, thì cũng có thể cúng dường đức Phậtchư tăng vậy, phải không?

Ông trưởng giả tỏ ý không vui:

– Anh nói như thế là có ý gì?

– Ý của tôi là như vầy: Chỉ có đức Phật mới là ruộng phước vô thượng, nếu chú cúng dường Ngài thì chú sẽ thấy lời nói của tôi là chân thật.

– Phải rồi! Anh đến đây chính là để thuyết phục em theo anh tin Phật chứ gì?

– Đúng! Tin Phật là việc tốt hơn hết!

– Anh đã biết rõ, em là tín đồ của các vị thánh Lõa-hình. Nếu muốn em cúng dường đức Phậtchư tăng, thì trước tiên anh hãy cúng dường các vị thánh Lỏa-hình bên giáo phái của em, được không?

Ông Tụ Để Sắc Ca thấy rõ sự xảo quyệt của người em rể trong lời đề nghị ấy. Nhưng vì muốn tạo cơ duyên cho người này được gần gũi Phật, nên ông đã lập tức đáp ứng điều kiện của Thất Lị Cấp Đa. Giống như tâm thành đối với đức Phật, ông cũng đem tâm thành ấy đến thỉnh đạo sĩ Bô Lan Noa, giáo chủ của phái ngoại đạo Lõa-hình:

– Thưa nhân giả! Kính thỉnh nhân giả cùng các vị đệ tử của ngài, ngày mai xin quang lâm tệ xá để thọ bữa cơm đạm bạc do gia đình chúng tôi cúng dường.

Đối với vị giáo chủ của phái Ngoại đạo Lõa-hình, thì đây thật là sự vui mừng to lớn ngoài sức tưởng tượng của ông. Ông nghĩ: “Tụ Để Sắc Ca là một Phật tử thuần thành nổi tiếng, mà hôm nay lại đến thỉnh ta về nhà để cúng dường, vì sao vậy? Có lẽ sa môn Cồ Đàm đã làm điều gì sai trái đối với hắn ta chăng? Hoặc giả hắn ta đã nhận thấy cái đạo lí căn bản của Phật giáo là bất hảo chăng? Nếu không thì tại sao hắn lại thành khẩn thiết tha đối với ta như thế? Ồ, ta hiểu ra rồi! Em rể của hắn là Thất Lị Cấp Đa. Mà Thất Lị Cấp Đa chính là đệ tử trung kiên của ta. Như vậy là, hắn đã được đệ tử của ta khuyến hóa rồi! Ha ha!... Giỏi! Giỏi! Thất Lị Cấp Đa thật giỏi, không hổ là một tín đồ thuần thành của ta!”

Đạo sĩ Bô Lan Noa nghĩ thế, tâm vô cùng mừng vui, liền nhận lời thỉnh cầu của Tụ Để Sắc Ca.

Tụ Để Sắc Ca lại muốn trưởng giả Thất Lị Cấp Đa sẽ cúng dường trai tăng lên Phật và chư tăng thật long trọng, cho nên sau khi về nhà, ông đã tự tay sửa soạn bữa cơm cho ngày mai. Suốt đêm hôm đó, chính ông điều khiển việc nấu nướng, đầy đủ món ngon vật lạ, thật thịnh soạn. Ông chuẩn bị mọi việc thật chu đáo, thật trang trọng, như thể ông đang chuẩn bị để cúng dường đức Phậtchư tăng. Hôm sau, từ sáng sớm ông đã cho trần thiết trai đường thật trang nghiêm, mĩ lệ. Trước cổng nhà treo đèn kết hoa, chưng nhiều cây cảnh; trong sân dọn quét sạch sẽ, không dính tí bụi dơ.

Giờ ăn trưa đã đến. Đạo sĩ Bô Lan Noa suất lãnh khá đông đồ chúng ngoại đạo Lõa-hình tiến đến nhà ông Tụ Để Sắc Ca. Đó là một đám đông hỗn tạp, đầu bù tóc rối, thân hình dơ dáy. Họ bước đi nghênh ngang, tranh nhau mà đi, không chút oai nghi, không giữ trật tự, nói năng huyên náo, không biết giữ im lặng. Cứ thế, họ bước vào cổng nhà ông Tụ Để Sắc Ca.

Họ đã đến nơi, trước mắt họ bày ra một quang cảnh trang nghiêm, yên tĩnh, khác xa với con người và phong cách của họ. Họ trố mắt ra nhìn một cách kinh ngạc, vì từ trước đến nay, họ chưa từng được dự một bữa cơm cúng dường như thế này! Riêng đạo sĩ Bô Lan Noa, khi thấy quang cảnh trang nghiêm này thì ông nghĩ ngay đến đức Phật. Ông thấy rõ, đây vốn là đệ tử của đức Phật, cho nên mới đem cách thức cúng dường Phật để cúng dường ông. Ông lại biết đại khái rằng, đức Phật mỗi khi nói pháp, trước tiên Ngài mỉm cười, rồi từ trong nụ cười vi tiếu ấy mà phóng ra ánh sáng. Sau đó thì ngài thị giả A Nan hoặc một vị tôn giả nào đó thưa thỉnh hỏi han, và đức Phật bắt đầu khai thị. Cũng có khi đức Phật vì các đệ tử mà thọ kí, vị nào lúc nào sẽ thành Phật, y báo chánh báo ra sao, v.v... Nhân đó, ông cũng muốn bắt chước làm những cử chỉ giống như Phật vậy. Ông bèn đứng một chân trên ngạch cửa, toét miệng cười lớn, rồi đưa mắt ra hiệu cho một đệ tử. Người đệ tử này hiểu ý, liền đảnh lễ ông, và thưa hỏi:

– Bạch Đại Đức! Hôm nay có nhân duyên thù thắng gì mà Đại Đức cười lớn như thế?

Ông liền nói lung tung rằng:

– Đúng thế, ta có đại nhân duyên! Ta dùng thiên nhãn xem thấy bên bờ ao Vô-túy ở một thế giới xa xăm kia, có một cây cổ thụ to lớn. Trên cây ấy có một đôi khỉ đột. Con khỉ đực vì bị lửa dục bức bách, bèn rượt đuổi con khỉ cái. Hai con nhảy ra tới đầu một cành cây, thì con đực, vì sơ ý mà rớt xuống đất chết mất. Ta nghĩ tới chúng sinh vô tri, vì ham cái vui dâm dục mà phải mất mạng, cho nên ta cười lớn.

Tụ Để Sắc Ca đứng bên cạnh, vừa nhìn bộ tịch, vừa nghe ông nói, thì nghĩ rằng, ông chỉ nói hươu nói vượn vậy thôi, chứ thực chất chẳng có gì! Để biết chắc chắn cái khả năng chân thật của vị  “giáo chủ” ấy, Tụ Để Sắc Ca bèn tự tay đặt đầy các món ăn trân quí vào chiếc bát đặc biệt, rồi phủ trên mặt bát một miếng bánh tầm thường, đem dâng cúng cho Bô Lan Noa. Đạo sĩ Bô Lan Noa trông thấy bát thức ăn với miếng bánh tầm thường như thế thì trong lòng không vui. Ông nghĩ, ông là một vị giáo chủ, tại sao thức ăn dâng cúng cho ông lại không ngon quí bằng thức ăn cúng cho các đệ tử của ông ở bàn dưới kia? Rồi ông nghĩ tiếp: Hay là Tụ Để Sắc Ca còn để dành cho ta các món ăn mĩ diệu mà chưa kịp bưng lên? Ta nên chờ chốc lát. Nhưng ông chờ khá lâu mà vẫn không thấy trai chủ bưng thêm món gì lên cả; thì vừa lúc ấy, ông nghe Tụ Để Sắc Ca hỏi:

– Thưa nhân giả! Nhân giả còn chờ gì mà vẫn chưa dùng cơm?

Đạo sĩ Bô Lan Noa trả lời:

– Đúng vậy! Ta đang chờ các món ăn mĩ diệu của trai chủ đây. Ta tin rằng, trai chủ đã thỉnh ta đến đây để cúng dường, thì nhất định không phải chỉ cúng dường cái bánh tầm thường này thôi, phải không?

Tụ Để Sắc ca bèn nói bài kệ để trả lời:

– Cái thấy được thì không thể thấy, cái không thấy nói dối là thấy; nếu thấy được khỉ chết bên ao, sao không thấy món ngon trong bát?

Nói xong, Tụ Để Sắc Ca với tay lấy miếng bánh phủ trên mặt bát ra, vừa cười vừa nói với vị đạo sĩ:

– Xin nhân giả nhìn xem, các món ăn này không đủ ngon sao? Xin nhân giả cứ dùng hết, nếu thiếu thì chúng tôi xin dâng thêm.

Sự việc trên đã xảy ra ngay trước mặt toàn thể đồ chúng của đạo sĩ Bô Lan Noa, làm cho ông mất hết thể diện. Cái địa vị tôn nghiêm thần thánh của ông trong chốc lát đã bị sụp đổ! Ông ăn vội ăn vàng cho xong, rồi đem ác ý chú nguyện cho trai chủ rằng: “Tất cả người cúng dường ngày hôm nay đều không hưởng được phước báo an lành!”

Tụ Để Sắc Ca vốn là một Phật tử chân chính. Việc làm vừa qua của ông chỉ cốt thử nghiệm để biết đạo sĩ Bô Lan Noa có phải là bậc chân tu thật chứng hay không mà thôi; ngoài ra không có ác ý nào khác. Cho nên, khi nghe lời chú nguyện trên, ông chỉ mỉm cười. Nhưng các gia nhân của ông thì lại khác, họ nghe lời chú nguyện ấy thì tức lắm! Họ nghĩ: “Gia chủ chúng ta đã tỏ thiện tâm, thỉnh họ về đây cúng dường. Thế mà sau khi ăn uống no đủ, họ lại chú nguyện cho gia chủ chúng ta như thế. Sao lại có loại ngoại đạo gì mà xấu xa như vậy! Đã thế, hãy làm cho họ mang nhục một phen cho biết tay.” Họ bèn bàn nhau làm cách nào đó, mà khi đạo sĩ Bô Lan Noa dẫn đám đồ đệ ra về, lúc vừa bước qua khỏi cổng thì những thùng đựng đầy nước dơ dầu mỡ từ trên cổng đổ ụp xuống, khiến cả đoàn vừa bị ướt vừa bị hôi, tranh nhau bỏ chạy, la lối om sòm... Cả đám gia nhân của Tụ Để Sắc Ca vỗ tay cười chế diễu...

Những việc vừa xảy ra này là do đám gia nhân, vì tức giận mà bàn mưu lập kế “trả thù cho gia chủ”, chứ ông Tụ Để Sắc Ca thì đang ở trong nhà lo phận sự của mình, không biết gì về chuyện xảy ra bên ngoài.

Chính vào lúc này, ở tại nhà riêng, trưởng giả Thất Lị Cấp Đa đang tưởng tượng về oai phong hùng tráng của giáo chủ Bô Lan Noa, đã thọ nhận sự thỉnh cúng của anh Tụ Để Sắc Ca, lại đem thần lực giáo chủthu phục anh ấy trở thành tín đồ của giáo phái Lõa-hình. Ông nghĩ, nếu quả thật như thế, thì mình khỏi phải cúng dường sa môn Cồ Đàm nữa! Càng nghĩ đến điều đó, ông càng cảm thấy phấn khởi; càng nghĩ, ông càng thấy mình là người có trí tuệ, đã khiến ông anh vợ Tụ Để Sắc Ca, chẳng những thỉnh cúng đạo sĩ Bô Lan Noa trước, mà còn bỏ tín ngưỡng cũ để theo về với đạo sĩ Bô Lan Noa!

Nhưng thật không ngờ, trong lúc ông trưởng giả đang thích thú với những suy tưởng của mình như thế, thì đạo sĩ Bô Lan Noa dẫn đám đệ tử ướt át, dơ dáy, hôi hám của ông chạy sộc vô nhà ông. Vừa trông thấy ông, vị đạo sĩ liền quở trách la mắng:

– Ngươi làm việc quá giỏi há! Ngươi đã bảo thằng anh vợ Phật tử của ngươi cố ý làm nhục ta! Người xem đây, hắn đã làm cho bọn ta hôi hám bẩn thỉu như thế này!

Trưởng giả Thất Lị Cấp Đa vừa bị quở mắng, vừa trông thấy tình trạng của các đồ chúng Lõa-hình như thế thì tức giận vô cùng, đến nỗi, trong một chốc lát ông không nói được tiếng nào!

 Một lúc sau, khi cơn giận đã bớt xuống một tí, nửa như cầu xin tha thứ, nửa như an ủi, ông thưa với đạo sĩ Bô Lan Noa:

– Thưa Đại Sư, xin ngài bớt giận! Đại Sư bị làm nhục nhưng vẫn còn sống để rời khỏi nhà của Tụ Để Sắc Ca, là tốt rồi! Ngày mai tới phiên đệ tử thỉnh cúng ông Cồ Đàm. Đệ tử sẽ cho ông ấy đến đây bằng cái thân sống, và sẽ ra về bằng cái thân chết!

Liền sau đó, ông trưởng giả Thất Lị Cấp Đa đã mang cả một trời thù hận để đi lên tinh xá Trúc-lâm, thỉnh Phậtchư tăng, giờ ngọ ngày mai, đến nhà ông để thọ bữa trai tăng cúng dường. Tâm ông đang sôi sục hận thù, vậy mà, trong khi đang bước từng bước trên đường đi, thì trong đầu óc ông lại nảy sinh nhiều vấn nạn, khiến ông kinh sợ... Ông tuy không tin Phật, nhưng vẫn thường nghe người ta nói, Phật là bậc nhất thiết trí, không việc gì là không biết, không lúc nào là không tỉnh giác. Ông suy nghĩ miên man: Nếu quả thật Phật là bậc nhất thiết trí, thì nhất định ông ấy sẽ biết rõ dụng ý của mình đến thỉnh ông ấy đi thọ trai là vì muốn lấy mạng của ông ấy, chứ không phải là vì chân thật cúng dường! Và nếu quả thật ông ấy biết rõ hết các việc như thế, thì không những ta không đạt được mục đích giết hại ông ấy, mà trái lại, có thể chuyến đi Trúc-lâm hôm nay sẽ là chuyến đi không trở về, là đoạn lộ trình cuối cùng của đời ta! Mà đâu cần ông ấy phải ra tay, chỉ cần một đại đệ tử của ông ấy, thi triển một chút xíu thần thông thôi, là thân xác ta đã bị ném qua một thế giới xa xăm khác, thịt nát xương tan mà chết!

Những ý nghĩ này đã làm cho Thất Lị Cấp Đa cảm thấy run chân. Ông đang bước từng bước với tâm trạng bất an, nhưng rồi cũng đến được tinh xá Trúc-lâm...

Sự thật thì đức Phật đã sớm thấy rõ căn tánh của Thất Lị Cấp Đa rồi. Ngài biết rằng, ông nhất định sẽ cải tà qui chánh. Tuy lần này ông đem cái tâm sát hại để đến thỉnh Phật, nhưng chính nhờ cái cơ hội thân cận Phật này mà ông sẽ được độ. Vì vậy, khi Thất Lị Cấp Đa đến thỉnh thọ cúng, đức Phật đã tiếp kiến ông như bình thường, và mặc nhiên thọ thỉnh.

