Con người là chủ nhân của nghiệp và thừa tự của nghiệp

21/05/20183:43 CH(Xem: 5517)
Con người là chủ nhân của nghiệp và thừa tự của nghiệp

CON NGƯỜI LÀ CHỦ NHÂN CỦA NGHIỆP VÀ
THỪA TỰ CỦA NGHIỆP
Thích Thường Tuệ (*)


thich thuong tuePHẦN A: 
Đã sanh ra trong cuộc đời này, hầu như ai cũng muốn mình phấn đấu để có được một cuộc sống hạnh phúc. Cuộc sống hạnh phúc là gì? Đó là những nhu cầu về cuộc sống vật chất hay những địa vị quan trong xã hội, gia đình hạnh phúc, bình an… Thế nhưng ngay trước mắt chúng ta cuộc sống với biết bao nhiêu điều nghịch lý, đối với một nhãn quan bình thường thì cho đó là những điều bất công, những sự sắp xếp của định mệnh chứ ít khi chúng ta đi tìm nguồn gốc sâu xa của vấn đề. Thế thì, nguyên nhân của những điều nghịch lý, những điều bất công trong xã hội loài người là gì? Vì sao người này lại sinh trưởng trong cảnh xa hoa, mà bản tánh không sáng suốt, người nọ thì bị chìm đắm trong cảnh nghèo khóbản tánh thông minh, người thì vừa nghèo vừa chậm chạp, người thì vừa giàu vừa lanh lợi? Có người suốt cuộc đời làm gì cũng gặp trắc trở, có người làm gì cũng thông suốt? Vì sao người này là bậc Vĩ Nhân Thánh thiện, người kia là kẻ điểu trá sát nhân? Người này là một nghệ sĩ tài ba, nhà toán học, nhạc sĩ từ khi mới lọt lòng, người kia sinh ra đã mù điếc què quặt? Người này vừa trông thấy đã có cảm tình, người kia vừa trông thấy đã khó chịu?... Đối với những sự sai biệt này, cần phải có một hoặc nhiều nguyên nhân hay chỉ là một sự ngẫu nhiên hoàn toàn?

Không một thức giả nào lại cho rằng sự sai biệt này chỉ là một sự may rủi mù quáng hay là sự ngẫu nhiên tình cờ. Tất cả sự hưởng thụ của một người nào đều có nguyên nhân, và nguyên nhân này có thể ra ngoài sự hiểu biết tầm thường của chúng ta. Cái nguyên nhân chính đáng vô hình của những hiện tượng hữu hìnhthể không ở trong hiện tại mà ẩn núp trong một quá khứ gần hay xa.

Nếu hạn cuộc trong phạm vi tương đối của các giác quan, có thể rằng những sự sai biệt này chính do nguyên nhân của sự di truyềnhoàn cảnh. Nhưng sự di truyềnhoàn cảnh dù có thể thuộc trong sự sinh hoạt đến mấy cũng không đủ để cắt nghĩa những sự sai biệt giữa người và người. Ví dụ vì sao những anh em sinh đôi về hình thể rất giống nhau lại được nuôi dưỡng trong một hoàn cảnh như nhau mà tính tình, tư tưởng, học thức, cuộc đời, lại trái ngược hẳn nhau. Phải chăng có một đấng quyền năng tối cao nào đó ban bố hay thưởng phạt, tạo dựng xã hội? Hay là trong xã hội chỉ vô tình một cách ngẫu nhiên như vậy chớ không có một lý do nào khác hơn? Hay chỉ thuần túy theo dòng dõi giàu sang thì giàu sang, còn kẻ bần hàn thì cứ phải chịu kiếp lầm than trong cuộc sống?

Theo Đạo Phật, tất cả những sự sai biệt không phải những do sự di truyền, hoàn cảnh chung quanh và của thức ăn uống mà do Nghiệp lực của chính người. Nói cách khác, do gia tài chúng ta hưởng thụ từ những Nghiệp mà chúng ta đã tạo ra ở quá khứ và tạo ra từng giây từng phút trong hiện tại cộng lại. Chúng ta phải chịu trách nhiệm đối với hạnh phúc hay sự đau khổ của chính chúng ta, thiên đường hay địa ngục đều do chúng ta tạo nên. Chúng ta là kết tinh của tất cả những Nghiệp do chúng ta đã gây ra.Theo Đạo Phật “Vị trí của con người là tối thượng”. Con người là vị Thầy riêng của mình, và không có ai hay năng lực nào ngồi để phán xét số phận của chúng ta. Trong Kinh điển, Đức Phật đã từng dạy:

“Chúng sanh là Chủ Nhân Của Nghiệp, là Kẻ Thừa Tự Của Nghiệp, Nghiệp là thai tạng, Nghiệp là quyến thuộc, Nghiệp là nhân tố phán xét”.

Như vậy: Nghiệp là gì mà chi phối cuộc sống của chúng sanh đến thế? Nghiệp là hành động, hay việc làm. Điều mình tạo ra làm cái nhân (hạt) để sau chịu lấy cái qủa (trái) gọi là Nghiệp. Nghiệp nói cho đủ là Nghiệp báo, là Tác ý. Tư tưởng, lời nói, việc làm, thường khởi xuất do "ý muốn làm" tạo động cơ. Phật Giáo gọi ý muốn làm ấy là Tác ý. Tất cả những hánh động có tác ý, dù biểu hiện bằng thân, khẩu, hay ý, đều tạo Nghiệp. Tất cả những hành động có tác ý, thiện hay bất thiện, đều tạo Nghiệp. Đức Phật dạy:

"Nầy hỡi các Tỳ Khưu, Như Lai xác nhận rằng chính Tác ý là Nghiệp. Do có ý muốn mới có hành động, bằng thân, khẩu hay ý ".
Ngoại trừ những hành động của Chư Phật và A La Hán, mỗi hành động có tác ý đều gọi là Nghiệp. Mặc dầu Chư Phật và A La Hán vẫn còn chịu ảnh hưởng của những nhân đã gieo trong quá khứ, các Ngài không còn tạo Nghiệp mới nữa vì các Ngài đã thoát ra ngoài cái lành và cái dữ, đã tận diệt Vô MinhÁi Dục là hai nguồn gốc của Nghiệp. Kinh Tam Bảo ghi rằng: 
"Mầm giống đã bị tận diệt, những ham muốn vị kỷ không còn khởi sanh".

Như vậy không có nghĩa là Chư Phật và A La Hán sống một cách thụ động. Các Ngài luôn luôn tích cực hoạt động để tạo sự an lành, hạnh phúc cho chúng sanh. Hành động của các Ngài là Thiện, không có năng lực tạo Nghiệp, hiểu tận tường thực tướng của vạn pháp, các Ngài phá tan mọi sự trói buộc chúng sanh trong vòng Luân Hồi, những chuỗi dài Nhân và Quả. Trong sự báo ứng của Nghiệp, Tâm là yếu tố tối quan trọng. Tất cả những việc làm, lời nóitư tưởng đều do Tâm ảnh hưởng. Khi không điều phục được Tâm tức nhiên không thể kềm chế được việc làm, lời nói, và tư tưởng. Điều phục Tâm tức kềm chế thân, khẩu, ý.Trong Kinh Pháp cú dạy rằng: 

“Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo”.
Và:
“Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh, 
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau
Như bóng, không rời hình”.

Chúng ta có thể thắc mắc vì sao một vật vô hình như Tâm lại có thể gây ra những xáo trộn cho thế gian vật chất. Thật ra không có gì khó hiểu. Chính các bộ máy cực kỳ hùng mạnh và có khả năng làm đảo lộn thế gian hiện đại chỉ là sản phẩm của những bộ óc phong phú. Cái Tâm vô hình tạo nên tất cả những tác động Báo Ứng của Nghiệp.

