08

15/11/201012:00 SA(Xem: 11935)
08


TRUNG PHONG TAM THỜI HỆ NIỆM

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Ký
Lão pháp sư Thích Tịnh Không giảng tại Úc Châu Tịnh Tông Học Viện
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Chư vị đồng học! 

Xin xem tiếp tiết thứ hai của đoạn thứ hai “Một đời thành Phật” : 

 “Kinh dạy: Di Đà Niết Bàn, Quán Âm liền bổ thành Phật, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, cõi tên Chúng Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm. Sau khi đức Phật ấy diệt độ, Đại Thế Chí Bồ Tát liền bổ vào ngôi Phật, hiệu là Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai”. Đoạn kinh này thuyết minh Tây Phương Cực Lạc thế giới thật là thù thắng khôn sánh, không giống với các cõi Phật phương khác. Thông thường, các cõi Phật khác sau khi Phật diệt độ sẽ có một khoảng thời gian [không có Phật], thời gian ấy dài hay ngắn không giống nhau. Nói chung, sẽ giống như trong thế giới Sa Bà của chúng ta, Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ rồi, Bổ Xứ Bồ Tát hiện đang ở trên trời Đâu Suất; thọ mạng trên trời Đâu Suất hết rồi mới thị hiện thành Phật trong thế gian này. Thọ mạng cõi trời Đâu Suất rất dài, chúng ta biết một ngày trên trời Đâu Suất bằng bốn trăm năm trong nhân gian. Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta: Một ngày trên trời Đao Lợi bằng một trăm năm dưới trần, thọ mạng của Đao Lợi Thiên là một ngàn năm. Dạ Ma Thiên nhiều gấp bội: Một ngày trên Dạ Ma Thiên bằng hai trăm năm trong nhân gian; thọ mạng là hai ngàn năm. Trời Đâu Suất lại tăng gấp bội: Một ngày trên Đâu Suất bằng bốn trăm năm trong nhân gian; thọ mạng là bốn ngàn năm. 

 Chư vị cứ tính ra là biết ngay: Một ngày bằng bốn trăm năm, mỗi năm lại có ba trăm sáu mươi lăm ngày mà lại có đến bốn ngàn năm lận; vì thế, trong kinh Di Lặc Hạ Sanh nói: Đại khái nếu tính theo năm tháng trong nhân gian thì thọ mạng cõi trời Đâu Suất là năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm. Sau năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm, Di Lặc Bồ Tát mới từ trời Đâu Suất giáng sanh thị hiện thành Phật trong nhân gian. Đâu SuấtTri Túc Thiên, là nơi cư trụ của Bổ Xứ Bồ Tát. Vì vậy, nói thật ra, thời gian có Phật trong thế gian này của chúng ta rất ít, thời gian không Phật rất dài. Quý vị thấy pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật là một vạn hai ngàn năm, phải năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm sau Di Lặc Bồ Tát mới giáng sanh; trong đêm tối dài dằng dặc ấy, chúng sanh đau khổ thay! 

 Thế nhưng, Phật, Bồ Tát hết sức từ bi, sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ, Di Lặc Phật chưa xuất sanh, trong khoảng thời gian đó làm thế nào đây? Chúng ta thấy trong kinh Địa Tạng, Thích Ca Mâu Ni Phật đã ủy thác Địa Tạng Bồ Tát thay Phật giáo hóa chúng sanh. Sứ mạng của Địa Tạng Bồ Tát rất lớn, trong một thời gian dài dằng dặc như vậy phải giúp đỡ chúng sanh khốn khổ, hoạn nạn. Chúng ta thấy Tây Phương Cực Lạc thế giới khác xa thế giới của mình: A Di Đà Phật thị hiện nhập Niết Bàn, Quán Âm Bồ Tát lập tức thị hiện thành Phật. Quán Âm Bồ Tát thành Phật, thế giới ấy không gọi là Cực Lạc nữa, mà đổi thành Chúng Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm thế giới. Quán Âm Bồ Tátđức hiệuPhổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai. Thích Ca Mâu Ni Phậtchúng ta tiên đoán sự kiện trong vô lượng kiếp sau. A Di Đà Phật vô lượng thọ, A Di Đà thành Phật đến nay mới chỉ mười kiếp; nói cách khác, mới thành Phật chưa lâu. Cực Lạc thế giới hết sức thù thắng! 

 Quán Âm Bồ Tát thị hiện thành Phật, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai. Sau khi lão nhân gia nhập diệt, Đại Thế Chí Bồ Tát lại thị hiện thành Phật. Lúc đó, chẳng gọi là Đại Thế Chí Bồ Tát, mà gọi là Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai. Thật đấy! Bồ Tát công đức bảo vương thù thắng khôn sánh, quý vị thấy Ngài trong vô lượng kiếp lần vô lượng kiếp tu tập, tích lũy công đức, thị hiện gương sáng cho chúng ta thấy. Cớ sao chúng ta không thể tích cực đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức? Tuy Pháp Thân Bồ Tát đã chứng đắc tâm tánh đến mức cùng cực, Ngài vẫn vì hết thảy chúng sanh thị hiện tu đức, từ bi đến mức độ cùng cực; dạy dỗ chúng ta, làm gương cho chúng ta thấy. Nếu chúng ta không giác ngộ, chẳng thể lãnh hội, làm sao xứng đáng với Phật, Bồ Tát đã vì chúng ta thị hiện, diễn nói? 

 Đoạn tiếp theo là: “Lại nữa, Thích Ca giáo hóa suốt một đời”, ý nói Phật Thích Ca Mâu Ni bốn mươi chín năm giảng kinh thuyết pháp, “chỉ riêng mình kinh Hoa Nghiêm giảng rõ cái lẽ một đời viên mãn, nhưng đến cuối cùng cái nhân viên mãn trong một đời lại nằm ngay trong hạnh nguyện Phổ Hiền, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Lại còn dùng những điều đó để khuyến tấn hải chúng trong Hoa Tạng. Hãy nghĩ đi, xét đi!” Tôi đã từng nhiều lần thưa cùng các đồng học rồi, phải suy nghĩ kỹ càng, chúng ta không phải là thượng căn, không phải lợi căn, nói miễn cưỡngcăn tánh bậc trung. Nói thật ra, Phật, Bồ Tát gia trì thọ mạng cho tôi. Nếu tôi không có thọ mạng, có thể nói là cả một đời này tôi chẳng thành tựu gì cả. Vì sao? Khi xưa, tôi theo thầy Lý, thầy Lý đau lòng rát miệng khuyên tôi tu học pháp môn Tịnh Độ, thậm chí còn nói: “Anh thấy từ xưa đến nay không ít tổ sư đại đức, đức hạnh, đạo đức, học vấn của các Ngài, chúng ta thật sự không thể sánh bằng”. Đúng là như vậy! “Chúng ta không thể viết được sách Yếu Giải như đại sư Ngẫu Ích, cũng không thể viết cuốn Sớ Sao như đại sư Liên Trì. Họ là những bậc đại trí huệ, đại đức hạnh, đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ”, thầy Lý nêu những thí dụ như vậy. “Nếu pháp môn này không đúng, các vị tổ sư đại đức, đại thiện tri thức ấy đều đi lầm đường”, thầy Lý bảo: “Chúng ta cũng lầm một phen đâu có sao!” Nói những lời như vậy để khuyên tôi, tôi rất cảm kích, nhưng vẫn không chết lòng trọn ý nơi pháp môn này. Chết lòng trọn ý học pháp môn này là vào năm Dân Quốc sáu mươi (1971) khi giảng kinh Hoa Nghiêm tại Đài Bắc. Lúc ấy tôi cũng thường ra ngoại quốc, bởi thế giảng kinh Hoa Nghiêm ở Đài Bắc cứ gián đoạn hoài, tôi nhớ phải gián đoạn chừng đâu mười mấy lần mà vẫn mới giảng được một nửa kinh, vẫn chưa giảng hoàn tất. Hàn Quán Trưởng vãng sanh rồi mà kinh Hoa Nghiêm giảng vẫn còn dang dở

 Mỗi lần về lại Đài Loan, tôi lại tiếp tục giảng kinh Hoa Nghiêm. Có một ngày đột nhiên nghĩ Thiện Tài đồng tử tu pháp môn nào? Nhân vì tôi giảng kinh Hoa NghiêmĐài Loan là giảng đồng thời hai bản Bát ThậpTứ Thập. Mỗi tuần giảng ba lần, hai lần giảng Bát Thập Hoa Nghiêm, một lần giảng Tứ Thập Hoa Nghiêm. Cả hai bản đều giảng nửa chừng rồi ngưng. Chú tâm tra cứu kinh, chú tâm xem đọc, thật bất phàm! Thiện Tài đồng tử tu pháp môn Niệm Phật. Thầy của Thiện Tài đồng tửVăn Thù Bồ Tát cũng phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Phổ Hiền cũng phát nguyện gần như hoàn toàn giống với Văn Thù Bồ Tát. Văn Thù, Phổ Hiền đều cầu sanh Tịnh Độ. Thiện Tài là môn sanh đắc ý của Văn Thù. Nếu môn sanh đắc ý chẳng thể kế thừa nguyện vọng của thầy thì chẳng phải là đệ tử truyền pháp! 

 Lại xem kỹ Thiện Tài đồng tử đi tham phỏng, gặp được vị đầu tiên là Cát Tường Vân tỳ-kheo (bản Bát Thập Hoa Nghiêm gọi là Đức Vân, bản Tứ Thập phiên là Cát Tường Vân) dạy Ngài pháp môn Niệm Phật. Nay ta gọi phương thức mà bản thân tỳ-kheo Cát Tường Vân tu hành là Ban Châu Tam Muội, niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ. Vị thiện tri thức đầu tiên mang ý nghĩa biểu pháp rất sâu, cổ nhân thường nói “tiên nhập vi chủ” (học pháp nào đầu tiên, pháp ấy là chủ). Pháp môn thứ nhất của Thiện Tài Đồng Tửniệm Phật, tiên nhập vi chủ! Lại xem đến cuối cùng, vị thiện tri thức thứ năm mươi ba tức vị cuối cùng, là Phổ Hiền Bồ Tát: Mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Tôi hiểu rõ: Cát Tường Vân tỳ-kheo khởi đầu, Phổ Hiền Bồ Tát kết thúc, từ đầu đến cuối Thiện Tài tu pháp môn nào? Tu pháp môn Niệm Phật! Lúc đó, tôi mới chết lòng trọn ý, không còn nghi hoặc nữa, chẳng còn do dự nữa, tôi hiểu rõ rồi. Huống chi Văn Thù, Phổ Hiền khuyên dạy bốn mươi địa vị Pháp Thân đại sĩ trong Hoa Tạng thế giới, những hải chúng trong Hoa Tạng thế giới này, ai nấy đều cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Chúng ta nghĩ xem: Trang nghiêm đến mức độ nào? 

 Lại xem thấy Tỳ Lô Giá Na Như Lai (đều là thị hiện cho chúng ta thấy), Tỳ Lô Giá Na Như Lai hoan hỷ, không nói: “Văn Thù! Phổ Hiền! Sao các ông đem đại chúng của ta đi hết vậy? Mọi người trong đạo tràng của ta đều mang qua thế giới Cực Lạc thì đạo tràng này biến thành cái gì đây? Chắc chắn trong thế gian của ta sẽ nảy sanh sự hiểu lầm. Đừng có nói là các ông đem toàn bộ mọi người đi, dù chỉ đem một, hai mống, ta cũng không chấp thuận!” Trong đạo tràng này, nhất là những người thông minh lanh lợi, dụng công tu hành, nếu quý vị đem đi hết mà không được lão hòa thượng của tự viện đồng ýlôi thôi liền! 

 Trong Hoa Tạng thế giới, chúng tôi tin Văn Thù, Phổ Hiền nhất định phải được Tỳ Lô Giá Na Phật đồng ý. Tỳ Lô Giá Na Phật chấp thuận: “Tốt lắm! Mọi người đều đi được”. Vì sao? Đến thế giới Cực Lạc thành Phật nhanh chóng, so với Hoa Tạng nhanh hơn nhiều lắm, rút ngắn thời gian. Tỳ Lô Giá Na Phật chẳng có tư tâm, Phật Phật đạo đồng, chư Phật chỉ có một nguyện vọng là hy vọng mọi người mau chóng thành Phật; nhanh nhất thì không gì hơn là đến thế giới Cực Lạc thân cận A Di Đà Phật. Bởi vậy, Văn Thù, Phổ Hiền suất lãnh bốn mươi địa vị Pháp Thân đại sĩ vãng sanh Cực Lạc thế giới, Tỳ Lô Giá Na Phật hoan hỷ! Chúng ta phải hiểu đạo lý này. Nếu chúng ta biết đạo tràng khác có vị thiện tri thức chân chánh, tôi không bằng vị ấy, các đồng học muốn đến thân cận vị ấy, tôi hoan hỷ, quý vị thân cận vị đó là đúng, không sai lầm chút nào! 

 Trước kia, tôi giảng kinhĐài Loan có những đồng học là sinh viên đại chuyên, nghe tôi giảng hai ba năm, đến bảo tôi: “Pháp sư! Tôi muốn qua Đài Trung thân cận thầy Lý”. Tốt lắm! Những vị ấy thông minh, tôi học từ thầy Lý. Họ thân cận thầy tôi là điều tôi cầu không được. Nếu thật sự có duyên phận thì phải thân cận vị thiện tri thức hạng nhất. Vị thiện tri thức bậc nhất trong các cõi Phật được hết thảy chư Phật công nhậnA Di Đà Phật. Quang minh tôn quý nhất, vua trong các Phật! Bởi vậy, chỉ cần quý vị phát tâm thân cận A Di Đà Phật, cầu sanh thế giới Cực Lạc thì tất cả hết thảy chư Phật đều vỗ tay: “Ngươi thật thông minh! Ngươi chọn lựa đúng!” Những lời tôi thưa cùng quý vị ở đây câu nào cũng đều chân thật. Do vậy, đối với những lời khai thị trong đoạn này, chúng ta càng phải suy nghĩ cặn kẽ

 Đoạn tiếp theo là: “Ngẫu Công than rằng:”, đại sư Ngẫu Ích than thở, “Ôi chao! Phàm phu được liệt vào ngôi Bổ Xứ, là một xướng xuất hiếm lạ, một bàn luận cùng tột chẳng thể suy lường được!” Ngẫu Ích đại sư chú giải kinh viết đến đây tự mình hết sức cảm thán: Rành rànhphàm phu, một phẩm phiền não chưa đoạn, đới nghiệp vãng sanh đến cõi Phàm Thánh Đồng Cư trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, đương nhiên “liệt vào ngôi Bổ Xứ”. Kẻ ấy không thật sự là Bổ Xứ, chỉ ở cùng một chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát. Không phải là Bổ Xứ Bồ Tát chẳng thể ở chung một chỗ được, kẻ kia là phàm phu vì sao lại có thể ở cùng một chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát? Ở cùng một chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát là gần bằng Bổ Xứ, là không khác Bổ Xứ chi mấy. “Kỳ xướng cực đàm” (một xướng xuất hiếm lạ, một bàn luận cùng tột), “Kỳ” ở đây là “hy kỳ” (hiếm lạ), chưa từng nghe đến, chưa hề thấy qua, thế nhưng thế giới Cực Lạc lại có chuyện như vậy đấy! “Đàm” là bàn kinh giảng đạo đến mức cùng tột. Ngẫu Ích đại sư tán thán: Thật sự có chuyện này, không giả đâu! 

 “Những điều riêng mình kinh Hoa Nghiêm có (kinh bậc nhất của chư Phật đã nói, pháp môn tu hành bậc nhất của Bồ Tát) hoàn toàn được nêu trong kinh này”. Câu trong ngoặc đơn là do tôi viết. Đối với câu này tôi cũng hiểu đôi chút. Chúng tôi đọc kinh Hoa Nghiêm, đọc đến cuối cùng “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, tức là quy về kinh Vô Lượng Thọ. Cổ nhân gọi kinh Vô Lượng ThọHoa Nghiêm bản trung. Trong ba kinh Tịnh Độ, kinh Vô Lượng Thọ là kinh bậc nhất. Nếu chúng ta dùng ba phần Tự Phần, Chánh Tông Phần, Lưu Thông Phần của kinh điển để nói thì kinh Vô Lượng Thọ là phần Chánh Tông của Tịnh Độ; A Di Đà KinhLưu Thông Phần. Trong kinh này, đức Thế Tôn bốn lượt khuyên chúng ta phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, thật chẳng thể nghĩ bàn! Cổ nhân thường nói một mà hai, hai nhưng ba, ba nhưng bốn, bốn lượt khuyên dạy vãng sanh. Chỗ quy túc cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm là quy hướng thế giới Cực Lạc. Kinh Di ĐàHoa Nghiêm tiểu bổn, Vô Lượng Thọđại bổn của kinh A Di Đà. Cư sĩ Vương Long Thư hội tập Vô Lượng Thọ Kinh cũng đặt tên là Đại A Di Đà Kinh, ông đặt tựa đề kinh như thế. Bởi thế, đây chính là kinh bậc nhất do chư Phật nói, là pháp môn bậc nhất để các Bồ Tát tu. 

 “Nhưng thiên hạ xưa nay, tin ít nghi nhiều, tôi chỉ đành mổ tim vẩy máu mà thôi”. Đây là lời cảm khái đau lòng buốt dạ của đại sư Ngẫu Ích. Đại sư Ngẫu Ích viết đến đây, nghĩ đến đây, đúng là đau lòng đến cùng cực, rõ ràng là trong một đời có thể thoát luân hồi viên thành Phật đạo, chẳng phải đợi đến đời thứ hai, chỉ một đời thôi! Một đời viên mãn, bởi lẽ quý vị vãng sanh, vãng sanh là đi khi còn đang sống, chẳng phải chết rồi mới đi. Bởi thế, tôi thường nói pháp môn này gọi là “pháp môn không chết”, thật sự không chết. Quý vị thấy đó: Lúc thời tiết nhân duyên thành thục, người vãng sanh thấy A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, từ tạ mọi người: “Phật đến rồi, tôi theo Ngài về thế giới Cực Lạc”. Nói rồi bèn đi, đi ngay trong lúc sống. Đi rồi thì sao? Không cần đến cái đãy da thối này nữa, vứt bỏ, triệt để buông xuống, đi qua thế giới Cực Lạc đổi lấy thân khác. 

 Hễ đến Tây Phương Cực Lạc thế giớiliên hoa hóa sanh, hoa sen ấy do chính mình trồng, chẳng phải ai khác trồng cả! Tất cả hết thảy chúng sanh chỉ cần chân chánh phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, trong ao sen bảy báu nơi thế giới Cực Lạc sẽ mọc lên một búp sen. Quý vị tín nguyện kiên định, niệm Phật rất siêng, hoa sen ấy ngày càng lớn, càng lớn càng to. Lúc thọ mạng hết, A Di Đà Phật cầm hoa sen ấy đến tiếp dẫn quý vị. Hoa sen ấy của chính quý vị chứ không phải ai khác, trên hoa có đề tên, quyết định không lầm lẫn được. Quý vị nhập vào hoa sen, chẳng phải là một đứa bé con dần dần lớn lên, mà thân tướng giống hệt như Phật. Tây Phương thế giớipháp giới bình đẳng, bỏ hết nhục thân, được thân gì? Được thân vàng ròng giồi mài sáng bóng, trong bốn mươi tám nguyệnlời nguyện này. Tướng hảo, quang minh không khác gì Phật và Bổ Xứ Bồ Tát, thật sự bình đẳng. Đó là vì trong quá khứ, lúc A Di Đà Phật còn tu đạo Bồ Tát, đọc trong kinh Vô Lượng Thọ chúng ta sẽ thấy đoạn lịch sử ấy, Ngài từng tham phỏng hai trăm mười ức cõi Phật. “Hai trăm mười ức” biểu thị pháp chứ không phải là một con số, trong Mật Tông hai trăm mười ức biểu thị ý nghĩa viên mãn, hàm nghĩa khắp pháp giới hư không giới hết thảy các cõi Phật không sót một cõi nào, Ngài đều đến tham học hết. Ưu điểm của mỗi một thế giới, những điều hay Ngài học lấy; những khuyết điểm Ngài đều bỏ đi. Vì thế, sự thành tựu nơi Cực Lạc thế giới chính là kết hợp của tất cả những ưu điểm trong hết thảy cõi Phật khắp pháp giới hư không giới, không có khuyết điểm, cõi ấy được kiến tạo như vậy. A Di Đà Phật kiến lập Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng phải là đóng cửa mày mò tự chế, cũng chẳng phải ở riệt trong nhà nghĩ cách; không phải vậy, mà là sở đắc từ sự tham học. Đấy là học vấn chân chánh, học vấn thật sự. Chắc chắn Ngài trông thấy thế giới Sa Bà (chắc chắn Ngài đã từng đến thế giới Sa Bà của chúng ta), thấy hết thảy chúng sanh tướng mạo khác biệt. Tướng mạo đẹp thì phiền não hiện tiền, phiền não gì? Ngạo mạn! Tướng mạo không đẹp, phiền não cũng hiện tiền, phiền não gì vậy? Mặc cảm tự ty rất nặng, những điều này chúng ta đều biết rất rõ. A Di Đà Phật biết điều này, nên tất cả hết thảy những ai vãng sanh về thế giới Cực Lạc tuyệt đối chẳng nẩy sanh phiền não, vì sao? Tướng mạo mọi người giống hệt nhau, không một ai đẹp hơn ai, cũng không ai có khuyết điểm, thảy đều hệt như nhau, thể chất giống hệt, cao - thấp giống hệt, gầy - béo giống hệt, tướng hảo như nhau. 

 Nói như vậy lại có vấn đề, vấn đề gì vậy? Nếu ta muốn tìm một người, ta biết ai là ai đây? Toàn bộ giống hệt nhau. Như vậy là chúng ta bận tâm quá đấy, vì sao? Chúng ta không có trí huệ, không có huệ nhãn, không có thần thông; người ở Tây Phương Cực Lạc thế giới ai nấy đều có thần thông nên nhất định chẳng nhận lầm người. Tất cả mọi người tướng mạo giống hệt Phật A Di Đà, nhất định quý vị chẳng thể nhận lầm. Tuy tướng mạo của mỗi cá nhân vãng sanh cũng giống hệt nhau, quý vị chẳng nhận lầm, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, đọc đến đoạn này, rất nên phát nguyện! Trong kinh này đức Phật lại khuyên chúng ta nên phát nguyện lần nữa, phải nên vãng sanh cõi nước kia. 

