14

15/11/201012:00 SA(Xem: 11323)
14


TRUNG PHONG TAM THỜI HỆ NIỆM

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Ký
Lão pháp sư Thích Tịnh Không giảng tại Úc Châu Tịnh Tông Học Viện
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

7. Chú Vãng Sanh

 Chư vị đồng học!

 Xin xem tiếp phần sau kinh Di Đà có Bạt Trừ Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni. Câu này phải đọc như thế này “Bạt Trừ Nghiệp Chướng Căn Bản, Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni”, thường gọi là chú Vãng Sanh. Thông thường tụng kinh Di Đà xong, mọi người thường niệm ba biến hoặc bảy biến chú Vãng Sanh. Nếu chiếu theo truyện ký ghi chép thì phải niệm hai mươi mốt biến, ba lần bảy là hai mươi mốt biến, kinh truyện nói như vậy. Con người hiện tại thích giản lược, hai mươi mốt biến giản lược thành bảy biến, nay bảy biến giảm thành ba biến.

 Chúng tôi dựa theo lời giải thích của Liên Trì đại sư trong Sớ Sao để giới thiệu khái lược ý nghĩa bài chú này. Đại sư giải thích ý nghĩa bài chú này như sau: “Dùng chú để bổ trợ kinh”, kinh Di Đà vốn không có chú này, nhân vì chú này cũng nói về việc vãng sanh, nên tổ sư đại đức đem chú đây (bài chú này không dài) ghép vào sau kinh. “Dùng chú phụ trợ kinh, kinh thêm chú càng rõ ràng”. Kinh A Di Đà được bài chú Vãng Sanh ghép thêm đằng sau thì kinh càng thêm rõ rệt. Chú là mật chú, hiển mật viên dung, thể hiện ý nghĩa: Kinh là hiển thuyết, chú là mật thuyết. Nói “kinh được đặt trước chú”, kinh đặt ở đằng trước, chú đặt ở sau, “chú được kinh càng linh”, chú là chú của kinh, kinh là kinh của chú. Chú này có ý nghĩa gì? Ý nghĩa của bài chú đều nằm gọn trong kinh, kinh là hiển thuyết, chú là mật thuyết, “dùng lẫn nhau”, kinh và chú hỗ trợ nhau, thành toàn lẫn nhau. “Ưng kết thích dã”: Nên giải thích như vậy! 

 Trước hết, hãy nói về xuất xứ của bài chú này. “Chú này thấy [ghi chép] tường tận trong Bất Tư Nghị Thần Lực Truyện”. Đây là xuất xứ của bài chú này, chú được chép trong Bất Tư Nghị Thần Lực Truyện. Sách nói “trì chú này, diệt tội vãng sanh”, nghĩa này rất hy hữu, trong Hiển giáo chúng ta nói vãng sanh Tây Phương Cực Lạc là đới nghiệp vãng sanh, chú này lại có thể diệt tội vãng sanh, há chẳng phải là viên mãn hơn kinh ư? Do vậy, quả thật có người không niệm kinh Di Đà, chuyên trì chú Vãng Sanh. Trì chú có được linh nghiệm hay không? Trước kia, tôi giảng kinh ở Đài Bắc, có một vị cư sĩ bảo mình hoàn toàn tuân theo những gì Bất Tư Nghị Thần Lực Truyện đã nói, niệm chú Vãng Sanh ba mươi vạn biến. Ông niệm đủ ba mươi vạn biến không thấy có cảm ứng, đến hỏi tôi. Ông nói: “Thưa pháp sư! Chú này không linh!” Thật ra, không phải chú không linh. Cùng một đạo lý, như trong phần trước chúng tôi đã nói về kinh, quý vị có hiểu hay không? Chú cũng giống như vậy, quý vị có hiểu hay không? Nếu không hiểu thì chỉ là học khẩu ngữ, khó lòng lắm! Chú linh như thế nào? Nói thật ra, từ cổ đến nay thần chú không giải thích. Người Ấn Độ nghe cũng không hiểu, bởi nó chẳng phải là tiếng Phạn. Trước kia, thầy Lý từng bảo tôi thầy đã từng học Mật, học suốt tám năm. Thầy bảo: Quá nửa thần chúngôn ngữ của lục đạo. Khi Phật giảng kinh thuyết pháp, thần linh trong lục đạo đều đến nghe, đại khái thính chúng [trong lục đạo] còn nhiều hơn loài người chúng ta. Chúng ta mắt thịt không thấy, Phật, Bồ Tát, A La Hán đều có thể thấy được. Phải biết đạo tràng giảng kinh của Phật, ngoại trừ thiên long bát bộ ra, quỷ thần trong sáu nẻo đều thật sự đến nghe kinh. Họ đều có năng lực nghe hiểu những ý nghĩa Phật thuyết pháp. Đúng là như kinh Đại Thừa thường nói: “Phật dùng một âm để thuyết pháp, chúng sanh tùy mỗi loại đều hiểu”. Như vậy, âm thanh thuyết pháp của Phật là Viên Âm, tức là âm thanh viên mãn, bất luận loài chúng sanh nào đến nghe Phật thuyết pháp đều hiểu được, tựa hồ như nghe Phật đang nói bằng chính ngôn ngữ của loài mình. Đó là thần lực chẳng thể nghĩ bàn! 

 Sau khi giảng xong một bộ kinh, thông thường Phật dùng những ngôn ngữ của thính chúng để nói mấy câu. Mấy câu ấy hết sức thân thiết, dùng ngôn ngữ của chính họ để nói, cũng là lòng từ bi lưu lộ, thân thiết từ bi. Chúng ta thể hội sâu xa, đối với thần linh trong lục đạo đến nghe, Phật cũng dùng ngôn ngữ của họ để nói mấy câu, nhất định khiến họ hết sức phấn khích, hết sức hoan hỷ. Đó là lý do mật chú chỉ có âm thanh chứ không thể giảng ý nghĩa. Đa số ý nghĩa của chú là những ý nghĩa đã được tuyên nói trong kinh, đương nhiên Phật cũng chẳng thể nói tỉ mỉ, chỉ nói mấy câu trọng yếu mà thôi. Thầy Lý dạy tôi: Do vậy, chúng ta cung cung kính kính niệm thần chú là tốt, thế nhưng chúng ta niệm lại sợ gì? Sợ rằng tiếng niệm không chuẩn xác, không sao cả! Âm thanh không chuẩn xác, quỷ thần cũng lượng thứ. Đương nhiên, đức Phật niệm sẽ chuẩn xác nhất; sau đức Phật, người niệm chuẩn xác không nhiều. Cốt sao tâm chân thành, như thường nói: “Hễ thành ắt linh”, chân thành ắt cảm ứng. Đó là một loại thần chú

 Trong Đại Tạng Kinh còn có một loại chú ngữ ta không thể gọi là thần chú được, nó cũng không mang ý nghĩa ấy. Chú ngữ thuộc loại nào vậy? Loại trị bệnh. Trị bệnh thì không phải là thần chú; đối tượng của những chú ấy không nhằm để quỷ thần nghe, mà nhắm vào căn bệnh. Đại khái là huyệt đạo bế tắc, đức Phật biết bộ phận nào bị bế tắc không thông suốt nên bệnh tật phát sanh. Phật đem phạm âm dạy cho quý vị, dạy quý vị niệm, niệm những câu chữ ấy, âm thanh lớn hay nhỏ đều đã khảo cứu. Dùng âm thanh chấn động những bộ vị bế tắc; do chấn động, sự bế tắc bị tiêu trừ, kinh mạch thông suốt. Do vậy, trong kinh điển cũng có rất nhiều chú ngữ trị bệnh, nhưng ngày nay còn linh hay không? Hiện thời, thật sự không linh. Là vì loại chú ngữ ấy nhất định phải được khẩu truyền. Chúng ta dựa theo kinh ấy, thấy bệnh như thế bèn niệm chú ấy không thấy linh nghiệm chút nào hết. Không phải chú ấy không linh mà vì chúng ta không biết niệm, chúng ta không biết cách phát âm. Phát âm phải chánh xác, âm lượng phải rất chuẩn thì mới thật sự thấu đến bộ vị ấy. 

 Đây có thể gọi là phương pháp trị bệnh cao minh nhất, chẳng cần phải châm cứu. Châm cứu vẫn cần phải đâm kim. Cách này không cần, dùng âm thanh trị bệnh là phương pháp cao minh nhất; cách này đã thất truyền. Dù Đại Tạng Kinh vẫn có, nhưng quả thật không linh là vì tiếng niệm của chúng ta không chuẩn, không biết âm lượng lớn - nhỏ. Trong thế gian này cũng có rất nhiều thổ dân, tổ tổ tương truyền, rất có thể vẫn còn giữ được phương pháp này, nhưng hiện tại chúng ta rất ít thấy. Điều này thật sự có lý, chứ không phải vô lý, những chú ngữ ấy không có ý nghĩa gì hết. Điều này thuộc về thường thức, chúng ta phải hiểu như thế. Nếu trong tương lai, có ai phát hiện, người ấy dùng âm thanh chữa bệnh sẽ hiểu được phương pháp này. Lúc Thế Tôn còn tại thế thường dùng phương pháp này. Đại kháiTrung Quốc, đến đời Đường vẫn còn phương pháp dùng chú ngữ trị bệnh này, rất có hiệu quả. Hơn ngàn năm sau, loại chú ngữ này bị thất truyền, hết sức đáng tiếc! 

 Ở đây, Liên Trì đại sư nói: “Người trì chú này diệt tội vãng sanh, nên đặt tên là Bạt Trừ Nghiệp Chướng Sanh Tịnh Độ”. Bài chú này có danh xưng là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản, Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni. Đà La Ni có nghĩa là Tổng Trì. Sau lời Sớ có lời Sao, Sao nhằm giải thích Sớ, Sớ để giải thích kinh, tức là lại có phần chú giải những lời chú giải [kinh]. Chúng tôi cũng không cần phải đọc hết, chỉ nhắc đến những phần trọng yếu. Nói đến nghiệp chướng thì thông thường, nghiệp chướng gồm ba loại lớn: Phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng. Nhà Phật thường nói “nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não, nguyện đắc trí huệ chân minh liễu”; ba chướng vừa nói ấy chính là những chướng vừa được liệt kê ở đây: Phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng

 Vì sao không nói dẹp trừ phiền não chướng và báo chướng? Trong ba chướng vì sao chỉ nhắc đến mình nghiệp chướng? Đối với nghiệp chướng thì phiền não chướng là nhân của nghiệp chướng, báo chướng là quả của nghiệp chướng. Nói thật ra, những thứ nhân quả báo ứng đều lần lượt làm nhân quả lẫn nhau. Do vì phiền não bèn tạo nghiệp, nghiệp chướng là nhân, báo chướng là quả. Nói như vậy chắc quý vị hiểu rõ. Do vì phiền não quý vị mới tạo nghiệp. Nếu khôngphiền não làm sao tạo nghiệp được! Phiền não là gì? Tham - sân - si - mạn, trong phần trên gọi là Kiến Hoặc, Tư Hoặc. Quý vị có Kiến Tư phiền não nên mới tạo nghiệp; tạo nghiệp rồi, nhất địnhquả báo. Ác nghiệp thì quả báongạ quỷ, súc sanh, địa ngục; thiện nghiệp thì quả báothiện quả nhân thiên. Như vậy, lục đạo luân hồi thuộc về quả báo. Lục đạo luân hồi vì đâu mà có? Do khởi Hoặc tạo nghiệp nên mới biến hiện ra như thế. Đại sư cũng giải thích rất khéo: “Nghiệp ắt có nhân, nghiệp ắt chiêu quả”. Vì thế có thể nói là phiền não chướngbáo chướng được bao gồm trong nghiệp chướng. Ở đây, đại sư cũng nói mấy câu rất hay: “Trừ chướng quý ở chỗ trừ tận gốc. Nếu rễ tuyệt sẽ chẳng nẩy mầm. Mầm chẳng sanh thì cành, lá, hoa, quả đều chẳng sanh được”. Ý nghĩa này hay lắm, chúng ta phải hiểu. Cổ đức thường chỉ dạy người học tu hành là tu từ đâu? Tu từ căn bản, ý nghĩa như vậy. Căn bản là gì? Căn bảnkhởi tâm động niệm. Cách tu hành cao minh nhất là ý niệm vừa khởi, lập tức “chiếu trụ”. Chiếu trụ là gì? Biết rõ ràng minh bạch ý niệm này của mình là thiện hay ác. Ý niệm là thiện, thiện là lợi ích hết thảy chúng sanh, điều thiện ấy chính là ý niệm tốt, phải làm cho nó tăng trưởng. Nếu ý niệm ấy là niệm ác, lập tức phát hiện, đoạn ngay lập tức, dùng một câu A Di Đà Phật thay thế. Đó là tu từ căn bản

 Do vậy, quý vị phải biết: Pháp môn Tịnh Độ là tu từ căn bản, so với bất cứ pháp môn nào cũng đều dễ dàng hơn. Do vì pháp môn này đề khởi chánh niệm, chánh niệm là một câu Phật hiệu, hết sức dễ dàng, hết sức đơn giản. Ý niệm vừa khởi bèn A Di Đà Phật, quy về A Di Đà Phật. Cái niệm thứ nhất vừa khởi, cái niệm thứ hai bèn chuyển. Quý vị phải thật sự niệm Phật như thế, công phu đắc lực! Lợi căn thì ba tháng, nửa năm sẽ có hiệu quả rất tốt. Độn căn thì ước chừng ba năm, năm năm sẽ thấy hiệu quả. Quan trọng nhất là trì cho thường hằng, phải giác ngộ nhanh, đừng cho vọng tâm tiếp tục tăng trưởng. Đấy là điều chúng tôi thường giảng, phải thường đề khởi sự cảnh giác cao độ, vi mật quán chiếu; ấy mới là chân chánh dụng công! 

 Liên Trì đại sư nói: “Nay trì chú này thì phiền não không khởi, đó là dẹp trừ căn bản của nghiệp chướng vậy”. Cội rễ của nghiệp chướngphiền não, một ngày từ sáng đến tối niệm chú Vãng Sanh, thân - miệng - ý đều chuyên chú vào chú ngữ (tổng cộng gồm mười bốn câu), niệm đâu chú tâm vào đó khiến phiền não bị khuất phục. Đến lúc công phu đắc lực, dù không niệm phiền não vẫn chẳng khởi hiện, bèn được công phu thành phiến, dùng phương pháp trì chú để đạt công phu thành phiến

 Tiếp đó là giảng về những câu được ghi trong Bất Tư Nghị Thần Lực Truyện: “Như Truyện nói: Ngày đêm mỗi thời trì hai mươi mốt biến, diệt các tội như Ngũ Nghịch, báng pháp v.v…” Nói “ngày đêm” không có nghĩa là buổi sáng niệm hai mươi mốt biến, buổi tối niệm hai mươi mốt biến. Nếu quý vị hiểu như vậy là đã hiểu lầm ý nghĩa mất rồi. Ấn Độ thời cổ, ngày gồm ba thời, đêm gồm ba thời, mỗi một thời niệm hai mươi mốt biến. Nói cách khác là ngày đêm sáu thời. Thật ra, cũng không có gì nhiều, mỗi thời niệm hai mươi mốt biến, ngày đêm phải niệm sáu lần, tổng cộng sáu lần, phương pháp tu hành như vậy. Thời cổ, chúng sanh thiện căn sâu dầy, hiểu luân lý đạo đức, đều có mức tu dưỡng kha khá, phương pháp tu trì này có hiệu quả. Trong thế giới hiện tại rất khó, trong có phiền não tập khí nghiêm trọng, bên ngoài có sức dụ hoặc to lớn. Công phu hiện tại phải là trong mười hai thời không được gián đoạn trong từng sát-na. Vì sao? Hễ gián đoạn, phiền não tập khí bèn hiện tiền, rất khó khăn! Đại sư lại nói: “Sa Bà luân hồi đều vì nghiệp chướng. Nghiệp chướng đã không thì chủng tử uế độ diệt, tùy nguyện vãng sanh, nên được sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Đà”. Ý này rất hay. 

Tiếp đấy, lại có mấy câu nhằm giải thích chữ Tổng Trì. Chúng ta thường nói đến Tổng Trì rất nhiều. “Tổng nhất thiết pháp, trì nhất thiết nghĩa” (Gồm chung hết thảy pháp, nắm giữ hết thảy nghĩa), đó là ý nghĩa của chữ Tổng Trì. Tổng Trì tiếng Phạn là Đà La Ni, là tên gọi khác của Chú. “Truyện mang tên là Bất Tư Nghị Thần Lực, tức là bản kinh mang tên Bất Tư Nghị Công Đức”. Hợp kinh và chú lại để luận thì: “Trì chú, trì danh bèn được vãng sanh, nên cùng gọi là Bất Tư Nghị”. Đây là ý nghĩa lớn lao của việc ghép đem Vãng Sanh Chú vào sau kinh. Đại sư đã giảng cho chúng ta biết đại ý

 Câu tiếp đó nói về người phiên dịch chú Vãng Sanh: “Tống Nguyên Gia Thiên Trúc Tam Tạng Cầu Na Bạt Đà La dịch”. Giảng kinh nhất định phải giới thiệu người phiên dịch. Bởi lẽ, Phật pháp từ Ấn Độ truyền sang, từ Tây Vực truyền đến Trung Quốc. Truyền đến Trung Quốc phải qua phiên dịch mới thành kinh điển bằng Hoa văn. Nhất định phải ghi chép niên đại phiên dịch, tên người phiên dịch ở đầu, nhằm chứng thực kinh điển này quả thật do Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói, từ nguyên văn tiếng Phạn dịch ra hòng thủ tín cùng tín đồĐông phương. Do vậy, danh đề rất quan trọng. Nhà Tống được đề cập ở đây chính là nhà Lưu Tống thuộc thời Nam Bắc Triều, Nguyên Gia là niên hiệu, tức những năm cuối của niên hiệu Nguyên Gia thời Tống Văn Đế (424-453). Thiên Trúc nay gọi là Ấn Độ. Vì sao gọi là Tây Vực? Vào thời ấy, từ Ấn Độ sang Trung Quốc, quá nửa là theo đường Tây Vực, vượt qua Thông Lãnh đi về Nam, phía dưới đó là Ấn Độ. Do vậy, ta thường gọi là Tây Phương. Nay giao thông thuận tiện hơn, chúng ta biết rất rõ vị trí của Ấn Độ. Cầu Na Bạt Đà La là vị pháp sư người Ấn Độ. Tam Tạng: Chúng ta thường nói là “học lịch”, nay gọi là “học vị”; Ngài tinh thông Tam Tạng. Tam Tạng pháp sư mới có tư cách phiên dịch kinh điển, phải thông đạt Tam Tạng. Nếu không thông đạt Tam Tạng, không thể theo đuổi công tác phiên dịch; quý vị phải có học lịch (học vấn rộng khắp). Cầu Na Bạt Đà La là tên hiệu của vị pháp sư dịch kinh. Đồng thời với Ngài có một vị pháp sư cũng là người Ấn Độ, tên họ rất giống, tức ngài Cầu Na Bạt Ma. Có khi ghi là Cầu Na Bạt Đà, không có chữ La ở sau, âm thanh từa tựa Cầu Na Bạt Ma. Do vậy, rốt cuộc bài chú Vãng Sanh này do vị nào phiên dịch vẫn là điều tồn nghi. Thế nhưng cả hai vị đều là người Ấn Độ, cùng thời đại, khẳng định Vãng Sanh Chú quả thật đã được phiên dịch từ kinh điển Phạn Văn, ta có thể khẳng định điều này. Tiếp sau đây là chú ngữ, tôi đọc một lượt rồi xem tiếp những lời giảng giải của Liên Trì đại sư. Chú ngữ gồm mười bốn câu: 
 
 

 Nam mô a di đa bà dạ, đá tha già đa dạ, đá địa dạ tha: A di rị đô bà tỳ, a di rị đá, tất đam bà tỳ, a di rị đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá, tỳ ca lan đá. Già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, sa bà ha
 
 

 Ba hàng tiếp theo đó là những lời trích từ truyện, tức là những câu trích từ Bất Tư Nghị Thần Lực Truyện. “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân có thể tụng chú này thì A Di Đà Phật thường đứng trên đảnh đầu, ngày đêm ủng hộ chẳng để cho oán gia có dịp thuận tiện, hiện đời được an ổn. Lúc mạng chung, tùy ý vãng sanh”. Đoạn kinh văn này nêu lên thật rõ mối quan hệ mật thiết giữa kinh A Di Đà và bài chú này. Thế nhưng khi đọc kinh, chúng ta thường không lưu ý đến những chữ then chốt trong kinh. Vì thế, chúng ta hay nói đọc kinh không linh, mình chiếu theo kinh điển tu học dường như không đạt được hiệu quả như kinh đã nói. Người nói như vậy không biết kinh luôn đặt ra những điều kiện rõ ràng! Quý vị thấy đó: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân”, chứ không nói “nếu có kẻ trai, người gái”, không hề nói như vậy, trước đó phải có chữ Thiện. Thử hỏi: Chúng ta đã hội đủ tiêu chuẩn Thiện hay chưa? Nếu hội đủ tiêu chuẩn Thiện, chiếu theo phương pháp này tu học, chắc chắnhiệu quả. Đấy là những điều trong những buổi giảng, chúng tôi thường cảnh tỉnh các đồng học, chớ nên coi thường

 Tiêu chuẩn của Thiện là gì? Trong Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, đức Phật đã nói ra những tiêu chuẩn của Thiện. Trong đoạn kinh nào vậy? Mọi người đều biết rất rành là “Tịnh nghiệp tam phước”. Đó chính là tiêu chuẩn của thiện nam tử, thiện nữ nhân. Điều thứ nhất: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập Thiện nghiệp”. Đó là cái thiện của nhân - thiên, tức tiểu thiện. Chúng ta có hội đủ hay không? Nếu hội đủ bốn câu này thì quý vị chính là thiện nam tử, thiện nữ nhân như kinh đã nói. Nếu không hội đủ bốn câu này, quý vị chỉ là nam tử, nữ nhân, chẳng thể thêm vào chữ Thiện được! Thế nhưng quý vị phải hiểu: Quý vị đạt được điều kiện này, bèn chiếu theo phương pháp tu hành, thì có được cảm ứng thù thắng gì hay chăng? Chưa chắc! Do nguyên do nào? Vì kinh này là kinh Đại Thừa, không phải kinh Tiểu Thừa. Câu thứ nhất ấy chỉ là thiện pháp thuộc nhân thiên, chưa phải là thiện của Đại Thừa. Tu nhân thiên tiểu quả thì được vì đã đạt tiêu chuẩn! 

 Điều thứ hai trong Tịnh nghiệp tam phước là “thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”. Ngoài bốn câu trên, thêm ba câu này vào thành bảy câu. Làm được bảy câu này mới là Nhị Thừa thiện. Học Thanh Văn, học Duyên Giác, trong kinh điển Tiểu Thừa thường nói “thiện nam tử, thiện nữ nhân” là chỉ những người làm được cả bảy câu này. Kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọkinh Đại Thừa, Vãng Sanh Chú cũng là kinh Đại Thừa, nên quý vị còn phải làm được điều sau đây nữa. Điều sau đây chính là Đại Thừa thiện: “Phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả”. Tổng cộng là mười một câu, mười một câu này là căn bản của mọi căn bản. Làm được hết mười một câu này thì chính là Đại Thừa thiện. Như vậy chữ Thiện là then chốt, thiện nam tử, thiện nữ nhân đầy đủ Tịnh nghiệp tam phước. Quý vị có đủ cơ sở ấy thì được, quý vị “có thể tụng chú này, A Di Đà Phật thường đứng trên đảnh đầu, ngày đêm ủng hộ”. Quý vị tu thành Tịnh nghiệp tam phước, rồi lại tu pháp môn này, quý vị sẽ thấy có hiệu quả hay là không! 

 Tuy vậy, như tôi đã kể cùng quý vị, trước kia, tại Đài Bắc tôi đã từng gặp một vị cư sĩ niệm chú Vãng Sanh đến ba mươi vạn biến không có hiệu quả, do nguyên nhân gì vậy? Ông ta không có Tịnh nghiệp tam phước. Ông ta chỉ là nam tử, nữ nhân, không có chữ Thiện này. Bởi thế, niệm xong ba mươi vạn biến không có hiệu quả. Vì tuổi ông ta đã cao, cũng có thân phận kha khá, khi đó chúng tôi tuổi trẻ, chẳng tiện nói. Xử sự, đãi người, tiếp vật, lời lẽ phảichừng mực. Nói gì phải coi người ta có tiếp nhận được hay không, mới có thể cùng người bàn luận. Người ta không tiếp nhận được, không cần phải nói, cứ chắp tay hoan hỷ. Trong xã hội, ông ta có thân phận, có địa vị, cũng có tài nghệ văn chương, thường hay vác mặt lên trời, không có mấy ai được ông ta coi trọng. Những điều ấy đều là chướng ngại, đều là nghiệp chướng của ông ta. 

