Chương 7. Sanh Già Bệnh Chết Là Chuyện Bình Thường.

09/06/201112:00 SA(Xem: 8855)
Chương 7. Sanh Già Bệnh Chết Là Chuyện Bình Thường.

doithoai-thaythonglac


CHƯƠNG VII

SANH GIÀ BỆNH CHẾT LÀ CHUYỆN BÌNH THƯỜNG


I. TRÍCH DẪN:

Sách Đường Về Xứ Phật, tập 2, TTL viết: Trước khi chết Thầy Tổ nào cũng bị bịnh, đau đớn, khổ sở đi đứng không được, có nhiều Thầy Tổ bị bán thân nằm liệt một chỗ, thọ biết bao nhiêu là cay đắng.”

Sách Đường Về Xứ Phật, tập 5, TTL viết:trải qua nhiều thời gian năm tháng, trước kia tôi chỉ nghe các bậc tôn túc thuật lại sự tu chứng đắc của các Tổ mà không trực tiếp thấy, còn hiện giờ tôi đã thấy biết rất rõ ràng với thời gian hơn thế kỷ nay (100 năm). Thầy Tổ của chúng tôi từ người nầy đến người khác qua đời (viên tịch), không để lại cho chúng tôi một niềm tin sâu sắc với Phật Pháp. Khi còn sống, các Ngài thuyết pháp rất hay, nào là thấy các pháp như mộng, như huyễn; nào là tiếp xúc với sáu trần như hoa đốm giữa hư không; nào là chết biết ngày, biết giờ, biết khắc, biết được tánh linh; nào là làm chủ sự sống chết. Nhưng đến giờ phút cuối cùng chúng tôi chỉ thấy một hình ảnh đau thương nằm trên giường bịnh mệt nhọc khổ sở, đau đớn trăn trở và còn có lúc lại mê man chẳng còn biết gì cả trước khi viên tịch (chết)”.

II.  NHẬN XÉT:

Sanh già bệnh chết là chuyện bình thường không có gì để TTL phải quan trọng hóa vấn đề là không được bị bệnh trước khi tịch (chết). Người đọc các sách của TTL có cảm tưởng TTL đang tu Tiên, nên luôn luôn chăm lo để ý đến sức khỏe, cần phải luôn luôn mạnh khỏe, không thể để người xuất gia bị bệnh, hoặc là bị bệnh trước khi chết. Trong Tạng Kinh Nikāya, Tôn Giả Sāriputta, bậc Trí Tuệ Đệ Nhất, trước khi nhập Niết Bàn cũng bị bệnh. Thế nên sanh già bệnh chết là lẽ đương nhiên, không có gì lạ trong nhân loại, có sinh ắt có diệt, có đủ duyên thì sống, không đủ duyên thì chết, sống chết trong hơi thở, một hơi thở ra mà không vào thì đi qua đời sau, ngoại trừ các bậc Thánh nhập Niết Bàn, thoát khỏi sanh tử luân hồi trong ba cõi, thì không còn đời sau. Tùy theo hạnh nguyện của quý Ngài, có những vị tịnh chỉ hơi thở để viên tịch, có những vị ngồi niệm Phật hay ngồi Thiền trước khi viên tịch, có những vị bị bệnh trước khi Nhập Niết Bàn, có những vị bay lên hư không nhập Niết Bàn, v.v…

III. THAM KHẢO TẠNG KINH NIKĀYA:

I. Kinh Tương Ưng Bộ, tập 5, viết[1]: “ III. Cunda (Tạp 24,39, Đại 2,176b) (S.v,161)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn của ông Cấp Cô Độc.

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta trú ở Magadha, tại làng Nāla, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Và Sa-di Cunda là thị giả của Tôn giả Sàriputta.

3) Tôn giả nhập Niết-bàn vì bệnh ấy.

4) Rồi Sa-di Cunda cầm lấy y bát của Tôn giả Sāriputta đi đến Sāvatthi, Thắng Lâm, tại khu vườn của ông Cấp Cô Độc, đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda, rồi ngồi xuống một bên. .. Ngồi một bên, Sa-di Cunda nói với Tôn giả Ānanda:

-- Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sāriputta đã mệnh chung. Đây là y bát của vị ấy.

5) -- Này Hiền giả Cunda, đây là lý do để đến yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy báo tin này cho Thế Tôn.

-- Thưa vâng, Thượng tọa.

Sa-di Cunda vâng đáp Tôn giả Ānanda.

6) Rồi Tôn giả Ānanda và Sa-di Cunda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda này thưa như sau: "Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sāriputta đã mệnh chung. Đây là y và bát của vị ấy". Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy (bàng hoàng) (madhurakajato). Các phương hướng không hiện ra rõ ràng đối với con. Pháp sẽ không được giảng cho con, khi con nghe tin Tôn giả Sāriputta đã mệnh chung.

7) -- Này Ānanda, Sāriputta có đem theo giới uẩn khi mệnh chung? Có đem theo định uẩn khi mệnh chung? Có đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung không?

-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta không đem theo giới uẩn khi mệnh chung, không đem theo định uẩn khi mệnh chung, không đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung. Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta là vị giáo giới cho con, là vị đã vượt qua (bộc lưu), là bậc giáo thọ, là vị khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, là vị thuyết pháp không biết mệt mỏi, là vị hộ trì cho các đồng Phạm hạnh. Chúng con đều ức niệm rằng Tôn giả Sāriputta là tinh ba của pháp (dhammojam), là tài sản của pháp (dhammabhogam), là hộ trì của pháp.

8) -- Này Ānanda, có phải trước đây Ta đã từng tuyên bố với Ông rằng mọi pháp khả ái, khả ý đều có tánh chất khác biệt, có tánh chất ly tán, có tánh chất đổi khác? Làm sao, này Ānanda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong rằng cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra.

9) Ví như, này Ānanda, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, một cành cây lớn bị gãy đổ. Cũng vậy, này Ānanda, từ nơi chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sāriputta bị mệnh chung. Làm sao, này Ānanda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: "Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra.

