Lý Tưởng Bồ Tát Và Các Bậc Minh Quân Trong Lịch Sử Vương Quốc Bhutan

02/06/20212:53 CH(Xem: 1060)
Lý Tưởng Bồ Tát Và Các Bậc Minh Quân Trong Lịch Sử Vương Quốc Bhutan

LÝ TƯỞNG BỒ TÁT VÀ CÁC BẬC MINH QUÂN
TRONG LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC BHUTAN
La Sơn Phúc Cường

  

nhà vua viếng thăm tự viện
nhà vua viếng thăm tự viện

Lý tưởng Bồ tát nhấn mạnh vào việc nuôi dưỡng các phẩm chất từ bi, lòng nhân ái, bình đẳng, đã chinh phục trái tim, khối óc của hàng triệu con người trên nhiều quốc gia trong lịch sử. Các nhà lãnh đạo thực hành lý tưởng Bồ tát, là những người biết điều phục các phiền nãonuôi dưỡng từ bi tâm nơi mình để đưa ra các quyết định, chính sách mang lại sự thịnh vượng và an vui cho tổ chức và cộng đồng.

Nhà lãnh đạo sáng lập vương quốc Bhutan

Zhabdrung Namgyel Rinpoche (594-1651) là một cao tăng đứng đầu tự viện Ralung dòng tu Drukpa tại Tây Tạng. Ngài đồng thời cũng là vị vua sáng lập nên vương quốc Bhutan. Zhabdrung Namgyel Rinpoche đã thiết lập một mô hình quản trị đặc biệt, trong đó ngài đảm nhận vai trò là nhà lãnh đạo chung cả lĩnh vực thế tụctôn giáo trên toàn vương quốc Bhutan. Dưới Zhabdrung Namgyel Rinpoche là tể tướng phụ trách điều hành lĩnh vực thế tục và một vị pháp chủ điều hành mọi vấn đề thuộc lĩnh vực tâm linh. Dưới sự lãnh đạo của ngài, Phật giáo trở thành quốc giáotrở thành nền tảng cho toàn bộ các lĩnh vực đời sống chính trị, văn hóa, đạo đứcluật pháp của vương quốc.

Soạn thảo bộ luật Kathrim dựa trên triết lý Phật giáo

Để quản lý đất nước, ngài Zhabdrung đã soạn thảo và ban bố khắp toàn vương quốc bộ luật đầu tiên (có tên là Nga Chudruma) vào năm 1619 và được chỉnh sửa một số nội dung (lấy tên là Kathrim) vào năm 1629.  Dựa trên triết lý Phật giáo và những điều luật quản trị tự viện Ralung, bộ luật Kathrim được ban bố điều chỉnh một loạt các vấn đề như vai trò của chính thể thế tụctâm linh, phương thức quản lý đất nước và tiêu chuẩn của một nhà cầm quyền, bộ luật còn điều chỉnh mối quan hệ giữa cộng đồng tự viện, nhà nước, người dân, trong lĩnh vực luật pháp, xã hội và kinh tế.

Quan niệm về phẩm chất của nhà cầm quyền trong bộ luật Kathrim

Kathrim bao gồm những quy định cụ thể quản lý đất nước dựa trên triết lý và giới luật Phật giáo. Theo đó, một đất nước muốn thực sự phát triển và mang lại hạnh phúc thực sự cho người dân thì cần được điều hành bởi một nhà lãnh đạo đầy đủ từ bitrí tuệ, có năng lực định hướng và quản lý đất nước để mang lại cho người dân sự an lạc, giải thoátgiác ngộ theo lý tưởng của Phật giáo. Bộ luật ghi rõ, “người đứng đầu nhà nước phải là một vị Bồ tát, tức là một nhà lãnh đạo phải đầy đủ tâm từ bi và trí tuệ.” (1)

 Kathrim viết tiếp: Đức Phật đã dạy “Một vị vua, nếu biết tôn kính giáo pháp sẽ tìm thấy được hạnh phúc trong đời hiện tại và những đời tương lai. Người dân sẽ làm theo như những gì nhà vua quyết định, và bởi vậy nhà vua phải là người chính trực và luôn nỗ lực nuôi dưỡng phẩm chất thiện lành này.”