 Do vậy biết rằng: Tu hành không thể không biết căn bản, căn bản là thiện. Trước hết, chúng ta phải đạt được tiêu chuẩn Thiện trong nhãn quan đức Phật, chúng ta phải tự nỗ lực đạt được! Sau đấy, mới y giáo phụng hành thì mới có hiệu quả. “A Di Đà Phật thường đứng trên đảnh đầu” chính là A Di Đà Thế Tôn hộ niệm. Oán thân trái chủ toan chướng ngại quý vị tu hành, chướng ngại quý vị vãng sanh, nhưng có Phật lực, có hộ pháp thần bảo hựu quý vị, chúng không có dịp nào thuận tiện. “Hiện đời được an ổn”, nghĩa là sống trong thế gian này, quý vị được Phật hộ niệm, được long thiên thiện thần ủng hộ, nên tai nạn, chuyện bất tường chẳng dễ gì gặp phải. Lúc lâm chung, “tùy ý vãng sanh”, “tùy ý” nghĩa là tự tại

 Đoạn kinh văn này thuyết minh công đức của thần chú, giảng rất tường tận. Ba câu đầu có thể phiên dịch, bởi lẽ chúng không phải là chú ngữ. Câu thứ nhất “nam mô a di đa bà dạ” là niệm nam mô A Di Đà Phật. A-di-đa-bà-dạ (Amitabhaya) là A Di Đà đọc theo Phạm âm Ấn Độ, nay chúng ta tỉnh lược thành A Di Đà Phật. A Di Đà chứ không có chữ Phật, trong câu trên không có chữ Phật. Câu kế đó, “đá tha già đa dạ” (tathagataya), dịch là Như Lai. Như vậy, niệm toàn bộ hai câu này, thì “nam mô a di đa bà da, đá tha già đa dạ” chính là A Di Đà Như Lai, trước đó có chữ Nam Mô, tức Nam Mô A Di Đà Như Lai. Có thể dịch ra như vậy, nên hai câu này có thể phiên dịch được. Câu “đá địa dạ tha” (tatiyatha) cũng dịch nghĩa được, dịch sang nghĩa tiếng Hán là “tức thuyết chú viết” (liền nói chú rằng), có nghĩa như vậy. Những câu tiếp đó mới là chú, từ chữ “a di rị đô bà tỳ” (amrto dbhave) trở xuống gồm mười câu; mười câu ấy là chú ngữ. Những chú ngữ này từ xưa đến nay không phiên dịch, chỉ có ba câu đầu là có thể dịch. Trong lời chú giải, Liên Trì đại sư giảng: “Thần chú từ xưa đã chẳng phiên, đại lược có năm ý”. Năm ý ấy chính là năm quy định trong thể lệ dịch kinh:

1) Ý nghĩa thứ nhất là giống như đế vương thời cổ, đế vương có những ý chỉ bí mật, chẳng thể tùy tiện tuyên truyền, quý vị nhận được cứ y giáo phụng hành là được rồi, cứ chiếu theo đó mà làm, chẳng cần phải hỏi han. 

 2) Ý thứ hai: Hoặc trong một câu có quá nhiều ý nghĩa, như Tiên Đà Bà (1) mang nhiều nghĩa nên không phiên. Bởi lẽ không tìm được thành ngữ hoặc từ ngữ Trung Quốc tương tự, nên bèn phiên âm kèm theo giải thích

3) Ba là ở Trung Quốc không có, chẳng hạn như Diêm Phù Đề (Jambudvipa). Trong kinh chúng thường thấy chữ sau: Am Ma La quả (Amarapuspaka), Trung Quốc từ trước đến nay chưa hề có, hoặc Hưng Cừ trong Ngũ Tân (năm thứ cay hôi), Trung Quốc cũng không có. Nhưng hiện tại giao thông phát đạt, hàng hóa lưu thông dễ dàng, Am Ma La quả là trái gì vậy? Người Đài Loan gọi nó là trái Ba Lạc (trái xoài). Trước kia, lão hòa thượng Đạo Nguyên (Ngài là vị pháp sư giảng kinh tại Đài Loan) đi triều bái Ấn Độ. Do Ngài thường giảng kinh, thường giảng trái Am Ma LaTrung Quốc không có, rốt cuộc vẫn không biết là trái gì. Lần ấy, Ngài đến Ấn Độ, hỏi người Ấn Độ: “Trái Am Ma La là trái gì? Xin đem đến cho tôi xem!” Rốt cuộc họ đem lại, nhận ra trái ấy Đài Loan cũng có, nhưng ở Trung Quốc đại lục không có. Đó là một loại. Hưng Cừ là một loại trong Ngũ Tân, chính là thứ gì vậy? Nay chúng tôi biết nó là một loại hành tây; ở Trung Quốc không có. Như vậy, những thứ giống như vậy không có cách nào phiên dịch được, chỉ còn cách phiên âm. 

4) Thứ tư, thuận theo lối cổ không phiên. Thời cổ dịch kinh, những chữ, những câu đã được dịch âm, ai nấy đều biết nên không cần canh cải nữa. Hãy nêu một thí dụ: A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Nói thật ra, cũng là do tôn trọng cổ nhân, tôn trọng nên không phiên dịch

5) Thế nhưng điều thứ năm cũng mang ý nghĩa tôn trọng: “Hoặc do tôn trọng, chứ không phải không dịch được sang tiếng Hán, như chữ Bát Nhã chẳng hạn”. Nói thật ra, Bát Nhã cũng có thể dịch, dịch thành trí huệ. A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, dịch là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Thế nhưng danh từ Pháp Tướng trong kinh luận hết sức nhiều, chúng ta đọc đã quá quen, như vậy chúng thuộc về loại từ ngữ được tôn trọng. Nhất là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đã là người học Phật thì bất luận Tiểu Thừa hay Đại Thừa, Hiển giáo hay Mật giáo, chúng ta học Phật nhằm mong mỏi điều gì? Chính là mong cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bát Nhã không phiên, cũng có lý đôi chút. Bởi lẽ, trí huệ Bát Nhã chẳng phải là trí huệ theo quan niệm thông thường, không giống với khái niệm trí huệ thông thường. 

Thần chú thường không phiên dịch, nhưng có khi nào được phiên hay không? Có chứ! Ngay cả năm hội thần chú Lăng Nghiêm cũng được phiên dịch. Đời Thanh, Quán Đảnh pháp sư đem toàn bộ bài chú ấy dịch ra. Đó chỉ là thiểu số, tất nhiên đa số tôn trọng thể lệ dịch kinh của cổ nhân, nên cũng không cần phải phiên dịch ra. Không phiên dịch ra thì được tôn trọng. Dịch ra rồi, ý niệm tôn trọng không còn nữa. A! Bây giờ đã hết giờ rồi. 
 
 

*

Chư vị đồng học! 

Xin xem tiếp phần giảng giải về Vãng Sanh Chú của Liên Trì đại sư. Lời Sớ viết: “Kinh và chú liên quan, chính là ý nghĩa Hiển Mật viên thông”. Sau kinh Di Đà, ghép thêm chú Vãng Sanh, nói thật ra, ý nghĩa thật sự là Hiển giáoMật giáo dung hợp thành một thể. Đó là ý nghĩa chân chánh. Trong phần Sao viết: “Trình bày rõ cõi ấy”, cõi ấy chính là Tây Phương Cực Lạc thế giới, “y báo, chánh báo trang nghiêm, Tín Hạnh Nguyện môn”. Tín -Nguyện - Hạnh, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới phải hội đủ ba điều kiện này, “như kinh đã dạy, đó gọi là Hiển”, nghĩa là chỉ dạy rõ ràng. Sách Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư thật là khó có. Ngài chia toàn kinh thành ba phần: Tự Phần, Chánh Tông Phần, Lưu Thông Phần. Ba phần, mỗi một phần lại chia thành ba phần, tức ba đoạn lớn, mỗi một đoạn dùng Tín - Nguyện - Hạnh để phân định. Tự Phần gồm ba đoạn Tín - Nguyện - Hạnh, Chánh Tông phần cũng gồm ba đoạn Tín - Nguyện - Hạnh, phần Lưu Thông lại có Khuyến Tín - Khuyến Nguyện - Khuyến Hạnh. Ba phần đều chẳng lìa Tín - Nguyện - Hạnh, khai thị hết sức rõ ràng. Đó gọi là Hiển. 

Tiếp đó, lời Sao viết: “Tuân lời sắc truyền bí mật của Phật, chỉ trì chú này liền được vãng sanh, đó gọi là Mật”. Tuân theo lời Phật răn dạy, chuyên trì Vãng Sanh Chú, tốt lắm, cũng được vãng sanh. Chú ngữ không có ý nghĩa gì vì là mật thuyết. Vậy Hiển và Mật liên quan với nhau như thế nào? “Hiển là nhằm hiển cái Mật này, còn Mật nhằm kín nhiệm cái Hiển ấy”, cho thấy mối quan hệ giữa Hiển và Mật là một không hai. Một đằng là hiển thuyết, một đằng là mật thuyết; ở phần trên tôi đã trình bày cùng quý vị rồi. Vì sao sau khi đức Phật hiển thuyết, lại phải mật thuyết? Chủ yếu là nói cho chúng sanh trong chín pháp giới, dùng ngôn ngữ của bọn họ để nói. Chú không phải là tiếng Phạn nên người Ấn Độ không hiểu. Ở đây, đại sư bảo cùng chúng ta: “Kiêm trì thì hai điều tốt đẹp cùng đầy đủ”, ý nói Hiển, Mật đều trì. Chẳng hạn như khi tụng kinh, tụng kinh Di Đà xong bèn niệm ba biến chú Vãng Sanh, đó là thông lệ hiện tại. Tốt nhất là niệm bảy biến, niệm bảy biến chú Vãng Sanh chính là Hiển Mật cùng tu. Nếu như chỉ “đơn cử cũng giao nhiếp không sót, nên bảo là Viên Thông”. “Đơn cử” nghĩa là chỉ niệm kinh không niệm chú, có được hay không? Được chứ! Mật nằm trong Hiển; chỉ trì chú không niệm kinh cũng được, vì Hiển nằm trong Mật. Vì thế gọi là Viên Thông. Viên là viên mãn, Thông là thông đạt, không chướng ngại. Nói như vậy, rốt cuộc chúng ta nên tu cách nào? Liên Trì đại sư rất từ bi, lời khai thị tiếp đó hết sức trọng yếu

“Dẫu nói là giao nhiếp, nhưng chuyên trì danh hiệu vẫn hơn trì chú, cũng tốt hơn trì các chú khác, cũng thù thắng hơn hết thảy các công đức khác”. Đoạn khai thị này hết sức tinh vi đẹp đẽ: Chớ có nghe nói Hiển - Mật dung nhiếp lẫn nhau như trên đây rồi Hiển lẫn Mật pháp nào cũng tu hết. Lợi ích chân chánh là thâm nhập một môn. Tu pháp nào? Cổ nhân thường nói: “Niệm kinh không bằng niệm chú, niệm chú không bằng niệm Phật”. Câu nói ấy rất có lý, hoàn toàn tương ứng với đoạn khai thị này của Liên Trì đại sư. Kinh dài quá, chẳng dễ gì nhiếp tâm! Chú ngắn hơn, dễ nhiếp tâm hơn, nhưng một câu danh hiệu lại ngắn hơn nữa, càng dễ nhiếp tâm hơn. Chân chánh tu hành dụng công, nhiếp tâm là bậc nhất. Bởi lẽ, mục đích tu hành của quý vị là gì? Mục đíchnhất tâm bất loạn. Bất luận Hiển giáo hay Mật giáo, Tông môn hay Giáo Hạ, Đại Thừa hay Tiểu Thừa thì tổng cương lãnh, tổng nguyên tắc, tổng phương hướng, tổng mục tiêu đều là muốn nhất tâm bất loạn. Dùng phương pháp nào sẽ khiến cho mình nhanh chóng đạt được nhất tâm bất loạn? Niệm Phậtphương pháp thù thắng nhất. Do vậy, ở đây đại sư bảo chúng ta: “Chuyên trì danh hiệu còn hay hơn trì chú”, hơn hẳn trì chú. Trì chú ở đây ý nói trì Vãng Sanh Chú. Thù thắng hơn những chú khác! Trong tất cả hết thảy chú ngữ thì Phật hiệu luôn thù thắng vượt trỗi, không những vượt trội mật chú mà còn vượt trội cả Hiển giáo. Hiển giáo chính là tu hết thảy các pháp công đức khác đều không bằng trì danh. Tiếp đó, lại có lời thuyết minh tỉ mỉ trong phần Sao về lời Sớ: “Riêng khen ngợi trì danh”. Ở đây, đại sư giảng ba câu. Câu thứ nhất là “thù thắng hơn bổn chú”, bổn chú chính là Vãng Sanh Chú. Trì danh thù thắng hơn trì chú Vãng Sanh. Vì sao? “Do chú nói: Tụng ba mươi vạn biến sẽ thấy A Di Đà Phật”. Quý vị phải nhớ kỹ, phải đủ ba mươi vạn biến mới thấy được A Di Đà Phật; còn trì danh thì “một ngày nhất tâm, Phật bèn hiện tiền”. Vãng Sanh Chú tụng đủ ba mươi vạn biến, chắc chắn không thể xong trong một ngày. Niệm nhanh hơn cũng không được, không cách gì niệm xong trong một ngày. Thế nhưng Phật hiệu chỉ cần quý vị nhất tâm hệ niệm một ngày, ắt có cảm ứng, Phật bèn hiện tiền. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, chúng ta thấy Oánh Kha pháp sư niệm Phật ba ngày ba đêm, A Di Đà Phật bèn hiện tiền. Năm năm trước khi Hàn Quán Trưởng vãng sanh, chúng tôi trợ niệm bên cạnh bà, bà hai lần thấy A Di Đà Phật hiện tiền, một lần thấy Liên Trì hải hội. So với trì chú [thì niệm Phật] dễ dàng hơn, dễ đắc nhất tâm!

“Chú còn nói: Ngày đêm sáu thời, mỗi thời tụng hai mươi mốt biến”. Ngày đêm sáu thời, mỗi một thời đều phải niệm hai mươi mốt biến, “diệt được tội Ngũ Nghịch; nhưng trì danh thì chí tâm niệm Phật một tiếng, liền diệt được trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Quý vị hãy so sánh kỹ càng giữa kinh và chú, trì danh quả thật thù thắng hơn trì chú

Câu thứ hai: “Thắng dư chú giả” (thù thắng hơn các chú khác), “dư chú” là những chú khác, tức tất cả hết thảy thần chú trong Đại Tạng Kinh, kể cả năm hội thần chú Lăng Nghiêm. Một câu A Di Đà Phật chẳng thể nghĩ bàn, mọi người chớ nên coi thường. Quá dễ dàng nên bèn coi thường, không biết vãng sanhthù thắng. “Chuyên trì danh hiệu chính là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là chú không gì sánh bằng”. Mấy câu này Liên Trì đại sư mượn từ Bát Nhã Tâm Kinh để dùng. Một câu Phật hiệu quả thậtđại thần chú, do nó vượt trỗi hết thảy các chú. Vì sao? “Do mười niệm liền được vãng sanh, vừa sanh liền được Bất Thoái, oai linh khôn dò; do vậy gọi là đại thần, các điều khác cứ phỏng theo đây ắt biết”. Giải thích một điều là đủ. Trong bốn mươi tám nguyện, nguyện thứ mười tám: “Lâm chung mười niệm hay một niệm bèn được vãng sanh”, đúng là chẳng thể nghĩ bàn. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái, thần chú nào có được năng lực như thế? Chẳng có chú nào! Tìm không ra! Bởi vậy, một câu A Di Đà Phật đúng là danh phù hợp thực, “đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú”, chẳng sai chút nào. Tiếp đó lại có một câu vấn đáp giúp chúng ta đoạn nghi sanh tín. 

“Hỏi: Chú Chuẩn Đề công đức rất rộng, rất lớn, cớ sao chỉ trì danh hiệu lại có thể vượt trỗi chú ấy được?” Quý vị thường đọc Liễu Phàm Tứ Huấn thấy trong sách ấy nói Vân Cốc Thiền Sư dạy ông Viên Liễu Phàm trì chú Chuẩn Đề. Tiên sinh Viên Liễu Phàm hằng ngày trì chú Chuẩn Đề, ai nấy đều biết chú Chuẩn Đề linh nghiệm vô cùng, niệm chú Chuẩn Đề công đức rất lớn, vì sao niệm một câu A Di Đà lại có thể vượt trỗi được, thù thắng hơn được? Liên Trì đại sư giải đáp cho chúng ta: “Chuẩn Đề là nhân địa Bồ Tát, Di Đàquả vị Như Lai”, khác nhau! Trong Mật giáo, Chuẩn Đề Bồ Tát chính là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. “Trì chú Chuẩn Đề đã có thần lực, há niệm Di Đà lại chẳng có cảm ứng mầu nhiệm ư?” Cảm ứng đương nhiên rất rõ rệt. “Vì thế kinh nói: Trì danh hiệu sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát”, quý vị hãy nghĩ xem, kinh nói như vậy đó, đức Phật dạy nói [trì] danh hiệu của sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát, “và xưng một tiếng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, công đức giống hệt nhau”. Phước báo niệm một tiếng “nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát” và phước báo của người trì danh hiệu sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát bằng nhau. Chuẩn ĐềQuán Thế Âm Bồ Tát hóa thân, nên trì chú Chuẩn Đề giống như trì danh hiệu Quán Âm. Tiếp đó, sách viết: “Lại nói: Trì vô lượng vô số danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát hoặc xưng niệm Địa Tạng Bồ Tát một tiếng, hai phước báo ấy như nhau”. Địa Tạng công đức lớn lao! Vì sao? Sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ, trước khi Di Lặc Phật xuất thế, trong khoảng thời gian dài như thế, ai sẽ thay Phật hóa độ chúng sanh? Địa Tạng Bồ Tát! Trong khoảng thời gian trống rỗng ấy (tức thời gian không có Phật xuất thế), Địa Tạng Bồ Tát thay mặt đức Phật. Quý vị đọc kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện phải hiểu điều này. Hiện tại, người tu pháp môn Địa Tạng rất nhiều, người niệm Địa Tạng Bồ Tát rất nhiều, nhưng phải hiểu: Công đức niệm Địa Tạng Bồ Tát không bằng niệm A Di Đà Phật! Tiếp đó, [sách Sớ Sao] lại viết: “Huống Như Lai ư?” Như Lai là Quả Địa! Chúng ta biết Địa Tạng Bồ Tát thật ra đã thành Phật từ bao kiếp lâu xa, nhưng Ngài chẳng muốn ở địa vị Phật, cứ muốn ở mãi nơi địa vị Bồ Tát, vĩnh viễn làm Bồ Tát, “địa ngục chẳng trống, thề chẳng thành Phật”. Không biết bao nhiêu đồ đệ của Ngài đã thành Phật, từ phẩm Tự của kinh Địa Tạng quý vị đã đọc thấy rồi đó. Đây là luận về việc niệm danh hiệu A Di Đà Phật vượt trỗi hết thảy thần chú vậy. 

Câu thứ ba là “cũng thù thắng hơn các công đức khác”. Đối với Hiển giáo, quý vị tu hết thảy các pháp công đức không bằng niệm Phật, công đức niệm Phật thù thắng bậc nhất, thù thắng khôn sánh. “Lục độ vạn hạnh, pháp môn vô lượng, nhưng chuyên trì danh hiệu thì mọi thứ công đức sẽ được thâu nhiếp bất tận, vì chẳng ra khỏi nhất tâm, như đã giảng trong những đoạn văn trước”. Ở đây, chữ “đoạn văn trước” chỉ sách Sớ Sao, trong Di Đà Sớ Sao đã luận về điều này rất nhiều. Công đức niệm Phật thật sự lớn lao đến như thế ư? Nhưng trong quan niệm của người thế gian lại chẳng nghĩ như vậy. Quý vị thấy đó: Nếu trên thế giới này có tai nạn, có người bỏ tiền bỏ sức để giúp đỡ nạn nhân thì mọi người đều khen ngợi công đức ấy rất lớn lao; còn quý vị ở bên cạnh, chuyện gì cũng không lý đến, niệm mấy câu A Di Đà Phật, công đức này có vượt trỗi được công đức trên ư? Người thế gian khó thể tin tưởng nổi nên gọi là “pháp khó tin”. 

Nay chúng ta mới hiểu được một chút: Bỏ tiền bỏ sức cứu tế tai nạn chỉ là cứu người nhất thời, xưng niệm một câu danh hiệu A Di Đà Phật, nếu người ta nghe được, vừa lọt qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo. Chủng tử ấy gieo vào A Lại Da Thức, tương lai gặp duyên, chủng tử ấy hiện hành, người ấy có thể vượt thoát ra khỏi tam giới theo chiều ngang, niệm Phật vãng sanh, bất thoái thành Phật. Quý vị hãy so sánh xem công đức nào lớn hơn? Tuy vậy, bỏ tiền ra sức là chuyện cứu tế tai nạn ngay trước mắt, quý vị thấy được; còn niệm Phật là chuyện tương lai, quý vị không thấy được, nhưng chủng tử ấy quý hơn bất cứ thứ gì khác! Thuyết pháp như vậy người minh bạch ắt hiểu, nhưng người mê không giác hoàn toàn chẳng thể tiếp nhận, họ không hiểu. Dù không hiểu, nhưng một câu A Di Đà Phật từ nhĩ căn lọt vào A Lại Da Thức, đến lúc nào người ấy mới cảm ơn quý vị? Đến khi vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới mới thật sự giác ngộ: “Vô lượng kiếp trước, ông niệm một câu A Di Đà Phật ban cho tôi chủng tử, nên ngày nay tôi mới sanh vào Cực Lạc thế giới”. Người ấy bèn nẩy sanh tâm cảm kích, mới biết công đức lợi ích ấy chẳng thể nghĩ bàn, hết thảy từ thiện cứu tế nhất định không thể sánh bằng được. Do vậy, lúc Thế Tôn còn tại thế, Ngài vì chúng ta thị hiện: Suốt bốn mươi năm giảng kinh thuyết pháp chứ không làm gì khác. Nay chúng ta mới hiểu: Ngài làm như vậy chính là sự nghiệp từ thiện cứu tế bậc nhất trong thế gian lẫn xuất thế gian, không một ai sánh bằng được. 

Tiếp đó, Liên Trì đại sư đau lòng rát miệng khuyên dạy chúng ta: “Nguyện tịnh nghiệp đệ tử lòng tin chuyên nhất, chẳng sanh hai tâm”. Những đệ tử Phật tu tịnh nghiệp chúng ta, ở đây Liên Trì đại sư mong chúng ta chuyên tâm, chớ có tam tâm nhị ý! Tam tâm nhị ý thì hết sức đáng tiếc, bỏ lỡ cơ duyên một đời này chẳng thể thành tựu! Rồi Ngài lại dẫn kinh để thuyết minh: “Như kinh dạy: ‘Dẫu có một pháp hơn cả Niết Bàn cũng chẳng ngó đến”. Nói thật ra, lời khuyên trong tỷ dụ trên đây chẳng ngoài những gì chương Thượng Phẩm Thượng Sanh của Quán Vô Lượng Thọ Kinh đã dạy, nhất là trong chú giải của Thiện Đạo Đại Sư. Trước đây chúng tôi đã đọc qua, giảng qua, đặc biệtThượng Phẩm Thượng Sanh Chương đã giảng rồi. Không có bất cứ pháp nào có thể vượt trỗi pháp này. 