Đối với ông trưởng giả lúc ấy, thì không có gì khác làm cho ông đắc ý hơn là sự hứa khả thọ thỉnh vừa rồi của đức Phật. Ông nghĩ: “Ông Cồ Đàm này, đúng là thấy mặt không phải như lúc nghe tên. Bình thường nghe nói ông ấy nào là đại trí tuệ, nào là đại thần lực; nhưng hôm nay thấy ra thì không phải vậy! Ngay như cái tâm ta muốn hại ông ấy, mà ông ấy đã không phát giác ra nổi, thì làm gì có chuyện việc gì cũng biết, lúc nào cũng tỉnh giác! Mà như thế cũng tốt, đợi đến ngày mai xem thì biết! Ngày mai ta sẽ mời đại sư Bô Lan Noa đến ngồi xem ông Cồ Đàm và đám đệ tử của ông ấy, tất cả sẽ phải chết dưới sự thiết kế xảo diệu của ta, để báo mối hận bị làm nhục ngày hôm nay tại nhà tên Tụ Để Sắc Ca.”

Thất Lị Cấp Đa sau khi về nhà, suốt đêm đó, một mặt cho lệnh người nhà nấu nướng các món ăn, món nào cũng thơm ngon thượng đẳng; một mặt ông tự tay đào một cái hầm lớn nơi giữa sân, cách một khoảng từ cổng chính vào nhà. Trong hầm ông chất gỗ, đốt cho cháy, làm thành một hầm lửa dữ. Trên hầm lửa có nắp đậy rất khéo léo, người lạ vào nhà, nhìn không thể biết dưới đó là một cái hầm lửa. Cái nắp hầm ấy có thể tự động sập xuống, làm cho những người đi đứng trên ấy đều bị rơi xuống hầm lửa!

Sáng ra thì mọi việc đều hoàn tất. Ông khoan khoái nhìn cái hầm lửa, coi đó như một kiệt tác của ông. Nhưng để cho kế hoạch giết hại Phật hoàn toàn bảo đảm, ông còn bỏ thuốc độc vào khắp các món ăn. Ông nghĩ: “Ông Cồ Đàm phen này nhất định phải chết! Chỉ một cái hầm lửa này cũng đủ giết sạch hết bọn họ rồi; thuốc độc là dư thừa, nhưng vạn nhất mà cái nắp hầm lửa thình lình không cử động được, họ được vào nhà an toàn, thì lúc ngồi xuống ăn, những món ăn này cũng không cho họ sống để đứng dậy ra về!” Ông đắc ý cho rằng, kế hoạch hại Phật như thế này thật quá toàn vẹn.

Mọi việc chuẩn bị đã xong, trước tiên ông đi mời giáo chủ Bô Lan Noa cùng một số đông ngoại đạo Lõa-hình, đến nhà ông, ngồi vào một nơi kín đáo để thưởng thức màn kịch tàn ác sắp diễn ra. Sau đó, ông cho người đến tinh xá Trúc-lâm thỉnh Phậtchư tăng.

Nhưng có điều ông trưởng giả không để ý tới, đó là bà vợ của ông! Bà vốn là một Phật tử thuần thành. Tuy ông không nói cho bà biết về kế hoạch hại Phật của ông, nhưng quan sát những việc ông làm, bà cũng đoán biết chồng bà sắp thực hiện một cuộc giết người kinh thiên động địa; chỉ có điều, bà không biết chồng bà sắp giết ai, là thánh nhân, hay giáo chủ nào! Bà liền đến trước mặt ông, hỏi:

– Hôm nay ông làm những thứ đáng sợ này, là vì cớ gì?

– Tôi muốn giết kẻ địch của nhà chúng ta. Đó là kẻ thù của giáo chủ chúng ta.

– Nhưng kẻ đó là ai?

– Ồ! Bà đã nhất định muốn biết thì tôi phải nói rõ cho bà biết: Đó là ông sa môn Cồ Đàm mà bà rất sùng bái đấy!

– A! Ông điên rồi chăng? Tại sao dám sát hại đức Phậtđấng Thế Tôn đại từ bi!

– Ông ấy là oan gia đối đầu của tôi. Bà đừng xía vô chuyện của tôi!

– Theo lời ông nói, đến như bậc đại sư của tôi, là đức Phật đại nhân, đại trí, đại từ, đại bi, mà vẫn là oan gia đối đầu của ông, thì còn ai nữa là thầy bạn thân thiện của ông?

– Bà không biết thật sao?

Thất Lị Cấp Đa cười lên hăng hắc, nghe lạnh cả người, rồi chỉ vào một góc nhà, nơi đạo sĩ Bô Lan Noa đang ngồi, nói với vợ:

– Kia là vị đại sư mà tôi tín ngưỡng tôn thờ. Chuyện gì đã xảy ra ngày hôm qua cho ngài thì bà đã biết rồi đấy. Xưa nay bà là vợ tôi, nhưng hiện tại, trong giờ phút vô cùng khẩn yếu này, bà là một người nguy hiểm! Để bảo đảm cho kế hoạch của tôi không bị thất bại, xin lỗimột lần này, bà hãy vô nhà sau, tạm thời lánh mặt trong mật thất một chốc lát!

 Nói xong, ông trưởng giả kéo vợ vô nhà sau, xô bà vào một căn phòng kín đáo, đóng cửa lại, cài then, đóng khóa, kiểm soát lại hai ba lượt, thấy chắc chắn rồi mới đi ra trở lại nhà trước.

Thời gian trôi qua, mọi việc đều được bố trí, chuẩn bị chu đáo. Bề ngoài thì ngôi nhà của Thất Lị Cấp Đa, mọi chỗ đều trang nghiêm thanh tịnh. Từ con đường dẫn vào cổng nhà, đến cái sân trước nhà, rồi trong phòng khách..., nơi nào cũng được quét tước sạch sẽ. Nơi phòng ăn thì chưng hoa tươi, đốt hương thơm, các món ăn trân quí bày sẵn sàng. Nơi cửa chính có đặt một ang nước sạch, bên cạnh có đồ đựng tăm xỉa răng, nước súc miệng, đồ dùng rửa tay... Tất cả mọi thứ đều nói lên cái tâm thành của trai chủ, cúng dường trai tăng một cách long trọng lên đức Phật.

Lúc ấy tại tinh xá Trúc-lâm, đức Phật sai tôn giả A Nan thông báo đến khắp chư tăng, phải tề chỉnh theo sau lưng Phật mà tiến vào nhà trưởng giả Thất Lị Cấp Đa; và sau khi đã ngồi yên vị, nếu chưa có lệnh của đức Phật thì không vị nào được phép tự tiện thọ thực. Tất cả đại chúng đều tuân lời Phật dạy. Lúc bấy giờ lại có vị thiên nhân biết được mưu kế hại Phật rất nguy hiểm của Thất Lị Cấp Đa, lại biết được đức Phật sắp đi thọ cúng, bèn đánh bạo đến trước Phật để bạch rõ: trong ngôi nhà ấy có hầm lửa, các món ăn trong nhà ấy đều có thuốc độc, xin Phật đừng đến chỗ nguy hiểm. Nhưng đức Phật thản nhiên bảo vị thiên nhân:

– Tất cả lửa tham dục, lửa sân hận, lửa ngu si, Như Lai đều diệt sạch hết rồi. Như Lai đã dùng nước trí tuệ để diệt sạch hết mọi thứ lửa dục, lửa sân, lửa si ở thế gian, thì còn có thứ lửa gì nữa có thể hại được Như Lai? Tất cả chất độc tham dục, chất độc sân hận, chất độc ngu si, Như Lai đều đã giải trừ. Như lai đã dùng thuốc trí tuệ để giải trừ hết mọi thứ độc dục, độc sân, độc si ở thế gian, thì còn có thứ độc gì nữa có thể giết Như Lai?

Đức Phật dạy vị thiên nhân như thế xong, liền dẫn chư vị tì kheo rời tinh xá để đi đến nhà trưởng giả Thất Lị Cấp Đa ở trong thành Vương-xá. Trên đường đi, nhiều vị hộ pháp thiện thần cũng cáo bạch, xin đức Phật đừng đi đến nơi nguy hiểm, và Ngài cũng dạy họ như vậy.

Giờ thì đức Phậtchư tăng đã đến trước cổng nhà ông Thất Lị Cấp Đa. Từng bước, từng bước khoan thai, phong thái trang nghiêm, oai nghi cẩn trọng, Ngài cùng tăng chúng tuần tự bước qua khỏi cổng, tiến đến gần hầm lửa... Lúc đó, trong nhà ông trưởng giả hoàn toàn yên lặng! Thất Lị Cấp Đa đứng trong nhà, cùng với đạo sĩ Bô Lan Noa và đám ngoại đạo Lõa-hình, đều chờ đợi trong cái không khí vô cùng khẩn trương. Họ hồi hộp nhìn mỗi bước chân của đức Phật bước tới. Nhất là Thất Lị Cấp Đa, ông chăm chú nhìn nghi thái trang nghiêm của đức Phật, nếu đem so sánh với những cử chỉ của đạo sĩ Bô Lan Noa, thì thật cao quí hơn không biết bao nhiêu ngàn vạn lần! Phong thái của Phật siêu thoát hơn vị đạo sĩ kia cũng không biết bao nhiêu ngàn vạn lần! Cho nên tự đáy lòng, ông bất chợt khởi niệm kính ngưỡng đối với đức Phật! Nhưng ngay trước mắt, ông đang đối diện với tội ác tày trời sắp diễn ra, mà chẳng biết làm thế nào cho ổn thỏa. Ông muốn kêu lớn lên, xin đức Phật đứng lại, đừng bước tới nữa, nhưng ông đã mất hết dũng khí rồi; cơ hồ như đang nghẹt thở, sắp ngất đi!...

Ngay lúc ấy thì thần tích xuất hiện! Đức Phật vừa để chân lên nắp hầm lửa, thì toàn thể hầm lửa liền biến thành ao sen, trong ao đầy nước trong trẻo, có thể nhìn thấy đáy ao. Trên mặt ao trải đầy hoa sen nở rộ, hoa vừa lớn, vừa đẹp, vừa thơm ngào ngạt; lại có vô số cá năm màu bơi lội tới lui. Đức Phậtchư tăng bước trên các hoa sen, đi qua khỏi ao, bước vào phòng khách nhà ông trưởng giả...

Việc xảy ra, làm cho Thất Lị Cấp Đa vui mừng vô xiết kể. Ông nghĩ, đức Phật đại từ bi, quả là “danh bất hư truyền”, quả là bậc “nhất thiết trí”, xứng đáng được tất cả thế gian kính ngưỡng! Thế rồi, ông quay sang nói với đạo sĩ Bô Lan Noa:

– Ngài xem, thần lực của đức Thế Tôn, trên đời thật ít có ai bì kịp!

Đạo sĩ Bô Lan Noa nét mặt không vui, tức thì phản ứng :

– Hả! Này Thất Lị Cấp Đa! Chẳng lẽ ngươi đã quên ngươi là tín đồ của ta rồi sao? Tại sao ngươi dễ bị mê hoặc bởi một màn ảo thuật cỏn con của sa môn Cồ Đàm như thế chứ!

– Phải! Giả sử đó thật là một trò ảo thuật đi nữa, nhưng tôi từ xưa tới nay chưa từng thấy bao giờ. Bây giờ xin ngài cũng thi triển một chút ảo thuật cho tôi xem thử coi! Ngài thử làm xem, hiện tại, cái ao sen vừa do thần lực của đức Phật biến hiện ra đó, xin ngài hãy hóa nó trở lại thành cái hầm lửa, được không?

Qua câu đối thoại, hiển nhiên là Thất Lị Cấp Đa không còn tin tưởng vào đám ngoại đạo Lõa-hình nữa. Bô Lan Noa tự biết mình không có năng lực gì hết; bất cứ về phương diện nào, ông cũng không phải là đối thủ của đức Phật. Ông thật sự xấu hổ và sợ sệt, chỉ biết dẫn đám đồ đệ Lõa-hình, khom lưng cúi mặt, lặng lẽ theo cánh cửa hông bước ra khỏi nhà ông trưởng giả...

Đến lượt Thất Lị Cấp Đa. Do đã thi thiết những việc cực ác, nên giờ đây cũng hổ thẹn không cùng. Ông đã đem tâm ý bất hảo để nghênh tiếp đức Phật. Cả tâm địahành vi của ông đều cực kì xấu ác, như thể không còn một người nào có thể xấu ác hơn. Không gì có thể dung tha được! Còn mặt mũi nào để diện kiến đức Phật bây giờ đây? Ông chợt nhớ tớ vợ ông. Bà là một tín đồ trung thành của đức Phật. Vậy, trọng nhiệm tiếp đãi đức Phật hôm nay, chỉ nhờ vào bà mà thôi. Ông vội vàng chạy vô căn mật thất ở nhà sau...

Chính vào thời khắc này, ở trong mật thất, bà vợ của Thất Lị Cấp Đa cũng lo âu, sốt ruột vô cùng, tợ như con kiến nằm trong cái nồi nóng. Bà nhẩm tính thời gian thì biết rằng giờ này đức Phật đã tới nhà bà rồi. Bà tưởng tượng, với nghi thái oai nghiêm, đức Phật đã bước đi như thế nào tới nhà bà; rồi Ngài đã bị tai nạn như thế nào. Bà tưởng tượng lúc đức Phật bước lên hầm lửa, rồi rơi xuống hầm lửa, rồi Ngài bị khói và hơi nóng xông tràn làm cho ho hen và chảy nước mắt, rồi y áo toàn thân Ngài biến thành lửa... Ôi! Bậc Đạo Sư vĩ đại của khắp trời người, bây giờ thì huyết nhục đã cháy khô, chỉ còn để lại xá lợi cho thế gian!... Bà tưởng tượng thảm trạng đang xảy ra cho đức Phật như thế, cho nên bà đau đớn không kể xiết. Ở trong mật thất, bà đấm ngực kêu gào khóc lóc, dãy dụa lăn lộn trên mặt đất. Nhưng, ngàn vạn lần cũng không ngờ nổi, ngay lúc đó chồng bà mở cửa chạy vào, miệng rối rít khẩn cầu:

– Bà ơi! Xin bà ngay lập tức ra tiếp đãi đức Thế Tôn. Tôi thật đang ở trong tình trạng quá khó khăn, xin bà ra ngay cho!

– Ông nói gì? Trong thế gian này lại còn có vị Thế Tôn nào nữa? Đức Thế Tôn của chúng tôi đã bị cả bọn người ác độc nhà ông giết chết rồi!

Bà cứ đinh ninh là chồng bà ngụy xưng đạo sĩ lõa-hình Bô Lan Noa là đức Thế Tôn, và bắt bà phải ra tiếp đãi ông ấy, cho nên đã nổi giận nói như thế. Vì thế, ông trưởng giả phải nói thêm thật rõ ràng:

– Bà ạ, xin bà tha thứ cho sự ngu si của tôi! Sư thật là trên thế gian này không có bất cứ một người nào có thể làm hại đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn quả thật là vĩ đại, cho nên tôi vô cùng xấu hổ, không dám bái kiến Ngài.

– Ồ! Thế là ông đã biết hối lỗi. Chỉ cần ông thành tâm khẩn thiết hối lỗi, đức Thế Tôn là bậc Thánh từ bi tột bậc ở thế gian, Ngài sẽ tha thứ cho ông. Ông hãy cùng tôi ra đảnh lễ bái kiến đức Thế Tôn!

Thất Lị Cấp Đa đi theo sau vợ, ra phòng khách. Vừa thấy đức Phật ông lập tức sụp xuống lạy, rồi cứ thế úp mặt xuống đất, không dám ngửng đầu lên. Bà vợ hiểu được tâm ý ông, bèn hướng về đức Phật, cung kính chắp tay cúi đầu, thỉnh cầu Phật từ bi tha thứ cho chồng bà đã gây nghiệp ác nặng nề đáng phải đọa địa ngục vô gián. Đức Phật dạy:

Như Lai đã khoan thứ rồi, hãy đứng dậy!

