Giáo dục Phật Giáo: cổ điểnhiện đại

17/12/20191:01 SA(Xem: 1045)
Giáo dục Phật Giáo: cổ điển và hiện đại

GIÁO DỤC PHẬT GIÁO:
CỔ ĐIỂNHIỆN ĐẠI
Buddhist Education: Classic & Modern approaches
Tỳ Khưu ni Dr. Pháp Hỷ Dhammananda

 

phap-hyKhi nghiên cứu luật tạng (Vinaya Pitaka) tôi thường cảm thấy rất ấn tượng về cách mà đức Phật đã giáo dục đệ tử hơn hai ngàn năm trước. Về thân giáo và khẩu giáo, về cách chế định luật (Mūla paňňatti) để xử lý với các vấn đề đã phát sinh trong Tăng đoàn (Sangha), khả năng ngài nhu nhuyến thay đổi luật (anu paňňatti) để phù hợp hơn với điều kiện sống và tầm nhận thức của dân chúng trong mỗi quốc độ.

Cốt lõi của GDPG là tác động bằng những cách khác nhau để con người & chúng sinh nói chung đi đến chỗ tiến hóa hơn về tâm thức. Trong kinh điển sơ kỳ (Early Buddhist Scriptures) thường nhắc đến ba khía cạnh của huấn luyện – giáo dục áp dụng cho những người bước vào con đường tâm linh theo Pháp và Luật của các bậc thánh (Ariya puggala Dhamma & Vinaya). Ba khía cạnh đó là: tu dưỡng về khía cạnh đạo đức (Adhisīla), phát triển tâm cao thượng (Adhicitta), và sống với trí tuệ (Adhipaňňā) thấy sự sinh diệt của vạn pháp để không chấp thủ vào đâu & như vậy chấm dứt các khổ đau tâm lý & tinh thần.

Trong cách tiếp cận cổ điển này, đầu tiên là những chuẩn mực của người xuất gia, hay người thực tâm muốn đi ra khỏi con đường thế tục, bước vào con đường phát triển tâm linh. Trong Luật Tạng có những điều học (sikkha) cho người mới vào đạo liên quan đến các oai nghi, cử chỉ đi đứng nằm ngồi và ăn uống sinh hoạt như thế nào để được xem là người có giáo dục. Số lượng các điều học này có sự khác biệt tùy theo tạng luật của từng bộ phái, trong truyền thống Theravada có 75 điều học như vậy, trong truyền thống Dhammaguptaka có 100 điều như vậy… Thiền Tông cũng có bộ Cảnh Sách với những bài kệ thức tỉnh soi sáng mỗi hành động, mỗi oai nghi đường hoàng, điều độtỉnh giác cho các hành giả bước vào cửa thiền.

Thời kỳ nguyên thủy, khi đức Phật còn tại thế, ngài đặt ra những nguyên tắc sống đời phạm hạnh cho các đệ tử qua các pháp thoại mà sau này được kiết tập thành tạng Kinh (Suttanta). Chúng ta có thể thấy các nguyên tắc sống của người xuất gia qua các bài kinh trong Kinh Tập (Sutta Nipata, Khuddaka Nikaya), hay nổi bật nhất là bài kinh Mười Pháp của Bậc Xuất Gia (Dasa-dhamma sutta- Anguttara Nikaya).[i]

Khi Di mẫu Kiều Đàm Di thỉnh pháp, nhấn mạnh những pháp ngắn gọn nào để Di mẫu có thể thực hành vì sự tiến bộ tâm linh, đức Thế Tôn đã dạy Di mẫu tám nguyên tắc để nhận biết đời sống linh có đi đúng hướng hay không.[ii]

