Bạn Trà

12/01/20234:07 SA(Xem: 904)
Bạn Trà

BẠN TRÀ
Thích Trung Hữu

tra_dao-removebg-previewTôi uống trà từ khi tôi còn rất nhỏ, hình như chưa được mười tuổi, thật ra là uống ké, hay nói đúng hơn là uống trà dư của ba tôi. Ba tôi uống trà mỗi ngày, một ngày ít nhất một bình vào buổi sáng. Ngày nào có khách tới chơi thì nhiều bình. Bình trà là loại bình lớn bằng sành, được giữ ấm trong cái vỏ làm bằng vỏ trái dừa khô. Đến tối má tôi kiểm tra bình trà, nếu còn thì bà lấy uống, nói là bỏ uổng. Và bà cũng đưa cho tôi uống, bảo, “Con uống đi, trà vẫn còn ấm nè, ngon lắm”. Đó là loại trà con dơi hoặc trà bánh ú vì bao trà in hình con dơi và có hình dáng như cái bánh ú. Một gói như vậy pha được chừng hai ba bình. Mùi vị có lẽ giống như trà lài bây giờ.

Khi tôi đi học đại học ở Đà Lạt thì tôi uống trà thường xuyên hơn. Vì Đà Lạt lạnh nên tôi uống trà cho ấm. Từ khi tôi đi học ở Ấn Độ, tôi lại càng uống trà nhiều hơn nữa. Lần đầu tiên xa quê hương đất nước như vậy nên rất buồn và nhớ người thân. Và thế là đem trà ra uống. Trà Việt Nam chính hiệu, mang từ Việt Nam qua. Người Ấn không uống trà xanh như mình mà họ uống trà sữa, gọi là Chai, là hỗn hợp của trà đen, sữa và các loại gia vị khác. Tôi mời những người bạn Ấn Độ thưởng thức trà xanh thì họ không uống được, cho là đắng. Và không biết từ khi nào, trà trở thành người bạn không thể thiếu của tôi. Một người bạn trung thành, chung thủy và lúc nào cũng có mặt khi tôi cần. Nếu lúc đó mà không có trà làm bạn, tôi không biết mình có thể “tồn tại” nỗi những ngày đầu xa xứ như vậy hay không nữa. Hơn nữa, ở Ấn Độ, mùa đông rất lạnh, lạnh hơn Đà Lạt nhiều, ở trong phòng phải có lò sưởi mới chịu nỗi. Nhưng đối với tôi, đó lại là dịp rất tốt để thưởng thức trà, nhất là buổi sáng và buổi tối. Tôi bật lò sưởi lên, rồi pha bình trà nóng, thường thì một mình, nhưng cũng có khi có vài huynh đệ nữa đến chơi, vừa nhâm nhi chén trà, lại nghe mùi thơm hoa sữa len lén bay vào. Sau này học xong rồi về Việt Nam, tôi thỉnh thoảng vẫn nhớ cái cảm giác đó, một chút cô đơn nhưng thật bình yên và hạnh phúc vô cùng!

Cũng không biết từ khi nào, trà cũng trở thành nguồn cảm hứng cho mọi sáng tác của tôi. Khi nào muốn suy nghĩ hay sáng tác cái gì thì tôi đều phải uống trà. Không có trà thì không suy nghĩ tốt được. Khi chuẩn bị viết bài này thì tôi đã pha sẳn một bình trà rồi. Tôi rót trà vào ly đặt kế bên laptop, vừa thưởng thức, vừa sáng tác. Trà càng ngon thì tư tưởng càng được thăng hoa. Tôi thích uống loại trà búp hay trà nõn, mà phải tự nhiên hoàn toàn chứ không pha ướp bất cứ thứ gì, kể cà ướp nhân sâm như trà King. Trà rót ra nước phải xanh trong, có mùi thơm nhẹ nhàn thoang thoảng và vị thì hơi đắng chát nhưng có cái hậu ngọt ngọt sau khi uống qua khỏi cổ họng. Tôi có dịp thưởng thức trà của một số nước như Nhật, Tích Lan, Anh… thấy rằng trà Việt Nam là ngon nhất.

Người ta nói uống trà là thú vui tao nhã, thanh cao. Thú vui cuộc đời nói chung có hai loại là thanh cao và không thanh cao. Thú vui không thanh cao là thú vui nghiên về vật chất, chạy theo tình tiền danh lợi, tranh giành được mất hơn thua; nó bắt nguồn và cũng là nguyên nhân của ích kỷ và kết quả là đưa đến khổ đau cho mình và người khác. Còn thú vui thanh cao thì nghiên về tinh thần, tình cảm, không ích kỷ tranh giành mà là chia sẻ. Càng chia sẻ thì niềm vui càng phong phú. Cho nên uống trà phải có bạn, còn làm thơ phải có người thưởng thức là vậy.