10) Do vậy, này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nượng tựa một điều gì khác. Này Ānanda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác?

11) Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.

12) Này Ānanda, những ai hiện nay, hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác; những vị ấy, này Ānanda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.”

II. Kinh Tiểu Bộ, tập 1, viết[2]: “(IX) (Ud 92)

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Tôn giả Dabha Mallputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Dabha Mallaputta bạch Thế Tôn:

- Nay đã đến thời, con nhập Niết Bàn, bạch Thiện Thệ.

- Này Dabba, Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời!.

Rồi Tôn giả Dabha Mallaputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, bay lên hư không, ngồi kiết-già giữa hư không, nhập định hỏa giới, xuất khỏi định và nhập Niết-bàn. Khi Tôn giả Dabha Mallaputta bay lên hư không, ngồi kiết-già giữa hư không, nhập định hỏa giới, xuất khỏi định và nhập Niết Bàn, thân của Tôn giả được cháy sạch, đốt sạch, không còn có than hay có tro có thể thấy được. Ví như bơ hay dầu được cháy, được đốt, không còn có than hay có tro có thể thấy được. Cũng vậy, khi Tôn giả Dabha Mallaputta bay lên hư không, ngồi kiết già giữa hư không, nhập định hỏa giới, xuất khỏi định và nhập Niết-bàn, thân của Tôn giả được cháy sạch, đốt sạch, không còn có than hay có tro có thể thấy được.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

1. Thân bị hoại, tưởng diệt,
Mọi thọ được nguội lạnh,
Các hành được lắng diệu,
Thức đạt được mục đích
.

IV. ĐỌC THÊM:

Đã có rất nhiều bậc tu hành rất cao, làm chủ được sự sống chết. Họ tịch (chết) một cách dễ dàng tự tại, như thay đổi quần áo. Họ muốn tịch lúc nào cũng được, rồi tái sanh đến nơi nào họ muốn, hoặc là họ nhập Niết Bàn, không muốn tái sanh cũng được. Trong sử sách chúng ta thấy, có rất nhiều vị Tổ Sư, Thiền Sư… có nhiều phép thần thông và quý Ngài đã viên tịch một cách tự tại. Sau đây là một số câu chuyện.

1. Một vị Thiền Sư thuộc Thiền Tông Đông Độ, đó là Thiền Sư Đạo Duyệt đã làm chủ được sự sống chết. Sách Hoà Thượng Tuyên Hóa khai thị, quyển 5, Cố Hoà Thượng Tuyên Hoá giảng, chúng đệ tử của Ngài dùng băng ghi âm lại và dịch ra tiếng Việt với tựa đề[3]:

 “Ngồi Thiền có thể chấm dứt sanh tử.

 Vào những năm cuối của triều đại Bắc Tống, Trung Quốc có một vị anh hùng dân tộc tên là Nhạc Phi. Cha ông qua đời khi ông còn là thơ ấu. Mẹ ông là người hiền đức, trí huệ. Cả hai mẹ con nương tựa nhau mà sống. Nhạc Phi được mẹ dạy học và dạy viết. Bởi nhà quá nghèo, không có tiền mua giấy bút và mực nên Nhạc Phi phải tập viết chữ trên cát; thế mà về sau ông nổi tiếng viết chữ đẹp. Đến lúc trưởng thành thì ông đầu quân. Mẹ ông lúc ấy xâm trên lưng ông bốn chữ “tận trung báo quốc” để nhắc ông phải luôn ghi nhớ chí nguyện lớn lao cứu nước cứu dân.

 Lúc bấy giờ quân Kim xâm lược Bắc Tống, chiếm Biện Kinh (Khai Phong), đày hai vua Hội Tông và Khâm Tông lên miền Bắc. Hội Tông là vua đã thoái vị, có hai người con là Khâm Tông và Khang Vương. Khang Vương lúc ấy đang ở Hàng Châu, liền lên ngôi, đặt tên nước là Nam Tống, tự xưng là Tống Cao Tông, phong Tần Cối làm Tướng quốc. Đương thời, các quan văn thì chủ trương hoà giải với quân Kim, nhưng các quan võ thì chủ trương chiến tranh.

 Bấy giờ Nhạc Phi đại thắng quân Kim ở trấn Chu tiên (rất gần Biện Kinh) và dự định tiến đánh kinh đô quân Kim ở Hoàng Long (tức Kiết lâm, Nông an bây giờ). Chẳng may Nhạc Phi bị Tần Cối đố kỵ và dùng mười hai đạo kim bài giả để triệu hồi về kinh thành. Nhạc Phi vốn mang tư tưởng “trung quân, ái quốc” nên vâng mệnh vua trở về kinh đô. Lúc tới sông Trường giang, ngang qua chùa Kim Sơn, ông đến bái kiến Thiền sư Đạo Duyệt.

 Thiền sư Đạo Duyệt khuyên ông đừng trở về kinh thành, hãy ở lại chùa Kim Sơn (Trấn giang) xuất gia tu hành thì có thể sẽ tránh được tai nạn. Song, Nhạc Phi vốn coi thường sống chết và lại nghĩ rằng bổn phận kẻ làm tướng là phải tuân mệnh vua, không thể cho là “tướng ở ngoài có lúc không phải tuân theo lệnh vua”. Do đó ông đã không nghe theo lời khuyên của Thiền sư Đạo Duyệt. Lúc chia tay, Thiền sư tặng ông một bài kệ:

Tuế để bất túc,

Cẩn phòng thiên khốc,

Phụng hạ lưỡng điểm,

Tương nhân hại độc!

Nghĩa là:

Chưa đến cuối năm,

Đề phòng trời khóc,

Dưới “phụng” hai chấm,

Hãm hại ngươi đấy!