Thật ra thì “làm thân Phật chảy máu” mới là trọng tội đọa địa ngục vô gián. Trường hợp của trưởng giả Thất Lị Cấp Đa ngày hôm nay, do tâm từ bi và thần lực của đức Phật mà ông chỉ phạm tội “hại Phật chưa thành” mà thôi. Đức Phật quả thật vừa có thần lực vĩ đại, lại vừa có tâm từ bi vô biên!

Lúc này trời đã gần đúng ngọ, đã tới giờ thỉnh Phậtchư tăng thọ trai. Nhưng Thất Lị Cấp Đa lại nhớ đến thuốc độc trong thực phẩm cúng dường. Lại một phen nữa tâm thần bấn loạn! Nếu bắt đầu nấu lại thức ăn mới thì không đủ thì giờ; nếu để nguyên đồ ăn cũ thì lại rơi vào tội ác giết hại Phật như cũ. Nhưng so ra thì việc nấu lại thức ăn mới vẫn nhẹ tội hơn nhiều. Cho nên ông thỉnh cầu Phật đợi một chốc lát nữa, cho ông nấu thức ăn mới để cúng dường. Đức Phật đã biết rõ sự việc, nhưng Ngài muốn ông tự nói rõ ra, nên hỏi:

– Ông trưởng giả! Chẳng phải lúc nãy ông sai người lên tinh xá nói rằng, mọi việc đã chuẩn bị xong, hay sao?

Ông lại vô cùng sợ sệt, bạch:

– Đúng vậy, bạch đức Thế Tôn! Nhưng con đã tạo tội lớn. Ban đầu con đã đem tâm ác mà làm việc bất lợi đối với đức Thế Tôn. Con chuẩn bị hạ độc đức Thế Tôn, cho nên đã bỏ thuốc độc vào tất cả các món ăn rồi.

Phật dạy:

Như lai đã đoạn dứt tất cả những việc bất lợi đối với Như Lai. Trên thế gian này không có bất cứ thứ thuốc độc nào có thể làm hại Như Lai. Ông hãy yên tâm, cứ đem các thức ăn đã chuẩn bị sẵn để cúng dường!

Đức Phật muốn cho lòng tin của trưởng giả Thất Lị Cấp Đa thêm sâu thêm lớn, bèn đọc một câu thần chú, khiến cho tất cả thuốc độc trong thức ăn đều bị hóa trừ.

Thọ trai xong, y như lệ thường, đức Phật thuyết pháp cho trai chủ nghe. Đây là thời cơ thích hợp nhất để trưởng giả Thất Lị Cấp Đa được hóa độ. Cho nên sau khi nghe xong bài pháp của đức Thế Tôn, trí tuệ ông được khai mở. Ông phá trừ hết mọi thứ tà kiến, chứng được Sơ-quả Tu-đà-hoàn. Ông kiền thành qui y Tam Bảo, thọ năm tịnh giới, trở thành một phật tử tại gia gương mẫu.

 

 (Trích dịch từ sách Thánh Giả Đích Cố Sự,

nguyên tác Hoa văn của Pháp sư Thánh Nghiêm,

 Đông Sơ Xuất Bản Xã Đài-bắc in lần thứ 6, năm 1990)

 

 

 

 

 

 

VUA BA TƯ NẶC QUI Y

(dịch)

 

 

Đức Phậttăng chúng được trưởng giả Cấp Cô Độc nghinh tiếp về cư trú tại tinh xá Kì-viên. Đó là một ngôi tinh xá nguy nga tráng lệ, được xây cất trong một khu vườn thật xinh đẹp, với đầy hoa thơm cỏ lạ, cây cối sum sê, chim hót líu lo, suối chảy róc rách.

Vua của nước Kiều-tát-la là Ba Tư Nặc, biết con mình là thái tử Kì Đà, đã bán khu vườn ở kinh đô Xá-vệ cho trưởng giả Tu Đạt; và ông trưởng giả này lại xây tinh xá để cúng dường đức Phật. Trong tâm nhà vua liền nẩy sinh nghi vấn: “Đức Phật là người như thế nào mà khiến cho mọi người đều kính ngưỡng tôn sùng đến thế?”

Rồi một hôm, vua Ba Tư Nặc đã đích thân thống lãnh các quan đại thần cùng hàng trăm quan chức triều đình, đến tinh xá Kì-viên để bái kiến đức Phật. Sau lễ bái kiến, nhà vua bạch Phật:

“Trẫm nghe nói, Ngài là một đức Phật đại giác đại ngộ, điều đó có thể không sai. Nhưng có điều trẫm thật không hiểu, có rất nhiều đạo sĩ từng tu hành trong chốn núi sâu rừng rậm, trải hàng mấy mươi năm trường, đến khi tuổi già mà vẫn không đạt được giác ngộ; còn Ngài thì tuổi còn quá trẻ, chắc chỉ mới gần bốn mươi, lại cũng chẳng phải là Bà-la-môn, mà sao Ngài có thể thành tựu đạo quả Chánh Giác?”

Đức Phật trả lời:

“Thưa Đại vương! Phần nhiều người ta đều coi thường người trẻ tuổi; đó là điều không đúng. Trên thế gian có bốn điều không thể khinh thường: Một là vị hoàng tử bé thơ; hai là con rồng con mới sinh; ba là đóm lửa nhỏ xíu; bốn là vị tu sĩ trẻ tuổi. Vị hoàng tử tuy đang còn bé nhỏ, nhưng trong tương lai, khi lớn lên, có thể trở thành quốc vương thống trị cả một quốc gia. Con rồng con vừa mới sinh, tuy còn rất nhỏ, nhưng nó sẽ trở thành rồng lớn rất nhanh. Một đóm lửa tuy nhỏ, nhưng có thể bùng cháy thiêu đốt cả một khu rừng, một thành phố. Vị tu sĩ trẻ mà tâm ý thanh tịnh, giữ gìn đạo nghiệp, có chí nguyện cứu độ chúng sinh, thì có thể đạt được quả vị Chánh Giác Vô Thượng. Đối với bậc Giác Ngộ, đối với chân lí cứu cánhtỏ ý coi thường, hoặc nói lời không cẩn trọng, đó là lỗi lầm rất lớn; phải sám hối thì tội ấy mới tiêu trừ.”

Từ trước đến giờ chưa có một người nào dám nói thẳng trước mặt vua Ba Tư Nặc như vậy. Nhà vua vốn tính cứng cỏi, cố chấp. Nay nghe mấy lời ấy của đức Phật, ông bỗng thấy tâm mình bị chùng xuống. Nhưng đồng thời ông cũng cảm thấy những lời nói ấy như tỏa ra một uy lực mạnh mẽ dị thường, làm cho cái tâm cống cao ngã mạn của ông hoàn toàn bị chế phục. Với tâm trạng vừa xấu hổ, vừa áy náy, ông ấp úng bạch Phật:

“Thưa Ngài, trẫm quả thật không biết gì! Xin Ngài chỉ dạy cho trẫm một ít đạo lí.”

Trừ chân lí ra, dù là uy quyền của một đế vương, đức Phật cũng không sợ sệt; cho nên Ngài đã dùng những lời lẽ uy nghiêm cùng thái độ tịch tĩnh để nhiếp phục vua Ba Tư Nặc. Đức Phật dạy nhà vua:

“Thưa Đại vương! Với tư cách của một vị quốc vương, Đại vương nên thương dân như thương con ruột của mình; mà không nên lấy uy quyền quốc vương để áp chế nhân dân. Sinh mạng của mọi người đều bình đẳng, không ai có thể viện lí do gì để cho rằng sinh mạng mình là đáng tôn đáng quí hơn sinh mạng người khác. Nên nghiêm khắc chế phục những ý niệm không bình đẳng của chính mình. Nên lấy lòng khoan dung đại lượng để đối xử với người. Điều khẩn yếu là không nên xây dựng hạnh phúc của cá nhân mình trên nỗi thống khổ của người khác. Nên giúp đỡ những người bị hoạn nạn khốn khổ, an ủi những ai đang có điều lo âu phiền muộn, cứu giúp những kẻ bệnh tật thiếu thốn. Ở địa vị vương giả, điều đặc biệt quan trọng, là không nên nghe theo lời những kẻ dua nịnh; nên biết rằng, làm vua là để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, chứ không phải để bắt nhân dân phải phục dịch cho mình!

“Người làm vua phải biết rằng: Ái tình là khổ! Xa lánh tình dục là điều khẩn thiết. Suốt ngày đam mê trong vũng xoáy tình dục, thì chỉ có chìm đắm mà không mong được vươn lên. Khi rừng cây bị lửa đốt cháy, thì các loài chim không dám tụ tập về để làm tổ, thế nhưng người ta đang sống trong hầm lửa tình dục mà không biết thoát ra. Lại nữa, người hiền năng, đang trong khi bị lửa tình dục thiêu đốt, cũng không thể dùng đầu óc sáng suốt để phán đoán sự lí, không thể suy tư chính xác về những sự lợi hại của quốc gia. Lúc đó, sinh mạng của chính mình còn không có cách bảo toàn, huống chi là đối với sinh mạng đáng quí của người khác!

“Muốn ngộ nhập con đường chân chánh đúng với chân lí, nhất định phải tu học để có được sự thấy biết chân chính, định lực chân chánh, lời nói chân chánh, hành động chân chánh, cách sống chân chánh, siêng năng chân chánh, và suy nghĩ chân chánh. Trên thế gian có hai con đường: một con đường từ ánh sáng đi vào bóng tối; và một con đường từ bóng tối đi ra ánh sáng. Người có cái thấy hạn hẹp thì từ ánh sáng đi vào bóng tối; người hiền năng thì từ bóng tối đi ra ánh sáng. Chỉ có người trí mới có thể tiến tới một thế giới quang minh xán lạn, không những cứu được sinh mạng của chính mình, mà còn cứu được sinh mạng của kẻ khác. Đời ngườivô thường, đầy khổ não. Nên biết rằng, hạnh phúc không phải đi ra bên ngoài để tìm kiếm, hãy để tâm an trú nơi vắng lặng, không chạy theo những dụ hoặc của trần cảnh, đó là đời sốngtự chủ, và đó mới là cảnh giới của chân lí!”

Pháp ngữ của đức Phật như ánh sáng mặt trời, đã phá tan cái màn hôn ám trong tâm vua Ba Tư Nặc. Niềm tin tưởng và cung kính chân thành đối với đức Phật đã phát khởi trong tâm nhà vua. Trong thái độ hoàn toàn tin phục và vui mừng, ông dâng lên đức Phật lời xưng tán của mình:

“Ngài đích thật là một đức Phật cao cả! Trẫm nghe lời chỉ dạy của Ngài mà thấy như người lữ hành trong đêm tối mà gặp được ánh sáng. Lòng trẫm vui mừng không biết dùng lời gì để diễn tả được. Trẫm vô cùng ân hận vì đã đến bái kiến Ngài quá trễ. Bây giờ trẫm mới nhận ra  rằng, đức Phật quang lâm đến tiểu quốc này, là niềm quang vinh tuyệt đỉnh đối với trẫm. Bạch Ngài! Ngài chính là đạo từ quang cát tường, trẫm và quốc dân phải được che chở dưới ánh từ quang ấy mới cảm thấy yên ổn.

“Hiện giờ trẫm được bái kiến đức Thế Tôn, được lắng nghe pháp ngữ, cảm thương cho cái quá khứ ngu si cuồng vọng của mình, giờ đây như vừa tỉnh mộng. Ở thế gian thì trẫm là vua một nước, nhưng trong tâm chỉ chứa đầy bực bội, phiền muộn. Bây giờ đã được Ngài đến đây giáo hóa, thì trẫm tin tưởng rằng, trẫm cùng toàn thể quốc dân sẽ được bình an vĩnh cửu.”

Đức Phật lắng nghe lời xưng tán phát xuất từ tâm chân thành của vua Ba Tư Nặc, và biết rằng nhà vua đã đích thực có được niềm vui pháp lạc. Đức Phật cũng biết rằng vua Ba Tư Nặc là người đắm trước nặng nề về tài, sắc; bây giờ chính là lúc cơ duyên đã thành thục để giúp cho nhà vua chuyển hóa tâm tánh, Ngài bèn dùng lời từ ái, hướng về nhà vua mà khai thị:

“Thưa Đại vương! Tất cả mọi hiện tượng trên thế gian này đều là khổ, là không, là vô thường; đời người thì sinh, già, bệnh, chết. Bất luận là giàu sang như bậc vương giả, hay nghèo hèn như kẻ ăn xin, đều phải chịu sự tác động của các hiện tượng khổ, không, vô thường, đều phải chịu những nỗi thống khổ của sinh, già, bệnh, chết; không ai tránh khỏi! Con người đến lúc thọ mạng chấm dứt, thì hình thể và linh thức phân chia, dù cho ân ái thâm tình như vợ chồng, dù là bạn tri kỉ từng hoạn nạn vui buồn có nhau, thì sau khi chết, ở thế giới bên kia, cũng không thể ở chung với nhau được nữa; chỉ có những nghiệp thiện ác ta đã tạo ra là đi theo ta mãi, như bóng theo hình, đến tận đời vị lai.

“Tất cả mọi người trên thế gian chỉ bám theo những dục lạc trước mắt, chỉ đuổi tìm tài, sắc để thỏa mãn dục vọng, còn đối với chuyện sau khi chết mình sẽ đi về đâu, thì họ không hề để tâm suy tư. Làm người, ngay trong lúc trời trong quang đãng, chúng ta cũng nên sắm sẵn dù nón để phòng khi trời mưa nắng; ngay trong khi bụng no, chúng ta cũng nên dành sẵn lương thực để phòng khi đói khát. Thế tại sao khi chúng ta đang còn sống lại không biết nghĩ đến chỗ sẽ đi về sau khi chết? Tại vì chúng ta đã không có được cái tầm nhìn xa rộng, có phải không? Trọn ngày cứ bị nhốt kín trong ngục tù dục vọng tài sắc, mà không biết rằng tài sắc chính là nguồn gốc của khổ đau; và tất cả trí tuệ sáng suốt của chúng ta cũng bị chúng ngăn che mất hết!

“Làm người thì phải thấy rõ, cái tuổi hoa niên của đời người thật là ngắn ngủi, sinh mạng là vô thường, thân tâm luôn biến đổi sinh diệt từng sát na. Thấy được như thế thì hãy nhanh chóng nắm vững đời mình, không để thân tâm bị nhận chìm trong vực sâu tài sắc, không nên sinh tâm kiêu mạn, không thả trôi mình theo nếp sống buông lung; hãy để tâm mình dừng nghỉ nơi cảnh giới cao đẹp, nơi bầu khí trong lành mát mẻ của trời đất; hãy đem lòng nhân ái mà đối xử với mọi người, thì tâm hoan hỉ của mọi người đối với mình sẽ tăng cao, danh thơm mới lưu truyền mãi nơi hậu thế.

“Đời này nếu không hành thiện, thì đời sau nhất định không có hạnh phúc. Những điều may mắn và không may mắn trong đời này, đều do nghiệp lực trong đời trước chiêu cảm. Muốn có hạnh phúc trong đời sau, đời này phải nỗ lực tu thiện. Mình tạo nhân thiện, nhân ác, thì chính mình nhận lấy quả báo thiện, quả báo ác; chứ không người nào khác.

