Nhưng người ta cũng có thể tự hỏi : có thể nào thâu gồm lại
đạo Phật trong hai chữ
từ bi ? Liệu
từ bi có đủ để định nghĩa
đạo Phật, để
phân biệt đạo Phật với các
tôn giáo và
triết thuyết khác ? Nói một cách khác, có thể nào xem
từ bi như là một
đặc điểm của
đạo Phật ?
Nhìn chung quanh,
chúng ta thấy
đạo giáo nào cũng chủ trương
tình thương bao la, rộng lớn, như lòng
bác ái của đức Ky Tô, thuyết kiêm ái của
Mặc tử. Nhưng chỉ có
đạo Phật mới
nổi bật lên bằng sự đề cao
trí tuệ. Có thể nói rằng
trong suốt lịch sử tư tưởng nhân loại, không có một
tôn giáo nào đặt
trọng tâm vào
vai trò của
trí tuệ hơn là
đạo Phật. Bởi vì Buddha (Phật) phát xuất từ chữ Phạn bud, có nghĩa là
hiểu biết.
Đức Phật là người đã
hiểu biết trọn vẹn, đã
tỉnh thức, đã
giác ngộ, là người có
trí tuệ vẹn toàn.
Như vậy có thể nói rằng
trí tuệ mới chính thực là
đặc điểm, là nền tảng, là cốt tủy của
đạo Phật.
Trí tuệ là gì ?
Trước hết,
chúng ta phải
hiểu rõ trí tuệ trong
đạo Phật là gì, bởi vì
trí tuệ có một
ý nghĩa rất
đặc biệt trong
đạo Phật.
Trí tuệ trong
đạo Phật phải được
phân biệt với
quan niệm thông thường về
trí tuệ.
Theo
nghĩa thông thường,
trí tuệ là kết quả của
hoạt động trí thức (intellect), dựa lên
lý trí (raison), dùng đến
lý luận, khái niệm,
ngôn từ, và chủ yếu gồm những sự
hiểu biết, những
kiến thức đã được gom góp lại.
Trong
đạo Phật,
trí tuệ cũng được gọi là
trí huệ, bởi vì cùng một chữ Hán có thể đọc là huệ hay là tuệ. Người Hoa thường đọc là huệ (tiếng quan hỏa đọc là "huậy"), trong khi người Việt hay dùng chữ tuệ hơn, với
đa số những chữ ghép thuộc danh từ nhà Phật, như
tuệ căn,
tuệ giác,
tuệ kiếm,
tuệ lực,
tuệ nhãn, tuệ tâm, tuệ tánh... Tiếng Pali là pañña, tiếng Phạn là prajñâ, và khi phiên âm sang tiếng Hoa thì
trở thành Bát Nhã (chữ ñ đọc như là nh của tiếng Việt).
Triết lý
Ấn Độ cổ xưa có 3 danh từ để
chỉ định sự
hiểu biết : ñâna (p) / jñâna (s), viññâna (p) / vijñâna (s) và pañña(p) / prajñâ (s).
- Ñâna thường
chỉ định sự
hiểu biết thông thường, theo nghĩa rộng của nó. Trong một số
kinh điển, người ta cũng gặp chữ ñâna dùng theo nghĩa pañña.
- Viññâna là sự
hiểu biết dựa lên
lý trí, dùng
phương pháp suy luận và phân tích.
- Trong khi đó, pañña là
trí huệ thâm sâu, sự
hiểu biết toàn diện, có
tính chất trực giác, không dựa lên
lý luận, khái niệm,
ngôn từ, mà vượt khỏi
ngôn từ. Tiếng
Pháp thường dịch là sagesse, connaissance profonde, transcendantale, hay cognition intégrale, nhưng những chữ đó vẫn chỉ
diễn tả được một phần nào cái không thể
diễn tả được.
Chính vì khó dịch cho nên tại các nước Á châu, người ta thường giữ nguyên phiên âm chữ Phạn,
Bát Nhã trí huệ (Hoa) hay hannya-chie (Nhật) để
chỉ định trí tuệ trong
đạo Phật.
Trí tuệ Bát Nhã và
trí tuệ thông thường, như khoa học chẳng hạn, còn khác nhau ở nơi đối tượng của sự
hiểu biết. Như
đức Phật đã nói rõ trong bài bài
thuyết pháp "lá trong rừng Sinsapa", sự giảng dậy của ngài chỉ nhằm vào
con đường giải thoát, là điều
cấp bách và
thiết thực nhất. Nếu
so sánh khoa học và
đạo Phật với những
tia sáng, thì
chúng ta có thể ví khoa học với ánh sáng tỏa khắp nơi, và
đạo Phật với một tia laser tụ hết cả
năng lực vào một điểm, tức là
diệt khổ.