Sau đó, lại nói: “Bậc tri thức Thiền Tông có vị dạy người chỉ trì câu thoại đầu, hết thảy [những gì khác] đều không làm”. Câu thoại đầu nào vậy? “Tham cứu câu “người niệm Phật là ai?” vẫn thuộc về pháp môn Niệm Phật, là một phương pháp Niệm Phật riêng biệt. Niệm A Di Đà Phật, niệm mấy câu A Di Đà Phật xong lại hỏi “người niệm Phật là ai?” Đó là phương pháp Niệm Phật trong nhà Thiền. “Cố tri nguyên nghiệp dư môn giả” (Nên biết họ vốn tu các pháp môn khác), “nguyên nghiệp” nghĩa là nguyên lai họ tu học các pháp môn khác, “đổi sang đề cao tu niệm Phật”. Đấy là tổ sư đại đức thường khuyên người, tự lấy thân mình làm gương. Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư đại triệt đại ngộ nơi Thiền, quay đầu chuyên tu Tịnh Độ, trở thành tổ thứ sáu của Tịnh Độ Tông. Bậc đại đức trong Tông Môn làm gương cho chúng ta, khuyên người học Thiền kiêm tu Tịnh Độ. Trong Tứ Liệu Giản, Ngài nói rất hay: “Có Thiền có Tịnh Độ”, tức Thiền Tịnh song tu, “khác nào cọp mọc sừng”. Lại còn nói: “Không Thiền, có Tịnh Độ, vạn người tu vạn về”. Quý vị hãy nhìn thấu suốt ý nghĩa thật sự nơi câu nói của Ngài. Không Thiền có Tịnh Độ, vạn người tu vạn người về, tức là khuyên người tu Thiền, nếu Tu Thiền chẳng thể thành tựu hãy hồi đầu tu Tịnh Độ, tu Tịnh Độ sẽ có thể thành tựu

Người tu những tông phái khác, như tông Thiên Thai, Trí Giả đại sư niệm Phật vãng sanh. Do vậy, tổ sư tông Thiên Thai từ đấy về sau mãi cho đến thời cận đại, Đế Nhàn pháp sư niệm Phật vãng sanh, Đàm Hư pháp sư, Bảo Tịnh pháp sư đều là những vị tổ sư cận đại của tông Thiên Thai, đều niệm Phật vãng sanh. Trong những vị đại đức cư sĩ, chắc quý vị đã biết, cư sĩ Giang Vị Nông, cư sĩ Châu Chỉ Am, “dạy tông Bát Nhã, hạnh tại Di Đà”. Những vị tu hành các tông phái khác, tối hậu đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, chúng ta không thể không biết điều này. “Huống hồ người vốn niệm Phật”, chúng ta vốn là kẻ niệm Phật, “há lại thay đổi cái mình tuân giữ, theo đuổi chuyện người khác tôn sùng”: Chúng ta thay đổi việc niệm Phật của chính mình, đi tu học những pháp môn khác. “Lòng ôm ấp hai nẻo, chí không quy nhất, tam muội làm sao thành tựu cho được?” Đấy là lời cảm thán hết mực của Liên Trì đại sư

 Chúng ta đọc đến đoạn văn này, nghe câu nói ấy, phải nghiêm túc phản tỉnh: Chúng ta có thật sự tu hay chăng? Đừng hỏi ai khác, phải hỏi chính mình. Chúng tatam tâm nhị ý hay chăng? Vẫn nghĩ học pháp môn khác ư! Niệm Phật tam muội cạn nhất là công phu thành phiến, vì sao chúng ta chưa làm được? Có phải là như Liên Trì đại sư đã nói ở đây hay chăng? “Thay đổi cái mình tuân giữ, theo đuổi cái người khác tôn sùng”, hâm mộ pháp môn khác, hướng về pháp môn khác, “lòng ôm ấp hai nẻo”. Tuy chẳng bằng lòng buông bỏ Tịnh Độ, nhưng vẫn muốn học pháp môn khác, vì thế “chí không quy nhất”, phương hướng, mục tiêu không nhất trí, như vậy thì ngay cả công phu thành phiến cũng không đạt được, sẽ bị rắc rối như thế này: 

 “Kịp đến khi vô thường, chẳng đạt được gì”. Đến lúc vô thường, vô thườngmạng chung, vô thường xảy đến; nói cách khác, lúc sắp chết, không thành một điều nào cả. “Chẳng nghĩ lỗi mình, lại còn báng bổ! Ô hô! Lầm lạc thay!” Quý vị chẳng biết phản tỉnh cái lỗi của mình, nghĩ lời Phật, Bồ Tát nói không linh, ấy là báng Phật. Báng Phật, báng Pháp là tội A Tỳ địa ngục, đúng là đúc thành tội lỗi quá lớn lao, khiến người mắt sáng cảm thán không ngớt, trách nhiệm chính mình phải gánh lấy. Kinh không lầm lỗi, pháp môn không sai lầm, mà do chính mình phạm lỗi, không biết đạo lý thâm nhập một môn, trường thời huân tu. Đoạn cuối cùng là Xứng Lý. 

 Trong bản chú giải Di Đà Kinh Sớ Sao của đại sư, mỗi một tiết đều quy về tự tánh, trong Giáo Hạ cũng thường nói “tiêu quy tự tánh”, mỗi đoạn như vậy hết sức tinh vi đẹp đẽ, ngay cả phần giải thích chú Vãng Sanh cũng không ngoại lệ. “Xứng lý thì Tự Tánh Khôngý nghĩa của Bạt Chướng (dẹp trừ chướng), Tự Tánh Có là ý nghĩa của Đà La Ni, Tự Tánh Chẳng Có Chẳng Không là ý nghĩa của Sanh Tịnh Độ”. Đoạn này hoàn toàn tiêu quy tự tánh: Chân thật trí huệ. Chúng ta xem lời giải thích trong phần Sao, dẫu không chỉ vỏn vẹn ba câu như thế, nhưng vẫn rất khó lãnh hội những điều phần Sớ đã giảng. “Tìm tâm không thể được, trong hết thảy nghiệp chướng cái gì là căn bản?”. “Tìm tâm không thể được” là chuyện thuộc Thiền Tông. Đạt Ma Tổ Sư đến Trung Quốc truyền pháp, không có người, tìm không ra người truyền pháp, không ai nhận biết Ngài. Lão nhân gia thật từ bi, nếu như bọn chúng ta ắt sẽ nói: “Nơi đây không pháp duyên, không pháp duyên thì ra đi, còn ở mãi đây làm chi?” Ngài cứ đợi ở đó, đợi không ít năm, đợi một người là Huệ Khả. Thiền Tông nói Tổ nhìn vách chín năm gặp được Huệ Khả. Huệ Khả tìm đến thỉnh giáo, Tổ cũng chẳng đếm xỉa tới. Lúc ấy nhằm mùa Đông tuyết rơi, Huệ Khả đứng ngoài cửa, tuyết ngập đến gối; từ chỗ này chúng ta có thể tưởng tượng Ngài đứng lâu đến chừng nào. Trời đổ tuyết rất lớn, tuyết ngập đến gối, Huệ Khả thấy Đạt Ma tổ sư vẫn chẳng ngó ngàng đến mình; trước kia người xuất gia đều mang theo giới đao, Ngài bèn rút giới đao chặt phăng cánh tay mình, chặt đứt một cánh tay cúng dường Đạt Ma tổ sư. Đạt Ma tổ sư thấy thế, mới mở miệng: “Ngươi đến đây làm gì?” Huệ Khả chặt tay cúng dườngĐạt Ma tổ sư chỉ hỏi: “Rốt cuộc, ngươi đến đây làm gì?” Huệ Khả thưa: “Con đến cầu đại sư an tâm!” Tâm không yên. Đạt Ma tổ sư đưa tay ra: “Ngươi lấy cái tâm ra đây, ta sẽ thay ngươi an cho!” Nay quý vị thấy rất nhiều bức tượng tạc hình Đạt Ma tổ sư giơ một tay ra, đó chính là lúc Ngài bảo Huệ Khả: “Lấy cái tâm ngươi ra đây, ta sẽ thay ngươi an cho”. Nhờ câu nói này, Huệ Khả hồi quang phản chiếu, “Nay ngươi đem cái tâm đưa ra, ta sẽ thế ngươi an cho”. Hồi quang phản chiếu nơi câu nói này, tìm không được tâm, Ngài bèn nói: “Con tìm không được cái tâm”. Ngài muốn con tìm cái tâm, không biết cái tâm nằm đâu, Đạt Ma tổ sư bèn nói tiếp: “Ta đã an cái tâm cho ngươi rồi”. Ta đã thay ngươi an cái tâm, an định rồi, tìm tâm trọn chẳng thể được! Nhờ câu nói ấy Huệ Khả đại triệt đại ngộ. Đạt Ma tổ sư đến Trung Quốc chẳng uổng công, có truyền nhân rồi. Huệ Khả đại triệt đại ngộ minh tâm kiến tánh, thành tổ thứ hai của Thiền Tông Trung Quốc! Tâm chân thành cầu pháp. Ấn Quang đại sư nói: “Mười phần thành kính được mười phần lợi ích”, Huệ Khả quả thật mười phần chân thành, nên mới có thể khai ngộ. Ngày nay chúng ta nghe những câu trao đổi giữa Đạt Ma tổ sư và tổ Huệ Khả không thể khai ngộ; mà sao Huệ Khả đại sư lại khai ngộ? Vì Ngài chân thành, thành ắt linh, thành bèn cảm thông. Chúng ta không có thành ý, không có thành tâm, có nghe như thế nào, nhìn như thế nào đi nữa vẫn chẳng thể giác ngộ! 

 Tìm tâm trọn chẳng thể được, trong kinh Phật, chẳng hạn như kinh Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật bảo A Nan tìm tâm. Tâm nằm đâu? A Nan nói bảy chỗ đều bị Thích Ca Mâu Ni Phật bác bỏ: “Đúng là ngươi chưa biết cái tâm nằm đâu!” Rốt cuộc tâm nằm đâu? Khắp hư không pháp giới không chỗ nào không tồn tại, chẳng thể nói tâm ở một chỗ nào, nói nó ở một chỗ nào là sai rồi, không chỗ nào nó chẳng hiện hữu, không lúc nào không tồn tại. Vì sao? Hư không, pháp giới do tâm mà thành thể. Kinh Lăng Nghiêm đã giảng rất minh bạch như thế này: “Các pháp được sanh chỉ do tâm hiện, hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần do tâm mà thành thể”. Tâm ở đâu? Không lúc nào, không chỗ nào không tồn tại, nó bất sanh bất diệt, không đến, không đi, không tăng, không giảm, không tương đối mà cũng chẳng tuyệt đối, ngôn ngữ dứt bặt, tâm hạnh xứ diệt. 

 Đặc tánh của tâm là linh tri, trong Hệ Niệm Pháp Sự, Trung Phong thiền sư đã giảng rất rõ ràng: “Linh tri tâm”. Tâm sẵn đủ linh minh giác tri, cũng có thể nói rõ ràng hơn một chút là nó đầy đủ thấy - nghe - hay - biết. Thấy - nghe - hay - biết là bản tánh, thấy - nghe - hay - biết là chân tâm, bất sanh bất diệt, không đến, không đi, không phải có, không phải không, tất cả hết thảy vạn sự, vạn vật, kể cả hư không [đều thấy - nghe - hay - biết]. Vì vậy, quý vị phải thật sự hiểu rõ, quý vị hỏi tâm ở chỗ nào ư? Tùy tiện chọn lấy một pháp, pháp ấy chẳng phải là tâm ư? Cái gì cũng đều có thấy - nghe - hay - biết. Như vậy, hiểu được chân tướng sự thật này “hết thảy nghiệp chướng, gì là căn bản?”, đúng là dẹp trừ nghiệp chướng tận cội rễ. Chân tâm bản tánh cái gì cũng không có, sạch sẽ, không vướng mắc mảy may

 “Cái tâm này không gì chẳng đủ, hết thảy công đức không gì chẳng tổng trì”. Chân tâm đầy đủ trí huệ Bát Nhã viên mãn, đức năng viên mãn, tướng hảo viên mãn. Đó chính là ý nghĩa của chữ Tổng Trì. “Dẫu tổng trì nhưng chẳng lập mảy trần, Hữu chính là Tức Không chi Hữu (cái Có chính là Không); không căn bản mà xuất sanh vạn pháp, Không chính là Tức Hữu Chi Không (cái Không chính là Có)”. Ý nghĩa hai câu này rất sâu, rất khó hiểu! Thế nhưng khoa học ngày nay đã phát hiện, bảo cho chúng ta biết một chuyện: Hữu do đâu mà có? Hữu do Vô biến hiện ra, vô trung sanh hữu (trong không sanh ra có), Hữu lại quy về Vô. Phát hiện ấy giống với những điều kinh Phật đã dạy. Tổng Trì là có tướng, nhưng cái Có ấy là huyễn có, sanh diệt trong từng sát-na, niệm niệm chẳng ngừng. Chúng ta trông thấy sắc tướng, hết thảy hiện tướng đều là tướng tiếp nối. Kinh Kim Cang dạy: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng; như sương, cũng như chớp”. Sương là tướng tiếp nối, “chớp” ngụ ý sanh diệt trong từng sát-na. Kinh Lăng Nghiêm có câu: “Sanh ra từ chỗ nào, diệt tận ngay nơi ấy”, tốc độ rất nhanh, chúng ta nhìn không ra. Đây là đối với câu hỏi về Không và Có mà nói ra chân tướng của Có và Không. “Không căn bản mà xuất sanh vạn pháp”, tức là Không có thể sanh ra Có, Hữu từ Vô mà sanh ra. Mấy câu tiếp theo giảng về nghĩa lý Trung Đạo

“Hữu chính là bất Không, Không chính là bất Hữu, chẳng Có chẳng Không, chỉ là nhất tâm, chẳng vượt khỏi nhất tâm, nên gọi là Tịnh Độ”. Chân Tịnh Độ! Vốn đã sống trong Tịnh Độ, Tịnh Độ ở đâu vậy? Tịnh Độ ở ngay trước mặt, vấn đề là quý vị có hiểu hay không? Có thấy được hay không? Thấy được Tịnh Độ thì thấy Pháp Tánh, hiểu rõ pháp tướng, Tánh và Tướng là một không hai, Tướng là Có, Tánh là Không. Tánh - Tướng nhất như (là một, đồng nhất), Tánh - Tướng bất nhị. Chẳng Có, chẳng Không, chẳng Không là Tướng, tướng mộng, huyễn, bọt bóng. Chẳng Có là Tánh, là Pháp Tánh. Tánh cũng được, Tướng cũng không sao, đều là nhất tâm, Tánh - Tướng là một không phải hai. Vì sao không phải là hai? Bởi từ Tánh biến hiện ra những tướng ấy, tướng ấy chỉ do tâm hiện. Bản năng, đặc tánh nơi tự tánh của chúng vĩnh viễn bất biến, tức là thấy - nghe - hay - biết. Vì thế, hết thảy vạn sự vạn vật linh tri, sống động, linh minh giác tri, chẳng chết cứng. 

Ba ngàn năm trước, Phật pháp đã nói ra chân tướng sự thật này, đến nay khoa học mới phát hiện, nhưng vẫn hiểu biết chưa viên mãn, vẫn mới chỉ biết được một chút xíu, chỉ là từ lý luận suy diễn rằng có khả năng là như vậy, nhưng hiện thời vẫn chưa có cách nào chứng thực. Vì thế, tiến sĩ Giang Bản Thắng của Nhật Bản rất hy hữu. Ông ta đã dùng nước để chứng minh sự thật ấy, hy vọng khi ông ta đến thăm, chúng tôi sẽ cung cấp cho ông ta một thông tin: “Trong vũ trụ vạn sự vạn vật đều có đủ khả năng có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết, chứ không riêng gì nước” để ông ta làm thí nghiệm. Bọn họ rất kinh ngạc, lấy làm lạ, chứ trong nhà Phật chúng ta, không kinh ngạc tí nào, chẳng sững sờ tí xíu nào, vì sao? Vốn sẵn là như vậy. Kinh đã dạy rõ ràng, minh bạch. Thôi được! Giới thiệu Bạt Trừ Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni đến đây thôi! 
 
 

*

Chư vị đồng học! 

Mở đầu Hệ Niệm Pháp Sự là Hương Tán, tiếp đó là tụng kinh, tụng Phật Thuyết A Di Đà Kinh. Theo sau tụng kinh là niệm chú, “Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni”, niệm chú ba lần. Rồi đến phần khai thị của Trung Phong thiền sư. Mở đầu phần khai thị lại niệm ba lần: 
 
 

Nam mô Liên Trì Hội Phật Bồ Tát Ma Ha Tát
 
 

Trước lúc tụng kinh, niệm ba lần Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát. Liên Trì Hải Hội Phật Bồ TátLiên Trì Hội Phật Bồ Tát Ma Ha Tát ở đây có sai khác gì chăng? Nếu không sai khác, sao không dùng Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát? Vì sao không dùng thống nhất? Đã xưng tán hai cách, đương nhiên ý nghĩa khác nhau. Dù có thể nói là ý nghĩa tương đồng, nhưng cũng có thể nói là có chút sai khác, đại đồng tiểu dị. Nói Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát thì hải hội rộng lớn, có thể bao trùm khắp pháp giới hư không giới mười phương vô lượng vô biên các cõi Phật, hết thảy chư Phật Như Lai đều ở trong ấy tuyên nói pháp môn Trì Danh Niệm Phật vãng sanh thành Phật. Chúng ta có thể hiểu là Liên Trì Hải Hội gồm trọn khắp hư không pháp giới, rất lớn lao! Mỗi một người niệm Phật đều thuộc trong Liên Trì Hải Hội, thậm chí trong xã hội hiện thời, những kẻ phản đối niệm Phật, bài xích người niệm Phật, hủy báng người niệm Phật, thậm chí muốn tiêu diệt pháp môn Niệm Phật cũng đều thuộc trong Liên Trì Hải Hội. Nguyên nhân gì vậy? Danh hiệu A Di Đà Phật vừa lọt qua tai vĩnh viễn thành hạt giống đạo. Nay kẻ ấy bài xích là vì mê hoặc, sau khi chịu quả báo xong, nhân duyên thành thục, vẫn là vì chủng tử A Di Đà trong A Lại Da Thức của kẻ ấy thành thục! Nói cách khác, nhất định vãng sanh Cực Lạc. Sợ nhất là gì? Sợ nhất là trong một đời này hoàn toàn không có duyên phận nghe đến, đó mới thật sự là khổ. Nghe đến phản đối không sợ, tạo ác nghiệp cũng không sợ, thiện căn ấy là chủng tử kim cang, vĩnh viễn bất hoại. Như vậy, pháp môn này là pháp môn chẳng thể nghĩ bàn, Liên Trì Hải Hội

Ở đây nói Liên Trì Hội Phật Bồ Tát Ma Ha Tát, không thêm chữ Hải Hội, ta có thể nghĩ [Liên Trì Hội] là Tây Phương Cực Lạc thế giới bổn độ (cõi chính, tức chỉ riêng mình cõi Cực Lạc), chứ không phải là trọn khắp hư không pháp giới. Nếu trọn khắp hư không pháp giới ta phải thêm chữ Hải Hội thành Liên Trì Hải Hội. Như vậy, giống - khác, sai biệt ở chỗ này. Ở đây là nói riêng về Cực Lạc thế giới. Bồ Tát: Những vị thuộc Địa Tiền (chưa chứng nhập địa vị từ Sơ Địa trở lên) đều gọi là Bồ Tát. Hạ Hạ Phẩm vãng sanh là những người đới nghiệp vãng sanh, phiền não tập khí dẫu một phẩm cũng chưa đoạn, vẫn là Bồ Tát. Là hạng Bồ Tát nào vậy? Sơ Tín Vị Bồ Tát! Pháp môn này là Đại Thừa Viên Giáo, chí viên chí đốn. Tổ sư đại đức trong quá khứ nói pháp này ngang bằng Hoa Nghiêm, Pháp Hoa. Lại còn thế nào nữa? Sơ Tín Bồ Tát của Viên Giáo nhất định phải đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, còn người đới nghiệp vãng sanh chúng ta chưa đoạn dù chỉ một phẩm trong tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát, thật chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, trong sách Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đã viết: “Người đới nghiệp vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng thể gọi là Bồ Tát, vì sao? Vì một phẩm Hoặc chưa đoạn, nhưng cũng chẳng thể nói kẻ ấy là phàm phu. Vì sao? Kẻ ấy cũng là A Duy Việt Trí Bồ Tát”. Do vậy, Ngẫu Ích đại sư nói thân phận của người Tây Phương Cực Lạc thế giới rất lạ lùng, “hết thảy đều không phải mà hết thảy đều là phải”, là thân phận chẳng thể nghĩ bàn. Nếu chúng ta miễn cưỡng nói thì: Do kẻ ấy chưa phá một phẩm Kiến Hoặc nào, ta có thể bảo kẻ ấy là Tương Tự Vị Bồ Tát, chưa phải là Bồ Tát thật, chỉ tương tự. Rất giống Bồ Tát, nhưng lại chẳng phải là Bồ Tát, Phàm Thánh Đồng Cư độ mà! Chưa đoạn một phẩm Kiến Hoặc nào! 

Đương nhiên sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi thì có cần đoạn phiền não hay chăng? Phải đoạn chứ! Phải đoạn sạch sành sanh mới viên thành Phật đạo. Như vậy, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để tu hành, nơi đó là hoàn cảnh tu hành thù thắng bậc nhất. Chúng ta tu hànhthế giới này có người, có sự, có vật khuấy nhiễu. Hoàn cảnh tu hành, tu học của tiền nhân thù thắng hơn chúng ta. Bao nhiêu người tu hành tìm lấy một hoàn cảnh thanh tịnh, u nhã, dựng một cái lều tranh nhỏ, mấy mươi năm không xuống núi, rất dễ thành tựu. Thế nhưng rốt cuộc người thành tựu vẫn là thiểu số, vì nguyên nhân nào? Tâm địa thanh tịnh, họ đạt được điều kiện ấy; nhưng thầy giỏi, đồng tu đạo hữu cũng chẳng dễ gì gặp được. Vì thế, phải tầm sư phỏng đạo, phải đi tham học khắp nơi. Nghi hoặc hoàn toàn đoạn trừ, thật sự giác ngộ hiểu rõ, lại tìm một hoàn cảnh u tịnh để dưỡng đạo, xa lìa hết thảy cảnh duyên. Trụ trong núi sâu không dấu chân người để dưỡng đạo. 

Chúng ta thấy tổ sư đại đức bất luận tông phái nào trong các đời được thành tựu [là do thân tâm thanh tịnh], ngay cả Tịnh Độ Tông cũng không ngoại lệ. Thời đại Đông Tấn, Huệ Viễn đại sư dựng một Niệm Phật Đường ở Lô Sơn, một trăm hai mươi ba người lấy Hổ Khê làm giới hạn, chẳng ra ngoài giới tuyến ấy, thân tâm thanh tịnh, nên ai nấy đều có thành tựu. Hoàn cảnh hiện thời khó khăn lắm, dẫu quý vị ở trong núi thẳm, nhưng hiện tại giao thông thuận tiện, khách đến thăm vẫn rất nhiều. Khách đến thăm, quý vị không thể không tiếp đãi. Tiếp đãi, xã giao quá nhiều, thị phi xảy ra, cái hay của họ Trương, cái dở của họ Lý không thể không nghe, không thể không bị nhiễm ô. Nếu chính mình chẳng cam tâm tịch mịch, lại sắm một cái truyền hình vệ tinh thì phiền phức càng lớn hơn nữa, dẫu ở trong núi thẳm vẫn không thoát ly xã hội bên ngoài. 

Vì thế, tu hành trong hiện tại, luận về hoàn cảnh thật rất kém xưa kia, nhưng hiện thời cơ hội nghe kinh, cơ hội đồng tham đạo hữu cùng tu học so với xưa kia thuận tiện hơn trước. Đó là do giao thông, thông tin thuận tiện, nhanh chóng, khoa học kỹ thuật tiến bộ. Như vậy, xưa kia và hiện nay đều có những điểm thuận lợi lẫn tệ hại. Làm thế nào để giữ điều lợi, bỏ điều tệ? Đó là trí huệ, là phương tiện thiện xảo. Ngày nay chúng tôi chọn ở nơi này là một thành phố nhỏ của Úc Châu, cư dân chỉ có tám vạn người, từ Bố Lý Tư Bản (Brisbane) lái xe đến đây chỉ mất hai tiếng đồng hồ. Bản thân tôi vẫn ở chốn làng quê, những mong xa lìa phiền phức, mong mỏi thân tâm thanh tịnh, có nhiều thời gian đọc kinh, niệm Phật. Mỗi ngày chúng tôi ở tại phòng phát hình bốn tiếng đồng hồ để báo ân: Trên báo ân chư Phật, ân tổ sư đại đức, ân hộ pháp, dưới báo ân hết thảy chúng sanh. Sanh hoạt càng đơn thuần càng tốt. 

Tại nơi đây, những bậc hiền giả, hiển đạt trong xã hội, những lãnh tụ tôn giáo đều hết sức quan tâm đến những tai nạn trên thế giới, cầu nguyện thế giới hòa bình, các sắc dân khác nhau, các nền văn hóa khác nhau đều đối xử hòa mục với nhau. Mọi người luôn mở rộng tâm lượng, bao dung, tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, đối xử hòa mục. Đây là một chuyện tốt, đúng là đường lối để tiêu tai tránh nạn. Bọn họ đến tìm tôi, mời tôi tham dự. Chuyện này là chuyện nghĩa chẳng thể chối từ, tôi phải tận sức giúp đỡ họ thành tựu thiện nguyện. Thế nhưng đối với việc thanh tu của chính mình vẫn là bị phiền nhiễu, tốt đẹp đôi bề chẳng dễ! Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới là tốt nhất, vì sao? Có khả năng phân thân, đó mới thật sự là đúng. Đừng nói tốt đẹp đôi bề, mà vạn bề đều tốt đẹp. Bất cứ chuyện gì cũng có thể tham dự, phân thân là xong! Một thân có thể biến thành vô lượng thân đến tham dự những chuyện tốt đẹp của hết thảy chúng sanh, bản thân mình vẫn trụ trong Cực Lạc thế giới y như cũ, ở trước mặt Phật A Di Đà, không hề tách rời. Tự hành hóa tha thảy đều thực hiện viên mãn, đó không phải là chuyện lý tưởng mà là sự thật. Nếu quý vị biết sự thật ấy thì quý vị mới thật sự phát nguyện, gấp rút cầu sanh Tịnh Độ hòng mãn cái nguyện chân thật của chính mình. 

“Ma Ha Tát” là đại Bồ Tát, đã chứng địa vị Bồ Tát. “Bồ Tát” là Tam Hiền Bồ Tát. Mười địa vị thuộc Thập Tín đều gộp trong Tam Hiền, ngay cả địa vị tương tự như chúng ta (vẫn chưa thể tínhđịa vị Sơ Tín, mới là Tương Tự thôi) đều được tính gộp vào đây. Đó là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của Cực Lạc thế giới
 
 

8. Khai Thị
 
 

Tiếp theo, trước phần khai thị của đại sư, chúng ta thấy có một bài kệ như sau: 
 
 

Thế giới hà duyên xưng Cực Lạc? 