“Đại vương! Như Lai cần nhấn mạnh điều này: Ngài không nên nghĩ rằng, học đạo tu thiện là bắt buộc phải đi xuất gia. Trên đường tu học chân chánh không có sự phân biệt giữa người xuất gia và kẻ tại gia. Có người vào ở ẩn nơi núi cao rừng sâu để học đạo mà vẫn bị đọa lạc; có người tu hành ngay nơi gia đình mình mà vẫn có được công đức. Cho nên không nhất thiết phải là người như thế nào mới tu hành học đạo; người làm vua, trong khi làm vua vẫn có thể tu hành.”

Pháp ngữ của đức Phật, mỗi câu mỗi lời đều khiến cho vua Ba Tư Nặc thành khẩn tín phục. Nhà vua xin qui y Tam Bảo; và từ đó, nhà vua trở thành một vị đệ tử đắc lực, một vị hộ pháp thành tín của đức Phật.

 

(Trích dịch từ sách

Thích Ca Mâu Ni Phật Truyện,

Nguyên tác Hoa văn của pháp sư Tinh Vân,

Nhà xuất bản Phật Quang, Đài-loan, bản in năm 1990)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đại sư KHƯƠNG TĂNG HỘI (?-280)

 

 

Đạo Phật từ Ấn-độ đã truyền đến Việt-nam vào khoảng giữa thế kỉ thứ 3 trước Tây lịch. Đến thế kỉ thứ 2 sau Tây lịch, ở nước ta, theo sử sách ghi chép, ngoài sự có mặt hành đạo của các tăng sĩ người Ấn-độ, còn có một tăng đoàn người Việt đông đến 500 vị. Nhưng rất tiếc, vì sách vở bị mất mát mà trong suốt thời gian đó, lịch sử Phật giáo Việt-nam đã không ghi lại cho chúng ta biết một vị cao tăng người Việt nào với tên tuổihành trạng rõ ràng. Mặc dù vào cuối thế kỉ thứ 2 sau Tây lịch, PGVN có xuất hiện một vị cư sĩ tên là Mâu Tử (có thể đã xuất gia vào cuối đời), tác giả của sách Lí Hoặc Luận rất nổi tiếng, nhưng ông vốn là người Hán, sinh ra và lớn lên ở đất Hán, sang Việt-nam vì tránh cảnh loạn lạc ở đất Hán, rồi ở luôn tại đây, nghiên cứuhọc hỏi Phật pháp, và trở thành một Phật tử Việt-nam. Phải đến thế kỉ thứ 3 s. Tl, chúng ta mới thực sự thấy tên tuổi cùng hành trạng rõ ràng của một vị tăng sĩ Việt-nam được ghi lại trong sử sách, đó là đại sư KHƯƠNG TĂNG HỘI, vị cao tăng người Việt sớm nhất của lịch sử PGVN mà ngày nay chúng ta còn biết được.

Tổ tiên của ngài vốn ở nước Khương-cư (Sogdiana), nhưng đã mấy đời sống ở Thiên-trúc. Thân phụ ngài, nhân làm nghề buôn bán mà theo thuyền buôn sang Giao-chỉ (tên cũ của nước Việt-nam vào thời lệ thuộc nhà Hán) sinh sống. Tại đây ông đã cưới vợ Việt-nam và sinh ra Ngài. Không rõ ngài sinh năm nào, chỉ có thể ước đoánvào khoảng năm 200 (tức đầu thế kỉ thứ 3). Khi Tăng Hội được hơn 10 tuổi thì song thân đều lần lượt qua đời. Chịu tang cha mẹ xong, Tăng Hội vào chùa xuất gia, tu học rất mực chuyên cần. Đến tuổi trưởng thành ngài thọ giới cụ túc. Ngài là người có trí tuệ vượt chúng, giỏi cả Phạn văn lẫn Hán văn; không những tinh thông Ba Tạng Phật giáo, mà còn uyên bác cả Nho học và Lão học, lại giỏi cả thiên văn, đồ vĩ, kiêm tài biện thuyết, văn chương. Lúc bấy giờ nước ta đang bị nhà Hán đô hộ, gọi là quận Giao-chỉ, thủ phủ là thành Luy-lâu (trong địa phận tỉnh Bắc-ninh ngày nay). Hồi đó bên Trung-quốc chưa có tăng sĩ bản xứ, nhưng ở Luy-lâu thì đã có tăng đoàn đông đảo người bản xứ. Ngài Tăng Hội đã xuất thân từ tăng đoàn ấy, và về sau lại trở thành một trong những vị lãnh đạo và hướng dẫn của tăng đoàn ấy.

Tại đạo tràngtrung tâm Phật giáo Luy-lâu, lúc đó có ba vị cưđồ đệ của ngài An Thế Cao (ở Trung-quốc) là Trần Tuệ (quê ở Cối-kê), Hàn Lâm (quê Nam-dương) và Bì Nghiệp (quê Dĩnh-xuyên), từ kinh đô Lạc-dương chạy xuống lánh nạn, ngài đã mời các vị này tham gia vào công việc phiên dịch, nghiên cứuchú giải kinh điển. Tại đây, ngài đã viết bài tựa cho kinh An Ban Thủ Ý và kinh Pháp Cảnh (do ngài An Thế Cao dịch ở Lạc-dương, được Trần Tuệ mang theo). Ngài cũng đã chú thích cho ba kinh An Ban Thủ Ý, Pháp Cảnh Đạo Thọ (do ngài An Thế Cao dịch), nhưng hai tác phẩm sau (Pháp Cảnh và Đạo Thọ) ngày nay không còn. Nói chung, các tác phẩm của ngài đều nhằm xiển dương thiền học trong tinh thần đại thừa. Những dịch phẩm hay biên soạn của ngài sau này ở đất Ngô cũng gồm toàn những giáo điển đại thừa. Bởi vậy, trong giới học giả Phật học Việt-nam ngày nay, có vị đã có khuynh hướng tôn xưng ngài là vị Tổ sư của Thiền học Việt-nam.

Năm 222 (thời đại Tam-quốc), Tôn Quyền chiếm cứ miền Giang-tả (tức Giang-nam), tự xưng đế và thành lập nước Đông-Ngô (đóng đô tại thành Kiến-nghiệp), thì nước ta lại bị lệ thuộc vào nước Ngô, vì lúc này nhà Hậu-Hán đã mất (năm 220). Với sự có mặt của cư sĩ Chi Khiêm, lúc đó ở Kiến-nghiệp đã có sinh hoạt của Phật giáo, nhưng chưa có tự viện, mà tăng sĩ cũng chưa có ai. Năm 247 (Tôn Quyền làm vua được 25 năm), ngài Tăng Hội đã từ Luy-lâu sang Kiến-nghiệp hoằng hóa. Lúc đầu mới đến Kiến-nghiệp, ngài dựng am tranh để thờ Phậthành đạo. Các quan chức nhà Ngô trông thấy có người lạ nhập cảnh, cả diện mạo, phong thái, cách ăn mặc đều lạ, liền trình báo cho vua Tôn Quyền biết. Nhà vua cho người mời ngài vào cung diện kiến. Nhà vua hỏi: “Ngài có gì linh nghiệm?” Ngài trả lời: “Đức Phật nhập diệt đã lâu, nhưng xá-lợi vẫn còn, thần diệu không có gì sánh được!” Nhà vua nói: “Nếu quả có được xá-lợi, trẫm sẽ xây tháp thờ.” Ngài biết đây là bước đầu vô cùng quan trọng cho công cuộc hoằng pháp, bèn ở luôn trong am tranh, suốt ngày đêm đốt hương chí thành cầu nguyện. Trải qua 3 tuần, đến canh năm ngày thứ 21, ngài cầu được xá-lợi Phật! Ngay sáng hôm đó ngài đem bình xá-lợi trình lên vua Tôn Quyền. Nhà vua cho thử nghiệm, quả thật lửa đốt không cháy, chày kim cương đập không bể. Nhà vua hết sức kính phục và tin tưởng, bèn cho xây tháp thờ xá-lợi ngay nơi am tranh của ngài, và đặt tên là chùa Kiến-sơ; vùng đất chung quanh chùa gọi là xóm Phật. Được cảm hóa bởi tài cao đức trọng của ngài, vua Tôn Quyền, sau đó đã xin qui ythọ giới ưu-bà-tắc với ngài. Cho tới lúc đó, miền Giang-nam mới có hình bóng vị tăng sĩ Phật giáo đầu tiên là ngài Tăng Hội (đến từ Việt-nam), và ngôi chùa Phật giáo đầu tiên là chùa Kiến-sơ (do triều đình Đông-Ngô xây cất). Từ đó trở đi, nhờ sự nhiệt tâm hoằng pháp của ngài, đạo Phật được truyền bá rộng rãi tại Đông-Ngô, người bản xứ được phép xuất gia làm tăng sĩ, tự viện được xây cất rải rác nhiều nơi. Nhưng đến đời vua Tôn Hạo (264-280) thì Phật giáo bị đàn áp. Do sự gièm siểm của các cố vấn Nho, Lão, Tôn Hạo đã ban lệnh phá hủy chùa chiền, tuy vậy, chùa Kiến-sơ của ngài Tăng Hội vẫn không bị ai đụng tới, vì ảnh hưởng của nó quá lớn. Nhưng không phải vì vậy mà ngài được yên thân. Nhà vua đã sai Trương Dực, một trí thức thông hiểu cả Nho và Lão, đến chùa để cật vấn ngài, cố dồn ngài vào thế bí. Nhưng vì đã nắm vững tư tưởng Nho, Lão, ngài đã hoàn toàn không nao núng. Sau một ngày dài đối luận, Trương Dực không bẻ gẫy ngài được bất cứ một lời nào. Cuối cùng, do sự trình tâu chân thật của Trương Dực về ngài, vua Tôn Hạo phải cho sứ giả đến chùa thỉnh ngài vào cung. Sau khi nghe ngài thuyết pháp, nhà vua đã cảm phục, tỏ lòng thành xin sám hối tội lỗi cũ, rồi xin qui y và thọ năm giới với ngài. Nhà vua lại ban lệnh tu sửa lại các chùa đã bị đập phá, và trùng tu mở rộng chùa Kiến-sơ. Trong thời gian ở chùa Kiến-sơ, ngài đã dịch ra chữ Hán các kinh Lục Độ Tập, Cựu Tạp Thí Dụ, Tạp Thí Dụ; soạn sách Lục Độ Yếu Mục. Ngài cũng dịch Ngô Phẩm (tức kinh Đạo Hạnh Bát Nhã) và biên tập Nê Hoàn Phạm Bối, nhưng cả hai tác phẩm này đều thất truyền. Đầu năm 280, vua Tôn Hạo đầu hàng nhà Tấn, chấm dứt nhà Đông-Ngô; và cuối năm ấy ngài viên tịch. –Sự tích ngài Khương Tăng Hội đã được sử sách ghi chép rõ ràng, nhưng đại đa số các nhà Phật học Trung-quốc (kể cả tăng sĩ) vẫn không muốn thừa nhận sự thật như thế, mà luôn luôn cố ý nói khác đi, rằng: “Sa môn Tăng Hội ở nước Khương-cư, đến Đông-Ngô lập chùa Kiến-sơ......”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đại Sư ĐẠO AN (314-385)

(dịch)

 

 

Năm thứ ba niên hiệu Thái-nguyên (378) đời vua Hiếu-vũ đế thời Đông-Tấn, vua nước Tiền-Tần là Phù Kiên, đã kéo binh tấn công thành Tương-dương; năm sau, khi vừa chiếm được thành này, ông liền tuyên bố với mọi người: “Trẫm đem mười vạn quân đánh chiếm Tương-dương, chỉ lấy được một người rưỡi!” Chữ “một người” ở trong câu nói ấy là chỉ cho người mà Phù Kiên rất mực tôn sùng, là vị danh tăng từng có ảnh hưởng sâu rộng một thời trong lịch sử Phật giáo Trung-quốc: đó là đại sư THÍCH ĐẠO AN.

 

1.  XUẤT GIA TU ĐẠO

 TÀI NĂNG VƯỢT BẬC

 

 Đại sư Đạo An họ Vệ, sinh vào năm thứ 3 niên hiệu Kiến-hưng (314)1 đời vua Mẫn đế thời Tây-Tấn, tại huyện Phù-liễu, quận Thường-sơn (nay là vùng Tây-Bắc huyện Kí, tỉnh Hà-bắc), trong một gia đìnhtruyền thống Nho học nhiều đời.

Tuổi thơ ấu của cậu bé Đạo An gặp đúng vào thời kì chiến loạn ở cuối thời Tây-Tấn, song thân đều mất sớm, phải nhờ người anh bên ngoại họ Khổng nuôi nấng. Cậu bé thiên tư thông minh dĩnh ngộ, 7 tuổi bắt đầu học các kinh sách Nho gia, sách nào cậu cũng đọc qua hai lần là thuộc lòng, khắp làng xóm đều khen ngợi.

Năm lên 12 tuổi, cậu vào chùa xuất gia làm chú tiểu, nhưng vì “hình mạo quá xấu” nên bị sư phụ coi thường, cho đi làm ruộng suốt 3 năm. Trong thời gian ấy, chú chỉ biết làm lụng vất vả, không hề được học hành kinh kệ. Tính chú thận trọng từng li từng tí, chịu đựng lao khổ, không một lời than oán; chẳng những thế, chú còn giữ gìn thanh qui cửa Phật một cách nghiêm chỉnh, và nỗ lực tu hành. Làm ruộng được vài năm, chú mới đến trước sư phụ xin cho học kinh Phật. Sư phụ bèn trao cho chú quyển kinh Trưởng Giả Biện Ý, dài khoảng 5.000 chữ. Đó là một quyển kinh tiểu thừa, chủ yếu nêu lên giáo nghĩa nhân quả thiện ác báo ứng của Phật giáo, và dạy người đời phải hết lòng hiếu thuận trung trinh. Chú mang quyển kinh ra ruộng, lúc nghỉ ngơi thì đem ra đọc; và đến chiều tối thì chú mang quyển kinh về chùa trả lại cho sư phụ, để xin mượn một quyển kinh khác. Sư phụ liền quở: “Quyển kinh thầy đã đưa cho, chưa học mà lại mượn quyển khác, là sao?”  Đạo An thưa: “Bạch Thầy! Quyển kinh Thầy đưa cho, con học hết rồi! Con có thể đọc thuộc lòng được.” Sư phụ nghe lời ấy thì có chút kinh dị, nhưng không tin gì lắm; tuy vậy, ngài vẫn đưa cho chú một quyển kinh khác, đó là kinh Thành Cụ Quang Minh Định Ý,  dài ngót một vạn chữ, thuộc về thiền đại thừa. Đại ý kinh ấy nói, có một pháp định ý gọi là “thành cụ quang minh”, nếu người nào nghe đượckiên trì tu tập, từ một đến bảy ngày, sẽ được công đức phước lành vô lượng. Cũng giống như hôm qua, sáng sớm hôm nay chú Đạo An ra ruộng, mang theo quyển kinh; tối về chùa, lại trả quyển kinh cho sư phụ. Chú đọc thuộc lòng quyển kinh cho sư phụ nghe. Ngài vừa nghe vừa dò theo kinh văn, hoàn toàn không sai, không sót một chữ nào! Tài trí và đức cần mẫn của chú đã làm kinh động lòng người. Cuối cùng chú đã được sư phụ quí trọng; và từ đó, đối với chú, ngài đã có cái nhìn khác hẳn. Năm chú 20 tuổi, sư phụ truyền giới cụ túc2 cho chú; và cho phép chú được tự do rời chùa để du phương cầu học. Từ đó, thầy Đạo An mới bắt đầu bước vào nếp sống chính thức của cuộc đời tăng lữ.