Lại xem tiếp đoạn dưới: “Hạnh Nguyện Phẩm nói:”, tức là trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm có đoạn nói, “người ấy lúc sắp mạng chung, hết thảy các căn thảy đều bại hoại, cho đến thân thuộc, oai thế, voi, ngựa, xe cộ, thảy đều tan diệt”. Chúng tôi giảng đoạn này trước. Đoạn này nói lên điều gì? Lúc thọ mạng con người đã hết, lúc lâm chung, “hết thảy các căn thảy đều bại hoại”, tức là không khởi tác dụng nữa. Các căn là mắt: Người chết rồi mắt không thấy nữa, tai không nghe được nữa, mũi không hô hấp, lưỡi chẳng thể động, thân thể cũng bất động. Đó là hết thảy các căn thảy đều bại hoại, không khởi tác dụng, sáu căn mất đi năng lực. Thân thể của chính mình như vậy đó. Còn những vật ngoài thân mình như “thân thuộc” (người nhà, quyến thuộc của mình), mình phải chia lìa. “Oai thế” là địa vị, quyền lực. Dẫu cho địa vị, quyền lực đạt đến cùng cực, làm đến quốc vương; lúc ấy có làm vua cũng không được nữa, thọ mạng đã hết, ngôi vua cũng vứt đi, quyền lực cũng buông xuôi. “Voi, ngựa” là công cụ giao thông thời cổ sử dụng. Công cụ giao thông hiện tại gồm xe hơi, du thuyền, thậm chí tư gia có máy bay, cái gì cũng không mang theo được, không mang theo cái gì được hết! “Trân bảo” là của cải; hết thảy của cải mình tom góp không mang theo được gì! “thảy đều tan diệt”, không cầm gì theo được, thuộc về người khác hết, quý vị phải giác ngộ điều này! Trong kinh luận, đức Phật thường cảnh tỉnh chúng ta: “Muôn thứ không mang được, chỉ mỗi nghiệp theo thân”. Quý vị phải hiểu rõ ràng, minh bạch: Tất cả hết thảy những vật ngoài thân không phải của chính mình. Bản thân ta cái gì cũng không có, ngay đến cái thân này cũng không có, thân thể cũng phải bại hoại. Vì vậy, trong thế gian này, kinh Bát Nhã giảng rất rõ: “Hết thảy pháp vô sở hữu, rốt ráo không, bất khả đắc”. Đó là chân tướng sự thật. Nếu quý vị cho là hữu sở đắc, vẫn muốn giành lấy thì quý vị lầm rồi! Quý vị giành lấy, tương lai cũng không mang theo được, lại còn tạo thêm vô lượng vô biên nghiệp chướng. Thế gian có mấy ai giác ngộ? Có mấy ai thật sự hiểu rõ? Người giác ngộ buông bỏ toàn bộ pháp thế gian, ngay cả thân mình cũng không màng, quyết định chẳng lưu luyến

“Chỉ có nguyện vương chẳng hề lìa bỏ, trong hết thảy thời thường dẫn đường đằng trước. Trong khoảng sát-na liền được vãng sanh Cực Lạc thế giới”. Nói về điều gì? Nói về cái quý vị mang theo được. Cái mang theo được là thiện nghiệp, ác nghiệp, tịnh nghiệp, ba thứ nghiệp này đi theo quý vị. Người chân chánh giác ngộ đoạn trừ ác nghiệp, thiện nghiệp tuy vẫn tu nhưng quyết không chấp trước, không chấp trước nên biến thành tịnh nghiệp, nếu chấp trước liền biến thành thiện nghiệp. Chấp trước thì quả báo là ba thiện báo; không chấp trước thì quý vị phải hồi hướng cầu sanh Tịnh Độ, quả báo của quý vị sẽ là vượt thoát tam giới, vượt thoát mười pháp giới, thù thắng khôn sánh. Mười đại nguyện vương dạy chúng ta điều gì? Quý vị phải biết: 

1) Thứ nhất là dạy chúng ta cung kính “lễ kính chư Phật”. 

2) Thứ hai dạy chúng ta xưng tán, khen ngợi điều lành, quyết định chẳng nói năng sai trái. Thấy bất cứ sai trái gì cũng không rêu rao, hòng bồi dưỡng thiện tâm, thiện ý, thiện hạnh của chính mình, miệng không lầm lỗi, “xưng tán Như Lai”. 

3) Thứ ba dạy chúng ta bố thí cúng dường “quảng tu cúng dường”. 

4) Thứ tư dạy chúng ta “sám hối nghiệp chướng”, phải biết sám hối nghiệp chướng của chính mình. 

5) Thứ năm là dạy chúng ta “tùy hỷ công đức”, tùy hỷ công đức hết sức trọng yếu! Hết thảy chúng sanh đều có tâm ghen ghét, tùy hỷ công đức nhằm phá trừ ghen ghét. Trông thấy chỗ hay của người khác, ta không ghen ghét chút nào, tùy tâm, tùy lực giúp đỡ người ta, thành tựu cho người ta. Đó là tùy hỷ công đức. Người ta có công đức nhiều lớn, mình tùy hỷ thì công đức cũng lớn như người ta vậy, công đức người ta đâu có bị giảm thiểu. Cũng giống như người khác có một cây nến đã thắp rồi, mình có một cây nến chưa thắp, người ta dùng cây nến ấy thắp sáng cho mình, quang minh của cây nến người ta không tổn thất mảy may. Cây nến của mình được thắp xong, ánh sáng chiếu rọi lẫn nhau, tùy hỷ công đức là vậy đó! 

6) Thứ sáu, “thỉnh chuyển pháp luân”. 

7) Thứ bảy, “thỉnh Phật trụ thế”. 

Thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế không vì bản thân mình, mà nhằm lợi ích chúng sanh. Quý vị gặp được thiện tri thức, chúng sanh không biết, ta biết. Ta biết thì ta thay họ thỉnh, thay mặt cho mọi chúng sanh trong khu vực ấy, thay cho chúng sanh khắp cả thế gian lễ thỉnh thiện tri thứcchúng ta giảng kinh, thuyết pháp. Nhân duyên thành thục, chúng ta phải thỉnh thiện tri thức trụ lâu dài trong khu vực chúng ta. Thiện tri thứclâu dài nơi ấy thì người ở nơi ấy có phước. Chân thiện tri thức được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần ủng hộ, Ngài sống trong địa phương này, mọi người chẳng lẽ không được hưởng lây ư? Không phải là ai nấy đều có phước hay sao? Phải là người có trí huệ chân chánh, phước báo chân chánh mới biết khải thỉnh

Trong thực tế, Phổ Hiền nguyện chỉ gồm bảy điều, bảy điều trên chính là nguyện. So với trước kia, hiện thời thỉnh chuyển pháp luân thuận tiện lắm. Nay chúng ta có thể lợi dụng những kỹ thuật cao cấp, lợi dụng mạng lưới quốc tế (Internet), lợi dụng truyền hình vệ tinh thỉnh pháp sư, thỉnh thiện tri thức giảng kinh thuyết pháp. Chúng ta đưa CD, băng thâu hình lên Internet, phát trên truyền hình vệ tinh hòng lợi ích chúng sanh toàn thế giới. Làm như vậy chính là gì? Đều thuộc về thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế. Hiện tại, hai nguyện trên có thể gộp thành một, hai nguyện gộp thành một thật chẳng thể nghĩ bàn! 

Ba điều nguyện sau đều thuộc về hồi hướng, “thường tùy Phật học” là hồi hướng Bồ Đề, “hằng thuận chúng sanh” là hồi hướng chúng sanh, “phổ giai hồi hướng” là hồi hướng pháp giới. Mười đại nguyện dẫn dắt quý vị chúng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Bây giờ hết giờ rồi! 
 
 

*

Chư vị đồng học! 

Xin xem tiếp tiểu đoạn thứ năm, câu cuối cùng là: “Thấy như thế bèn phát nguyện cầu vãng sanh, tự lấy đó làm nhiệm vụ cấp bách”. Thời thời, chốn chốn đều thấy Thế Tôn, Tổ Sư ân cần, khẩn thiết khuyên dạy chúng ta, chỉ sợ chúng ta lại bỏ lỡ cơ hội lần này. Bởi vậy, chúng ta chỉ nên nhớ kỹ: Như trong phẩm Hạnh Nguyện nói đến mười đại nguyện, mười đại nguyện ấy là cương lãnh tu học. Ba điều nguyện cuối tôi nói là hồi hướng. Hồi hướng với ý nghĩa gì? Nhằm mở rộng tâm lượng, thật sự khôi phục “tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”. Phải biết bản nguyện của mình vốn sẵn tâm bao thái hư, lượng châu sa giới. Cái tâm hiện tại quá nhỏ, thật đáng thương, đáng xót xa lắm! Vì thế, dùng phương pháp hồi hướng này để mở rộng nó, khôi phục nó. 

“Thường tùy Phật học”, niệm niệm chẳng quên lời Phật dạy, đó là hồi hướng Bồ Đề. Trong những tôn giáo khác, chúng tôi thấy trong kinh điển của bọn họ, hết thảy vinh diệu đều quy về Thượng Đế, đều quy về Chân Chúa. Trong Phật pháp, chúng ta không nói đến Thượng Đế, không có Chân Chúa, chúng ta nói đến thầy, thầy dạy dỗ chúng ta. Con người trong thế gian, vào thời cổ, mỗi người khi có thành tựu, nhất định sẽ quy sự vinh diệu về cho cha mẹ, cho thầy, hòng báo ân dưỡng dục, báo ân thầy giáo hóa. Niệm niệm chẳng quên, tâm cảm ân. Cái tâm cảm ân ấy trọn khắp pháp giới hư không giới. Đó là hồi hướng Bồ Đề

“Hằng thuận chúng sanh” là hồi hướng chúng sanh. Trong đây quan trọng nhất là Thuận, chẳng phải thuận tạm thời, không thuận hữu hạn, mà hằng thuận, vô hạn, vĩnh hằng! Quý vị thấy chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát giáo hóa hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới, nêu gương tốt cho chúng ta, đó là thuận! Quý vị muốn học điều gì bèn giúp cho, chỉ không giúp đỡ khi quý vị học sự bất thiện, học theo cái ác thì Ngài không dạy. Chứ nếu là thiện thì không gì không dạy! Đại thiện, tiểu thiện đều dạy hết, chẳng nệ nhọc nhằn, chẳng sợ cay đắng, chẳng ngại gian lao, chỗ nào có cầu bèn ứng chỗ đó. 

Đức Thế Tônchúng ta thị hiện, lúc còn tại thế - ta phải biết khi ấy đâu có công cụ giao thông, người xuất gia toàn đi bộ - Phật đi đến mọi nơi dạy dỗ. Vết chân Phật in dấu khắp Ấn Độ, luôn du hành, cực Nam đến tận đảo Tích Lan, ngày nay là Tư Lý Lan Kha (Sri Lanka). Thị hiện ngàn chỗ mong cầu, ngàn chỗ ứng như vậy, địa phương nào muốn thỉnh Phật: “Xin giáo hóa chúng con!” Phật bèn đến. Hễ có người thỉnh, Phật bèn đến. Học trò Ngài không ít vị là Bồ Tát, Bồ Tát không cần ai thỉnh, chủ động đi đến, làm “bạn chẳng mời” của hết thảy chúng sanh; nhưng Phật nhất định phải thỉnh, vì sao? Phật đại biểu cho sư đạo, tôn sư trọng đạo, bởi thế nhất định phải thỉnh. Bồ Tátđồng học, đồng học chẳng cần phải nghiêm túc, chẳng cần phải mời cũng đến. Nhưng trong đây vẫn có một điều kiện, trước hết phải lắng nghe xem [người mình định tiếp độ] có thể tiếp nhận hay không. Nếu có thể tiếp nhận, hoan hỷ nghe, nghe được, hiểu được, Bồ Tát bèn đến. Chẳng thỉnh Ngài cũng đến, hằng thuận chúng sanh mà! Tuyệt đối chẳng chấp trước vào một pháp môn. Quý vị nói pháp môn Niệm Phật rất tốt, quá tốt ấy chứ! Nhưng người ta không tiếp nhận được thì chẳng thể đem pháp môn này ra nói. Họ muốn pháp gì, quý vị phải biết; họ có thể thực hành điều gì, quý vị phải hiểu. Họ ưa thích những gì quý vị phải hiểu thì quý vị thuyết pháp mới khế cơ. Điều này những đồng học muốn học kinh giáo phải đặc biệt chú ý, quán cơ! Chư Phật Bồ Tátthuyết pháp khế lý, khế cơ cho chúng sanh nên dạy dỗ thành công

Nguyện cuối cùng là “phổ giai hồi hướng”, hồi hướng khắp tất cả, tâm lượng hoàn toàn mở rộng, chẳng có một tí ti câu thúc nào, đúng là trọn khắp hư không pháp giới; khắp hư không pháp giới là tánh đức viên mãn, tánh đức mà! Hư không, pháp giới, cõi nước, chúng sanh đều do tự tánh hiện, chỉ do Thức biến. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật giảng rất rõ: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Hồi hướng khắp tất cả là hồi hướng về tâm tánh, hết thảy đều quy về tự tánh, tất cả hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian từ tự tánh phát sanh, tối hậu quy hồi tự tánh, đó là đại viên mãn! 

Bởi thế, nguyện vương này “chẳng hề bỏ lìa”, lúc con người lâm chung, tất cả hết thảy đều tách rời, không mang theo được gì, chỉ mang được theo mỗi một mình nguyện vương này. Tịnh nghiệp thù thắng khôn sánh đi theo mình, “trong hết thảy thời dẫn đường đằng trước”, dẫn dắt mình về đâu? Dẫn mình về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đó chính là những nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát. “Quán thử tắc phát nguyện cầu sanh, tự thuộc đương vụ chi cấp” (Thấy như thế bèn phát nguyện cầu vãng sanh, tự lấy đó làm nhiệm vụ cấp bách trong hiện tại): Đương là “đương hạ”, tức là hiện tiền. “Vụ” là chuyện bắt buộc phải làm, “cấp” là lập tức, tức chuyện lập tức phải làm. Nếu quý vị thật sự hiểu rõ, thấu hiểu, sẽ phải làm ngay lập tức, buông xuống hết thảy những thứ khác. Trong cuộc sống thường nhật của chúng ta, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, hành vi, quyết định tương ứng với kinh giáo

Tinh thần, nghĩa thú chân chánh của kinh giáo là gì? “Thọ trì đọc tụng, vì người diễn nói”, là tám chữ ấy. Những gì Phật dạy trong kinh giáo chúng ta tiếp nhận toàn bộ, đó là “thọ trì”. Tiếp thâu toàn bộ xong, biến chúng hoàn toàn thành của chính mình. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chính mình là hư huyễn, là giả, là nghiệp, nghiệp bất thiện; thảy đều buông xuống hết, thay thế toàn bộ bằng kinh giáo của đức Như Lai. Cách nhìn, cách nghĩ, cách làm của chúng ta hoàn toàn tương ứng với kinh giáo, đó là thọ trì! Thọ là tiếp nhận, Trì là gìn giữ, chẳng để mất. Chẳng để mất dẫu chỉ một ngày hay chỉ trong một sát-na. Đó là Thọ Trì! 

“Đọc tụng” là ôn tập. Ngày ngày ôn tập, ôn cố tri tân (ôn chuyện cũ để hiểu chuyện mới), trường thời huân tu. Huân tu lâu ngày bèn khai ngộ! Ngộ rồi thì sao? “Vì người diễn nói”, tức là thực hiện trong cuộc sống thường nhật, thực hiện trong công việc, thực hiện trong việc xử sự, đãi người, tiếp vật, vì người khác biểu diễn, vì người khác diễn nói, hết thảy đều vì chúng sanh, chẳng vì chính mình. Hết thảy đều nhằm biểu diễn cho chúng sanh thấy: Đây là cuộc sống giác ngộ, cuộc sống của Phật, Bồ Tát, cuộc sống đại tự tại. Khổng lão phu tử nói: “Học nhi thời tập chi” (Học rồi luôn tu tập - tức thực hiện). “Tập” chính là như nay ta nói là thực hiện, thực hiện trong cuộc sống, thực hiện trong công việc, thực hiện trong cách xử sự đãi người, tiếp vật. “Thời” là luôn luôn không gián đoạn; tiếp đó là “bất diệc duyệt hồ” (cũng chẳng vui sao?); nói theo cách nói của nhà Phật là “pháp hỷ sung mãn”, đúng là sung sướng, pháp hỷ sung mãn! Sự vui sướng ấy không do bên ngoài mà có, mà từ trong tự tánh lưu lộ. Tiểu tiết cuối cùng là: 

“Kinh nói: Được cùng các thượng thiện nhân như vậy ở cùng một chỗ”. Kinh văn viết như vậy. “Ý nói: Quán Âm, Thế Chí nắm tay cùng đi”. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, quý vị theo Quán Âm, Thế Chí tức là tay nắm tay cùng đi: Kinh hành, tản bộ, chuyện trò, đàm luận Phật pháp, có phải vui sướng lắm không? “Văn Thù, Phổ Hiền làm bạn bè thù thắng”. Văn Thù, Phổ Hiền đều là Đẳng Giác Bồ Tát trong thế giới Hoa Tạng; các Ngài thường sống trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Thắng hữu” là bạn bè tốt nhất, bạn bè thù thắng nhất. Câu này miêu tả tình trạng cuộc sống và tình hình học tập tại Tây Phương Cực Lạc thế giới: Những người chung quanh ta toàn là thượng thiện nhân. “Nên tự được un đúc, thành Phật không khó”, không sai chút nào! Chúng ta trường thời huân tu, huân tập, un đúc, do nguyên nhân ấy, chứ không phải không có nguyên nhân. Vậy thì, vì sao trong Tây Phương Cực Lạc thế giới thành tựu nhanh chóng đến thế? Vì sao trong thế gian này chúng ta chẳng thể đạt được như thế? Xem đến đây quý vị hiểu ngay. Trong thế gian chúng ta, làm sao được ngang vai sát cánh cùng Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, chẳng có lẽ ấy! Bồ Tát quá cao! Nhưng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới lại khác, vì sao khác? Đều là học trò A Di Đà Phật, quan hệ giữa chúng ta là gì? Đồng học. Các vị ấy theo Phật A Di Đà đã lâu, chúng ta mới theo. Về thân phận, họ là lớp đàn anh, mình là đàn em, đàn anh đương nhiên phải chăm nom đàn em. Chúng ta có câu hỏi gì ngại không hỏi Phật, hỏi họ rất tiện. Một ngày từ sáng đến tối sống cùng một chỗ, cho nên thành Phật không khó. 

Tiếp đó là mấy câu tỏ ý mừng rỡ trước vận may: “Đời này may mắn, được thấy, được nghe, há chẳng nguyện sanh ư?” Một đời này chúng ta thật sự may mắn, nói đúng ra, mình may mắn quá đỗi! Mình được thấy sự tình này, được nghe kinh điển này, há vẫn chẳng bằng lòng vãng sanh ư? Phải hiểu đây là chuyện thành Phật trong một đời, là đại sự nhân duyên bậc nhất trong các pháp thế gian, xuất thế gian, không có sự việc gì có thể sánh được với việc này, chúng ta không thể không biết như vậy. Đúng là không thể nào so sánh được. Nếu để lỡ việc này, đúng là tổn thất lớn lao không ai có thể diễn tả được, lớn lao quá mà! Nhân duyên để thành Phật trong một đời mà! 

Ngẫu Ích đại sư nói rất hay, vì đâu ta coi thường? Coi thường là vì lẽ gì? Rất mong đến đó, nhưng không nghiêm túc tu tập, nguyên nhân vì đâu? Không tin! Không thật sự tin, trong một đời này thậm chí ngày ngày đọc kinh này, ngày ngày giảng kinh này, nhưng bán tín bán nghi. Kẻ ấy tin gì? Vẫn là tin vào danh văn, lợi dưỡng trong thế gian này, hưởng thọ ngũ dục lục trần, vẫn tin vào những thứ ấy. Nếu bày hai chuyện ấy ra trước mặt, họ sẽ chọn thứ gì? Chọn danh văn lợi dưỡng, chọn lấy ngũ dục lục trần thế gian, chẳng chọn lấy Niệm Phật, lầm lẫn là đây! Bởi thế, Tổ Sư đối với việc này rất đau lòng, đau lòng vì không phải là trong một đời này không có cơ hội nghe được, không phải vì kẻ ấy nghiệp chướng sâu nặng cả đời không được gặp gỡ pháp này mà đau lòng bởi lẽ gì? Kẻ ấy gặp được nhưng lại sao? Ngay trước mặt mà bỏ lỡ! Chẳng thể y giáo phụng hành, vẫn cứ tùy thuận phiền não tập khí của chính mình như cũ, vẫn tạo tác mười ác nghiệp như cũ, biết làm cách nào đây? 

Người thật sự hiểu rõ, thật sự tin tưởng sẽ làm rất rõ như thế này: Ngay lập tức đoạn trừ mười ác nghiệp, chẳng những không tạo mười ác nghiệp nữa mà còn quyết định tu mười thiện nghiệp đạo. Vì sao? Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới ở cùng một chỗ với các thượng thiện nhân, dẫu mình chưa là thượng thiện thì cũng phải là hạ thiện. Ngay cả hạ thiện cũng không có, sao ở cùng một chỗ với các thượng thiện nhân cho được? Vì thế, người thật sự sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới nhất định đoạn ác tu thiện là điều khẳng định, người ấy quyết định chân thành, trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, đúng là: Tâm nhất vị chân thành, không có nhị niệm, tâm quyết định thanh tịnh, tâm quyết định bình đẳng, tâm quyết định chánh giác, tâm từ bi, niệm niệm khởi tâm động niệm nhất định tương ứng với những thứ ấy. 

Chúng ta biết con người giác ngộ, hồi đầu ấy trong một đời này nhất định được sanh về Tịnh Độ. Nếu nói tôi tin, tôi hằng ngày niệm Phật, trong mười hai thời chẳng thiếu khóa lễ nào tại Niệm Phật Đường, nhưng tâm địa chẳng thanh tịnh, chẳng bình đẳng, ngu si, tự tư, chẳng thành thật thì cũng chẳng thể vãng sanh. Cổ đức nói: “Một ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu, rách hầu toạc họng cũng uổng công” là vì lẽ nào? Tâm hạnh bất thiện. Chỉ thiện đằng miệng, trong ba nghiệp thân - khẩu - ý thì thân và ý bất thiện, chỉ có cái miệng từ sáng đến tối niệm A Di Đà Phật, không chửi người, như vậy chưa vãng sanh được! Quý vị xem kinh Vô Lượng Thọ thì thấy đúng là như vậy, đọc trong kinh văn, đức Thế Tôn dạy chúng ta khéo giữ khẩu nghiệp, chẳng chê bai lỗi người khác, khéo giữ thân nghiệp, chẳng mất luật nghi, khéo giữ ý nghiệp, thanh tịnh vô nhiễm. Đó là mười thiện nghiệp! Niệm Phật mà vẫn tạo nghiệp thì tương lai đi về đâu? Đi vào địa ngục! 

Quý vị xem bộ Lăng Nghiêm Kinh Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương Sớ Sao do pháp sư Quán Đảnh soạn vào đời Thanh Càn Long, đoạn cuối cùng của bộ Sớ Sao này nói đến một trăm thứ quả báo bất đồng của người niệm Phật, câu đầu tiên là người niệm Phật đọa A Tỳ địa ngục. Lúc tôi còn trẻ, vừa mới học Phật, đọc đến đoạn này hết sức nghi hoặc: Dù niệm Phật không tốt lẽ ra không đến nỗi đọa A Tỳ địa ngục, sao lại đọa A Tỳ địa ngục được? Tôi cầm sách đem hỏi thầy Lý: “Rốt cuộc là chuyện gì đây? Con nghĩ không ra, không cách gì hiểu được!” Thầy Lý đọc rồi bảo: “Đây là câu hỏi lớn, tôi chẳng giảng cho mình ông, khi tôi giảng kinh sẽ giảng cho khắp đại chúng”. Miệng niệm Di Đà chẳng đoạn ác nghiệp, vẫn tạo ác nghiệp. Ác nghiệp nghiêm trọng nhất là báng Phật, báng Pháp, báng Tăng, hủy báng Tam Bảo lẽ đâu chẳng đọa địa ngục? Niệm vị Phật nào cũng vô ích, không ai cứu được hết! 