Trong
đạo Phật còn một danh từ nữa gần với huệ là giác (bodhi, phiên âm là
Bồ đề). Giác là
thức tỉnh, đối lại với ngủ mê.
Vì vậy trong
nghi thức tụng niệm,
chúng ta thường gặp câu "... xa bể khổ nguồn mê, chóng
quay về bờ giác". Và trong
đạo Phật,
giác ngộ và
tuệ giác là
mục đích của người
tu Phật,
đi theo gót của
đức Phật Thích Ca, là vị "Chánh đẳng chánh giác"(samma-sambuddha), là người đã
giác ngộ hoàn toàn.
Trí tuệ trong đạo Phật Nguyên thủyVai trò của
trí tuệ trong
đạo Phật nguồn gốc (primitif) và
đạo Phật Nguyên thủy (Theravada) rất
rõ ràng, sáng sủa :
trí tuệ là
phương tiện duy nhất đưa tới giác ngộ, và
giải thoát khỏi khổ đau. Bài "Trí tuệ trong đạo Phật" của HT Thích
Minh Châu (trong site Internet Buddhasasana) đã trình bầy một cách minh triết và đầy đủ về
vấn đề này. Tôi chỉ xin nhắc lại một vài điều
căn bản trong
giáo lý của
đạo Phật Nguyên thủy.
Nếu
chúng ta lấy " vòng
mười hai nhân duyên " (paticca-samuppâda) mà xét lại, thì
chúng ta sẽ thấy đầu mối của sự khổ đau, của sự đọa đầy
trong vòng trầm luân của
con người chính là
vô minh (avijjâ). Vì
vô minh là đầu mối của
vấn đề, cho nên
trí tuệ chính là
giải đáp của
vấn đề.
Trong "
con đường chánh tám nẻo " (atthangika-magga),
chánh kiến (sammâ-ditthi) và
chánh tư duy (sammâ-sankappa) là hai nẻo thuộc về huệ (pañña), là
giai đoạn cuối cùng, quan trọng nhất của sự
tu tập (trong khi
chánh ngữ,
chánh nghiệp,
chánh mạng thuộc về giới, sila, và
chánh tinh tấn,
chánh niệm,
chánh định thuộc về định, samâdhi).
Dĩ nhiên sự
tu tập theo
đạo Phật không thể
phân chia ra thành từng giai đoạn rõ rệt như vậy, và tám nẻo của
con đường đó phải được đi đều
với nhau, nhưng
chúng ta cũng có thể
nhận thấy trong sự
phân chia đó môt trình tự
phù hợp với những gì xẩy ra trong
tâm lý con người. Phải nhiếp được
thân khẩu ý (giới), thì mới
tinh tấn, niệm và
định tâm được (định), và như
vậy thì mới hiểu và nhìn rõ được
sự thật (huệ).
Trong
kinh Pháp Cú (Dhammapada), là một trong những kinh cổ xưa nhất của
đạo Phật, có một phẩm nói về " người ngu và kẻ trí ". Ngu phải hiểu ở đây không phải là sự ngu dốt,
đần độn, kém
thông minh, thiếu
kiến thức, mà phải hiểu như sự
mê muội, đắm chìm trong những
đam mê,
ảo tưởng của
cuộc đời. Trí, như đã nói trên, không phải là sự
thông minh,
uyên bác, mà là sự
hiểu biết sâu xa,
trọn vẹn, về
con đường chánh,
đưa tới an lạc và
hạnh phúc. HT
Minh Châu có lấy
thí dụ một người có rất nhiều
kiến thức về rượu, biết rõ những chất liệu của rượu, những
tác động của rượu trên cơ thể, nhưng vẫn uống nhiều rượu, vẫn say và nghiện rượu, vẫn bị rượu
chi phối. Như
vậy thì người ấy có
trí thức chứ không có
trí tuệ về rượu, người đó là người ngu.
Trái lại, một người
hiểu biết về rượu, nhưng cũng biết rõ sự nguy hại của rượu, không uống rượu say, không nghiện rượu, vượt ra khỏi sự
chi phối của rượu. Như vậy người ấy mới thật là có
trí tuệ về rượu, người ấy mới là kẻ trí.