Lúc bấy giờ, phương Bắc đang do chính quyền nhà Hậu-Triệu cai trị, và đang hồi cường thạnh. –Nhà Hậu-Triệu do Thạch Lặc của dân tộc Yết, một trong nhóm năm dân tộc Hồ (Ngũ Hồ), kiến lập.– Sau khi vua Thạch Lặc chết, con là Thạch Hoằng đã bị Thạch Hổ phế bỏ để tự lập làm vua, rồi dời đô sang đất Nghiệp (nay là vùng đất ở phía Tây-Nam huyện Lâm-chương, tỉnh Hà-bắc). Không lâu sau đó, khoảng năm 335, thầy Đạo An du học tới kinh thành Nghiệp, và chính tại nơi đây, thầy đã được gặp vị cao tăng trứ danh đang lãnh đạo tinh thần cho chính quyền Hậu-Triệu, đó là ngài Phật Đồ Trừng.

Đại sư Phật Đồ Trừng (232-348) vốn họ Bạch, người Tây-vực (có thuyết nói họ Thấp, người Thiên-trúc), xuất gia từ thuở nhỏ, tụng kinh đến vài trăm vạn lời, hiểu rõ nghĩa kinh. Ngài có kiến thức uyên bác, lại có chút ít tài ảo thuật (gần như làm trò xiệc ngày nay). Năm thứ 4 niên hiệu Vĩnh-gia (năm 310) đời vua Hoài đế thời Tây-Tấn, ngài đến Lạc-dương, sau nhờ dùng đạo thuật thần chú mà được Thạch Lặc, Thạch Hổ sùng tín, thường tham gia nghị bàn việc quân chính đại sự, được tôn xưng là “đại hòa thượng”. Mỗi khi có việc trọng đại, Thạch Lặc đều đến thỉnh giáo ngài trước tiên. Thạch Hổ sau khi lên ngôi, lại càng kính trọng, xưng ngài là “quốc chi đại bảo” (món báu lớn của quốc gia), bất cứ việc gì cũng thỉnh ý ngài trước rồi sau mới thi hành. Trong lúc đem hết lòng phục vụ cho chính quyền Thạch Lặc, đại sư Phật Đồ Trừng cũng đồng thời đem tâm từ bi của Phật giáo, đem giáo lí răn cấm giết hại để cảm hóa, khuyên can cái tánh tàn bạo của Thạch LặcThạch Hổ, không giết hại bừa bãi dân lành vô tội. Khi Thạch Hổ cầm quyền, có lúc đến thỉnh giáo đại sư “thế nào là Phật pháp”, ngài trả lời: “Phật pháp không giết hại.”, và khuyên ông ta “không làm chuyện bạo ngược, không giết người vô tội”. Thạch Hổ vốn là kẻ khát máu, tuy nhiên, dù không thể sửa đổi tánh nết hoàn toàn, cũng nhờ nghe lời dạy của ngài mà làm được nhiều việc ích lợi. Có thuyết nói, phàm các tàn binh bại trận đáng bị giết hết, nhưng nhờ ông ta thay đổi tánh tình mà mười phần cũng giảm bớt được tới tám, chín phần. Cùng lúc ấy, đại sư Phật Đồ Trừng cũng nương vào lòng sùng tín và sự giúp đỡ của họ Thạch mà ra sức truyền bá Phật giáo trên phần lớn địa khu do nhà Hậu-Triệu chiếm lãnh, làm cho Phật giáo lan rộng nhanh chóng ở phương Bắc. Thạch Hổ đã hết sức dùng Phật giáo để thực hiện mục đích chính trị của ông. Ông từng nói rõ với mọi người: “Ta sinh ra ở vùng biên địa, thuận ý trời, ứng lòng người mà vào làm vua đất Hoa-hạ. Về phương diện tế tự thì phải tuân theo tập tục truyền thống, nhưng Phật đã là bậc thần thánh của Nhung tộc thì ta phải dốc lòng tin tưởng phụng thờ.” Vì lẽ đó, ông đã hạ chiếu thơ cho phép dân chúng của tất cả mọi sắc tộc đều được xuất gia làm tăng, phá bỏ các qui định đã có trước đó từ các thời Hán, Ngụy, là “người Hán không được xuất gia”. Người ta cho rằng, đó là lần đầu tiên trong lịch sử Trung-quốc, phía chính quyền đã chính thức ban hành quyết định chấp thuận cho người Hán được phép xuất gia. Do sự đề xướngủng hộ của nhà cầm quyền, Phật Đồ Trừng và các đệ tử của ngài, trước sau đã kiến tạo 893 ngôi chùa, đạt đến con số cao nhất kể từ khi Phật giáo được truyền vào Trung-quốc đến giờ. Đệ tử của đại sư Phật Đồ Trừng rất đông, trước sau có hơn vạn người, số thường thân cận bên mình cũng có đến vài trăm. Trong số đệ tử ấy, nhiều người đã có công thúc đẩy làm cho Phật giáo được truyền bá và phát triển rộng lớn ở Trung-quốc về sau này, ngài ĐẠO AN là một trong số các vị ấy.

   Thầy Đạo An đi du phương cầu học đến đất Nghiệp, gặp được ngài Phật Đồ Trừng. Lúc đó Đạo An mới hơn 20 tuổi, mà ngài Phật Đồ Trừng thì đã hơn 100 tuổi! Hai người gặp nhau, tuy tuổi tác quá chênh lệch, nhưng đàm luận thì mười phần hợp ý. Hai vị đàm đạo trọn cả một ngày, và ngài Phật Đồ Trừng đã hoàn toàn quí trọng cái tinh thần cầu học cũng như trí thông minh cùng tài hoa của thầy Đạo An. Đương thời, rất nhiều người trông thấy thầy da dẻ nám đen, tướng mạo khó coi, thì tỏ vẻ khinh thị. Ngài Phật Đồ Trừng liền khuyên những người ấy rằng: “Quí thầy không nên coi thường thầy ấy. Trình độ của quí thầy ở đây, không ai sánh bằng thầy ấy đâu!” Từ đó, thầy Đạo An thờ ngài Phật Đồ Trừng làm thầy, trọn đời chân thành cung kính. Năm 348 ngài Phật Đồ Trừng viên tịch; trong suốt thời gian hơn 10 năm đó, thầy luôn ở sát bên ngài để tu học, kinh điển tiểu thừa là chủ yếu, ngoài ra còn học các kinh Bát Nhã của đại thừa. Về phương diện lí luận Phật giáo, so ra, thầy đã đặt được một nền tảng vững chắc, vượt trội hẳn mọi người. Mỗi lần ngài Phật Đồ Trừng giảng kinh, thầy đều được phép thay ngài giảng lại lần thứ hai. Nhiều người đối với sự việc này rất lấy làm bất mãn, đều bảo nhau, đợi lần sau có cơ hội, nhất định phải gây khó để cho anh chàng nhóc con đen đúa này phải bẽ mặt mới được. Thế là, lần tới, khi thầy vâng lời ngài Phật Đồ Trừng giảng bài lại, họ bèn đua nhau đưa ra nhiều nghi vấn khó khăn, nhưng thầy không cần phải phí nhiều khí lực, đã giải đáp thỏa đáng mọi nghi vấn, giải quyết hết các vấn đề khó khăn, hoàn toàn bẻ gẫy nhuệ khí của họ, làm cho họ phải thán phục, lại bảo nhau rằng: “Ông đạo đen làm cho cả chúng đều kinh sợ!” Hòa thượng đen Đạo An tướng mạo không giống ai, mà đã làm cho mọi người đều qui phục.

 

2. DẬP VÙI TRÔI DẠT

HOẰNG PHÁP KHÔNG NGỪNG

 

Năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh-hòa (349) thời Đông-Tấn (tức 2 năm sau ngày ngài Phật Đồ Trừng viên tịch), Thạch Hổ chết; và chẳng bao lâu thì nội loạn xảy ra trong dòng họ Thạch, đám quí tộc của các dân tộc thiểu số trong nước Hậu-Triệu hưng binh tự lập, rồi chém giết thôn tính nhau. Thầy Đạo An thấy rõ là “vận nước sắp nguy”, bèn rời đất Nghiệp đi đến vùng núi Hoạch-trạch (nay là huyện Dương-thành, tỉnh Sơn-tây) để tránh loạn. Từ đó thầy bắt đầu cuộc sống trôi dạt đến hơn 10 năm.

Ban đầu, Đạo An xa hẳn mọi người, sống một mình trong chốn thâm u của vùng núi Hoạch-trạch, kiên trì tham cứu Phật điển, đối với Phật giáo vẫn một dạ chí thành. Nhưng vì luôn luôn sống trong hoàn cảnh vắng thầy thiếu bạn để cùng nghiên cứu Phật lí, nên thỉnh thoảng thầy cũng phát lời cảm thán. Về sau có quí thầy Trúc Pháp Tế, Chi Đàm Giảng v.v... từ xa tìm đến, khiến cho trên đường tu học, Đạo An có được thầy giỏi bạn tốt. Được quí vị ấy giúp đỡ và cổ lệ, thầy Đạo An đã đem các thiền kinh tiểu thừa do ngài An Thế Cao dịch vào cuối thời nhà Hán, như Ấm Trì Nhập, Đại Thập Nhị MônTu Hành Đạo Địa, nghiên cứu học tập kĩ càng, rồi đem hết tâm lực mà viết tựa, chú thích cẩn thận.

Vào khoảng năm thứ 7 niên hiệu Vĩnh-hòa (351) thời Đông-Tấn, thầy Đạo An đã cùng với bạn đồng học là thầy Trúc Pháp Thải, đi lên miền Bắc, đến núi Phi-long thuộc quận Nhạn-môn (nay là vùng đất Tây-Nam huyện Hồn-nguyên, tỉnh Sơn-tây). Tại đây thầy gặp lại thầy Thích Tăng Quang, vốn là bạn cũ từ thời hai người còn là sa di. Hai người cùng nhau đọc sách, suy tư, nghiên cứu Phật điển, rất lấy làm tương đắc. Vào thời kì đó, trong việc thâm cứu Phật lí, thầy Đạo An đã có kiến giải mới, khác với chư vị tiền bối. Từ thời Hán, Ngụy, chư tăng Trung-quốc đọc và giảng Phật điển, thường dùng phương pháp “cách nghĩa”, tức là sử dụng những từ ngữ, khái niệm nguyên có của Trung-quốc, đặc biệt là những thuật ngữ Lão  Trang, để gượng gạo giải thích nghĩa lí trong Phật pháp, cốt ý là giúp cho các nhân sĩ Trung-hoa lí giải và tiếp nhận Phật giáo một cách dễ dàng. Đến nay, thầy Đạo An và bạn đồng họcTrúc Pháp Nhã, cũng như người cùng thời là Khang Pháp Lãng v.v..., trong nhóm những vị ấy, phương pháp “cách nghĩa” này dần dần được san định để cho cách thức được thống nhất. Nguyên lai, thầy Đạo An cũng chuyên dùng phương pháp “cách nghĩa” này để giải thích Phật pháp, nhưng trong quá trình nghiên cứu nghĩa lí Phật pháp cùng với thầy Tăng Quang, thầy dần dần có được kiến giải mới. Theo nhận thức mới của thầy, dùng phương pháp “cách nghĩa” để lí giải Phật pháp, sẽ có tính hạn cuộc nhất định, rất dễ phát sinh hiểu lầm. Thầy đã nói với thầy Tăng Quang: “Lối cách nghĩa cũ của người trước, đối với lí lẽ có nhiều sai trái.” Như thế là thầy đã không đồng ý với phương pháp cách nghĩa. Nhưng thầy Tăng Quang thì vẫn chủ trương giữ phép cũ, vì cho rằng, cách nghĩaphương pháp mà các bậc tiền bối đã đạt và sáng lập, không thể bảo là sai trái. Điều đó cho thấy, tinh thần của thầy Đạo An không giống với người đương thời. Đương nhiên, sự xuất hiện của phép cách nghĩa, cũng như sự vận dụng nó, đã có tính lịch sử nhất định và tất nhiên của nó. Phật giáo khi mới truyền vào Trung-quốc, đối với mọi người, so ra nó còn quá mới mẻ; không những thế, giáo nghĩa của nó lại vô cùng cao sâu khó hiểu. Cho nên, việc dùng sách Nho, sách Đạo, và các sách vở thông tục khác mà người Trung-hoa đã từng quen thuộc, đem so sánhphối hợp với sách Phật, đã trở thành cái nhu cầu bức thiết cho sự phát triển Phật giáo ở buổi ban đầu đó. Chính vì vậy mà dù cho trên chủ quan Đạo Anphản đối phép cách nghĩa, nhưng trên thực tế thầy cũng vẫn chưa thể thoát khỏi hẳn phương pháp ấy. Không những thỉnh thoảng tự thân thầy vẫn sử dụng huyền học của Lão Trang để thuyết giảng Phật pháp, mà thầy có lúc còn đặc biệt cho phép vị cao đồ của thầy là sư Thích Tuệ Viễn, khi giảng giải kinh Phật, có thể dẫn dụng nghĩa lí trong sách Trang Tử để gợi ý thính chúng. Nhưng, thầy Đạo An, thông qua việc tự mình để toàn tâm lực nghiên cứu kĩ càng mà tìm thấy được chỗ khiếm khuyết của phép “cách nghĩa”, hết sức muốn án chiếu ngay bản nghĩa của Phật giáo để lí giải Phật giáo, điều đó đã biểu hiện rõ ràng thầy là một Phật giáo đồ có học phong nghiêm cẩn, tín ngưỡng kiền thành. Tư tưởng đó của thầy cũng đã thúc đẩy Phật giáo dần dần thoát li sự y phụ vào các tư tưởng truyền thống để đi trên con đường phát triển tương đối độc lập hơn.

Khoảng trước sau năm thứ 10 niện hiệu Vĩnh-hòa (354) thời Đông-Tấn, thầy Đạo An lại rời Sơn-tây, đi đến vùng núi Thái-hành, Hằng-sơn thuộc tỉnh Hà-bắc, xây dựng chùa tháp, truyền bá Phật giáo. Người ta nói rằng, tại nơi đó, số người xin xuất gia theo thầy Đạo An, và số người được thầy giáo hóa, đông bằng nửa dân số tỉnh Hà-bắc. Sự kiện này, về một phương diện, nó phản ảnh cái sự thật của xã hội đương thời, là trong hoàn cảnh loạn lạc khổ đau, người ta đã tấp nập đến với tôn giáo để tìm một nơi nương tựa cho tâm hồn, mong có được chút an ủi cho tinh thần; về một phương diện khác, nó cũng chứng tỏ rằng, thầy Đạo An đương thời đã có thanh danh rất lớn, có ảnh hưởng rất mạnh đối với xã hội. Vào lúc đó, đại bộ phận đất Hà-bắc đang do nhà Tiền-Yên thống trị. Thái thú Lư của huyện Vũ-ấp hâm mộ thanh danh của thầy Đạo An, đã nhiều lần sai sứ đi thỉnh thầy đến dinh để truyền pháp; thầy từ chối không được, phải đáp ứng lời mời, đến dinh phủ giảng pháp. Quả  là  “Danh và thật đã phù hợp, cả đạo tục đều hân hoan ngưỡng mộ!”.