Trong những tội ấy, mọi người dễ phạm nhất là tội tự khen mình, chê người! Hiện nay chúng ta cũng thường thấy: Trong vô lượng pháp môn, chỉ pháp môn của tôi tốt, người khác đều trật hết! Quý vị phải hiểu mỗi pháp môn đều do Phật nói. Quý vị nói pháp môn nào không đúng là nói bậy rồi, những pháp môn ấy do ai nói? Phật nói đấy. Chẳng phải quý vị đã báng Phật ư? Pháp do Phật nói, đừng nói chi khác, cứ nói đơn giản kinh Vô Lượng Thọ thôi. Ai nấy đều biết Vô Lượng Thọ Kinh có mười hai bản dịch, nhưng qua nhiều đời bảy bản bị thất truyền, chỉ còn năm bản được truyền đến nay. Đối với năm bản đó, nếu nói bản này hay, chê bản kia dở là báng Phật, chẳng được nói như vậy. Nếu không hay sao được lưu truyền trong thiên hạ? Được lưu truyền trong thiên hạ nhất định phải có giá trị lưu truyền. Cổ thánh tiên hiền Trung Quốc rất coi trọng giá trị ấy, nếu anh không có giá trị, mọi người đâu chịu lưu thông; lưu thông thành sách rất lớn. Chẳng giống như ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, kỹ thuật ấn loát rất phát triển, in sách rất dễ dàng; thời cổ không dễ như vậy. Ngay như thời đầu Dân Quốc mới đây thôi; chúng tôi thấy vào thời đầu Dân Quốc vẫn còn in sách bằng bản khắc gỗ, rất tốn công. Một người một ngày làm tám chín tiếng, in được bao nhiêu bản? Trước kia, sách được in thành từng quyển, một quyển không nhiều, đại khái chừng sáu mươi, bảy mươi trang. Một ngày chỉ in được sáu bản! Tôi đến viếng Kim Lăng Khắc Kinh Xứ, họ ấn loát bằng bản khắc gỗ. Khi đó tiến bộ hơn trước nhiều, xưa kia phải dùng muội khói gỗ tùng [làm mực in], khi đó vẫn dùng muội khói gỗ tùng nhưng pha thêm mực dầu, vậy là tiến bộ hơn trước nhiều! Nhưng khi in thì vẫn phải áp từng trang lên bản gỗ, đặt giấy lên đó, rồi mới ép xuống, rất tốn công! Làm tám tiếng một ngày, một người chỉ in được sáu quyển. Hiện tại máy móc rất tiện lợi, in mấy ngàn bản trong vòng ba bốn ngày là xong, là hoàn tất, công việc được cơ giới hóa. Trước kia dùng sức người, cho nên giá trị của sách vở rất cao. Đúng là người bình thường không mua nổi sách. 

Khoảng năm Dân Quốc hai mươi mấy, lúc đó tôi chưa đến mười tuổi, chừng tám hay chín tuổi chi đó, Thương Vụ Ấn Thư Quán in bộ [từ điển] Từ Nguyên, in bìa cứng đẹp đẽ thành hai quyển thượng - hạ. Bộ Từ Nguyên ấy đến nay chưa hề in được đẹp như thế, giá bao nhiêu? Năm đồng Đại Dương. Năm đồng Đại Dương giá trị ra sao? Bằng tiền ăn xài của một gia đình bốn người trong cả tháng. Phải mất một số tiền bằng tiền tiêu dùng của một gia đình bốn người trong cả tháng mới mua được sách, chỉ mua được một bộ tự điển thôi! Nói vậy quý vị mới hiểu khi đó sách quý đến thế nào! Người giàu có mới tích lũy sách, sách khi ấy giống như đồ sưu tập của người chơi đồ cổ bây giờ vậy, coi sách như vật quý giá để tặng nhau. 

Đọc sách cũng rất trân quý. Lúc đọc sách chẳng được khuyên hay chấm, không được phép! Muốn khuyên hay chấm thì sao? Phải chép lại. Vì thế, trước kia người ta đọc sách, chắc chắn là sách nào mình ưa thích sẽ sao lại một bản. Tự mình sao lấy một bản thì có thể khuyên hay điểm, có thể dùng bút màu để đánh dấu. Sách bản gốc là bảo bối! Tự mình đọc xong lại còn truyền cho đời sau, đời sau lại truyền xuống đời sau nữa. Bởi thế, chẳng được có chút gì nhơ bẩn, quyết định chẳng được tổn hoại. Trước kia, sách vở được quý trọng như thế, nay nào được như thế. Hiện nay, khoa học kỹ thuật phát đạt, sách vở biến thành rẻ mạt, chẳng đáng giá, mọi người coi thường; trước kia, sách vở đúng là của báu! 

Bây giờ chúng ta lại xem tiếp đoạn thứ ba “đốn siêu tuyệt đãi”, phần này có bốn tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất là “Hạ phàm chúng sanh trong Niệm Bất Thoái, vượt hết khỏi bốn mươi mốt địa vị (từ Thập Trụ đến Đẳng Giác Bồ Tát), tức là phàm phu chẳng trải qua [các địa vị] Dị Sanh, ắt bổ vào địa vị Phật, không khác gì Quán Âm, Thế Chí”. Trước hết, chúng ta đọc đoạn này. Câu trên thuộc phân nửa trước của đoạn này. Chữ “hạ phàm” chỉ ai? Những kẻ vãng sanh trong bậc hạ thuộc Phàm Thánh Đồng Cư độ, tức là ba phẩm Hạ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, liền được Niệm Bất Thoái. Chẳng những là Niệm Bất Thoái mà còn viên chứng Niệm Bất Thoái. Nếu chỉ nói đơn giảnNiệm Bất Thoái thì có thể nói là kẻ ấy chỉ bằng với Sơ Trụ Bồ Tát, chúng ta có thể hiểu như vậy. Nếu nói là “viên chứng ba thứ Bất Thoái” thì khác hẳn, vì bậc viên chứng ba thứ Bất Thoái là ai? Là Đẳng Giác Bồ Tát. Ở đây, đại sư Ngẫu Ích khẳng định viên chứng ba thứ Bất Thoái chính là Đẳng Giác Bồ Tát, cho nên “vượt hết khỏi bốn mươi mốt địa vị”. Bốn mươi mốt địa vịnhân vị (địa vị khi còn đang tu nhân) của Bồ Tát: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác. Đúng là khó tin, bởi thế phải nói kẻ ấy là phàm phu nhưng trong một đời quyết định thành Phật “ắt bổ vào địa vị Phật, chẳng khác gì Quán Âm, Thế Chí”, không khác gì bậc Đẳng Giác Bồ Tát cả! Kẻ ấy là hạ phàm chúng sanh, trong Cực Lạc thế giới cớ sao thành được như vậy! Đó là chân tướng sự thật của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tiếp đến là đoạn: 

“Nếu bảo là Nhất Sanh Bổ Xứ thì chỉ có thể gọi là phàm phu, chẳng thể gọi là Đẳng Giác Bồ Tát”: Kẻ ấy là chúng sanh thuộc ba phẩm Hạ trong Phàm Thánh Đồng Cư độ, nếu quý vị nói kẻ ấy là Nhất Sanh Bổ Xứ thì chẳng thể nói như vậy được. Vì sao? Vì kẻ ấy thuộc ba phẩm hạ vãng sanh về Phàm Thánh Đồng Cư độ, là phàm phu mà! Một phẩm phiền não chưa đoạn, chẳng thể gọi kẻ ấy là Đẳng Giác Bồ Tát được! Sự việc này “chẳng thể tính gộp trong giáo võng được, chẳng thể liệt vào sát võng được”. Chữ “giáo võng” chỉ giáo học; trong giáo học không thể có tình huống như vậy được. Trong giáo võng, theo Ngũ Thừa Phật giáo thì pháp để phàm phu học tập là pháp Nhân Thiên “Ngũ Giới, Thập Thiện, tứ vô lượng tâm”; học những thứ đó. Thanh Văn học pháp Tứ Đế, Duyên Giác học pháp Thập Nhị Nhân Duyên, Bồ Tát học lục độ vạn hạnh, đó là nói về Giáo! Những điều đó không cách gì thích ứng với tình trạng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, làm sao phàm phu lại ở cùng một chỗ với Đẳng Giác Bồ Tát được? Khác nào học trò tiểu học lại học cùng một lớp với nghiên cứu sinh, thành ra thể thống gì nữa? 

“Chẳng thể liệt vào sát võng”: Chữ “sát võng” chỉ thế giới. Trong tất cả thế giới không có sự việc này. Phàm phu quyết định phải thuộc vào Phàm Thánh Đồng Cư độ, quyết định chẳng dự vào Phương Tiện Hữu Dư độ. Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát quyết định thuộc Phương Tiện Hữu Dư độ, chẳng thuộc Thật Báo Trang Nghiêm độ. Pháp Thân Bồ Tát quyết định ở trong Thật Báo Trang Nghiêm độ, chẳng ngụ nơi Phàm Thánh Đồng Cư độ. Sát võng là vậy đó. Tây Phương Cực Lạc thế giới phá cái lệ ấy, người thuộc Phàm Thánh Đồng Cư độ ở cùng một chỗ với Đẳng Giác Bồ Tát, mà Đẳng Giác Bồ Tát thuộc Thật Báo Trang Nghiêm độ. Bởi thế, Giáo Hạ của mười phương thế giới không có sự tình này, không có cái lệ này. Trong bốn cõi cũng không có trạng huống này, nên gọi là pháp môn đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ nào? Ở đây chúng ta thấy rõ thật là đặc biệt! 

Đoạn này giảng “đốn siêu tuyệt đãi” như thế đó, rất trọng yếu. Sau khi quý vị thật sự hiểu được rồi thì lòng tín nguyện đối với việc cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng những sẽ sanh khởi mà còn kiên định nữa. Đối với việc một đời sanh về Tây Phương Tịnh Độ, đây chính là chỗ mấu chốt. 

“Nên biết đại sự nhân duyên của chúng ta chính là: Một ải Đồng Cư khó vượt thoát nhất”. Câu này luận về các cõi Phật thông thường. Phàm Thánh Đồng Cư Độ là gì? Là lục đạo luân hồi. Vượt khỏi luân hồi lục đạo rất khó khăn, “khó vượt thoát nhất”. Phật, Tổ nói như vậy, chúng ta phải chú tâm suy nghĩ, quan sát, không được lầm chút nào. Hãy suy nghĩ: Nay chúng ta đang sống trong cái ải Đồng Cư, có năng lực gì để vượt thoát đây? Từ xưa, tổ sư đại đức nói: Trong thời kỳ Mạt Pháp, trừ Tịnh Độ ra, tu hành bất cứ pháp môn nào cũng không thể thành tựu trong một đời được, không thể thành tựu thì không thể vượt thoát luân hồi được! Vì sao? Bất luận quý vị tu học một pháp môn nào, công phu định lực nhất định phải là Cửu Thứ Đệ Định thì mới có thể vượt thoát tam giới được. Tứ Thiền Bát Định trong tam giới không thể vượt thoát luân hồi được! 

Bởi thế, nếu quý vị suy nghĩ: Quý vị muốn vượt khỏi luân hồi lục đạo thì công phu định lực phải hơn Bát Định. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy sở chứng của A La Hán là Đệ Cửu Định, Cửu Thứ Đệ Định mới vượt thoát được! Chúng tanăng lực ấy hay chăng? Hiện tại, các nhà khoa học nói đến những chiều không gian khác nhau, Phật pháp gọi là vượt thoát luân hồi lục đạo. Cõi trời gồm hai mươi tám tầng, tức là trong Tam Giớihai mươi tám tầng trời, nghĩa là hai mươi tám chiều không gian khác nhau. Quý vị phải vượt khỏi hai mươi tám chiều không gian khác nhau mới vượt được cái ải Đồng Cư. Xưa kia vào thời Chánh Pháp, Tượng Pháp có người làm được, chứ thời kỳ Mạt Pháp không được! Đàm Hư đại sư đã nói về tình hình này rất khéo, quý vị cứ đọc sách của cụ Đàm sẽ biết ngay; hãy đọc cuốn Ảnh Trần Hồi Ức Lục là truyện ký của cụ Đàm

Tôi chưa từng gặp mặt Sư, nhưng được nghe băng thâu âm lời Sư khai thị trong kỳ đả Phật Thất ở Hương Cảng. Băng ghi âm ấy nay chúng tôi đã chế thành CD, chỗ chúng tôilưu truyền. Băng thâu âm lời khai thị ấy, tôi đã nghe ít nhất hơn trăm lần, nghe rất thích, rất cảm động. Sư giảng rất hay. Suốt một đời Sư (lúc đó Sư đã chín mươi tuổi), chưa hề thấy, nghe có một người nào trong Thiền Tông khai ngộ cả, chưa từng nghe nói đến. Sư nói đã từng gặp những người tham thiền đắc định, chứ người khai ngộ chưa hề gặp. 

Đắc thiền định chẳng thể thoát khỏi luân hồi lục đạo. Nếu đắc Sơ Thiền, Nhị Thiền thì nói thật ra sẽ sanh trong Tứ Thiền Thiên, không thoát được luân hồi lục đạo. Bậc đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh mới thoát khỏi được. Bậc đại khai viên giải bên Giáo, Đại Sư cũng chưa từng nghe nói có một ai. Người niệm Phật vãng sanh chẳng những nghe nói rất nhiều, mà cả đời Sư được chính mắt thấy phải hơn hai mươi trường hợp. Sư thường khuyên người niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ; trừ phương pháp này ra, không còn phương pháp thứ hai nào nữa cả. Đấy là lời trình bày về kinh nghiệm suốt cả một đời của cụ Đàm. Ngài niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, lúc mất cũng là ngồi mà mất. A! Nay đã hết giờ rồi. 
 
 

*

Chư vị đồng học! 

Chúng ta xem tiểu đoạn thứ hai của đoạn thứ ba “đốn siêu tuyệt đãi”. Chúng tôi đọc một lượt: “Nên biết đại sự nhân duyên của chúng ta chính là một cái ải Đồng cư khó vượt thoát nhất. Chỉ mình cõi Đồng Cư của Cực Lạc vượt thoát ngoài các cõi Đồng Cư của mười phương. Hiểu rõ điều đó mới có thể tin tưởng sâu xa vào nguyện lực của Phật Di Đà, tin vào Phật lực thì mới có thể tin tưởng sâu xa nơi công đức của danh hiệu. Có tin trì danh thì mới có thể tin tưởng sâu xa tâm tánh của chính mình vốn chẳng thể nghĩ bàn vậy!” Tuy những điều được nói trong đoạn này trong phần trên chúng tôi đã nói không ít, nhưng ý nghĩa đoạn này rất sâu, hết sức trọng yếu. Kinh Pháp Hoa giảng “đại sự nhân duyên” là “khai thị ngộ nhập tri kiến Phật”, đó là đại sự nhân duyên của chúng ta. Nói cách khác, cái gọi là đại sự nhân duyên chính là kiến giải, tư tưởng, trí huệ của chúng ta phải viên mãn rốt ráo giống như Phật. Mười phương ba đời hết thảy nhân quả, cõi nước, chúng sanh, không gì không biết chính là đại sự nhân duyên

Chẳng những không gì không biết, mà chính mình còn thật sự làm chủ vũ trụ; Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, bốn việc này đều viên mãn hiện tiền. Nói thật ra, tự tánh của mỗi chúng sanh đều đầy đủ viên mãn bốn việc này; dẫu đầy đủ nhưng lại mê mất tự tánh, nên bốn việc hoàn toàn không có. Bởi vậy, chúng ta nói “[viên mãn] hiện tiền” thì đó chỉ là khôi phục tự tánh, nhà Phật thường gọi là “minh tâm kiến tánh”, là “đại sự nhân duyên”. Đó là cảnh giới tu học tối cao, là mục tiêu chung cục của chúng ta. Phải bắt đầu thực hiện từ đâu? Từ một cửa ải Đồng Cư, phải khởi đầu từ đó. Trước hết, ta phải đột phá được cửa ải này, cũng có nghĩa là phải vượt thoát luân hồi lục đạo. Khó lắm! Hôm qua tôi đã thưa cùng quý vị, thật sự khó lắm! 

Chúng ta không có năng lực vượt thoát, nay đức Thế Tôn dạy cho chúng ta một phương pháp, chẳng cần phải vượt thoát vẫn có thể đột phá được, làm thế nào vậy? Nay chúng ta đang mang thân phận con người trong lục đạo, dùng ngay thân phận này để di dân sang Tây Phương Cực Lạc thế giới, vẫn mang thân người. Thân người chúng ta không có cách gì di dân lên thiên đạo, nhưng từ nhân đạo di dân sang thân người chẳng phải là chuyện khó. Chúng ta di dân sang Phàm Thánh Đồng Cư độ của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Phàm Thánh Đồng Cư độ cõi ấy rất đặc biệt, “chỉ mình cõi Đồng Cư của Cực Lạc là vượt thoát ngoài các cõi Đồng Cư trong mười phương”, mười phương ba đời các cõi Đồng Cư của chư Phật, Bồ Tát đều chẳng sánh bằng cõi Đồng Cư của thế giới Cực Lạc. Là vì trong thế giới Cực Lạc, cõi Đồng Cư, cõi Phương Tiện, cõi Thật Báo, cõi Thường Tịch Quang dung hợp thành một thể, giống như bốn ngọn đèn vậy. Tịch Quangngọn đèn lớn, chúng ta nói nó có độ sáng là một vạn chi quang (1), ngọn đèn ấy sáng bừng. Cõi Thật Báo là ngọn đèn có độ sáng một ngàn chi quang. Độ sáng của ngọn đèn Phương Tiện Độ là một trăm chi quang. Cõi Đồng Cư chỉ sáng có một nến hay một chi quang. Nay cả bốn ngọn đèn ấy đều được đặt trong cùng một căn phòng, quý vị thấy có diệu kỳ hay không? Cây đèn một nến của ta cũng sáng khắp cả gian phòng, cây đèn sáng chói trăm nến cũng chiếu khắp phòng, cây đèn sáng chói một ngàn nến cũng chiếu khắp phòng. Cây đèn một vạn nến cũng chiếu khắp phòng, dung hợp thành một thể. Cõi Đồng Cư của thế giới Cực Lạc giống như vậy đó. Cõi Đồng Cư của mười phương thế giới giống như mỗi căn phòng chỉ có một ngọn đèn một nến, không giống Cực Lạc; vì thế Cực Lạc vượt ngoài mười phương

“Liễu thử” (hiểu rõ điều đó), Liễu là “minh liễu” (hiểu rành rẽ, rõ ràng). Quý vị phải hiểu rõ chân tướng sự thật này thì quý vị mới có thể “tin tưởng sâu xa vào nguyện lực của Di Đà”, nguyện lực của bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà chẳng thể nghĩ bàn! Vì sao tình hình cõi Đồng Cư của thế giới Cực Lạc lại được như thế? Vì nó được hiển hiện bởi nguyện lực của Phật A Di Đà. Trong Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích giải thích điều này rất khéo: Chủ yếu nhất là Di Đà nguyện lực, kế đến là công lực niệm Phật của chúng ta, tức sức tịnh nghiệp. Di Đà nguyện lực giống như ngọn đèn sáng một vạn nến, tịnh nghiệp của chúng ta giống như ngọn đèn một nến, đến nơi đó bèn dung hợp. Nhờ vào nguyện lực của Phật A Di Đà, quang minh ngọn đèn một nến của chúng ta cũng lớn phổng lên, chẳng khác quang minh của A Di Đà Phật chi mấy, đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Quý vị hãy suy nghĩ thí dụ này của tôi, hãy quan sát, dần dần quý vị sẽ lãnh hội được. Đó chính là điều chẳng thể tìm thấy trong các thế giới của mười phương chư Phật

Chúng ta “tin vào Phật lực mới có thể tin tưởng sâu xa công đức của danh hiệu”. Công đức của danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn! Đối với mỗi câu trong đoạn này, chúng ta phải đặc biệt chú ý đến chữ “tin tưởng sâu xa”, một mảy nghi ngờ cũng chẳng có, tin tưởng sâu xa đấy nhé! Danh hiệucông đức thù thắng. Những năm qua, chúng tôi giảng kinh luận Tịnh Độ, đã trình bày cùng mọi người rất nhiều lần. Qua việc so sánh nhiều tầng, chúng ta sẽ hiểu được công đức của danh hiệu, vì mỗi khi nói danh hiệu công đức thù thắng, chúng tôi thường nghe nói: “Thù thắng ở chỗ nào? Thù thắng bằng cách nào? ” Chẳng đoạn mối nghi hoặc ấy, sẽ không đạt được lợi ích nơi công đức của danh hiệu

Tôi đã từng trình bày cùng mọi người nhiều lần: Trong thời đại Tùy - Đường, có không ít cao tăng đại đức nghiên cứu hết thảy những kinh đức Phật đã nói trong suốt bốn mươi chín năm, [muốn tìm ra] bộ nào đại biểu cho toàn bộ những lời dạy trong bốn mươi chín năm của đức Thế Tôn. Tìm được bộ kinh nào có thể đại biểu cho toàn bộ giáo pháp thì cũng chính là khẳng định kinh ấy là bậc nhất trong hết thảy kinh, là một hội thù thắng khôn sánh trong bốn mươi chín năm thuyết pháp của đức Thế Tôn. Các tổ sư đại đức các tông phái đều đồng ý, đều thừa nhận Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh là kinh bậc nhất mà đức Phật nói ra. Bởi thế, kinh Hoa Nghiêm được gọi là “căn bản pháp luân”. Lúc tôi vừa mới tiếp xúc Phật giáo sơ sài, tiên sinh Phương Đông Mỹ đã giới thiệu kinh Hoa Nghiêm là khái luận Phật giáo, các kinh điển khác đều là những phần đặc biệt thuyết minh tường tận một bộ phận nào đó của kinh Hoa Nghiêm, còn kinh Hoa Nghiêm giảng về toàn thể. Thuyết này của tiên sinh Phương Đông Mỹ rất dễ hiểu! Phật pháp khái luận, đúng là như vậy! 

So sánh hai bộ kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm KinhVô Lượng Thọ Kinh, các tổ sư đại đức cũng đều thừa nhận kinh Vô Lượng Thọ là bậc nhất. Hoa Nghiêm đã là đệ nhất, sao Vô Lượng Thọ Kinh lại là đệ nhất? Giải thích cách nào đây? Hoa Nghiêm đến tối hậu là “mười đại nguyện của Phổ Hiền dẫn về Cực Lạc”, kinh Vô Lượng Thọ chính là Cực Lạc; còn Hoa Nghiêm đến tối hậu quy về Cực Lạc. Bởi thế so với Hoa Nghiêm, kinh Vô Lượng Thọ là bậc nhất! Cổ đức nói đến đây thôi. Trên cơ sở này chúng ta lại tiến thêm một bước nữa. Nay với kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta chọn bản hội tập của cụ Hạ Liên Cư, bản hội tập chia toàn bộ kinh văn thành bốn mươi tám phẩm, chúng ta phải hỏi phẩm nào là bậc nhất trong bốn mươi tám phẩm đó? Chúng ta phải tìm cho ra phẩm bậc nhất. Các tổ sư đại đức cũng đều nói, phần tinh vi đẹp đẽ nhất, không gì sánh bằng của kinh Vô Lượng Thọ chính là bốn mươi tám nguyện; tức là phẩm thứ sáu của kinh Vô Lượng Thọ, phẩm thứ sáu là bậc nhất. Phẩm kinh ấy do chính đức A Di Đà Phật nói ra, Thích Ca Mâu Ni Phật chỉ tường thuật cho chúng ta biết mà thôi. Tường thuật, không thêm, không bớt, nghĩa là A Di Đà Phật nói làm sao, Thích Ca Mâu Ni Phật bèn kể lại như vậy, kể lại cho chúng ta nghe bốn mươi tám nguyện A Di Đà Phật đã phát thệ. Phẩm này là phẩm bậc nhất của toàn bộ kinh. Nói thật ra, bốn mươi tám nguyện giống như hiến pháp của một quốc gia, chúng chính là hiến pháp của thế giới Cực Lạc

Bốn mươi tám nguyện tức bốn mươi tám điều, điều nào là bậc nhất? Lại tìm tòi! Đây cũng chính là ý kiến của các tổ sư đại đức, nguyện thứ mười tám là bậc nhất. Nguyện thứ mười tám nói những gì? Mười niệm ắt sanh! Điều này nói lên danh hiệucông đức chẳng thể nghĩ bàn! Nguyện thứ mười tám nói về danh hiệu: “Lúc lâm chung, từ một niệm đến mười niệm ắt sanh về Tịnh Độ”. Do đây biết rằng: Chấp trì danh hiệutrung tâm của bốn mươi tám nguyện này; bốn mươi tám nguyện chỉ nhằm giải thích công đức của danh hiệu; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh nhằm giải thích kinh Vô Lượng Thọ. Cả một Đại Tạng Giáo, hết thảy pháp đức Thế Tôn đã nói trong suốt bốn mươi chín năm chỉ nhằm giải thích kinh Hoa Nghiêm đó thôi. 

quan sát như vật quý vị mới hiểu danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế, Thiện Đạo đại sư nói: “Sở dĩ đức Như Lai xuất hiện trong thế gian, chỉ nhằm để nói biển bản nguyện của Phật A Di Đà”. Lời nói này chẳng nhằm giảng riêng mỗi mình Thích Ca Mâu Ni Phật, đại sư chẳng chỉ giảng lý do Thích Ca Mâu Ni Phật xuất thế, mà đại sư còn chỉ ra lý do xuất thế của Như Lai. Nói Như Lai là chỉ chung mười phương ba đời hết thảy Phật Như Lai, ứng hóa trong chín pháp giới của vô lượng vô biên cõi Phật, chỉ nhằm một chuyện, nhằm một đại sự nhân duyên: Giới thiệu Tịnh Độ của Phật A Di Đà với hết thảy chúng sanh, chỉ để vậy thôi! Đấy mới là nhân duyên hy hữu rốt ráo. Bởi vậy, chúng ta tin vào Di Đà nguyện lực thì mới có thể tin sâu xa công đức chẳng thể nghĩ bàn của danh hiệu! 