Chỉ nhân chúng khổ bất năng xâm, 

Đạo nhân nhược yếu tầm quy lộ, 

Đản hướng trần trung tự liễu tâm! 

(Tạm dịch:

Thế giới duyên gì tên Cực Lạc? 

Chỉ vì các khổ chẳng hề xâm, 

Nẻo về nếu muốn tìm cho được, 

Hãy đối trần lao tự hiểu tâm) 
 
 

Chúng ta biết Trung Phong thiền sư là Pháp Thân Bồ Tát chứ không phải là kẻ tầm thường, cũng có thể nói Ngài quả thực là bậc minh tâm kiến tánh. Hễ minh tâm kiến tánh thì mức độ thấp nhất là bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo, đó là mức độ thấp nhất. Ngài là đồng sanh tánh với chư Phật Như Lai, chứ không phải là dị sanh tánh. Cũng có thể nói là trong sanh hoạt thường nhật, Ngài dùng bốn trí Bồ Đề, chứ không dùng tám Thức, năm mươi mốt Tâm Sở. Chúng ta dùng tám Thức, năm mươi mốt Tâm Sở, còn Ngài dùng bốn trí Bồ Đề. Do đâu biết được điều ấy? Từ lời khai thị này mà biết, nếu không kiến tánh Ngài chẳng thể nói được những câu như vậy. 

Hai câu đầu dễ hiểu, không khó lắm. Vì sao? Đọc kinh Di Đà nhuần nhuyễn rồi, hiểu ngay. Thế giới kia vì sao gọi là thế giới Cực Lạc? Trong kinh Di Đà, chẳng phải Thích Ca Mâu Ni Phật đã bảo rất rõ ràng cùng tôn giả Xá Lợi Phất đó ư? “Cõi ấy vì sao tên là Cực Lạc? Chúng sanh cõi ấy không có các sự khổ, chỉ hưởng các điều vui, nên tên là Cực Lạc”. Chẳng phải là giải đáp rất rõ ràng hay sao? Vì thế, hai câu kệ đầu không có vấn đề gì, chúng ta cũng nói được như vậy. Nhưng hai câu kệ sau chúng ta không thể nói được, nhất là câu cuối cùng. “Đạo nhân nhược yếu tầm quy lộ” (đạo nhân nếu muốn tìm đường trở về), “đạo nhân” là người tu hành, “quy lộ” là đường nào? Là con đường thành Phật. Con đường này không dễ, tìm ở đâu đây? Nay chúng ta nói chúng ta đã tìm ra, chúng ta tín nguyện trì danh, cầu sanh Tịnh Độ, chính là con đường thành Phật, không sai, mọi người chúng ta đều có thể nói như thế; nhưng Trung Phong thiền sư không nói như vậy, Ngài bảo: “Đản hướng trần trung liễu tự tâm” (Chỉ hướng vào trong trần laoliễu ngộ tự tâm), người bình phàm chẳng thể nói như vậy được. Nếu là chúng ta ắt sẽ nói: “Đạo nhân nhược yếu tầm quy lộ, tín nguyện trì danh cầu vãng sanh”, nhất định sẽ nói như vậy, chúng ta chẳng thể nói “đản hướng trần trung liễu tự tâm”. Người kiến tánh rốt ráo minh tâm kiến tánh, khác với phàm phu thuộc chín pháp giới. “Trần” là trần lao, nay chúng ta gọi là hoàn cảnh sanh hoạt hiện thực, “liễu” là minh liễu (hiểu thấu suốt), “tự tâm” là tâm tánh của chính mình. Như vậy một câu này thiền vị rất sâu. Nói cách khác, “liễu tự tâm” là minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Vị Phật này là “Phần Chứng Phật”, không phải là địa vị tương tự. Bốn thánh pháp giới là địa vị tương tự, Thiên Thai đại sư gọi đó là “Tương Tự Tức Phật”, còn minh tâm kiến tánh là thật, là “Phần Chứng Tức Phật”. Trong lục đạo luân hồitu hành giỏi, chưa đoạn được Kiến phiền não, thì gọi là “Quán Hạnh Tức Phật”, chưa đoạn phiền não. Đoạn được phiền não, đoạn được Kiến Phiền Não thì gọi là Tương Tự Tức Phật. Đó là Tương Tự Tức Phật của Tứ Thánh Pháp Giới; còn Nhất Chân pháp giớiPhần Chứng Tức Phật. Minh tâm kiến tánh đạt đến Nhất Chân pháp giới, chẳng những vượt thoát lục đạo, mà còn vượt khỏi mười pháp giới. Thiền sư biết rằng: Nhất định phải cầu minh tâm kiến tánh trong sanh hoạt thường nhật, nếu nói theo cách thuyết pháp của Bát Nhã thì là “hiểu thấu Thật Tướng của các pháp”. Hiểu thấu Thật Tướng của các pháp là minh tâm kiến tánh. Đối với chân tướng của nhân sanh vũ trụ mà quý vị thông đạt, hiểu thấu, không còn nghi hoặc thì quý vị đã đạt đến Nhất Chân pháp giới; đó là “quy lộ” (đường về). 

Như vậy, học Phật theo Đại Thừa Phật pháp, bất luận tông phái nào, bất luận pháp môn nào, mặc kệ phương pháp sai biệt, mặc kệ kinh giáo y cứ khác nhau, phương hướng, đường lối, mục tiêu vẫn hoàn toàn tương đồng, là gì vậy? Là minh tâm kiến tánh. Thiền cũng thế, Giáo cũng thế, Mật cũng thế, Tịnh cũng thế! Tịnh Độ chúng ta cũng là minh tâm kiến tánh. Lý nhất tâm bất loạn chính là minh tâm kiến tánh, Giáo Hạ gọi là đại khai viên giải. Như vậy, với bài kệ mở đầu này, quý vị thấy Ngài đã giãi bày hết cả ra, không giấu diếm mảy may, đem kinh nghiệm tu hành chứng quả của chính mình phô bày trọn vẹn. Hai câu kệ đầu khuyên chúng ta tu Tịnh Độ, thế giới ấy không có các sự khổ, không có các sự khổ chính là cực lạc (rất vui). Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Phật dạy chúng ta: “Bồ Tát có một pháp có thể lìa được hết thảy khổ thế gian”. Pháp ấy là “thường niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp, quán sát thiện pháp”. Trong hoàn cảnh hiện tại của chúng ta, muốn thật sự đạt được tâm lành, tư tưởng lành, quán hạnh lành chẳng phải là chuyện dễ, khó lắm! Thế nhưng nếu quý vị thật sự phát tâm tín nguyện trì danh, cầu sanh Tịnh Độ, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, vĩnh viễn thoát khỏi hết thảy các khổ, so với tu mười thiện đạo dễ hơn nhiều. Tu viên mãn mười thiện nghiệp đạo bèn thành Phật, trong những buổi giảng chúng tôi đã nhiều lần giảng cặn kẽ. Lại xem đoạn văn kế tiếp đó: 
 
 

Tâm tâm tức Phật. 
 
 

Câu này là thuyết pháp, hai câu sau tỷ dụ
 
 

Đề hồ, tô, lạc, hàm tự nhũ sanh. 

(Đề hồ, tô, lạc đều sanh từ sữa) 
 
 

Đề hồ, tô, lạc đều là những chế phẩm từ sữa. Nay chúng ta nói những chế phẩm của sữa đều tinh luyện từ sữa, càng luyện càng thù thắng. Như vậy, từ sữa luyện thành Lạc, từ Lạc luyện thành Tô, Tô lại luyện kỹ hơn thành Đề Hồ. Đề Hồ là chế phẩm tinh hoa của sữa, vị nó ngon lành nhất. Nhà Phật thường dùng Đề Hồ để tỷ dụ Phật, Bồ Tát, hoặc tỷ dụ cảnh giới thù thắng nhất. Đề Hồ thật sự ra chính là gì vậy? Hiện tại có hay không? Có chứ! Rất bình thường, nó là thực phẩm ngon nhất trong cuộc sống thường ngày. Lúc chúng tôi mới học Phật, Đạo Nguyên lão hòa thượnglần theo đoàn sang Ấn Độ triều thánh, qua Ấn Độ ngắm cảnh, du lịch, thăm viếng. Do Ngài là pháp sư giảng kinh, kinh thường nhắc đến Đề Hồ, nhắc đến Am Ma La quả, Ngài đều không thể giảng rõ Đề Hồ là gì? Quả Am Ma La là quả gì? Đến Ấn Độ, Ngài đặc biệt tìm người Ấn Độ hỏi: “Hãy đem Đề Hồ cho tôi coi, đem trái Am Ma La cho tôi xem”. Người ta đem trái Am Ma La đến, hóa ra là trái Ba Lạc (trái xoài). Ngài vừa thấy bèn cười, Đài Loan cũng có, rất nhiều nữa cơ! Đề Hồ là gì? Họ đem lại, nó vốn cũng rất bình thường, đều là thứ mình thường ăn. Hiện tại gọi là phó-mát (fromage, cheese), người ngoại quốc gọi là “phó-mát”, kinh Phật gọi là Đề Hồ. Đến lúc đó, Ngài mới hiểu rõ, sau này giảng kinh thường kể cho chúng tôi nghe. Trước kia vì sao không có cách nào phiên dịch được? Vì Trung Quốc không có, Trung Quốc không có loại thực phẩm ấy. Do đây biết rằng, ba ngàn năm trước Ấn Độ đã chế luyện được một loại thức ăn ngon như thế. 

“Tâm tâm tức Phật”, vì sao Ngài dùng đến hai chữ Tâm? Một chữ Tâm không được hay sao mà phải dùng đến hai chữ Tâm? Dùng hai chữ nhất định phải có ý nghĩa, nhưng ý nghĩa gì? Chúng tôi hiểu là chân tâmvọng tâm. Quả thật chân tâm là Phật mà vọng tâm cũng là Phật. Có như vậy Phật mới nói hết thảy chúng sanh đều là vị lai Phật. Hết thảy chúng sanh hiện đang dùng vọng tâm, vọng tâm do đâu mà có? Vọng tâm vẫn là chân tâm bị mê, chân tâm khi bị mê thì gọi là vọng tâm. Như vậy, cái Thể của vọng tâmchân tâm. Lìa khỏi chân thì vọng do đâu mà có? Chân và vọng không hai, chân - vọng là một. Do vậy, tỷ dụ ở đây rất hay, dùng Đề Hồ tỷ dụ chân tâm; lấy Tô và Lạc ví cho vọng tâm. Tất cả những thứ này đều do sữa chế luyện thành, không thứ gì rời khỏi sữa, đều là chế phẩm của sữa. Chân - vọng bất nhị. Nếu từ chỗ này, quý vị thật sự giác ngộ toàn thể vũ trụ là một không hai thì quý vị thật sự khai ngộ. Chân - vọng bất nhị, mê - ngộ bất nhị, thánh - phàm bất nhị, sanh - tử bất nhị, phiền não - Bồ Đề bất nhị, đó là nhất tâm! Nhất tâm bất loạn. Là cảnh giới nào? Là cảnh giới Nhất Chân pháp giới. Ở đâu? Ngay trong hiện hữu. Nếu quý vị không nhập Bất Nhị, sẽ không thấy được. Nói cách khác, quý vị không đắc nhất tâm sẽ không thấy Nhất Chân, vẫn thuộc trong vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là mê không giác. Lời khai thị của đại sư mở cửa thấy núi, ngay câu đầu tiên đã hiển thị chân tướng vũ trụ nhân sanh cho chúng ta thấy. Vấn đề là quý vị có hiểu hay không, hiểu được hay không vậy? Câu thứ hai mang ý nghĩa trùng phức: 
 
 

 Phật Phật duy tâm

 

 Ở trên là “tâm tâm tức Phật”, còn ở đây là “Phật Phật duy tâm”, nói đến hai chữ Phật. Hai chữ Phật cũng có ý nghĩa, có thể hiểu là hết thảy chư Phật, hoặc kim Phật (Phật hiện tại), cổ Phật (Phật quá khứ). Hai chữ “Phật Phật” đại biểu mười phương ba đời hết thảy chư Phật. Phật là gì? Phật chính là tâm, tâm chính là Phật. Tâm này là chân tâm, ai chẳng có chân tâm? Ai nấy đều có chân tâm, chân tâm ở đâu? Chân tâm ở ngay trước mặt, từ trước đến nay chưa hề rời khỏi chân tâm. Không riêng gì quý vị có chân tâm mà hết thảy hữu tình chúng sanh, nay chúng ta gọi là động vật, tất cả động vật đều có chân tâm. Không riêng gì động vậtchân tâm, mà thực vật, khoáng vật, thậm chí hư không [đều có chân tâm]. Vì sao? Chân tâmbản thể của hết thảy các pháp, thể là chân tâm

 Kinh Hoa Nghiêm nói: “Pháp Tánh trọn khắp hết thảy nơi”; hết thảy nơi bao gồm cả hư không. Rời khỏi Pháp Tánh thì hư không từ đâu có? Hư không do Pháp Tánh biến hiện ra, hư không thuộc về Tướng Phần. Các nhà khoa học cận đại đã dần dần hiểu rõ chân tướng sự thật, họ nói không gianthời gian không thật, dưới một điều kiện nào đó, không gianthời gian bằng không, không còn nữa! Không có thời gian, không có không gian, không gian cũng là từ “vô trung sanh hữu” biến hiện ra. Đấy chẳng phải là những nghĩa lý kinh Hoa Nghiêm đã giảng hay sao? “Pháp Tánh trọn khắp hết thảy nơi, hết thảy chúng sanh và cõi nước, ba đời đều không còn sót”, hết thảy chúng sanh và cõi nước là không gian, ba đờithời gian, “cũng vô hình tướng nhưng có thể đạt được”. Đấy chính là như kinh Bát Nhã đã giảng: Hết thảy các pháp (kể cả hư không), chân tướng của chúng là gì? Chân tướngvô sở hữu, là rốt ráo không, là bất khả đắc. Nói ra chân tướng sự thật như vậy. “Phật Phật duy tâm” là câu thuyết pháp, hai câu tiếp đó là tỷ dụ

 

 Thoa, xuyến, bình, bàn, tận tùng kim xuất. 

 (Thoa, xuyến, bình, mâm đều chế từ vàng) 
 
 

 Dùng Vàng để ví cho tự tánh, lấy những món bằng vàng: Thoa làm bằng vàng, Xuyến (vòng đeo tay) cũng làm bằng vàng, bình và mâm là những vật dụng trong cuộc sống thường ngày, đều do hoàng kim chế ra. Dù các đồ vật khác nhau, cách sử dụng cũng sai khác, nhưng thể tánh của chúng là một không hai. Kim Phật, cổ Phật chẳng rời tự tánh. Hai câu này giảng về quan hệ, tánh chất của Tánh và Tướng rất rõ ràng, minh bạch. Nếu như thông đạt hai câu này thì chính là Pháp Thân Bồ Tát, quý vị sống trong thế gian này, tư tưởng, kiến giải, ngôn hạnh, sanh hoạt, xử sự, đãi người, tiếp vật chắc chắn khác với mọi phàm nhân, vì sao? Quý vị đã sống như Phật, Bồ Tát, đã hành Bồ Tát đạo, quả thật đã nêu tấm gương tốt nhất cho hết thảy chúng sanh: Cuộc sống của bậc giác ngộ, hành vi của bậc giác ngộ. Đây là đoạn thứ nhất của lời khai thị, nêu lên tổng nguyên tắc, tổng cương lãnh. Hãy xem tiếp đoạn dưới, Ngài dạy chúng ta như thế nào: 
 
 

 Thập vạn ức trình, Đông Tây bất cách 

 (Đường xa mười ức cõi Phật, Đông Tây há đâu xa cách
 
 

 “Thập vạn ức trình” do chính kinh Di Đà nói ra. Ở phương Tây của thế giới Sa Bà, qua khỏi mười vạn ức cõi Phậtmột thế giới là thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. “Thập vạn ức trình” là nói về khoảng cách, tức mười vạn ức cõi Phật. Mỗi một cõi Phật là một tam thiên đại thiên thế giới. Quý vị nghĩ xem cái khoảng cách mười vạn ức tam thiên đại thiên thế giới to lớn lắm! Một câu “Đông Tây bất cách” đã nói lên điều gì? Không có khoảng cách về mặt không gian, xa - gần bất nhị, trong khoảng khảy ngón tay, trong một sát-na bèn đến được. 
 
 

 Nhị lục thời nội, 

 (Trong mười hai thời) 
 
 

 Đây là nói về thời gian. Nói “mười hai thời” là theo cách nói của người Tàu, người Ấn Độ chỉ nói “đêm ngày sáu thời”, người Tàu nói mười hai thời. “Nhị lục” tức là mười hai thời thần, thời xưa người Tàu tính giờ giấc bằng Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Đó là mười hai thời thần. Dùng cách tính thời gian này cho mãi đến cuối đời Thanh, lúc Dân Quốc thành lập mới không sử dụng nữa, dùng cách tính hai mươi bốn giờ của Tây phương, cho nên gọi là “tiểu thời”. Vì sao gọi là “tiểu thời”? Vì nhỏ hơn cách tính giờ của người Tàu. Một giờ Tàu bằng hai giờ hiện thời, cho nên gọi là “nhị tiểu thời”. Nguồn gốc chữ “tiểu thời” là như vậy. Giờ Ấn Độ so với giờ Tàu còn lớn hơn nữa, một giờ Ấn Độ bằng hai giờ Tàu, nói theo giờ giấc hiện thời là bốn tiếng đồng hồ. Vì thế, trong kinh thường nói “nhị thời giảng kinh” thì có nghĩa là bằng với tám tiếng đồng hồ hiện thời

 Qua kinh điển chúng ta biết tăng đoàn lúc Thích Ca Mâu Ni Phật còn tại thế mỗi ngày học tập tám tiếng đồng hồ. Hết sức quan trọng, thị hiện cho chúng ta thấy. Vì sao ngày nay chúng ta công phu không đắc lực? Không đắc lực cũng không bận lòng, cứ ngày ngày khởi vọng tưởng, niệm niệm đều tạo nghiệp, thật là đáng sợ! Làm thế nào để xa lìa vọng tưởng, không còn tạo nghiệp nữa? Phật thị hiện cho chúng ta thấy chỉ có một phương pháp, lên lớp. Giảng kinh, nghe kinh, lên lớp mỗi ngày tám tiếng đồng hồ, ngày ngày không gián đoạn. Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện như vậy suốt bốn mươi chín năm, mỗi ngày lên lớp tám tiếng. Như vậy mới lìa vọng tưởng. Xa lìa vọng tưởng thì thân khẩu chẳng tạo nghiệp, có thể khôi phục chánh thường. Hành vi sanh hoạt chánh thường thì là Phật, Bồ Tát, đó gọi là học Phật chân chánh, thật sự được thọ dụng nơi Phật pháp, chúng ta phải hiểu rõ! 

 Như vậy, không đọc kinh, không nghe kinh há có được chăng? Phật giáo ngày nay suy đồi là vì tứ chúng tại gia, xuất gia không nghe kinh, không chịu học tập. Hễ không nghe kinh, không học tập, nhất định quý vị sẽ tùy thuận phiền não tập khí của chính mình. Tùy thuận tập khí phiền não của chính mình thì sanh hoạt cũng vậy, làm việc cũng vậy, đãi người tiếp vật cũng vậy không gì là không tạo nghiệp. Đúng là như kinh Địa Tạng đã dạy: “Chúng sanh trong Diêm Phù Đề khởi tâm động niệm không gì chẳng phải là nghiệp”. Đáng sợ quá! Nghĩ mình tạo nghiệp nhất địnhquả báo, chẳng thể nói tạo nghiệp rồi thôi. Ở những phần trên, chúng tôi đã giảng rất rõ ràng, Hoặc - Nghiệp - Khổ, trong ba chướng Phiền Não Chướng, Nghiệp Chướng, Báo Chướng, Báo là tam đồ khổ báo, quý vị có biết hay chăng? Thưa cùng quý vị, quý vị nghe vậy dường như cảm động, thế nhưng thời gian cảm động ngắn ngủi lắm. Độ mấy giây thôi, lại y chang như cũ, phiền não tập khí lại hiện hành. Vì nguyên nhân gì vậy? Là vì sức lực của phiền não tập khí quá lớn mạnh, năng lực tu học Phật pháp của chúng ta quá mỏng yếu, chống cự không nổi. Chống cự không nổi thì làm cách nào? Phật dạy chúng ta: Thâm nhập một môn, trường thời huân tu. Nếu quý vị làm được, hiểu được câu ấy thì khống chế phiền não tập khí có mất nhiều thời gian hay chăng? Thường là từ ba năm đến năm năm, tiêu chuẩn thời cổ là từ ba năm đến năm năm. Hiện tại, ba năm, năm năm không đủ, vì sao? Phiền não tập khí bên trong quá nặng, sức dẫn dụ bên ngoài quá mạnh. Vì thế, hiện tại chúng ta sống trong thế giới này, ngày ngày đọc kinh, ngày ngày nghe kinh, ngày ngày giảng kinh, từ ba mươi năm đến năm mươi năm, đó là kinh nghiệm của tôi. Tôi học Phật đến nay là năm mươi hai năm rồi, tôi mới có thể khống chế được, tôi mới chẳng bị xã hội dụ hoặc. Ngày ngày phải hành, không hành không được! 

 Nói cách khác, trong thời đại này, không những là thiện căn, phước đức, nhân duyên trong đời quá khứ phải sâu dầy, nếu quý vị muốn thành tựu thì điều kiện đầu tiên là thọ mạng! Quý vị không có thọ mạng dài lâu như thế, công phu tu hành còn chưa đủ, thọ mạng đã hết rồi! Thọ mạng hết bèn luân hồi, hễ luân hồi thì lúc cách ấm bèn mê. Dẫu tu hành không sai lầm, đời sau lại được thân người thì những gì đã tu đời trước đã quên sạch sành sanh, phải làm lại hết thảy từ đầu, rất đáng sợ! Bắt đầu lại từ đầu, chẳng đảm bảo không bị dụ hoặc. Nhưng trong xã hội này, từ lịch sử chúng ta thấy diễn biến nhiễm ô ngày càng nghiêm trọng, thói đời ngày càng tệ, đời sau kém hẳn đời trước. Do vậy, biện pháp đáng tin cậy nhất là trong một đời này quyết định sanh về Tịnh Độ, quyết định chẳng luân hồi nữa. Hai câu nói trên của đại sư dạy chúng ta việc ấy. Nay đã hết giờ rồi! 
 
 

*

Chư vị đồng học! 

 Xin xem đoạn văn tiếp theo
 
 

 Thập vạn ức trình, Đông Tây bất cách, nhị lục thời nội, phàm thánh đồng đồ. 

 (Đường xa mười vạn ức, Đông Tây nào có cách ngăn. Trong mười hai thời, phàm thánh cùng là một đường) 

 

 “Thập vạn ức trình” là xa - gần bất nhị. “Nhị lục thời nội” là nói về thời gian, quá khứ - vị lai bất nhị. “Phàm Thánh đồng đồ” thuyết minh cảnh giới Nhất Chân, nhất tâm có thể chứng, có thể hiện, có thể biến, có thể chứng. Nói chung, chẳng lìa nhất tâm bất loạn. Nhất tâm rất quan trọng. Đoạn văn tiếp theo là: 
 
 

 Đê đầu hiệp chưởng bạch ngọc hào, tinh minh nhật lệ. 

 (Cúi đầu chắp tay trước tướng bạch ngọc hào, sao sáng ngời, mặt trời rạng rỡ
 
 

 Câu này thể hiện sự lễ kính. Nguyện thứ nhất trong mười đại nguyện vương Phổ Hiền là “lễ kính chư Phật”. Nguyện thứ hai là “xưng tán Như Lai”. Trong câu “Đê đầu hiệp chưởng bạch ngọc hào” thì Bạch Ngọc Hào là một trong ba mươi hai tướng của Như Lai, tức là tướng bạch hào giữa hai chân mày. Chữ “bạch ngọc hào” chỉ cho tướng ấy. Chúng ta đọc kinh điển thấy kinh nói đến, thấy kinh ghi chép tướng ấy rất nhiều, tướng bạch hào của Phật phóng quang, trong quang minh hóa Phật phổ độ chúng sanh, nhằm biểu thị lễ kính, dạy chúng ta phải thường giữ lòng lễ kính: Đối với hết thảy chúng sanh, hết thảy người, hết thảy sự, hết thảy vật phải thường biết lễ kính. Trong “lễ kính chư Phật” thì chư Phật bao gồm cả hữu tình lẫn vô tình như kinh Hoa Nghiêm đã nói. Vì sao? Vô tình có Pháp Tánh, hữu tìnhPhật tánh. Phần trên đã nói “tâm tâm tức Phật” và “Phật Phật duy tâm”. “Phật Phật” bao gồm ba đời hết thảy chư Phật, bao gồm hữu tình lẫn vô tình. Như vậy chẳng thể rời bỏ cái tâm lễ kính dẫu chỉ khoảnh khắc. 

