Pháp Thoại An Cư

25/08/20225:52 SA(Xem: 828)
Pháp Thoại An Cư
PHÁP THOẠI AN CƯ 
Trưởng Lão Hòa Thượng Giới Đức
Ngày Thứ Nhất
PHÁP THOẠI 01
(Tối ngày 16/6 ÂL)

huyen khong son thuong - phap thoai an cu 1
Chúng ta vừa làm lễ xong, đã nguyện 3 lần câu Pāli: Imasmiṃ vihāre imaṃ temāsaṃ vassaṃ upemi (Con xin nguyện an cư suốt ba tháng tại ngôi chùa này).

Nguyện là đã thốt ra lời trước Tam Bảo rồi, linh thiêng lắm, không chơi giỡn được đâu, phải nghiêm túc chấp hành. Vậy trong ba tháng an cư này, từ hôm nay cho đến ngày 16/9 ra hạ, không ai được đi đâu, lại cấm tuyệt đi đêm, ngoại trừ ốm bệnh phải đi bệnh viện. Nếu có việc đột xuất bất khả thì phải trình báo, xin phép chư tỳ-khưu trong Ban Tri Sự, Quản Chúng... Nếu thầy tổ, cha mẹ bị bệnh, phật tử ở xa thỉnh mời việc quan trọng hoặc có việc của Tăng giao thì được đi không quá 7 ngày. Trong trường hợp này, vị tỳ-khưu phải lên chánh điện, thắp hương, chí thành đảnh lễ rồi nguyện: Anto sattāhe paṭinivattissāmi (Con nguyện sẽ trở về trong vòng 7 ngày). Tuy nhiên, nếu mặt trời mọc sớm ngày thứ 7 mà chưa về chùa thì xem như bị “đứt hạ!” Đứt hạ có nghĩa là mùa an cư ấy, vị ấy không được tính thêm tuổi hạ, coi như mất tuổi hạ.

An cư tạm hiểu là “ở yên”. Quanh năm thân tâm chúng ta không yên; không yên do áp lực công việc trong ngoài (suốt 5,6 tháng qua, chùa đã và đang xây dựng nhiều công trình); không yên do thân khẩu ý của chúng ta còn thô tháo; không yên do tham giận bất thường; không yên do còn ham chơi phù phiếm, không yên do nội tâm chưa được hoàn toàn kiểm soát; không yên do hằng trăm cái ngoại trần hấp dẫn lôi cuốn mê ly tác động, chi phối làm cho cái tâm của chúng ta nhúc nhích, máy động hoài, không yên được.

Vậy, an cư thì phải thật sự “ở yên” các con ạ! Trước là để báo đền ân đức Tam Bảo, sau đó là báo đền ân đức của chư thí chủ gần xa; sau rốt nữa là chúng ta sẽ nếm thưởng được, hân thưởng được năng lượng an lành của Pháp. Còn nữa, chỉ cần “ở yên” thôi là chúng ta tích lũy không biết bao nhiêu pháp lành, bao nhiêu công đức, bao nhiêu sự thành tựu trong đời sống tu tập để khỏi phải uổng phí mái đầu xanh đã tự nguyện “cát ái ly gia”.
Ở yên có nghĩa là mắt tai mũi lưỡi thân ý phải yên, phải lặng; nói cách khác là cả ba nghiệp thân, khẩu ý đều yên, đều lặng.

Thân yên vì thân không sát sanh, trộm cắp, tà hạnh. Khẩu yên là vì khẩu không nói dối, không nói lời hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, rỗng không, vô ích, Ý yên là ý không tham, không sân, không tà kiến. Hoá ra chỉ ở yên thôi là chúng ta đã đang sống trong 10 nghiệp lành. Oai lắm! Xứng đáng lắm!