Nhất tâm trì danh ắt sanh Tịnh Độ, hãy nhớ kỹ trong kinh Đại Thừa, Phật thường dạy chúng ta: “Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh”, kể cả trong cuộc sống thường nhật của chúng ta, tâm tưởngchủ tể. Tâm mình bất thiện thì thân thể, hoàn cảnh chung quanh mình cũng thành bất thiện. Thân tâm mình phải thiện. Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, đức Phật dạy chúng ta: “Thường nghĩ đến thiện pháp là tâm thiện; tư duy thiện pháp là ý thiện; quán sát thiện pháp là hạnh thiện”. Thuần thiện, chẳng để mảy may bất thiện xen tạp chính là hạng người nào? Chính là Phật, là Như Lai. Chúng ta muốn làm Phật, muốn làm Như Lai thì không có gì khác cả, phải thuần tịnh, thuần thiện, quyết định chẳng để nhiễm ô mảy may, đó chính là điều tự mình có thể làm được. Người khác gây nhiễm ô cho mình, nếu mình tiếp nhận mình mới bị nhiễm ô; không tiếp nhận sẽ chẳng thể nhiễm ô. Bởi thế tự mình phải biết giữ gìn sự thanh tịnh của chính mình, giữ gìn sự thuần thiện của chính mình, điều đó rất trọng yếu. Thế sao không làm? 

Quá khứ không biết còn tha thứ được, nay chúng ta đã tiếp xúc Phật pháp nhiều năm, đã biết rồi. Biết rồi mà không làm, sai trái do chính mình; không thể làm được nói chung là có nguyên nhân, nguyên nhân gì vậy? Chẳng hiểu triệt để, chẳng biết rõ ràng. Vì thế, biết một phần, hiểu một nửa, bán tín bán nghi, tạo thành chướng ngại nên chẳng thể làm được! Nếu quý vị thật sự biết thì lẽ đâu chẳng làm được! Lẽ đâu chẳng vui thích làm! Không hề có, trong thế gian tìm đâu ra con người như vậy! Đối với chính mình lợi ích vô lượng vô biên, chúng ta phải khéo suy nghĩ cho lắm! 

Trong đây lại có chân lý, chân lý gì vậy? “Tin vào trì danh thì mới có thể tin tưởng sâu ra rằng tâm tánh của chúng ta vốn chẳng thể nghĩ bàn!” Câu này là chân lý đấy! Tâm tánh của chúng ta chẳng thể nghĩ bàn, kinh Hoa Nghiêm giảng là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, tâm tánh chẳng thể nghĩ bàn! Hư không do đâu có? Thế giới từ đâu có? Vô lượng vô biên cõi Phật từ đâu có? Mọi loài chúng sanh từ đâu có? Do tâm hiện thức biến! Tâm thuần tịnh thuần thiện, ngay cả thiện lẫn tịnh cũng không có dấu vết, chẳng để lại dấu vết, thuần mà! Trong Thức có thiện niệm, có ác niệm. Quý vị thấy trong kinh luận của Pháp Tướng Duy Thức Tông, đức Phật nói trong tâm có Thiện Tâm Sở, có Ác Tâm Sở.

Tâm Sở vô lượng vô biên, đức Phật quy nạp thành năm mươi mốt loại. Trong đó, Thiện Tâm Sở gồm mười một loại, Tâm Sở bất thiệnphiền não gồm hai mươi sáu loại. Nay chúng ta phải làm sao dẹp hai mươi sáu Tâm Sở bất thiện qua một bên, không đếm xỉa đến chúng nữa, phải phát dương quang đại mười một Tâm Sở thiện. Nhất định phải vùi lấp, phải vượt qua hai mươi sáu Tâm Sở bất thiện thì mới hòng thành công. Tâm tánh vốn chẳng thể nghĩ bàn, nhưng vấn đề là gì? Là giác, không giác thì mê, mê là phàm phu, giác là Phật, Bồ Tát. Giác ngộ thì phàm phu thành Phật, không giác ngộ bèn là mê hoặc, sẽ thành phàm phu, chuyện như vậy đó. Lại xem tiếp đoạn sau: 

“Đầy đủ lòng tin sâu xa ấy mới có thể phát đại nguyện, hai chữ “ưng đương” (phải nên) trong kinh chỉ cho lòng tin sâu xa ấy”. Trong kinh, đức Phật khuyên dạy chúng ta: “Ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc” (phải nên phát nguyện, nguyện sanh về cõi nước kia), sách Yếu Giải nhắc đến hai chữ “ưng đương” này. Vì thế, chúng ta hiểu rõ tuy chưa thể nói là triệt để, nhưng cũng là hiểu rõ kha khá. Cõi Phàm Thánh Đồng Cư Độ của Tây Phương Cực Lạc thế giới do đại nguyện chủng trí của A Di Đà Phật hiện thành, do tịnh nghiệp niệm Phật của chúng ta cảm thành, cảm ứng đạo giao! Do tâm tánh của chính mình hiện, tức là “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”, hết thảy pháp chẳng tách rời tự tánh, tức tâm tánh của chính mình. Y báo, chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới cũng do tâm tánh của chính mình biến hiện, do nghiệp nhơ (nhiễm nghiệp) cảm thành; Tây Phương Cực Lạc thế giới do tịnh nghiệp cảm thành, do tịnh nghiệp tâm đồng, nguyện đồng, đức đồng với A Di Đà Phật cảm thành. Nếu chúng ta chẳng dốc công phu vào ngay chỗ này thì là trật rồi! Bởi thế hai chữ “ưng đương” trong kinh chính là nói về lòng tin sâu đậm. 

“Tin sâu phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ Đề”, từ trước đến nay chưa có ai giảng như vậy. Chúng ta thấy rất nhiều người niệm Phật thật sự vãng sanh, nhưng họ là hạng người như thế nào? Không biết chữ, về căn bản chẳng hiểu kinh giáo chi hết, họ niệm kinh A Di Đà nhưng kinh A Di Đà ý nghĩa ra sao, họ hoàn toàn không biết, chỉ niệm A Di Đà Phật, vẫn nghiễm nhiên vãng sanh. Vãng sanh thật sự có tướng lành, đứng mất, biết trước lúc đi, lúc nào A Di Đà Phật sẽ đến đón mình; hoặc ngồi mất, người ấy không biết chữ. Vì thế, chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ thấy nói muốn vãng sanh ắt phải có đủ điều kiện là “phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm”, chúng ta hiểu: Với người ấy một dạ chuyên niệm không có vấn đề gì, nhưng ta có thể khẳng định người ấy chưa từng phát Bồ Đề tâm. Người ấy không phát Bồ Đề tâm, vì sao vẫn có thể vãng sanh? Tôi ôm nghi vấn ấy cả mười mấy năm, cứ nghi mãi. Về căn bản, bà lão niệm Phật vãng sanh kia chẳng biết thế nào là Bồ Đề tâm cả! 

Khởi Tín Luận nói đến trực tâm, thâm tâm, đại bi tâm; kinh Quán Vô Lượng Thọ nói đến chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm, bà cụ làm sao hiểu được những thứ đó, thế sao vẫn vãng sanh? Lúc đọc Yếu Giải, đọc đến đây mới hiểu rõ. Một câu nói này của đại sư Ngẫu Ích trọng yếu hơn tất cả, nó đã cho tôi lời giải đáp. “Thâm tín phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ Đề”. Về căn bản, người ấy không hiểu Vô Thượng Bồ Đề là gì, nhưng tin rất sâu, phát nguyện, không hoài nghi chút nào, đó chính là tâm Vô Thượng Bồ Đề. Khi đó, đọc được câu nói này, tôi suy nghĩ mãi, càng nghĩ càng có lý, đại sư Ngẫu Ích giảng không sai lầm! 

Bởi thế, những người ấy là Hạ Hạ Căn, chúng ta thường gọi là kẻ ngu, không có trí huệ, là người ngu, ngu ngốc nhất, chính là như cổ nhân thường nói “ngu không ai bằng”, nhưng chúng ta thua xa họ. Họ cái gì cũng không biết, nhưng được dạy bèn tin, tin chân thành, tin thật sự không hoài nghi; dạy cầu sanh Tịnh Độ họ bèn thật sự phát nguyện, đối với thế gian này bèn nghiễm nhiên buông xuống, một mảy may lưu luyến cũng không có. Kết quả: Niệm Phật ba năm, năm năm bèn thành công. Thọ mạng vẫn còn, nhưng không cần đến nữa, bèn vãng sanh. Bởi thế, đến đây chúng ta mới thật sự hiểu rõ: “Thâm tín phát nguyện” chính là tâm Vô Thượng Bồ Đề. Quý vị thấy họ đáp ứng tiêu chuẩn “thâm tín phát nguyện, một dạ chuyên niệm”. Bản thân chúng ta vẫn hiểu lơ mơ, vẫn nghi lự trùng trùng, công phu không đắc lực. Những ông già bà cả kia chuyện gì cũng không hiểu, nhưng công phu đắc lực, nay ta gọi là “tập trung tinh thần, tập trung ý chí”, năng lực ấy rất lớn! Tập trung vào đâu? Tập trung nơi thế giới Cực Lạc, tập trung nơi A Di Đà Phật, phát sanh năng lượng rất lớn, cảm ứng đạo giao cùng A Di Đà Phật! 

 Mấy hôm trước, pháp sư Ngộ Bình hạ tải (download) từ Internet xuống một vài văn kiện, đại kháiĐài Loan có bốn, năm trường tiểu học, thầy hướng dẫn học trò làm thí nghiệm: Dùng thiện ý, bất thiện ý và thái độ không thèm quan tâm để thử tác động lên thực vật và một số vật; dùng ba thứ đề mục đó để thí nghiệm trên chúng. Thầy trò hết sức kinh ngạc trước kết quả thu được. Ông Giang Bản Thắng của Nhật Bản làm thí nghiệm với nước, còn trong bản báo cáo này, tại Đài Loan họ dùng hoa lan, ba giò hoa lan. Đại khái hình dạng lớn nhỏ không khác nhau chi mấy, chọn mỗi giò hoa xong, treo bên cửa để học sinh mỗi ngày ba lượt, chia thành mấy tổ: một tổ thiện ý, một tổ ác ý, một tổ chẳng thèm quan tâm, tức là mặc kệ không để ý đến. 

Thiện ý là nói với hoa: “Hoa đẹp lắm, tôi rất thích hoa”, khen ngợi nó một ngày ba lần; bảo những học trò tham gia tổ ấy mỗi ngày ba lần bày tỏ thiện ý với hoa. Tổ bất thiện ý thì nói: “Tao chán ghét mày quá, tao không thích mày, mày xấu xí quá đi!”, nói như vậy đấy. Độ mấy ngày sau, hoa được đối đãi bằng thiện ý chẳng thay đổi, rất thơm. Hoa bị đối xử ác ý dần dần héo rụi, không còn mùi thơm nữa. Còn hoa không được quan tâm đến bắt đầu tàn tạ, mục nát ra. Hoa thật sự có thể nghe, có thể tiếp nhận ý tưởng của con người. Họ thí nghiệm với “mạn đầu” (2), cũng dùng phương pháp trên đối với ba cái mạn đầu. Kết quả cái mạn đầu được đối xử bằng thiện ý, hai tuần lễ vẫn không bị biến đổi; thật đấy! Tợ hồ thiện ý là một loại thuốc chống mục nát vậy. Đối xử bằng ác ý thì mạn đầu bị biến hóa, mùi rất khó ngửi. Cái mạn đầu không được quan tâm đến cũng dần dần bị biến hoại

Bọn họ dùng chuối, táo, dùng rất nhiều thứ khác. Lại còn dùng giá đậu, đậu xanh đã nẩy mầm thành giá: Dùng thiện ý đối xử, mầm giá mọc rất khỏe. Đối xử bằng ác ý, giá mọc rất chậm. Nếu không quan tâm đến, nó bèn chết khô. Họ nhận ra các loài thực vật, ngay cả bánh mạn đầu cũng hiểu được ý người, đều tiếp nhận hết. Trên thực tế, trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật đã giảng: Bất luận loại vật chất nào cũng đều có linh tri. Trung Phong thiền sư gọi cái tâm này là “linh tri tâm”. Linh tri tâm chính là bản thể của hết thảy vạn sự vạn vật, thể là linh tri. 

Vì thế, mỗi tế bào trên thân thể chúng ta, mỗi một sợi lông đều có thể thấy, nghe, cảm nhận, biết, đừng tưởng chúng vô tri. Những bậc chân nhân thổ dân Úc Châu hiểu được điều này, bởi vậy, lúc họ trị bệnh, về căn bản là chẳng dùng đến thuốc men. Họ cho rằng khi mình bị thương ở chỗ nào thì trò chuyện cùng với những tế bào thuộc phạm vi bị thương, dùng thiện ý an ủi chúng, dần dần chúng sẽ khôi phục bình thường, tự nhiên khôi phục bình thường. Lúc bị thương chúng bị chấn động, kinh sợ, kinh hoảng nên trật tự bị rối loạn, không bình thường, nên chúng ta thấy chúng bị tổn thương. Phải làm cho mỗi tế bào khôi phục bình thường, hết khủng hoảng, trở lại bình thường, rất hợp lý! Chẳng cần dùng đến thuốc men, trên thân mình chỗ nào bị đau nhức, chẳng thoải mái, chỗ đó nhất định phát sanh vấn đề, chúng ta phải mau điều hòa, giải trừ, an ủi nó khiến nó được khôi phục bình thường thì mình sẽ hết bị đau nhức. 

Mọi người cảm thấy [nói như vậy] quá thần kỳ, chứ trong Phật pháp, đạo lý này được giảng rất thấu triệt: Nhỏ là một thân, lớn là toàn vũ trụ, vũ trụ phải hài hòa. Vì thế yêu thươngcảm ơn, cảm tạ chính là vũ trụ hài hòa. Hài hòa là nhân tố chẳng thể khuyết thiếu của sanh mạng vũ trụ. Sở dĩ Phật có thể thành Phật, sở dĩ Pháp Thân Bồ Tát có thể thành Pháp Thân Bồ Tát không có chi khác cả, tôi thường nói: “Chân thành trọn khắp hư không pháp giới, thanh tịnh, bình đẳng trọn khắp hư không pháp giới, chánh giác từ bi trọn khắp hư không pháp giới”. Nói cách khác, tâm thương yêu trọn khắp hư không pháp giới, lòng cảm ơn trọn khắp hư không pháp giới. Ta gọi những vị như vậy là chư Phật Như Lai, là Pháp Thân Bồ Tát. Đáng thương hại thay! Tâm lượng chúng ta quá nhỏ! 

Hôm nay, từ những thí nghiệm ấy chúng ta biết được tình hình trên, kinh Lăng Nghiêm đã từng giảng tình hình ấy như sau: “Các pháp được sanh ra chỉ là do tâm hiện. Hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần do tâm mà thành Thể”. Tâm là linh tri, tâm là kiến văn giác tri. Bởi thế, mỗi một thực vật, dù nhỏ tí như vi trần cũng đều có thể nghe, thấy, ta có thể nói là chúng có thể thấy, có thể nghe, có thể hay, có thể biết. Nhà khoa học Giang Bản Thắng dùng phương pháp khoa học để quan sát kết tinh nước bằng kính hiển vi, là một khởi đầu tốt đẹp hòng làm cho mọi người nhận biết: dần dần qua thí nghiệm, [chứng thực] hết thảy vạn vật quả nhiên đều có thể nghe, thấy, đều có thể tiếp nhận năng lượng, tư tưởng của con người. Chúng tathiện ý, chúng sẽ hồi đáp hết sức tốt đẹp. Chúng ta muốn thân thể của chính mình mạnh khỏe, thì phải dùng thiện ý để đối đãi mỗi một khí quan trên thân, đối đãi mỗi một tế bào trên toàn thân. Thân chúng ta giống như một quốc gia, ý niệm của ta giống như ông Tổng Thống, mỗi một tế bào giống như nhân dân trong nước. Quý vị phải dùng thiện ý đối đãi họ thì quốc gia mới cường thịnh, đạo lý là đây! Dùng thiện ý để đối xử với mỗi một khí quan, mỗi một tế bào trên thân chúng ta thì thân thể mạnh khỏe cường tráng. Nếu hoài nghi một khí quan nào đó nơi thân: Bao tử mình không tốt, chỗ này chỗ nọ không khỏe. Ái chà! Quý vị khởi ý niệm bất thiện đối với chúng, chúng bèn yếu đi. Quý vị có hiểu đạo lý này chăng? Đạo lý đức Phật đã giảng trong kinh Đại Thừa, hy vọng các nhà khoa sẽ dần dần thí nghiệm để khẳng định, chúng tôi tin rằng không khó đâu, chúng ta đều có thể chứng thực được. 

Hiểu được đạo lý này, nếu quý vị muốn cầu thế giới hòa bình thì không có gì khác cả, dùng thiện ý đối đãi hết thảy tất cả chúng sanh trên thế giới, chẳng những đối với mọi người trên toàn thế giới, mà đối với hết thảy động vật, hết thảy thực vật, hết thảy khoáng vật, sơn hà đại địa đều đối đãi bằng cái tâm thuần thiện, thuần tịnh thì thế giới này sẽ an định, hòa bình, hưng vượng, có thể chuyển thế giới Sa Bà thành thế giới Cực Lạc. Sự thành do người, người nào? Phải là người giác ngộ mới được, quyết định chẳng có tư tâm thì hết thảy sẽ hóa thành rộng lớn, không có tư tâm, không dục vọng. Nay chúng ta hiểu được mỗi một khí quan trên toàn thân do các tế bào tạo thành; cái thân này của chúng ta là một tiểu thế giới, bên ngoài là đại thế giới. Tiểu thế giớiđại thế giới là một không hai. Đấy là Phật pháp, là pháp giác ngộ chân chánh. Đoạn dưới nói: 

“Tín nguyện này hợp lại chính là kim chỉ nam của Tịnh Độ, do đây chấp trì danh hiệu, ấy là chánh hạnh”. Bởi vậy, Ấn Quang đại sư dạy chúng ta trong thời đại hiện thời, chẳng cần phải cất đạo tràng to, mà lập đạo tràng nhỏ, số người cùng tu chẳng được quá hai mươi người, nhất tâm trì danh niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ, ai nấy đều thành tựu. Không hóa duyên, không làm pháp hội, chẳng làm kinh sám Phật sự, cũng chẳng truyền giới, cũng chẳng thâu đệ tử, niệm Phật tu hành cho tốt; ngay cả kinh cũng không giảng. Tôi thêm giảng kinh vào. Vì sao thêm giảng kinh vào? Bởi nếu quý vị không hiểu đạo lý này, sẽ có nghi hoặc, thâm tín phát nguyện rất khó. Chúng ta không phải là kẻ hạ ngu; kẻ hạ ngu thì được, họ lợi hại hơn chúng ta nhiều lắm! Chúng ta lại chẳng phải là thượng trí, vừa không phải là hạ ngu, lơ lửng ở giữa, trên không thấu, dưới không đến, nghi vấn đặc biệt nhiều. Nếu quý vị chẳng nhờ kinh giáo để đoạn nghi sanh tín, “thâm tín phát nguyện” sẽ không có, công phu chẳng đắc lực. Nay chúng tôi giảng những kinh giáo cũng chẳng có gì khác, hoàn toàn quy về Cực Lạc! Giảng Hoa Nghiêm cũng chẳng ngoại lệ, nhất định phải giảng đại đạochân tướng nhân sanh vũ trụ cho rõ ràng, cho minh bạch mới đoạn trừ nghi hoặc được, có chết lòng trọn ý thì mới thâm tín phát nguyện. Như vậy mới tương ứng một câu Phật hiệu, một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật. Vì thế, đấy là Chánh Hạnh. Bây giờ hết giờ rồi! 
 
 

*

Chư vị đồng học! 

Xin xem tiếp đoạn cuối cùng: “Nếu tín nguyện kiên định, lâm chung mười niệm hay một niệm cũng quyết định được vãng sanh”. Trước hết, chúng tôi nói một câu: Từ cổ, tổ sư đại đức công nhận nguyện thứ mười tám là thù thắng nhất, là lời răn dạy thù thắng khôn sánh; nhưng điều kiện là “tín nguyện kiên định”: Tín tâm quyết định không nghi hoặc, “nguyện sanh” là nguyện vọng, cả một đời này chỉ có mỗi nguyện vọng này; trừ nguyện vọng này, không có nguyện vọng nào khác cả. Đơn thuần như vậy, kiên định như vậy, lâm chung niệm mười câu Phật hiệu, hoặc niệm một câu Phật hiệu, quyết định được sanh. Chữ “quyết” này hết sức trọng yếu, khẳng định! Một điểm nghi hoặc cũng không có thì quyết định được vãng sanh

Ở đây, quý vị phải hiểu: Thật ra, không phải ngẫu nhiên đâu! Ngàn vạn phần chẳng được nghĩ vì đoạn kinh văn này được tổ sư đại đức coi trọng, tán thán như thế, chúng ta bèn nẩy lòng cầu may: “Nay mình không niệm Phật, chẳng tu hành cũng không sao! Đến lúc lâm chung một niệm hay mười niệm đều có thể vãng sanh”. Có tâm lý cầu may như thế là hoàn toàn thất bại rồi. Ở phần trên tôi đã thưa cùng quý vị rồi đó, phải thường xuyên ghi nhớ, chớ quên: Lâm chung mười niệm hay một niệm vãng sanh thì nhất định phải hội đủ ba điều kiện. Lúc lâm chung quý vị có thể hội đủ ba điều kiện ấy chăng? 