Nghiệp nhân do Chính Mình Gieo ra trong đời sống hiện giờ hay quá khứ, việc làm tốt hay xấu cuối cùng chúng ta lãnh quả báo cay đắng hay sung sướng. Không có thế lực nào hay thần linh nào trừng phạt cho hành động ấy cả. Trong kinh Pháp Cú, câu 19 có nói: “Khi nghiệp nhân đã gieo thì chắc chắn sẽ lãnh thọ, không thể trốn vào đâu được, dù kẹt núi biển cả hay trên hư không.” Như vậy, trên nền tảng nguyên lý là có Nhân thì ắt có Quả, tất yếu không sai chạy giống như chúng ta nói: “hai với hai là bốn”, thì đó là nguyên lý, chưa đi sâu vào hiện thực thì còn nhiều chi tiết phải được liệt kê ra. Ví như hai con gà và hai trái cam thì không thể nào thành bốn con gà được mà phải đồng loại hai trái cam cộng với hai trái cam mới thành bốn được, con gà cũng vậy. Nghiệp nhân cũng vậy dù là nhân ắt có quả nhưng nó còn phải trải qua nhiều điều kiện hội đủ mới trổ quả được.

Chúng ta nên biết nguồn gốc của Nghiệp chính là Vô minh và Ái thủ. Vô minh là thiếu hiểu biết đúng đắn sáng suốt về lẽ sống, là tham dục trên đời này. Trong đời sống, chúng ta cứ hành động theo chiều hướng bản năng thì đó là chính chúng ta se sợi dây Nghiệp thức cực kỳ chắc chắn để tự buộc cổ mình vào bánh xe luân hồi tái sinh. Cứ như thế mà chúng ta chìm đắm trong sáu cõi luân hồi ảm đạm. Để chấm dứt sự khổ về tái sanh thì chúng ta phải biết tu tập hạnh xả ly, cắt đứt dần dần mọi hành động ngu tối, bám víu vào ham thích dục lạc tạm thời trong cuộc đời này.

Thông thường, Nghiệp được tạo tác trên cơ sở của Tam nghiệp: thân, khẩu và ý. Tất nhiên, cả ba nghiệp trên đều xuất phát từ “Ý” hay còn gọi là “Tâm”. Như thế, khi xét đến Nghiệp của một con người là xét đến Thân Nghiệp, Khẩu NghiệpÝ Nghiệp. Ngoài ba Nghiệp này, không còn một cái Nghiệp nào khác. Tuy nhiên, Nghiệp có những tính chấtchức năng khác nhau nên chúng được phân làm nhiều loại và có nhiều tên gọi khác nhau như: Nghiệp Thiện, Nghiệp Ác, Nghiệp nhân, Nghiệp quả, Định Nghiệp, Bất Định Nghiệp, Nghiệp cũ, Nghiệp mới, Tập quán nghiệp, Tích lũy nghiệp, Cực trọng nghiệp, Cận tử nghiệp……

Thế nào Nghiệp Thiện? Đó là: Tư duy và hành động về các điều lành như thực hành Ngũ giớiThập thiện giới.

Thế nào Nghiệp Ác? Đó là: Tư duy hành động về các điều lành như thực hành những điều trái ngược với Ngũ giớiThập thiện giới. 

Thế nào Nghiệp Nhân? Đó là: Những tư duy, hành động tạo nghiệp chưa đưa đến một kết quả.

Thế nào Nghiệp Quả? Đó là: Những tư duy, hành động tạo tác sau một tiến trình đã tạo thành Nghiệp, còn gọi là Nghiệp quả hay Nghiệp báo.

Thế nào Định Nghiệp? Đó là: Là nghiệp được lưu chuyển trong thời gian ổn định và từ Nhân đến Quả thống nhất với nhau. Ví dụ, chúng ta như ăn thì sẽ no; trứng gà sau khi được ấp trong một thời gian sẽ nở ra con gà. 

Thế nào Bất Định Nghiệp? Đó là: Nghiệp không dẫn đến kết quả, hoặc kết quả sẽ thành tựu trong thời gian bất định, hoặc có thể giữa kết quả và nguyên nhân không hoàn toàn thống nhất với nhau

Thế nào Nghiệp cũ? Đó là: Nghiệp đã được tích lũy từ nhiều đời sống quá khứ, và hiện tại nó đã chín muồi. Chẳng hạn thân thể của chúng ta (cao, thấp, mập, ốm, thông minh, ngu đần, hạnh phúc hay bất hạnh v. v...) ngày nay là do cái Nghiệp đã được gieo từ trong vô thủy. Các Nghiệp quả (y báochánh báo) của thân này là quả dị thục của các Nghiệp từ vô thủy. Ngoài thân này, không hề có một cái Nghiệp riêng lẻ, cũ xưa nào khác.

Thế nào Nghiệp mới? Đó là: Nếu như thân thể này là Nghiệp cũ thì mọi tạo tác đang làm và sẽ làm của chúng ta ngày hôm nay là do các tạo tác trước đó. Và sự thành đạt của ngày mai như thế nào sẽ tùy thuộc vào tư duy và hành động của ngày hôm nay. Đức Phật dạy:

"Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là nghiệp cũ. Các hành động của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý trong hiện tại là nghiệp mới".

Thế nào Tập quán Nghiệp? Đó là: Nghiệp được huân tập bởi một thói quen trong đời sống hàng ngày. Có thể đó là thói quen thuộc tâm lý, hành vi, cách ứng xử v.v...Ví dụ, hút thuốc lá, uống rượu bia là một Tập quán nghiệp.

Thế nào Tích lũy Nghiệp? Đó là: các Nghiệp được tích lũy dần như rót nước vào chai, có thể xem thân của chúng ta như là một tích lũy Nghiệp từ vô thủy.

Thế nào Cực trọng Nghiệp? Đó là: các Nghiệp gây hiện tượng xấu ác cực mạnh và sâu trong tâm lý của con người như phạm các tội ngũ nghịch (giết cha, mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật ra máu, phá hòa hợp Tăng), phạm những tội không Sám Hối được.
Thế nào Cận tử Nghiệp? Đó là: Nghiệp lúc sắp chết hay những sức mạnh tâm lý của con người trước lúc tắt thở. Nghiệp này cực kỳ hệ trọng trong việc hướng dẫn Nghiệp thức đi tái sinh. Những tư tưởng cuối cùng của người chết sẽ tạo nên một Cận Tử Nghiệp (thiện hoặc bất thiện). “Một người có thể suốt đời làm ác, nhưng trước lúc tắt thở, nỗ lực sinh khởi về thiện pháp, về những điều thiện trong đời, và nhờ ý lực đó có thể tái sinh vào cõi tốt đẹp (tương tự như vậy đối với các trường hợp ngược lại). Từ đó, qua những kinh nghiệm cận tử, chúng ta cần huân tập các thiện nghiệp trong đời sống của mình để tạo thành một sức mạnh đoạn trừ các ác nghiệp ngay trong đời sống hàng ngày và cả đến giờ phút lâm chung”.Trong quyển “Luận Bà Sa” quyển 11 nói:
"Nếu pháp gì hay chiêu cảm quả khả ái, khả lạc thì gọi là thiện, nếu chiêu cảm quả báo không khả ái, không khả lạc thì gọi là ác; trái với cả hai sự đó thì gọi là vô ký".

Nghiệp có thiện tánh, ác tánh, vô ký tánh. Tuy nhiên chỉ có ác và thiện tánh mới là Nghiệp, chứ vô ký tánh không đủ sức mạnh tạo thành quả nên không gọi là Nghiệp.

Nghiệp là một cái gì đó tuy gần gũi nhưng cũng là một vấn đề bí nhiệm vô cùng. Chính vì những tính chất phức tạp của Nghiệp nên hàng phàm phu khó có thể liễu tri tất cả. Thế nhưng mọi hành vi hay tất cả những gì trong đời sống con người đều do Nghiệp chi phối cả:

“Hữu tình lấy Nghiệp làm tự thể, là sự tương tục của Nghiệp, lấy Nghiệp làm mẫu thai, lấy Nghiệp làm quyến thuộc, lấy Nghiệp làm sở vi, phàm sự phân biệt như thế đều là do Nghiệp phân phối”.

Trong vòng luân chuyển bất tận của đời sống chúng sanh, chính Nghiệpvai trò quyết định trong đời sống tái sanh của một kiếp mới. Và chính Nghiệp cũng quyết định cho việc hình thành những cá tính đặc thù riêng biệt của một hữu tình. Chính vì sự chi phối cũng như sự sai khác của Nghiệp mà đời sống của những chúng sanh ấy có những bất đồng trong mọi cách sống ngay cả trong tư duy hoặc trong hành động. Chính vì sự thọ nghiệp một cách bất tận như thế nên chúng sanh bị trôi cuốn trong vòng xoáy của luân hồi
“Thế gian y vào Nghiệp mà chuyển, hữu tình bị Nghiệp trói buộc, cũng như bánh xe y vào cái trục mà quay”.