 Khi Nhạc Phi về tới Hàng Châu, Tần Cối dùng ba chữ “Mạc tu hữu” (bịa đặt) để hạ lệnh bỏ tù hai cha con Nhạc Phi. Gần đến ngày thọ hình, Nhạc Phi mới chợt hiểu thâm ý bài kệ của Thiền sư Đạo Duyệt. Năm ấy, ngày hai mươi chín tết, trời mưa tầm tả. Nhạc Phi ngồi trong ngục lắng nghe tiếng mưa rơi và chợt vỡ lẽ rằng đại nạn đã kề bên. Lời tiên tri của Thiền sư Đạo Duyệt cuối cùng đã ứng nghiệm. “Phụng hạ lưỡng điểm” (dưới chữ “phụng” có thêm hai chấm) tức là chữ “tần”, ám chỉ Tần Cối. Quả nhiên Nhạc Phi sau đó bị xử chém tại Phong Ba Đình.

 Bấy giờ Tần Cối hỏi đao phủ: “Nhạc Phi khi sắp bị chém có nói gì chăng?” Đao phủ đáp: “Tôi chỉ nghe y nói rằng y hối hận vì không chịu nghe lời Thiền sư Đạo Duyệt ở chùa Kim Sơn nên mới nhận lãnh hậu quả thê thảm này”. Nghe vậy Tần Cối vô cùng tức giận, liền phái Hà Lập tới chùa Kim Sơn gấp để bắt Thiền sư Đạo Duyệt. Nhưng Thiền sư trong khi nhập Định một ngày trước đó đã biết được nhân duyên này, nên Ngài đã để lại một bài kệ:

Lập tự Nam lai,

Ngã vãng Tây-phương tẩu.

Nhược phi Phật pháp đại,

Khải bất lạc tha thủ.

Nghĩa là:

Hà Lập từ Nam đến,

Ta nhắm Tây phương đi.

Phật pháp nếu không tường,

Ắt lọt vào tay hắn. 

 Chuyện này chứng minh rằng khi công phu Thiền định của người tu hành đã tới cực điểm thì có thể kiềm chế được sinh tử, muốn lúc nào vãng sinh cũng được, tự mình điều khiển định mệnh – đó là một điều rất đương nhiên. Thuở xưa, các Thiền sư đều có công phu như vậy - tự do sống chết, toại tâm như ý. Đời Đường có vị Thiền sư tên Đặng Ẩn Phong, có thể lộn ngược đầu xuống đất mà viên tịch. Gần đây có vị Phật Sống ở chùa Kim Sơn đứng mà viên tịch. Đó đều là nhờ có công phu Thiền định nên họ có thể đến và đi tự do, không bị hạn chế gì cả”.

2. Sách Trung Hoa Chư Thiền Đức Hành Trạng, tập 2, viết[4]:

 “Phủ Long Đức Y Lý Hầu cùng Sư có tình quen xưa, thỉnh Sư trụ trì chùa Thừa Thiên, sai sứ đi ba lần mà Sư vẫn không đến. Sứ giả bị phạt. Y Lý Hầu lại sai sứ đi một phen nữa. Sứ giả đến thưa: “Quyết thỉnh Thầy đồng đi, nếu Thầy không đi tôi liều chết mà thôi”. Sư cười bảo: “Bởi nghiệp già bệnh không thể xuống núi, giả sử đi phải có trước sau, tại sao quyết đồng?” Sứ thưa: “Thầy chịu thì trước sau tùy ý chọn”.

 Sư bảo chúng sửa soạn hành lý xong. Sư gọi chúng lại bảo: “Lão Tăng đi có người nào theo được?” Có vị Tăng ra thưa: “Con theo được”. Sư hỏi: “Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?” Tăng thưa: “Năm mươi dặm”. Sư bảo: “Ngươi theo ta chẳng được.” Lại có vị ra thưa: “Con theo được.” Sư hỏi: “Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?” Tăng thưa: “Bảy mươi dặm”. Sư bảo: “Ngươi theo ta cũng chẳng được.” Thị giả ra thưa: “Con theo được, chỉ Hòa Thượng đến đâu thì con đi đến đó.” Sư bảo: “Ngươi theo Lão Tăng được.”

 Nói xong, Sư bảo sứ giả: “Ta đi trước nghe!” Sư dừng lại rồi tịch. Thị giả đứng khoanh tay tịch theo. Sư thọ 78 tuổi.

3. Sách Mỗi ngày một câu chuyện Thiền, viết[5]:

 “Huệ Huyền nơi đây không sanh tử. Chánh Pháp Sơn Lục Tổ truyện.

Có vị Tăng đến hỏi Hòa Thượng Quan Sơn (J: Kanzan) rằng:

- Con đến đây cũng chỉ muốn được giải quyết vấn đề sanh tử việc lớn.

Khi ấy Hòa Thượng thét lên một tiếng thật to và nói rằng:

- Huệ Huyền ta nơi đây không có sanh tử.

Tương truyền Đại Đăng Quốc sư (J: Daitō Kokushi), Thầy của Quan Sơn, xưa kia từng nhập bọn với nhóm người đi khất thực nơi Cầu Ngũ Điều và sống cuộc đời bôn phóng trong mấy năm trường sau khi đạt ngộ. Một chân của ông bị tật, nên không thể ngồi theo thế kiết già được. Đến lúc lâm chung ông bảo với chân mình rằng:

- Từ lâu nay ta đã khổ công nghe lời ngươi rồi, nay ngươi hãy nghe theo lời ta.

Nói xong, ông đưa tay bẻ gãy chân mình, ngồi kiết già mà thoát hóa.

Một hôm nọ, nhân dịp chuẩn bị lên đường đi hành cước phương xa, Quan Sơn cho gọi Thọ Ông lên bảo rằng:

- Nay ta đi hành cước.

Cả hai người đi đến nơi có cái giếng tên Phong Thủy Tuyền, cùng nghỉ chân dưới một gốc cây đại thụ. Khi ấy Quan Sơn vội vã ban lời giáo huấn để lại cho Thọ Ông rằng:

- Nơi đây ta không có sanh tử.

Nói xong ông đứng sừng sững như vậy mà thị tịch. Đây cũng là hình thức lâm chung của hai đời cha truyền con nối mà Quan Sơn còn giữ lại.”