1) Điều thứ nhất, lúc lâm chung thần trí phải sáng suốt, không mê hoặc tí ti nào. Đó là điều kiện đầu tiên. Cả đời người không thể không tu phước, chẳng tạo tội nghiệp. Người Tàu nói có năm thứ phước báo, “ngũ phước lâm môn”, trong năm thứ phước ấy, quan trọng nhất là phước sau cùng. Phước sau cùng là phước gì? Chết tốt lành! Lúc chết rõ ràng, minh bạch, chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo, ấy là phước báo lớn nhất, là phước báo chân thật nhất. Vì sao? Ảnh hưởng đến đời sau của quý vị. Nếu lúc ấy, gặp được người niệm Phật dạy mình niệm Phật, mình thành Phật rồi! Trong năm phước, bốn thứ phước đầu không thật, chỉ là sự hưởng thụ trong một đời này, trong nhà Phật gọi là “hoa báo”, phước cuối cùngquả báo. Một đời hành thiện tích đức, dùng thiện tâm, thiện sự đối đãi hết thảy người, sự, vật, đối đãi thiên địa quỷ thần; lúc lâm chung sáng suốt, minh bạch, tâm không điên đảo, không tán loạn, lúc ấy niệm một niệm hay mười niệm mới được vãng sanh. Bởi thế, lúc ấy phải có người cảnh tỉnh quý vị, sợ quý vị quên mất. Như vậy, điều kiện thứ nhất là thần trí sáng suốt, đó là điều kiện đầu tiên. 

2) Điều kiện thứ hai có người cảnh tỉnh quý vị. 

3) Điều kiện thứ ba là quý vị có thể tiếp nhận, người ta cảnh tỉnh bèn lập tức tiếp nhận, liền quyết tâm, tín nguyện lập tức kiên định, cầu sanh về Tịnh Độ chắc chắn được vãng sanh

Quý vị hãy nghĩ xem lúc lâm chung mình có thể hội đủ ba điều kiện này hay chăng? Quan trọng nhất là điều kiện đầu tiên, quý vị phải có phước báo. Chúng tôi thấy rất nhiều thân thích bằng hữu, lúc họ sắp mất chúng tôi đến đưa đi, có người khi bệnh chuyển nặng, không còn biết gì hết, chẳng nhận biết được ai, vậy là hỏng bét! Đáng sợ lắm! Lúc lâm chung chẳng tỉnh táo nhận biết, mê hoặc, điên đảo, sẽ lưu chuyển theo nghiệp, đáng sợ nhất là chuyện đó! Đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức để làm gì? Để cầu lúc lâm chung, ra đi sáng suốt rõ ràng, minh bạch, rành rẽ. Không học Phật, không biết vãng sanh Cực Lạc thế giới, cũng quyết định sanh vào đường lành, con người sáng suốt, minh bạch rành rẽ ấy có thành ngạ quỷ, có thành súc sanh được chăng? Chẳng thể nào! Phàm kẻ đọa vào ba ác đạo đều chết một cách mê muội, hồ đồ! Trong tam ác đạoquỷ thần dẫn dụ, mê hoặc, quý vị không biết đó là sai trái, thấy rất hợp ý mình, lôi kéo tham - sân - si - mạn, dẫn khởi phiền não tập khí của chính mình, đọa lạc liền. Thật là đáng sợ! 

Bởi thế con người phải tu phước, biết tu phước, biết làm lành, chúng ta đều nhìn từ duyên, nhìn từ bên ngoài, không dễ gì làm được! Xin giảng sâu thêm một tầng nữa: Người thập niệm vãng sanh trong quá khứ đã tu tập, tích lũy thiện căn sâu dầy, đó là cái nhân chân thật! Thiện căn tu tập trong bao kiếp, trong một đời này không gặp được thiện duyên, không gặp được Phật pháp. Nếu người ấy sớm gặp được Phật pháp thì thiện căn trong A Lại Da Thức đã sớm dẫn khởi, phát tác dụng, người ấy nhất định là một người tu hành rất giỏi, hay một vị thiện tri thức rất tốt. Trong đời này không có duyên, vô duyên tiếp xúc Phật giáo, vô duyên dẫn phát thiện căn. Trong một sát-na lúc sắp mạng chung, trong thời gian ngắn ngủi ấy, gặp được thiện tri thức vừa cảnh tỉnh, vừa chỉ dạy cho biết Tây Phương Cực Lạc thế giới tốt đẹp vừa khuyên lơn, kẻ ấy vừa nghe thì thiện căn trong A Lại Da Thức bèn phát hiện, lập tức tin tưởng, bèn có thể tiếp nhận, bèn có thể phát nguyện, niệm Phật theo mọi người

Tại Washington DC chúng ta đã thấy ông Châu Quảng Đại là một trường hợp như vậy. Ba ngày trước khi ông vãng sanh, tận cho đến lúc vãng sanh thần trí ông sáng suốt, không mê hoặc tí nào, chẳng chút gì tán loạn, mọi người trong nhà cùng niệm Phật giúp ông. Thân thích, bằng hữu đến thăm đều niệm A Di Đà Phật, vui sướng lắm! Tuy bệnh rất nặng, cõi lòng ông rất sung sướng, bởi lẽ niệm Phật sự đau khổ giảm thiểu, không đau đớn nữa, ông kêu mọi người đều niệm Phật giúp, ba ngày rồi mất. Có tướng lành! Không biết vị đồng học nào trong Tịnh Tông Học Hội là thân thích của ông, thấy Phật đến tiếp dẫn, thấy tướng lành như sau: Thấy quang minh, ngửi thấy mùi thơm. Hình như có người thấy Phật đứng trên nóc nhà, thấy vậy đó! Tướng lành hy hữu sao!

Chúng ta không biết trong đời quá khứ mình có túc căn hay không, chính mình không biết, nhưng nếu chú tâm quán sát trên mặt dấu vết, chúng ta sẽ có thể thấy được. Trong đời quá khứ phải thật sự có thiện căn thì trong đời này mới khá hiền lành; chúng ta thường gọi là “người có lương tâm”, chẳng hại người. Đó đều là hiện tượng chứng tỏ thiện căn sâu dầy. Đồng cảm với người khác, giúp đỡ những người khổ nạn là trong quá khứ từng có thiện căn! Có thể bỏ mình vì người, biết nghĩ đến đại cuộc, đó đều là hình dáng của thiện căn, trí huệ. Chúng ta lắng lòng quán sát sẽ biết ngay. Quan trọng nhất vẫn là chính mình phải nỗ lực tu hành, đặt nặng tín nguyện kiên cố, tín - nguyện - giải - hạnh tương ứng với Phật. Lại xem tiếp đoạn dưới: 

“Nếu không tín nguyện thì dù có trì danh hiệu đến mức gió thổi không lọt, mưa tạt chẳng ướt, hệt như tường đồng vách sắt, cũng không lẽ nào được vãng sanh. Người tu tịnh nghiệp không thể không biết điều này”. Chúng ta phải hiểu rõ đoạn này: Tín tâm nếu lúc có lúc không, có lúc tợ hồ tin, có lúc lại hoài nghi, nguyện chẳng khẩn thiết. Nguyện chẳng khẩn thiết thì sao? Không buông danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần của thế gian này xuống được! Tín nguyện kiên cố thì bất cứ sự gì trong thế gian cũng buông xuống được, chẳng phải đến lúc mạng chung mới buông xuống, mà buông ngay trong hiện tại. Chúng ta phải hiểu lý sự này, những việc trong hiện tạicần phải làm hay không? Phải làm chứ! Trong thế gian này, tuy chúng ta hòa quang đồng trần cùng hết thảy chúng sanh, những việc gì nên làm chúng ta đều tích cực nỗ lực thực hiện, nhưng trong tâm không vướng mắc! Trong mười hai thời, một câu Phật hiệu trong tâm niệm niệm không quên. 

Thật sự đầy đủ tín nguyện trì danh, cổ đức gọi phương pháp niệm Phật như vậy là “bất hồi hướng pháp môn”. Vì sao gọi là hồi hướng? Không dùng đến hồi hướng. Mục đích của một câu A Di Đà Phật đối với ta là để cầu sanh Tịnh Độ, cho nên niệm niệm đều là hồi hướng, trì danhhồi hướng hợp thành một thể. Chúng ta chẳng cầu bất cứ gì dù thế gian hay xuất thế gian, ta chỉ có một niềm cầu nguyện là cầu sanh về Tịnh Độ, thân cận Di Đà, nguyện vọng như vậy đó. Bởi thế gọi là “bất hồi hướng pháp môn”. 

Bậc thiện tri thức trong Niệm Phật Đường thường dạy chúng ta hồi hướng để làm gì? Để nhắc nhở mình, sợ mình quên mất, ý nghĩa là đây. Hồi hướng, phát nguyện không phải là nói với Phật mà là để thường tự nhắc nhở mình, phải biết mình niệm Phật để làm gì? Tu hành để làm gì? Đoạn ác tu thiện để làm gì? Trì trai niệm Phật để làm gì? Bố thí, cúng dường để làm gì? Quyết định chẳng cầu danh văn, lợi dưỡng thế gian, quyết định chẳng cầu phước báo nhân thiên, chỉ cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chỉ cầu sớm có ngày thấy được Phật A Di Đà. Bởi thế, pháp môn này gọi là pháp môn bất hồi hướng. Dành trọn thời gian niệm kệ hồi hướng để niệm Phật hiệu, tín - nguyện - giải - hạnh của ta (hạnh bao gồm cả hồi hướng) đều gộp trong một câu Phật hiệu. Đó gọi là thuần tịnh, thuần thiện. Tâm địa thanh tịnh, thân tâm thế giới hết thảy đều buông xuống. 

Vậy thì nếu tín nguyệnvấn đề, bán tín bán nghi, có lúc muốn về Tây Phương Cực Lạc thế giới, có lúc không muốn đi, có tâm thái như vậy thì niệm Phật “dẫu chấp trì danh hiệu đến mức gió thổi chẳng lọt, mưa tạt không ướt hệt như tường đồng vách sắt”, mấy câu này hình dung: Dù quý vị niệm một câu Phật hiệu rất giỏi, cổ đại đức nói một ngày niệm mười vạn tiếng, niệm hai mươi vạn tiếng, tâm - miệng chẳng tương ứng, cho nên rách hầu toạc họng cũng uổng công. Vì sao? “Cũng không lẽ nào được vãng sanh”. Quý vị chẳng thể vãng sanh vì quý vị niệm Phật tâm và miệng chẳng tương ứng, tâm là gì? Tâm chỉ cho tín và nguyện. Quý vị không có tín, không có nguyện. Tin chẳng chân thành, nguyện chẳng thiết tha thì niệm Phật chẳng thể vãng sanh. Niệm Phật như thế nào mới được vãng sanh? Niệm Phật thế nào không được vãng sanh? “Người tu Tịnh nghiệp chẳng thể không biết vậy”. Chúng ta phải nghiêm túc suy nghĩ, nhất định phải loại trừ những nhân tố khiến mình chẳng được vãng sanh, phải sửa đổi, nhất định phải thật sự đáp ứng những điều kiện vãng sanh

“Đại Bổn A Di Đà Kinh (Đại Bổn A Di Đà Kinhkinh Vô Lượng Thọ) cũng lấy phát tâm Bồ Đề làm chủ, chính là giống với kinh đây”, lấy phát Bồ Đề tâm làm sự việc trọng yếu. Quý vị xem trong kinh A Di Đà Đại Bổn, hai phẩm Ba Bậc Vãng Sanh và Chánh Nhân Vãng Sanh chuyên giảng về những điều kiện cần phải hội đủ để được vãng sanh. Chúng ta có đủ những điều ấy hay không? Nếu không có đủ, phải gấp tu đi; đã đủ rồi thì phải gìn giữ vĩnh viễn chẳng để mất đi. Trong phẩm Ba Bậc Vãng Sanh, trong mỗi đoạn Phật đều nói “phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm”. Một phương hướng, một mục tiêu, quyết định chẳng được tam tâm nhị ý. 

một lần đúng vào lúc bệnh dịch SARS lan tràn khắp thế giới, tôi nghe hình như ở Úc Châu có một bài phát biểu cho biết chứng cảm mạo viêm phổi này rất bình thường, nhưng làm cho mọi người hoảng loạn, là do hệ thống truyền thông gây ra. Nếu truyền thông không đăng tin, ai biết? Bởi thế, sự tình này vừa phát sanh, có người đến hỏi tôi, tôi nói chuyện này bình thường, năm nào cũng có. Trời vừa cuối Xuân sang Hạ, hoặc khi cuối Thu chớm Đông, nhằm lúc đổi mùa thì trúng gió cảm mạo, bệnh truyền nhiễm lây lan thường phát sanh trong những lúc ấy, năm nào cũng có. Từ cổ đến nay, trong lịch sử Trung Quốc, ngoại quốc đều ghi nhận, chúng ta thấy rất nhiều, là chuyện rất bình thường. Nay chúng ta học Phật hiểu được đạo lý sau: Tâm thiện, hạnh thiện, ý niệm thiện thì những bệnh khuẩn (virus), bệnh độc ấy ta đều hóa giải được hết. 

Lúc đó, tôi cứ tưởng bệnh dịch ấy nhiều lắm chừng một tháng là hết, kéo dài chừng nửa tháng thôi, nay nó kéo dài đã hơn ba tháng, là vì con người tạo nên như vậy. Từ các thí nghiệm (những bản báo cáo thí nghiệm này do các đồng học hạ tải từ Internet), chúng ta biết là chính mỗi cá nhân chúng ta đã đem những tin tức bất thiện truyền báo cho các vi khuẩn biết, khiến chúng cũng bị truyền nhiễm, truyền nhiễm ý niệm bất thiện của chúng ta. Chúng ta muốn giết chết, muốn tiêu diệt nó. Lúc truyền cho chúng nó những ý niệm ấy, chúng bèn biến đổi, càng biến đổi càng độc hơn. Vì sao? Chúng cũng phải tự bảo vệ mình chứ! Có phải càng thêm phiền phức hay không? Giống như trên thế giới đang chạy đua vũ trang càng ngày càng nghiêm trọng hơn. Nếu chúng ta dùng thái độ ôn hòa, thái độ thiện ý đối đãi chúng, quý vị thấy ở Trung Quốc từ cổ đến nay, đối với những loại bệnh độc hoặc những vi khuẩn mang độc thì người Trung Quốc nói “giải độc”, tức hóa giải! Còn người Tây Dương nói sao? Tiêu độc! Tiêu là tiêu diệt, ý niệm khác hẳn nhau! 

Bệnh truyền nhiễm này đã phát sanh, đối địch con người, nếu gây chiến với nó thì rắc rối nằm ở chỗ đối lập, đối lập rất phiền phức. Làm thế nào để hóa giải? Đối với đạo lý này, người học Phật chúng ta hiểu rõ lắm: Những bệnh khuẩn (virus) này cũng sanh từ tâm tưởng, cũng là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, làm sao có thể vượt ra ngoài tâm tánh cho được? Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến đều là tốt cả. Nói cách khác, nó cũng có quyền sanh tồn, nay chúng ta gọi là “nhân quyền”, vi khuẩn có khuẩn quyền, chúng ta phải hiểu điều ấy. Chúng ta phải yêu thương, che chở chúng, chúng ta phải chăm sóc chúng, sanh mạng của chúng không dài, chúng ta biết thời gian sanh tồn của vi khuẩn chẳng thể lâu hơn mười ngày, sao lại phải hận thù đến vậy? Bởi thế, muốn hóa giải thì phải dùng thiện ý để khen ngợi sẽ hóa giải, không tổn thương con người nữa. Điều này đúng là có đạo lý! Quyết chẳng thể dùng ác ý, quyết chẳng thể đối địch cùng chúng. 

Như vậy, từ cách đối đãi với những vi khuẩn tí ti, chúng ta mở rộng ra đối với hết thảy người, hết thảy thế gian phải nhẫn nhục như thế nào? Căn bản nhất vẫn là phải giảm diệt tham, sân, si. Tham, sân, si được gọi là ba độc, điều này tôi đã nói từ lâu. Có người hỏi tôi: “Bệnh độc SARS từ đâu có?” Tôi bảo người ấy: “Từ ba độc mà có”. Những vi khuẩn ấy vốn không độc, vì sao thành độc? Là vì tham, sân, si của chúng ta truyền qua chúng, chúng cảm nhận cái độc nên biến thành độc. Chúng ta biến chúng thành độc, chúng lại truyền cái độc ấy cho chúng ta, hai bên cùng bị độc. Hiểu được đạo lý này rồi thì chúng ta hóa giải bằng cách nào? Phương pháp hóa giải thì trước hết là phải hóa giải tham - sân - si, cảnh giới bên ngoài không còn tham - sân - si nữa, ba độc không còn nữa. 

Nhưng con người hiện tại chẳng thể tiếp nhận đạo lý này, con người hiện thời tin vào khoa học, chẳng tin Phật học, tin vào những khoa học gia hiện thời, không tin cổ thánh tiên hiền. Do vậy, tôi thường nói: Ngày nay thế giới loạn như vậy, con người khổ sở như vậy, truy tầm cội rễ là gì? “Chẳng nghe người già nói, chịu thiệt thòi trước mắt”. Kinh nghiệm, trí huệ của cổ thánh tiên hiền được tích lũy trong ngàn vạn năm, quý vị coi không đáng một đồng ư? Dùng bốn chữ “không hợp khoa học” để sổ toẹt hết thì quý vị phải chịu khổ, phải mắc nạn. Bởi thế, người thầy thuốc - thầy thuốc Tây Phương tôi không biết rành - tôi biết thầy thuốc thời cổ Trung Quốc, tức Trung Y, hầu như trong nhà mỗi thầy thuốc đều thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, phổ biến nhất! Nhà nhà Quán Thế Âm Bồ Tát, thờ Quán Thế Âm Bồ Tát, học theo hạnh đại từ đại bi của Quán Thế Âm Bồ Tát. Đúng là từ bi cứu thế, ôm tấm lòng dạy người, chẳng vì danh lợi cho chính mình, chẳng phải vậy! Vì cứu người thôi! Bởi thế, khi chẩn bệnh cho người, quyết định chẳng bàn phải mất bao nhiêu tiền, không hề có! Thầy thuốc không phải là buôn bán kiếm lợi, trị lành bệnh rồi; người ta đến báo tin, tùy hỷ cúng dường mình. Người ta giàu có, mình được cho nhiều một chút, nhà bần cùng thì người ta cho ít đi một chút. Thậm chí hoàn toàn không có gì, thầy thuốc vẫn phải bố thí thuốc men, chăm sóc! Bởi thế, địa vị người thầy thuốc ở Trung Quốc rất cao, đại chúng xã hội hết sức tôn kính, họ là những nhà đại từ thiện. Ở Trung Quốc, có hai hạng người được tôn kính nhất thì thứ nhất người đọc sách, theo đuổi việc giảng dạy; thứ hai là thầy thuốc; bởi lẽ hai hạng người này đều hy sinh phụng hiến cho xã hội

Dạy học chẳng hề thâu nhận học phí. Thâu học phí còn ai muốn theo học nữa! Khổng lão phu tử dạy dỗ không phân biệt, bất cứ ai chỉ cần thích học cứ việc đến, học trò dâng thầy một chút lễ vật, chúng tôi thấy trong sách Luận Ngữ ghi lễ vật rất đạm bạc: “Thúc tu”. Thúc Tu là gì? Người Tàu lục địa gọi là “lạp nhục” (thịt muối). Muối một lát thịt đến biếu thầy, biểu thị lòng tôn kính đối với thầy, ngoài ra không có gì khác nữa. Thầy dạy học hết sức nghiêm túc, nào biết đến học phí! Bởi thế người dạy học cuộc sống rất thanh bần, bởi chính mình chẳng theo đuổi sự nghiệp có lời, học trò cung phụng thầy rất đơn bạc. Cuộc sống vật chất của người thầy rất khổ, nhưng cuộc sống tinh thần rất thoải mái, rất sung sướng, được hưởng niềm vui giáo dục những anh tài của thiên hạ. Đấy là sự sung sướng bậc nhất trong thế gian

Thầy có học vấn, có trí huệ, có năng lực, có thể sống đời sung sướng, vì sao cam chịu sống bần cùng? Thích Ca Mâu Ni Phật là vị thầy tốt, cả đời khất thực, thân giáo đấy! Con người nếu cam tâm tình nguyện sống đời rất khổ như thế thì xã hội này an định, thế giới hòa bình. Điều đó nói lên điều gì? Không cần tranh! Đâu đâu cũng phải học lùi bước, nhường nhịn chính là nhân tố thật sự khiến cho xã hội an định, thế giới hòa bình. Nếu chẳng biết nhường nhịn, đâu đâu cũng phải cạnh tranh thì thế giới này vĩnh viễn chẳng thể hòa bình được, có hòa bình cũng là giả chứ không thật. Muốn thật sự đạt đến hòa bình thì nhất định phải sống cuộc đời thanh bần, sống hết sức sung sướng. Chỉ cần ăn no, mặc ấm là đủ, chẳng cần phải cầu xa xỉ quá phận. Mong cầu xa xỉ quá phận sẽ gây rắc rối cho xã hội. Mọi người hãy nghĩ đi: Mình muốn bất cứ chỗ nào, bất cứ điều gì đều đạt được, thì người khác cũng mong như thế. Địa cầu tài nguyên hữu hạn, ai nấy đều tranh giành, thèm muốn sẽ biến thành đấu tranh, biến thành chiến tranh. Phải hiểu đấu tranh, chiến tranh là đôi bên kết mối oán cừu, mối oán cừu ấy chẳng thể xong trong một đời, đời đời kiếp kiếp vẫn chưa xong. 