Trong kinh Tạp A Hàm Đức Phật dạy: "Gieo giống nào, gặt giống nấy". Thế thì liệu chúng ta có phải gặt hái tất cả những nhân đã gieo không? Không nhất thiết phải như thế. Vì nếu như tất cả những Nghiệp mà chúng ta đã tạo ra mà chúng ta phải chịu thọ nhận thì không thể nào thoát khỏi sanh tử luân hồi được. Và chúng sanh cũng không thể nào có can đảm để tu tập suốt cả lộ trình tu học để hoàn thành tâm nguyện của mình trong suốt thời gian lâu dài. Đức Phật dạy: 

"Nếu có ai cho rằng con người phải gặt hái trọn hậu quả theo tất cả những hành động trong quá khứ thì không thể có đời sống đạo đức, và con người cũng không thể có cơ hội tận diệt phiền não, nhưng nếu nói rằng quả phải gặt tương xứng với nhân đã gieo thì ắt có đời sống đạo đứccon người sẽ có cơ hội dập tắt phiền não".

Như vậy: theo Phật Giáo chúng ta có thể uốn nắn, chuyển hóa Nghiệp của chúng ta được. Phật dạy:
“Không trên trời, giữa biển,
Không lánh vào động núi,
Không chỗ nào trên đời,
Trốn được quả ác nghiệp”.

Dù không hoàn toàn làm chủ cái Nghiệp - vì nhân đã gieo - nhưng chúng ta cũng Không Tuyệt Đối phải bó tay chịu làm nô lệ. Dù con người xấu xa đê tiện nhất cũng có thể cố gắng trở nên trong sạch đạo đức. Chúng ta Luôn Luôn Biến Đổi Và Luôn Luôn Trở Thành Một Cái Gì Mới, và cái mới ấy tùy thuộc chính ta, tùy thuộc nơi hành động của chính ta. Từng giây, từng phút chúng ta có thể tự cải hoán, làm cho chúng ta trở nên tốt đẹp hơn, cũng như xấu xa hơn. Dù người tội lỗi hư hèn nhất cũng không đáng khinh. Trái lại, chúng ta nên tạo cho họ một niềm tin tưởng nơi sự cố gắng cải thiện bẩm chất bình sanh của họ. Nên thương và thông cảm cho họ, biết đâu một lúc nào trong quá khứ chúng ta cũng cùng ở trong tình trạng với hạng người hư hèn ấy và chúng ta đã tiến bộ. Hôm nay ở một vị trí thấp kém, họ cũng có thể cố gắng theo chúng ta và có khi tiến triển hơn chúng ta nữa.

Thường Tuệ dẫn chứng một vài ví dụ trong kinh điển về một vài trường hợp hiếm hoi chỉ rằng nhờ ý chí hùng dũng, con người có thể đổi hẳn tâm tánh, từ xấu ra tốt, từ dữ ra lành như là:
1) Angulimala, tên sát nhân lừng danh khét tiếng một thời, đã giết chết cả ngàn anh em đồng loại, trở thành một vị A La Hánthoát khỏi quả dữ của những hành động tàn ác ấy. 
2) Cô Ambapali, một gái giang hồ biết hồi tâm tu hành cũng đắc Quả A La Hán
3) Alavaka, dạ xoa hung tợn thường ăn thịt người, từ bỏ thói dữ và cố gắng tu tập, cũng đắc Quả Tu Đà Hoàn
4) Vua Asoka (Vua A Dục) có tiếng là hung ác bạo tàn, trở thành một Đấng minh quân, đổi những trận giặc xâm lăng khốc liệt ra những chiến dịch truyền bá đạo lý cao siêu thâm diệugiáo huấn từ bi của Đức Phật, để mưu cầu hạnh phúc cho một phần nhân loại, và những đóng góp về tư liệu của Vua A Dục là một tư liệu hết sức quý giá cho những nhà nghiên cứu lịch sử Phật gíao Ấn Độ nói chung hay lịch sử Đức Phật Thích Ca nói riêng. 

Trong kinh Majjhima Nikàya (Trung Bộ Kinh), Đức Phật dạy rằng:
"Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được sinh ra; nghiệp là quyến thuộc, là nơi nương tựa”.
Như thế, sự hiện hữu của mỗi con người đồng thời là sự hiện hữu của nghiệp thiện và bất thiện từ (vô lượng kiếp) quá khứ. Mỗi con người cá thể là điểm trung tâm của nghiệp; ngoài mỗi cá thể ấy sẽ không có bất kỳ một cái nghiệp nào được bàn đến. Quyển “Thành thật luận”, phẩm Nghiệp Tướng nói: 

“Nghiệp có ba loại: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Những gì do thân tạo tác gọi là thân nghiệp...; tích tập thiện ác do lời nói gọi là khẩu nghiệp...; tâm quyết định giết hại chúng sanh lúc ấy tích tập thiện ác gọi là ý nghiệp”.

1. Thân Nghiệp:
Chỉ cho những Nghiệp tạo từ thân, có thể chia làm ba loại: thiện, ác và vô ký; ác nghiệp của thân tức chỉ cho sát sanh, trộm cướp, tà dâm; trái lại là không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, tức là thiện nghiệp của thân, không thiện không ác và không cảm được năng lực của quả báo thì gọi là thân nghiệp vô ký. Thân nghiệp lại phân biệt thành Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Biểu nghiệp chỉ cho những động tác được biểu thị bên ngoài, như quơ tay hay lắc chân...Vô biểu nghiệp chỉ cho những nghiệp không biểu thị bên ngoài mà chỉ nhấn mạnh vào tự tánh ngăn ngừa những điều ác, đình chỉ những việc thiện

Chỉ xét riêng về Thân Nghiệp thì cũng có nhiều quan điểm và chủ trương khác nhau. Chính ngay trong đời sống con người, thì thân đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo Nghiiệp của con người. Chính những hành vi từ thân thể con người mà đã tạo ra nhiều ác nghiệp. Sát hại sinh mạng hay cắt đứt đời sống của chúng hữu tình, được xem như là một việc làm tạo Nghiệp trực tiếp. Tuy sự tạo nghiệp ấy trước hết phải được tác động từ sự suy nghĩ, nhưng sự suy nghĩtrở thành hiện thực hay không là do thân thực hiện. Chính do Nghiệp báo sát hạichúng sanh phải chịu những quả báo thật thê thảm trong vòng luân hồi. Không những con người bình thường mà chính những người có khả năng trong tu tập khi phạm vào vào tội Nghiệp sát hại vẫn chịu những quả báo thật khủng khiếp, chẳng hạn như chuyện của Ngộ Đạt quốc sư, đã mười đời làm cao Tăng nhưng vì nghiệp sát hại vẫn phải chịu quả báo

Trộm cắp cũng vậy, chính vì mang tội trộm cắpchúng sanh trong nhiều đời phải chịu kiếp sống hèn hạ, hoặc phải chịu trong những loài thú phải chịu những khổ sở của thân xác.

Không giết hại chúng sanh mà phải đem Lòng Từ Bi ra cứu vớt chúng sanh, không gian tham trộm cắp còn biết đem tài sản vật chất ra bố thí giúp đở mọi người, không tà dâm mà còn trinh bạch thủy chung. Chuyển hoá những hành động xấu phát xuất từ thân trở thành những hành động đẹp, có ích cho người cho mình. Chính hành động chuyển hóa nầy tích cực góp phần làm cho Thân được thanh tịnh ngay trong đời sống hiện tại và tương lai.

2. Khẩu Nghiệp:
Hành động của miệng, tức lời nói diễn đạt nội tâm, một trong ba nghiệp. Khẩu nghiệp có hai: Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. “Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ” cho rằng: Ngữ biểu nghiệp dùng âm thanh làm thực thể, Vô biểu nghiệp là thật sắc. “Luận Thành Thật” cho rằng: Ngữ biểu nghiệpdanh thanh giả lập, Vô biểu nghiệpphi sắc, phi tâm. Kinh bộDuy Thức chủ trương rằng: Ngữ biểu nghiệp là thanh âm giả lập, lấy “Tư” do ngữ nghiệp phát khởi làm thể. Vô biểu nghiệp cũng là giả lập, lấy thiện hoặc công năng khởi bất thiện hoặc công năng bất thiện hay ngăn thiện trong “Tư” chủng tử làm thể. 