4. Sách Vườn Thiền rừng ngọc (Thiền Uyển Đạo Lâm), viết[6]: (Tắc) 234. Áo tràng của Phổ Hóa.

 Một hôm Phổ Hóa ở ngã tư chợ trong chốn đông người, Sư xin một chiếc áo tràng; nhiều người cho mà Sư chẳng nhận. Lâm Tế sai Viện chủ mua cho Sư một chiếc áo quan. Sư về đến nơi, Lâm Tế bảo:

- Ta sắm cho ngươi một chiếc áo tràng xong.

Sư liền tự vác chiếc áo quan ra đi. Vừa đến ngã tư chợ, Sư hô lên:

- Lâm Tế cho tôi một chiếc áo tràng rồi! Tôi đi qua cửa Đông thiên hóa đây.

Dân chúng lấy làm lạ, theo xem. Sư bảo:

- Hôm nay tôi chưa chết, ngày mai qua cửa Nam tôi mới chết!

Sư làm như thế đến ba hôm, mọi người đều chẳng tin lời Sư nữa. Đến ngày thứ tư, không có ai theo xem, một mình Sư ra ngoài thành tự chun vào trong áo quan rồi nhờ người đi đường đậy lại. Tức thì tin ấy lan tràn khắp chợ, mọi người tranh nhau mở nắp quan tài lên thì thấy thân Sư biến mất, chỉ nghe trên hư không có tiếng linh văng vẳng rồi mất.

(Theo: Truyền Đăng, quyển 10).”

5. Cũng sách Vườn Thiền Rừng Ngọc, trang 274 viết: (Tắc) “379. Ẩn Phong lộn ngược tịch.

 Lúc Thiền Sư Ẩn Phong (nối pháp Mã Tổ) sắp thị tịch, Sư hỏi chúng rằng:

- Các nơi khi thiên hóa, hoặc ngồi hoặc nằm là điều ta thường thấy, có người nào đứng chết hay không?

Chúng đáp: Có.

Sư hỏi: Có ai lộn ngược chết hay chăng?

Chúng bèn đáp: Chưa từng thấy.

 Sư bèn lộn ngược mà tịch. Áo quần vẫn vừa vặn ngay ngắn theo thân thể. Lúc ấy đại chúng bàn nên khiêng Sư đem đi trà tỳ nhưng thân Sư vẫn đứng sừng sững chẳng hề lay chuyển. Dân chúng ở xa gần đều đến xem, kinh ngạc khen ngợi không thôi. Sư có một người em gái làm Ni lúc ấy cũng có mặt ở đó. Cô đến gần quở: “Lão huynh hồi xưa chẳng tuân theo luật nghi, khi chết lại giở trò chơi khăm làm hoa mắt thiên hạ”. Nói rồi, giơ tay xô xác Sư ngã chồng kềnh, rồi đem đi hỏa táng.

(Theo: Truyền Đăng lục, quyển 8).”

6. Cũng sách Vườn Thiền Rừng Ngọc, trang 265 viết: (Tắc) “368. Vượn xanh rửa chén bát.

 Hòa Thượng Thiên Tuế Bảo Chưởng vốn là người Trung Ấn. Vào đời Chu Uy Liệt thứ 12 năm Đinh Mão (415 trước Tây Lịch), Sư giáng thần, thọ sinh ở xứ Ấn Độ. Lúc Sư mới được sinh ra, bàn tay trái luôn luôn nắm chặc lại. Đến bảy tuổi khi Sư xuất gia, tay mới xòe ra, nên nhân đó Sư được đặt tên là Bảo Chưởng.

 Ở khoảng đời Ngụy Tấn, Sư đi sang Trung Quốc vào đất Thục để tham lễ Ngài Phổ Hiền, ở lại chùa Đại Từ. Bình thường Sư hay nhịn đói. Hàng ngày, Sư tụng Kinh Bát Nhã v.v…tính ra có hơn ngàn quyển. Có người ngâm vịnh về Sư như sau:

Răng ngọc lạnh, tụng nhọc,

Nhanh như suối chảy vọt

Ngồi Thiền đến nửa đêm

Trước thềm quỉ thần khóc.

Một hôm, Sư bảo với chúng rằng:

- Ta có nguyện ở trên đời này một ngàn năm. Ngày nay đã được 626 tuổi! (Vì thế nên lấy chữ “Thiên Tuế” (Ngàn Năm) để gọi Sư).

 Một hôm, Sư đến Ngũ Đài, dời chỗ từ chùa Hoa NghiêmChúc Dung Phong đến Song Phong tại Huỳnh Mai, rồi đến chùa Đông Lâm ở Lô Sơn, tìm đến đất Kiến Nghiệp gặp Tổ Đạt Ma đang đi vào nước Lương. Sư bèn thưa hỏi ý chỉ và được khai ngộ. Lương Võ Đế trọng Sư lớn tuổi nên mời Sư vào cung:

bài kệ rằng:

Thành Lương gặp Đạo Sư

Tham Thiền ngộ tâm địa

Đi qua hai đất Chiết

Và khắp cả non sông.

 Ít lâu sau, Sư đi qua đất Ngô, thuận dòng xuống phía Đông, vượt qua ngàn dặm bể đến Ấn Độ. Sư đi qua Mậu Phong, lên Thái Bạch, xuyên Nhạn Đãng. Ở bảy mươi hai am tại Thúy Phong rồi trở về Xích Thành, nghỉ chân ở Vân Môn, Pháp Hoa, Chư Kỵ, Lý Phố, Xích Phù, Đại Nham v.v…và Thạch Đậu của Phi Lai Thê. Sư đã từng đi hết bốn trăm châu ở Trung Quốc. Người xứ này gọi Sư là Đạo nhân Du. Những sự việc này xảy ra vào niên hiệu Trinh Quán thứ 15 (641). Sau đó Sư ở Bảo Nghiêm thuộc Phố Giang kết bạn với Thiền Sư Lãng. Mỗi khi có việc thăm hỏi nhau, Sư thường bảo chó, cò mang tin, Lãng cũng có con vượn xanh để sai khiến. Vì thế, trên vách nhà Lãng có đề: “Chó, cò ngậm thư sang, vượn xanh rửa bát giùm”.