Nay trên mạng Internet cũng có đăng tải những tin tức như vậy: Ở ngoại quốc đã chứng minh con người chết đi quả thậtlinh hồn tồn tại. Ở ngoại quốc cũng đã có vị thầy thuốc làm thí nghiệm: Đại đa số là những người bệnh tim đột phát, chết đi, thầy thuốc tuyên bố người ấy quả thật đã chết, ngưng trị liệu. Nào ngờ một hai hôm sau, người ấy tỉnh lại, mọi người cảm thấy hết sức kinh ngạc. Người bệnh tỉnh rồi bèn hỏi: “Lúc ông chết rồi có hay biết gì không? Thấy được những gì?” Tra vấn như vậy, có hơn sáu mươi trường hợp như thế, có khoảng bảy tám người trong số hơn sáu mươi người tỉnh dậy đó hiểu biết rất rõ ràng. Kinh nghiệm của mỗi người khác nhau, nhưng có cùng một điểm là họ đều thấy ánh sáng, thấy người nhà quyến thuộc toàn là những người đã mất từ lâu đến chỉ dẫn họ; có người còn thấy thiên sứ

Từ những cuộc khảo sát chứng thực ấy, ta thấy người chết đi không phải là hết, khiến cho những thầy thuốc và nhà khoa học càng nghiên cứu sâu hơn nữa. Hiện tại, báo cáo của những cuộc nghiên cứu như vậy ở ngoại quốc rất nhiều. Đời trước, đời này! Rất nhiều người nghiên cứu, nay họ thật sự tin tưởng con ngườithân thể, có tâm, nhưng cái tâm ấy thật ra là Duyên Lự Tâm. Họ còn nói có “linh”, linh là quỷ thần, thuộc vào những chiều không gian khác. Tuyệt đối chẳng phải là con người chết đi thì hết thảy đều hết. Không phải vậy, quả thật là có quá khứ, có vị lai. Đã có quá khứ, vị lai thì tư tưởng, ngôn hạnh trong một đời này chẳng thể không cẩn thận, chẳng được đắc tội với người khác. Người khác đắc tội với mình, mình phải tha thứ cho họ, quyết định chẳng ghim trong lòng, phải hóa giải oán kết ấy, chẳng được đối lập, chẳng được oán hận

Phật, Bồ Tát, thánh hiền dạy chúng ta: “Oan gia nên cởi không nên buộc”, ngàn vạn phần chớ kết oán cùng người. Người khác xử tệ với mình, mình không có thần thông, chẳng biết chuyện đời quá khứ, nếu mình biết được quá khứ, sẽ hiểu vì sao kẻ ấy lại có thái độ như thế đối với mình? Vì sao họ chẳng có thái độ ấy đối với người khác? Trong ấy nhất định phải có nguyên nhân. Nếu hiểu rõ ràng, minh bạch nguyên nhân rồi, có phải chẳng cười khì cho qua chuyện hay sao? Hiện tại, người Tây phương dùng phương thức phổ biến nhất là thôi miên, thôi miên ở một mức độ sâu. Trong lúc thôi miên, sẽ nói ra những chuyện trong quá khứ. Có rất nhiều trẻ nhỏ (chúng tôi đọc những báo cáo ấy) sợ tiếng nổ, nghe tiếng nổ bèn bất an, kinh hoảng hết sức, hoảng sợ trầm trọng. Có đứa sợ nước, trông thấy nước sợ điếng. Khi được thôi miên ở một mức độ sâu bèn nói ra: Sợ nước là vì trong quá khứ đã bị chết đuối. Đứa sợ tiếng nổ, nghe tiếng nổ kinh hoảng là vì trong quá khứ từng là binh sĩ, chết trên chiến trường. Bởi thế nghe đến tiếng súng nổ liền hoảng sợ, là do mối quan hệ với đời trước như vậy. Sau khi chúng hiểu rõ những chuyện như vậy rồi, những nỗi sợ không còn nữa, tiêu trừ hết. Tìm được nguyên nhân thật sự, nguyên nhân từ đời trước chứa trong ý thức, người hiện tại gọi là “tiềm ý thức” (ta thường nói là Tiềm Thức). Thôi miên ở một mức độ sâu lôi hết những gì trong tiềm thức ra, khiến người ấy tự nói ra, dùng máy ghi âm thâu lại, đợi đến lúc tỉnh mở cho người ấy nghe, tự mình đã nói, tự mình sẽ hiểu, từ đấy trở đi bèn khôi phục bình thường. Những chuyện này cho chúng ta biết một chuyện quan trọng nhất, một chân tướng sự thật là: Ai nấy đều có đời sau. Quan hệ giữa người và người, quan hệ giữa mỗi người và hết thảy chúng sanh đều là mối quan hệ đời đời kiếp kiếp, không phải ngẫu nhiên! Thế gian nhất định chẳng có chuyện gì phát sanh ngẫu nhiên; nói chung chẳng ngoài những nhân tố trong đời trước và đời này tạo thành. 

Giáo học nhà Phật cũng chẳng có gì khác cả, chỉ nhằm khiến cho quý vị liễu giải chân tướng sự thật, thuật ngữ nhà Phật gọi là “Thật Tướng của các pháp” (chư pháp thật tướng), nói theo cách hiện thờihiểu rõ chân tướng sự thật của hết thảy pháp. Thông thường, nhà Phật chia chân tướng sự thật thành sáu hạng mục để thuyết minh

1) Tánh - tướng: Tánh là tánh của hết thảy pháp, tức bản tánh; Tướng là hiện tượng

2) Sự - lý: Lý là đạo lý của hết thảy các pháp, dần dần hình thành. Còn tác dụng của các hiện tượng được sanh ra, đều thuộc về Sự. 

3) Nhân - quả: Tiền nhân hậu quả. Hậu quả lại biến thành cái nhân hiện tiền, nhân ấy cảm thành cái quả đời sau. Nhân quả liên tục, nhân quả tuần hoàn. Vì thế mới nói “nhân quả chẳng không”. Nhân có thể biến thành quả, quả lại có thể biến thành nhân, chuyển biến chẳng không, tuần hoàn chẳng không, tiếp nối chẳng không, phải hiểu đạo lý này. Hiểu được đạo lý này thì quý vị mới thật sự liểu giải ý nghĩa của việc tu hành, quý vị mới có thể thật sự thực hiện được. Nếu quý vị chẳng tích cực tu hành đó là vì quý vị chẳng hiểu rõ chân tướng sự thật! Bởi thế, trong thời đại hiện tại, đặc biệt là với kinh giáo Đại Thừa, nếu không giảng kỹ, không một dạ tích cực nghiên cứu thì tín - nguyện - hạnh đều có vấn đề, cũng có thể nói là công phu không đắc lực! 

Hiện tại, chúng tôi đi đến rất nhiều nơi ở Trung Quốc và ngoại quốc, tiếp xúc rất nhiều đồng tu, tợ hồ chuyện linh hồn dựa vào thân thấy càng ngày càng nhiều. Bị hồn dựa thân, nếu là báo oán, hoặc đến đòi nợ thì đau khổ không chịu đựng nổi! Bị vùi dập mà! Chứng trạng ấy không có cách gì trị liệu được, bó tay hết cách! Siêu độ cũng không hiệu quả, siêu độ là gì? Là điều giải, vô hiệu! Trên thực tế, vì sao vô hiệu? Người siêu độ không có một phần thành ý nào cả. Cổ đại đức thường dạy chúng ta: “Chí thành cảm thông”, chúng ta không đủ chí thành. Nếu thật sự chí thành sẽ hóa giải, an ủi kẻ đó, chỉ dạy kẻ đó, giúp cho kẻ ấy nâng cao cảnh giới. Trong các buổi giảng chúng tôi thường nói: “Hóa địch thành bạn, chẳng cần đối địch, hóa oán thành thân. Mọi sự đều phải hóa giải, chẳng được đối lập”. Thủ đoạn hóa giải trọng yếu nhất là phải thường giao lưu, phải thường tụ hội, chẳng thể không qua lại với nhau. Không qua lại với nhau thì mâu thuẫn càng ngày càng sâu, phải qua lại nhiều! Giao lưu nhiều! Vấn đề gì cũng hóa giải được hết! Sợ nhất là chẳng qua lại với nhau. Giống như quý vị làm thí nghiệm vậy, quý vị dùng thiện ý, ác ý đối đãi là có qua lại. Còn về căn bản không quan tâm đến, không qua lại, rất dễ bị mục nát, tệ hại nhất là không qua lại! Cự tuyệt qua lại chính là sự việc đáng sợ nhất. Nhưng chúng ta phải biết: Chúng ta không có cách gì miễn cưỡng người khác được, chính mình phải giữ tấm lòng giao thiệp cùng người. Người khác cự tuyệt là chuyện của người ta, cửa nhà mình luôn rộng mở đối với người đó. Người ta đóng cửa là chuyện của người ta; chúng ta cứ đợi đến lúc họ mở rộng cửa. Nay đã đến giờ rồi! 
 
 

*
 
 

6.3.3. Chỉ rõ pháp chấp trì danh hiệu để lập hạnh
 
 

Chư vị đồng học!

Xin xem tiếp phần thứ ba “Chánh hiển thị trì danh hiệu dĩ lập hạnh”, chúng ta đọc kinh văn một lượt: 
 
 

“Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên đắc sanh bỉ quốc. 

Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn” 

(Này Xá Lợi Phất! Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để được sanh về cõi kia.

Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe nói đến A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn)
 
 

Lại xem tiếp: 

“Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền. Thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ

Xá Lợi Phất! Ngã kiến thị lợi cố thuyết thử ngôn: ‘Nhược hữu chúng sanh, văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ”. 

(Kẻ ấy lúc mạng sắp hết, A Di Đà Phật và các thánh chúng hiện trước mặt người ấy. Người ấy lúc mất, tâm không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà

Này Xá Lợi Phất! Ta thấy điều lợi ấy nên nói lời sau: “Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy, phải nên phát nguyện, nguyện sanh về cõi kia”)
 
 

Đoạn này dạy chúng ta phương pháp tu hành. Chúng tôi chia thành chín đoạn. Đoạn kinh này hết sức quan trọng! Chúng ta đã biết Tây Phương Cực Lạc thế giới thù thắng rồi, nhưng làm thế nào để được vãng sanh? Đoạn kinh này dạy chúng ta phương pháp Trì Danh Niệm Phật. Trước hết, Phật dạy: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để sanh về cõi kia”. Nói cách khác, thiện căn, phước đức, nhân duyên phải đầy đủ. Chúng ta thảo luận những vấn đề được nêu trong đoạn thứ nhất này. 

“Kẻ chẳng được vãng sanh là do sức thiện căn, phước đức kém”. Thiện căn là gì? Phước đức là gì? Trong Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích giảng: Thiện căn là “Bồ Đề chánh đạo”, là “thân nhân” (cái nhân gần gũi, thân thiết), “hàng Nhị Thừa ít ỏi”, không nói là không có, mà là ít! Đã ít thì sức kém, chẳng thể khởi tác dụng. “Phước đức” là bố thí, trì giới và hết thảy các pháp trợ đạo, đều thuộc về trợ duyên. “Nhân thiên ít”, sức cũng kém; do vậy, chẳng thể vãng sanh. Vãng sanh phải có nhiều thiện căn, phước đức, nhân duyên (tương phản của ít là nhiều), nhiều thiện căn, nhiều phước đức, nhiều nhân duyên. Chúng ta thấy lời tiểu chú viết: “Nhị Thừa chỉ cầu tự lợi, được chút ít đã cho là đủ, chẳng phát Bồ Đề tâm, nên thiện căn ít”. Đấy là nói bậc Nhị Thừa chẳng cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, dẫu có cầu cũng không có cách gì cầu được, vì điều kiện không đủ. “Nhân, thiên (gặp được Đại Thừa), dẫu tu Lục Độ, nhưng chỉ cầu phước lạc trời người, chưa trọn vô vi, chưa được vô lậu, nên phước đức ít”. Hai loại này đều chẳng được sanh về Tịnh Độ. Trong Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích giảng về thiện căn, phước đức như vậy.

Tôi thường khuyên đại chúng tu học pháp môn Niệm Phật, so ra tôi giảng đơn giản hơn, ai nấy đều dễ hiểu. Thiện căn là gì? Phước đức là gì? Thiện cănchúng ta có thể tin, có thể hiểu pháp môn này; tôi nói đấy chính là thiện căn. Có thể nguyện, có thể hành thì người ấy có phước, chịu phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, chịu niệm A Di Đà Phật, y giáo phụng hành là người ấy có phước. Chúng tôi thuyết pháp đơn giản như vậy chắc mọi người đều hiểu. Nói cách khác, quý vị gặp được pháp môn này, là quý vị đầy đủ nhân duyên (ba điều kiện là: thiện căn, phước đức, nhân duyên), nhân duyên đầy đủ mới được gặp. Gặp được là do thiện căn, phước đức của quý vị, thiện căn là có thể tin, có thể hiểu, quý vị đọc kinh hiểu rõ, hoặc là nghe giảng bèn hiểu rõ, đó là quý vị có thiện căn. Hiểu minh bạch rồi, thật sự phát nguyện. Đem so hai thế giới, thế giới Cực Lạc rất thù thắng, còn sự vui trời người nơi đây vui như thế nào? Là hưởng thọ danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần; thử hỏi xem, quý vị hưởng được mấy ngày, thời gian rất ngắn ngủi. 

Mọi người học Phật chúng ta, rất ít người sanh trong gia đình phú quý. Nói cách khác, đại đa số thuộc gia đình từ trung lưu trở xuống. Lúc trẻ tuổi, nếm đủ mùi cay đắng, toàn là siêng khổ phát phẫn, đến tuổi trung niên cuộc sống mới dần dần dư dả. Thật sự được hưởng thụ ngũ dục, lục trần nói chung phải từ sau tuổi ba mươi. Chúng tôi thấy rất nhiều người hầu như đến tuổi bốn mươi mới được như vậy. Bốn mươi tuổi rồi thì hưởng thọ được bao năm? Cứ tính là quý vị sống đến bảy mươi tuổi thì hưởng được ba mươi năm. Đó là nếu quý vị thật sự có thể hưởng thụ, thật sự có phước báo, quý vị mới có thể hưởng thụ ba mươi năm. Thế nhưng trong ba mươi năm hưởng phước ấy, quý vị có phải trả giá hay không? Phước chẳng dễ hưởng! Từ xưa đến nay, có người hưởng phước nào chẳng phải trả giá nghiêm trọng hay không? [Trả bằng] tinh thần, thể lực, thời gian, nếu chú tâm tính toán kỹ, cái được chẳng bù nổi cái mất! Bởi thế, quả đúng là chẳng sánh bằng người xuất gia ẩn cư trong núi thẳm (đây là nói chuyện thời xưa, chứ không phải hiện tại), đúng là thật sự có phước báo, hưởng phước thanh tịnh, thân tâm đều thanh thản

Quý vị thấy con người trong xã hội hiện tạiđịa vị, có quyền thế, có của cải thì thân họ phải chịu áp lực nghiêm trọng. Họ có một bác sĩ chuyên môn, y tá để chữa trị mỗi ngày. Áp lực về mặt tinh thần lại càng nặng nề hơn, vì sao? Lo được, lo mất. Phước báo ấy đem cho tôi, tôi cũng chẳng muốn tiếp nhận, vì sao? Phải gánh vác nặng nề quá! Tôi thấy rất nhiều rồi! Bởi thế, nếu quý vị lắng lòng quan sát kỹ, quý vị mới biết thế nào là hưởng phước: Thân tâm không có sự gì, tôi thường nói đọc một cuốn sách mình thích, làm việc mình yêu thích, đấy mới đúng là phước báo. Những người đại phước báo trong thế gian, những việc họ làm chẳng thấy vui thích gì, chẳng vui thích cũng phải làm, không thể không làm được. Đọc một cuốn sách mình yêu thích thật sự không có thời gian, mỗi ngày phải xem biết bao giấy tờ thương lượng, do công việc bắt buộc phải xem những văn kiện ấy, còn thời gian đâu nữa! 

Vì thế, người đọc sách thời cổ đọc sách rất hay, đúng là hiểu rõ lý lẽ, họ không làm việc mà ẩn cư! Gia Cát Lượng, như các vị biết đó, đúng là người có đức hạnh, có học vấn, chẳng muốn ra làm việc, ẩn cư trong làng cày ruộng; tự mình cày cấy, bạn thân quây quần, lúc nhàn hạ bèn du sơn ngoạn thủy, sung sướng vô cùng. Kịp đến khi Lưu Bị ba lần đến lều tranh mời ra giúp sức, thịnh tình khó từ, không thể không ra. Ra rồi, cúc cung tận tụy đến chết mới thôi. Đó là nghĩa khí của một người đọc sách, tôi không đáp ứng thì thôi, hễ đáp ứng thì nhất định phải tận tụy với công việc. 

Thế nào là phước báo? Thiện căn, phước đức, chúng ta phải thật sự hiểu rõ. Trong Phật pháp, nhất là trong Tịnh tông, thế nào là phước báo lớn nhất? Niệm Phật trong Niệm Phật Đường là phước báo lớn nhất, nghe kinh trong giảng đường hòng tăng trưởng thiện căn. Đạo tràng nhỏ bé sẽ có hai đường: Một là giảng đường, hai là Niệm Phật Đường, chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta có thể giác ngộ hay chăng? Giác tri! Quý vị có thể giác ngộ hay không? Có hiểu được hay không? Muốn đạo nghiệp thành tựu, trong một đời này quyết định vãng sanh thì chẳng được ly khai đạo tràng, công phu nhất định chẳng bị gián đoạn. Xưa kia, Huệ Viễn đại sư, là một vị nhất đại tông sư trong Tịnh tông chúng ta, dựng Niệm Phật Đường tại Lô Sơn, đạo hữu đồng tham chí đồng đạo hợp đều là những người nhất tâm chân chánh lập chí, mong được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, gồm một trăm hai mươi ba người. Họ dựng một Niệm Phật Đường, bên ngoài có một cái khe nước nhỏ gọi là Hổ Khê, lấy Hổ Khê làm giới tuyến, quyết định chẳng vượt qua cái khe nước nhỏ ấy. Mọi người nghiêm túc tuân thủ, nên ai nấy đều thành tựu

Bên ngoài vừa động tâm bèn loạn, công phu bị gián đoạn, lúc ấy quý vị có thành tựu được hay chăng? Chỗ này có người khải thỉnh, chỗ kia có người khải thỉnh, tợ hồ pháp duyên rất thạnh. Không sai! Pháp duyên rất là thạnh, nhìn bên ngoài rất thạnh, nhưng trên thực tế lại là tướng suy, chẳng phải tướng hưng thạnh. Vì sao? Không thể vãng sanh! Không thể vãng sanh mà tính là pháp duyên thù thắng cái nỗi gì? Đạo tràng của chúng ta thành tựu phải là trong đạo tràng có bao nhiêu người vãng sanh, coi đó là thành tựu, chứ chẳng phải đạo tràng náo nhiệt đến mức nào, hương hỏa nhộn nhịp, không phải thế đâu! Trong đạo tràng này có bao nhiêu người khai ngộ, có bao nhiêu người đắc Thiền Định, có bao nhiêu người minh tâm kiến tánh, có bao nhiêu người vãng sanh. Đó mới là thành tựu thật sự. Trong những thành tựu ấy, vãng sanhthành tựu bậc nhất. Đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh chẳng bằng Hạ Hạ Phẩm vãng sanh, điều này có thể lấy kinh làm chứng. 

Trong kinh Hoa Nghiêm, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánhSơ Trụ Bồ Tát của Viên Giáo. Niệm Phật vãng sanh dẫu là Hạ Hạ Phẩm vãng sanh cũng đã là A Duy Việt Trí Bồ Tát, Sơ Trụ Bồ Tát kém người ấy một khoảng xa. A Bệ Bạt Trí, tổ sư đại đức chẳng giảng khác nhau, đều cùng nhất trí: Từ Thất Địa trở lên, phải tính từ Thất Địa. Sơ Trụ Bồ Tát đến Thất Địa sai cách bao nhiêu địa vị? Ba mươi địa vị thuộc Tam Hiền; từ Tam Hiền lên đến Thất Địa là bảy địa vị. Nói cách khác, kém hơn ba mươi sáu cấp. Người đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh so với người vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới kém hơn ba mươi sáu cấp. Vì thế, niệm Phật vãng sanhthù thắng bậc nhất. Tổ sư đại đức, như Ngẫu Ích đại sư trong sách Yếu Giải nhìn thấy người thế gian tu hành, vô cùng cảm thán: Pháp môn thù thắng như thế đó, lúc họ gặp được, nhưng thiện căn ít, phước đức ít. Thiện căn ít là gì? Nửa tin nửa ngờ. Lúc phước đức ít, sẽ chẳng chịu thật sự tu hành, tu hành như đùa, chẳng hề nghiêm túc. Làm vậy chỉ có thể kết duyên cùng Tây Phương Cực Lạc thế giới, đời này chẳng được về. Đời này chẳng được về, chắc chắn phải luân hồi lục đạo. Trong lục đạo phải hứng chịu cái khổ. 

Đừng nói gì khác, nội chuyện oan oan tương báo không thôi đã rất phiền phức rồi. Trong một đời này chúng ta đã kết mối oan cừu cùng bao nhiêu chúng sanh, quý vị có biết nổi hay không? Quý vị dẫm chết một con kiến, giết một con gián đều là kết mối oan cừu với chúng, phải đền mạng cả đấy! Giữa người với người quá chi ly không kể, cứ nói đơn giản giữa người và động vật thôi! Quý vị ăn thịt những động vật nào, trong kinh Đại Thừa đức Phật chẳng nói dối đâu, quý vị ăn nửa cân thịt của chúng, đời sau chúng đòi quý vị trả đúng tám lạng. Lúc tôi chưa học Phật không biết điều này, không biết đã ăn bao nhiêu nữa! Học Phật rồi mới biết chuyện này, chẳng dám ăn thịt nữa, ăn chay, bỏ hẳn ăn thịt. Thường xuyên phóng sanh để chuộc tội! Quá khứ ngu muội vô tri, sát hại bao nhiêu chúng sanh như thế! 

Bởi thế, ta hữu ý hay vô ý kết mối oan cừu cùng hết thảy hữu tình chúng sanh, kể cả động vật! Chỉ có một phương pháp là trong một đời này phải thật sự buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, thân cận Di Đà. Tất cả hết thảy oán thân trái chủ đời trước đời này, đợi đến lúc tôi về Tây Phương Cực Lạc thế giới thành tựu rồi, tôi sẽ trở về độ các ngươi thành Phật. Thật sự hoàn nguyện, báo ân! Từ nay trở đi, chẳng có ác niệm nữa, chẳng có ác hạnh nữa, cũng chẳng nói lời ác, ba nghiệp thân - ngữ - ý thuần thiện, thuần tịnh. Người thế gian truy cầu chân - thiện - mỹ - huệ, tận thiện tận mỹ được thực hiện trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, thật sự thực hiện. Chúng ta xem đoạn thứ hai. 

“Chỉ dùng tín nguyện”, trì danh niệm Phật, đó là ba tư lương: Tín - Nguyện - Hạnh, chấp trì danh hiệu, “thì mỗi một tiếng đều có nhiều thiện căn, phước đức, nhân duyên. Tán tâm xưng danh thì phước thiện cũng chẳng thể lường được, huống hồ là nhất tâm bất loạn ư?” Cách tu thiện căn, phước đức, nhân duyên như thế nào? Ngẫu Ích đại sư ở đây nói rất hay: “Chân tín”, không hoài nghi một chút nào, “thiết nguyện”, nguyện chân thật, nguyện vọng khẩn thiết. Chân tín, thiết nguyện (lòng tin chân thành, nguyện thiết tha) thì thân, tâm, thế giới sẽ tự nhiên buông xuống được hết. Hễ còn điều gì chưa buông xuống được là lòng tin chẳng chân, nguyện chẳng thiết. Tin chân thành, nguyện thiết tha, chấp trì danh hiệu, một câu danh hiệu ấy quyết định không gián đoạn, nguyện khẩn thiết chẳng xen tạp, tín kiên cố chẳng hoài nghi. Chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, chấp trì danh hiệu không gián đoạn, đó là phương pháp Niệm Phật Đại Thế Chí Bồ Tát đã dạy trong kinh Lăng Nghiêm! Phương pháp Niệm Phật của lão nhân gia là vậy đó! 

Ngài niệm như thế nào? “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”; ở đây đại sư Ngẫu Ích gọi là “tín nguyện trì danh”, ý nghĩa hoàn toàn tương đồng với lời dạy của Đại Thế Chí Bồ Tát. Nhiếp trọn sáu căn bao gồm cả tín, nguyện. Nếu quý vị không tin, không có nguyện, thì lục căn suốt một ngày từ sáng đến tối rong ruổi trong cảnh giới sáu trần, không hồi đầu. Nay thật sự tin tưởng Tịnh Độ, thật sự nguyện vãng sanh, thân cận Di Đà, thâu hồi cái tâm lại, sáu căn chẳng còn vin nắm cảnh giới sáu trần bên ngoài, buông xuống cả rồi. Buông xuống không có nghĩa là mắt không thấy, tai không nghe, sáu căn vẫn khởi tác dụng thấy nghe hay biết, nhưng như thế nào? Quyết định chẳng để tâm, cõi lòng thanh tịnh chẳng nhiễm mảy trần, mắt chẳng nhiễm sắc trần, tai chẳng nhiễm thanh trần, mũi chẳng nhiễm hương trần, lưỡi chẳng nhiễm vị trần, hết thảy đều tùy duyên. Thứ gì cũng tốt, không hề có tính toán so đo gì. Cái gì tốt thì rất tốt; cái gì không tốt cũng là tốt! 