Tư tưởng này như một sợi chỉ xuyên suốt định hướng phẩm chất của nhà cầm quyền ở Bhutan giai đoạn lập quốc, một nhà lãnh đạo đất nước phải có những phẩm chất chính trực giống như một Phật tử thuần thành, biết hướng toàn bộ người dân theo lý tưởng giải thoátgiác ngộ.

Kathrim đã nêu lên ba trách nhiệm chính của một nhà cầm quyền, thứ nhất là đảm bảo mọi người dân đều biết tri túc và được an lạc. Bổn phận chính của một nhà cầm quyền là đảm bảo phúc lợi cho người dân. Muốn như vậy họ phải sát sao với những điều kiện sống của người dân, để xem người dân đang hạnh phúc hay bất an, đang vừa lòng hay bất mãn. Bộ luật cũng viết rằng, nếu người dân không được hạnh phúcbình an thì trách nhiệm của nhà cầm quyền là phải đảm bảo cho họ phải có được hạnh phúc. Nhà cầm quyền phải nỗ lực hết mình, tạo ra một môi trường thuận lợi để người dân theo đuổi hạnh phúc. “Nếu những nhà lãnh đạo, những người đang đảm nhận trọng trách mang lại hạnh phúc cho người dân, mà lại xao lãng bổn phận của mình, thì đâu là sự khác biệt giữa họ với loài quỷ dữ?” (2)

Thứ hai, đảm bảo mọi tầng lớp từ quan lại, tới dân thường đều phải tôn trọng pháp luật và thực thi pháp luật một cách công bằng. Theo Kathrim, nền tảng của một vương triều tốt nằm ở tính công bằng. Với việc thiết lập các bộ luật và thực thi sự công bằng sẽ mang lại an bình, an ninh cho cả nhà cầm quyền và người dân. Khi sự thịnh vượng của quốc gia nói chung phụ thuộc vào rất nhiều vào nhà cầm quyền thì hệ thống quan lại địa phương cũng có trách nhiệm rất lớn trong việc mang lại phúc lợi cho người dân sống trong khu vực của mình. Vai trò của quan lại địa phương, người đứng đầu các thôn được xem là khuyến khích sự hòa hợp xã hộicho phép cộng đồng duy trì sự kiểm soát đối với các vấn đề chung của địa phương. Vị trí của quan lại địa phương và người đứng đầu các thôn phần lớn đều dựa vào sự đề cử dân làng và các thành viên. Tăng sĩ-học giả Longchem Rabjam thế kỷ 14 đã mô tả công việc của người đứng đầu các thôn nhất là trọng trách hòa giải các xung đột ở các thôn làng là một hành động đức hạnh.

Trách nhiệm thứ ba của nhà cầm quyền là duy trì tầm ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống chính trị - xã hội. Bởi vì nhà lãnh đạo là người thực hành giáo pháp của đức Phật, là hiện thân sống động khi đang thực hành các hạnh Bồ tát, cho nên họ luôn phải biết nuôi dưỡng những đức tính thiện lương và trí tuệ. Các điều luật khuyến khích một nhà lãnh đạo tôn trọngthực hành hướng tới10 phẩm hạnh của đức Phật và sáu công hạnh Ba-la-mật. Các phẩm hạnh này chủ yếu bao gồm sự rèn luyện nghiêm ngặt của tâm thức, nuôi dưỡng bi-trí-dũng.