Năm 45 tuổi (357), thầy Đạo An lại trở về đô thành Nghiệp, trú tại chùa Thọ-đô. Bấy giờ thầy đã trở thành một vị lãnh tụ Phật giáo, số đồ chúng thường xuyên thân cận bên mình có đến mấy trăm người. Bất cứ đến chỗ nào thầy cũng luôn luôn tuyên dương Phật pháp để giáo hóa người. Vài năm sau đó thầy lại di chuyển về hướng Tây, đến núi Khiên-khẩu (phía Tây-Bắc đô thành Nghiệp). Lúc bấy giờ, chiến loạn ở phương Bắc chưa chấm dứt, lại bị thiên tai, nước khô, nạn châu chấu liên tiếp mấy năm. Dân đen trăm họ ở trong vùng nước sôi lửa bỏng đó, đã hô hào nhau cùng nổi dậy để tìm sinh lộ. Vì mục đích bảo hộ và hoằng hóa giáo pháp, thầy Đạo An đã dẫn đồ chúng sang địa phận tỉnh Hà-nam, vào chốn rừng núi ẩn cư, ăn rau cỏ đỡ đói, tu học không gián đoạn, và thầy vẫn giảng dạy không ngừng nghỉ. Khoảng trước sau năm thứ ba niên hiệu Hưng-ninh (365) thời Đông-Tấn, vì lánh vùng chiến loạn, thầy Đạo An lại dẫn đồ chúng xuôi Nam, ý muốn đến thành Tương-dương, thuộc vùng thống trị của nhà Đông-Tấn.

Trên đường xuôi Nam, khi đến thành Tân-giã, thầy Đạo An bảo đồ chúng: Nay gặp phải năm mất mùa, nếu muốn làm Phật sự, tất phải nhờ vào sự ủng hộ của nhà cầm quyền. “Không nương cậy vua chúa, Phật sự khó thành tựu.” Đó là câu nói nổi tiếng của thầy. Đồng thời thầy cũng nhấn mạnh: Sự nghiệp Phật giáo muốn được hưng thịnh, cũng cần vào sự nỗ lực truyền bá rộng rãi của mọi người tại các địa phương. Do đó, thầy đã quyết định phân phối các đệ tử đến các địa phương để hoằng pháp. Thầy đã phái thầy Trúc Pháp Thải và hơn 40 thầy khác xuống vùng Giang-đông, lập cơ sở hoằng pháp tại Dương-châu; theo thầy nói, đó là vùng đất “có nhiều quân tử, người ta ưa chuộng phong lưu”. Thầy Trúc Pháp Thải về sau giảng kinh tại Kiến-nghiệp (nay là Nam-kinh), không những các bậc vương hầu công khanh qui tụ, mà cả Tấn đế cũng thân hành đến nghe pháp. Đệ tử của thầy Trúc Pháp ThảiTrúc Đạo Sinh, cũng tại Kiến-nghiệp, đã mạnh mẽ đề xướng giáo nghĩa Phật tánh niết bàn, lại càng làm cho Phật pháp ở vùng Giang-nam đại thịnh. Thầy Đạo An lại phái thầy Pháp Hòa cùng nhiều thầy khác đi đến đất Thục; theo thầy, đó là nơi “sông núi rất tốt cho sự tu hành”. Sự hưng thịnh của Phật giáo ở đất Thục cũng có mối quan hệ lớn lao với phái đoàn hoằng hóa đệ tử của thầy Đạo An. Còn thầy Đạo An thì tự mình hướng dẫn quí thầy như Tuệ Viễn v.v... bốn năm trăm vị, đi thẳng đến thành Tương-dương.

Từ khoảng năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh-hòa (349) thời Đông-Tấn rời đất Nghiệp ra đi, đến năm thứ 3 niên hiệu Hưng-ninh (365) thời Đông-Tấn đến được thành Tương-dương, trong khoảng thời gian mười mấy năm đó, vì tình hình chiến loạn, thầy Đạo An phải đi lánh nạn từ Hà-bắc, sang Sơn-tây, đến Hà-nam. Hồi ở tại Hà-bắc, trước sau thầy cũng đã dời chỗ ở đến 9 lần, phiêu bạt trôi nổi, cực khổ biết chừng nào! Nhưng không vì thế mà thầy ẩn tích giữ mình, trái lại, tuy ở trong hoàn cảnh gian nan, thỉ chung thầy vẫn giữ nếp tu học, vẫn hoạt động truyền giáo không gián đoạn. Thầy lấy việc hoằng pháp làm nhiệm vụ của mình; và trong gian khổ đã nỗ lực tiến hành nhiệm vụ ấy một cách trác tuyệt. Thầy đã biết lợi dụng tình thế để chỉ đạo cho các đệ tử chia nhau đi các nơi hoằng hóa, làm lợi ích cho đời, khiến cho Phật giáo ngày càng trải rộng. Tinh thần đó của thầy đã tác động mạnh mẽ trên công tác truyền bá Phật giáo ở Trung-quốc. Phật giáo truyền vào Trung-quốc từ thời Hán, đến thời Ngụy, thời Tấn thì hưng thịnh, ngoại trừ nhiều nguyên nhân đến từ điều kiện xã hội và phong thái học thuật, có thể nói, sự hưng thịnh ấy đã không tách rời cái nỗ lực không mỏi mệt của chư vị thầy trò đại sư Đạo An.

Do những hoạt động chủ yếu của ngài Đạo An trong thời kì còn trú ở phương Bắc này, chúng ta thấy, vì chịu ảnh hưởng sâu đậm cái phong cách coi trọng thiền định của Phật giáo phương Bắc, đối với thiền học tiểu thừa do đại sư An Thế Cao truyền vào, ngài Đạo An đã có dụng tâm đặc biệt, không những chú thích kinh và viết tựa, mà còn hết mực tôn sùng, lại nỗ lực hành trì, tu tập thiền quán; chỉ vì sách vở ngày nay thiếu thốn, nên đối riêng về phương diện thiền quán của ngài Đạo An, không có cách nào khảo sát tường tận. Cùng lúc với việc nghiên tập thiền quán, ngài Đạo An cũng bắt đầu lưu tâm đến Bát Nhã học của đại thừa. Con đường học thuật của ngài là từ Thiền họcdần dần chuyển sang Bát Nhã học, hoạch định được cái đặc điểm cơ bản cho toàn thể tư tưởng Phật học của ngài.

 

3. CHỈNH LÍ KINH ĐIỂN

XIỂN DƯƠNG GIÁO NGHĨA

CHẾ ĐỊNH TĂNG QUI

SÁNG LẬP TÔNG PHÁI

 

Ngài Đạo An ở tại Tương-dương 15 năm. Đây là thời kì trọng yếu nhất trong hoạt động phụng sự Phật pháp của ngài. Lợi dụng giai đoạn có cuộc sống tương đối ổn định này, ngài tập trung tinh thầnsức lực để hoằng truyền giáo pháp. Trong công cuộc phát triển Phật giáo Trung-quốc, ngài đã cống hiến những thành quả lớn lao ở các phương diện như chỉnh lí kinh điển, xiển dương giáo pháp, xác lập qui chế tăng đoàn, v.v...

Tương-dương thuộc Kinh-châu, là một thị trấn trọng yếu của nhà Đông-Tấn, là yếu lộ giao thông giữa các vùng Nam, Bắc; và cũng là nơi qui tụ của đông đảo văn nhân học sĩ cùng nhândanh tiếng. Tại đây, ngài Đạo An giảng kinh thuyết pháp, đã được khắp đạo tục hoan nghinh, ủng hộ. Các nhân vật quyền quí như thứ sử Kinh-châu Hoàn Hoát và trấn thủ Tương-dương Chu Tự, đều thường xuyên tới lui với ngài. Đúng như người ta nói: “Học sĩ bốn phương đều đến với ngài.” Các nhà hào phú ở địa phương thì đem tiền của cúng dường ngài để xây chùa, dựng tháp, đúc tượng. Vua nước Tiền-Tần là Phù Kiên cũng sai sứ đem tượng Phật thếp vàng cao 7 thước, tượng Phật ngồi bằng vàng, tượng Phật Di Lặc kết bằng châu ngọc, và các tượng thêu bằng những sợi tơ vàng, sang cúng dường ngài. Mỗi lần giảng kinh thuyết pháp, hay cử hành pháp hội, ngài chưng bày tượng Phật la liệt, bài trí tràng phan, “châu ngọc sáng ngời, hương hoa ngào ngạt”, tín đồ không ai là không tỏ lòng kính ngưỡng.

Lúc bấy giờ ở trong thành Tương-dương có vị danh sĩ tên Tập Tạc Xỉ, vốn thuộc một dòng họ giàu có, nhiều đời là hương hào. Ông lúc thiếu thời đã có chí khí, học rộng nghe nhiều, lấy văn bút để xưng danh với đời, lại biện luận sắc bén trội hơn mọi người, tài năng phủ trùm thiên hạ đương thời. Ông nghe danh ngài Đạo An đã lâu, nên trước khi ngài dẫn đồ chúng đến Tương-dương, ông đã từng gửi thư giao thiệp với ngài. Trong bức thư đó, ông đã hết lời tán thán đạo đức và học vấn của ngài, cùng biểu lộ tấm lòng kính ngưỡng của riêng ông và của chung các giới đạo tục thành Tương-dương đối với ngài, rất mong mỏi chờ đợi ngài đến. Khi ngài Đạo An đến Tương-dương, Tập Tạc Xỉ  đến xin tham kiến ngay. Vừa ngồi xong, ông tự báo danh tánh: “Bốn biển Tập Tạc Xỉ”; ngài cũng đáp lại ngay: “Đầy trời Thích Đạo An”. Câu đối đáp ấy đã nổi danh đương thời. Có tài liệu còn ghi chép rằng: Khi ông Tập Tạc Xỉ đến tham kiến ngài Đạo An, gặp lúc ngài đang cùng tăng chúng bưng bát dùng cơm. Thấy ông, toàn chúng đều để bát xuống, chỉnh lại y áo để biểu thị sự cung kính; chỉ riêng ngài Đạo An vẫn tiếp tục ăn cơm. Tập Tạc Xỉ giận lắm, nói lớn: “Bốn biển Tập Tạc Xỉ, có việc nên đến gặp ngài.” Ngài Đạo An liền ứng lời đáp: “Đầy trời Thích Đạo An, không rảnh nên chưa tiếp kiến.” Tập Tạc Xỉ càng giận hơn, nói: “Cái đầu có màu của cái bát; cái bát không có tóc của cái đầu.” Ngài đáp lại: “Cái mặt có màu của cái muỗng; cái muỗng không có núng đồng tiền của cái mặt.” Tập Tạc Xỉ lại nói: “Chim đại-bàng từ Nam đến, các loài chim đều xếp cánh; có vật gì làm đông cứng con cú-mèo mà cứ cúi đầu ăn thịt khô.” Ngài trả lời: “Làn gió nhẹ thoảng vào hang tối, làm sao lay động được khúc cây to; con cọp mạnh đang ăn ngon, không biết có con ruồi bay đến.” Tới đây thì Tập Tạc Xỉ không còn lời gì để đối đáp nữa. Nếu xét từ lòng kính trọng của Tập Tạc Xỉ đối với ngài Đạo An, thì sự kiện được ghi chép ở trên không chắc chắn có thể tin tưởng được; nhưng ít ra nó cũng phản ảnh cho người sau thấy cái khả năng suy nghĩ nhanh lẹ, ứng đối mẫn tiệp, cũng như trình độ học vấn sâu rộng, phong cách cao khiết của ngài Đạo An, thật đáng tán thưởng biết chừng nào! Sau ngày tham kiến ngài Đạo An không lâu, ông Tập Tạc Xỉ đã đến yết kiến nhà chính trị hiển quí lúc bấy giờ là Tạ An, để suy tiến ngài Đạo An. Ông đã hết lời khen ngợi ngài là bậc trí thức uyên bác, đạo phong nghiêm cẩn; lại “không dùng trò ảo thuật biến hóa để đánh lừa tai mắt người đời; không dùng uy mạnh thế lớn để sửa trị những lầm lỗi của kẻ tiểu nhân, mà thầy trò nghiêm túc, tự kính trọng nhau.” Một nhân vật như thế, thật từ trước tới nay ông chưa hề thấy! Xét trong lời khen ngợi đó của ông Tập Tạc Xỉ đối với ngài Đạo An, có thể thấy, ngài Đạo An đã không giống với sư phụ Phật Đồ Trừng trong việc dùng ảo thuật biến hóa để làm phương tiện hấp dẫn đồ chúng và hoằng truyền giáo pháp. Ngài đã không dựa vào các trò ảo thuật để mê hoặc quần chúng, cũng không cậy quyền thế để áp chế người, mà hoàn toàn bằng vào học vấn, đạo đức của chính mình, dùng cách tự răn mình để giáo hóa người. Ngài đã quản lí một tăng đoàn đến mấy trăm người luôn sống trong ôn hòa trật tự, chứng tỏ ngài là một bậc mô phạm, phong độ trên hẳn mọi người.

Lúc bấy giờ, trong vùng Giang-đông có vị danh sĩ tên Sí Siêu, nghe danh tiếng ngài Đạo An, bèn cho người đem ngàn hộc gạo đến cúng dường, lại viết thư từng xấp, thăm hỏi rất ân cần. Vua Hiếu-vũ đế của nhà Đông-Tấn cũng phái người đến vấn an, đồng thời hạ chiếu chỉ: “Cấp bổng lộc đồng với các vương công.” Từ đó có thể thấy, ngài Đạo An trong thời gian ở Tương-dương, hoàn cảnh sống rất được an định, có nhiều điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hoằng hóa Phật pháp.

Về phương diện nghiên cứu Phật học và xiển dương Phật lí, ngài Đạo An, do chịu ảnh hưởng trọng nghĩa lí của Phật giáo Nam-phương, đồng thời tiếp hợp cái phong thái ưa chuộng huyền học từ trong triều đình cho đến ngoài dân giã của nhà Đông-Tấn, mà trọng tâm tư tưởng của ngài bắt đầu chuyển hướng từ Thiền học sang Bát Nhã học. Trong 15 năm ở Tương-dương, mỗi năm ngài giảng hai lần kinh Phóng Quang Bát Nhã, không năm nào thiếu. Để nắm vững ý nghĩa về tánh không của Bát Nhã một cách chuẩn xác, ngài đã cố gắng thu thập tất cả các bản dịch khác nhau một cách cẩn thận, đối chiếunghiên cứu; sau đó thì theo văn mà giảng giải sơ lược, từng soạn thành tác phẩm Hiệp Phóng Quang Quang Tán Tùy Lược Giải, nhưng rất tiếc đã bị thất truyền, nay chỉ còn lại một bài “Tựa”, trong đó cho thấy rõ cái tâm đắc của ngài trong phương diện nghiên cứu này. Ngài cũng đã sáng lập một chủ thuyết được gọi là “bản vô tông” của Bát Nhã học, –trên thực tế nó là một học phái– đã hình thành một học phái sớm nhất, hơn hẳn các học phái trong lịch sử Phật giáo Trung-quốc.