Nói
tóm lại,
trí tuệ trong
đạo Phật Nguyên thủy có mặt
trong suốt tất cả
giáo lý căn bản của
đạo Phật : " bốn
sự thật,
con đường tám nẻo, ba
pháp ấn,
lý nhân duyên "... và đóng một
vai trò chủ chốt trên
con đường đưa tới giải thoát và
giác ngộ.
Trí tuệ có nghĩa là
hiểu biết trọn vẹn và
hành trì theo
Chánh Pháp, để phá bỏ màn
vô minh và nhận chân
sự thật.
Trí tuệ trong đạo Phật Đại thừaTrí tuệ chính là sợi giây nối liền
đạo Phật nguồn gốc,
đạo Phật Nguyên thủy và
đạo Phật Đại thừa (Mahâyâna). Người ta thường gọi
Trưởng Lão Bộ (Sthaviravada),
tiền thân của
đạo Phật Nguyên thủy (Theravada), là "Cổ phái Trí tuệ"(Ancienne Ecole de Sagesse), và gọi
phái Trung Quán (Mâdhyamaka) của
Đại thừa là "Tân phái Trí tuệ"(Nouvelle Ecole de Sagesse).
Thật ra, như
chúng ta được biết,
trong lịch sử phát triển của
đạo Phật, các trường phái
Đại thừa phân chia ra làm hai khuynh hướng : một bên là
trí tuệ và một bên là
đức tin.
Tiêu biểu nhất cho
trí tuệ là
hệ thống Bát Nhã, dựa lên
bộ kinh đồ sộ
Bát Nhã Ba La Mật Đa ( Prajñâpâramitâ-sûtra), (
toàn bộ in ra được 600 quyển!), với hai
bài kinh quan trọng nhất là Đại
Bát Nhã Tâm Kinh (Mahâprajñâpâramitâ-hrdaya-sûtra) và Kinh
Kim Cương (Vajrachchedika-prajñâpâramitâ-sûtra).
Tinh thần Bát Nhã được
triển khai bởi ngài
Long Thụ (Nâgârjuna), cầm đầu
phái Trung Quán (Mâdhyamaka), nhà
luận sư nổi tiếng đã
chứng minh một cách sắc bén rằng
sự thật không thể nào hiểu thấu được bằng
lý luận. Theo ngài,
trí tuệ là
con đường khó, mà
đức tin là
con đường dễ. Ngài giảng muốn hiểu
giáo lý của
đức Phật thì phải hiểu hai mức độ, hay đúng hơn hai kích thước của
sự thật,
sự thật tương đối (samvriti-satya) và
sự thật tuyệt đối(paramartha-satya). Và
sự thật tuyệt đối là
tánh Không (sûnyatâ), là cái không thể nghĩ bàn, không thể nắm bắt bằng những khả năng thông thường của
trí tuệ, mà chỉ có thấu hiểu được bằng
trực giác, bằng thực nghiệm.
Bài Đại
Bát Nhã Tâm Kinh, tuy chỉ có 260 chữ, nhưng chứa đựng được tất cả cốt tủy của
tinh thần Bát Nhã. Pâramitâ có nghĩa là
vượt qua. Người ta có thể hiểu theo nghĩa
vượt qua bên kia bờ, bên này là
vô minh phiền não, bên kia là
giác ngộ giải thoát, và
trí tuệ Bát Nhã là con thuyền chở
con người qua bên kia bờ sông. Nhưng đọc và thấm cả
bài kinh,
chúng ta mới thấy rằng
trí tuệ theo
tinh thần Bát Nhã rất là
đặc biệt, có thể gọi là
siêu việt. Trong
bài kinh có câu "
vô trí diệc vô đắc ", nghĩa là không có
trí tuệ mà cũng không có
chứng đắc. Sau khi khẳng định rằng " không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ", thì kinh nói rằng " không có
vô minh, cũng không có hết
vô minh, không có già chết, cũng không có hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có
trí tuệ, cũng không có
chứng đắc ", tức là tất cả những gì đã học trong
giáo lý căn bản của
đức Phật đều không có thật, đều là những
chân lý tương đối, tạm bợ... Bởi vì
tướng Không của các pháp là không
sanh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt, không một không hai. Thấu được lẽ Không của các pháp, của mọi sự vật, mới là
trí tuệ thực sự,
vượt qua cả
trí tuệ (au-delà de la sagesse). Đó mới là
ý nghĩa của kinh
Bát Nhã siêu việt, tức là Prajñâpâramitâ-sûtrâ,
bộ kinh căn bản của
Đại thừa.