Mặc dù phần lớn các điều luật đều nhấn mạnh tới thực hành các giá trị đạo đức, đòi hỏi mỗi người phải biết tự thức tỉnh nhưng cũng đề cập tới những trừng phạt nghiêm khắc dù cho chỉ là các biện pháp sau cùng. Trong khi giải quyết các vấn đề thế tục, điều phụcchế ngự được những kẻ thô lỗác độc bằng các phương tiện giáo dụcan bìnhưu tiên hàng đầu nhưng đôi khi cũng không thể không sử dụng các biện pháp mạnh. Khi phải đối mặt với những kẻ phạm pháp hay phạm tội ác, bổn phận của nhà cầm quyền là phải trừng phạt chúng một cách nghiêm khắc mà không được ủy mị thương xót.  Đây chính là phương thức mà một vị vua đang trên ngai đảm bảo quyền lực của mình.

Bộ luật được soạn thảo dựa trên triết lý của Phật giáo, cho nên ta không thấy những tư tưởng vị kỷ chỉ phục vụ cho lợi ích của tầng lớp cầm quyền, mà những tư tưởng trong bộ luật đều nhằm hướng tới lợi lạc cho người dân trên khắp vùng miền của vương quốc. Ngoài ra, bộ luật còn giành những chương mục riêng quy định mục đích tồn tại của vương quốc là để trì giữ, bảo vệtruyền bá giáo pháp của đức Phật, giúp Tăng đoàn trì giữ giới luật và tạo nền tảng đưa giáo pháp ứng dụng vào trong đời sống  chính trị-xã hội.  Một khi giới luật bị suy đồi thì vùng đất sẽ tràn đầy những kẻ phá bỏ lời thệ nguyện. Khi ấy những nhân lành mang lại hạnh phúc cho người dân sẽ bị phá bỏ. Một điều luật đã ghi rõ, “những ai lăng mạ người thực hành giáo pháp sẽ bị trừng trị nghiêm khắc”, thậm chí “họ chắc chắn sẽ bị trừng trị nghiêm khắc tại chính điện của các Hộ pháp phẫn nộ.” Mặt khác những người thực hành nghiêm cẩn theo điều luật sẽ được ban thưởng.  Sự khích lệ này nhằm giúp thúc đẩy và lan tỏa những điều thiện lương trên khắp vương quốc cũng như tiềm năng từ bi-trí tuệ nơi mỗi người dân.

Chuẩn mực giá trị đạo đức trong đời sống xã hội và mỗi cá nhân

Bộ luật Kathrim cũng đưa ra tiêu chuẩn của các giá trị đạo đức xã hộicá nhân trên khắp toàn vương quốc. Các bổn phận và đức hạnh này đều xuất phát từ giới luật Phật giáo và vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng các điều luật mới để quản trị đất nước ở thế kỷ này. Bộ luật Kathrim ngăn cấm 10 hành vi bất thiện, đặc biệt ngăn cấm hành vi sát nhân, tội ăn cướptrộm cắp tài sản nhất là của các tự viện Phật giáo thì đều phải trả lại và bị trừng trị nghiêm khắc. Quy định phải trả gấp 80 lần trong trường hợp ăn cắp tài sản của vua, và trả gấp 8 lần trong trường hợp ăn cắp của người dân nói chung. Tội ngoại tình cũng bị phạt tiền rất cao và trừng trị nặng.

Kathrim cũng quy định 16 hành vi thiện lành trong xã hội. Quy định cũng đòi hỏi phải tôn trọngchu toàn đạo làm con, biết tôn trọng người hơn tuổi. Con người phải biết tôn trọng lẫn nhau, tránh sự bất kính và dùng các biện pháp lừa gạt người khác. Hành động phạm pháp bị xử phạt rất nghiêm khắc.

Mười hành động thiện lành trong xã hội bao gồm: Không được sát sinh

Không được lấy những gì không thuộc về mình

Không được tà dâm

Không được nói dối; không được nói lời thô ác; không được nói lời vô nghĩa; không được nói lời thêu dệt; không được tham lam; không được ác tâm; không được có tà kiến.

