Mục đích cuối cùng của sự tu học

01/12/202010:44 SA(Xem: 3472)
Mục đích cuối cùng của sự tu học

MỤC ĐÍCH CUỐI CÙNG CỦA SỰ TU HỌC
Sakya Sông Lam

hoa senMục đích cuối cùng của sự tu tập theo giáo phápĐức Thế Tôn đã chứng ngộ và khéo léo thuyết giảngchấm dứt sự tái sinh trong tương lai, là không còn phải luân hồi sinh tử nữa, là chấm dứt mọi sự hiện hữu dù bất kỳ ở đâu và dưới mọi hình thức nào, điều đó cũng có nghĩa là tu là để chết, một cái chết cuối cùng.

Nếu nói rằng "tu là để chết" thì ắt hẳn nhiều người sẽ không tin và phản biện lại rằng nếu tu là để chết thì cần gì phải tu, ai mà rồi chẳng phải chết. Và họ cho rằng mục đích của tu là để thành thánh, thành phật, để nhập vào Niết Bàn Vô Dư, nơi đó là nơi chỉ toàn là hạnh phúc, sung sướng mà không có khổ đau. Nhưng đó chỉ là hiểu biết Vô minh, tà kiến, là hiểu biết sai sự thật, là không liễu tri Niết bàn như trong kinh Pháp môn căn bản đã đề cập đến về sự hiểu biết của kẻ phàm phu:

"Người ấy tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn, người ấy nghĩ đến Niết-bàn, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn. Nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, người ấy nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói: Người ấy không liễu tri Niết-bàn."
(Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya, Kinh số 1. Kinh Pháp Môn Căn Bản
(Mùlapariyàya sutta), Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

Vậy "tu để chết" ở đây có gì khác?

Trước hết phải hiểu chết là gì? Trong Tương Ưng Bộ kinh, Tương Ưng Nhân duyên có định nghĩa về chết như sau:

"Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Đây gọi là chết."
(Tương Ưng Bộ - Samyutta Nikaya, Tập II - Thiên Nhân Duyên, [12] Chương I - Tương Ưng Nhân Duyên (a), Phẩm Phật Đà, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

Như vậy gọi là chết, phàm và thánh thì ai mà chẳng phải chết vì "các pháp hữu vi đều vô thường". Vậy thì có gì khác nhau đâu, giữa cái chết của phàm phu và thánh nhân?

Kẻ phàm phuvô minhhữu ái chi phối, nên trong tiến trình chết (giai đoạn cận tử) thì khởi lên sự lo lắng, hoang mang, sợ hãi đến tột độ chính vì tâm Hữu ái được kích hoạt, vậy nên sau khi từ bỏ thân xác hiện tại lại tìm kiếm sự sống, chấp vào thân xác khác mà trong kinh Đức Phật nói là "tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia như Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái". Và trong khoảnh khắc đó từ thân xác của kẻ phàm phu thoát ra một trường năng lượng lớn để phát sinh một dạng vật chất vi tếmắt thường không thể nhìn thấy được khiến cho cơ thể trở nên lạnh toát, dạng vật chất vi tế đó mang tính chất sóng và hạt có khả năng copy toàn bộ lượng thông tin Pháp trần và thông tin Di truyền trong kho chứa tâm thức gọi là Thức Tái Sanh hay là Hóa Sanh. Đời sống Hóa Sanh có thể dài ngắn khác nhau từ vài ngày cho đến hàng ngàn năm, chỉ đến khi nào nghiệp cạn kiệt, cũng với tâm lý tìm cầu sự sống nên Hóa Sanh đó lại đi vào Thai sanh hoặc Trứng sanh, và cứ như thế lại tiếp tục một đời sống mới, chịu nỗi khổ đau của sinh già bệnh chết. Trong kinh, Đức Phật nói rằng:

"... Nhiều lần và nhiều lần,
Mệt sức và lao khổ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Kẻ ngu nhập bào thai.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lại sanh rồi lại chết.
Nhiều lần và nhiều lần,
Họ mang đến nghĩa địa..."
(Trích Tương Ưng Bộ - Samyutta Nikaya, Tập I - Thiên Có Kệ, [07] Chương VII, Tương Ưng Bà La Môn, Phẩm Cư sĩ, II. Udaya (S.i,173), Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