 “Tinh minh nhật lệ” là thiền cơ, phải hiểu như thế nào? Lìa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước! Nói “tinh minh nhật lệ” để sánh ví với nhất tâm. Có nhất tâm thì mới thật sự chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác lễ kính, trong ấy quyết định chẳng vọng tưởng, chấp trước mảy may, không khởi tâm động niệm, không vọng tưởng, chấp trước. Câu tiếp theotán thán
 
 

 Ca vịnh tán dương tử kim dung

 (Ca ngâm khen ngợi dung nhan vàng ròng

 

 Từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta đọc thấy thân tướng Phật là “tử ma chân kim sắc” (màu vàng ròng rực tía được giồi mài sáng bóng). Trong phần lễ kính ở trên chỉ nhắc đến tướng bạch hào phóng quang trong ba mươi hai tướng, còn ở đây xưng tán toàn thân Phật. “Ca vịnh tán thán”: Ở đây chúng ta dùng phạm bái kệ tán [để tán tụng]. 
 
 

 Đình chấn lôi oanh. 

 (Sét động sấm rền) 
 
 

 Tán thán ắt có âm thanh, lễ kính không có âm thanh. Tán thánâm thanh thì âm thanh ấy như chúng ta thường nói là “rền vang thấu trời thẳm”. Dùng chữ “đình chấn lôi oanh” để hình dung. “Đình chấn” là sấm nổ thình lình, ngạn ngữ có câu: “Tấn lôi bất cập yểm nhĩ” (sét nổ chẳng kịp bưng tai). Vì sao? Vì khoảng cách quá gần. Vừa thấy chớp lòa thì ngay lập tức đã có âm thanh, khoảng cách quá gần, âm thanh vô cùng vang động nổ ra không kịp bịt tai. Bốn chữ “đình chấn lôi oanh” dùng để hình dung điều này. Chúng ta thường nói âm thanh tán thán ca vịnh vang rền thấu trời thẳm cũng nhằm ngụ ý gần giống như vậy. Tán Phật mà! Quý vị phải biết: Tán Phật là khen ngợi tánh đức. Do vì hết thảy chẳng rời tự tánh, tự tánh Như Như Phật. Tán A Di Đà Phậttán thán tự tánh Di Đà. Các vị đồng học tu học Phật, vì sao đã lâu mà quý vị chẳng nhập cảnh giới, chẳng được hưởng lợi ích chân thật từ Phật pháp? Chớ nói chi nhiều, lợi ích tí tẹo quý vị cũng không đạt được, nguyên nhân là đâu? Nguyên nhân là do không buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống được! Phân chia mình - người! Nói cách khác, quý vị thường rớt vào hai ba, không quy nhất. Lúc nào quý vị quy nhất được thì sẽ hưởng lợi ích chân thật nơi Phật pháp. Quy nhất? Nhất là gì? Nhất tâm bất loạn đấy! Bất luận tu pháp môn nào, chúng tôi thường nói: Thủ đoạn không giống nhau, phương pháp khác nhau, nhưng tu cái gì? Đều là tu nhất tâm. Trong Thiền tông gọi nhất tâmminh tâm kiến tánh, trong Giáo Hạ gọi là đại khai viên giải, trong Tịnh Độ Tông của chúng ta gọi là nhất tâm bất loạn. Như vậy mới thật sự thọ dụng được. Nhà Thiền nói đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh rồi mới thọ dụng. Lúc chưa ngộ, quý vị là phàm phu, không sống trong cảnh giới Phật, ngộ rồi bèn khác hẳn. Quý vị phải biết chúng ta niệm Phật quyết định phải nhắm đến gì? Quyết định phải nhất tâm bất loạn

 Muốn đạt được nhất tâm bất loạn mà không thể buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống thì nhất tâm bất loạn sẽ vĩnh viễn bị chướng ngại. Nói cách khác, nhất tâm bất loạn là điều mà tự tánh vốn sẵn có, tự tánh vốn sẵn nhất tâm bất loạn. Quý vị mê mất nhất tâm, mê mất tự tánh, nên sáu căn mới khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đối với cảnh duyên sáu trần, quên mất nhất tâm bất loạn sẵn có, mê mất. Đấy là chân tướng sự thật. Đại sư đau lòng rát miệng chỉ dạy chúng ta, không gì khác cả, Ngài bảo chúng ta quay đầu, bảo chúng ta buông phân biệt, chấp trước xuống, quay về nhất tâm. Lại xem đoạn văn tiếp theo
 
 

 Thanh lương nguyệt hề hữu thủy giai hàm. 

 (Mặt trăng trong mát, hễ chỗ nào có nước đều hiện bóng) 

 

 “Thanh lương nguyệt” tỷ dụ Phật tánh. Người đời thường nói “thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt” (nước ngàn con sông hiện bóng ngàn mặt trăng). Ở đây đại sư dùng mặt trăng trong mát để ví Phật tánh, dùng bóng trăng hiện trong nước để ví cái được hiện, cái được biến. Các pháp được sanh ra chỉ là do tâm hiện. Cái có thể hiện (năng hiện) là vầng trăng trên không, vầng trăng ấy là thật, vì thật nên được ví với Phật tánh. Bóng trăng trong nước là cái được hiện, cái được biến, ví như pháp tướng. Trong pháp tướng có tánh, chẳng rời khỏi chân tánh, không có chân tánh thì há có thể có pháp tướng được ư? Căn nguyên của pháp tướngtự tánh, câu này khiến chúng ta liễu giải chân tướng sự thật
 
 

 Công đức vân nhi vô sơn bất đới.

 (Mây công đức không núi nào chẳng phủ)
 
 

 Công đức là điều tự tánh vốn sẵn đủ, chẳng đến từ bên ngoài. Điều này tỷ dụ Pháp Tánh. Phật tánhPháp Tánh là một tánh. Núi cao có mây mù, mây mù từ hang núi bốc lên, dần dần bay lên cao thì gọi là mây, lúc còn ở trên mặt đất thì gọi là “vụ khí” (sương mù). Ở thành phố nhỏ Đồ Văn Ba (Toowoomba) chúng ta thường thấy chuyện này. Chúng ta lái xe trên đường thường thấy sương mù rất dày. Lúc sương mù quá dày, chúng ta chỉ thấy được rất gần, nên phải lái xe rất chậm. Có lúc chúng tôi thấy sương mù phủ kín mặt đất, trông như nhà cửa, rừng cây đang ở trong mây vậy. Cảnh tượng ấy những kẻ ở trong núi như chúng tôi thường thấy. 

 Kinh Phật dùng “mây” để tỷ dụ rất nhiều thứ. Mây biểu thị điều gì? Không phải có, không phải không. Nhìn từ xa thấy mây có từng đám một, [dường như] là có; nhìn gần bèn chẳng thấy gì. Điều này cho thấy tất cả hết thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ như mộng, huyễn, bọt, bóng. Mộng, huyễn, bọt, bóng giống như mây, chẳng thể nói là không có, nhưng cũng chẳng thể nói là có. Tướng có, thể không, sự có, lý không, đều thuyết minh chân tướng của vạn vật trong vũ trụ; nhờ vậy quý vị mới thấy thấu suốt thế gian. Chẳng những thấy thấu suốt thế gian mà còn thấy thấu suốt xuất thế gian. Lại xem tiếp đoạn kế tiếp của phần khai thị. 
 
 

 Hương tượng độ hà, nhất cử hồng danh siêu nhị tử

 (Hương tượng vượt sông, vừa niệm hồng danh bèn thoát khỏi Phần Đoạn Sanh TửBiến Dịch Sanh Tử
 
 

 “Hương tượng” (2) tỷ dụ người tu hành. “Độ hà” (vượt sông), sông tượng trưng cho bờ bên này và bờ bên kia. Bờ bên này là thế giới Sa Bà, bờ kia là Cực Lạc thế giới. Người niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới rất giống với Hương Tượng, thật khó có! Trong một đời, người ấy quả thật giác ngộ triệt để, không có năng lực đoạn phiền não nhưng người ấy biết cầu sanh Tịnh Độ, biết thân cận Di Đà, biết phương pháp tu tín nguyện trì danh 

 “Nhất cử hồng danh”, [nhờ niệm] sáu chữ hồng danh nam mô A Di Đà Phật bèn vượt thoát “nhị tử”. Nhị tử là gì? Chính là Phần Đoạn Sanh Tử trong lục đạoBiến Dịch Sanh Tử trong bốn thánh pháp giới. Chẳng những vượt khỏi lục đạo mà còn vượt thoát mười pháp giới. “Nhất cử hồng danh”: Cử có ý nghĩa giống như Xưng; Cử, Xưng, Dương có cùng một ý nghĩa. Một tiếng nam mô A Di Đà Phật bèn vượt thoát lục đạo tam giới, vượt thoát mười pháp giới, công đức chẳng thể nghĩ bàn. Tín nguyện trì danh là Công, vượt thoát mười pháp giới vãng sanh Tịnh Độ là Đức. 

Trung Phong thiềnthị hiện làm bậc đại đức đại triệt đại ngộ trong nhà Thiền, nhưng chỗ Ngài quy túc là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Người như vậy niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, chúng ta biết rõ sẽ sanh vào cõi nào trong Tây Phương Cực Lạc thế giới? Thật Báo Trang Nghiêm độ, chứ không thuộc Đồng Cư độ, cũng chẳng thuộc cõi Hữu Dư. Thế nhưng Tây Phương thế giới rất thù thắng, chúng ta vô cùng tin tưởng, chúng ta đới nghiệp vãng sanh dẫu chưa đoạn một phẩm phiền não nào, đương nhiên sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư độ; sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư độ có gặp được Trung Phong quốc sư hay chăng? Được chứ! Chắc chắn không thành vấn đề! Vì sao? Vì Tây Phương Cực Lạc thế giới bốn cõi cùng ở một chỗ, sanh về một là sanh về hết thảy. Chẳng những gặp Trung Phong quốc sư mà còn gặp được ngài Vĩnh Minh Diên Thọ, gặp Trí Giả đại sư, gặp được Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc Bồ Tát, đó là những vị Đẳng Giác Bồ Tát. Thấy được mười phương tam thế hết thảy chư Phật Như Lai, đúng là “sanh về một là sanh về hết thảy”. Thấy A Di Đà Phật là thấy hết thảy chư Phật, Bồ Tát. Chẳng thể nghĩ bàn! 

 

 Ca Lăng xuất xác, thiên xưng gia hiệu áp quần âm.

 (Chim Ca Lăng ra khỏi vỏ trứng, niệm danh hiệu tốt lành ngàn lần vượt trỗi các âm thanh khác) 

 

 Ca Lăng chính là chim Ca Lăng Tần Già tại Tây Phương Cực Lạc thế giới như đức Thế Tôn đã nói trong kinh Di Đà. Mấy loài chim ấy ở thế giới này đều có, nên đức Thế Tôn nêu tượng trưng mấy loại. Phật bảo chúng ta: Chim Cộng Mạng, Ca Lăng Tần GiàTuyết Sơn cũng có. Tuyết Sơn chính là núi Hỷ Mã Lạp Nhã (Himalaya). Chúng ta biết đức Phật giáng sanh tại nước Ca Tỳ La Vệ. Nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatsu) nay là Nê Bạc Nhĩ (Nepal), ở phía Nam núi Hỷ Mã Lạp Nhã, không xa núi lắm. Vì thế, những người sống nơi đó đều biết loài chim này tiếng hót hết sức thanh tao. Chim là loài noãn sanh (sanh bằng trứng). Loài chim này lúc chưa nở, còn ở trong trứng đã cất tiếng hót, âm thanh rất vi diệu. Đương nhiên, khi nó đã phá vỡ vỏ trứng, cất tiếng hót thì âm thanh của mọi loài chim khác đều chẳng sánh bằng. Do vậy mới bảo là “thiên xưng gia hiệu”. “Gia hiệu” chính là xưng A Di Đà Phật, cũng tức là lục tự hồng danh. “Áp quần âm” nghĩa là khắp pháp giới hư không giới, âm thanh mầu nhiệm (tức âm thanh cực kỳ vi diệu) chính là Nam Mô A Di Đà Phật, âm thanh ấy là diệu âm

 Nay có người tranh luận, rốt cuộc chúng ta phải niệm là Omituofuo hay là niệm Amituofo? (3) Chúng tôi gặp rất nhiều người, mỗi một địa phương Trung Quốc đều có phương ngôn. Đúng là sáu chữ ấy, về mặt chữ viết thì thống nhất, nhưng mỗi địa phương đọc một kiểu khác nhau. Lấy cách nào làm tiêu chuẩn? Luận theo Phật pháp, tiêu chuẩn thật sự là thành tâm, tâm chân thành chính là tiêu chuẩn. Tâm chân thành cảm thì Phật bèn ứng. Như vậy, bất luận là phương ngôn nào, cốt sao trong tâm quý vị niệm câu Phật hiệu này, tâm niệm Phật của quý vị tương ứng với Phật A Di Đà thì âm thanh ấy chính là diệu âm. Chúng ta thấy chuyện này hiện nay đã được các nhà khoa học chứng minh. Từ chuyện nước kết tinh chúng ta thấy họ dùng mấy loại văn tự khác nhau để viết chữ Ái (yêu), viết chữ Ái bằng tiếng Hán, bằng tiếng Anh, bằng tiếng Đức, viết bằng mấy loại văn tự, đưa cho nước xem. Đựng nước trong cái bình pha lê nhỏ, lấy chữ đã viết dán trên bình. Một tiếng đồng hồ sau, quan sát nước kết tinh đều thấy hết sức xinh đẹp. Dùng ý tương phản (họ cũng làm thí nghiệm), chúng tôi thấy họ viết chữ “hỗn đản” (“trứng thúi”, tiếng để chửi rủa, miệt thị), cũng viết bằng nhiều thứ tiếng. Một tiếng đồng hồ sau, nhìn vào nước thấy xuất hiện những kết tinh hết sức xấu xí. Do đây biết rằng: Bất luận dùng văn tự nào; nói cách khác, lúc nghe, không cần biết là phương ngôn nào, chỉ cần quý vị biểu lộ lòng yêu thương thì nước phản ứng bằng cách kết tinh đẹp đẽ. Điều này cho thấy nước có Pháp Tánh, bản năng của tánh là có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết. Vì vậy, ngôn ngữ hay phù hiệu khác nhau không quan trọng, ý nghĩa tương đồng [mới quan trọng]. Đúng là như trong Tứ Y Pháp, đức Thế Tôn đã dạy chúng ta: “Y nghĩa bất y ngữ” (nương vào ý nghĩa, đừng dựa vào lời nói). Chúng ta cũng có thể nói là “y nghĩa bất y văn tự”, mọi thứ văn tự không ảnh hưởng gì, dùng văn tự quốc gia nào cũng không quan trọng, cốt sao ý nghĩa tương đồng thì Pháp Tánh nhất định phản ứng giống nhau. 

 Thí nghiệm trên chứng tỏ “nhất cử hồng danh siêu nhị tử”, “thiên xưng gia hiệu áp quần âm” đã được khoa học chứng minh. Quan trọng nhất là thành ý, bởi thế không nhất định phải niệm là A hay O, không quan tâm đến điều đó, không cần phân biệt, chấp trước. Hễ phân biệt bèn chấp trước, mức độ thành ý bị kém hẳn đi. Không phân biệt sẽ không chấp trước, thành ý bèn viên mãn. Phải hiểu đạo lý này. Đoạn tiếp theo
 
 

 Hạ tình duy thổn dĩ nan tư, nhất niệm hồi quang nhi dị vãng

 (Dùng tình suy nghĩ sẽ khó hiểu thấu, một niệm hồi quang ắt dễ về).
 
 

 Hai câu này ý nói niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là đạo dễ hành. Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, trong vô lượng pháp môn, pháp này dễ dàng nhất. Dù phương pháp dễ dàng, nhưng lý rất sâu. Trong kinh đức Phật bảo đạo lý y cứ của pháp môn này “chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu hiểu rốt ráo”. Chỉ có Như Lai quả địa mới hiểu rành rẽ, mới hiểu rõ; Đẳng Giác Bồ Tát vẫn như nhìn trăng qua một lớp sa. Đây là tỷ dụ, nhìn trăng vào ban đêm qua một lớp sa rất mỏng, sợi sa rất mịn, dù giống như pha lê ngày nay, nhưng vẫn là còn cách một lớp. Như Lai không có tí xíu chướng ngại nào, không có vật gì cách trở. Quý vị muốn hiểu được đạo lý này thì đạo lý ấy rất sâu, nhưng phương pháp dễ dàng. 

 “Nhất niệm hồi quang” là như ta thường nói “hồi đầu thị ngạn” (quay đầu lại là đã đến bờ). Chỉ cần quý vị tiếp nhận lời Phật, Bồ Tát răn dạy, y giáo phụng hành là được, rất dễ dàng đạt được, thành tựu! Quý vị muốn hỏi đến đạo lý ư? Tốt nhất là về Tây Phương Cực Lạc thế giới, gặp A Di Đà Phật, hướng về Phật thỉnh giáo là dễ nhất. Còn ở đây muốn hiểu rành rẽ đạo lý thì không ai có thể giảng rành rẽ được. Dù có giảng rành rẽ, quý vị cũng không hiểu. Vì sao? Đó không phải là cảnh giới của mình, mà là cảnh giới thuộc quả địa Như Lai. Thế nhưng trong hai câu cuối, Trung Phong thiền sư vẫn chỉ điểm một chút: 

 

 Cứu cánh bất cư tâm ngoại, phân minh chỉ tại mục tiền! 

 (Rốt ráo nào phải ngoài tâm, phân minh chỉ ngay trước mắt
 
 

 Hai câu này thiền ý rất sâu. Niệm Phật vãng sanh, thấy Phật chứng quả, “rốt ráo chẳng ở ngoài tâm”. A Di Đà Phật, tự tánh Di Đà, Tây Phương Tịnh Độ, duy tâm Tịnh Độ đều do tâm tánh của chính ta biến hiện. Vì thế, chẳng ở ngoài tâm. “Phân minh chỉ ở ngay trước mắt”, hết thảy các pháp trước mắtbản thểtâm tánh. Vì thế, các nhà Pháp Tướng Duy Thức tông thường nói đến Duy Thức, trong vũ trụ chỉ có duy thức, trừ duy thức ra cái gì cũng đều không có. Thức là gì? Là năng biến, còn hết thảy các pháp là sở biến (cái được biến ra bởi Thức). Quý vị phải nắm lấy cái Năng Biến, đừng bận tâm đến Sở Biến, đừng phân biệt, chấp trước, vọng tưởng nữa, triệt để buông xuống. Thế nhưng Thức vẫn chưa phải là Đệ Nhất Nghĩa, Đệ Nhất Nghĩa là gì? Đệ Nhất Nghĩa là Tánh. Tuy vậy, Tánh và Thức là một chứ không hai. Giác ngộ thì gọi là Tánh, bất giác thì gọi là Thức. Tánh và Thức quả thật là một không hai, chỉ là giác và bất giác nên nói thành hai danh từ. Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến, cái được hiện là Nhất Chân pháp giới, cái được biến là y báochánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới. Quả thật là một chứ không phải hai. 

 “Phân minh chỉ ở ngay trước mắt”, mười pháp giới ở ngay trước mắt, Nhất Chân pháp giới cũng ở ngay trước mắt. Vì sao chúng ta không thể nhận biết? Là vì có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc. Đó là như trong hội Hoa Nghiêm, đức Thế Tôn đã nói: “Hết thảy chúng sanh đều có đức tướng, trí huệ của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc”. Thật đáng tiếc! Nói cách khác, nếu quý vị nghe hiểu câu nói này của Phật, chỉ cần quý vị buông được vọng tưởng, chấp trước, phân biệt xuống thì sẽ đúng như Trung Phong thiền sư đã nói: “Phân minh chỉ ở ngay trước mắt”. 

 Hai câu “rốt ráo nào ở ngoài tâm, phân minh chỉ ngay trước mắt” là cảnh giới của Trung Phong thiền sư. Nói cách khác, đó là cảnh giới của bậc kiến tánh, là cảnh giới của người đại khai viên giải, là cảnh giới của người niệm Phật đạt Lý nhất tâm bất loạn. Hễ quý vị đạt đến trình độ ấy, cảnh giới ấy sẽ là cảnh giới của chính quý vị; công phu chưa tới, cảnh giới ấy chẳng hề bị mất đi, chỉ là mình mê nên không giác. Đó là Thật Tướng của các pháp. Trung Phong đại sư khai thị đến đây thôi, đoạn kế tiếp là khảo nghiệm công phu của chúng ta
 
 

 Thẩm như thị

 (Xét kỹ như thế). 
 
 

 Thẩm là dò xét kỹ càng, là quan sát kỹ lưỡng, là tư duy, quan sát tỉ mỉ. “Như thị” là như Thật Tướng các pháp đã nói ở phần trên, kể cả chân tướng sự thật của chuyện tín nguyện trì danh, vãng sanh Tịnh Độ của chúng ta
 
 

 Tức kim chúng đẳng 

 (Vậy nay đại chúng

 

 Lại hỏi đại chúng, tức đại chúng hiện tiền chúng ta
 
 

 Hệ niệm Di Đà

 

 Chữ Niệm là “kim tâm” [ghép lại]. Trong cái tâm hiện tại của chúng ta quả thậtDi Đà. Chúng ta thường gọi Hệ (buộc chặt) là ôm giữ, dính mắc, trong tâm vương vấn, vương vấn nơi chuyện gì? Vương vấn A Di Đà Phật. Trong tâm không vướng mắc chi khác, chỉ vương vấn A Di Đà Phật, trong tâm quả thật có Phật A Di Đà nên gọi là “hệ niệm”. Hệ niệm như thế nào mới có cảm ứng? Có cảm ứng rất rõ ràng thì gọi là nhất tâm, tức nhất tâm hệ niệm. Nói cách khác, trong tâm ngoại trừ A Di Đà Phật ra, cái gì cũng đều chẳng có, nhất tâm hệ niệm, đó là chân niệm Phật. Niệm Phật chẳng phải ở cửa miệng, phải niệm trong tâm. Bởi thế, cổ đức thường dạy chúng ta: Chữ Niệm trong Niệm Phật chẳng thể thêm vào chữ Khẩu, thêm chữ Khẩu vào sẽ biến thành miệng có tâm không. Không thể thêm chữ Khẩu, dùng chữ Niệm (không có bộ Khẩu). Chữ Niệm ấy cho thấy trong tâm quả thật có Phật, chẳng được niệm xuông ngoài miệng. Trong tâm quả thậtA Di Đà Phật, ngoại trừ A Di Đà Phật cái gì cũng chẳng để vào lòng. Đó là nhất tâm hệ niệm, là cảm ứng đạo giao chẳng thể nghĩ bàn! Đúng là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Hiện tại Tam Thời Hệ Niệm của chúng tachuyên tu pháp môn này. 
 
 

 Tam thời Phật sự
 
 

 “Phật sự” có ý nghĩa gốc là tu Giác chứ không Mê. Phật là giác chứ không mê; nay chúng ta đang học tập chuyện giác chứ không mê này nên gọi là “Phật sự”. Như vậy, pháp sự Tam Thời Hệ Niệm thoạt nhìn dường như để độ vong nhân, nhưng trên thực tế, kẻ còn người mất cùng lợi lạc. Kinh Địa Tạng giảng rất rành rẽ, người chết được hưởng một phần bảy lợi ích, chính bản thân người tu chúng ta được hưởng sáu phần bảy, chúng ta được lợi ích viên mãn. Vong nhân được hưởng chút phần lợi ích gì? Là được cảnh tỉnh. Nếu họ hoảng nhiên đại ngộ, cùng chúng ta học tập thì họ sẽ được lợi ích viên mãn. Nếu họ vẫn mơ mơ màng màng, nay chúng ta lay tỉnh họ, lôi kéo họ; họ vẫn không giác ngộ, chủng tử đã gieo trong A Lại Da Thức không thể phát khởi, thì đó gọi là “chỉ được hưởng một phần bảy lợi ích”. Lý và Sự của chuyện này chúng ta đều phải nên hiểu rõ, phải minh bạch. Nay trong ba thời chuyên tu, chúng ta đang tu thời thứ nhất của ba thời. 

 

 Chỉ như bất thiệp chứng tu, thân mông thọ ký nhất cú, như hà cử dương? .

 (Nhưng nếu không lạm dự cả tu lẫn chứng, giải thích câu nói “đích thân được Phật thọ ký” như thế nào đây?) 
 
 

 Đây là câu nói của nhà Thiền, nay chúng ta chất phác niệm Phật, nhất tâm hệ niệm, chúng ta chẳng dính dáng đến việc chứng quả lẫn phương pháp tu, các pháp khác ta đều không can dự đến, vậy thì phải hỏi: “Câu nói: ‘Đích thân được Phật thọ ký”, A Di Đà Phật đích thân thọ ký cho chúng ta, phải giảng câu này như thế nào? “Như hà xưng dương”: Nói theo cách bây giờ là giải thích như thế nào, hoặc là phải được hiểu như thế nào. Thông thường khi câu hỏi được nêu ra, nhất định phải trầm mặc một hai phút để mọi người đều ngưng lặng. Tịnh cực quang thông (tịnh đến mức cùng cực sẽ sáng tỏ), mọi người tịnh rồi, tịnh sẽ sanh huệ, khi ấy chỉ một câu bèn có thể cảnh tỉnh quý vị khiến quý vị từ đó ngộ nhập. Tông môn gọi đó là “thiền cơ”. Trung Phong là thiền sư mà! Như vậy, trong Pháp Sự này quả thật có Thiền, có Tịnh. Ngài nói hai câu kệ: 
 
 

 Phong ngâm thụ thụ thiên ban nhạc, hương xâm trì trì tứ sắc hoa. 