Nói thì nghe dễ vậy, nhưng làm thế nào để cho thân, khẩu, ý đều được yên, được lặng? Ngày này sang ngày khác, cái thân chúng ta luôn luôn cử động; cái tay cái chân luôn nhúc nhích, di động, chuyển động, đi đứng nằm ngồi, lại còn trăm công nghìn việc về cây, đá, cát, sạn, hoa cỏ... đổ mồ hôi hột. Vậy thì khi bắt nó ngồi yên thì nó phản ứng, nó “làm nũng” đủ kiểu! Cái khẩu cũng tương tợ vậy. Nó quen nói lung tung, lang tang. Nó quen bàn những chuyện vô ích. Nó quen nói xấu, tốt người này, khen, chê người kia. Nó quen say sưa chuyện trên trời dưới đất. Nó quen kể chuyện “tào lao”, “xịt bộp”. Nó quen cười ha ha, cười hi hi, cười tếu táo để nhạo người này, chọc người nọ. Nó quen tranh cãi, hiếu thắng. Nó quen thốt ra lời cộc cằn, thô lỗ. Nó quen mách lẻo, đấu láo, “buôn dưa lê”, “đâm bị thóc, thọc bị gạo”... Có nghĩa là rất nhiều người trong chúng ta, cái khẩu nó thiếu sự yên lặng cần thiết. Cái thân, cái khẩu đã vậy nhưng cái ý thì lại còn trầm trọng hơn, nhiều chuyện hơn, đa sự hơn. Nó lầm thầm đêm, lầm thầm ngày. Nó nghĩ tưởng lung tung. Nó là con vượn chuyền cành, nhảy nhót chí chóe bắt hoa bẻ trái triền cao, lũng thấp. Nó là con ngựa bất kham phóng vọt dặm bụi mịt mù, không kể dặm đường xa ngái, đầu non cuối biển! Nó nghĩ đến những niềm vui, những thích khoái qua mắt tai mũi lưỡi thân. Nó chơi các trang mạng xã hội Facebook, Twitter... Nó vọng tưởng non này, núi kia.. Nó như Tôn Hành Giả, “cân đẩu vân” một cái thì ở đâu cũng tới: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hay a-tu-la chỉ trong nháy mắt!

Vậy thì muốn cho thân khẩu ý ở yên thì chúng ta phải ngồi yên, ngồi lặng; yên lặng từ ngoài da cho đến trong ruột, trọn vẹn cả thân tâm. Muốn làm vậy, muốn được vậy thì chúng ta phải tập thiền. Thầy nói tập thiền chứ chưa nói thiền định hay thiền tuệ. Tập thiền ở đây là ta tập ngồi yên, rứa thôi, ngồi yên như chơi vậy, chẳng có bản ngã sở đắc gì khi ta ngồi yên như ngồi chơi, có phải vậy không?

Bắt đầu ngày mai, ngoại trừ nhóm nhà trù bếp núc củi lửa, tất cả đại chúng, chư tăng ni chúng điệu chỉ lao động buổi sáng từ 7 giờ đến 9g30 là nghỉ; 10g30 chư tăng đi khất thực, trong chùa thôi, do thí chủ đặt bát mỗi ngày; 11g, 11g30 độ ngọ; 12g đến 13g tịnh chỉ; 13g 30... chúng ta bắt đầu tập thiền tịnh 2 thời buổi chiều (một thời cho Tăng và một thời cho Ni và tu nữ); buổi tối sau thời khoá tụng niệm, chúng ta có thời thiền tập thể (gồm tất cả chư tăng, chúng điệu và cả cư sĩ công quả trong chùa) cho đến 20 giờ. Và thời thiền nào thầy cũng có một pháp thoại ngắn từ 20 đến 30 phút.

Sau 20 giờ, chư tỳ-khưu ôn kinh, luật và tập tụng đọc Pāṭimokkha (Tứ thanh tịnh giới) để chuẩn bị cho các ngày sám hối, đọc tụng 227 học giới vào các ngày 15 và 30 tại các chùa (sa-di cũng tập tụng đọc). Chúng điệu thì học kinh, luật theo chương trình của sư giáo thọ.

Thế đấy, khái quát là vậy! Thầy nói ngắn nhưng cũng tạm đầy đủ những thông tin cần thiết. Cảm ơn đại chúng đã chú tâm lắng nghe. Và phải nguyện chấp hành nghiêm túc đó nghe!

(Cả chánh điện hoan hỷ cất tiếng “ Sādhu, sādhu – lành thay” vang rền...)


Ngày Thứ Hai
PHÁP THOẠI 2
(Chiều ngày 17/6 ÂL).

Hôm nay trước khi tập ngồi yên, thầy sẽ giảng nói cách thức ngồi yên, ngồi thoải mái, ngồi như chơi là thế nào.