Mười hành động thiện lành được chia thành 3 cấp độ; hành động bất thiện của thân, 4 hành động bất thiện của khẩu và 3 hành động bất thiện của tâm. Với việc từ bỏ các hành động bất thiện này, mỗi người sẽ ứng xử thuận theo con đường của đức Phật, qua đó có thể phát triển phương tiện để đạt tới hạnh phúc, an lạcgiải thoát, giác ngộ.

Mười sáu hành động thiện lành trong xã hội là: Không được giết hại hay trộm cắp; không được giữ các tà kiến; không được bất kính cha mẹ; không được bất kính với người hơn tuổi, các bậc trí tuệ và nhà nhà lãnh đạo; không được nuôi dưỡng các tư tưởng xấu ác với bằng hữu và gia đình; không được từ bỏ việc giúp đỡ hàng xóm láng giềng; không được lừa đảo, phải luôn trung thực; không được noi theo các tấm gương xấu ác; không được tham lam, ích kỷ; không được khuyến khích các tư tưởng, ý nghĩ xấu ác tới người khác, không được lỡ việc trả nợ; không được lừa đảo người; không được có hành vi phân biệt người giàu với người nghèo, hay những người có địa vị cao hay thấp trong xã hội; không được lắng nghe các lời khuyên xấu ác; không được dối trá và không được sân giận và mất kiên nhẫn.

Trước khi Kathrim được soạn thảo và có hiệu lực, chưa từng có một bộ luật nào ở đất nước này. Mỗi vùng đều có những quy định, luật lệ riêng và có hệ thống tôn giáo, hay thực hành theo những dòng tu khác nhau. Chưa có một hệ giá trị và những lợi ích chung để gắn kết người dân. Bởi vậy khi bộ luật được đưa vào thực thi, nó trở thành điều luật chung điều chỉnh mọi quan hệ xã hội và chính trị của vương quốc này. Sự thành tựu này cũng giải thích cho lý do tới nay ngài Zhabdrung vẫn luôn  giành được sự kính trọng của người dân và được tôn kính là “hiện thân của Bồ tát Quán Thế âm”, vị Bồ tát của tâm từ bi vô lượng. Mặc dù nhiều điều luật được chỉnh sửa đôi lần qua nhiều thế kỷ nhưng toàn bộ khung hệ thống luật pháp của vương quốc Bhutan ngày nay vẫn tiếp tục dựa trên triết lý và điều luật Kathrim được soạn thảo ngay từ thời lập quốc bởi ngài Zhabdrung.

Những giáo pháp hành trì được ngài Zhabdrung Namgyel Rinpoche hoằng dương tại vương quốc Bhutan

Dòng tu Phật giáo Drukpa được thiết lập bởi ngài Tsangpa Gyare (1161-1211) tại Tây Tạng. Là tăng sĩ được giáo dưỡng, rèn luyện trong dòng tu Phật giáo Drukpa, Zhabdrung Namgyel Rinpoche rất coi trọng việc hoằng dương các pháp tu của dòng. Sau thời Tsangpa Gyare đã có rất nhiều các cao tăng dòng Drukpa đã tới các vùng miền của vương quốc Bhutan để hoằng dương Phật pháp nhưng chỉ đến khi Zhabdrung Namgyel Rinpoche kiến lập nhà nước Bhutan thì giáo pháp của dòng Drukpa mới chiếm vị trí chủ đạo trên toàn bộ vương quốc. Hệ thống Giáo hội Phật giáo Bhutan từ trung ương tới địa phương đều đặt dưới sự quản lý của các tăng sĩ dòng Drukpa. Ngài cho xây dựng thêm rất nhiều tự viện, trường học Phật giáo của dòng tu Drukpa. Đây cũng là một trong những lý do tại sao vương quốc Bhutan cũng được gọi là Drukyul, có nghĩa là vương quốc của Rồng thiêng, người dân Bhutan được gọi là Drukpa có nghĩa là những Phật tử thực hành theo truyền thống Drukpa.