Khẩu nghiệp cũng đóng vai trò quyết định trọng việc tạo nghiệp. Từ nơi miệng có thể tạo ra những ác nghiệp làm cho chúng sanh phải chịu những quả báo khổ đau, nhưng cũng từ nghiệp khẩu này làm cho chúng sanh thành tựu những công hạnh. Nếu như một người có được lợi khẩu thì nếu như dùng lợi khẩu đó để tạo những vấn đề phước thiện, nhằm tạo phước cho mình và cho người thì khẩu nghiệp đó là lợi khẩu tốt cho đời sống thăng hoa con người.

Cũng câu nói, có lúc làm cho người ta thăng hoa và an lành nhưng cũng lời nói mà làm cho người ta phải tan nhà mất nước. Nếu như lời nói như thế thì thật tai hại cho mình và cho con người.

Quả báo của khẩu nghiệp cũng không cùng tận, có những quả báo phải chịu đựng trong loài súc sanh, chịu những nỗi thống khổ của thân thể, bị người ta kinh tởm hay xua đổi…Và có những quả báo của khẩu nghiệp trong đời này làm cho người ta được những thanh âm vi diệu, mỗi khi phát ra lời nói hay ngôn ngữ được nhiều người thương mến, làm lợi lạc cho nhiều ngừơi.

3. Ý Nghiệp:
Nghĩa là nghiệp nương vào Tâm vương, nghiệp có ý nghĩa tạo tác, nói rộng ra thì bao hàm hết thảy những động tác hành vi thiện, ác hoặc vô ký. Luận Câu Xá quyển 13 nói rằng: “Suy nghĩ được gọi là ý nghiệp, bởi vì suy nghĩý nghĩa tạo tác, khiến tâm vương tạo tác thiện, ác, hoặc vô ký… cho nên ý nghiệp tức đồng nghĩa với tư (suy nghĩ). Lại, y cứ Thành Duy Thức Luận Quyển 4 đề xuất, Tư có thể chia làm ba loại: Thẩm lự tư, quyết định tư, động phát thắng. Trong đó Thẩm lự và quyết định cùng tương ưng với nhau mà tạo tác gọi là ý nghiệp. Ngoài ra, căn cứ vào Đại Thừa Lý Thú Lục Ba La Đa Kinh Quyển 7 ghi rằng, ý nghiệp có đầy đủ hai loại tâm sau: 1- Tâm tinh tấn, tức phát tâm bồ đề tu tập nghiệp lành mà xa rời hết thảy những tâm biếng lười; 2- Tâm thối chuyển, tức đối với pháp lành không thể tiến tu, hoặc chỉ tạm thời phát tâm tu hành rồi sanh tâm thối thất.

Ý nghiệp thật bí nhiệm và thầm kín vô cùng. Một hành động được biểu hiện qua thân và khẩu đều do sự tác động của ý cả. Nếu như không có sự chỉ đạo của ý thì mọi hành động đều không tác thành. Nếu như một hành động nào đó được tác thành mà không có sự tác động của ý thì đó không hẳn là sự tác thành nghiệp tức là nghiệp là một hành động có tác ý. Mặt khác, tất cả những toan tính trong cuộc sống thường nhật, tất cả đều do ý chủ đạo. Cũng chính từ Ý Nghiệp mà con người có những hành động khác nhau từ đó dẫn đến sự thọ sanh khác nhau. Từ những ý nghĩa thầm kín sâu xa, con người có thể hình thành những công trình vĩ đại để lại cho nhân loại những di tích, những mưu đồ tham vọng có khi họ cũng chôn vùi tận trong tâm khảm hàng chục năm trời, cho đến khi có nhân duyên thời tiết đủ thì những toan tính thầm kín kia sẽ bộc phát. Nếu như không làm chủ được Ý Nghiệp con người có thể tạo nghiệp ác bất cứ lúc nào. Nhận thức trong vấn đề chuyển hóa Ý Nghiệp thật là một việc làm không phải dễ, nó đòi hỏi con người cần có những công phu đích thực. Nếu không những dấy động của tâm thức không thể nào nhận biết được. 

PHẦN B

Chúng ta là “Người thừa tự Nghiệptừ Quá Khứ” vì chính Nghiệp, tức hành động, tạo điều kiện để tái sanh. Nghiệp quá khứ tạo điều kiện để tái sanh trong kiếp hiện tại. Nghiệp hiện tại phối hợp với nghiệp quá khứ, tạo điều kiện để tái sanh trong kiếp vị lai. Hiện tại là con đẻ của quá khứ và trở nên cha mẹ của tương lai. Trong Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt, thanh niên Subha hỏi Đức Phật như vầy:


“Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, giữa loài người với nhau, khi họ là loài người, lại thấy có người liệt, có người ưu? Có người đoản thọ, có người trường thọ? Có người nhiều bệnh, có người ít bệnh? Có người đẹp sắc, có người xấu sắc, có người trí tuệ yếu kém, có người đầy đủ trí tuệ?”


Đức Phật dạy rằng:
“Này Thanh niên, các loài hữu tình là Chủ Nhân Của Nghiệp, là Thừa Tự Của Nghiệp, Nghiệp Là Thai Tạng, Nghiệp Là Quyến Thuộc, Nghiệp Là Điểm Tựa. Nghiệp phân chia các loại hữu tình, nghĩa là có liệt, có ưu. Ở đây, này thanh niên Subha, có người đàn bà hay đàn ông Sát Sanh Tàn Nhẫn, Tay Lấm Máu, Tâm Chuyên Sát Hại Đả Thương, Tâm Không Từ Bi Đối Với Các Loại Chúng Sanh. Do Nghiệp ấy, Khi Thân Hoại Mạng Chung, Bị Sanh Vào Cõi Dữ, Ác Thú, Địa Ngục. Ở đây, Khi Mạng Chung Nếu Được Đi Đến Loài Người, Chỗ Nào Nó Sinh Ra, Nó Phải Đoản Mạng. Nhưng NẾU CÓ NGƯỜI ĐÀN BÀ HAY ĐÀN ÔNG TỪ BỎ SÁT SANH, CÓ LÒNG TỪ, SỐNG THƯƠNG XÓT ĐẾN HẠNH PHÚC TẤT CẢ CHÚNG SANH. DO NGHIỆP ẤY, KHI THÂN HOẠI MẠNG CHUNG, ĐƯỢC SANH VÀO THIỆN THÚ, THIÊN GIỚI, Ở ĐỜI. Ở ĐÂY, KHI MẠNG CHUNG NẾU CÓ ĐI ĐẾN LOÀI NGƯỜI, CHỖ NÀO ĐƯỢC SANH RA, SẼ ĐƯỢC TRƯỜNG THỌ v.v...”


Trong lịch sử Phật Giáo có rất nhiều điển tích nói lên Nhân Quả do mình làm mình chịu, không ai có thể gánh thay cho mình được. Thường Tuệ đưa một số ví dụ như: sự tích “Mục Liên Thanh Đề”, thân mẫu củaTôn giả Mục Kiền Liên là bà Thanh Đề khi còn sống đã làm nhiều điều độc ác, tham lamích kỷ, không bao giờ làm phước, bố thí hay giúp đỡ người nghèo khổ, nên khi mệnh chung bà phải đọa vào địa ngục A Tỳ, làm thân ngạ quỷ, đói khát cực khổ. Chính Đức Phật cũng thế, có những nghiệp Ngài đã gieo trồng trong những kiếp xa xưa đến kiếp hiện tại Ngài cũng thọ nhận quả, chẳng hạn như việc Tỳ khưu Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) kết oan trái với Đức Phật, lăn đá làm bầm bàn chân của Đức Phật; hay nàng Cincamanavika vu khống Đức Phật, khiến voi say Nàlàgiri định xông đến chà Đức Phật. Ở đây, chúng ta nhấn mạnh đến những Nghiệp Nhân đã tạo ra từ quá khứ và dẫn đến hiện tại, những Nghiệp Nhân ấy đến khi hình thành Quả thì dầu cho bất cứ đối tượng nào cũng phải gánh chịu. Thế nên trong Kinh dạy: “BỒ TÁT SỢ NHÂN CHÚNG SANH SỢ QUẢ”. Những ai không mê mờ Nhân Quả chính là những người Rất Sợ Nhân Quả, vì khi đã tạo Nhân thì rất khó hoán đổi. Trong khi đó những người vô văn phàm phu thì khi làm một chuyện gì ít khi lo nghĩ đến Nhân, cho đến khi những Nhân xấu trổ Quả thì lúc đó rất sợ và tìm mọi cách để lẫn trốn, nhưng nào có được. Chúng ta đề cập đến những Quả mà Đức Phật phải chịu trong đời sống hiện thế của Ngài. Tuy nhiên những quả báo ấy cũng không tác động được nhiều đến Ngài. 


