15. Sông Hằng: Lời Dạy Tâm Yếu Về Đại Thủ Ấn

05/05/20219:26 SA(Xem: 283)
15. Sông Hằng: Lời Dạy Tâm Yếu Về Đại Thủ Ấn

TỪ HUYỀN THOẠI TỚI TÂM KINH

NGUYÊN GIÁC
Nhà Xuất Bản Ananda Viet Foundation 2021

15

SÔNG HNG:

LI DY TÂM YU V ĐI TH N

 

Bên bờ Sông Hằng, những lời giảng này được Ngài Tilopa dạy cho Naropa. Bản Sanskrit có tên: Mahamudra Upadesham. Bản Tạng Ngữ: Chaggya Chenpo Menngag. Bản tiếng Anh do Ari Kiev chuyển ngữ: Essential Instructions on Mahamudra. Bản tiếng Việt do Cư Sĩ Nguyên Giác chuyển ngữ.

Bản dịch này nhiều năm trước đã được Viet_Vajra Foundation trình bày và ấn tống để cúng dường Đại Sư Garchen Triptrül Rinpoche tôn quý, bậc thành tựu giả Đại-Thủ-Ấn, hiện thân của lòng từ bi vô lượng của Quan-Âm. Lời dạy của Ngài Tilopa như sau.

 Thành kính đảnh lễ

 Trí Tuệ Bất Nhị Thù Thắng. [1]

 

 Này Naropa thông minh, kẻ đang kham nhẫn khổ đau,

 ngươi đã chịu đựng gian nan, và hết lòng tận tụy với đạo sư.

 Do vậy, cho dù Đại Thủ Ấn không có thể được phô bày,

 ngươi hãy một lòng ghi khắc lời dạy này, hỡi kẻ may mắn!

 

 Ô! Hãy nhìn kỹ vào các pháp [hiện tượng] thế gian!

 Hư ảo và hệt như mơ, chúng không thể còn mãi!

 [Nhưng] chúng không phải là mơ hay hư ảo trong đời thường.

 Do vậy, khi xa lìa được tà kiến,

 ngươi phát huệ, chiếu kiến vào các họat động thế gian.

 Hoàn tòan cắt lìa các tâm thủ và xả, ưa thích và ghét bỏ

 -- [các tâm đó là] cõi của luân hồi,

 hãy thiền định đơn độc nơi núi rừng.

 

 Khi cảnh giới vô-chứng (non-attainment) được chứng nhập,

 nhờ giữ tâm mình liên tục phi-thiền-định (non-meditation),

 thì Đại Thủ Ấn được thành tựu.

 Những chuyện thế giannguyên do của đau khổ.

 Hãy nhìn vào ý nghĩa cốt tủy tối hậu

 mà nhận chân ra cái vô dụng của hành vi so đo suy lường (deliberate action).

 

 Sự thật vượt ngoài tri thức

 sẽ không thể thấy được bằng phương tiện tri thức.

 Nơi của vô-tác (non-action)

 sẽ không tới được bằng hành vi so đo tạo tác.

 Nếu ngươi muốn đạt tới nơi của niệm siêu vượt vô-tác,

 thì hãy cắt đứt gốc rễ của tâm,

 và hãy an nghỉ trong tánh biết trần trụi.

 

 Hãy để dòng sông ô nhiễm của niệm tưởng

 vào trong cái trong trẻo [tự nhiên] của nó.

 Đừng thủ hay xả, đừng nhận hay bỏ đối với các hiện tướng,

 hãy cứ để mặc chúng như chúng là.

 Khi không nhận mà cũng không bỏ,

 thì [tâm] được giải thóat vào Đại Thủ Ấn.

 

 Cũng như, [khi] cắt đi cội rễ của cây có nhiều cành và cuống lá,

 thì mười ngàn cành và hàng trăm ngàn lá sẽ rụi tàn.

 

 Cũng như, ngay cả bóng tối gom về của một ngàn đại kiếp

 cũng bị xua tan bởi một ngọn đèn đơn độc.

 Tương tự, một khoảnh khắc bừng sáng của tự tâm

 Chắc chắn sẽ xua hết nhiều đại kiếp tội lỗi u mê.

 

 Nếu người hạ căn không thể an trụ trong nghĩa tối hậu,

 họ nên tập pháp Niệm Hơi Thở, [2]

 và đừng ráng sức đưa mình vào tánh biết.