Xưa kia, Hoằng Nhất đại sư ở Nam Dương, Ngài là bạn thân của Quảng Hiệp pháp sư, bạn đồng thamvới nhau. Ngài đến Tân Gia Ba ngụ tại viện Chiêm Bặc của Quảng Hiệp pháp sư, đạo tràng không lớn, chúng tôi đã từng đến đó. Tôi nghe các đồng tu Tân Gia Ba kể, họ nói Hoằng Nhất đại sư không hề cằn nhằn ai, đối xử hết sức hòa ái đối với mọi người. Ăn thứ gì, cho ăn cái gì cũng ngon hết. Thức ăn quá mặn, Sư cũng bảo không hề gì, mặn có vị riêng của mặn. Quá nhạt, cũng không ăn nhằm gì, nhạt có vị riêng của nhạt! Cái gì cũng tốt hết, không phân biệt, chấp trước mảy may. Đương nhiên chủ nhân lẫn người tiếp đãi đều tận tâm tận lực chăm sóc pháp sư, thấy pháp sư thích gì, họ bèn làm chuyện đó. Nhưng pháp sư hết thảy tùy duyên, hết thảy đều miễn sao thuận tiện thì thôi, cái gì cũng tốt, “miễn sao thuận tiện cho quý vị là tôi vui rồi!”, không mảy may gây phiền phức thêm cho người ta. Pháp sư tâm đặt nơi đạo, đã buông thế gian này xuống rồi, một lòng gởi nơi Tịnh Độ

Chúng ta biết Hoằng Nhất đại sư chuyên tu Tịnh Độ, Ngài không y vào kinh A Di Đà, cũng chẳng y kinh Vô Lượng Thọ, khóa tụng mỗi ngày của Ngài là Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm. Đó là trong năm kinh một luận tức sáu môn khóa của Tịnh Độ, Ngài chuyên tu Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Ngài tụng thuộc Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, công khóa sáng tối đều niệm Hạnh Nguyện Phẩm, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Bởi Ngài niệm Phật, tín nguyện trì danh, niệm Phật là tịnh niệm tiếp nối. Lúc niệm dùng cái tâm thanh tịnh để niệm, tâm thanh tịnh đương nhiên không có bất cứ thứ gì xen tạp. Hễ xen tạp tâm sẽ không thanh tịnh; cũng chẳng thể hoài nghi, tâm hoài nghi cũng không thanh tịnh. Vì thế, trong chữ Tịnh không có xen tạp, không hoài nghi. “Tiếp nối” là không gián đoạn, ở đây gọi là “chấp trì”, Chấp là giữ gìn cho không gián đoạn, Trì là cầm nắm, tức là nắm giữ danh hiệu A Di Đà Phật, cái gì khác cũng không màng, đều buông bỏ hết. 

Niệm Phật như thế thì “mỗi một tiếng niệm đều có nhiều thiện căn, phước đức”. Vì sao? Giới, Định, Huệ đều gộp trong ấy, một câu A Di Đà Phật đồng thời trọn đủ Giới - Định - Huệ, trong một câu niệm viên mãn chẳng thể nghĩ bàn! Giới là gì? “Phòng phi chỉ ác” (ngăn ngừa điều sai trái, dứt điều ác) là giới Tiểu Thừa. Lúc quý vị nhất tâm niệm Phật, trong tâm một ác niệm nào cũng không có, cũng chẳng thể có hành vi ác, đó là phòng phi chỉ ác. Trong giáo pháp Đại Thừa, vâng làm các điều thiện, niệm A Di Đà Phật là thiện bậc nhất trong các điều thiện, không gì thiện hơn được nữa! “Chớ làm các điều ác, vâng làm các điều lành” đã đầy đủ chưa? Đó là Giới học! Trong một câu niệm Phật, Giới viên mãn, giới Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa đều gồm trong ấy. Lúc niệm Phật, tâm thanh tịnh, nhất tâm bất loạntâm thanh tịnh vậy! Thanh tịnh là định. Phật hiệu sáu chữ hoặc bốn chữ, từng chữ phân minh, rõ rệt rành rẽ, chính là gì vậy? Là Huệ! Ấy là Căn Bản Trí. Vì thế, một câu Phật hiệu, Giới - Định - Huệ đều đầy đủ cả, đều viên mãn cả, há chẳng phải là nhiều thiện căn, nhiều phước đức ư? Nếu chúng ta hiểu được sẽ nhất tâm xưng niệm

Phần kế đó nói: Dù quý vị chẳng thể nhất tâm, tán tâm, “tán tâm xưng danh thì phước thiện cũng chẳng thể lường được”, huống chi nhất tâm bất loạn! Nhất tâm xưng niệm còn đến như thế nào nữa? Kinh Vô Lượng Thọ gọi là “nhất hướng chuyên niệm” (một bề chuyên niệm), một mục tiêu, một phương hướng, chuyên niệm, phước đức chẳng thể nghĩ lường! Ở đây nói tán tâm chứ không phải tán loạn tâm. Tâm tán loạn niệm Phật, phước đức đương nhiên cũng chẳng thể nghĩ lường; nhưng cổ đức nói “rách hầu toạc họng cũng uổng công” là nói về cái tâm tán loạn đấy! Tâm tán loạn là gì? Trong tâm khởi vọng tưởng. Ngoài miệng niệm A Di Đà Phật, trong tâm khởi vọng tưởng, như vậy là trật rồi. “Tán tâm” ở đây là không nhất tâm, nhưng cũng không được khởi vọng tưởng, cũng không có vọng tưởng, thì gọi là “tán tâm”. Nếu như quý vị không có cách gì tập trung ý chí tinh thần được, thì lúc niệm Phật nên làm sao? Nghĩ đến tượng A Di Đà Phật, tưởng Phật, thêm vào sự quán tưởng Phật, hoặc tưởng hoa sen, đấy đều là những phương cách (quý vị không tưởng không được nghe! Không tưởng bèn có vọng tưởng liền). Tưởng bạch hào, hào quang của Phật đều được. Tâm lực không thể tập trung thì dùng phương pháp ấy. Niệm Phật như thế, thiện căn, phước đức cũng chẳng thể nghĩ lường! Đương nhiên, tốt nhất là nhất tâm bất loạn, nhưng khó lắm, rất ư là khó! Bởi thế, kinh Vô Lượng Thọ dạy “một bề chuyên niệm”, một phương hướng, một mục tiêu, chuyên niệm A Di Đà Phật, vậy là đúng! 

Tiểu đoạn thứ ba là “chỉ rõ ba điều quan trọng của chánh hạnh Trì Danh”. Đoạn này quan trọng, hết sức quan trọng! Niệm Phật theo cách nào? Ba điều quan trọng là Tín, Nguyện, Hạnh, tức ba điều kiện trọng yếu để được vãng sanh thế giới Cực Lạc; cổ nhân gọi là “ba tư lương”. Nay nói “tư lương” người hiện thời không hiểu, người hiện tại gọi là điều kiện; ba tư lương là ba điều kiện. Trước hết, nói đến tín - nguyện, “tín nguyện đầy đủ”, đầy đủ hai điều kiện tín và nguyện, điều kiện thứ ba là “chấp trì danh hiệu”. Với ba điều kiện ấy ở đây dùng tám chữ, nếu tám chữ ấy thảy đều có đủ, tức là “tín nguyện đầy đủ, chấp trì danh hiệu” thì ngay trong hiện tại, quý vị đã không còn là chúng sanh của thế giới Sa Bà nữa. Vì sao? Đã báo danh ghi sổ ở Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi, thế nhưng còn chưa đi, còn đợi Tây Phương Cực Lạc thế giới cấp thông hành, ký duyệt cho mình cầm, muốn đi lúc nào thì đi. Quý vị không còn là phàm phu trong luân hồi lục đạo nữa, mà đã là một trong những thượng thiện nhân của thế giới Cực Lạc rồi. 

Phần kế đó là lời giải thích về “đầy đủ tín nguyện”: “Lúc thường tu hai khóa, lúc tinh tấn Phật thất”. Phương pháp tu học chẳng được gián đoạn, hai khóa sáng tối bình nhật, sáng tối đều niệm Phật. Thông thường khóa sáng niệm một quyển A Di Đà Kinh, niệm kệ Tán Phật, rồi niệm Phật hiệu. Vì sao phải niệm một quyển kinh, niệm kệ Tán Phật? Để nhiếp tâm, tức là nhiếp trọn sáu căn, dụng ý là đây, cốt để quý vị một dạ chuyên niệm. Thậm chí, khi mọi người cùng tụng khóa sáng, trước đó còn niệm bài Tán Hương, tụng kinh, niệm kệ Tán Phật đều nhằm để định tâm. Nói cách khác, đó là những công phu dự bị trước lúc niệm Phật để thâu nhiếp tâm. Nếu cái tâm này định, trong mười hai thời không tán loạn, đều không có vọng tưởng thì những thứ vừa nói trên đều không cần thiết: Hương Tán, tụng kinh, xướng kệ Tán Phật đều chẳng cần đến nữa. Những người như vậy hiếm hoi, người một ngày từ sáng đến tối suy nghĩ lung tung thì nhiều. Nếu như đã thêm vào Hương Tán, lại còn tụng kinh, lại còn xướng kệ Tán Phật, niệm A Di Đà Phật mà vẫn khởi vọng tưởng thì không còn cách nào hết, ý chí vẫn không tập trung. Vì thế, từ đây chúng ta phải lãnh hội sâu xa: Niệm Phật không phải là chuyện dễ, chớ nên xem nhẹ! Bởi thế, Tinh Tấn Phật thấtphương pháp tốt. 

Nhưng trong thời đại hiện tại này, trên thực tế, Tinh Tấn Phật Thất có chỗ khó khăn, thật đấy, không giả đâu! Thật sự đả Phật thất, rất có thể chúng ta chưa từng gặp một ai cả, tôi cũng chưa từng thấy một ai hết, tôi thường nghe thầy Lý giảng về Phật Thất: Tinh Tấn Phật Thất thì nhất định những người cùng tu một chỗ chẳng thể nhiều hơn mười người, đó là Tinh Tấn Phật Thất. Vì sao? Từ mười người trở lên, Chủ Thất Sư không có cách gì trông nom được, trông nom không xuể. Bởi thế đả Phật Thất nhưng người tham gia Phật Thất công phu có thể thành tựu hay không thì vị Chủ Thất Sư rất quan trọng. 

Ai mới có thể làm Chủ Thất? Đều là người đã từng đến Niệm Phật Đường đã lâu, chẳng những thông thạo nghi quỹ, mà trạng huống của mỗi người niệm Phật vị ấy đều hiểu rõ. Bởi thế, trong Niệm Phật Đường, chẳng những vị ấy thường thời thời khắc khắc cảnh tỉnh mọi người, mà còn đốc thúc, ngăn ngừa ma chướng. Tinh Tấn Phật Thất ma chướng rất nhiều. Thầy Lý bảo tôi: Cụ ở tại Đài Loan ba mươi tám năm, chỉ đả Tinh Tấn Phật Thất hai lần, về sau không dám mở nữa. Tôi hỏi vì sao? Gây nên chuyện, ma chướng nổi lên. Chỉ cần một người bị ma chướng khởi đã phiền lắm rồi, cụ phải mất từ mười tháng đến một năm để chữa lành cho người ấy, chữa người ấy bình phục rất khổ sở. 

Phật Thất chúng ta thường thấy là pháp hội Phật Thất, chứ không phải thật tu. Thật tu ắt có ma chướng, chẳng phải chân tu ma không thèm nhìn tới. Quý vị tu giả chứ không tu thật, nó không cần gây chướng ngại, quý vị đâu có thoát khỏi luân hồi; nó còn sẽ có ngày báo thù quý vị. Chứ nếu quý vị thật tu, thật sự tu tập, muốn thoát khỏi luân hồi lục đạo, nó sẽ ở bên cạnh gây tai chướng liền: “Ngươi thiếu mạng ta, vẫn chưa đền mạng; ngươi thiếu nợ ta, nợ vẫn chưa trả”. Quý vị muốn đi, nó bèn đến đòi. Nó ở bên cạnh thấy rất rõ. Nếu quý vị tu giả, tu đùa bỡn, ma không đến, nó đứng bên cười hì hì, không đếm xỉa tới. 

Bởi thế, Phật Thất niệm Phật gần như là niệm Phật công phu kha khá, đã hiểu khá rõ, đã nhận thức đạo lý Tịnh tông, chính mình thật sự phát nguyện, nhất tâm niệm Phật. Trong Niệm Phật Đường có thể nhận biết điều này, người nào chắc thật, quy củ, vâng giữ pháp, đối với người khác khiêm hư, cung kính, không có vọng tưởng, không phân biệt, không chấp trước, người đó thật sự niệm Phật. Vọng niệm nhiều, phân biệt lắm, tạp tâm chuyện gẫu thì là giả tu chứ chưa tu thật. Chân chánh tham gia Phật Thất, tức Phật Thất thông dụng, tâm luôn thanh tịnh, quyết định chẳng bàn tán chuyện gẫu; niệm Phật trong Niệm Phật Đường, ra khỏi Niệm Phật Đường vẫn niệm Phật, công phu không gián đoạn. Đoạn tiếp là “có thể dựa theo biện pháp nói trong sách Tây Phương Xác Chỉ, phần dạy ông Vô Hủ”. Ta có thể tham khảo đoạn sách ấy. A! Nay đã hết giờ rồi! 
 
 

*
 
 

 Chư vị đồng học!

 Chúng ta xem tiếp tiểu đoạn “chấp trì danh hiệu”. Chấp trì danh hiệu là “điều lành bậc nhất trong các điều lành, phước bậc nhất trong các phước”. Những ý nghĩa này tôi đã nói trong phần trên rồi. “Điều lành bậc nhất trong các điều lành, phát Bồ Đề tâm, đầy đủ năm thứ Bồ Đề tâm”. Năm thứ Bồ Đề tâm này được nói trong Đại Trí Độ Luận, luận ấy nói có năm thứ Bồ Đề tâm

 1) Thứ nhất là “phát Bồ Đề tâm”. Nay ta nói là “tín nguyện trì danh”, phát tâm cầu thoát khỏi tam giới, cầu sanh Tịnh Độ, tự độ, độ người, đó là “phát Bồ Đề tâm”. Người ấy mới vừa phát tâm, giác ngộ

 2) Thứ hai là “phục tâm Bồ Đề”. Phục là hàng phục, Tâm là tạp niệm, vọng niệm trong tâm. Lúc chúng ta chấp trì danh hiệu, nhất tâm niệm Phật, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chẳng khởi. Lúc ấy, tinh thần, ý chí hoàn toàn tập trung, có thể chế phục phiền não. Bồ Đề là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Tàu là giác ngộ, chế phục được phiền nãogiác ngộ vậy. 

 3) Thứ ba là “minh tâm Bồ Đề”, thứ bậc ngày càng cao hơn, trong minh tâm Bồ Đề có Huệ, chế phục tâm là Định, dùng phương pháp Niệm Phật để chế phục phiền não, chế phục lâu ngày bèn sanh trí huệ, trí huệ dần dần mở mang. Đó là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, tức là Phật hiệu quý vị đang niệm đó và cái tâm niệm Phật tương ứng với Tự Tánh Giác. Tự Tánh Giác rất khó hiểu, nó tương ứng với Tự Tánh Di Đà. Hoặc có thể nói rõ ràng hơn, dễ hiểu hơn một chút cho mọi người hiểu được, thì minh tâmniệm niệm tương ứng tâm - nguyện - hạnh - giải của A Di Đà Phật. Nói vậy dễ hiểu hơn, minh tâm là như vậy đó. Rất rõ ràng, minh bạch. Lấy tâm nguyện của A Di Đà Phật làm tâm nguyện của chính mình, lấy giải hạnh của A Di Đà Phật làm giải hạnh của chính mình. Đó là minh tâm Bồ Đề

 4) Thứ tư là “xuất đáo Bồ Đề”. E rằng cả đời này chúng ta khó lòng đạt được. Vì sao? Xuất đáo Bồ Đềchứng quả vậy. Kinh Vô Lượng Thọ nói một, hai, ba thứ Nhẫn, nếu theo như kinh Đại Thừa thường nói thì đó là cảnh giới của bậc Địa Thượng Bồ Tát. Kinh Vô Lượng Thọ giảng là Âm Hưởng Nhẫn, Nhu Thuận Nhẫn, Vô Sanh Pháp Nhẫn. Âm Hưởng NhẫnSơ Địa, Nhị Địa, Tam Địa; Nhu Thuận Nhẫn là Tứ Địa, Ngũ Địa, Lục Địa; Vô Sanh NhẫnVô Sanh Pháp NhẫnThất Địa, Bát Địa, Cửu Địa, xuất đáo Bồ Đề là vậy! Do đó, nói thật ra, công phu Niệm Phật của chúng ta chỉ có thể đạt được minh tâm Bồ Đề là đã khá lắm rồi! Minh tâm Bồ Đề là Sự nhất tâm bất loạn; phát tâm Bồ Đề, phục tâm Bồ Đềcông phu thành phiến, có thể đới nghiệp vãng sanh Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Đạt đến minh tâm Bồ Đề là Sự nhất tâm bất loạn, sanh vào Phương Tiện Hữu Dư Độ, xuất đáo Bồ Đề bèn sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm độ, chẳng phải là hạng người tầm thường vậy! 

 5) Cuối cùng là “vô thượng Bồ Đề”, vô thượng Bồ ĐềPhật Quả, thành Phật. Bởi thế, Bồ Đề có năm thứ, chúng ta hãy nên hiểu như thế. 

 Đầy đủ năm thứ Bồ Đề tâm, năm thứ ấy có từng giai đoạn. Tối thiểu, chúng ta phải đạt được một thứ, đạt được thứ thấp nhất là phát tâm Bồ Đề. Thật sự có cái tâm thoát lìa tam giới, hiểu rõ tam giới lục đạo, không thể trụ trong ấy nữa, nhất định phải giải quyết vấn đề này. Chúng ta được vãng sanh sẽ có năng lực độ những người có duyên với mình trong lục đạo, kinh Đại Thừa thường nói: “Phật chẳng độ kẻ vô duyên”. Có duyên với mình là có ân, có oán, có dính líu trách nhiệm, nợ đòi phải trả, có duyên với mình là như vậy đấy! Bình thường chúng ta thích kết duyên với người khác, đi đường gặp người chào mình mỉm cười đều là hữu duyên, không thể không quan tâm đến, không quan tâm đến là không có duyên. 

 Đã hai ngày qua tôi được nghe biết, người ta đem đến rất nhiều tài liệu cho tôi đọc. [Theo những tài liệu đó] ở Đài Loan có rất nhiều học trò làm thí nghiệm, dùng thiện ý hay ác ý để đối xử với thực vật hoặc phẩm vật, xem chúng biến hóa ra sao. Quý vị dùng thiện ýhữu duyên, dùng ác ý cũng là hữu duyên, chẳng quan tâm đến bèn không có duyên. Nhất định phải có duyên, rộng kết pháp duyên! Đến khi mình vãng sanh rồi, chẳng cần phải đợi đến khi thành Phật, cứ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới là đã có năng lực ấy, được bổn nguyện oai thần của Phật A Di Đà gia trì, quý vị biết không chỗ nào chỉ trong một ngày lại đạt được như thế cả! Chúng ta học trong nhân gian cả vạn năm cũng chẳng bằng được người ta học một ngày. Quý vị thấy người ta học một ngày bèn có thể thân cận mười phương hết thảy chư Phật Như Lai, mỗi đức Phật giảng cho mình một câu pháp đã thật phi phàm rồi! Phân lượng ấy vượt xa Đại Tạng Kinh của chúng ta, lời quá rồi! Dẫu chưa minh tâm kiến tánh, nhưng được bổn nguyện oai thần của Phật A Di Đà gia trì, do vậy bèn khởi tác dụng, không khác người minh tâm kiến tánh chi lắm. Quý vị có sức hiểu biết rất cao, có sức ghi nhớ, ngày ngày huân tập ở nơi ấy bèn được đền bù. Huân tập mấy ngày, thả chiếc bè từ trở lại độ hết chúng sanh không sót; trí huệ, phước đức, thiện xảo phương tiện không có ai sánh kịp. Đương nhiên thời gian sống tại Cực Lạc càng lâu thì trí huệ, đức năng càng cao, tiến bộ càng nhanh. 

 “Kinh dạy: Vừa xưng danh hiệu Phật thì đó là thiện căn, nhập Niết Bàn giới”. Đây là chứng cứ do chính đức Phật nói. “Phước bậc nhất trong các phước, đầy đủ vạn đức, nhất tâm niệm Phật, trăm hạnh cùng tu”. Tu một thứ là tu hết thảy, “trăm” ở đây không phải là con số một trăm trong Số Học, mà tượng trưng cho viên mãn. Tu một pháp môn là tu hết thảy pháp môn trong một môn, chớ coi thường một môn, môn nào cũng như nhau. Chúng ta đều nên nhớ kỹ điều kinh Hoa Nghiêm đã giảng: “Một tức hết thảy, hết thảy tức là một”. Trong pháp môn tu hành cũng giống như vậy; chúng ta tu hành chọn lấy một pháp môn. Pháp môn Niệm Phật đầy đủ hết thảy pháp môn; quý vị chỉ cần coi Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, và một chương tỳ-kheo Đức Vân sẽ thấy (nếu coi bản Tứ Thập Hoa Nghiêm thì xem chương Cát Tường Vân). 

 Cát Tường Vân dạy Thiện Tài đồng tử pháp môn Niệm Phật, nói đến hai mươi mốt pháp môn Niệm Phật. Con số hai mươi mốt biểu thị pháp nghĩa, trong Mật Tông gọi là “đại viên mãn”. Mật tông dùng con số mười sáu hoặc hai mươi mốt để biểu thị đại viên mãn, một môn có đủ hết thảy pháp môn, một chính là hết thảy, hết thảy chính là một. Một ở đây không phải là chuyên nhất, không phải là độc nhất, mà là bất cứ một pháp môn nào; bất cứ pháp môn nào cũng có đủ hết thảy pháp môn. Chẳng hạn như tham thiền cũng là đầy đủ hết thảy pháp môn, cũng bao gồm cả pháp môn Niệm Phật trong ấy. Trì giới cũng bao hàm hết thảy pháp môn, Thiền, Tịnh cũng gộp trong ấy, Mật cũng gộp trong ấy, quyết định chẳng thể thiếu một môn nào, một chính là hết thảy, hết thảy chính là một. Kinh cũng giống như vậy: Trong một bộ kinh có đủ hết thảy kinh, chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này. Đó là viên dung vô ngại, lý sự vô ngại, sự sự vô ngại. Vì sao vô ngại? Đều từ Chân Như Tự Tánh lưu xuất, Chân Như Tự Tánh pháp vốn như vậy. Chân Như tự tánh vĩnh viễn viên dung, vĩnh viễn viên mãn, chắc chắn không thể nói Chân Như tự tánh biến hiện ra vật gì mà vật ấy bị khuyết hãm, không hề có! Ở đây, nói thật ra, chỉ có mê hay ngộ; mê thì tợ hồ có khuyết hãm, trên thực tế không hề khuyết hãm. Chính tự mình mê, chứ đức năng vốn chẳng hề khuyết hãm, phải hiểu đạo lý này! Có vậy quý vị mới có thể thật sự tin tưởng, trong một câu Phật hiệu này đầy đủ “vạn đức hồng danh”, chữ “vạn” này cũng không phải là con số mà là tánh đức viên mãn

 “Kinh dạy: Nghe tên đức Phật Vô Lượng Thọ (Vô Lượng Thọ Phật chính là A Di Đà Phật), nhất tâm tụng trì, người ấy sẽ được vô lượng phước”. Niệm một câu A Di Đà Phậtphước báo lớn như thế ư? Đúng vậy, không sai! Vậy sao tôi niệm không có phước báo gì? “Nhất tâm”, quý vị không nhất tâm. Nếu quý vị nhất tâm, phước báo sẽ phi phàm! Quý vị có nhất tâm đâu! Do đó, quý vị thấy: Đầy đủ vạn đức cũng là nhất tâm niệm Phật, được vô lượng phước vẫn là nhất tâm niệm Phật, nhất tâm không dễ dàng! Nhất tâm là thật sự thực hiện, không hoài nghi, không gián đoạn, đó gọi là “nhất tâm”. Ngoài miệng Phật hiệugián đoạn , nhưng trong tâm không hề gián đoạn. Đại Thế Chí Bồ Tát dạy: “Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật”. Niệm là gì? Niệm là trong tâm có, “kim tâm”(3): cái tâm hiện tại, trong cái tâm hiện tại thật sự có thì gọi là Niệm Phật. Miệng niệm trong tâm không có, trong tâm vẫn khởi vọng tưởng thì chẳng thể gọi là niệm Phật, mà thật ra là “miệng niệm Di Đà tâm tán loạn”, trong tâm không hề có. 