Theo Luật Nhân Quả, thì quả vui hay quả khổ của người đang thọ hưởng đều do những nhân tốt hay xấu do chính người ấy, chứ không phải do người khác đã gieo trồng, trong kiếp hiện tại hay trong những kiếp quá khứ. Với cái nhận thức và tầm nhìn giới hạn của chúng ta nên chúng ta chỉ thấy trước mặt cái quả đang trổ mà không thấy được tất cả Các Nguyên Nhân Vi Tế đã sanh quả ấy, vì các nhân ấy không phải chỉ là những nhân đã gieo trồng trong kiếp này mà có thể là đã được Gieo Trải Từ Nhiều Kiếp Trong Quá Khứ. Phật giáo gọi là Nhân Quả Ba Đời, (có nghĩa là bao gồm nhiều kiếp trong quá khứ, kiếp hiện tại và nhiều kiếp trong tươntg lai). Có một ý thức trực giác về Nghiệp Quả - một sự hiểu biết rằng hạnh phúc, và bất hạnh của chúng ta tùy thuộc vào hành động của chúng tavì vậy chúng ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về định mệnh của chúng ta - điều này đã đặt cuộc đời chúng ta trong một vị trísức mạnh. Nếu chúng ta hiểu rằng tất cả mọi thứ, tất cả không chừa một việc gì, đều xảy ra do từ một nguyên nhân thì chúng ta sẽ hiểu thế nào là an toàn. Như vậy, khi có một sự đau khổ, mâu thuẫn, hiểm nguy, đau đớn, hay một vấn đề xảy ra trong cuộc đời chúng ta thì chúng ta không chỉ đơn thuần tìm cách tiêu diệt nó. Tốt hơnchúng ta nên can đảm thay đổi những điều kiện tạo môi trường cho việc đó xảy ra và nuôi dưỡng hay duy trì sự tồn tại của nó. Đức Phật dạy: muốn chuyển đổi Nghiệp của mình thì chúng ta phải Tu, phải Sám Hối tội lỗi mà chính mình đã tạo, Sám Hối không phải như những Phật tử thường nghĩ là đến chùa 2 lấn một tháng là đủ vì sao? Vì Nghiệp mà chúng ta đã tạo từ vô thỉ kiếp cho nên chúng ta PHẢI TINH TẤN SÁM HỐI MỖI NGÀY, MỖI GIỜ, MỖI PHÚT KHI CHÚNG TAĐIỀU KIỆN


Thừa tự Nghiệp từ quá khứ là một hệ quả tất yếu đối với chúng sanh, thế nhưng không phải tất cả những gì con người tác tạo trong quá khứ thì phải thọ lãnh trong kiếp hiện tại hay tương lai. Nếu như có một điều tuyệt đối như vậy thì chúng sanh không thể nào tu hành giải thoát sanh tử được. Và điều này cũng đã được Đức Phật dạy như vầy:


“Ai nói như sau: người này làm nghiệp như thế nào, nó cảm thọ quả như vậy, như vậy. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ Kheo, thời không có đời sống phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chân chính đoạn trừ. Và này, ai nói như sau: người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào nó cảm thọ quả báo như vậy, như vậy. Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ Kheo, thời có đời sống phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chân chính đoạn trừ. Này các Tỷ Kheo, có những người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ấy đưa nó vào địa ngục. Có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, và nghiệp ác ấy đưa đến cảm thọ ngay trong hiện tại cho đến chút ít cũng không được thấy trong tương lai.”


Hơn nữa, trong đời sống hiện tại không phải con người lãnh thọ tất cả những khổ đau gì đều do những nguyên nhân của quá khứ. Nếu như hoàn toàn phủ nhận hiện tại thì không thể được. Vì hiện tại là một nhân tố quan trọng trong đời sống con người, Đức Phật đã dạy rất rõ ràng:


“Này các Tỷ Kheo, đối với các Sa Môn, Bà-la-môn thuyết như sau, chấp kiến như sau: ‘Phàm có cảm giáccon người lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ’. Đối với vị ấy, ta đến và nói: ‘Chư Tôn giả, có thiệt chăng, chư Tôn giả có thuyết như sau, chấp kiến như sau: ‘Phàm có cảm giáccon người lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ?’ - Được Ta hỏi như vậy, họ trả lời: ‘Thưa phải, có như vậy’. - Ta nói với họ như sau: ‘Như vậy, thời các Tôn giả do nhân nghiệp quá khứ sẽ trở thành người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo v.v... ‘nhưng này các Tỷ Kheo, với những ai trở lại dựa vào nghiệp quá khứlý do viên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có ‘đây là việc phải làm’ hay ‘đây là việc không nên làm’. Như vậy sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm, không được tìm thấychân thật, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa Môn không thể áp dụng đúng pháp cho các ngươi được, vì các ngươi sống thất niệm và các căn không được hộ trì. Như vậy, đây là sự chỉ trích đúng pháp của Ta đối với các vị Sa Môn, Bà-la-môn thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.”


Qua lời dạy trên, chúng ta thấy rằng Đức Phật chỉ trích những người cho Nghiệp quá khứ giống như một định mệnh. Nhất thiết những cảm thọ gì, hành vi gì trong hiện tại cũng đều cho rằng do Nghiệp quá khứ quy định cả, thế thì hiện tại chỉ quay theo quá khứ. Sát sanh, trộm cắp, nói láo v.v... đều do Nghiệp quá khứ sai khiến, chứ hiện tại không có trách nhiệm gì. Vậy thì không còn sự lựa chọn: đây là việc nên làm, đây là việc không nên làm, đây là tu, đây không phải tu; thời danh từ Sa Môn, người tu, trở thành vô nghĩa; bởi không thể kể đây là một công phu của một ý chí tự do lựa chọn, mà chỉ là một sự thụ động tuân theo Nghiệp quá khứ sai sử, hiện tại chẳng có công lao gì. CUỘC SỐNG CON NGƯỜI, KHÔNG PHẢI CHỈ SỐNG CHO QUÁ KHỨ, MÀ ĐIỀU QUAN TRỌNG CHỈ LÀ CẢM NHẬN NHỮNG GÌ MÌNH LÀM TRONG QUÁ KHỨ ĐỂ KIẾN TẠO ĐỜI SỐNG HIỆN TẠI CHO ĐƯỢC HẠNH PHÚC.