 Hãy tinh tấn nỗ lực cho tới khi nào

 ngươi an trụ được trong tánh biết hiện tiền

 nhờ phuơng tiện Thiền ChỉThiền Quán. [3]

 

Cũng như, khi ngươi nhìn vào giữa hư không,

 tất cả định kiến về biên địatrung tâm đều biến mất.

 Cũng vậy, khi ngươi lấy tâm nhìn tâm,

vô lượng niệm sẽ tan mất, và ngươi thấy được tự tánh của tâm.

 

 Cũng như, hơi nước bay lên từ đất, và mây tan vào hư không,

 chúng đi không về đâu và cũng không trụ vào bất kỳ đâu.

 Cũng thế, vô lượng niệm khởi lên từ tâm:

 bằng cách nhìn vào tự tâm mình, thì các làn sóng niệm biến mất.

 

 Cũng như, hư không lìa xa các sắc màu và hình tướng.

 Hư không bất biến, không nhiễm chút gì của trắng hay đen.

 Cũng thế, tự tâm, siêu vượt qua sắc màu và hình tướng,

vô nhiễm đối với hiện tướng trắng, đen của đức hạnhtội lỗi.

 

 Cũng như, mặt trời trong trẻothanh tịnh

 không bị ngăn che bởi bóng tối của một ngàn đại kiếp.

 Tương tự, các đại kiếp trôi lăn trong luân hồi

 không thể ngăn che tự tánh chiếu ngời của tâm.

 

 Cũng như, mặc dù hư không bị xem là ‘rỗng không,’

tự hư không lại không thể được mô tả bởi [các chữ] như thế.

Tương tự, cho dù tự tâm được mô tả là ‘tịnh quang,’

vẫn không có cơ sở nào để xem xét nó qua các mô tả như thế.

 

 Thí dụ, hư không vốn không chỗ trụ nào để bám víu, nương tựa

 Hệt như hư không, Đại Thủ Ấn -- tức là chính tự tâm mình

 cũng không có chỗ nào để trụ.

 Hãy [để tâm] an nghỉ tự nhiên

 trong dòng chảy liên tục nguyên sơ không tạo tác.

 Khi các buộc ràng được nới lỏng,

 thì không còn ngờ vực gì về giải thoát.

 

 Trong cách đó, tự tánh của tâm thì hệt như hư không.

 Tất cả các hiện tượng đều được bao trùm trong đó.

 

 Hoàn toàn, đừng lao nhọc thân thể

 và hãy giữ [thân tâm] an nghỉ tự nhiên.

 Không nói nhiều, sẽ nghe [âm thanh] hệt như một tiếng vang.

 Không nghĩ ngợi tư lường, hãy nhìn thực tại hiển lộ minh bạch.

 

 Thân này mong manh, hệt như lau sậy;

 và tâm, như giữa bầu hư không, siêu vượt cảnh giới của niệm.

 Hãy an nghỉ [thân tâm] trong trạng thái đó,

 không rời ra hay đặt để vào, không xả không thủ.

 Khi tâm không còn chỗ trụ nào [vô sở trụ],

 thì đó là Đại Thủ Ấn.

 

 Khi tự ngươi vào được như thế,

 thì sự giác ngộ tối thắng được thành tựu.

 

 Khi không còn một pháp [vật] để trụ,

 thì tâm trong trẻo tự nhiên.

 Khi không còn một đường nào [để đi],

 thì đã vào được con đường của chư Phật.

 Bằng cách an trụ phi-thiền-định,

 thì sự giác ngộ tối thắng được thành tựu.

 

 Cái nhìn bất nhị, siêu vượt tất cả chủ thể và đối tượng

 là vua của các thị kiến.

 Khi không còn dao động gì [ngoài cái nhìn này]

 thì đó là vua của các thiền định.

 Khi không còn tâm tạo tác suy lường nào,

 thì đó là vua của các pháp hành.

 Khi không còn mong đợi hay ngờ vực nào,

 thì quả được hiển lộ.

 

 Tự tánh vô sinh của vạn pháp hiển lộ khi tan bức màn vô minh.

 Đừng thực hành thiền định và hậu-thiền-định (post-meditation),

 nhưng hãy an nghỉ trong tự tánh vô sinh.

 Như thế, các cảnh tướng [ở ngòai], các niệm tưởng [ở trong], và ý thức so đo suy lường đều biến sạch.