Nói uống trà là một thú vui thanh cao, tao nhã, bao hàm hai ý nghĩa. Một là bản thân việc uống trà là thanh tao và hai là uống trà làm cho tâm hồn người ta trở nên thanh tao. Rượu làm cho người ta say, tiền làm cho người ta mê, địa vịdanh tiếng làm cho tâm hồn người ta đen tối và gây ra tội lỗi; còn uống trà chỉ làm cho tâm hồn người ta tỉnh táothánh thiện hơn mà thôi. Từ xưa đến nay có rất nhiều câu chuyện về trà nhưng chưa thấy có câu chuyện nào nói rằng người ta uống trà rồi gây ra tội lỗi, mà chỉ có những câu chuyện về sự cao quý của trà mà thôi, như trong truyện Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm của nhà văn Nguyễn Tuân. Ngoài ra còn có không biết bao nhiêu là triết lý nhân sinh liên quan đến trà như triết lý sau đây chẳng hạn: “Cuộc sống cũng giống như cách pha trà! Hãy đun sôi cái Tôi của bạn, làm bay hơi mọi Lo Lắng, pha loãng mọi Buồn Phiền, lọc đi mọi Sai Lầm, và bắt đầu thưởng thức sự Hạnh Phúc”. Bản thân tôi lúc cảm hứng cũng có viết vài bài thơ về trà, như bài thơ sau đây:

Không ham địa vị giàu sang
Chỉ mong cuộc sống bình an mỗi ngày
Tiền vô rĩ rã đủ xài
Trà ngon đủ uống bạn bè đủ chơi
Khi buồn đi quét lá rơi
Khi vui đọc sách thảnh thơi tâm hồn
Tham nhiều thì khổ càng nhiều
Thôi tham ít ít còn yêu mến đời
Công danh dù có bằng trời
Không bằng một tiếng... bạn ơi uống trà.

Giờ thì tôi uống trà gần như cả ngày. Mọi người xung quanh tôi nói vui rằng mai mốt tôi chết khỏi liệm bằng xác trà vì toàn thân tôi đều là trà rồi. Có lẽ tôi đã nghiện trà. Nghiện thì không tốt rồi. Nhưng so với các thứ nghiện khác thì nghiện trà không tác hại bằng. Huống chi khoa học chứng minh rằng trà rất tốt cho sức khỏe, như chống lão hóa… Thảo nào ai nhìn tôi cũng nói rằng tôi trông trẻ hơn tuổi rất nhiều. Mà tôi cũng thấy vậy nữa… mới ghê chứ.

Thích Trung Hữu



Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
21/01/2018(Xem: 18066)
12/10/2016(Xem: 16328)
12/04/2018(Xem: 16911)
06/01/2020(Xem: 7566)
24/08/2018(Xem: 7110)
28/09/2016(Xem: 22114)
27/01/2015(Xem: 19948)
01/08/2016(Xem: 10018)
Bài này là cuộc phỏng vấn qua email trong tháng 1/2023 với nhà sư Kunchok Woser (Don Phạm), người xuất gia theo truyền thừa Phật Giáo Tây Tạng, sau nhiều năm tu học ở Ấn Độ đã tốt nghiệp văn bằng Lharampa, học vị cao nhất của dòng mũ vàng Gelug, và bây giờ chuẩn bị học trình Mật tông.
Nhân dịp Tết cổ truyền dân tộc - Xuân Quý Mão, thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tôi có lời chúc mừng năm mới, lời thăm hỏi ân cần tới tất cả các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tới chư tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức Tăng Ni, cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; kính chúc quý vị một năm mới nhiều an lạc, thành tựu mọi Phật sự trên bước đường phụng sự Đạo pháp và Dân tộc!
Trong ngày hội truyền thống dân tộc, toàn thể đại khối dân tộc đang đón chào một mùa Xuân Quý mão sắp đến, trước nguồn hy vọng mới trong vận hội mới của đất nước, vừa trải qua những ngày tháng điêu linh thống khổ bị vây khốn trong bóng tối hãi hùng của một trận đại dịch toàn cầu chưa từng có trong lịch sử nhân loại, cùng lúc gánh chịu những bất công áp bức từ những huynh đệ cùng chung huyết thống Tổ Tiên; trong nỗi kinh hoàng của toàn dân bị đẩy đến bên bờ vực thẳm họa phúc tồn vong,