Chúng ta cũng là “Người thừa tự Nghiệp từ Cộng Đồng” bởi vì con người ngoài sự tác tạo Nghiệp riêng của bản thân thì chính sự tạo Nghiệp của bản thân họ cũng đã góp phần vào sự thác sanh hay cùng chung sống trong một cộng đồng xã hội. Như một người hiền lành suốt đời tụng Kinh Niệm Phật để hồi hướng vãng sanh, thì chắc chắn Ngay Sau Khi Lâm Chung Họ Sẽ Thác Sanh Về Cảnh Giới Lành Hay Ngay Trong Nước Phật. Nếu như cuộc đời của một chúng sanh nào đó luôn tạo những Ác Nghiệp thì chắc chắn sau khi thác sanh họ Phải Luân Chuyển Vào Những Cảnh Đau Khổ, Thấp Kém. Một khi thác sanh vào chỗ nào thì chính Trú Xứ Đó, những thành phần đang cùng sống trong trú xứ ấy phần lớn cũng có những Nghiệp Nhân Tương Ứng. Chính vì thế sau khi thác sanh và cùng sanh trưởng trong một hoàn cảnh thì những tác động của hoàn cảnh sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống của mỗi con người trong trú xứ ấy. Trong khi chịu ảnh hưởng trong cùng nhiều mối quan hệ tương giao với nhau thì một điều tất nhiên xảy ra là những phát khởi của vấn đề tạo Nghiệp đều có NHỮNG CÁI CHUNG NHẤT GIỐNG NHAU. Chúng ta có thể nói khác đấy cũng là một Hình Thức Chịu Nghiệp Từ Cộng Đồng. Thừa tự Nghiệp từ Cộng Đồng chính là Những Tác Động Của Cộng Đồng Đến Bản Thân Của Từng Cá Nhân. Lúc đó cá nhân không còn là tự ý hay chủ đích theo mọi suy nghĩ của bản thân mình mà lúc đó tùy thuộc vào cộng đồng xã hội. Thí dụ đơn giản như: chúng ta đang sống trong thời buổi loạn ly của chiến tranh. Hầu hết tất cả những thanh niên đều phải lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước. Chính những cộng nghiệp ấy đã đưa họ đến những việc làm mà chính bản thân họ cũng không muốn thực hiện. Một thí dụ khác sẽ cho chúng ta thấy về tính Thừa Tự Nghiệp Từ Cộng Đồng như: một người sanh ra từ Một Gia Đình Gia Giáo Thì Thường Những Hành Động Suy Nghĩ Của Họ Cũng Phần Nào Tương Ứng Với Gia Đình Mà Họ Đang Sống. Chính điều đó lại tác động đến bản thân họ và trở thành những Nghiệp riêng của họ. Bên cạnh đó nếu như Một Người Sống Trong Gia Đình Hoàn Cảnh Thật Phức Tạp, Có Những Sinh Hoạt Bất Thiện Thì Tất Nhiên Ảnh Hưởng Rất Lớn Đến Đời Sống Của Con Cháu Họ Và Chính Những Người Thọ Nghiệp Chung Giờ Đây Trở Thành Nghiệp Của Riêng Mình.


Tuy nhiên vấn đề Nghiệp của nhiều người Trong Cộng Đồng Xã Hội, đan xen Với Biệt Nghiệp Của Từng Cá Nhân, khiến cho cơ chế vận hành của Nghiệp khá phức tạp, mà chỉ có Bậc Thánh như Phật mới có thể hiểu hết ngọn ngành, chi tiết


“Với thiên nhãn thuần tịnh, vượt xa tầm nhìn của loài người, Ta thấy các chúng sanh chết và tái sanh như thế nào, Ta thấy những người cao quý và kẻ nghèo hèn, kẻ xuất sắc và người bần tiện, mỗi người đều theo Nghiệp của mình tạo ra mà có được thân phận hạnh phúc hay bất hạnh.”


Để chuyển Nghiệp của mình, chúng ta phải Tu như thế nào? Đây là câu hỏi rất quan trọng. theo ý kiến Thường Tuệ, chúng ta phải Tu Tam Nghiệp thật cẩn thận:


I. Trước tiên Tu Thân Nghiệp: là những hành vi thuộc về Thân có 3:


1. Không giết hại: Có nghĩa là không hủy hoại cuộc sống của mọi loài, không tự hủy hoại mình, không sai người khác giết hại, thấy người khác giết hại không sanh lòng mừng vui; trái lại người Phật tử phải tìm mọi cách để cứu sống chúng sanh, chẳng hạn như MUA CHIM, MUA CÁ PHÓNG SANH cho chúng sống đời tự do, không bị cảnh cá chậu, chim lồng. Cá nuôi trong chậu, chim bị nhốt trong lồng dù cho có được ăn uống đầy đủ nhưng nào có được tự do, khác chi với cảnh con người bị tù đày, chúng ta không muốn bị tù đày tại sao chúng ta lại tù đày chúng, chúng ta muốn luôn luôn được tự do, chúng ta nên mua chim, cá thả để cho chúng tự do


2. Không trộm cắp: không chiếm đoạt về phần mình những của cải của người khác từ đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ là những vật lớn cho chí vật nhỏ như cây kim, sợi chỉ cũng không chiếm đoạt của người khác. Người ta không thuận cho, tìm cách chiếm đoạt, tự tiện lấy dùng cũng thuộc về trộm cắp. Dùng sức mạnh để chiếm đoạt của người khác là tội cướp, dùng những phương tiện xảo trá để lường gạt người, cho đến trốn thuế cũng thuộc về trộm cắp, tất cả những việc sai trái như thế đều không làm, trái lại đem tiền của, phương tiện của mình để giúp đỡ cho chúng sanh được an vui, ấm no đó là sự bố thí đáng làm.


3. Không tà dâm: Nghĩa là không sống trác táng, ăn chơi, cờ bạc, rượu chè, hút sách. Trái lại phải Tu hạnh tiết dục thanh tịnh, Tu Sĩ cấm hẳn tà dục, hàng Cư Sĩ lập gia đình phải tiết dục, chỉ sống MỘT VỢ MỘT CHỒNG, trong sạch từ thể chất đến tinh thần. Tà dâm là GỐC SANH TỬ LUẦN HỒI, người tu theo Đạo Phật phải dứt bỏ dần dần tà dâm, để trở nên NGƯỜI THANH KHIẾT.


II. Tiếp theoTu Khẩu Nghiệp: là những lời nói thô, có 4 cách :
1. Không nói dối: Là không nói sai sự thật như: 
-Không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, 
-Nghe nói không nghe không nghe nói nghe, 
-Biết nói không biết, không biết nói biết, 
-Biết trái nói phải, biết phải nói trái. 


Gặp trường hợp ĐẶC BIỆT phải nói không đúng sự thật để cứu mạng chúng sanh, buộc lòng phải nói, chẳng hạn như : có một người đi săn đuổi theo một con thú, ta thấy lối con thú ấy chạy, người thợ săn đến gặp ta, hỏi ta có thấy con thú chạy lối nào không, để cứu con thú khỏi chết, ta có thể nói không thấy. Như vậy, chúng ta đã thực hành được hạnh TỪ BI, việc nói chơi cũng không nên nói.


2. Không nói lời hung ác: không nên chưởi rủa người, dù là bậc trên trước, có quyền thế, như ông bà, cha mẹ cũng không nên ỷ vào quyền thế ấy mắng chưởi người hay con cháu, dù người đó có lầm lỗi, trái lại nên dùng lời dịu dàng, chỉ dạy cho người ta thấy những lỗi lầm, để lần sau tránh.


3. Không nói thêu dệt: không nên thêm bớt để chuyện không nói có, chuyện có nói không, dùng lời lẽ làm cho câu chuyện sai với sự thật, trắng thành đen, đen thành trắng, hoặc dùng lời văn hoa, bóng bẩy để mê hoặc làm hại người, những việc đó đều không nên làm, trái lại nên nói lời đúng đắn, chân thật với lòng mình.


4. Không nói lưỡi hai chiều: không nên nói đòn xóc, đến bên A nói xấu bên B, đến bên B nói xấu bên A, mục đích gây chia rẽ, làm cho hai bên thù địch nhau. Trái lại, nên dùng lời lẽ để hóa giải mọi sự thù nghịch


III. Cuối cùngTu Ý Nghiệp: những suy nghĩ, tưởng tượng có 3 cách tạo thành Ý Nghiệp:


1. Không tham muốn: không tham đắm Năm Món Dục Lạc Ở Đời : SẮC ĐẸP, CỦA CẢI, DANH VỌNG, NGỦ NGHỈ, ĂN UỐNG. Tham muốn SẮC ĐẸP làm hao tốn tiền của, nhiều khi phải dùng những mưu chước tồi tệ làm mất phẩm chất con người, khi không thỏa mãn sanh ra ghen tương, thù hận giết chóc, tù đày. Tham CỦA CẢI phải đày đọa tấm thân làm cho có nhiều tiền của, nhiều khi phải dùng mưu sâu, chước độc để hại người đoạt của. Tham DANH VỌNG phải vào lòn ra cúi, nhiều khi phải lao tâm cực trí để được cái danh ảo huyền. Tham ĂN CAO LƯƠNG MỸ VỊ làm cho thân thể dễ sanh bệnh tật. Tham NGỦ NGHỈ làm cho trí não trở nên đần độn. NĂM MÓN DỤC LẠC làm cho con người bị tù đày, tội lỗi, là NGUYÊN NHÂN CHÍNH TRÓI BUỘC NGƯỜI TA TRONG SANH TỬ LUÂN HỒI. Chẳng những người Tu PHẢI BIẾT TIẾT DỤC MÀ CÒN BIẾT TRI TÚC, tức là HẠN CHẾ DẦN LÒNG KHÁT KHAO HAM MUỐN, CHỈ NÊN SỐNG VỚI CUỘC SỐNG TẠM ĐỦ, KHÔNG ĐUA CHEN VỚI ĐỜI, nhiều người Tu cơm ăn chỉ cần đủ no, áo mặc chỉ cần đủ ấm, nơi ở chỉ cần có chỗ nằm tránh mưa, tránh nắng, tránh luồng gió độc mà thôi, những người đó không bị vật chất ràng buộc, họ sẽ được An Lạc, Hạnh Phúc, Giải thoát.