 Những nơi Sư trải qua, về sau đều thành chùa chiền cả. Vào ngày Nguyên Đán niên hiệu Hiển Khánh năm thứ 2 (657), Sư tự tay đắp một pho tượng, đến chín ngày thì tượng được đắp xong. Sư hỏi học trò của mình là Huệ Vân rằng:

- Tượng này giống ai?

Vân đáp:

- Cùng Hòa Thượng không khác.

Sư bèn tắm rửa, thay áo ngồi xếp bằng bảo Huệ Vân.

- Ta trụ thế đã được một nghìn bảy mươi hai năm. Hôm nay sắp tạ thế, hay nghe ta nói kệ:

Bản lai vô sinh tử

Kim diệc thị sinh tử

Ngã đắc khứ vãng tâm

Tha sinh phục lai thử

Dịch:

Bản lai không sinh tử

Nay thị hiện sinh tử

Ta được tâm tự tại

Đời sau trở lại đây.

 Khoảnh khắc Sư phó chúc rằng:

- Sau khi ta diệt độ sáu mươi năm, sẽ có một ông tăng đến lấy cốt ta, chớ có cản trở y.

Nói xong Sư liền nhập diệt. 54 năm sau, có Trưởng Lão Thứ Phù từ Vân Môn tới chỗ tháp của Sư lễ bái khẩn cầu cửa tháp mở ra. Phút chốc cửa tháp liền mở, mọi người đều thấy bộ cốt của Sư mắc xích như vàng ròng. Phù liền mang cốt đi qua Tần Vọng Sơn để tạo tháp phụng thờ.

 Từ năm Đinh Mão (415 trước Tây Lịch) đời Chu Uy Liệt, đến năm Đinh Tỵ đời Đường Cao Tông niên hiệu Hiển Khánh (657 sau Tây lịch) theo sự khảo cứu thì đúng là một nghìn bảy mươi hai năm, tính theo lịch Trung Quốc. Trải trên bốn trăm năm, tăng sử đều mất do chiến tranh, nhưng trong niên hiệu Khai Nguyên (713-741), đệ tử của Huệ Vân tên là Tông Nhất đã từng khắc bia ghi lại việc ấy.

 (Theo: Hội Nguyên, quyển 2)”.

7. Sách Thế Giới Nhất Hoa (365 công án trong đời sống hàng ngày), viết[7]: (Công án) “1. Thạch SươngĐi thẳng. (Nhất niệm vạn niên khứ)

 Thuở xưa, Thạch Sương nổi tiếng là một vị Thiền sư rất nổi tiếng tại Trung Quốc. Khi thị tịch mà không có đệ tử nối pháp. Sau lễ tang của Ngài, đại chúng thỉnh cử Thủ tọa thuyết pháp khai thị. Khi Thủ tọa lên pháp tòa chuẩn bị tuyên thuyết, Thị giả của Ngài Thạch Sương là Sai Di Cửu Phong 15 tuổi, bước đến trước và nói:

- Sư phụ chúng ta thường dạy về bảy loại ‘Đi thẳng’:

1. Đi thẳng, thôi nghỉ.

2. Đi thẳng, buông hết.

3. Đi thẳng, Thu lạnh nước trong.

4. Đi thẳng, vạn năm một niệm.

5. Đi thẳng, tro lạnh cây khô.

6. Đi thẳng, lò hương miếu cổ.

 (rất nặng, chẳng xê dịch)

7. Đi thẳng, hương xông gió lặng.

 Nếu Thủ tọa hiểu nghĩa thật của 7 loại đi thẳng, thi xin ban Pháp ngữ, bằng không thì chớ nên.

 Thủ tọa đáp: “Một sắc màu, khác cách dùng.”

 Cửu Phong nói: “Tôi không tin như thế!”

 Thủ tọa bảo: “Nếu không tin, tôi sẽ chỉ cho ông thấy.”

 Sau đó, Thủ tọa đốt lên một nén hương cắm nó vào lư, ngồi ngay thẳng, im lặng nhìn hương tàn rồi thị tịch. Mọi người la lên:

- A! Vị Sư cả này cũng tịch nữa rồi!

 Khi ấy Thị giả vỗ nhẹ vào lưng xác Thủ tọa ba lần và nói:

- Ngồi tịch, đứng hóa, cách nào cũng được, không chướng ngại. Nhưng nghĩa thật bảy Đi Thẳng của Sư phụ chúng ta, thậm chí trong mộng, ông cũng chưa thấu đạt.

1. Nghĩa thật bảy Đi thẳng của Thạch Sương là gì?

2. Ngồi tịch, đứng hóa, cách nào cũng được, không chướng ngại. Nhưng nghĩa bảy đi thẳng của Sư phụ chúng ta, thậm chí trong mộng cũng ông cũng chưa thấu đạt” nghĩa ấy thế nào?

3. Nếu là Thủ tọa, bạn trả lời ra sao với vị Thị giả?

Lời bàn:

 Bảy cửa đi vào một phòng. Mỗi cửa có một hình thứctác dụng khác nhau. Nếu chấp vào hình thứctác dụng, bạn không thể vào phòng được.

 Chỉ cứ việc đi thẳng bảy bước, bạn có thể găạp gỡ chân chính Chủ nhân ông và chào hỏi:

- Hôm nay mạnh giỏi không?

- Tốt, còn bạn?

- Cám ơn, rất tốt.

 Bạn rõ suốt điều đó chứ? Nếu rõ, bạn có thể lãnh hội bảy “Đi thẳng” của Thạch Sương.”