Trước khi đưa ra một điều luật cho Tăng/Ni áp dụng trong đời sống tăng đoàn, đức Thế Tôn nêu rõ vì sao cần có luật lệ và vì những lý do chính đáng đó người xuất gia phải thực hành. Những mục đích đó là: “Vì 10 mục đích, Upāli,  khiến Như Lai đặt ra giới học cho hàng đệ tử và việc tụng đọc giới bổn. Mười điều đó là những gì? Vì toàn thiện của Tăng chúng (1), Vì sự an vui của Tăng chúng (2), để răn dạy những cá nhân có hạnh kiểm xấu (3), vì sự an vui của những tỳ khưu có hạnh kiểm tốt (4), để ngăn ngừa những nghiệp chướng ngay trong đời này (5), để diệt tận những nghiệp chướng trong đời sau (6), đưa lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin (7), tăng trưởng niềm tin cho các tín đồ (8),  vì thọ mạng lâu dài của chánh pháp (9), và vì hỗ trợ giới luật (10).” (Tạng Luật, Mahavagga Pali, Bhikkhu Vibhanga)

 

Thời kỳ cổ điển khi chưa có các trường đại học, Tăng – Ni học theo thầy trong khuôn khổ kiểu giáo dục Già Lam (Aarama or Ashram), mỗi vị thầy sẽ truyền đạt kiến thức và pháp tu cho một số lượng đệ tử nhất định theo truyền thống sơn môn của mình.

 

Tỳ Khưu ni Dr. Pháp Hỷ Dhammananda

Tham luận Hội thảo 35 năm thành lập HVPG ở Tp HCM 12/2019

 



[i]

[ii] AN. Viii.53 , Also in Khandhaka, Cula vagga: Đây chính là tám trọng pháp mà Đức Phật khuyên Di Mẫu thực hành sau khi bà xuất giayêu cầu Thế Tôn chỉ dạy.

_“Lành thay, bạch Thế Tôn, thỉnh cầu người dạy con giáo pháp tóm tắt để sau khi nghe từ kim khẩu Thế Tôn, con có thể sống độc cư, an tịnh, tinh cần, nỗ lựcquyết tâm.” It would be good, lord, if the Blessed One would teach me the Dhamma in brief such that, having heard the Dhamma from the Blessed One, I might dwell alone, secluded, heedful, ardent, & resolute." […]

_ “Di mẫu, về những phẩm hạnh mà người có thể biết, nhữn pháp đó là: 1. Những điều dẫn đến hết ham muốn, không phải là dẫn đến ham muốn thêm; 2. dẫn đến không ràng buộc, không phải là ràng buộc; 3. dẫn đến giảm thiểu, không phải là dẫn đến tích lũy; 4. đến khiêm nhường, không đến ngạo mạn; 5. đến biết đủ, không đến bất mãn; 6. đến ẩn cư, không đến giao du tràn lan; 7. đến phát tâm kiên định, không đến sự lười biếng; 8. đến nhẹ ghánh nặng, không đến ghánh nặng.” As for the qualities of which you may know, 'These qualities lead to dispassion, not to passion; to being unfettered, not to being fettered; to shedding, not to accumulating; to modesty, not to self-aggrandizement; to contentment, not to discontent; to seclusion, not to entanglement; to aroused persistence, not to laziness; to being unburdensome, not to being burdensome': You may definitely hold, 'This is the Dhamma, this is the Vinaya, this is the Teacher's instruction.'"

Tạo bài viết
01/04/2012(Xem: 21456)
Cuộc Triển lãm Kinh sách Phật giáo hai nghìn năm tuổi tại Thư viện Anh Quốc, khai trương vào ngày (25 tháng 10 – 23 tháng 02 năm 2020), sẽ khám phá nguồn gốc, triết lý và sự phù hợp đương đại của Phật giáo từ khi bắt đầu phía bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch để có hơn 500 triệu Phật tử trên khắp thế giới ngày nay.
"Tôi sống đời hơn trăm tuổi, đã gần trăm năm xuất gia theo nghiệp là tu hành, nuôi thân chủ yếu bằng nghề làm ruộng, chưa từng dám lạm dụng một bát gạo, một đồng tiền của tín thí thập phương. Khi nào chư Phật, chư tổ cho gọi thì về thôi", ông tâm sự.