Có lần, đã lâu lắm, thuở thầy Chí Mậu, trụ trì chùa Từ Hiếu còn tại tiền, và thầy Thái Hoà còn là giáo thọ sư ở đấy, thầy có lên chùa Từ Hiếu, một lần là giảng về Tứ Diệu Đế cho một lớp huynh trưởng cấp Tín hay cấp Tấn gì đó, một lần là do Ôn Thiện Hạnh mời lên về viếc góp ý tạo cảnh. Một lần giảng về Tứ Niệm Xứ cho Ni chúng tại ngôi chùa sát chùa Từ Hiếu (quên tên). Khi thơ thẩn dạo chơi trong vườn với thầy Thái Hoà, thầy thấy có một tịnh thất đề tên là Ngồi Yên. Hay! Thầy tự nghĩ, ngồi yên chứ không nói thiền định hay thiền tuệ. Mà ngồi yên như vậy là thiền rồi, thiền vắng lặng, thiền rỗng rang, thiền tự nhiên... gì gì cũng được cả. Nó lại còn là từ thuần Việt.

Thầy để ý cái cụm từ “ngồi yên” từ đó. Chắc chắn tác giả cái cụm từ này là của Ôn Nhất Hạnh. Và tại Làng Mai cũng có sử dụng một cụm từ rất ấn tượng, là “Một Ngày Làm Biếng”. Ngày ấy trong thiền viện ai cũng được tự do, tự do trong yên lặng để đọc sách, dạo chơi, uống trà hay ngủ nghỉ. Tuyệt! Nhưng cụm từ “Làm Biếng” hơi nguy hiểm. Nên ngày chủ nhật, theo thông lệ, thầy và chư sư đi trì bình, trưa dùng trong bát những gì khất thực được, buổi chiều mọi người được thư xả, tự do trong yên lặng. Buổi tối, chủ nhật chúng ta cũng có buổi trà đàm giữa thầy và trò như thường lệ.
Trở lại với việc ngồi yên. Ngồi yên và thiền là như thế nào!

Gọi ngồi yên nhưng chúng ta sẽ không ngồi yên được. Muốn ngồi yên thì thân phải yên, tâm phải yên. Nhưng hãy để ý nhé! Thân có yên được đâu, nó cựa quậy, nó đau, nó mỏi, nó nhức, nó tê chỗ này, nó ngứa chỗ nọ, nó uể oải, nó buồn ngủ... Và tâm cũng vậy, nó trầm trệ, nó dã dượi, nó lừ đừ, nó nhúc nhích, nó nhảy nhót lung tung... Nói tóm là nó sẽ phát sanh những chướng ngại mà thiền gọi là 5 triền cái. Triền là quấn, là vấn. Cái là che lấp, che đậy. Nói cho rõ nghĩa là 5 cái pháp này nó quấn, nó vấn chúng sanh trong phiền não, khổ đau; nó che đậy, che lấp cái tâm, cái trí vốn trong sáng của chúng ta. Đó là:

- Hôn trầm, thuỵ miên: Hôn trầmdã dượi, lừ đừ, thờ ơ, lãnh đạm, đãng trí, buông xuôi, biếng nhác, tiêu cực, thụ động, vô ký (không ghi nhận). Đây là những trạng thái bệnh hoạn của tâm sở, sự mệt mỏi của tâm sở. Thuỵ miên là mê ngủ, buồn ngủ; là trạng thái mệt mỏi của thân.

- Nghi: Là trạng thái phân vân, lưỡng lự, do dự, bất nhất, bất quyết, ngần ngại, ngờ vực, hốt hoảng, không định hướng; nghi ngờ cả đối tượng thiền, có khi nghi ngờ cả khả năng của chính mình (Đây là nghĩa nghi trong khi tập thiền, khác với nghi trong kinh điển với sinh hoạttu tập thường nhật là nghi Phật, nghi Pháp, nghi Tăng, nghi nhân quả nghiệp báo, nghi luân hồi tử sanh...)

- Sân: Là nóng nảy, bứt rứt, khó chịu, bực bội... do khi ngồi bị đau nhức, tê, ngứa... (Chúng là nguyên nhân làm cho tâm sân phát sanh).

- Trạo hối: Nói đầy đủ là trạo cửhối quá.

Trạo là rung lắc, lay động; cử là cất lên, đưa lên, dậy lên, nổi lên... Vậy trạo cửtrạng thái tâm dao động, hưng phấn quá cả tiêu cực lẫn tích cực, suy nghĩ vẩn vơ, phóng tâm, vọng tưởng, hoang tưởng, hồi tưởng quá khứ, mơ mộng tương lai, cuốn theo hiện tại. Hối quá là nuối tiếc dĩ vãng, tưởng nhớ quá khứ, ăn năn những việc đã qua.