Những pháp tu được truyền thừa từ thời ngài tới nay vẫn được trì giữ nguyên vẹn trong truyền thống Phật giáo Bhutan như: Pháp thực hành nền tảng, Sáu pháp vị Bình đẳng, Đại Thủ Ấn, các hành trì Bản tôn v.v… (Tham khảo bài viết: Các pháp thực hành chính trong truyền thống Phật giáo Bhutan, TC Phật học, số tháng 07, 2020).

Vương triều Jigme Wangchuck

Người con trai của lãnh chúa Jigme Namgyel là Ugyen Wangchuck (1862-1926) đã kế tục địa vị của người cha mình. Ông trở thành lãnh chúa của cả vùng Paro và Tongsa, và củng cố địa vị của mình khi chinh phục hết các lãnh chúa vùng miền khác. Năm 1907 ông đã được hội đồng đại diện của nhân dân, các quan lại triều đình và các lama cao cấp trong giáo hội lựa chọn và suy tôn là vị vua đầu tiên của vương quốc. Ông lấy danh hiệu là Druk Gyalpo. Jigme Wangchuk (1905-1952) là vị vua thứ hai triều đại Jigme. Dưới sự lãnh đạo tài năng của hai đời vua thứ nhất và thứ hai, Bhutan đã tránh được các hiểm họa chiến tranh xâm lược của các nước thực dân, vương quốc trải qua thời kỳ an bình, thịnh vượng.

Vị vua thứ ba triều đại Jigme, Dorji Wangchuk (1929-1972) được tôn kính là người cha của Bhutan hiện đại. Với tầm nhìn rộng lớn do thấu hiểu xu hướng phát triển của thời đại, ông đã tiến hành cải cách đưa Bhutan xóa bỏ tình trạng khép kín. Dưới sự lãnh đạo của ông, hệ thống đường mô tô đầu tiên được xây dựng, đã giúp thay đổi đáng kế đời sống người dân toàn quốc. Hệ thống giáo dục hiện đại được xây dựng tới toàn thể người dân và nhiều chương trình hợp tác nhận trợ giúp kỹ thuật từ Ấn Độ, Anh quốc và nhiều nước khác được khởi xướng, giúp phát triển nông nghiệp, năng lượng thủy điện và hệ thống quản lý đất nước hiện đại. Ông cũng xây dựng Quốc hội Bhutan là đại diện của tất cả thành phần người dân các vùng miền, thiết lập lại hệ thống chính trị, tài chính, ngân hàng và bưu điện. Vào năm 1971, Bhutan đã ra nhập Liên Hiệp Quốc. Trong hai thập kỷ, vua Jigme Dorji Wangchuk đã góp phần lớn đưa Bhutan ra khỏi tình trạng lạc hậu của thời trung đại, bắt kịp những đổi mới thời hiện đại, đưa đất nước vào một kỷ nguyên mới.

Những nhà lãnh đạo Bhutan thời hiện đại

Vị vua thứ tư Jigme Singye Wangchuk kế ngôi vị vào năm 1974. Sự kiện lễ đăng ngôi đã thu hút sự chú ý đặc biệt của nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều hãng truyền thông quốc tế lần đầu tiên đã tới Bhutan, đưa tin, ảnh, các bài báo được in và xuất bản trên các ấn phẩm quốc tế phản ánh một vương quốc đặc biệt như trong vườn cổ tích. Ngay sau lễ đăng ngôi, nhà vua đã tuyên bố chủ thuyết phát triển đất nước trong tương lai. Ông cho rằng sự phát triển và tăng trưởng của Bhutan sẽ được định hướng và định lượng không phải bằng chỉ số Tổng sản phẩm quốc gia mà bằng chỉ số Tổng hạnh phúc quốc gia (GNH). Đây là một khái niệm mang tính cách mạng và khi ấy đã gây sự kinh ngạc cho rất nhiều nhà kinh tế cũng như chuyên gia phát triển nhiều lĩnh vực. Ngày nay, sự thành công của chủ thuyết GNH  được ghi nhận rộng rãitrở thành mẫu hình sự hoạch định chính sách cho nhiều quốc gia trên toàn thế giới.