2. Không giận hờn: giận hờn là một tánh xấu, rất tai hại, nó như một ngọn lửa mạnh, đốt cháy cả mọi vật chung quanh cả mình lẫn người. Trong Kinh Đức Phật dạy : 


“Một niệm giận hờn nổi lên, thì trăm nghìn cửa Nghiệp chướng đều mở. Lữa tức giận một phen phát ra, liền đốt tất cả rừng công đức.”


Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, người nào không giận tức, sẽ được TÁM MÓN TÂM PHÁP sau đây: 


-Không tâm khổ não, 
-Không tâm giận hờn, 
-Không tâm tranh giành,
-Tâm nhu hòa ngay thẳng,
-Tâm Từ Bi như Phật,
-Thường làm lợi ích an ổn cho chúng sanh,
-Thân tướng trang nghiêm, chúng sanh tôn kính,
-Có đức tính nhẫn nhục được mau sanh lên cõi Phạm Thiên
Nhờ quán TỪ BI, tâm sanh LÒNG TỪ BI, chúng ta mới không giận hờn khi có người làm cho chúng ta giận hờn, những người làm để cho ta sanh tâm giận hờn, vì sự ít hiểu biết nên họ mới làm như thế, chúng ta nên thương họ, chỉ có TẤM LÒNG TỪ BI mới BAO DUNG, THA THỨ ĐƯỢC LẦM LỖI CỦA NGƯỜI KHÁC.


3. Không si mê: si mê là nguồn gốc của mọi tội lỗi, vì si mê người ta không phân biệt phải trái, không nhận định rõ đúng sai, chấp theo sự hiểu biết của riêng mình nó che lấp sự thật, chân lý. NGƯỜI KHÔNG SI MÊ LÀ NGƯỜI CÓ TRÍ TUỆ, tu tập Thiện Nghiệp, nên quán Nhân Duyên sanh để diệt trừ Vô Minh, tinh tấn trên đường giải thoát. Không tham lam mà phải biết khởi LÒNG TỪ BI đối với mọi người; KHÔNG SÂN HẬN MÀ CÒN PHẢI BIẾT NHẨN NHỤC, KHÔNG TÀ KIẾN MÀ PHẢI BIẾT CHÁNH KIẾN


Cho nên Kinh THẬP THIỆN đã đưa ra mô hình cho những người Tu muốn thăng hoa trong đời sống tu tập, điều quan trọng là phải cố gắng thực hành MƯỜI THIỆN NGHIỆP. Mười thiện nghiệp đó chính là sự chuyển hóa của những hành vi THÂN NGHIỆP, KHẨU NGHIỆP, và Ý NGHIỆP:


“Này Long vương! Ông nên biết Bồ Tát có một pháp có thể đoạn trừ tất cả khổ não trong các đường ác. Đó là ngày đêm nhớ nghĩ tư duy, quán sát thiện pháp, khiến các thiện pháp mỗi niệm mỗi niệm được tăng trưởng, không để cho bất kỳ pháp bất thiện nào xen lẫn, pháp ấy có thể khiến các ác pháp vĩnh viễn chấm dứt, thiện pháp được tràn đầy, thường được gần gũi Chư Phật, chư Bồ Tát và các Thánh chúng.


Nói rằng thiện pháp, nghĩa là thân của các hàng Trời, Người, Thanh văn Bồ-đề, Độc giác Bồ-đề, Vô thượng Bồ-đề, đều nương vào pháp này, lấy nó làm căn bản để được thành tựu cho nên gọi là thiện pháp. Pháp này chính là THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO. 
Vậy mười điều đó là gì? Đó là vĩnh viễn xa lìa SÁT SANH, TRỘM CẮP, TÀ DÂM, NÓI DỐI, NÓI ĐÔI CHIỀU, NÓI ÁC, NÓI THÊU DỆT, THAM LAM, SÂN HẬN VÀ TÀ KIẾN”.


Trong nhiều đoạn kinh, Đức Phật đã có ý như nhắc nhở cho hàng đệ tử ngầm hiểu Nghiệp không phải là một Định Nghiệp:


“Này các Tỷ Kheo, đối với các Sa Môn, Bà-la-môn thuyết như sau, chấp kiến như sau: "Phàm có cảm giáccon người lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ không lạc, tất cả đều do Nhân Nghiệp Quá Khứ". Đối với vị ấy, ta đến và nói: "Chư Tôn giả, có thiệt chăng, chư Tôn giả có thuyết như sau, chấp kiến như sau: "Phàm có cảm giáccon người lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ?" - Được Ta hỏi như vậy, họ trả lời: "Thưa phải, có như vậy". - Ta nói với họ như sau: "Như vậy, thời các Tôn giả do Nhân Nghiệp Quá Khứ sẽ trở thành người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo v.v..." nhưng này các Tỷ Kheo, với những ai trở lại dựa vào Nghiệp Quá Khứlý do viên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có "đây là việc phải làm" hay "đây là việc không nên làm". Như vậy sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm, không được tìm thấychân thật, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các ngươi được, vì các người sống thất niệm và các căn không được hộ trì. Như vậy, đây là sự chỉ trích đúng pháp của Ta đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.”


Qua đoạn Kinh vừa trên, chúng ta thấy Đức Phật chỉ trích những người cho Nghiệp quá khứ giống như một định mệnh. Hết thảy những cảm thọ gì, hành vi gì trong hiện tại cũng đều cho rằng do Nghiệp Quá Khứ quy định cả, thế thì hiện tại chỉ quay theo quá khứ. Sát sanh, trộm cắp, nói láo v.v... đều do Nghiệp Quá Khứ sai khiến, chứ hiện tại không có trách nhiệm gì. Vậy thì không còn sự lựa chọn: đây là việc nên làm, đây là việc không nên làm, đây là Tu, đây không phải Tu; thời danh từ Sa Môn, người Tu, trở thành vô nghĩa; bởi không thể kể đây là một công phu của một ý chí tự do lựa chọn, mà chỉ là một sự thụ động tuân theo Nghiệp Quá Khứ sai sử, hiện tại chẳng có công lao gì.


Điều nên chú ý là, mọi Nghiệp đều phải qua một thời gian nhất định, Có Đủ Nhân Đủ Duyên thì Nghiệp mới chín muồi: Có người đời trước tạo Nghiệp nhân ác, đời này tuy tu tỉnh tạo nhiều Nghiệp thiện, nhưng cảnh ngộ vẫn bất hạnh, nhưng vì hiện tại biết Tu tỉnh, thường xuyên làm thiện cho nên nội tâm vẫn an lạc. Trường hợp trái ngược với trường hợp trên là có người, do đời trước tạo Nghiệp thiện cho nên đời này gặp cảnh ngộ sung sướng, nhưng lại không biết Tu tập, hiện tại chuyên tạo Nghiệp ác, thì nội tâm anh ta vẫn đau khổ, không an lạc. Chính hai trường hợp trái ngược nhau trên khiến cho người bình thường không hiểu, cho nên không tin ở Thuyết Nghiệp. Tất nhiên, có người đời trước tạo Nghiệp ác, đời này có cuộc sống bất hạnh, lại không Tu tỉnh, cứ tiếp tục theo đà tạo Nghiệp ác, cho nên cả cảnh ngộ bên ngoài và nội tâm bên trong đều đau khổ. Lại có người, đời trước tạo Nghiệp thiện, đời này tiếp tục tạo Nghiệp thiện, cho nên cả cảnh ngộ bên ngoài và đời sống nội tâm bên trong đều an lạc, sung sướng.