Nếu hôn trầm, thuỵ miên là chìm dưới đối tượng, đọng dưới đối tượng, ngủ dưới đối tượng thì trạo hối là phóng trên đối tượng, là ra ngoài đối tượng, trượt trên đối tượng, bồng bềnh, lang thang, rong chơi chân trời, góc bể...

Tại chỗ này, mọi người nên lưu ý: Chỉ có rà soát theo hơi thở, nắm bắt ngay hơi thở, chú tâm liên tục theo hơi thở vào ra; nghĩa là luôn luôn nắm giữ đối tượng hơi thở đừng để trượt lên trên cũng như chìm xuống dưới thì sẽ loại trừ hôn trầm, thuỵ miêntrạo hối ngay tức khắc.
Triền cái thứ năm là dục.

- Dục này là tham dục, ái dục. Trạng thái sơ khởi của nó là muốn cái này, muốn cái kia, muốn thay đổi cách ngồi, muốn nghỉ ngơi một chút, muốn mát mẻ một chút, muốn thư giản một lúc... Tất cả chúng đều là chướng ngại cho việc tập thiền. Cường độ dục cao hơn, nguy hiểm hơn là những ham muốn ngũ dục bắt đầu sanh khởi; ấy là tơ tưởng hình bóng đẹp, người thương, người yêu, vợ con trong quá khứ hoặc trong hiện tại. Rồi là những bài hát, bài ca yêu thích, nhưng âm thanh mê ly, những mùi hương quyến rũ, những món ăn thích khoái, những xúc chạm êm ái... và ý thì chìm trong các dục ngũ trần. Rồi còn nào là ước mơ thiên đường, tiên nữ, các cảnh trời cao sang thoả mãn các dục vật chất... Rồi còn ước mơ đắc định, các cảnh trời sắc giới, vô sắc giới, thần thông, phép lạ...

Chính 5 triền cái ấy che tấp tâm trí chúng ta, làm cho chúng ta không thấy được bản chất thực tánh, tâm tròn sáng, viên minh, vô nhiễm, trong lặng của chúng ta.

Vậy muốn thân yên, tâm yên thì ta bắt đầu đề cập đến các phương pháp tập thiền. Tập thiền để đối trị với 5 triền cái. Thiền định thì có khả năng làm lắng dịu 5 triền cái. Thiền tuệ thì nhổ tận, nhổ tiệt 5 triền cái ấy luôn.

Hôm nay thầy chưa nói đến các phương pháp ấy. Mọi người chỉ cần ngồi và thở để tự xem mình có những chướng ngại gì. Hãy để tâm rỗng rang, trong sáng, không dính mắc gì cả để tự chứng nghiệm cái gì đang xẩy ra nơi thân và nơi tâm mình. Cái rỗng rang, trong sáng, không dính mắc tương tự như câu kinh Kim Cang mà ngài Huệ Năng đã giác ngộ đấy: Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm! Nếu ai đã từng đọc Thiền Đông Độ thì trạng thái ngồi để tâm rỗng rang không dích mắc gì cả ấy nó tương tợ Vô Tâm của Đạt Ma, Vô Niệm của Huệ Năng. Và khi đọc các thiền sư Việt Nam thì nó cũng đồng với Vô Tâm của Trần Nhân Tông trong câu thơ: Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền (Vô tâm ngắm cảnh hỏi chi thiền).
Bây giờ chúng ta ngồi nhé, 45 phút thôi.





Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
Khi chứng kiến thế giới gặp khó khăn và khủng hoảng, chúng ta thường cảm thấy rất bất lực và choáng ngợp khi thấy mình không thể làm gì để làm lợi ích mọi người. Tăng đoàn IMI gần đây đã thỉnh cầu Lama Zopa Rinpoche lời khuyên dạy những lời cầu nguyện và hành trì vào giai đoạn này. Ngài đã khuyên các hành giả trì tụng một số lời cầu nguyện như sau:
Sau đây là một lựa chọn những lời phản ứng từ các nhân vật lãnh đạo tâm linh và cộng đồng trên khắp thế giới. Một số tuyên bố công khai về sự mất tinh thần và kêu gọi sự bình tĩnh, trong khi theo sau là những người khác lại biểu hiện nỗi đau buồn thấu tâm can không thể tránh khỏi.