Đồng thời với việc nghiên cứu, diễn giảng tư tưởng Bát Nhã, ngài Đạo An còn đem hết tâm lực để thu góp, tập hợp, và chỉnh lí điển tịch Phật giáo, cùng biên tập mục lục kinh điển. Phật giáo truyền vào Trung-quốc từ đời Hán, đến thời ngài Đạo An, các kinh điển được dịch đã đạt một số lượng lớn; lại còn một số kinh có nhiều bản dịch khác nhau, trong đó, các bản dịch không đề tên dịch giả, không ghi năm dịch, cũng không phải là ít; rồi lại còn có những bản được gọi là “ngụy kinh”, do người Trung-hoa biên soạn. Trước ngài Đạo An cũng đã có người từng chỉnh lí các kinh điển lưu hành đương thời, biên soạn mục lục, nhưng chưa được hoàn bị lắm; như, có người thì chỉ soạn mục lục dịch phẩm của một đời hay của một người, có người thì chỉ liệt kê tên kinh mà không ghi chú niên đại. Ngài Đạo An, trên cơ sở thu thập rộng rãi, duyệt xét các kinh điển lưu hành đương thời, là người đầu tiên đã hệ thống và chỉnh lí toàn diện, tổng tập danh mục, nêu lên những người đương thời, cùng nghiêm cẩn biện biệt chân ngụy, phê bình phân định mới cũ. Những kinh điển nào, trước khi được thu vào danh mục, nhất định phải được tự thân ngài duyệt đọc; điều đó đã đủ cho thấy sức cần lao và tính nghiêm cẩn trong quá trình nghiên cứu của ngài. Nguyên bản bộ Kinh Lục của ngài Đạo An tuy đã bị mất rất sớm, nhưng nội dung của nó vẫn còn được giữ nguyên trong bộ Xuất Tam Tạng Kí Tập (là bộ Kinh Lục xưa nhất hiện còn ngày nay) do ngài Tăng Hựu biên tập vào đời Lương.

Theo bước phát triển của Phật giáo, đất Hán tăng ni càng ngày càng đông, dần dần bèn hình thành những đoàn thể tăng sĩ, hoặc dựa vào một vị sư dịch kinh nào đó làm trung tâm, hay lấy một tự viện nào đó làm cơ sở hoằng pháp. Như thế, cần phải căn cứ vào tình hình thực tế của xã hội Trung-quốc mà chế định giới qui cho phù hợp với trạng huống phát triển của Phật giáo Trung-quốc, để ước thúc tăng đoàn, làm cho các sinh hoạt của tăng ni từng bước được qui củ hóa. Vào thời ngài Đạo An, đất Hán tuy đã có giới luật, nhưng thật không hoàn bị; ngài đã từng cảm thán về sự bất toàn của giới luật truyền vào. Lúc ngài Đạo An ở Tương-dương, tăng ni có đến mấy trăm vị. Để cho sinh hoạtđiều độ, ngài đã tham chiếu giới luật hiện có lúc ấy, chế định “qui phạm” (các phép tắc chuẩn mực) cho tăng ni, chủ yếu có 3 điều: 1) Nghi thứcphương pháp giảng kinh thuyết pháp; 2) Các qui định về giờ giấc ăn ngủ và thời khóa tu tập trong sáu thời (sáng sớm, giữa trưa, buổi chiều, đầu hôm, nửa đêm, buổi khuya) mỗi ngày; 3) Cử hành nghi thức thuyết giới sám hối mỗi nửa tháng một lần, và các qui định liên quan đến lễ bố tát sám hối cử hành vào ngày mãn hạ an cư. Các qui củ cho tăng ni do ngài Đạo An chế định, đã có ảnh hưởng lớn lao, các tự viện trong thiên hạ vào thời đó đều theo đó mà thi hành. Vì vậy, ngài được coi là người thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Trung-quốc đã định lập thanh qui tự viện.

Vào những năm cuối đời của ngài Đạo An, các loại giới bản tấp nập truyền vào Trung-quốc; cho đến khi ngài Cưu Ma La Thập sang, quảng bá Luật tạng, thì từ đó tăng ni đã có nghi phạm để tuân thủ, không cần phải thi hành những điều do ngài Đạo An chế định nữa. Qui phạm tăng ni do ngài Đạo An định lập được thi hành cho đến lúc nào thì sử sách không ghi chép, nhưng việc ngài đặt một cái HỌ chung cho tăng ni, thì từ hơn ngàn năm nay, trước sau vẫn được Phật giáo Trung-quốc chấp hành. Từ ngài Đạo An trở về trước, các sa môn ở Trung-quốc đều lấy họ theo vị thầy của mình. Các sư từ Thiên-trúc sang thì lấy họ “Trúc”; từ nước Nhục-chi sang thì lấy họ “Chi”; từ nước An-tức sang thì lấy họ “An”; và đệ tử của ngài nào thì theo họ của ngài ấy. Do đó, họ của các sa môn lúc bấy giờ không đồng nhất. Ngài Đạo An đề xướng: “Cái gốc của đại sư, không ai tôn quí bằng đức Thích Ca, cho nên hãy lấy họ THÍCH làm họ mình.” Về sau, khi có được kinh Tăng Nhất A Hàm, trong kinh có nói: “Sông ở bốn phương khi đã chảy vào biển cả thì không con sông nào còn giữ tên của mình; trăm họ khi đã làm sa môn thì đều xưng mình là dòng giống Phật.”, thì từ đó, Phật giáo đồ lấy chữ “THÍCH” làm họ, đã vĩnh viễn trở thành định thức, tới nay vẫn không thay đổi.

Khi ở tại Tương-dương, ngài Đạo An còn có một hoạt động trọng yếu khác nữa, đó là ngài cùng với các đệ tử như Pháp Ngộ v.v..., thường đứng trước tượng đức Di Lặc lập thệ nguyện sinh về cung trời Đâu-suất. Theo giáo lí đạo Phật, Di Lặc là vị Bồ-tát từng được đức Phật thọ kí sẽ thành Phậtnhân gian kế tiếp sau đức Phật Thích Ca Mâu Ni; cho nên cũng được gọi là “đức Phật vị lai”. Ngài nguyên là đệ tử Phật, trước khi Phật nhập diệt, sinh lên nội viện cõi trời Đâu-suất, trải qua 4.000 tuổi (một ngày đêm ở cõi trời Đâu-suất tương đương với 400 năm ở nhân gian), sẽ hạ sinhnhân gian, rộng truyền Phật pháp. Chúng sinh nếu được sinh lên cõi trời Đâu-suất, đã hưởng thọ mọi điều vui sướngcõi trời, mà trong tương lai lại còn có thể được theo dức Di Lặc, hạ sinh vào nhân gian để tu học Phật pháp, cuối cùng đạt đến chỗ giải thoát. Theo kinh Phật nói, quốc độ trong tương lai khi đức Di Lặc thành Phật, thật là tốt đẹp, không thể dùng lời để nói, con người sống lâu đến 84.000 tuổi, vàng bạc châu báu trải khắp mặt đất, trên cây tự nhiên sinh ra y phục mềm mại, trong đất tự nhiên sinh ra gạo thơm; thậm chí, “bất luận nam nữ, khi ý muốn đại tiện tiểu tiện, thì đất tự nhiên nứt ra, sau khi việc xong thì đất khép lại như cũ”. Ngài Đạo An thệ nguyện vãng sinh lên cõi trời Đâu-suất, đã phản ảnh cái lí tưởng tôn giáo của một Phật giáo đồ, mà cũng phản ảnh một cách khúc chiết lòng khao khát một đời sống tốt đẹp, của dân chúng trăm họ đang sống một cuộc sống đầy khổ nạn trong cái xã hội loạn động bất an của thời đại Nam-Bắc-triều. Từ sau thời Đông-Tấn, tín ngưỡng “vãng sinh về tịnh độ Đâu-suất của đức Di Lặc”, đã truyền bá mau lẹ tại Trung-quốc. Từ các đời Tùy, Đường về sau, nhiều phong trào “nông dân khởi nghĩa” thường lấy câu “Di Lặc Xuất Thế” để hiệu triệu dân chúng. Sự kiện đó nói lên sự thịnh hành của loại tín ngưỡng này vào lúc đó. Có điều đáng nói, là tín ngưỡng “tịnh độ Tây-phương” lại càng ảnh hưởng lớn lao hơn nữa trong lịch sử Phật giáo Trung-quốc; nó có sức hấp dẫn lớn, khiến cho rất nhiều người thệ nguyện vãng sinh về Tây-phương, nơi đó viễn li thế gian, chứ không phải vẫn ở trong vòng ba cõi3, sáu đường4 như tịnh độ Đâu-suất. Người muốn vãng sinh về tịnh độ Tây-phương, tất yếu phải nhàm chán và muốn xa lìa cái khổ sinh tử của thế gian, nhưng vãng sinh về tịnh độ Đâu-suất thì không nhàm chán sinh tửvui thích sinh lên cõi trời. Nhìn từ khía cạnh này, nó cho thấy ngài Đạo An không phải là một người tiêu cực, yếm thế một cách cực đoan. Ngoài ra, Phật giáo nói tới việc đức Di Lặc được Phật thọ kí, lưu trú vì thế gian để giải quyết mọi nghi nan, có thể cũng đã ảnh hưởng đến ngài Đạo An; do đó có thể thấy được niềm tin tôn giáo của ngài là phải hoằng pháp độ người.

 

4. DỊCH KINH TRUYỀN GIÁO

ĐẾN CHẾT MỚI THÔI

 

Trong thời gian ngài Đạo An ở tại Tương-dương, thì ở phương Bắc, các nước Tần, Yên lo đánh nhau, không rảnh để mưu đồ tiến xuống phương Nam; nhân đó mà cả một vùng Tương-dương tương đối được an định. Ngài Đạo An đã lợi dụng cái khoảng thời gian này để giảng kinh thuyết pháp, chỉnh lí kinh điển, biên soạn mục lục, chế định tăng qui, đem lại nhiều thành quả nổi bật, thanh danh ngày càng tăng cao. Vua Phù Kiên của nước Tiền-Tần nghe danh ngài, thường nói với mọi người: “Ở Tương-dương có ngài Thích Đạo An. Đó là một nhân tài phi thường. Ta phải tìm cách đưa ngài về đây để làm việc với ta.” Năm thứ 3 niên hiệu Thái-nguyên (378) đời vua Hiếu-vũ đế thời Đông-Tấn, vua Phù Kiên sai tướng Phù Phi dẫn quân tấn công thành Tương-dương, ngài Đạo An bị quan trấn thủ thành Tương-dương lúc bấy giờ là Chu Tự quản thúc, không để cho rời khỏi thành. Bởi vậy, ngài lại theo kế sách ở Tân-giã ngày trước, phân tán đồ chúng đệ tử đi về các địa phương hoằng pháp. Năm sau, Phù Phi hạ được thành Tương-dương, đem cả ngài Đạo An và ông Tập Tạc Xỉ đưa về Trường-an. Từ đây, ngài Đạo An bắt đầu giai đoạn sau cùng của cuộc đời ngài: Giai đoạn dịch kinh hoằng pháp ở Trường-an.

Ở tại kinh thành Trường-an, ngài Đạo An được mời trú tại chùa Ngũ-trùng, tăng chúng có đến mấy ngàn người. Ngài được vua Phù Kiên, tất cả quan viên và văn nhân trong nước Tiền-Tần sùng kính, đãi ngộ trọng hậu. Có một lần nọ, nhà vua đi du ngoạn ở Đông-uyển, mời ngài cùng ngồi chung một xe. Quan thượng thư tả bộc xạ Quyền Dực cho rằng, nhà vua sắp xếp như thế là không thỏa đáng, liền tâu rằng: “Thiên tử ngồi xe đi du ngoạn thì nên cho quan thị trung theo xe hầu hạ. Đạo An là kẻ thấp hèn, hình mạo xấu xa, sao có thể để cho ông ấy ngồi chung xa giá thần thánh của bệ hạ?” Vua Phù Kiên tức thì nổi giận, bảo Quyền Dực: “Đạo đức của pháp sư Đạo An khiến cho người ta tôn kính không ai bằng. Dù trẫm có đem cả thiên hạso sánh với ngài, cũng không có gì đáng kể. Ngài ngồi chung xe với trẫm, hoàn toàn không phải là trẫm ban cho ngài sự vinh diệu, mà trái lại, ngài đã làm cho trẫm được hiển hách!” Nói xong, nhà vua đã ban lệnh bảo Quyền Dực đích thân đỡ ngài Đạo An lên xe ngồi chung với ông. Qua sự việc này có thể thấy rõ lòng kính trọng của vua Phù Kiên đối với ngài Đạo An. Đương nhiên, Phù Kiên xử sự như thế là có mục đích chính trị. Ông muốn nhờ vào ngài Đạo An, dùng Phật giáo để bảo vệcủng cố quyền thống trị của mình.

Ngài Đạo An không những tinh thục Phật điển, mà còn bác thông ngoại điển, rất giỏi văn chương, các quan liêu quí tộc tử đệ ở Trường-an, mỗi khi làm thơ phú, đều đến nhờ ngài phẩm bình mới cảm thấy vinh diệu. Lúc bấy giờ tại huyện Lam-điền có một cái đỉnh lớn, dung tích chứa được đến 27 hộc lúa, một mặt bên của cái đỉnh có bài minh viết theo lối chữ “triện”, không ai đọc được. Ngài Đạo An được mời đến xem. Xem xong, ngài bảo mọi người, đó là loại chữ triện cổ, ý nói là cái đỉnh này do vua Lỗ Tương công đúc. Ngài bèn chép lại bài minh ấy theo lối chữ “lệ”. Lại một lần khác, có một người mang một cái hộc bằng đồng, hình dáng kì dị, đem ra chợ bán. Vua Phù Kiên hỏi ngài Đạo An về cái hộc ấy, ngài nói, đó là cái hộc được chế tạo vào thời đại nhà Hán, lúc Vương Mãng xưng đế, kiến lập triều đại mới. Trong một thời gian, những câu chuyện về nghe nhiều biết rộng của ngài Đạo An được đồn đãi khắp cả kinh thành. Vua Phù Kiên ban sắc lệnh cho tất cả học sĩ trong triều ngoài nội, ai có điều gì nghi nan, đều nên đến xin ngài Đạo An chỉ dạy. Dân chúng trong thành Trường-an lúc đó từng lưu truyền câu nói rằng: “Học mà không nhờ sư Đạo An chỉ dạy, thì nghĩa lí khó khăn không rõ được.”

Ngài Đạo An, thân tuy ở tại Trường-an, nhưng tâm vẫn hướng về triều đình Đông-Tấn. Vua Phù Kiên, vào năm cuối đời, đã chuẩn bị binh mã, có ý Nam tiến để đánh Đông-Tấn. Lúc ấy tình thế nhà Đông-Tấn đã đến lúc nguy cấp, ngài Đạo An bèn uyển chuyển lựa lời can gián Phù Kiên, khuyên nhà vua hãy bỏ ý định hoặc tạm hoãn lại mưu đồ diệt nhà Tấn. Trong tâm khảm ngài Đạo An, từ trước đến giờ ngài vẫn có cái nhìn không được cởi mở lắm đối với việc các giống người Hồ xâm nhập chiếm cứ, kiến lập chính quyền, làm chủ Hoa-hạ; đó là điểm ngài không giống với sư phụ ngài là đại sư Phật Đồ Trừng.

Hoạt động Phật sự chủ yếu của ngài Đạo An tại Trường-an là tổ chức đạo tràng dịch kinh cho chư tăng Trung-quốc cũng như ngoại quốc. Theo sử liệu ghi chép, ngài từng thỉnh các vị sa môn ngoại quốc như Tăng Già Đề Bà, Đàm Ma Nan Đề, và Tăng Già Bạt Trừng, cùng dịch kinh trên trăm quyển, hơn trăm vạn chữ. Các kinh đã dịch, tuy bộ phận bao quát là kinh điển đại thừa, nhưng vẫn lấy kinh điển tiểu thừa của Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ làm chủ yếu. Phụ giúp ngài Đạo An để tổ chức và cũng trực tiếp tham dự công tác dịch kinh, có các sư Triệu Chính, Trúc Phật Niệm và Pháp Hòa. Ngài Đạo An còn cùng với sư Pháp Hòa, đối với việc dịch kinh, rất cẩn thận trong việc xét định âm tự, khảo sát rõ ràng ý nghĩa câu văn, để bảo đảm cho bản dịch có đầy đủ chất lượng.