 (Gió luồn cây tấu ngàn muôn nhạc, ao bốn màu sen tỏa ngát hương)
 
 

 Quý vị có hiểu hai câu này hay không? Quý vị không biết là quý vị không thể hỏi ý nghĩa hai câu này, vì sao? Vì đây là thiền cơ. Nếu quý vị hiểu thì sẽ do hai câu này bèn đại triệt đại ngộ. Không hiểu cứ việc nói là không hiểu. Không hiểu thì “A Di Đà Phật thân kim sắc” ở phần sau cứ chất phác niệm đi! Ý nghĩa được diễn tả trong hai câu này, chúng tôi thật sự không hiểu ý nghĩa. Tôi vừa mới nói đó thôi, thiền cơ mà! Nhìn từ bên ngoài thì câu đầu tiên diễn tả hàng cây bảy báu nơi trong Tây Phương thế giới

 “Phong ngâm thụ thụ thiên ban nhạc”: Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, gió lùa qua cây báu, cành, lá, hoa, quả của cây báu gió vừa lay bèn va chạm nhau, giống như những cái “phong linh” (wind chimes) hiện thời, âm thanh rất mỹ diệu. Những cái phong linh chúng ta dùng hiện thời quá nửa làm bằng đồng, cũng có cái làm bằng những phiến lưu ly, thủy tinh, âm thanh hết sức thanh tao. Gió rung cây báu nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn phát ra âm thanh thuyết pháp, muốn nghe âm thanh nào đều được nghe âm thanh ấy, chẳng thể nghĩ bàn! Muốn nghe kinh gì, gió, nước đều thuyết pháp, sáu trần thuyết pháp, đó là do oai thần của Phật A Di Đà gia trì

 Thật ra, trong thế giới này sáu trầnthuyết pháp hay không? Cũng thuyết pháp, cũng biểu thị pháp, tiếc là chúng ta không hiểu. Nếu chúng ta thật sự hiểu, ắt sẽ lãnh hội: Tam thế hết thảy chư Phật, Bồ Tát vốn chẳng rời chúng ta một bước, đều hiện diệnchúng ta thuyết pháp, không pháp nào chẳng nói. Pháp ấy có tên chung là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, mở rộng ra thành vô lượng vô biên Phật pháp. Đúng là vi trần nói, cõi nước nói, Phật nói, Bồ Tát nói, sơn hà đại địa, cây cối hoa quả không lúc nào chẳng thuyết pháp. Chỉ vì chúng ta mê quá sâu, không nhận biết được. Mấy năm qua đọc kinh Hoa Nghiêm mới hiểu được một chút sự tình, mới biết hết thảy hữu tình và vô tình đều biểu thị pháp, hoặc thuyết pháp. Chúng tôi chỉ mới hiểu được chút ít sự việc như vậy. Đến khi nào chúng ta mới tiếp thu được thông điệp ấy? Đến khi nào nhất tâm bất loạn sẽ lãnh nhận được, cảm nhận được, quý vị bèn thấy đạo, nghe đạo, nếm đạo, ngửi đạo. Đạo ấy chẳng phải là cái đạo để đạt được, nó là vô thượng đại đạo, thấy đạo, nghe đạo, nếm đạo, ngửi đạo. Lúc ấy, quý vị mới hiểu nơi đây vốn là Hoa Tạng thế giới, vốn là Cực Lạc. Trong pháp hội này, qua những lời khai thị đơn giản ngắn ngủi, Trung Phong thiền sư đã nhắc đến những ý nghĩa đó. 

 “Hương xâm trì trì”: “Trì trì” là ao bảy báu, nước tám công đức. “Tứ sắc hoa”: Kinh Di Đà nói hoa sen bốn màu. Bốn màu ở đây là bốn nguyên sắc (màu gốc), bốn sắc dung hợp lại sẽ thành vô lượng vô biên màu sắc, đẹp đẽ khôn ngằn. Đó là ý nghĩa trên mặt văn tự của hai câu này, còn mật nghĩa rất sâu của chúng quý vị phải tự thể hội, ngôn ngữ dứt bặt, tâm hạnh xứ diệt. Nay đã hết giờ rồi, chúng tôi giảng đến đây mà thôi! 
 
 

*

9. Kệ Tán Phật
 
 

Chư vị đồng học! 

Xin xem tiếp phần Tán Phật Kệ. Hệ Niệm Pháp Sự chia thành ba thời, trong ba thời đều có phần Niệm Phật, tức là lấy tụng kinh, niệm Phật làm chánh, xen vào những phần khai thị để thời thời khắc khắc cảnh tỉnh. Tám câu kệ tán Phật này chúng ta thường hay đọc, mọi người đều niệm rất quen, ý nghĩa rất rõ ràng. Chúng tôi giới thiệu đại lược như sau: 
 
 

A Di Đà Phật thân kim sắc,

Tướng hảo quang minh vô đẳng luân. 

(A Di Đà Phật thân vàng ròng

Tướng tốt quang minh khôn sánh ví) 
 
 

Chúng tôi giảng hai câu này. Câu thứ nhất tán thán thân tướng Phật A Di Đà, thân chân kim tử ma sắc, thân xinh đẹp. Tán Phật chính là tán chính mình, bởi lẽ mỗi người niệm Phật chúng ta sau khi sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân thểtướng hảo của chúng ta giống hệt đức Phật A Di Đà. Bởi lẽ, thế giới Cực Lạcthế giới thật sự bình đẳng, quý vị có thể thấy được điều này từ bốn mươi tám nguyện. A Di Đà Phật phát đại nguyện: Chúng sanh trong cõi nước Ngài nếu chẳng giống hệt Phật, Ngài thề chẳng thành Phật. Nay Ngài đã thành Phật được mười kiếp, chứng tỏ nguyện ấy đã được thỏa, nguyện nào cũng viên mãn, đều thành hiện thực. Do vậy, chúng tôi không còn nghi ngờ mảy may gì nữa: Vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân thể, tướng hảo nhất định phải giống với Phật. Vì thế, thấy tướng hảo của Phật chính là thấy tướng hảo của chúng ta trong tương lai khi vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đọc bài tán tụng này có động tâm hay chăng? Động tâm nghĩa là phát nguyện, phải vãng sanh, phải sanh về cõi nước ấy. 

Câu thứ hai: “Tướng hảo quang minh vô đẳng luân”, chẳng phải như trong thế gian này chúng ta thường nói ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình hảo. Trong kinh Phật cũng thường nói: Thân ấy (tức thân ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình hảo) là Liệt Ứng Thân (thân ứng hiện ở mức độ thấp kém). Con người trong thế giới chúng ta đây, nay gọi là người trên địa cầu, cho rằng ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình hảoquý tướng thế gian, tức là tướng phú quý, tướng phước đức, thật sự viên mãn rốt ráo; đức Phật thị hiện như thế đó, chứ tướng hảo thật sự người thế gian chúng ta không thể nào tưởng tượng được nổi. Trong kinh đức Phật dạy: Báo thân của Như Laivô lượng tướng, chứ không phải chỉ là ba mươi hai tướng. Mỗi tướng có vô lượng hảo, chứ không phải chỉ có tám mươi tùy hình hảo. Tướng và tùy hình hảo đều vô lượng vô tận

“Tướng hảo” là quả báo do chính mình tu hành viên mãn. Chúng ta có thể nói “quang minh” là quả báo tiếp dẫn chúng sanh, giáo hóa chúng sanh, nhân viên quả mãn. “Vô đẳng luân” là không có gì bằng, không có ai có thể sánh bằng được. Những ai vậy? Hết thảy Bồ Tát, từ Bồ Tát trở xuống đừng nói làm chi, ngay cả Pháp Thân Bồ Tát, Địa Thượng Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ Tát đều chẳng thể sánh bằng Phật. Như vậy, Tây Phương Cực Lạc thế giới thật chẳng thể nghĩ bàn! 
 
 

Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di 

(Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào
 
 

Bạch hào là tướng lông trắng giữa hai mày đức Phật. Đức Phật nói tướng bạch hào có tám cạnh, chính giữa trống rỗng, trong suốt. Bạch hào rất dài, cuộn tròn lại, trông giống như một viên ngọc trên trán giữa hai chân mày. Bạch hào không phải là viên ngọc, mà là sợi lông trắng cuộn tròn lại, là một trong ba mươi hai tướng, nhưng ba mươi hai tướng thế gian chẳng thể sánh bằng được. Bạch hào cuộn lại lớn đến chừng nào? To bằng năm quả núi Tu Di, quý vị nghĩ xem thân tướng Phật rất to lớn! Tu Di là quả núi cao nhất trong thế giới Sa Bà. Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta: Địa cầu này gọi là Nam Thiệm Bộ Châu, tức là một tiểu tinh cầu ở quanh núi Tu Di; núi Tu Di không ở trên địa cầu, rất nhiều người nghĩ núi Tu Di chính là núi Hỷ Mã Lạp Nhã tức ngọn núi cao nhất trên địa cầu này. Nếu chỉ là núi Hỷ Mã Lạp Nhã thì bạch hào to bằng năm quả núi Hỷ Mã Lạp Nhã là đã lớn lắm rồi, đã phi thường rồi! Nếu Thích Ca Mâu Ni Phật đầu to bằng quả địa cầu thì thân Ngài lớn đến chừng nào? Chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta không có cách gì tưởng tượng được! Núi Tu Di chẳng ở trên địa cầu, mặt trời, mặt trăng xoay quanh núi Tu Di; nay chúng ta biết mặt trời, mặt trăng không xoay quanh núi Hỷ Mã Lạp Nhã. Chúng xoay quanh đâu? Xoay quanh hệ Ngân Hà, khoa học hiện tại nói rất rõ ràng. Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nói: Do đây biết rằng trên thực tế, một hệ Ngân Hà chính là một đơn vị thế giới của kinh Phật. Tu Di ở đâu? Ở ngay chính giữa Ngân Hà, lớn cỡ nào? Nói thật ra, lớn gấp rất nhiều lần so với Thái Dương Hệ. Tướng bạch hào của Phật lớn như thế đó. Chúng ta nghĩ xem đầu đức Phật lớn cỡ nào? Tối thiểu phải lớn bằng một hệ Ngân Hà. Thân tướng như vậy làm sao ta tưởng tượng được nổi. 
 
 

Cám mục trừng thanh tứ đại hải 

(Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc)(4) 
 
 

Đây là nói về mắt đức Phật. Mắt Phật lớn cỡ nào? Giống như biển cả, to như biển. Đây là tỷ dụ để chúng ta từ đó hiểu thân tướng Phật vĩ đại chẳng thể nghĩ bàn, rồi thì sẽ tưởng tượng Tây Phương Cực Lạc thế giới lớn lao đến độ nào. Người trong thế giới Cực Lạc đều cao lớn như vậy, số người trong thế giới ấy không cách gì tính toán được. Trong kinh điển, đức Thế Tôn chỉ giới thiệu một hạng người là A La Hán mà đã không có cách gì tính toán được, chỉ có thể nói là “dùng vô lượng vô biên A Tăng Kỳ để nói”, vô lượng vô biên A Tăng Kỳ, “các vị Bồ Tát cũng giống như thế”. Ngoài các vị Bồ Tát còn có chúng trời người trong Phàm Thánh Đồng Cư độ từ mười phương thế giới sanh về, không biết là bao nhiêu. Vậy thì thế giới ấy phải bao lớn? Không thể nghĩ bàn! Nếu đem địa cầu đặt trong Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ chẳng thấy gì hết. Địa cầu còn chẳng thấy, huống gì người trên địa cầu? Đại khái chúng ta biến thành vi sinh vật, e rằng kính hiển vi cao cấp còn chưa nhìn thấy được, con người quá nhỏ bé. Thế nhưng trong kinh điển Đại Thừa, Phật thường dạy chúng ta: Trong tâm tánh không có lớn, nhỏ; trong nhỏ có thể hiện lớn, trong lớn có thể hiện nhỏ, đó là cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn. Kinh Hoa Nghiêm bảo không có lớn - nhỏ. Vì vậy, trong vi trầnthế giới, Phổ Hiền Bồ Tát thường vào trong đó. Thế giới trong vi trần không nhỏ, ta cảm nhận giống hệt như đại vũ trụ vậy, không khác gì hết. Vi trần không nở to ra, thế giới cũng không rút nhỏ lại. Một vi trần chỉ là một thế giới thôi ư? Không chỉ như vậy. Vô lượng vô biên thế giới trong một vi trần, chẳng thể nghĩ bàn! Vì sao? Trong vi trầnthế giới, trong thế giới lại có vi trần, trong vi trần lại có thế giới. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Thế Tôn dạy chúng ta chân tướng sự thật: Thế giới trùng trùng vô tận, không lớn - nhỏ. Vì sao lại có hiện tượng ấy? Kinh Phật thường nói: Pháp vốn là như vậy (pháp nhĩ như thị), vốn sẵn là như thế đó. Chẳng có lý do gì cả, vốn sẵn là như thế, Pháp Tánh là như thế. Chư Phật Bồ Tát dạy chúng ta không nhằm mục đích nào khác, chỉ nhằm khiến chúng ta minh tâm kiến tánh, khế nhập cảnh giới này. Đó là đại viên mãn. Như vậy, tám câu kệ chúng ta thường niệm này nói lên cảnh giới thật sự chẳng thể nghĩ bàn! 
 
 

Quang trung hóa Phật vô số ức, 

Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên 

(Trong quang minh hóa vô số Phật, 

Hóa các Bồ Tát cũng vô biên
 
 

Hai câu kệ này nói về quang minh. Hai câu trước tán dương tướng hảo. Bạch hào, cám mục đều là tướng hảo, nêu một hai tướng hảo đại diện. Trong quang minh cũng chỉ nêu tượng trưng. “Quang trung hóa Phật vô số ức”: Một Phật chính là hết thảy Phật, hết thảy Phật chính là một Phật. Nếu quý vị quả thật hiểu được đạo lý này, sẽ không hoài nghi: Phật nhiều đến như thế, sao ta chỉ thân cận mỗi mình Phật A Di Đà, không thân cận các vị Phật khác? Danh hiệu Phật nhiều như thế, sao lại chỉ thiên vị niệm A Di Đà Phật, không niệm những đức Phật khác? Nghi vấn ấy không còn nữa! Vì sao? Một chính là nhiều, nhiều chính là một, một - nhiều không hai. Vì sao không niệm Thích Ca Mâu Ni Phật, lại niệm A Di Đà Phật? Thích Ca Mâu Ni Phật Phật dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật. Vì sao không niệm các đức Phật khác? Hết thảy các đức Phật khác đều dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, chúng ta phải thuận theo. Thuận theo chính là hiếu thuận, thuận theotôn sư. Tuân theo lời thầy dạy nhất định có điều hay, hay như thế nào? Bây giờ không cần phải hỏi, đến Cực Lạc thế giới rồi, quý vị sẽ hoàn toàn hiểu rõ. Thật giống như ví dụ ba cỗ xe trong kinh Pháp Hoa vậy, ba cỗ xe tỷ dụ điều gì? Phù hợp căn cơ. Kinh Pháp Hoathế giới Sa Bà như một căn nhà đang bốc cháy, Phật như một vị đại trưởng giả, tất cả hết thảy chúng sanh trong thế giới này là con cái Ngài. Căn nhà đột nhiên bốc cháy, trẻ nít không hay biết vẫn cứ chơi giỡn trong ấy, kêu chạy ra không chịu ra. Lúc đó, người làm cha biết những thứ con thơ yêu thích, ham mến: “Ngoài cửa cha bày rất nhiều đồ chơi, có xe dê, xe nai, xe ngựa. Ra khỏi cửa, tụi con thích chơi món gì thì chơi món ấy”. Con thơ nghe nói, như ong vỡ tổ xông ra. Ra khỏi nhà rồi, không có xe dê, cũng chẳng có xe nai, chỉ có xe ngựa. Xe ngựa gọi là đại bạch ngưu xa (“đại bạch ngưu xa” là xe ngựa), ví như Đại Thừa. Ra khỏi nhà lửa rồi đều ban cho Đại Thừa, đều đãi ngộ bình đẳng. Đó mới là thật sự sanh tâm đại hoan hỷ, ban cho quý vị thứ tốt đẹp nhất. 

Vì thế, trong quang minh của Phật A Di Đà, bạch hào phóng quang, “quang trung hóa Phật vô số ức”, “hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên”. Biến hóa để làm gì? Đến thập phương thế giới phổ độ chúng sanh. Những vị Phật, những vị Bồ Tát ấy ở trong mười phương thế giới, nên dùng thân gì để độ người bèn hiện ra thân ấy. Như quý vị thường niệm phẩm Phổ Môn; phẩm Phổ Môn nói Quán Thế Âm Bồ Tát ứng hiện ba mươi hai thân, nên dùng thân Phật để độ bèn hiện thân Phật, nên dùng thân Bồ Tát để độ bèn hiện thân Bồ Tát. Nên dùng thân Thanh Văn để độ bèn hiện thân Thanh Văn. Nên dùng thân tể quan để độ bèn hiện thân tể quan. Nên dùng thân đồng nam, đồng nữ (trẻ trai, trẻ gái) để độ bèn hiện thân đồng nam, đồng nữ. Thân tướng nào Ngài cũng hiện được, ở đâu vậy? Chính ngay trong xã hội chúng ta đây. 

Từ sáng đến tối chúng ta tiếp xúc rất nhiều người, không thể nói xác quyết trong số ấy ai là Phật, Bồ Tát thị hiện. Chúng ta phàm phu mắt thịt không nhận biết, Ngài cũng chẳng hé lộ thân phận, chúng ta làm sao biết được? Trên thực tế, họ do A Di Đà Phật biến hóa ra, họ chính là A Di Đà Phật, chứ không phải ai khác! Trong lịch sử Trung Quốc, dường như có mấy vị bộc lộ thân phận. Vĩnh Minh Diên ThọA Di Đà Phật hóa thân, chúng tôi cho rằng có lẽ Ngài chính là một vị Phật được biến hóa từ quang minh, hay là Bồ Tát hóa hiện từ quang minh. Ngài đến thị hiện trong thế gian này, xuất hiện dưới thân phận tổ sư. Nghe nói Thiện Đạo đại sư cũng là hóa thân của Phật A Di Đà. Ngoài ra còn có hòa thượng Phong Can ở chùa Thanh Lương tại núi Thiên Thai cũng là hóa thân của Phật A Di Đà. Có mấy vị bộc lộ thân phận, còn những vị không bộc lộ thân phận không biết là bao nhiêu. Do vậy, Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta lễ kính chư Phật là hữu lý. Quý vị coi thường ai ư? Có thể nói chắc chắn người ấy không phải là Phật, Bồ Tát hóa hiện hay chăng? Quý vị chẳng biết được thân phận người ấy, không cảm thấy hết sức đáng than thở ư? Quý vị nghĩ xem: Mình thấy Phật ngay trước mắt mà bỏ lỡ, vẫn coi thường người ta. Vì thế, tâm mình phải sanh tâm bình đẳng, tâm cung kính, lễ kính chư Phật. Huống chi trong hết thảy chúng sanh quả thật có rất nhiều Phật, Bồ Tát hóa thân
 
 

Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh 

(Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh
 
 

Đây là nói về tâm nguyện. A Di Đà Phậtbốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng đều vì độ sanh. Trong số các vị cổ đại đức, có vị chuyên môn đề xướng Bổn Nguyện Niệm Phật. Cổ nhân đề xướng không sai, con người hiện tại hiểu sai, cho bổn nguyện chỉ là nguyện thứ mười tám. Họ không hiểu. Trung Phong thiền sư giảng rất rõ, trong phần Khai Thị ở phía sau chúng ta sẽ đọc thấy: Bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà là nguyện bậc nhất, là bổn nguyện bậc nhất. Mỗi một nguyện nhất định bao hàm bốn mươi bảy nguyện kia, thiếu một nguyện nào, nguyện của Phật sẽ không viên mãn, sẽ bị thiếu sót. Nguyện nguyện dung nhiếp lẫn nhau, không một nguyện nào không viên mãn trọn đủ bốn mươi tám nguyện. Đấy chính là bổn nguyện của Phật A Di Đà. Như vậy, bổn nguyện niệm Phậthoàn toàn tuân thủ bốn mươi tám nguyện, chứ không phải chỉ chọn lấy một nguyện trong bốn mươi tám nguyện, không phải như vậy. Nếu chỉ chọn lấy một nguyện, bốn mươi bảy nguyện kia không còn nữa nên nguyện này cũng không thành lập. Nhất định phải hiểu rõ đạo lý này, muôn vàn chẳng được hiểu sai. Nếu hiểu sai thì cả đời này tu uổng công, chẳng thể vãng sanh

Sau khi Tịnh Tông Học Hội được thành lập, chúng tôi quán sát kỹ càng căn cơ con người hiện thời, chúng tôi tu chỉnh kinh văn nghi thức để đọc tụng trong công khóa sáng tối, sửa đổi đôi chút. Vì sao? Nhằm thích hợp với con người hiện tại. Khóa tụng do cổ đức biên soạn thích hợp với người thời ấy. Xã hội hiện đại, con người hiện đại tư tưởng, kiến giải, sanh hoạt, hành vi khác với cổ nhân; do vậy, kinh văn để tụng trong hai khóa sáng tối không thể không tu chỉnh. Do đó, kinh văn khóa sáng không tụng chú Lăng Nghiêm, cả mười chú nhỏ cũng không niệm. Quý vị hỏi tại sao ư? Chúng tôi vừa mới nói đó, niệm kinh không bằng niệm chú, niệm chú không bằng niệm Phật. Một câu hồng danh A Di Đà Phật công đức lợi ích thù thắng hơn chú Vãng Sanh, vượt trội hết thảy thần chú, vượt trỗi hết thảy các pháp công đức Đại Thừa. Trong thời gian này, nghiệp chướng, phiền não, tai nạn nghiêm trọng như vậy, dùng các phương pháp khác không thể cứu được, chỉ có sáu chữ hồng danh mới có thể cứu. Lời này không phải do tôi nói đâu nhé, do Liên Trì đại sư nói đấy, do Ngẫu Ích đại sư nói đấy, trước kia, Từ Vân Quán Đảnh pháp sư cũng nói (Ngài sống vào thời Càn Long). Trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh Trực Chỉ (bản chú giải Quán Kinh của ngài Từ Vân gọi là Trực Chỉ hoặc Quán Kinh Trực Chỉ), tôi đọc thấy Ngài nói đến chuyện tiêu nghiệp chướng. Nghiệp chướng nghiêm trọng nhất trong thế giới này, tất cả kinh chú, sám pháp đều không thể tiêu được thì vẫn còn một phương pháp cuối cùngtrì danh niệm Phật có thể tiêu nghiệp chướng. Điều này chứng tỏ công đức trì danh niệm Phật thù thắng khôn sánh, không có pháp môn nào có thể sánh bằng, đúng là “vô đẳng luân”. 

“Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh” là tín nguyện trì danh, Nguyện là bốn mươi tám nguyện. Đấy chính là cốt lõi của Tịnh tông, pháp môn Tịnh tông y cứ trên bốn mươi tám nguyện. Quý vị hãy chú tâm quan sát, một bộ Vô Lượng Thọ kinh giảng những gì vậy? Từ đầu đến cuối là bốn mươi tám nguyện. Một bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh giảng những gì? Chính là giảng Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh. Do đây biết rằng: Vô Lượng Thọ kinh nhằm chú giải, giảng giải bốn mươi tám nguyện, còn Hoa Nghiêmgiảng giải tường tận bốn mươi tám nguyện, chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta phải tin vào bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng chẳng nghi hoặc, tin nhận vâng làm. Biến bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà thành bổn nguyện của bản thân, ta và Phật A Di Đà đồng tâm, đồng nguyện, đồng đức, đồng hạnh, làm sao không vãng sanh cơ chứ? Chí đồng đạo hợp với Phật A Di Đà mà! Câu kệ tiếp theo đây nói về quả đức
 
 

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn 

(Chín phẩm hàm linh lên bến giác) 
 
 

Vì sao có chín phẩm? Vì công phu học tập và thành tích có sai khác, người công phu cao phẩm vị bèn cao, người công phu kém hơn một chút phẩm vị phải kém hơn một chút, đạo lý là như vậy. Trước kia, tôi nghĩ chắc không ít vị đồng học còn nhớ, ở nước Mỹ có một vị Thượng Sư (*) bảo mọi người “đới nghiệp chẳng thể vãng sanh, phải tiêu nghiệp mới được vãng sanh”. Bọn họ kêu gọi đồng học tìm trong Đại Tạng Kinh, tìm không ra chữ “đới nghiệp vãng sanh” bèn khẳng định đới nghiệp chẳng thể vãng sanh, phải tiêu nghiệp mới hòng vãng sanh! Sự việc ấy chấn động toàn thể những vị đồng tu niệm Phật trên toàn thế giới. Có rất nhiều người hoài nghi, làm thế nào đây? Đới nghiệp chẳng thể vãng sanh, bọn mình hết hy vọng rồi, ngay cả những người tu hành đã lâu cũng bị dao động. Nhằm ngay lúc ấy, tôi từ Đài Loan đến Lạc Sam Cơ (Los Angeles). Vừa xuống máy bay, lão cư sĩ Châu Tuyên Đức là một vị lão cư sĩ đức cao vọng trọng, là lão bằng hữu, lão đồng tham của lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, cụ cũng là người niệm Phật, ra đón tôi ở phi trường. Chúng tôi từ phi trường về thành phố, ngồi xe ước chừng hơn một tiếng đồng hồ. Trên xe, cụ hỏi tôi: 

- Thưa pháp sư! Hiện tại có người giảng đới nghiệp chẳng thể vãng sanh, làm như thế nào đây? 