8. Sách Tâm Kinh Bát Nhã qua cái nhìn của nhà Thiền, viết[8]:

 ““Sắc tức không, không tức sắc” thì dẫn câu chuyện này quý vị nghe nghiệm sẽ thấy:

 Có một vị Thiền sư tên Kim Bích Phong, sau khi chứng ngộ, Sư buông hết mọi tham ái ở đời, nhưng còn cái bát ngọc ăn cơm Sư quý thích, cho nên thường giữ không rời bên mình. Mỗi lần trước khi nhập định Sư đem cái bát ngọc đó chùi rửa rất kỹ, để an tâm nhập định. Có một lần đó tuổi thọ sắp hết, vua Diêm La sai Quỷ đến bắt. Thiền Sư Kim Bích Phong tự biết thời mình sắp hết, cho nên Sư mỉm cười nhập định để xem vua Diêm La làm gì. Khi Quỷ sứ đến bắt, thì nó đến bên cạnh Sư, đi lòng vòng một ngày, hai ngày mà không bắt được, không thấy Sư ở đâu mà bắt, cuối cùng thì Quỷ sứ không biết làm sao mới đi hỏi ý kiến Thổ Địa thì Thổ Địa bảo rằng:

- Vị Thiền Sư Kim Bích Phong này, ngày thường Sư rất thích cái bát ngọc, cho nên bây giờ nếu mà ông có cách gì đem cái bát ngọc đó đi, làm Sư động niệm sẽ xuất định thì ông bắt được liền.

 Quỷ nghe biết rồi, nó liền đi đến chỗ cái bát của Sư, làm lay động cái bát vang ra tiếng động, khiến Sư nghe mà động niệm. Quả là Thiền Sư Kim Bích Phong nghe thấy tiếng bát lay động, Sư động niệm để giữ cái bát lại, thì ngay đó Quỷ liền vỗ tay cười to:

- Hay! Hay! Bây giờ đây thì xin mời Ngài đi theo chúng tôi đến gặp Diêm Vương.

 Thiền Sư Kim Bích Phong ngay khi đó tỉnh lại liền, Sư biết do tâm tham ái cái bát của mình đó, làm mất đi huệ mạng ngàn năm. Cho nên Sư liền đập vỡ cái bát rồi nhập định trở lại, và nói bài kệ, nguyên văn chữ Hán là:

Nhược nhơn dục nã Kim Bích Phong

Trừ phi thiết luyện tỏa hư không

Hư không nhược năng tỏa đắc trụ

Tái lai bả ngã Kim Bích Phong.

Tức là:

Nếu người muốn bắt Kim Bích Phong

Trừ khi sắt luyện khóa hư không

Nếu hay khóa được hư không ấy

Trở lại bắt ta Kim Bích Phong.

 Ngay đó Sư nhập Niết Bàn Vô Trụ luôn, Quỷ hết bắt được. Chính đó quý vị thấy “sắc tức không” chưa?

 Cũng ngay sắc thân này, nhưng ban đầu Quỷ tới liền không thấy, như vậy “sắc tức là không”; động niệm Quỷ thấy liền, thì “không tức là sắc” vậy thôi! Ngay đó mà không động niệm thì “sắc tức không”, động niệm liền có tướng là “không tức sắc”. Nếu ḿnh thấy được như vậy đó thì không còn ngăn ngại.”

9. Tôn Giả Tịch Thiên (S: Santideva), sau khi giảng xong bay lên Trời. Sách Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận (S: Siksasamuccaya), viết[9]: “Sau khi lên ngồi tòa sư tử, Ngài (Tôn Giả Tịch Thiên) hỏi: “Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đã có từ trước hay những sáng tác mới sau này?”. Vì muốn chế giễu Ngài, nên đại chúng nói: “Những sáng tác mới sau này”. Thế là Ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát hạnh (Bodhisattva-carya-vatara). Khi tụng đến câu: “Khi Có và Không, không còn khởi lên trong tâm…” thì Ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của Ngài còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không thấy Ngài nữa, Tăng chúng hối hận trở về phòng tìm kiếm, thấy trên bàn để lại 3 quyển: Sutrasamuccaya, Siksacamuccaya và Bodhicaryavatāra”.

 10. Sách Ngữ Lục Hòa Thượng Hư Vân, Thiền Sư Hư Vân dạy[10]:

 “Kinh Lăng Nghiêm thuyết:

“Như lọc lấy nước

Giữ nước trong lành

Nước tịnh không động

Cát đá tự chìm

Nước trong liền hiện

Là vừa hàng phục

Khách trần phiền não

Lọc cát đá ra

Chỉ còn nước trong

Đó là đoạn hẳn

Căn bản vô minh”.

Phiền não tập khí ví như cát đá, vì vậy mới dùng thoại đầu. Thoại đầu như lưới lọc cát, khiến nước trong sạch. Người dụng công, nếu đạt đến chỗ thân tâm nhất như, tức cảnh tịnh xuất hiện thì phải chú ý, chớ dừng lại mà không tiến bước. Nên hiểu rằng đó chỉ là cảnh giới thô thiển, phiền não vô minh chưa đoạn hết. Lúc ấy, tâm phiền não đã chuyển thành tâm thanh tịnh, như cát bụi lóng thì nước trong. Tuy vậy, dưới đáy nước cát bụi vẫn còn, chưa được lọc ra, nên cần phải gia công thêm nữa. Cổ nhân nói:

“Ngồi trên đỉnh cột trăm thước,

Tuy thấy mà không thật thấy,

Nếu tiến thêm một bước nữa,

Mười phương thế giới liền hiện!”

 Nếu không tiến thêm một bước nữa, thì chỉ nhận “Hóa Thành” làm nhà, và phiền não vẫn còn cơ hội nổi lên. Nếu như thế, muốn tự mình giác ngộ, cũng rất khó lắm. Vì vậy, phải lọc cát bụi, rồi giữ nước trong, thì mới mong đoạn hẳn cội gốc vô minhthành Phật Tổ. Sau khi cắt đứt gốc rễ vô minh, tùy thờihiện thân thuyết pháp khắp mười phương. Ví như Bồ Tát Quán Âm, Ngài thường hiện ba mươi hai ứng thân. Nếu chúng sanh nào khẩn cầu muốn được độ thoát, Ngài sẽ vì họ mà hiện ra thân đó để thuyết pháp. Tự do tự tại, qua lại nơi thanh lâu tửu điếm, thai trâu thai bò, thiên đường địa ngục, không bị trói buộc. Ngược lại, một niệm phân biệt khởi lên, thì luân hồi mãi trong sáu đường.