Trí tuệ trong Thiền tôngTinh thần Bát Nhã được
tiếp nối trong
Thiền tông Trung Hoa, từ vị
sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) từ
Ấn Độ qua vào thế kỷ thứ 6. Người ta thường
gán cho ngài
Bồ Đề Đạt Ma 4 câu
thu gọn lại
tôn chỉ của Thiền, là "
Giáo ngoại biệt truyền,
Bất lập văn tự,
Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật ". Nhưng thật ra, theo các nhà
Phật học, thì
lục tổ Huệ Năng mới là
tác giả của
tôn chỉ này. Và điểm quan trọng là ngài đã
đánh dấu một khúc ngoặt, đã làm một cuộc
cách mạng trong
Thiền tông bằng cách thay thế
quan niệm " khán tâm " bằng
quan niệm "
kiến tánh ".
Theo ông Daisetz Suzuki, hai chữ " khán " và " kiến " đều có nghĩa là " nhìn ", song chữ " khán " có chữ " thủ " trên chữ " mục ", như bàn tay để trên mắt để che ánh sáng, với
ý nghĩa "
cố gắng nhìn " (hay là " nhòm, soi ", (regarder, scruter), trong khi đó " kiến " chỉ có chữ " mục " trên đôi chân, tức là " thấy ", một cách
tự nhiên, không
cố gắng (voir). Như vậy,
quan niệm cổ điển của Thiền là " khán tâm ",
cố gắng nhìn vào cái tâm của mình, soi cái tâm của mình, trong khi đó ngài
Huệ Năng chủ trương "
kiến tánh ", nhìn thấy cái tánh, cái
Phật tánh trong mình, một cách
tự nhiên và
hồn nhiên, không
cố gắng.
Từ đó, cái nhìn của Thiền về
trí tuệ trở nên
vô cùng đơn giản : " mây tan thì trăng hiện ". Không
cần phải mài viên gạch để mong nó
trở thành tấm gương, không
cần phải tự hỏi cây phướn động hay gió động. Chẳng nên
phân tách,
đắn đo,
suy nghĩ, bởi vì chỉ cần một niệm dấy lên là bị sương mù cuốn đi xa ngàn dặm. Bởi vậy cho nên
giác ngộ có thể tới từ một tiếng hét, từ một viên đá văng vào một khúc gỗ, một mảnh
tượng Phật bùng cháy... Phật chính là
tuệ giác, là ở trong tâm mình chứ không đâu
xa lạ. Tìm
trí tuệ ở đâu khác cũng là "ôm cây đợi thỏ" hay "khắc thuyền tìm kiếm".
Thiền cũng ở trong đường hướng chung của
Bát Nhã,
không chấp trước, không
phân biệt, không mong cầu, không trụ vào đâu. Chính " ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm " là câu trong kinh
Kim Cương đã đả khai
trí tuệ cho
Lục tổ Huệ Năng và vua
Trần Thái Tông.
Con đường phát triển trí tuệLàm thế nào để phát triển
trí tuệ ? Đó là câu hỏi chung của những người
tu học Phật.
- Đối với người mới học Phật thì
đạo Phật có vẻ
phức tạp, với nhiều
môn phái,
kinh điển, không biết nên theo ai, bắt đầu bằng gì. Với niềm
lo âu là nhỡ lầm thầy, lẫn sách thì có thể sai đường, mất
thời giờ hay có khi có hại.
- Đối với người
đã lâu năm
tu học Phật, thì nhiều khi thấy rằng mình tuy đã có khá nhiều
hành lý về
giáo lý, nhưng vẫn dậm chân tại chỗ, và
thực tế mà nói vẫn chưa tiến được bao nhiêu (đôi khi có lẽ vì
hành lý nặng quá!).
Đạo Phật là một
con đường thực nghiệm. Mỗi người tự rút ra những
kinh nghiệm cá nhân, chỉ có
giá trị cho chính mình. Nhưng dẫu sao, từ nhiều
kinh nghiệm cá nhân,
chúng ta cũng có thể rút ra một số bài học chung :
1. Những lịch trình
tu học Phật thường được theo từ xưa tới nay vẫn còn
giá trị.
* Đó là "
tam vô lậu học ", tức là giới (sila), định (samâdhi) và huệ (pañña).