 Giải thoát hoàn toàn khỏi các biên vực là thị kiến tối thượng.

 Không bờ bến, sâu thẳm, và bao lathiền định tối thượng.

 Vô tác, an trú trong tự tánh, là pháp hành tối thượng.

 Xa lìa các mong đợi, an trú trong tự tánh, là quả tối thượng.

 

 Với người mới tu, tâm hệt như thác nước.

 Tới giữa, nó chảy dịu dàng, như Sông Hằng.

 Tới tận cùng, nó hệt như sông chảy hòa vào biển -- như mẹ và con hội ngộ.

 

 Tánh sáng, tức Đại Thủ Ấn,

 sẽ không thấy được xuyên qua việc diễn giải [các cỗ xe] ba-la-mật [Đại Thừa] và mật chú [Kim Cang Thừa],

hay qua các bộ kinh kể cả bộ Luật Tạng,

 hay xuyên qua các kinh luận đơn lẻ và hệ thống giáo điều.

 

 Khi ngươi không còn tạo tác thêu dệt nào trong tâm,

 và không còn bất kỳ ước muốn nào,

 thì [các niệm] hệt như các đợt sóng tự sinh và tự diệt trong nước.

 Khi một ước muốn khởi lên,

 thì tánh sáng bị che đi, và không được chứng ngộ.

 

 Gìn giữ các lời nguyện một cách khái niệm tri thức,

 thì ngươi đã vi phạm mật nguyện samaya [4] trên tầng đệ nhất nghĩa.

 Nếu tâm an trú trong đệ nhất nghĩa vô trụ, phi đối tượng,

 thì mật nguyện samaya bất khả hư hoại là một ngọn đèn trong bóng tối.

 

 Khi, vắng sạch bất kỳ ước muốn nào,

 ngươi không bị chấp thủ vào một cách nhìn nào,

 thì tất cả lời dạy trong Kinh Phật, không loại trừ giáo pháp nào,

 đều sẽ được chứng ngộ.

 Nếu ngươi gắng sức vào được chân lý này,

 thì ngươi sẽ được giải thoát khỏi nhà tù luân hồi.

 

 Nếu ngươi thiền định trong chân lý này,

 thì tất cả vô minh, chướng ngạisi mê sẽ bị thiêu rụi.

 Do vậy, nó được gọi là ngọn đèn của giáo pháp.

 

 Những người u mê không hướng tâm đến chân lý này,

 cứ đều đặn bị cuốn trôi đi, vùi dập bởi sông lớn của luân hồi.

 Thật là buồn khi chúng sanh cứ chịu nỗi khổ bất khả chịu đựng

 của việc tái sanh vào đường dữ.

 

Muốn giải thoát lìa đau khổ, hãy theo một đạo sư thượng thủ.

 Được ơn lành của thầy, tâm của ngươi sẽ được giải thóat.

 

Nếu ngươi dựa vào dấu ấn hành động, [5]

 thì trí tuệ của Đại LạcTánh Không sẽ khởi dậy.

 Như thế, hãy hợp nhất phước lành của phương tiện thiện xảotrí tuệ.

 

 Tinh lực sẽ từ từ hạ xuống, ngừng lại, đảo ngược và lan tỏa.

 Nó sẽ được mang vào trong nội thân và lan khắp cơ thể.

 

 Khi dứt hết chấp thủ, trí tuệ của an lạc rỗng rang khởi dậy

 và, chiếu sáng như mặt trăng tròn đầy,

 người sẽ thành tựu trường thọ mà không bạc một sợi tóc.

.

 Ngươi sẽ sáng chói và rực rỡ, với năng lực như của một sư tử.

 Các thành tựu thông thường sẽ mau chóng đạt được, dẫn tới bậc thành đạt tối hậu.

 

 Những chúng sinh may mắn, hãy ghi nằm lòng lời khuyên cốt tủy này về Đại Thủ Ấn.

 

 Bên bờ Sông Hằng, những lời giảng này được Ngài Tilopa dạy cho Naropa. Xin nguyện thành tựu công đức.

 

 GHI CHÚ:

[1] Trí Tuệ Bất Nhị Thù Thắng: Bản của Ari Kiev viết là ‘glorious coemergence’; chữ coemergence có nghĩa là cái thấy bất nhị, khi thấy tâm với pháp là một, khi thấy sinh tử với niết bàn là một.