GNH dựa trên triết lý Phật giáo, cho rằng chỉ tích lũy tài sản vật chất không mang lại hạnh phúc hay đảm bảo sự mãn nguyện cùng phúc lợi của người dân; sự tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa không nên đánh đổi lấy chất lượng cuộc sống và các giá trị truyền thống. Để đạt được Tổng hạnh phúc quốc dân, các ưu tiên chính sách được đưa ra như sau: sự phát triển kinh tế-xã hội công bằng được phân phối đều cho các khu vực vùng miền trong cả nước và trong mọi lĩnh vực; bảo tồnduy trì di sản văn hóa độc nhất vô nhị của đất nước; bảo tồnbảo vệ môi trường tự nhiên nguyên sơ, kiến lập nền quản trị khoa học giúp mọi người dân có cơ hội cùng tham gia quản lý đất nước. Trên đây là những nguyên lý định hướng chính sách của vương quốc Bhutan.

Ưu tiên cao nhất được hướng tới phát triển khu vực nông thôn thông qua các dịch vụ y tế, giáo dục, đặc biệt giúp người dân sống ở các vùng sâu, vùng xa; xây dựng hệ thống đường, thông tin liên lạc; phát triển nông nghiệp, và công nghiệp liên quan; thúc đẩy các nghề truyền thống và tất cả đều hướng tới đời sống cho người dân vùng nông thôn và tạo ra những cơ hội việc làm mới.

Chính sách bảo vệ môi trường của Bhutan được giữ gìn một cách đặc biệt cẩn thận trong khi nhiều quốc gia láng giềng lại bỏ qua hoặc không quan tâm nhiều. Các chính sách đó bao gồm các điều luật đảm bảo độ che phủ rừng của Bhutan không bao giờ được dưới 60%, và các hoạt động công nghiệp, thương mại gây tổn hại môi trường và đe dọa các loài động, thực vật đều bị cấm. Các vấn đề môi trường và văn hóa cũng được quan tâm đặc biệt, dẫn tới các quyết sách như không khuyến khích du lịch đại chúng, và cấm khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên như đồng, vì chúng làm phá hủy đời sống con người và các hệ sinh thái.

Truyền thống văn hóa độc nhất mang lại Bhutan bản sắc được giữ gìn qua các bộ luật như đòi hỏi người Bhutan phải mặc trang phục truyền thống khi xuất hiệnđại chúng, xây dựng các bộ tiêu chuẩn cho thiết kế nhà ở, các công trình xây dựng phải theo mẫu thiết kế và các quy định về kiến trúc truyền thống. nghệ thuật và các nghề truyền thống được khuyến khích với những tiêu chuẩn cao nhất được bảo tồn qua sự bảo trợ của chính phủ với các dự án trùng tubảo tồn dzong và tự viện.

Nền văn hóa Phật giáo thấm đẫm vào mọi khía cạnh của đời sống, lan tỏa sâu sắc ở các nhà lãnh đạo, ở phương thức quản trị của chính phủ. Thiết chế Giáo hội Phật giáo hiện có khoảng 5000 vị tăng, đứng đầuPháp chủ Je Khenpo, vẫn được duy trì nguyên vẹn. Ngày nay chư tăng vẫn đóng vai trò thiết yếu trong đời sống cộng đồng, cử hành các nghi lễnghi thức, tư vấn, hướng đạo, chỉ dẫn cho mọi tầng lớp người dân, nhà lãnh đạo quản lý cả trên lĩnh vực tâm linh và đời sống thường nhật. Ngoài ra có khoảng 3000 vị tăng khác đang tu tập tại các tự viện và am thất độc lập, không thuộc sự quản lý của Giáo hội trung ương.  Ở miền Đông Bhutan, là vùng núi cao xa xôi, có một hệ thống các cư sĩ, hành giảtri thức Phật pháp thâm sâu, có kinh nghiệm tu tập, nhập thất và có năng lực cầu nguyện, cử hành các nghi thức Phật giáo cũng như giảng pháp cho đại chúng. Bởi vì được rèn luyện, tu học và có trình độ cao nên các vị rất được tôn trọng trong xã hội không chỉ trong tu tập mà các vị còn tham gia rất hiệu quả các dự án xã hội trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình và ngăn chặn, phòng ngừa bệnh AIDS.