 Ở trên đã nói đến “tán tâm xưng danh”. Ngoài miệng có Phật, niệm Phật; trong tâm lúc có lúc không thì gọi là “tán loạn”. Có lúc nghĩ đến Phật, có lúc khởi vọng tưởng, tưởng đến những thứ khác thì gọi là “tán tâm”. Tâm tán loạn là gì? Ngoài miệng có Phật, trong tâm hoàn toàn khởi vọng tưởng, không có chút hiệu quả gì. Chúng tôi nói loáng thoáng về pháp môn Niệm Phật như vậy. Tín, Nguyện, Hạnh đều thuộc trong một câu Phật hiệu, một câu Phật hiệu đủ cả ba điều kiện, niệm như vậy mới có thể vãng sanh. Đoạn tiếp theo nói: 

“Thiện nam nữ (thiện nam tử, thiện nữ nhân), bất luận tại gia hay xuất gia, sang, hèn, già, trẻ, lục thú, tứ sanh”, phạm vi bao quát rất lớn. “Lục thú” là lục đạo, “tứ sanh” là nói về cách thức được sanh ra: Noãn, Thai, Thấp, Hóa, tức Noãn Sanh, Thai Sanh, Thấp Sanh, Hóa Sanh; tất cả hết thảy hữu tình chúng sanh đều gồm trong đây. “Chỉ nghe được danh hiệu Phật, tức là thiện căn nhiều kiếp chín muồi, dẫu Ngũ Nghịch, Thập Ác cũng đều gọi là lành cả”, chẳng dễ dàng đâu! Câu này ý nói tất cả chúng sanh trong tam đồ lục đạo, đương nhiên có chúng ta trong ấy, những kẻ được gọi là thiện nam nữ trong đó là những người đàn ông tốt lành, những người đàn bà tốt lành, tại gia cũng được, xuất gia cũng được, giàu, nghèo, sang, hèn, nam, nữ, già, trẻ, bất luận thân phận nào, bất luận đang sống cuộc đời ra sao, thậm chí tất cả hết thảy chúng sanh trong lục đạo, chỉ cần quý vị hữu duyên nghe được danh hiệu A Di Đà Phật thì thiện căn nhiều kiếp của quý vị đã chín muồi. Kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác nếu nghe được danh hiệu A Di Đà Phật cũng là do thiện căn chín muồi

Thiện căn chín muồi thì trong một đời này có thể vãng sanh hay không? Không nhất định. Vì sao? Vãng sanh phải đầy đủ ba điều kiện: thiện căn, phước đức, nhân duyên, chỉ có mình thiện căn không có phước đức thì chẳng thể vãng sanh! Thiện căn chín muồi, nhưng trong ấy lại có sâu đậm hay mỏng nhẹ, tức là như ở phần trên đã nói là “ít thiện căn”. Thiện căn của kẻ ấy chín muồi, nhưng ít ỏi, không nhiều, tin không sâu, cũng có nguyện, nhưng không thiết tha, chưa buông hết thảy những gì trong thế gian xuống được; danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, nhất là người nhà quyến thuộc, thân tình, còn một sự chưa buông xuống được đều thành chướng ngại. Vì sao không buông xuống được? Vì thiện căn không sâu, phước đức không dày. Vì thế, trong kinh giảng rất khéo: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để được vãng sanh cõi kia”. Duyên phải nhiều! Nhân duyên phải nhiều, trong mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát có hai điều, một là “thỉnh chuyển pháp luân”, hai là “thỉnh Phật trụ thế”. Hai điều nguyện thứ sáu và nguyện thứ bảy là nhiều nhân duyên. Đó là lý dosao kinh luận thường dạy, thường nhắc nhở chúng ta phải thân cận thiện tri thức: là vì nhiều nhân duyên! Thân cận thiện tri thức thì thiện căn, phước đức, nhân duyên dẫu ít ỏi cũng không sợ, vì sao? Lúc thân cận thiện tri thức, thiện căn, phước đức của mình được nâng cao. Ngày ngày được khuyên dạy, ngày ngày cùng đại chúng huân tu, tiến bộ rất nhanh. Nếu như mình có thiện căn, phước đức, nhưng không có nhân duyên thì cũng chẳng dễ thành tựu. Vì sao? Quý vị không thường nghe pháp, không có ai cùng tu với mình, sẽ bị hoàn cảnh ảnh hưởng. Tự nhiên sẽ có bạn bè thân ngày ngày bồi tiếp quý vị vui chơi, phổ biến nhất là chơi mạt chược, khiêu vũ, ưa xem trò vui, nay lại còn thích đá banh, có rất nhiều cái được gọi là hoạt động, hoạt động tụ hội để quý vị đến tham gia. Những thứ đó chẳng ăn nhập gì với thiện căn, phước đức của quý vị cả; duyên thế gian quá nồng, quyết định chướng đạo, chướng ngại quý vị chẳng thể thành tựu trong một đời này! 

Bởi thế, mười nguyện Phổ Hiền chính là trong vô lượng hạnh nguyện, chỉ nêu lên mười cương lãnh đó thôi, “thỉnh chuyển pháp luân” quan trọng lắm! Thỉnh chuyển pháp luân là thỉnh thiện tri thức đến giảng kinh, thuyết pháp khiến cho mọi người giác ngộ. Thỉnh thiện tri thứclâu dài tại một nơi thì nơi ấy có phước báo. Trong Phật pháp thường nói, chúng ta không thể không tin: Thiện tri thức chân chánh, người tu hành chân chánh, người có đạo tâm trụ tại nơi nào, nơi ấy chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần bảo hựu, ít tai ít nạn. 

Người Trung Quốc, người Ấn Độ thời cổ đều hiểu “thiện nhân là báu vật của đất nước”. Thiên Thai đại sư giảng hết sức rõ ràng, hết sức minh bạch, Ngài chính là Trí Giả đại sư, cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đều truyền ngôn Ngài là Thích Ca Mâu Ni Phật tái lai. Nếu lời truyền tụng ấy là đúng, thì lời của Trí Giả đại sư chính là lời của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài dạy chúng ta: “Nói được nhưng không làm được là thầy cả nước”, quý vị thấy đó: Ngài rất tôn trọng! Quý vị giảng kinh điển rất thấu triệt, không giảng sai, hoàn toàn giảng được ý Phật, nhưng bản thân hoàn toàn không làm được, quý vị có thể chỉ dạy người khác, người khác chiếu theo lời quý vị làm sẽ được thành tựu. Đấy chính là: “Thanh xuất ư lam, nhi thắng ư lam” (màu xanh phát xuất từ màu chàm, nhưng vượt trỗi màu chàm). Tức là học trò theo với một vị thầy giỏi, tuy vị thầy không có thành tựu lớn lao gì, học trò thành tựu vượt quá thầy. Thầy dạy chánh xác, nhưng chính bản thân thầy hoàn toàn không làm được, nhưng học trò làm được. Thầy như vậy là quốc sư đấy! Phải thỉnh vị đó chuyển pháp luân, phải thỉnh Ngài trụ thế. 

Nếu “vừa có thể nói lại vừa có thể hành thì là quốc bảo”, là bảo vật của đất nước! Cưu Ma La Thập đại sư lúc còn tại thế, Ngài là quốc bảo của nước Khưu Từ (Kuche) ở Tây Vực. Phù Kiên là vua nước Tần, có thế lực, nghe nói Tây Vực có một vị đại trí huệ như thế bèn phái Lữ Quang suất lãnh bảy vạn đại quân sang Khưu Từ. Phù Kiên bảo Lữ Quang: “Xuất binh lần này chẳng vì lý do nào khác, chỉ là để thỉnh đại sư Cưu Ma La Thập sang nước Tần ta. Mục đích là như vậy. Nếu họ chịu để cho đại sư đi thì lập tức lui binh, nếu họ không bằng lòng, chúng ta sẽ đánh rát, vì một người thôi!” Nước Khưu Từ nhỏ, chống không nổi bảy vạn quân nước Tần, cũng hết sức phiền não. Đại sư Cưu Ma La Thập khuyên quốc vương: “Trận này đánh không nổi, có đánh cũng không thắng, thương vong cả đống người rồi rốt cuộc vẫn phải để cho tôi đi”. Vua nước Khưu Từ bèn giao đại sư La Thập ra, nước Tần không đánh nữa, triệt thoái quân đội. Đại sư Cưu Ma La Thập đến Trung Quốc như vậy đó. 

Người Trung Quốc biết là của báu, của báu thì người ta không chịu nhả, làm cách nào đây? Bức người ta không nhả ra cũng không được. Nhưng khi đại sư La Thập đến Trung Quốc, quý vị phải biết Ngài từ chỗ nay là vùng Nam Lộc, Thiên Sơn, thuộc Tân Cương đến Trường An phải đi mất mấy tháng. Lúc trở về, Lữ Quang đi đến Lương Châu (nay là tỉnh Cam Túc), từ Trường An đưa tin tới, Phù Kiên đã mất rồi. Phù Kiên đã mất, họ Lữ không về Trường An nữa. Lúc ấy, đất nước của Phù Kiên phát sanh chánh biến, đại tướng Diêu Trành gây chánh biến trở thành hoàng đế, cũng đặt quốc hiệu là Tần, tức nhà Diêu Tần. Diêu Trành và Lữ Quang cùng là tướng quân, Lữ Quang không phục. Bởi thế, họ Lữ chiếm cứ Lương Châu, tự xưng là Lương Vương. Đại Sư Cưu Ma La Thập lại ở Tây Lương mấy năm. Lữ Quang không dùng Ngài, cũng giống như giam lỏng nơi ấy vậy. Họ Lữ biết Ngài rất tài hoa, rất thông minh, cũng chẳng thả Ngài đi, cũng chẳng giao Ngài qua nước Tần. 

Đến khi Diêu Trành chết, Lữ Quang cũng chết, đến đời sau, lúc Diêu Hưng tức vị, mới thỉnh đại sư La Thập đến Trường An, lúc đó Ngài đã già. Vì thế, đại sư La Thập chỉ theo đuổi việc dịch kinhTrung Quốc được bảy năm bèn viên tịch, nhưng ảnh hưởng của bảy năm ấy thật phi phàm! Từ chỗ này, quý vị hãy chú tâm lãnh hội: Thiện căn đúng là có, dù có, nhưng nhiều ít khác nhau. Phù Kiên, Diêu Trành thiện căn không nhiều, đến đời con kế thừa vương vị là Diêu Hưng mới không bị lỡ làng, ông ta đúng là người hữu tâm. Lúc ấy, đất nước của họ Diêu rất cường thịnh, Lữ Quang đã chết, cháu là Lữ Long kế vị, sức nước nhà suy nhược địch không lại nước Tần. Bởi thế phải giao đại sư La Thập ra, đưa đến Trường An. Quý vị thấy những người ấy đều là có thiện căn, nhưng nhiều ít khác nhau, phước đức lớn nhỏ cũng sai khác. Trong mấy năm ngài La Thập dịch kinh, họ Diêu ở phương Bắc hưng vượng nhất. Ngài thật sự có trí huệ, không những có tu hành, mà còn là một vị cao tăng đắc đạo, đúng là quốc bảo, chúng ta phải hiểu điều này. Nếu chúng taduyên phận gặp được [một vị như thế], nhất định phải biết “thỉnh Phật trụ thế”. Dẫu Ngài không là Phật, chỉ là thiện tri thức, chúng ta cũng phải thỉnh Ngài sống lâu nơi đây, đến dựng đạo tràng, trường kỳ giảng kinh thuyết pháp, hoằng pháp lợi sanh

Quá khứ, chúng tôi sống ở Đài Loan, cụ Lý Bỉnh Nam hiện thân cư sĩ; người Đài Trung có thiện căn, có phước đức, nên lão nhân gia trụ tại Đài Trung. Ngài giáo hóa rất nhiều năm, các địa phương thuộc Nam Bắc Đài Loan đều biết đến Ngài, cũng đều muốn thỉnh Ngài, Ngài không đi, cứ ở Đài Trung. Dùng phương pháp để lưu lại được? Không có gì khác cả! Ngài không cần danh, cũng không màng lợi, bởi thế cái lưu giữ Ngài không phải là danh lợi, mà là gì? Hiếu học! Người Đài Trung thân cận Ngài, thật sự học theo Ngài, người hiếu học nhiều như thế, Ngài không thể đi được! Tuyệt đối chẳng vì lợi dưỡng, nếu vì lợi dưỡng thì khắp Nam Bắc như Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Nam chắc chắn đời sống vật chất khá hơn ở Đài Trung gấp bội, chắc chắn là như vậy! Nhưng trong những đô thị ấy, tâm tình học tập không được như thế. Kinh Phật thường nói: “Phú quý tu đạo khó”. Điều kiện sanh hoạt vật chất nơi đô hội cao, mọi người đều tranh danh đoạt lợi, đều hưởng thụ ngũ dục, lục trần. Dù có muốn học Phật thì ý nguyện, đạo tâm học Phật vẫn chẳng bằng người nơi nghèo khổ, lạc hậu. Vì thế, chẳng thể nói thiện tri thức cần mình mời mọc, đãi đằng nồng hậu. Không phải vậy! Có bao nhiêu người thật sự học, thật sự thực hành, mới thật sự giữ họ lại được. Thỉnh Phật trụ thế không phải là mình đãi ngộ cho hậu, không phải vậy! Thật sự chịu học, Ngài bèn đến; thật sự chịu học, người khác muốn thỉnh cũng không được. Chúng ta phải hiểu đạo lý này, gặp được vị chân thiện tri thức, làm sao giữ được Ngài, tuyệt đối không phải là điều kiện vật chất, các Ngài coi nhẹ những thứ ấy, mà là có người thật sự học theo Ngài hay không! 

Người thật sự học không cần nhiều, từ ba đến năm người, tám, mười người là quý lắm rồi. Ở chỗ ấy, Ngài có thể truyền thọ đạo nghiệp, người thế gian chúng ta gọi là “hương hỏa lưu truyền đời đời”, phải như vậy đó. Dẫu chỉ có một người, các Ngài cũng không thể vứt bỏ; trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai, người ấy đâu phải người học Phật tầm thường, người học Phật tầm thường chẳng thể thành tựu. Người ấy là ai? Là một người có thể thật sự thành tựu, người như vậy không thể bỏ được! Người ấy có thể truyền pháp. Đạt Ma Tổ Sư đến Trung Quốc gặp Huệ Khả, một người thôi, chỉ một người là được rồi. Ngài truyền được pháp, truyền đến đời thứ sáu là Huệ Năng đại sư, duyên thành thục, phát dương quang đại. Phát dương quang đại phổ độ chúng sanh không nhất định nằm trong tay mình, bản thân không có duyên phận, không có duyên phậnphước đức không nhiều. Giáo hóa chúng sanh phải có phước đức, phước đức, nhân duyên đấy! 

Bởi thế, chúng ta phải biết đạo lý này, biết vô lượng vô biên phước báo ấy. Do quý vị thỉnh chuyển pháp luân, quý vị phải biết vị pháp sư, đại đức, thiện tri thức ấy giảng một bộ kinh ở đây, chẳng nề thời gian dài ngắn, duyên thành thục, người ta nghe kinh khai ngộ, giác ngộ, minh bạch. Duyên chưa thành thục, thiện căn chưa thành thực thì cũng đã gieo thiện căn, bao nhiêu người được lợi ích! Được lợi ích như thế nào? Quý vị thỉnh vị thiện tri thức ấy đến giảng kinh, quý vị đã gieo phước đức rất lớn. Ngoại trừ con người ra, chúng ta nhục nhãn chẳng thấy quỷ thần cũng được lợi ích càng nhiều hơn nữa, chúng ta mắt thịt không thấy được. Chúng sanh trong chín pháp giới đều được lợi ích. Quý vị thấy trong phần trên đã nói là lục thú tứ sanh, có bõ công không chứ? Nếu nói lưu thiện tri thức ở lại một chỗ nào, thì ở chỗ ấy thật sự phải có mấy người thật sự học theo được Ngài, chẳng phải miệng nói xuông đâu, thật sự là ở đó có mấy người có thể tin, có thể hiểu, có thể hành, thật sự có thể y giáo phụng hành. Không nghi hoặc, nghe có thể hiểu được, có thể lý giải, thật sự thực hành, nếu quý vị thỉnh vị thiện tri thức ở lâu tại nơi đó không có vấn đề gì, Ngài nhất định đáp ứng. Chẳng phải chỉ nhằm thành tựu mấy người đó, mục đích không phải chỉ có vậy, mà nhằm thành tựu mục đích khiến cho đại pháp được tồn tại lâu dài trong thế gian. Đại pháp muốn tồn tại lâu dài trong thế gian phải có truyền nhân, ở nơi này quả thật có người truyền pháp, tương lai Ngài ra đi, sau này có người thay thế. Quả thật có một người thì Ngài đều chẳng buông bỏ; nhất định Ngài có duyên với nơi này. Thỏa điều kiện ấy, ngài rất vui thích ở lại đây. Nếu quả thật nhận thấy có người như vậy, điều kiện ở chỗ ấy không tốt, ngoại duyên bất hảo, Ngài vẫn khuyên người như vậy đến học với Ngài, ta thường gọi là “nhiếp thọ chúng sanh”, Ngài chẳng vứt bỏ

Đương nhiên, nhân tố trọng yếu nhất ở đây chính là thầy trò phải có duyên phận, không duyên không được. Thầy và trò có duyên, học trò và thầy có duyên, có vậy mới thành tựu. Nếu thầy là vị thầy tốt, học trò cũng là học trò tốt, nhưng không duyên, miễn cưỡng cũng không được. Chuyện ấy chỉ có thể ngộ chứ không thể cầu, thật chẳng dễ đâu! Học trò mong tìm được thầy khó lắm! Vị thầy giỏi muốn tìm được một đứa học trò để có thể truyền đạo nghiệp của chính mình càng khó hơn nữa, tìm đâu ra đây? Trong Phật pháp thường gọi điều này là duyên phận. Không duyên phận, lắm vị thiện tri thức sau khi vãng sanh, đạo nghiệp bị thất truyền, không ai truyền hết! Chuyện như vậy từ xưa đến nay rất nhiều, làm cách nào đây? Trước kia, các vị viết sách. Mình không có học trò để truyền cái pháp của mình thì mình soạn sách lập thuyết, hy vọng dùng sách vở truyền lại, truyền cho người đời sau hữu duyên. Sau này kẻ có duyên đọc được trước tác của người ấy, khai ngộ, thậm chí chứng quả, dùng phương pháp ấy. 

Trong Nho Gia, Mạnh Tử truyền pháp của Khổng Tử theo phương pháp ấy. Trong thời Mạnh Tử, Khổng Tử đã qua đời rồi, Mạnh Tử tìm được trước tác của Khổng Tử, làm “tư thục đệ tử” (4) của Khổng Tử, hoàn toàn y giáo phụng hành. Ngài thật sự học thành, học thành công, trở thành truyền nhân của Khổng Tử, Khổng TửMạnh Tử chưa hề gặp nhau. Trong nhà Phật chúng ta, thí dụ rõ ràng nhất là Ngẫu Ích đại sưLiên Trì đại sư. Liên Trì đại sư ra đời sớm hơn, khi ngài Ngẫu Ích quy y học Phật, đại sư Liên Trì đã vãng sanh. Ngài Ngẫu Ích đọc trước tác của đại sư Liên Trì. Nay trước tác của đại sư Liên Trì ở chỗ chúng ta cũng có, “Liên Trì Đại Sư Toàn Tập”, hiện tại gồm bốn cuốn, đóng bìa cứng. Ngài học theo đại sư Liên Trì, thật sự học thành công, trở thành nhất đại tổ sư của Tịnh Độ Tông, là tư thục đệ tử của ngài Liên Trì. Cổ nhân dùng phương pháp ấy! 

Hiện tại, khoa học phát đạt, thuận tiện hơn trước kia nhiều lắm, hiện tại làm cách nào? Không có truyền nhân thì có thể thâu hình, có thể thâu âm, dùng băng thâu âm, thâu hình để lưu truyền hòng đợi hậu nhân. Sau này người có duyên xem đến, học tập từ đấy cũng có thể thành tựu. Trước kia chỉ nhờ vào sách, tức văn tự. Nay có những máy móc ấy, tiện hơn nhiều lắm. Bởi thế, hiện tại khoa học tiến rất xa, trước kia không có cách gì, khoa học tiến triển tạo thuận lợi cho con người hiện tại, công đức ấy chẳng thể nghĩ bàn! Bây giờ hết giờ rồi. 

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm 
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Ký, 
Phần 8 hết


(1) Chi quang (lux), còn gọi là một nến: Đơn vị đo độ sáng, có độ lớn bằng một lumen trên một mét vuông. Một lumen được định nghĩa là lượng ánh sáng tỏa đồng bộ mọi phía theo một góc cố định của một một cây nến. 
(2) Tức mằn thầu, một loại bánh bao không nhân. 
(3) Chữ Niệm gồm hai chữ Kim và Tâm ghép lại. 
(4) Tư thục: Ở đây, chữ Thục thuộc bộ Thủy, khác với chữ Thục bộ Thổ (chữ Tư Thục với bộ Thổ có nghĩa là trường tư), từ điển Từ Hải giảng: “Vị thân thọ nghiệp nhi tư tâm cảnh ngưỡng hiệu pháp đích ý tứ” (có nghĩa là: chưa đích thân theo học với thầy, tự ý kính ngưỡng, học theo). Gọi là “tư thục đệ tử” vì Mạnh Tử ra đời, Khổng Tử đã mất, không thể đích thân học với Khổng Tử, nhưng thầy Mạnh hâm mộ giáo pháp của Khổng Tử nên học theo và phát dương quang đại giáo thuyết của Khổng Tử
Tạo bài viết
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo
Vào sáng ngày 22 Oct vừa qua, phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng lại tiếp tục lên đường cứu trợ cho 3 ngôi làng nghèo Thừa Thiên Huế, đó là Làng Phò Ninh, Làng Cổ Bi và Làng Hiền Sỹ. Đây là 3 ngôi làng thời gian qua bị nước lũ vây hãm không có đoàn nào vô làng cứu trợ được, may mắn là khi đoàn Từ thiện Trái tim BDDT có mặt thì nước lũ đã rút đi nhiều nên xe chở hàng cứu trợ đã có thể vào tận nơi để phát quà cho dân.
Sáng hôm qua, (ngày 21 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 2 xã Phú Lễ, xã Quảng Phú, Huyện Quảng Điền Tp Huế, đoàn đã phát tổng cộng là 300 phần quà tại nhà văn hóa cạnh chùa Quang Bảo- Phù Lễ. Chuyến cứu trợ lần này được sự nhiệt tâm giúp đỡ về mặt tổ chức cũng như vận chuyển hàng hóa của chư Phật tử chùa Quang Bảo & các thành viên trong Hội từ thiện nên đã diễn ra tốt đẹp và thành tựu viên mãn.