 Thuở xưa, đời trước của Tần Tăng thường cúng dường tượng Địa Tạng với hương hoa đèn nến, nên mới được quả báo thiện lành. Nhưng vì không phát tâm tu hành dài lâu, lại phiền não vô minh chưa đoạn hết, nên đời nay mới bị tâm sân tổn hại, khiến đọa lạc. (Ông làm đến chức Tể tướng vào đời Tống, nhưng vì muốn soán ngôi vua, nên bị xử trảm.)

 Nếu tín tâm kiên cố, không thối thất, bền bỉ tu hành, dầu quý vị là ai đi nữa, thì chắc chắn sẽ thành Phật.

 Xưa kia, có một người nghèo nọ xuất gia tại một ngôi chùa thuộc tỉnh Chương Châu, rất thật tâm tu hành, nhưng không biết hỏi đạo cùng ai, chỉ ngày ngày lo khổ công làm lụng công quả. Hôm nọ, có một vị Tăng hành cước, ghé lại tạm trú nơi chùa. Vị Tăng thấy Thầy làm lụng vất vả, bận rộn sáng tối, nên hỏi việc dụng công tu đạo hằng ngày như thế nào. Thầy đáp:

- Mỗi ngày con đều làm việc khổ nhọc. Xin thỉnh Ngài dạy phương pháp tu hành.

- Hãy tham công án “Ai là người đang niệm Phật”.

 Thể theo lời dạy của vị khách Tăng, mỗi ngày trong lúc làm việc, Thầy luôn xoay lại, nhìn vào chữ “Ai”. Sau này, Thầy vào núi thẳm rừng sâu, ăn đọt tùng uống nước suối, mặc áo rơm mà dụng công tu hành. Bấy giờ, gia đình ở nhà, biết việc Thầy tu hành khổ hạnh nơi núi sâu rừng thẳm, nên người mẹ liền bảo cô chị đem một cuộn vải cùng thức ăn đến đó. Cô chị vào hang núi, thấy Thầy đang ngồi Thiền trong vách sâu, bèn đến lắc vai, nhưng thân Thầy không lay động. Cô kêu to lên, nhưng Thầy vẫn không đáp lời. Tức giận, cô để lại tất cả đồ đạc rồi trở về nhà. Thầy không một lời hỏi thăm gia đình, cứ mãi ngồi Thiền trong hang. Mười ba năm sau, người chị lại đến thăm, thấy cuộn vải khi trước, cũng để ngay lại chỗ xưa, mà chưa hề bị động đến. Lần nọ, có người bị đói khát, chạy lánh nạn ngang qua đó, thấy Thầy đang ngồi Thiền, bèn tiến vào trong hang để xin đồ ăn. Thầy liền đi vào hang sâu, lấy ra vài thỏi đá bỏ vào nồi nấu, rồi mang ra cùng ăn với người khách lạc đường, như ăn khoai vậy. Ăn xong, trước khi khách đi, Thầy dặn:

- Xin đừng kể về buổi ăn này cho người ngoài biết.

 Thời gian sau, vì nghĩ rằng trụ trong núi đã lâu, Thầy muốn ra ngoài để kết duyên pháp. Do đó Thầy đến Hạ Môn, cất lều tranh ngay bên vệ đường để bán trà bánh cho khách qua lại. Bấy giờ là đời vua Vạn Lịch (1573 – 1620). Hoàng Thái Hậu vừa mới qua đời, nên nhà vua thỉnh mời chư Cao Tăng đến hoàng cung, làm lễ cầu nguyện cho mẹ ông. Mới đầu, nhà vua định thỉnh Tăng chúng ở kinh đô, nhưng đương thời không có vị Cao Tăng nào cả. Hơn nữa, Hoàng Thái Hậu báo mộng cho biết, là tại Chương Châu, tỉnh Phước Kiến, có một vị Cao Tăng. Vì vậy, nhà vua phái quan quân đến Chương Châu, cung thỉnh tất cả chư Tăng về kinh đô, lập đàn tràng cầu siêu. Thế nên, Tăng chúng Chương Châu đều chuẩn bị hành lý, rồi lục đục kéo nhau lên kinh đô. Khi chư Tăng đi ngang qua quán trà, Thầy liền hỏi thăm nguyên do. Chư Tăng đáp:

- Hiện nay, chúng tôi phụng theo chiếu chỉ nhà vua, lên kinh đô lập đàn tràng cầu siêu độ cho Hoàng Thái Hậu.

Thầy thưa:

- Bạch chư Hòa Thượng! Vậy con có thể cùng đi với quý ngài được không?

- Điệu bộ ông lôi thôi xốc xếch, làm sao theo chúng tôi được.

- Con không biết tụng kinh, nhưng có thể giúp quý ngài mang hành lý.

 Chư Tăng nhận lời, đưa hành lý cho Thầy mang, rồi cùng nhau lên kinh đô. Khi ấy, Hoàng Đế biết chư Tăng tại Chương Châu đang trên đường đến, nên bảo người chôn giấu một bộ kinh Kim Cang dưới cổng kinh thành. Các vị Tăng Chương Châu không hay biết. Người người đều bước qua cổng thành, duy chỉ trừ Thầy. Thầy quỳ xuống chắp tay, mà không dám bước qua. Mặc dù quân lính giữ cổng thành kêu réo, nhưng Thầy vẫn không đi. Nghe quan quân tấu trình sự việc, Hoàng Đế rất vui mừng, biết Thánh Tăng đã đến. Ông lại sai người ra hỏi:

- Hòa Thượng đã đến, sao không vào kinh thành?

Thầy đáp:

- Dưới đấtkinh Kim Cang, nên tôi không dám bước qua.

- Tại sao Hòa Thượng không lộn ngược thân mà vào thành?

 Nghe thế, Thầy liền chống hai tay xuống đất, đưa hai chân lên trời, rồi đi vào thành. Hoàng Đế cung kính tột bực. Lúc được hỏi cách lập đàn tràng cầu siêu, Thầy đáp:

- Canh năm sáng mai, kiến lập một đài cao, cắm một cây phướn, sắp một bàn trái cây cùng đốt đèn nến để cúng dường Phật là đủ.