Nhờ hiểu rõ Nghiệp là gì? Cơ chế vận hành của Nghiệp ra sao, con người có thể chuyển Nghiệp Quá Khứ, hạn chế nó, thậm chí triệt tiêu nó. Phật dạy:


"Này các Tỳ Kheo, nếu có người nào đó nói một người phải chịu quả báo theo đúng hành vi của anh ta, thì trong trường hợp đó, này các Tỳ Kheo, sẽ không có đời sống Tôn Giáo, sẽ không có cơ may để đoạn trừ toàn bộ khổ não. Nhưng này các Tỳ Kheo, nếu có người nào đó nói rằng quả báo mà một người chịu, thích ứng với hành vi của anh ta làm thì trong trường hợp đó, này các Tỳ Kheo, có đời sống Tôn Giáo, có cơ may để đoạn trừ toàn bộ khổ não.”


Theo lời Đức Phật dạy thì sự diễn tiến của Nghiệp thật là phức tạp, hạng Phàm Phu Bình Thường Khó Có Thể Liễu Tri Toàn Bộ Quá Trình Diễn Tiến cũng như những quả dị thục của Nghiệp, và điều này Đức Phật cũng đã dạy trong Kinh điển rất rõ ràng.


Tóm lại: tìm hiểuthực hành về Nghiệp là một việc làm VÔ CÙNG QUAN TRỌNG TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI CON PHẬT. Giáo lý của Đức Phật sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc sống con người mà nhất là chính bản thân mình. Tin giáo lý Nghiệp sẽ giúp chúng ta càng củng cố niềm tin trong cuộc sống và ra sức vun bồi những thiện căn tốt lành của mình nhằm đem lại ích lợi cho bản thâncộng đồng xã hội. Càng hiểu giáo lý Nghiệp bao nhiêu chúng ta càng cảm tạ ơn đức cao cả của Phật bấy nhiêu. Chúng sanh trong cõi Ta bà, Nghiệp chồng chất như núi Tu Di thế mà Đức Phật vẫn thị hiện trong cõi đời vẩn đục đầy năm ác trược này để giáo hóa những chúng sanh hữu duyên. Học và Tu tập theo giáo lý Nghiệp thì chúng ta có những hóa giải trong cuộc sống vốn đầy những bất công mà con người với trí năng bình thường không thể nào lý giải được. Nhờ học giáo lý nghiệp mà con người dễ dàng hóa giải NHỮNG HẬN THÙ VỐN DĨ ĐÃ CHẤT CHỒNG TỪ NHIỀU ĐỜI NHIỀU KIẾP. Cho đến nay đang trong kiếp sống hiện tại, chúng ta cũng không tránh khỏi những đấu tranh trong những chuyện phiền toái thị phi, nhưng nhờ có hiểu về Nghiệp nên cũng tự hóa giải những hận thù


Thuyết NGHIỆP BÁO NHÂN QUẢ cho thấy: Nếu quá khứ ảnh hưởng quyết định đến cuộc sống hiện tại của chúng ta, thì cuộc sống hiện tạichúng ta đang sống là một cuộc sống hướng thượng được soi sáng dẫn đường bằng Chánh pháp, sự quyết định tương lai quang vinh, an lạchạnh phúc của chúng ta. Đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa, vì cuộc sống hiện tại là ở trong tầm tay của chúng ta. Hiểu Nghiệp báo càng sâu chúng ta càng cảm tạ những thâm ân giáo dưỡng của cuộc đời, trong đó ÂN TÌNH CỦA CHA MẸ là một trong nguồn ân tình VỪA LINH THIÊNG VỪA CAO CẢ NHẤT TRẦN ĐỜI, bên cạnh càng nghĩ về quá khứ chúng ta đã tri ân với tiền nhân nhìn lại tương lai chúng ta càng suy nghĩ lại mình phải làm gì cho xứng đáng với ý nghĩa cuộc sống. Cảm nhận để rồi tương tác trong ba thời gian và cùng hòa điệu những ân tình trong cuộc sống tạo thêm hương sắc cho cuộc đời. Do đó, NGUYÊN TẮC CỦA NGHIỆP LÀ NỀN TẢNG CỦA TẤT CẢ MỌI PHÁP, dù là thế gian hay là xuất thế gian. Và chúng ta lại càng cảm nhận ra được tầm vóc bao la vô biên của Nghiệp để cảm thông với Thế Thân Bồ Tát qua câu nói của Ngài để mở đầu phẩm Nghiệp trong Câu Xá Luận


“Thế gian muôn vàn sai biệt, đều do nơi Nghiệp sinh ra !”


Khi nào còn tạo Nghiệp là VÒNG LUÂN HỒI vẫn cứ tiếp tục và cứ luân chuyển mãi mãi, và Nghiệp cứ kéo chúng sanh vào muôn vạn nẽo luân hồi sanh tử. Tạo Nghiệp và chuyển hóa Nghiệp cũng đều do chính chúng ta chớ không phải do thần linh nào tạo Nghiệp hay làm cho chúng ta giảm Nghiệp.


Ý thức tu tậpchuyển hóa Nghiệp nhằm không tạo những Ác Nghiệp để chịu những Quả Báo ở tương lai, tích cực gieo trồng những Nghiệp thiện để gặt được quả lành. Đến khi nào Tâm Thức không còn bị lệ thuộc của vòng sanh diệt của những khái niệm chấp trước có không còn mất thì mọi cảnh giới sẽ bình an tuyệt đối. Khi hiểu đúng về Nghiệp, thì sẽ thật sự là CHỦ NHÂN CỦA NGHIỆP, đã là chủ nhân của Nghiệp thì có thể sai khiến Nghiệp của mình chứ không phải là nô lệ để Nghiệp sai khiến. Hiểu được Nghiệp chúng ta phải thường áp dụng những lời Phật dạy vào đời sống hằng ngày, nhất là giáo lý Nghiệp, để chuyển hóa Nghiệp, không bị Nghiệp ràng buộc chi phối. Vào đời độ sanh mà không bị đời làm ô nhiễm. Hiểu rõ Nghiệp chúng ta không than oán chùng bước khi gặp những nghịch cảnh, và cũng không hân hoan reo mừng khi gặp những thuận duyên, mà chúng ta phải biết cảm nhận những gì đang xảy ra ở hiện tại, đều do sự vận hành của Nghiệp mà có. Chỉ khi nào chúng ta thật sự hiểu tường tận về giáo lý Nghiệp, thì lúc đó Nghiệp không còn chi phối chúng ta nửa. Đức Phật dạy giáo lý Nghiệp nhằm khuyến khích con người thực hành các Nghiệp lành, để trang nghiêm cho kiếp sống ở hiện tại và thăng hoa lý tưởng giải thoát cho Vô Lượng Kiếp trong tương lai. Những ai xem bài này nên thực hành cho đúng đắn. Mong thay! (Hết)
https://www.facebook.com/pg/phuc.vu.chung.sanh

Thích Thường Tuệ

Thư Viện Hoa Sen
(*)  Thầy Thích Thường Tuệ du học tại Thái Lan và vừa tốt nghiệp Tiến sĩ Phật Học ngày 14 tháng 05 năm 2018. Kính chúc mừng Thầy. (TVHS)


Tạo bài viết
06/08/2017(Xem: 20550)
16/10/2012(Xem: 46394)
23/10/2011(Xem: 52925)
01/08/2011(Xem: 170846)
28/01/2011(Xem: 228539)
23/10/2010(Xem: 29619)
Đó là danh hiệu đồng đội tặng cho Anh mỗi khi tập trung cùng Đội Tuyển Quốc Gia Ý thi đấu quốc tế ,đặc biệt ở những kỳ World Cup ,và Anh thường được tín nhiệm giao đeo băng đội trưởng .
Vì vậy,trước vấn đề nghiêm trọng của nhân dân và đất nước, trong nguy cơ tiềm ẩn một cuộc xâm lăng bằng di dân và đồng hóa của Cộng Sản Trung Quốc, Văn Phòng Điều Hợp Liên Châu thuộc các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, GHPGVNTN Hoa Kỳ, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, và GHPGVNTN Hải Ngoại tại Canada đồng thanh LÊN TIẾNG:
10 giờ 30 sáng Thứ Bảy ngày 30 tháng 06 năm 2018 tại Chùa Quang Thiện 704 E. “E” St. Ontario, CA 91764. Số Phone: (909) 717 – 2433; (714)763-6580; (714)386-8869; (909)319-4344; (408) 637-8105