Tôi nghe mấy câu ấy bèn mỉm cười

- Không thể vãng sanh thì thôi! 

Cụ nghe tôi nói vậy rất kinh ngạc, ngây người ra đó, không nói được câu nào. Sau đó, tôi mới giải thích cùng cụ: 

- Nếu đới nghiệp chẳng thể vãng sanh thì Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ trơ trọi có mỗi một mình đức Phật A Di Đà, chứ còn gì nữa! 

Cụ vẫn không hiểu câu nói đó. Tôi thấy vậy, lại nói thêm chút nữa, tôi nói: 

- Quán Âm, Thế ChíĐẳng Giác Bồ Tát, đúng không? 

Cụ đáp: 

- Đúng! 

- Như cụ biết đó: Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phẩm sanh tướng vô minh chưa đoạn, như vậy có tính là đới nghiệp hay không? 

Tôi nói vậy cụ hiểu liền, cười xòa. Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn đới nghiệp, chỉ có Như Lai mới không đới nghiệp, cụ hiểu rõ ngay. Nếu không đới nghiệp thì Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng phải trơ trọi một mình Phật A Di Đà hay sao? Ngoại trừ chư Phật Như Lai, ai không đới nghiệp? Chỉ là đới nghiệp nhiều hay ít khác nhau! Đới nghiệp ít thì phẩm vị cao, đới nghiệp nhiều thì phẩm vị thấp! Tôi nói: “Tra trong Đại Tạng không thấy nói đới nghiệp vãng sanh ư?” Tôi bèn hỏi: 

- Tây Phương Cực Lạc thế giới có nói đến bốn cõi hay không? Có! Có nói chín phẩm hay không? Có! Nếu không đới nghiệp thì bốn cõi chín phẩm ở đâu ra? Chẳng phải bốn cõi chín phẩm đã cho thấy đều là đới nghiệp, đới nghiệp ít phẩm vị cao, đới nghiệp nhiều phẩm vị thấp, hoàn toàn minh bạch! 

Tôi bảo: 

- Cứ chắc thật niệm Phật, chớ nghe lời đồn đãi. Huống chi Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta bốn pháp Tứ Y: “Y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ” (Nương theo pháp không nương theo người, nương vào nghĩa chứ không nương theo văn tự, lời nói). Văn tự là ký hiệu của ngôn ngữ, Phật không nói như thế nhưng hàm nghĩa như thế. Ngài giảng bốn cõi chín phẩm là ngụ ý như vậy, ý nghĩa đới nghiệp vãng sanh là có. Chúng ta y nghĩa không y ngữ, chẳng phải vấn đề đã được giải quyết rồi ư? 

“Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn”: Bốn cõi đều có chín phẩm. Ngày nay nói thật ra, chúng ta đới nghiệp đông nhất, Phàm Thánh Đồng Cư độ. Thường nói là nghiệp tập phiền não, chúng ta đới nghiệp vãng sanhVô Minh phiền não, Trần Sa phiền não, Kiến Tư phiền não đều mang theo hết. Tiểu Thừa A La Hán, Quyền Giáo Bồ Tát đã đoạn Kiếnphiền não, vẫn đới nghiệp: Họ mang theo Vô Minh phiền nãoTrần Sa phiền não. Đó là tứ thánh pháp giới. Sanh về Nhất Chân pháp giới, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm độ, còn đới nghiệp hay không? Vẫn còn, mang theo gì? Mang theo Vô Minh phiền não, bốn mươi mốt phẩm Vô Minh. Vì thế, bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ trong hội Hoa Nghiêm cứ đoạn một phẩm vô minh, phẩm vị bèn nâng cao lên một bậc. Đoạn sạch bốn mươi mốt phẩm Vô Minh, chứng địa vị Diệu GiácPhật Quả trong Viên Giáo. Chứng Diệu Giác là không đới nghiệp. Như vậy, Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn mang theo một phẩm sanh tướng vô minh, há có thể nói là không đới nghiệp ư? 

“Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn”: Hàm là phổ độ. Đúng là bình đẳng phổ độ từ chúng sanh trong địa ngục đến Đẳng Giác Bồ Tát, câu này ngụ ý như thế. Chín phẩm hàm linh lên bờ kia, trên đến Đẳng Giác Bồ Tát, dưới đến chúng sanh địa ngục phổ độ hết. Pháp môn rộng lớn chẳng thể nghĩ bàn. Tám câu kệ này tán thán A Di Đà Phật tu hành chứng quả, phổ độ chúng sanh đến cùng cực; chúng ta không thể không bội phục tổ sư đại đức viết tám câu kệ này quá hay! Mãi cho đến tận giờ không ai dám thay đổi, cũng không ai dám làm bài kệ khác để so sánh, viết quá hay rồi. Tiếp theoniệm Phật hiệu: 
 
 

Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật
 
 

10. Kệ tánphát nguyện 
 
 

Chúng tôi lướt qua câu này, tiếp theobài kệ tụng: 
 
 

Đệ nhất đại nguyện. 

Quán tưởng Di Đà

Tứ thập bát nguyện độ Sa Bà

(Đại nguyện bậc nhất, 

Quán tưởng Di Đà

Bốn mươi tám nguyện độ Sa Bà
 
 

Sau khi chúng ta niệm Phật phải phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Cầu sanh Tịnh Độ chính là đại nguyện bậc nhất, nguyện bậc nhất của ai? Là đại nguyện bậc nhất của hết thảy chư Phật Như Lai. Lạ lùng thay! Chư Phật Như Lai vẫn phải cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới ư? Đúng vậy, không sai! Chư Phật Như Lai là ai? Những ai là chư Phật Như Lai? Chư vị đọc cuốn Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa của cư sĩ Giang Vị Nông sẽ biết ngay. Trong cuốn Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, cư sĩ Giang Vị Nông bảo chúng ta: Kinh Kim Cang thường nói đến chư Phật, chư Phật là ai? Là nói đến các Pháp Thân đại sĩ. Từ Sơ Trụ của Viên Giáo đến Đẳng Giác đều là Phật, Phần Chứng Tức Phật, nghĩa là Phần Chứng Tức Phật trong sáu loại Tức Phật do ngài Thiên Thai Đại Sư đề xướng. Họ là Phật thật sự, không phải giả, nhưng có bốn mươi mốt tầng lớp, nên gọi là chư Phật. Những chư Phật Như Lai, Văn Thù, Phổ Hiền mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc, chư Phật Như Lai cũng niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân cận A Di Đà Phật. Còn nếu nói đến Bồ Tát thì Bồ TátTương Tự Tức Phật, tức là những vị thuộc nơi đâu? Thuộc trong Tứ Thánh pháp giới, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, lục đạo chúng sanh trong bốn thánh pháp giới. 

Như vậy, đệ nhất đại nguyện là đại nguyện của Pháp Thân Như Lai. Pháp Thân Như Lai còn như thế, huống gì chúng ta há có thể chẳng phát đại nguyện ư? Đương nhiên phải phát, quyết định phải phát. Chẳng những phải phát nguyện mà còn sau khi phát nguyện rồi, còn phải “quán tưởng Di Đà, bốn mươi tám nguyện độ Sa Bà”. Cốt lõi của Tịnh Tôngbốn mươi tám nguyện. Bốn mươi tám nguyện mở rộng thành Vô Lượng Thọ Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh triển khai thành Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh triển khai thành Đại Tạng Kinh. Trong tất cả hết thảy Phật pháp, bốn mươi tám nguyệncốt lõi. Nay các đồng học Tịnh tông chúng ta lấy bốn mươi tám nguyện làm kinh văn đọc tụng trong khóa sáng là do đạo lý này. 

Khóa tối chúng tôi chọn từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy, đoạn kinh văn này là pháp sám hối, nội dung là Ngũ Giới Thập Thiện. Chúng ta đem đoạn kinh văn này đối chiếu những khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác trong suốt một ngày qua, Phật dạy chúng ta nên làm những gì chúng ta có làm được hay không? Phật dạy chúng ta không được làm gì, chúng tatuân thủ hay không? Nghiêm túc phản tỉnh. Phật dạy chúng ta những gì phải làm, những gì không được làm thì chúng ta nhất định phải y giáo phụng hành, chân tu. Đó là lý do chọn những đoạn kinh văn ấy làm khóa tụng sáng tối. 
 
 

Cửu phẩm dũng kim ba 

(Chín phẩm trỗi sóng vàng)
 
 

“Dũng kim ba” (vọt lên trên mặt sóng vàng) nghĩa là gì? Vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giớiliên hoa hóa sanh. Hoa sen trong ao bảy báu, đáy ao bảy báu trải cát bằng vàng, cát bằng vàng làm đáy. Vì thế nước trong ao bảy báu chói sắc vàng. Hoa sen mọc lên từ cát vàng, hoa nở trên mặt nước, “cửu phẩm dũng kim ba” (chín phẩm vọt lên trên mặt sóng vàng), câu này tả cảnh. Chúng ta nghĩ xem: Trong ao bảy báu có rất nhiều hoa sen, người niệm Phật liên hoa hóa thân, chín phẩm phổ độ, chỉ cần có duyên là không một ai không được độ. Thế nào là có duyên? Đối với pháp môn tín nguyện trì danh này, quý vị có thể tin, có thể phát nguyện, có thể niệm Phật, quý vị quyết định được vãng sanh. Phẩm vị cao hay thấp như Ngẫu Ích đại sư giảng rất hay: Đều là do công phu trì danh sâu hay cạn. Nếu quý vị hiểu được đạo lý này, mình hy vọng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới phẩm vị cao thì đơn giản là một câu Phật hiệu từ sáng đến tối không gián đoạn. Tay cầm xâu chuỗi, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, trong mười hai thời không gián đoạn, phẩm vị bèn cao. Chúng ta phải nhớ câu nói ấy của đại sư Ngẫu Ích. 

Rốt cuộc Ngẫu Ích đại sư là người như thế nào? Ngài không bộc lộ thân phận, nhưng chúng tôi xét rằng Ngài không phải là hạng tầm thường. Vì sao? Ấn Quang đại sư bộc lộ thân phận, Ngài là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai, Ấn Quang đại sưĐại Thế Chí Bồ Tát. Tổ Ấn Quang tán thán A Di Đà Kinh Yếu Giải như sau: “Dẫu cho cổ Phật tái lai, chú giải kinh A Di Đà cũng không thể hay hơn được nữa!” Vậy thì Ngẫu Ích đại sư là hạng người nào? Chúng tôi cho rằng: Nếu khôngA Di Đà Phật tái lai thì chắc chắn cũng là Quán Thế Âm Bồ Tát tái lai. Nếu không, há được Đại Thế Chí Bồ Tát tán thán như thế? Ngài không bộc lộ thân phận. Quả thật A Di Đà Kinh Yếu Giải rất hay, người hiện tại năm vóc sát đất, đọc xong không ai không động tâm. Động tâm gì? Cầu nguyện vãng sanh! Có sức nhiếp thọ lớn lao như thế, “cửu phẩm dũng kim ba”. 
 
 

Bảo võng giao la 

(Lưới báu chen bày) 
 
 

Cũng nhằm tả cảnh, Tây Phương Cực Lạc thế giới có bảy tầng lưới báu, bảy tầng hàng cây. “Bảy” biểu thị viên mãn, chứ không phải là con số. 
 
 

Độ vong linh xuất ái hà

(Độ vong linh vượt sông ái) 
 
 

Không chỉ độ vong linh mà còn là độ chính ta. Quý vị thật sự hiểu rõ, thật sự biết Ái là phiền não, tham ái là tham - sân - si - mạn. “Xuất ái hà” là vĩnh viễn thoát phiền não, vĩnh viễn lìa luân hồi. Luân hồi là nói về quả, phiền não là luận về nhân. Cái nhân phiền não biến hiện quả báo luân hồi lục đạo. Đoạn được cái nhân phiền não thì quả báo tự nhiên không còn nữa. Chính là như đại sư Vĩnh Gia nói: “Giác hậu không không vô đại thiên” (Giác rồi tam giới rỗng toang hoang). Bài tán tụng này chủ yếu là phát nguyện, niệm Phật xong phải phát nguyện, phải cầu chứng quả. Tiếp theo là: 
 
 

Nam mô Liên Trì Hội Phật Bồ Tát Ma Ha Tát 
 
 

Liên Trì Hội Phật Bồ Tát Ma Ha Tát là nói đến ao sen bảy báu trong Cực Lạc thế giới. Ao sen bảy báu nơi thế giới Cực Lạc rất nhiều, chỗ nào cũng có. Ao sen có lớn, có nhỏ. Rốt cuộc quý vị sẽ sanh vào ao nào? Quý vị có cảm ứng với cái ao nào? Tôi nghĩ rằng cảm ứng ao sen lớn hay nhỏ nhất định do tâm lượng, có mối quan hệ với tâm lượng. Tâm lượng chúng ta nhỏ sẽ sanh về ao sen nhỏ trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Vì thế không thể không mở rộng tâm lượng. Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới thì quý vị sẽ sanh về ao sen lớn. “Hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh”, Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng không ngoài lệ ấy. A! Nay đã hết giờ rồi! 
 
 

*

11. Khai thị 
 
 

Chư vị đồng học! 

Hãy xem tiếp bài kệ sau đây trong phần khai thị của Trung Phong thiền sư. Trong bài kệ này, hai câu đầu là câu hỏi, hai câu sau là lời đáp: 
 
 

Chư khổ tận tùng tham dục khởi, 

Bất tri tham dục khởi ư hà? 

Nhân vong tự tánh Di Đà Phật, 

Dị niệm phân trì tổng thị ma! 

(Các khổ đều từ tham dục khởi, 

Từ đâu dục khởi biết chăng là? 

Do quên tự tánh Di Đà Phật, 

Dị niệm lăng xăng trọn hóa ma) 
 
 

Hai mươi tám chữ này phô bày trọn vẹn Thật Tướng của chúng sanh trong lục đạo. Chúng ta niệm đi niệm lại, nghĩ tới nghĩ lui, nhất định có chỗ ngộ. “Chư khổ” có thể hiểu là hết thảy các khổ trong thế gian, do đâu mà có? Do “tham dục”. Chữ “dục” chỉ tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Chúng tôi thường gọi là danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, khởi tâm tham nơi những thứ đó, tham lam không chán. Do tham nên tạo nghiệp, do nghiệp bèn thọ báo, lục đạo biến hiện ra như thế đó, vốn nó chẳng có. 

Nếu bây giờ truy vấn: Tham dục do đâu mà có? “Từ đâu dục khởi biết chăng là? ” Con người vì sao có tâm tham? Vì sao lại có dục vọng? Chúng ta hiểu trong chân tâm bản tánh không có những thứ ấy. Bởi thế, người giác ngộ, người hiểu rõ bảo chúng ta: Những thứ ấy không thật, chúng là hư vọng. Kinh Kim Cang giảng rất hay: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Vốn không có, vì sao hiện thành có? Hiện tại những thứ ấy trói buộc thân ta, ta không có cách gì gỡ thoát, không cách chi vượt khỏi luân hồi lục đạo, chẳng thể thoát khỏi ba chướng khổ báo. Tiếp đó, Trung Phong thiền sư vì chúng ta chỉ ra: “Do quên tự tánh Di Đà Phật”. Di Đà Phật là tự tánh, tự tánh Di Đà Phật. Tự mình vốn đã là [Phật]. Danh hiệu A Di Đà Phật có thể dịch được, không phải không dịch được. A là Vô, Di Đà dịch là Lượng, Phật là Giác. Chúng ta nghĩ xem: Tự tánh chẳng phải là vô lượng giác hay sao? Vô Lượng GiácA Di Đà Phật, tự tánh vô lượng giác, vô lượng trí huệ, vô lượng đức năng, vô lượng tướng hảo; hết thảy vô lượng một cách vô lượng. Tự tánh vốn sẵn đầy đủ, chẳng thiếu khuyết mảy may. Quên mất tự tánh, mê mất tự tánh nên mới sanh khởi vọng tưởng, sanh khởi phân biệt, sanh khởi chấp trước. Do vậy, vọng tưởng, phân biệt, chấp trướcphiền não tập khí, từ đâu mà có? Từ mê mất tự tánh

Đại sư nói “do quên tự tánh” đã hay rồi, sao còn phải thêm “Di Đà Phật”? Dụng ý rất sâu, câu này nói theo lối song quan. Quý vị quên mất tự tánh vô lượng giác, nay khiến quý vị niệm A Di Đà Phật với ngụ ý gì? Niệm cho vô lượng giác nơi tự tánh bật ra, đó gọi là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Vì thế, Ngài không dùng danh hiệu Phật, Bồ Tát nào khác mà dùng [danh hiệu] A Di Đà Phật. Dùng danh hiệu A Di Đà Phật vì tất cả danh hiệu Phật, Bồ Tát đều bao gồm trong ấy, đó là tổng danh hiệu. Chúng tôi thường nói: Danh hiệu ấy là tên gốc của tự tánh, hết thảy các danh hiệu khác là biệt danh, biệt hiệu của tự tánh, còn đây là bổn danh (tên chính, tên gốc). 

Mê mất tự tánh, “dị niệm” bèn sanh khởi, dị niệm là vọng tưởng, “phân trì” là phân biệt, chấp trước, đó là ma! Trong kinh Bát Đại Nhân Giác, đức Thế Tôn bảo có bốn loại ma: Thứ nhất là Ngũ Ấm Ma; Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là Ngũ Ấm Ma. Vì sao Ngũ Ấm biến thành Ma? Vì quên mất tự tánh Di Đà Phật, nên Ngũ Ấm biến thành Ma. Nếu quả thật quý vị giác ngộ, tìm được A Di Đà nơi tự tánh, thì Ngũ Ấm biến thành Phật. Đấy chẳng phải là y báo chuyển theo chánh báo đó ư? Chẳng phải là như trong kinh, đức Phật thường nói “hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh” đó ư? Tùy theo ý niệm của quý vị như thế nào, ngoại cảnh sẽ chuyển theo ý niệm ấy. Phần sau lại còn khai thị tường tận hơn nữa. 

Như vậy, phải biết Ma do đâu có, Ma là cái niệm vọng tưởng, ý niệm của quý vị không tương ứng với tự tánh; ấy là Ma. Yêu ma, quỷ quái từ đó mà sanh, tự tánh của nó cũng là A Di Đà Phật. Đúng như Ngẫu Ích đại sư đã nói: “Cảnh duyên không xấu - tốt, xấu - tốt từ tâm khởi”. Phật là tốt, ma là xấu, cổ đức thường nói: “Không Phật cũng không ma”, chánh xác! Lại xem phần khai thị tiếp theo. Đoạn khai thị này khá dài, cũng nên chia thành vài đoạn. Chúng tôi đọc từng đoạn một để học tập. 
 
 

Giáo trung đạo: “Sanh nhi vô sanh, Pháp Tánh trạm nhiên, vô sanh nhi sanh, nghiệp quả nghiễm nhiên”. 

(Trong giáo pháp có nói: “Sanh nhưng vô sanh, Pháp Tánh lặng trong; vô sanh mà sanh, nghiệp quả đành rành”) 
 
 

Đây là đoạn cương lãnh của phần khai thị thuyết minh đạo lý cho chúng ta. “Giáo trung đạo”: Giáo là lời dạy dỗ của đức Thế Tôn, Thế Tôn răn dạy có nói như thế đó, “đạo” nghĩa là nói. Thông thường cũng có thể hiểu Giáo là kinh luận, “giáo trung đạo” là kinh luận Phật giáo có nói như thế này. Hai cách hiểu này tương đồng, nhưng chúng tôi dùng cách thứ nhất ngõ hầu con người hiện tại dễ hiểu hơn: Trong khi giảng dạy, đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã có nói như thế đó. Giải thích như vậy chắc mọi người đều hiểu được. 

“Sanh nhi vô sanh, Pháp Tánh trạm nhiên”, vì sao nói “sanh nhi vô sanh”? Sanh là hiện tướng, sanh tướng khởi lên, tức là hiện tướng sanh khởi. Có những kẻ chấp tướng, mê tướng, như thế là lầm lạc, không hiểu rõ chân tướng sự thật. Chân tướng sự thật là gì? Chân tướngvô sanh. Chân tướng là sanh nhưng không sanh. Đạo lý này sâu xa lắm. Nếu quý vị biết sanh nhưng vô sanh, chẳng chấp tướng, chẳng sanh khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì quý vị đã trụ trong cảnh giới Phật. Nói “sanh nhưng vô sanh”, biết “Pháp Tánh trạm nhiên”. “Trạm nhiên” là thanh tịnh đến tột bậc. Giống như nước, nước không có tí xíu sóng gợn nào thì gọi là “trạm”; không có chút nhiễm ô nào, nước giống như một tấm gương, nhìn thấu tận đáy, sạch sẽ, chẳng nhiễm mảy trần. “Trạm nhiên” là như vậy đó. Pháp Tánh trạm nhiên: Pháp Tánh vĩnh viễn trạm nhiên, Pháp Tánh bất sanh, bất diệt, Pháp Tánh không đến, không đi, Pháp Tánh không nhơ, không sạch, Pháp Tánh chẳng phải có, chẳng phải không. Vì sao là chẳng phải có? Vì Pháp Tánh trạm nhiên. Vì sao là chẳng phải không? Vì nó có thể hiện tướng. Giống như nước sạch, nước không sóng mòi, nó hiện tướng; sơn hà đại địa bên ngoài hiện bóng trong nước, nó có tướng. Tuy có tướng, nhưng chẳng thể nắm bắt được tướng ấy, nên tướng ấy chẳng liên quan gì đến cái Có. Nó vốn không có tướng, cảnh giới bên ngoài chiếu vào nó, cho nên nói là “sanh nhưng vô sanh”. Dùng nước để tỷ dụ, quý vị hãy quan sát kỹ. Hoặc dùng tấm gương [làm tỷ dụ] lại càng dễ thấy hơn. Gương chiếu hình ảnh bên ngoài, tướng trong gương là sanh nhưng vô sanh. Sanh vì trong ấy có tướng, vô sanhquả thật không có tướng. 

Đây là nói về chân tâm của chúng ta, luận về bản tánh, Pháp Tánh. Trong bản tánh quả thật không có tướng, nhưng nó có thể hiện tướng. Chuyện này rất lạ lùng, [Pháp Tánh] không giống như tấm gương, không cách nào tỷ dụ được. Gương hay nước là bên ngoài có tướng soi bóng vào chúng. Còn Pháp Tánh hiện được tướng, nó vốn không có. Không có mà lại có thể hiện tướng, hiện tướng nhưng không phải là cái nó vốn có, đấy mới là diệu. Không dễ hiểu đâu, quả thật rất khó hiểu. Hiện thời, các nhà khoa học đã phát hiện, đã nói: “Có do đâu mà có?” Có từ Không mà sanh ra! Không là Pháp Tánh, Pháp Tánh vốn không có, nó có thể hiện tướng, có thể sanh ra Có, Có lại quy về Không, vẫn hồi quy nơi Không. Vô là Pháp Tánh, Hữu là pháp tướng

Pháp tướng là gì thế? Pháp tướnghiện tướng, hiện những tướng nào? Hư không, pháp giới! Trong kinh điển Đại Thừa, đức Phật dạy chúng ta: Những tướng được hiện là Cực Lạc thế giới, Hoa Tạng thế giới do Pháp Tánh hiện ra, y báo, chánh báo trang nghiêm của mười pháp giới cũng do nó hiện, kỳ thật đều là Nhất Chân pháp giới nhưng đã bị biến dạng đi. Cái gì có khả năng làm biến dạng nó? Chính là Thức! Thức là phân biệt, chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước khiến cho những tướng ấy bị biến dạng. Có vọng tưởng nhưng không phân biệt, chấp trước thì mức độ biến dạng ít, Nhất Chân pháp giới bị biến dạng thành tứ pháp giới. Nếu lại còn thêm phân biệt, chấp trước thì mức độ biến dạng rất lớn, biến thành lục đạo luân hồi. Bởi thế, lục đạo luân hồitứ thánh pháp giới nguyên chỉ là Nhất Chân pháp giới. Điều đó cho thấy: Nếu quý vị lìa được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì ngay lập tức cái tướng biến dạng ấy sẽ khôi phục đúng đắn, thế giới được khôi phục đúng đắn sẽ chính là Cực Lạc, chính là Hoa Tạng. Thế giới này chỉ do tâm hiện, biến hiện ra, thời gian hiện hữu là bao lâu? Không có thời gian. Thưa cùng quý vị, không có thời gian mà cũng không có không gian. Thời gian lẫn không gian hoàn toàn là giả, không thật. Thời giankhông gian từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà sanh. Pháp Tánh hiện tướngNhất Chân, quý vị phải chú tâm thể hội điều này, nó rất khó hiểu. Vì sao? Đây chẳng phải là chuyện thường biết, kiến thức thông thường không thể lãnh hội nổi. Khoa học không giải thích được, triết học cũng không thể giải thích. Nhà Phật nói “nhất thời đốn hiện” (nhanh chóng xuất hiện trong cùng một lúc), nay khoa học hiện tại đã biết nói giống như vậy. Biết vũ trụ vốn nhất thời đốn hiện. Gần đây khoa học nói “trong Không sanh ra Có, nhất thời đốn hiện”. Thời gian hiện hết sức ngắn, ngắn đến mức độ nào thì chúng ta không cách gì tưởng tượng được. Chúng ta nói đến sát-na ư? Sát-na còn là quá dài! 