 [2] Bản của Ari Kiev viết là hãy ‘giữ điểm chủ yếu của năng lực gió’ -- hold the vital point of wind energies. Như thế sẽ tối nghĩa, cho dù có đúng với bản gốc Phạn Ngữ.

Bản Anh Ngữ của Kunzang Tenzin nói rõ là niệm hơi thở: If the mind is dull and you are unable to practice these instructions, Retaining essential breath’ (Nếu tâm thô tháo và ngươi không có thể tu tập các lời dạy này, giữ gìn hơi thở chủ yếu.)

 Còn bản Anh Ngữ của The Dharma Fellowship viết: ‘One who wishes to attain this level of meditation should first begin by practicing remembrance of the breath.’ (Học nhân nào muốn thành tựu bậc thiền này, trước tiên hãy bắt đầu bằng pháp niệm hơi thở.)

 [3] Nhờ phương tiện chỉ và quán: dịch từ nhóm chữ ‘by means of myriad gazes and [modes of] focused attention,’ nghĩa là ‘bằng phương tiện chiếu kiến thâm sâu và [các trạng thái của] sự chú tâm.’ Đối với người Việt, nói ngắn gọn là ‘nhờ phương tiện thiền quán và thiền chỉ’ thì dễ hiểu hơn.

 [4] Samaya, gốc chữ Sanskrit, nghĩa là các lời nguyện Mật Tông trong Phật Giáo Kim Cang Thừa; vi phạm các lời nguyện này sẽ có ảnh hưởng cực kỳ tai hại.

 [5] Dấu ấn hành động, action mudra (Phạn: karmamudra): có 2 nghĩa -- nghĩa thứ nhất là một thế ấn ở tay, biểu tượng hành vi giác ngộ; nghĩa thứ nhì là nhờ sự trợ giúp của người phối ngẫu tâm linh. Theo định nghĩa từ trang: http://www.namsebangdzo.com/Action_Seal_Seal_of_Action_p/g00012.htm

Tạo bài viết
Biên cương thế giới ngày nay bị thu hẹp với nền viễn thông liên mạng tân tiến, trong khi nhận thức của các thế hệ trẻ lại được mở rộng và sớm sủa hơn, khiến niềm tin và lẽ sống chân thiện dễ bị lung lay, lạc hướng. Thông tin đa chiều với sự cố ý lạc dẫn từ những thế lực hoặc cá nhân vị kỷ, hám lợi, thúc đẩy giới trẻ vào lối sống hời hợt, hiểu nhanh sống vội, ham vui nhất thời, tạo nên hỗn loạn, bất an trên toàn cầu. Trước viễn ảnh đen tối như thế, con đường hoằng pháp của đạo Phật rất cần phải bắt nhịp với đà tiến của nền văn minh hiện đại, nhằm tiếp cận với từng cá nhân, quân bình đời sống xã hội, giới thiệu và hướng dẫn con đường mang lại an vui hạnh phúc cho mình, cho người.
Ni Sư Thích Nữ Diệu Hiếu, là vị Tiến Sĩ đầu tiên tốt nghiệp Thiền Vipassana tại Myanmar vào đầu năm 2016. Suốt 14 năm tu học tại Miến Điện. Tháng 07/2016 Ni Sư về lại Việt Nam, Ni Sư là giảng viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. HCM đến nay. Hội đủ duyên lành, được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất tại TP. HCM. Với tâm nguyện hoằng Pháp lợi sanh, Ni Sư xây dựng NI XÁ tại Tu Viện để có chỗ Ni Chúng Đệ Tử có nơi ở an tâm tu học.
Thế mới hay trên cõi đời này, bể khổ không do thần linh tạo ra mà do chính con người tạo ra. Xây dựng những công trình vĩ đại trên trái đất này là do con người và kiến tạo Địa Ngục cho chính mình cũng do con người. Do đó, ngay trong thế giới Ta Bà này đã có sẵn Địa Ngục và Thiên Đình, chẳng cần tìm kiếm Địa Ngục và Thiên Đình ở đâu xa. Có thể các giáo sĩ và thầy tu của một Cung Trời nào đó, khi nhìn xuống Trái Đất với đầy chiến tranh, hận thù, kỳ thị, ghét bỏ, chửi rủa, lên án, vu cáo nhau nhau từng giờ từng phút… sẽ nói với các tín đồ rằng “Ở đây có một địa ngục thật kinh khiếp. Những ai làm ác sẽ bị đày xuống Địa Ngục này!”