Trong lĩnh vực chính trị, vào năm 1981 nhà vua đã chủ động bắt đầu tiến trình dân chủ hóa đời sống chính trị bằng việc trao quyền tự chủ cho mỗi quận huyện được tự quyết định các ưu tiên phát triển của mình. Vào năm 1991, ông mở rộng quyền tự quyết này tới các thôn làng. Tiếp tới vào năm 1998, khi trao quyền lực cho quốc hội, ông tự mình giới hạn quyền lực của nhà vua và chuyển giao cho một hội đồng các bộ trưởng. Ông cũng thúc đẩy một bộ luật cho phép quốc hội quyền được kêu gọi bỏ phiếu tín nhiệm với Vụa bởi ông cho rằng điều này giúp đảm bảo cho phúc lợi tương lai của đất nước. Năm 2001, ông đưa ra đệ trình một điều luật cho phép Bhutan có hệ thống hai đảng tồn tại độc lập. Năm 2019 Bhutan đã có bốn chính đảng tham gia tranh cử thành lập chính phủ. Ba đời thủ tướng tới nay đại diện của ba chính đảng khác nhau.

Vào năm 2006, khi ở tuổi 61, nhà vua đã chủ động nhường lại ngôi vị như đã tự hứa. Nhà vua trẻ đời thứ năm (sinh năm 1980) kế tục các triết lý vương quốc từ lâu đời. Cũng giống như vua cha, ông đã giành khá nhiều thời gian viếng thăm từng vùng miền trên khắp đất nước, để trực tiếp đánh giá những dự án phát triển. Tất cả người dân đều có thể tiếp cận nhà vua và nói lên tâm tư của mình. Nhà vua dã nhiều lần giảng giải cho người dân về các thiết chế dân chủ, hệ thống bầu cử tự do, để họ tự nâng cao tầm hiểu biết, tự biết làm chủ vận mệnh của mình trong thiết chế mới.

Tiến trình đổi mới trong hòa hợp, an lạc của vương quốc Bhutan đã làm kinh ngạc rất nhiều giới học giả, chính khách trên thế giới. Có rất nhiều lý giải được đưa ra nhưng cốt lõi chính là bởi tâm nguyện vị tha, không bị lợi ích vị kỷ chi phối của những nhà lãnh đạo đã mang lại cho người dân Bhutan niềm tin tưởng vào Kỷ nguyên vàng của đất nước.

 “Trong suốt thời gian ở ngôi vị này, tôi sẽ không bao giờ lãnh đạo quý vị như một nhà vua. Tôi sẽ phụng sự quý vị như một người con đối với cha mẹ mình,  chăm sóc quý vị như  tình huynh đệ, bảo vệ quý vị như những bậc làm cha, làm mẹ. Tôi sẽ mang lại cho quý vị mọi điều và không giữ gì cho mình cả…tôi không có bất kỳ mục đích cá nhân nào ngoài mong muốn làm viên mãn mọi mong nguyện của quý vị. Tôi sẽ luôn phụng sự quý vị, cả ngày lẫn đêm, bằng tình thương, sự nhẫn nại, công bằng và bình đẳng….Bhutan không muốn tách mình khỏi thế giới bên ngoài và trở thành một ốc đảo ở thế kỷ 21. Chúng tôi muốn sự thịnh vượng nhưng không phải bằng sự trả giá cho những truyền thốngvăn hóa tôn quý của mình. Chúng tôi mong muốn lợi ích của công nghệ hiện đại nhưng phải phù hợp với nhu cầu và năng lực nội tại của mình.”