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy: “Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (sanh ra từ nơi đâu, sẽ diệt mất ngay nơi đó). Hai câu trên hình dung chân tướng của sự “nhất thời đốn hiện”. Thế nhưng nhất thời đốn hiện không ngừng, cái nhất thời đốn hiện này vừa diệt thì cái thứ hai lại nhất thời đốn hiện. Cái nhất thời đốn hiện thứ hai vừa diệt, cái thứ ba lại nhất thời đốn hiện. Thế giới được chúng ta cảm nhận trong hiện tại chỉ là tướng nhất thời đốn hiện liên tục, từng cái tiếp nối nhau, tướng tương tục (tiếp nối nhau), chuyện là như vậy, quyết định không có hai tướng hoàn toàn tương đồng. Đến khi nào mới tương đồng? Phật Phật đạo đồng. Đến khi chứng được Phật quả rốt ráo, cũng có nghĩa là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều đoạn sạch, lúc đó, những tướng được hiện sẽ tương đồng. Tướng ấy vẫn là tướng tương tục y như cũ, nhưng cái tướng tương tục ấy tương đồng, không biến đổi. Phải là Quả Địa Như Lai mới thấy được điều ấy, Đẳng Giác không thấy được, vì sao? Đẳng Giác Bồ Tát còn một phẩm sanh tướng vô minh chưa đoạn, vẫn còn sai khác cảnh giới Phật đôi chút, không hoàn toàn tương đồng. Câu nói này (tức câu “sanh nhưng vô sanh, Pháp Tánh trạm nhiên”) đã nói toạc Thật Tướng của các pháp và chân tướng nhân sanh vũ trụ

“Vô sanh nhi sanh, nghiệp quả nghiễm nhiên”: Thuyết minh vì sao trong Không có thể sanh ra Có. Câu trước ngụ ý Sanh là có, Vô Sanh là không, trong Không sanh ra Có. Phần trên đã giảng trong Có vì sao là Không. Nói như thế rồi, bây giờ lại nhìn ngược lại, tức là từ cảnh giới Như Lai nhìn ngược vào cảnh giới đã bị biến dạng: “Vô sanh mà sanh”. Khoa học gia hiện thời đã phát hiện vô sanh nhưng sanh, nhưng câu trên đây tôi vẫn chưa nghe nói tới. “Nghiệp quả nghiễm nhiên”: Mê hoặc tạo nghiệp, thọ báo, trong những phần trên tôi đã nói đến tam chướng, trong phần Vãng Sanh Chú có nói: Phiền Não Chướng, Nghiệp Chướng, Báo Chướng. “Vô sanh mà sanh” là nói đến cái bị biến dạng. Thật tướng của các pháp bị biến dạng như thế nào? Chính là nghiệp quả đành rành. 

Câu “nghiệp quả nghiễm nhiên” nói cách khác là nhân quả chẳng không! “Vạn pháp đều không, nhân quả chẳng không!” Nghiệp báo nghiễm nhiênnhân quả chẳng không. Vì sao lại nghiễm nhiên? Vì sao nhân quả chẳng không? Nhân biến thành quả, quả lại biến thành nhân. Nhân quả biến chuyển chẳng không, nhân quả tuần hoàn chẳng không, nhân quả tiếp nối chẳng không. Đó là chân tướng sự thật. Đạo lý này chung cho cả pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian. Phật pháp chẳng lìa nhân quả. Thanh Lương đại sư phán định Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinhngũ châu nhân quả (năm tầng lớp nhân quả), kinh Diệu Pháp Liên Hoanhất thừa nhân quả. Bỏ đi nhân quả, Phật cũng không còn pháp gì để nói nữa. Do vậy, pháp thế gianxuất thế gian chẳng lìa nhân quả

Do đây biết rằng: Chẳng được tạo nhân ác, quyết định chẳng được tổn hại hết thảy chúng sanh. Chẳng những không được tổn hại, mà ý niệm tổn hại cũng chẳng được có. Khởi lên ý niệm ấy tức là tạo một chủng tử ác trong A Lại Da Thức. Như vậy, chúng ta tu hành chính là tu điều gì? Quan trọng nhất là ác niệm không sanh. Tiêu chuẩn thiện ác đối với người mới học Phật giáoThập Thiện Nghiệp đạo. Nói cách khác, giết, trộm, dâm, dối, nói đôi chiều, ác khẩu, nói thêu dệt, tham, sân, si là mười ác nghiệp. Không có những ý niệm ấy, đương nhiên chẳng cần phải nói đến hành vi. Đó là thật sự tu hành, đó là thật sự dụng công. Lục căn tiếp xúc cảnh giới lục trần bên ngoài vẫn có ý niệm là trật rồi! Quý vị nói thân tôi không tạo, nhưng ý quý vị đã tạo! Công cụ để tạo nghiệp có ba thứ (ba loại lớn): thân - ngữ - ý. Thân không tạo, miệng không tạo, nhưng ý tạo. Quý vị động niệm thì vẫn chẳng thể thoát khỏi luân hồi lục đạo

Vì vậy, nếu ba nghiệp thanh tịnh, trong ba nghiệp quan trọng nhất là ý nghiệp. Chỉ cần nơi ý nghiệp không tạo ác thì thân miệng chắc chắn không tạo ác. Thân và Miệng gồm bảy chi, thân ba, miệng bốn, chịu sự chỉ huy của Ý, tiếp nhận sự chỉ huy của Ý, vâng lệnh tạo tác. Ý không có thì làm sao Thân và Miệng tạo tác được? Nghiệp quả nghiễm nhiên, chúng ta phải thời thời khắc khắc cảnh tỉnh cao độ nơi chỗ này. Trong phần khai thị tiếp theo, Trung Phong thiềngiải thích bốn câu cương lãnh nói trên: 
 
 

Sở vị sanh giả. 

(Như sanh vừa nói đó) 
 
 

Thế nào là Sanh? Thế nào là Vô Sanh? Ở đây, đại sư giải thích cho chúng ta biết “cái Sanh vừa nói đến đó”: 
 
 

Tức chúng sanh sanh diệt chi Tích dã 

(Chính là dấu vết sanh diệt của chúng sanh
 
 

“Tích” là huyễn tướng, là dấu vết, chúng ta thường gọi là hiện tượng. “Chúng sanh sanh diệt chi tích dã”. Hai chữ “chúng sanh” là mấu chốt. Có rất nhiều người hễ thấy chữ “chúng sanh” bèn nghĩ ngay đến con người, không sai, con người là do các duyên hòa hợp sanh ra; nhưng chúng ta thấy ngoài con người ra, còn có rất nhiều động vật, động vật cũng do các duyên hòa hợp mà sanh. Ngoài động vật còn có thực vật, vẫn là do các duyên hòa hợp mà sanh. Ngoài thực vật còn có khoáng vật, sơn hà đại địa, bùn, cát, đất, đá. Tây Phương Cực Lạc thế giớibảy báu, vô lượng trân bảo, thứ nào cũng do các duyên hòa hợp mà sanh. Thậm chí hư không vẫn là do các duyên hòa hợp mà sanh. Không có duyên, hư không chẳng xuất hiện. Các nhà khoa học đương đại phát hiện không gian mười phương lẫn thời gian ba đời đều là giả, không thật. Trong một tình huống nào đó, không gian lẫn thời gian không tồn tại, chúng có thể bằng zero. Không gian có xa - gần, bằng với zero là không còn xa - gần; thời gianquá khứ, hiện tại, vị lai; bằng với zero thì không còn quá khứ, hiện tại, vị lai. Các duyên hòa hợp mà sanh, cho nên ý nghĩa chữ “chúng sanh” hết sức rộng lớn, bao gồm cả hư không pháp giới, hữu tình, vô tình, không có một hiện tượng nào chẳng phải do các duyên hòa hợp sanh ra. Nói cách khác, sáu cảnh mà sáu căn tiếp xúc đều gọi là chúng sanh. Những hiện tượng ấy đều có sanh diệt, chúng tôi vừa mới nói đó thôi, “sanh ra từ chỗ nào, sẽ diệt mất ngay nơi đó”. 

Chỉ có đức Phật biết “sanh ra từ chỗ nào, sẽ diệt mất ngay nơi đó”, chắc chắn phàm phu chúng ta không thể biết được; bởi lẽ tốc độ ấy quá nhanh, chúng ta không có cách gì tưởng tượng được, không có cách nào diễn tả được! Thế giới theo cảm nhận của chúng ta chính là những hiện tượng mang tướng tiếp nối; nhưng trong tướng tiếp nối chúng ta cũng thấy có sanh diệt, nhưng sự sanh diệt ấy không phải là sanh diệt của Pháp Tánh, mà là sự sanh diệt thuộc về phân biệt, vọng tưởng, chấp trước của chúng ta. Hết thảy hoàn cảnh, vạn sự vạn vật trong hoàn cảnh, thuận theo vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chúng tasanh diệt. Chúng có sự đáp trả, có phản xạ, chúng ta chỉ có thể nhận biết được chuyện này; còn những chuyện sâu hơn, rộng hơn, kín nhiệm hơn chúng ta hoàn toàn không biết. Nay chúng ta học Phật biết được đôi chút là do từ kinh luận Đại Thừa mà thấy, nếu chư Phật, Bồ Tát không chỉ dạy chúng ta, làm sao chúng ta nghĩ ra được? Đó là “chúng sanh sanh diệt chi tích”. 
 
 

Vị vô sanh giả.

(Còn vô sanh thì )
 
 

Thế nào là vô sanh? 
 
 

Tức chư Phật tịch diệt chi bổn dã. 

(Chính là tâm tánh tịch diệt của chư Phật vậy) (**)
 
 

Sở chứng của chư Phật Như Laiquả địa rốt ráo. “Tịch diệt chi bổn” nghĩa là gì? Bổn là Phật tánh, là tâm tánh, tâm tánh thanh tịnh tịch diệt, nhưng cái thanh tịnh tịch diệt ấy lại có thể sanh hiện tướng. Dù sanh hiện tướng nhưng không mất bản tánh. Cũng có thể nói: Hiện tướngbản tánh là một, Tướng có, Thể không! Chánh nhân là Thể không có, Thể là không tịch, như vậy tướng ấy ngăn ngại hay không ngăn ngại? Không ngăn ngại! Lý Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. Chướng ngại do đâu mà có? Chướng ngại từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà sanh. Trong tự tánh khôngvọng tưởng, phân biệt, chấp trước, nên không có chướng ngại. Pháp giớichướng ngại chính là điều chư Phật chứng đắc. Trong pháp giớichướng ngại không có khổ, hết thảy khổ trọn chẳng thể có được. Trong chướng ngại có khổ nên mười pháp giới có khổ, trong Nhất Chân pháp giới không có khổ. 
 
 

Pháp Tánh trạm nhiên giả, linh minh trạm tịch, huyền diệu chân thường, cá cá bất vô, nhân nhân bổn cụ

(Pháp Tánh trạm nhiên là linh minh trạm tịch, huyền diệu chân thường, không gì không có, ai nấy sẵn đủ) 
 
 

Đoạn này giảng thật hay! Đoạn này vô cùng khó hiểu. “Pháp Tánh” là Phật tánh, là chân tâm của chúng ta, là bản tánh của chúng ta. Chúng ta phải hiểu “trạm nhiên” là gì? Là thuần tịnh! Chỉ có thể nói như thế này để hình dung: Không nhiễm ô mảy may, không dao động mảy may, bất sanh, bất diệt. Trung Quán Luận nói đến “bát bất”: bất lai, bất khứ, bất thường, bất đoạn, bất cấu, bất tịnh (không đến, không đi, không thường còn, không đoạn diệt, không dơ, không sạch). Đại Thừa Phật pháp đem hết thảy những hình dung từ ấy gộp thành Bất Nhị pháp môn. Bất Nhị có nghĩa là không có gì đối đãi, phàm phu chúng ta nói là “tương đối”. Trong Phật pháp không có tương đối. Không những trong Pháp Tánh không có tương đối mà trong Phật pháp từ trước đến nay không khởi tâm động niệm, từ trước đến nay không phân biệt, chấp trước. Trong hội Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật nói “thanh tịnh bổn nhiên”, “diệu minh chân tâm”, nó vốn sẵn là như vậy. 

“Linh minh trạm tịch” là tánh đức, nó vốn sẵn là như vậy; không những “linh” mà còn “minh” nữa! Do đó, trong phần khai thị của thời thứ hai, Trung Phong thiền sư nói đến Linh Tri Tâm. Linh Tri Tâm là Pháp Tánh, là Chân Như, là Bản Tánh, là Bản Giác, còn gọi là Đệ Nhất Nghĩa. Một sự việc mà Phật gọi bằng mười mấy danh từ, vì sao lại nói như vậy? Một mặt nhằm hiển thị đức năng của tâm tánhvô lượng vô biên, mặt khác là nhằm dạy chúng ta chớ nên chấp trước, biết những danh từ ấy đều nhằm chỉ một sự việc. Vì sao? Lìa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mới tự chứng được. Nếu quý vị vẫn còn vọng tưởng, phân biệt, chấp trước sẽ vĩnh viễn chẳng thể chứng đắc. Nói cách khác, quý vị vĩnh viễn mê hoặc, vĩnh viễn bất giác. Pháp Tánh linh minh là như kinh Đại Thừa thường nói: Nó có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết, thấy - nghe - hay - biết; “linh minh” là nói đến sự thấy - nghe - hay - biết ấy. Nó vốn sẵn có năng lực đó. Như hiện thời, tiến sĩ Giang Bản Thắng làm thí nghiệm kết tinh trên nước, ông phát hiện nước có khả năng thấy, nghe, hiểu được ý tưởng con người. Con ngườithiện ý đối với nước hoặc là có ác ý đối với nó, nó có thể cảm nhận, chứng tỏ nước có thấy - nghe - hay - biết. Nước thuộc về khoáng vật, do khinh khí (hydrogene) và dưỡng khí (oxygene) hợp thành. Nếu quý vị tách nước ra, tách thành khinh khí và dưỡng khí thì nước không còn nữa. Vậy mà thưa cùng quý vị, nguyên tử khinh khí và dưỡng khí vẫn đầy đủ [khả năng] thấy - nghe - hay - biết. Điện tử và hạch tử (nuclear) hợp thành nguyên tử. Mỗi một điện tử và nguyên tử cũng có khả năng thấy - nghe - hay - biết. Nếu lại tách ra nữa, chia chẻ thành lạp tử (lepton) thì mỗi một lạp tử vẫn thấy - nghe - hay - biết. Vì sao? Pháp Tánh trạm nhiên mà! 

Như vậy, toàn thể vũ trụ, kể cả hư không, hết thảy chúng sanh trong hư không thế giới, bản thể của nó là Pháp Tánh. Bản năng của Pháp Tánh nhất định không bị mất đi, bản năng của Pháp Tánh là linh minh giác tri, tức là thấy - nghe - hay - biết. Như vậy, chúng ta có thể biết là hết thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều thấy - nghe - hay - biết chứ không riêng gì nước. Hiện thời, rất nhiều đồng học làm thí nghiệm, hoa quả, cây cối cũng thấy - nghe - hay - biết. Đối xử tốt với chúng thì lá đặc biệt xanh, hoa đặc biệt thắm, đặc biệt thơm. Nó đáp đền mình. Đối với nó bất thiện, nó gục đầu ủ héo úa, hết còn thơm tho, vẻ rực rỡ cũng mất tiêu. Chúng hiểu thiện ý của con người, có thấy - nghe - hay - biết, chúng có Pháp Tánh. Vì sao lại có hiện tượng ấy? Trong kinh đức Phật giải đáp rất hay: “Pháp nhĩ như thị”, nghĩa là chúng vốn sẵn như vậy. Nay chúng ta mới thâm nhập kinh tạng một chút bèn hiểu rõ. Bởi lẽ Thể của chúng là Pháp Tánh, Pháp Tánh vốn sẵn có năng lực ấy, năng lực ấy nhất định chẳng bị mất đi; năng lực ấy trọn khắp hư không pháp giới. Vì thế nói là nó bất sanh bất diệt, không đến, không đi, không tăng, không giảm, “linh minh trạm tịch”. 

“Huyền diệu chân thường”: Thật sự không có cách chi để tưởng tượng được nổi thì đó là “huyền diệu”. Cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn là Chân. Thường là vĩnh hằng, không giả, bất sanh bất diệt, vĩnh viễn tồn tại. Đó là chân tánh, chân tâm, là bản lai diện mục của chúng ta. Tông Môn thường nói: “Bản lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra”, bản lai diện mụcPháp Tánh

Hai câu kế đó nói tuyệt hay, “không gì không có, ai nấy sẵn đủ”. “Ai nấy sẵn đủ” ý nói chúng ta trong nhân đạo, không một ai chẳng có đủ. “Không gì không có” ý nói toàn thể vũ trụ, bất luận hư không, bất luận pháp giới, bất luận cõi nước – nay chúng ta gọi cõi nước là tinh cầu, là tinh hệ, đó là cái lớn; cái nhỏ là vi trần. Đúng như kinh Lăng Nghiêm đã nói: “Các pháp được sanh”, chữ “các pháp” chỉ hết thảy pháp trong vũ trụ, hư không, pháp giới, cõi nước, chúng sanh, hết thảy pháp, “chỉ do tâm hiện”, tâm ở đây là Pháp Tánh, do tâm tánh biến hiện. Phật lại nói tiếp: “Hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần, do tâm mà thành Thể”. Tâm ấy là Pháp Tánh, Thể của nó là gì? Thể là Pháp Tánh. Pháp Tánh vốn sẵn đầy đủ linh tri, há có thứ gì không linh? Há có thứ gì không tri (biết)? Tri chính là giác! Như vậy, hết thảy pháp đều có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết. 

Người chết đi, mới chết chưa lâu, thần thức vẫn có thể thấy - nghe - hay - biết. Vì sao? Thần thức do Pháp Tánh biến hiện ra. Dù thần thức tách ra, thân thể không hít thở, tất cả mọi bộ phận đều ngưng vận hành, nhưng mỗi tế bào trên thân vẫn còn thấy - nghe - hay - biết, vì sao? Mỗi tế bào là một vật thể, vật thể ấy lấy tâm làm Thể. Ta dùng thiện ý đối đãi chúng, chúng sẽ đáp ứng tốt lành. Dùng ác ý đối với chúng, chúng sẽ đáp ứng xấu ác. Do vậy, chúng ta dùng thiện ý đối với người mất, chúc phước cho người ấy, người ấy sanh trong ba đường lành; dùng ác ý đối với người ấy, người ấy bèn phản ứng ác, sanh vào ba đường ác

Bởi thế, người chết qua đời, chúng ta thường nói là “tắt thở”, trong tám tiếng đồng hồ chẳng được đụng chạm người ấy. Vì sao? Đụng vào người ấy, người ấy vẫn còn cảm giác, cảm giác đau khổ. Đau khổ bèn sanh tâm sân hận. Đó là một tin tức không tốt, người ấy cũng có phản ứng không tốt, người ấy chịu quả báo trong tam đồ. Vì thế, trong tám tiếng, tốt nhất là mười hai tiếng, chớ có đụng chạm đến, ngay cả giường cũng đừng đụng vào. Chúng ta ở bên cạnh niệm Phật giúp cho người ấy, trợ niệm. Một câu A Di Đà Phật như mọi người đều biết là tin tức tốt lành nhất, là tin tức thù thắng nhất. Nếu người chết hoàn toàn tiếp nhận tin tức ấy, phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, người ấy thành công rồi! Nếu người ấy phiền não tập khí quá nặng, dẫu mọi người trợ niệm, người ấy vẫn không có ý niệm vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tuy vẫn không có ý niệm như vậy, nhưng không bị đọa ba ác đạo. Đạo lý là đây, chúng ta không thể không biết. “Không gì không có, ai nấy sẵn có”. A! Bữa nay hết giờ rồi, chúng tôi giảng đến đây thôi!

Trung Phong Tam Thời
Hệ Niệm Pháp Sự
Toàn Tập Giảng Ký,
Phần 14 hết


(1) Tiên Đà Bà (Sandhava): Vốn là một loại muối sản xuất ở Ấn Độ, sau được dùng để chỉ bốn sản vật nổi tiếng là: Muối, ly, nước và ngựa. Trong kinh Niết Bàn, từ ngữ này dùng để tỷ dụ mật ngữ của Như Lai sâu xa khó hiểu. Từ đây, Tông môntừ ngữ “tiên đà khách” để chỉ người học có khả năng lãnh hội mau chóng pháp cơ nơi thầy, tổ (theo Huệ Quang tự điển). 
(2) Hương tượng (Gandhahastin): Theo luận Đại Tỳ Bà Sa, hương tượng là con voi đực trong thời kỳ động dục, nách nó tỏa mùi thơm hăng nồng nên gọi là hương tượng; sức nó mạnh bằng mười con voi thường. Trong kinh Niết Bàntừ ngữ “hương tượng độ hà”: Thỏ, ngựa, hương tượng cùng vượt sông. Thỏ qua sông thì nổi, ngựa qua sông ngập nửa thân, còn hương tượng chân đạp đến tận đáy sông. Kinh luận dùng hình ảnh này để tỷ dụ sự chứng đắc sâu cạn khi nghe giáo pháp.
(3) Đây chỉ là chuyện quan tâm của người Tàu, người Việt chúng ta luôn đọc là A. 
(4) Cám: màu xanh biếc có pha ánh hồng. Từ điển Từ Hải giảng: “Thâm thanh lý thấu hồng đích nhất chủng nhan sắc, tục xưng thiên thanh” (Một loại màu xanh đậm ánh sắc đỏ, thường gọi là màu thiên thanh). 
(*) Tức ông Trần Kiến Dân, thường được biết đến dưới danh xưng Yogi Chen, thầy của ông Lâm Ngọc Đường (Lin Yutang). Ông Trần đề xướng thuyết này khoảng năm 1999-2000.
(**) Xin chú ý, ở đây tổ Trung Phong dùng hai khái niệm đặc thù của tông Thiên Thai: Bổn và Tích. Bổn là cái gốc, chỉ cho bản thể, chân tâm bản tánh, Phật tánh, chân như… Tích là những gì biến hiện từ Bổn. Sách vở tông Thiên Thai thường giảng Bổn như mặt trăng, Tích như bóng trăng hiện trong nước; hoặc nói Tỳ Lô Giá Na là Bổn, Thích Ca Mâu Ni Phật trong thế giới Sa Bà là Tích. Ở đây, tướng chúng sanh sanh diệt là Tích, còn chư Phật Tịch Diệt là Bổn. Lời giảng của Hòa Thượng Tịnh Không không ngoài những ý này. 
Tạo bài viết
Vào sáng ngày 22 Oct vừa qua, phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng lại tiếp tục lên đường cứu trợ cho 3 ngôi làng nghèo Thừa Thiên Huế, đó là Làng Phò Ninh, Làng Cổ Bi và Làng Hiền Sỹ. Đây là 3 ngôi làng thời gian qua bị nước lũ vây hãm không có đoàn nào vô làng cứu trợ được, may mắn là khi đoàn Từ thiện Trái tim BDDT có mặt thì nước lũ đã rút đi nhiều nên xe chở hàng cứu trợ đã có thể vào tận nơi để phát quà cho dân.
Sáng hôm qua, (ngày 21 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 2 xã Phú Lễ, xã Quảng Phú, Huyện Quảng Điền Tp Huế, đoàn đã phát tổng cộng là 300 phần quà tại nhà văn hóa cạnh chùa Quang Bảo- Phù Lễ. Chuyến cứu trợ lần này được sự nhiệt tâm giúp đỡ về mặt tổ chức cũng như vận chuyển hàng hóa của chư Phật tử chùa Quang Bảo & các thành viên trong Hội từ thiện nên đã diễn ra tốt đẹp và thành tựu viên mãn.
Được tin lũ chồng lũ, bão số 8, bão thế kỷ sắp tràn về miền Trung khốn khổ, tốc độ trên 200/km, hơn vận tốc của xe trên free way, nghĩa là nơi nào bão qua là nơi đó không còn dấu vết sự sống, ôi thương đau khủng khiếp.