 Trong quá trình chủ trì đạo tràng phiên dịch, ngài Đạo An còn đem những kinh nghiệm cũng như những khó khăn từng gặp trong việc dịch kinh, cẩn thận đúc kết lại; từ đó ngài đã đề ra hai thuyết nổi tiếng, đó là thuyết “5 điều không theo sát nguyên bản” và thuyết “3 điều không dễ dàng”. “5 điều không theo sát nguyên bản” là chỉ cho trong lúc dịch kinh có 5 trường hợp cần phải cải biến cách thức diễn đạt của kinh văn nguyên bản. 5 trường hợp đó là: 1) Dùng cách đảo trang để dịch câu nguyên văn, cho phù hợp với tập quán ngữ pháp Hán văn; 2) Dùng cách tu sức thích đáng để dịch câu nguyên văn chất phác, cho phù hợp với cái học phong hiếu văn chương của người Trung-quốc; 3) Tỉnh lược một cách thích đáng đối với nguyên văn trùng phức rắc rối; 4) Cắt bỏ những câu tụng văn ở trong nguyên bản có tính cách đúc kết mà lại lặp đi lặp lại; 5) Không dịch toàn cả đoạn văn lặp đi lặp lại đoạn văn trước ở trong nguyên bản. “3 điều không dễ dàng” là chỉ cho 3 trường hợp không dễ dàng phiên dịch, đó là: 1) Không dễ gì đem đồ vật thời cổ đại phiên dịch cho thích hợp với thời hiện kim; 2) Không dễ gì đem lời của thánh nhân dịch ra cho kẻ phàm phu ngu muội đủ sức tiếp nhận am hiểu; 3) Người dịch bình thường hiện thời không dễ gì am hiểu tường tận thâm ý của Phật trước đây cả ngàn năm. Những điều do ngài Đạo An đúc kết trên đây đã có ảnh hưởng lớn đối với công việc phiên dịch kinh điển về sau này.

Đồng thời với việc tổ chức dịch kinh, ngài Đạo An cũng tận lực nghiên cứutuyên dương Kinh Bát Nhã. Cũng giống như hồi còn ở Tương-dương, từ khi đến Trường-an, ngài vẫn giữ lệ mỗi năm giảng Kinh Phóng Quang Bát Nhã hai lần. Thuyết “5 điều không theo sát nguyên bản và 3 điều không dễ dàng” do ngài đề xuất, chính là do ngài đã đúc kết được qua quá trình phiên dịchnghiên cứu kinh Bát Nhã.

 Ở Trường-an, trên thực tế, ngài Đạo An đứng ở cương vị lãnh tụ của giới Phật giáo, cho nên, việc ngài chủ trì công tác phiên dịch Phật điển, so với việc dịch kinh tản mác trong dân gian trước đó, có chỗ bất đồng. Ở một cấp độ nhất định, ngài được triều đình bảo hộđài thọ, cho nên, đem so sánh cả về qui mô lẫn chất lượng của công trình dịch kinh, trong thời ngài đã tiến bộ và phát triển hơn trong quá khứ rất nhiều. Bản thân ngài Đạo An cũng đã đổ rất nhiều tâm huyết vào trong sự nghiệp dịch kinh ấy. Vào năm cuối đời ngài, vua Phù Kiên không nghe lời ngài can gián, đã kéo trọng binh Nam tiến, bị đại bại trong cuộc chiến ở Phì-thủy. Từ đó thế lực nước Tần trở nên suy yếu, rồi không lâu sau, có người tộc Tiên-ti là Mộ-dung Xung (sau này kiến lập nước Tây-Yên), dẫn quân uy bức Trường-an. Trong tình hình quân địch đã đánh đến ngoài thành, trong thành thì binh dân rối loạn, mà ngài Đạo An, bấy giờ tuổi đã trên 70, vẫn làm việc không nghỉ, vẫn dịch kinh chuyên cần. Mãi đến đêm hôm trước ngày lâm chung, ngài vẫn cần cù chăm chỉ, đã dịch kinh lại còn viết tựa cho kinh. Năm thứ 10 niên hiệu Thái-nguyên (385) thời Tấn, ngày Mồng Tám tháng Hai, không bệnh tật gì, ngài an nhiên viên tịch, thế thọ 72 tuổi. Ngài đã tham dự phiên dịch hoàn tất kinh Tăng Nhất A Hàm trong năm này; và soạn bài tựa cho kinh ấy cũng trong năm ấy. Đối với sự nghiệp dịch kinh này, có thể nói, ngài Đạo An đã dịch kinh “đến chết mới thôi!”

 

5. TÔNG SƯ MỘT ĐỜI

ẢNH HƯỞNG SÂU XA

 

Đại sư Đạo An là nhà Phật học uyên bác nhất của Trung-quốc trong thời đại Đông-Tấn, cũng là nhà truyền giáo và tổ chức có ảnh hưởng nhất, đồng thời là nhân vật lãnh tụ của giới Phật giáo đương thời. Một đời ngài hoạt động phụng sự Phật giáo, xiển dương giáo nghĩa của Phật pháp, đã gây nên tầm ảnh hưởng to lớn và sâu xa trong tiến trình phát triển của Phật giáo Trung-quốc.

Trước hết, trên phương diện tổ chức dịch kinh, chỉnh lí và giới thiệu kinh điển Phật giáo, ngài Đạo An đã có những cống hiến trọng yếu. Trong giai đoạn cuối đời ở tại Trường-an, ngài chủ trì công việc dịch kinh, và đã dịch cả thảy chừng 14 bộ kinh, gồm 183 quyển, hơn trăm vạn chữ; và trên cơ sở khảo cứu, phẩm bình ưu khuyết trong các dịch phẩm của tiền nhân, kết hợp với sự thể hội của riêng mình, ngài đã có những đúc kết đối với công trình phiên dịch Phật điển. Ngài cũng cần mẫn trong việc chú thích kinh điển, viết các bài tựa; trong phần hành này, trước sau ngài đã trước tác hơn 60 chủng loại, ngày nay hiện còn hơn 20 chủng loại, nội dung bao hàm rộng rãi các lãnh vực như lí luận Phật giáo đại tiểu thừa, tu thiền, luật nghi v.v... Phật Kinh Mục Lục do ngài biên soạn, không những đã khơi nguồn cho môn học về mục lục kinh điển, là bộ sách đã cung cấp những sử liệu về dịch kinh đáng tin cậy nhất để nghiên cứu lịch sử dịch kinh của Phật giáo Trung-quốc; mà nó còn mang lại sự thuận tiện to lớn cho người sau qua việc cung cấp những kinh nghiệm hữu ích để kế tục sự nghiệp chỉnh lí điển tịch Phật giáo.

Thứ nữa, ngài Đạo An tận lực hoằng dương Phật pháp, tích cực bồi dưỡng đệ tử, đã gây nên cái tác dụng thúc đẩy mãnh liệt đối với tiến trình phát triển của Phật giáo Trung-quốc. Khác với một số các vị cao tăng đương thời chỉ thích an nhàn tự tại, ẩn mình trong chốn núi rừng, tự vui với triết lí nhân sinh vũ trụ, ngài Đạo An trước sau cứ một mực chú mục đến việc truyền bá Phật phápgiáo hóa đồ chúng. Tại Hà-bắc, Tương-dương và Trường-an, nơi nào ngài cũng có hàng trăm hàng ngàn đệ tử, hình thành một tăng đoàn Phật giáo lớn nhất tại Trung-quốc đương thời. Những vị đệ tử trứ danh nhất của ngài có Tuệ Viễn, Đàm Dực, Đạo Lập, Pháp Ngộ, Tăng Duệ, v.v... Trong số các vị đệ tử này, sư Tuệ Viễn về sau sẽ thừa kế ngài trong cương vị lãnh tụ của giới Phật giáo. Ngài Đạo An trước sau đã hai lần phân tán đồ chúng với mục đích mở rộng ảnh hưởng cùng khu vực truyền bá. Ở cả hai vùng Nam, Bắc của sông Trường-giang, nơi nào cũng lưu lại dấu chân chư vị đệ tử của ngài. Từ thời đại Đông-Tấn trở về sau, Phật giáo từ lưu vực sông Hoàng-hà truyền rộng cho đến lưu vực sông Trường-giang, rồi tiếp đến truyền rộng rãi cho đến các địa phương khác trong toàn quốc, sự nghiệp đó đã gắn liền với ngài Đạo An cùng các đệ tử của ngài. Ngài Đạo An chế định qui phạm tăng ni, hiến chương Phật pháp, thống nhất họ cho sa môn, những sự kiện đó cũng đã gây nên tác dụng nhất định cho bước phát triển của Phật giáo.

Sau cùng, đối với nền giáo học Phật giáo, ngài Đạo An đã tập đại thành môn lí luận Phật giáo ở Trung-quốc đương thời, cũng như đã sáng lập học phái Bản Vô (hoặc gọi là tông Bản Vô), đã tác động đến tiến trình Trung-quốc-hóa môn Lí Luận Phật Giáo. Phật giáo truyền vào Trung-quốc từ đời Hán, chủ yếu có đại sư An Thế Cao dịch và giới thiệu Thiền học tiểu thừa, và đại sư Chi Lâu Ca Sấm dịch và giới thiệu Bát Nhã học đại thừa; đó là hai hệ thống lớn. Thiền học tiểu thừa so ra rất chú trọng việc tu tập thiền định, trong đó, nhiều phương pháp có chỗ tương tợ như cách hít vào thở ra do các phương sĩ Đạo gia đương thời đề xướng. Nhân đó, loại thiền tập này đã dựa vào các phương thuật thần tiên của đạo Hoàng Lão đang thịnh hành trong xã hội ở khoảng Hán - Ngụy mà được lưu hành. Trong thời kì Ngụy - Tấn, Lão Trang thịnh hành, phong khí huyền hoặc hưng phát. Trọng tâm của Bát Nhã học là “tất cả đều không”. Môn học này đã thông qua giáo nghĩa “giả có vốn không” (tánh không) để thuyết minh“không”, cùng với cách luận không nói có của môn huyền học Lão Trang, có vẻ như tương đồng, cho nên “thuận gió dễ đi”, hưng khởi phồn thịnh. Ngài Đạo An đối với các loại lí luận học Phật giáo do Ấn-độ truyền nhập, đều gồm thu, dung nạp hết. Nhưng một đời ngài đối với Bát Nhã học, đã nghiên cứu tận lực, tinh cần nhất, thông hiểu sâu xa nhất, và cũng đạt thành quả lớn lao nhất; thứ đến, trên phương diện nghiên tập Thiền học, ngài cũng có sự thể hội đặc biệt độc đáo của riêng mình. Ngài đã dung hợp hai hệ tư tưởng lớn Thiền và Bát Nhã, làm nên một tập đại thành của hai hệ tư tưởng ấy vào thời bấy giờ. Bát Nhã học trong thời Ngụy - Tấn đã chịu ảnh hưởng của huyền học Lão Trang, mà hình thành cái gọi là  “6 nhà 7 tông”5; và “Bản Vô tông” của ngài Đạo An đã là một phái có tầm ảnh hưởng lớn nhất ở trong đó. “Bản vô” là một khái niệm về giáo nghĩa “tánh không” mà giới Phật học thời Hán - Ngụy thường dùng để biểu thị cho Bát Nhã học. Bản Vô tông của ngài Đạo An là dùng chữ “bản vô” để xiển dương giáo nghĩa “không” của Kinh Bát Nhã, cho rằng, “Trước khi tạo hóa đã không có gì, rỗng không chính là khởi thỉ của mọi hình thái, cho nên nói là bản vô.” Bản vô được coi là bản nguyên cuối cùng của vũ trụ nhân sinh. Đồng thời cũng cho rằng, người nếu thông qua tu tập thiền pháp mà “giữ tâm ở bản vô”, thì có thể tiêu diệt tất cả vọng tưởng tạp niệm, chân thật thể nhập được trí tuệ bát nhã, từ đó mà đạt đến cảnh giới lí tưởng của Phật giáo, hoàn toàn tịch tĩnh, vô dục, vô ngôn, vô vi. Do điểm này có thể thấy cái đặc điểm tư tưởng của ngài Đạo An, là đã từ Thiền quán để đạt đến Bát Nhã, và lấy Bát Nhã để liễu giải Thiền quán. Sự quán thông của ngài Đạo An đối với hai hệ tư tưởng lớn Bát NhãThiền Học, không những biểu hiện cái học thức uyên bác, cái tầm nhìn mở rộng của ngài, mà nó còn nói lên cái óc suy cứu độc lập, cái tinh thần dám làm mới của ngài. Bản Vô tông của ngài xuất hiện, báo hiệu rằng cái giai đoạn mà Phật giáo Trung-quốc bị Phật giáo ngoại lai “ăn sống nuốt tươi, gán ghép gượng gạo” đã thực sự kết thúc, để bắt đầu cho một thời kì mới của tiếp thu, tiêu hóa, dung hợp, quán thông, và phát huy sáng tạo.

Ảnh hưởng của học thức, đạo phong, đức độ, công tích và địa vị của bậc tông sư một thời đại Thích Đạo An, xưa nay vẫn được các giới Phật giáohọc thuật bình phẩm cao độ. Trước khi đến Trung-quốc, pháp sư Cưu Ma La Thập đã từng nghe danh Đạo An, và gọi ngài là vị “thánh nhân ở phương Đông”. Sau khi ngài Đạo An viên tịch, người đương thời từng truy tán ngài rằng: “Đại sư Đạo An, kiến thức sâu rộng, thực chất dồi dào, giỏi nhiều lĩnh vực, khả năng chuyên môn, lại càng vượt trội; tiếng trùm Khiên-lũng, danh vang Hoài-hà, thân tuy hóa cỏ, người vẫn còn đây.” Quả thật như vậy đó!

 

 

 

CHÚ THÍCH:

 

1. Có thuyết nói ngài sinh vào năm thứ 6 niên hiệu Vĩnh-gia (312) đời vua Hoài đế thời Tây-Tấn.

2. Về con số giới điều của giới cụ túc, có nhiều chỗ nói khác nhau. Theo bộ Tứ Phần LuậtPhật giáo Trung-quốc thường y cứ, giới Tì kheo có 250 điều; giới Tì kheo ni có 348 điều. Người xuất gia y theo các qui định của giới phápthọ trì giới cụ túc này, mới chính thức có được cái tư cách của một vị tăng. Lệ chung trong Phật giáo nói rằng: Người chưa đủ 20 tuổi thì không được thọ trì giới cụ túc.

3. Ba cõi là cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô-sắc; đó là sự phân loại của Phật giáo đối với thế giới thế tục.

4. Sáu đường là Trời, Người, A-tu-la, Súc-sinh, Ngạ-quỉ, và Địa-ngục. Phật giáo cho rằng, tất cả chúng sinh trước khi được “giải thoát”, đều căn cứ vào các hành vi thiện ác của đời trước mà luân hồi trong 6 đường đó.

5. Sáu nhà bảy tông: là từ gọi chung cho học phái Bát Nhã Phật Giáothời đại Đông-Tấn.

 

 

(Trích dịch từ sách Thập Đại Danh Tăng,

 nguyên tác Hoa văn của Hồng Tú Bình và Tôn Diệc Bình,

nhà xuất bản Phật Quang Sơn, Đài-bắc, ấn hành năm 1991.)
Tạo bài viết
12/10/2016(Xem: 6828)
24/08/2018(Xem: 866)
28/09/2016(Xem: 14544)
27/01/2015(Xem: 9009)
28/02/2017(Xem: 10380)
29/01/2015(Xem: 5363)
17/10/2014(Xem: 7710)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.