Như vậy, giai đoạn từ đời sống 1 con người phàm phu khi trải qua giờ phút lâm chung đến đời sống 1 Hóa Sanh, từ Hóa Sanh lại chuyển vào Thai Sanh hoặc Trứng Sanh đối chiếu với 12 Duyên Khởi chính là 4 chi phần đầu tiên là Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc. Điều đó có nghĩa là kẻ phàm phu do hiểu biết Vô Minh rằng Khổ, Khổ Tập, Khổ diệtCon đường Khổ diệt là ở nơi thế giới ngoại cảnh, cho nên họ cho rằng sự sống, sự hiện hữu là cao quý, màu nhiệm, còn sự chấm dứt hiện hữuđau Khổ vô cùng, thông tin đó được cài đặt và lưu giữ nơi kho chứa tâm thức từ trong vô thủy, và hễ khi sự sống, sự hiện hữu bị đe dọa thì thông tin đó lại được trí nhớ (Niệm) kích hoạt. Và do Vô Minh nên khi đó sẽ phát sinh Hành vi tìm cầu sự sống, sự hiện hữu, sự bình an, "tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia như Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái". Từ Hành vi tìm kiếm đó mà phát sinh Thức (tái sanh) trở thành một Hóa Sanh, và Hóa Sanh đó trải qua một đời sống dài ngắn khác nhau cho đến khi nào nghiệp cạn thì có sự Nhập Thai. Sự Nhập Thai diễn ra khi Hóa Sanh có duyên thích ứng để tương tác với hợp tử trứng và tinh trùng của cặp đôi nam nữ đang giao cấu mà hình thành nên bào thai, rồi bào thai đó được nuôi dưỡng bởi các chất dinh dưỡng từ trong bụng mẹ mà dần dần hình thành một Danh Sắc mới, đó chính là kiếp sống tiếp theo của kẻ phàm phu. 4 chi phần đầu của 12 Duyên Khởi đó chính là quá trình luân hồi tái sanh.

Đến đây thì có thể thấy rằng, cái Chết của kẻ phàm phu chỉ là tạm thời, mang tính tương đối, chết ở đời này rồi lại tái sinh, rồi lại chết... cứ như thế mãi mãi không bao giờ chấm dứt, ngừng nghỉ. Cái chết đó nếu nói cho đúng thì chỉ là "Qua Đời" mà thôi.

Còn đối với bậc thánh nhân, các vị A La Hán thì sao? Do Bốn Niệm Xứ được tu tập đi đến viên mãn, do Bảy Giác Chi được tu tập đi đến viên mãn... mà Tham được đoạn tận, Sân được đoạn tận, Si được đoạn tận, 10 kiết sử được đoạn tận, đạt được Chánh Trí ngay trong hiện tại: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, không còn trở lại đời này nữa." Đời sống của vị ấy đã chấm dứt hoàn toàn mọi nguyên nhân đưa đến Khổ nơi nội tâm, Dục ái, Hữu ái, Phi hữu ái đã được đoạn tận, nghĩa là đã "đoạn tận sự tái sanh, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai". Chính vì các vị như thật rõ biết "còn sanh y là còn khổ, còn hiện hữu là còn khổ", các vị hiểu vậy nên không bao giờ tán dương sự hiện hữu mà hướng đến phi hiện hữu như kinh cũng đã đề cập đến:

"Ví như, này các Tỷ-kheo, một ít phân có mùi hôi thúi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta không tán thán về hiện hữu dầu cho có ít thôi, cho đến chỉ trong thời gian búng ngón tay.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một ít nước tiểu có mùi hôi thúi... một ít nước miếng có mùi hôi thúi.... một ít mủ có mùi hôi thúi... một ít máu có mùi hôi thúi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta không tán thán về hiện hữu dầu cho có ít thôi, cho đến chỉ trong thời gian búng ngón tay."
(Tăng Chi Bộ kinh - Anguttara Nikaya, Chương II - Hai Pháp, XVIII - Phẩm Makkhali, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

ngay sau khi giác ngộ, Đức Phật cũng đã tuyên bố rằng:

"Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh."

"Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Đòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong."
(Pháp cú 153 - 154)

Rồi Ngài cũng khẳng định thêm rằng:

"Cha sầu vì con cái,
Người chăn sầu vì bò,
Người sầu vì sanh y,
Không sanh y, không sầu."
(Tương Ưng Bộ - Samyutta Nikaya, Tập I - Thiên Có Kệ, [04] Chương IV - Tương Ưng Ác Ma, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)

Khi còn tuổi thọ, thì thân và tâm (Danh Sắc hay Năm Uẩn) vẫn phải chịu quy luật vô thường, hữu vi, biến hoại, chỉ đến khi tuổi thọ chấm dứt, vị ấy chết nhưng với một tâm lý hoàn toàn bình thản, không sợ hãi, không dao động. Đó là một cái chết hoàn toàn, Đức Phậttrạng thái đó như "dầu hết đèn tắt", không còn đi về đâu, chấm dứt hoàn toàn mọi sự hiện hữu dưới mọi hình thức. Đó cũng chính là sự Nhập Diệt hay Vô Dư Niết Bàn, đó mới chính là "vô thượng an ổn khỏi mọi khổ ách". Vì sao chấm dứt mọi sự hiện hữu mới chính là "vô thượng an ổn khỏi mọi khổ ách"? Ví như đời sống của một người giàu sang, quyền lực, hạnh phúc, an lạc nhất thế gian thì hàng ngày khi có sự hiện hữu như vậy người đó vẫn phải chịu những phiền toái nhất định như khi đói, khi ăn, khi buồn đi đại tiện, tiểu tiện, khi xúc chạm với những đối tượng không khả ái hàng ngày. Còn nếu khi vào buổi tối người đó được ngủ một giấc ngủ say ngon lành không có mộng mị gì đến tận sáng ngày hôm sau, thì giai đoạn ngủ say đó mặc dù không có hạnh phúc gì nhưng cũng vắng mặt hoàn toàn mọi phiền toái. Sự Nhập Diệt của vị A La Hán cũng giống như ngủ một giấc thật say không mộng mị như vậy, nhưng giấc ngủ đó là kéo dài vĩnh viễn. Đó cũng chính là mục đích cuối cùng mà "những Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, bỏ gia đình, sống không gia đình" hướng tới.

Như vậy, tu tập Bát Chánh Đạo để đạt được mục đích cuối cùng là một cái chết bình thản, an lạc, không còn bị tái sanh để chịu những nỗi thống khổ của sinh, già, bệnh, chết trong tương lai nữa. Đó là một cái chết tuyệt đối, chết hoàn toàn, chết hẳn.

Sākya Sông Lam _ 23.10.2019

Xem thêm bài viết tại:
1. Cổng thông tin Phật giáo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam: https://phatgiao.org.vn/muc-dich-cuoi-cung-cua-su-tu-hoc-la-cham-dut-tai-sinh-d41972.html
2. Báo Giác ngộ: https://giacngo.vn/phathoc/luockhao/2020/05/22/1A549A/

Tạo bài viết
Vào ngày 24 tháng 7 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Ấn Độ Narendra Modi cho biết, tư tưởng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rất phù hợp khi nhân loại đang đối mặt với cuộc khủng hoảng bởi đại dịch Covid-19, và khẳng định rằng Ấn Độ đã chỉ ra cách đối mặt thử thách với khó khăn nhất, bằng cách tuân lời vàng ngọc của Đức Phật, người sáng lập đạo Phật.
Xin Phổ Biến Rộng Rãi Số Phone Cần Thiết Cung Cấp Oxy , Mai Táng, Cấp Cứu Miển Phí Không Đồng Trong Mùa Dịch 1-Cung Cấ́p Oxy :Miễn Phí Số Đt. 077.7755.222 Cô Hạnh 0918.999.651 2-Mai Táng Không Đồng Từ A-Z Số Đt. 0949.050.789 Cô Cúc 0705.705.115 3-Cứu Thương Không Đồng, Oxy Miễn Phí Số Đt. 0824.606 606 0582.464 646 Chú 8 Sang 0906 963 943
Tình cờ, tôi được biết trên internet, dạo gần đây có một nhóm người truyền dạy nhau cách niệm số, đọc dãy số 126002600 kèm với Nam-mô Dược Sư Phật để trị bệnh Covid-19. Một nhóm khác thì truyền dạy nuốt trùn đất sống (địa long) cũng để phòng trị dịch bệnh Covid-19. Điều đáng nói là cả hai nhóm này đều bàn đến triết lý và tu hành Phật giáo, thậm chí mặc y phục của cư sĩ và tu sĩ Phật giáo. Xin hỏi quan điểm của Phật giáo về vấn đề này thế nào?