Đây là một phần bài diễn thuyết đầy xúc cảm, hùng biện về mong nguyện của nhà vua khi đăng ngôi. Đây cũng là tâm nguyện của những nhà lãnh đạo thực hành con đường Bồ tát, luôn biết điều phục các dòng tâm tham lam, ích kỷ, trưởng dưỡng những năng lực làm lợi ích tối đa cho tha nhânchúng sinh. Đây có lẽ là lý do chính mà Liên Hiệp Quốc quyết định đưa chỉ số GNH, trong đó có lý tưởng phụng sự của nhà lãnh đạo, trở thành một mẫu hình mới trong kỷ nguyên phát triển ngày nay.

La Sơn Phúc Cường

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Phật học (số 04/2020)

Tài liệu tham khảo:

  1. Tsa Yig Chenmo (English Translation), Sikkim and Bhutan: 21 years on the Northeast Frontier, 1887-1908, Translated by John White, p.02.
  2. Sđd, Translated by John White, p.03.
  3. Yonten Dargye, History of The Drukpa Kagyud School in Bhutan (12th to 17th Century A.D), National Library of Bhutan, 2001, p.32.
  4. Seiji Kumagai, Bhutanese Buddhism and its culture, Vajra Book- Dragon Pub., 2014, p.68.
  5. Karma Phuntsho, The History of Bhutan, Random House India Pub., 2013, p.115.
  6.  Wangchuck Dynasty, 100 years of Enlightened Monarchy in Bhutan, Lhama Dorji.

 nhà vua cõng kinh tạng lên núiNhà vua cõng kinh tạng lên núi
nhà vua viếng thăm tự việnNhà Vua thăm tự viện
Nhà vua đỉnh lễNhà vua đảnh lễ
Nhà vua và các tu sĩ (1)Nhà vua và các tu sĩ

Tạo bài viết
02/10/2012(Xem: 27788)
Chùa Từ Ân tọa lạc trên một vùng đất rộng khoảng 6 sào Trung Bộ (3.000 m2), nằm bên bờ Bắc sông Hương, cách ngôi quốc tự Thiên Mụ khoảng 400 mét về hướng Đông. Vùng đất này, (theo nhà Bác học Lê Quý Đôn, trong sách Phủ Biên tạp lục) thì từ nhiều năm về trước có tên là xã Hà khê (đối diện là xã Thọ Khang bên bờ Nam Sông Hương), thuộc huyện Kim Trà. Trải qua một thời gian sau đó lại đổi là xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, rồi lại đổi là làng Xuân Hòa, xã Hương Long, huyện Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên. Năm Bính Dần, 1986, lại đổi là thôn Xuân Hòa, Xã Hương Long Thành Phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện này chùa được gắn biển số nhà 108 đường Nguyễn Phúc Nguyên, Thành phố Huế.
Môi trường sinh thái là bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan tới sự sống con người. Nó là tập hợp các sinh vật, cùng với các mối quan hệ khác nhau giữa các sinh vật đó và các mối tác động tương hỗ giữa chúng với môi trường. Môi trường sinh thái có mối quan hệ mật thiết đối với sức khỏe của con người. Nếu môi trường sinh thái trong lành, thì cuộc sống con người khỏe mạnh; còn nếu môi trường ô nhiễm thì cuộc sống con người dễ ốm đau, bệnh tật.
Trong một chuyến công du hiếm hoi dưới sự giám sát chặt chẽ của chính phủ tới khu vực này vào tuần trước, một nhà báo của Reuters đã nhìn thấy những bức chân dung trong lớp học, đường phố, cơ sở tôn giáo, nhà ở và phòng ngủ của một nhà sư Phật giáo.