 Hoàng Đế nghe vậy lòng không vui, vì đàn lễ không long trọng. Ông lại sợ Thầy không có đạo đức, nên cho hai cung nữ đến hầu hạ, tắm rửa. Thân tâm Thầy vẫn không động khi được hai cung nữ đến tắm cho mình. Nghe lời cung nữ tấu trình việc đó, Hoàng Đế lại tăng thêm sự cung kính, và nhận biết Thầy là một vị Thánh Tăng, nên y theo lời dạy mà kiến lập đàn tràng. Hôm sau, Thầy lên tòa thuyết pháp, đăng đàn làm lễ; tay phất cây phướn trước quan tài Hoàng Thái Hậu, Thầy nói kệ:

“Cái ta vốn không đến,

Bà chớ có đắm đuối,

Một niệm không sanh,

Siêu thăng cõi Trời!”

 Làm Phật sự xong, Thầy bảo Hoàng Đế:

- Xin chúc mừng! Hoàng Thái Hậu đã được siêu thăng!

 Hoàng Đế rất đỗi nghi ngờ, vì sợ làm đàn tràng quá đơn sơ như thế thì công đức chưa đủ. Đang khởi tâm nghi như thế, thì trên hư không, có tiếng của Hoàng Thái Hậu:

- Hoàng Đế! Hãy cám ơn Thánh Tăng. Mẹ đã được siêu thăng rồi!

 Nghe vậy, Hoàng Đế vừa sợ vừa mừng, cúi mình lễ bái tạ ơn, rồi thiết lễ trai cúng dường.

 Thầy thấy Hoàng Đế mặc quần thêu hoa gấm, nên mắt chăm chăm nhìn. Thấy vậy Hoàng Đế thưa:

- Bạch Đại Đức! Ngài muốn vật này à?

Nói xong, Hoàng Đế liền tặng cho Thầy quần áo gấm đó. Thầy nói:

- Đa tạ Hoàng Thượng!

 Do việc này, Hoàng Đế bèn ban hiệu cho Thầy là “Quốc Sư Long Khố”.

 Thọ trai xong, Hoàng Đế dẫn Thầy đến vườn thượng uyển du ngoạn. Trong vườn có một bảo tháp. Thầy vừa thấy thì tâm rất vui mừng, nên mắt nhìn chằm chặp. Hoàng Đế thưa:

- Bạch Quốc Sư! Ngài muốn tháp này ư?

Thầy bảo:

- Tháp này tuyệt đẹp!

- Bạch Quốc Sư! Con có thể cúng dường Ngài ngôi bảo tháp này.

 Nói xong, Hoàng Đế liền sai người mang bảo tháp về Chương Châu. Thầy bèn bảo:

- Không cần nhờ người mang. Tự tôi đem về được.

 Nói xong, Thầy liền bỏ tháp vào trong tay áo, rồi bay lên hư không biến mất. Hoàng Đế kinh hãi run sợ, nhưng lại vui mừng tán thán việc chưa từng có.

 Quý vị! Hãy nhìn lại câu chuyện này. Kể từ khi xuất gia, Thầy chưa từng dụng công tán loạn, đạo tâm luôn kiên cố. Người chị đến thăm, Thầy vẫn không màng. Y phục rách nát, Thầy vẫn không quản. Cuộn vải để trong hang mười ba năm mà không động đến. Chúng ta hãy tự hỏi chính mình, công phu có được như thế không? Chỉ nói trong một ngày một đêm, giả như có chị mình đến thăm, thì tâm có động chăng? Lại nữa, trong lúc chỉ tịnh, thấy thầy giám hương đi đốt hương, hay người khác đang động đang tịnh, liền giương đôi mắt mà nhìn. Dụng công như vầy, đến khi nào mới thành thục! Quý vị chỉ thiết yếu lọc bỏ bùn cát, thì nước trong tự nhiên hiện ra. Quý vị hãy đề khởi thoại đầu lên!”

11. Ở Việt Nam, quý Ngài Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, v.v…, tu hành cao siêu, thần thông quảng đại. Sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 2, Nguyễn Lang (Hòa Thượng Nhất Hạnh) viết[11]:

 “Theo truyền tích, Đạo Hạnh hồi còn nhỏ bề ngoài tỏ ra ham chơi nhưng bề trong thì có chí lớn, rất chuyên cần học tập. Ông có ba người bạn thiết: nho sĩ Phí Sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và kép hát Phan Ất. Cha của Đạo Hạnh là Từ Vinh thấy con suốt ngày chơi bời, đá cầu, thổi sáo, rất lấy làm lo lắng. Một đêm mở cửa vào phòng Đạo Hạnh, ông thấy chàng đang tựa án mà ngủ, tay còn cầm sách, trên bàn sách vở bừa bãi, ngọn đèn leo lét. Biết rằng con rất chăm học về đêm, ông không lo nữa. Sau đó Đạo Hạnh đi thi được đỗ đầu khoa Bạch Liên. Ông không muốn ra làm quan vì ông chỉ muốn tìm cách trả thù cho cha. Cha của ông, trước đó, vì có dùng tà thuật phạm đến Diên Thành Hầu nên đã bị Diên Thành Hầu nhờ pháp sư Đại Diên dùng pháp thuật đánh chết quăng thây xuống sông Tô Lịch. Khi trôi đến trước nhà của Diên Thành Hầu thì thi hài của cha ông bỗng đứng dậy trên mặt nước, tay chỉ vào nhà Hầu như vậy suốt một ngày. Hầu sợ hãi đi tìm Đại Diên. Đại Diên tới đọc một câu kệ:

 Thầy tu giận ai thì cũng không giận quá một đêm (Tăng hận bất cách túc).

 Thây của Từ Vinh liền ngã xuống và trôi đi. Trôi đến sông Hàm Rồng làng Nhân Mục Cựu thì dừng lại. Thấy việc linh dị, dân làng ấy chôn cất, dựng miếu và tạc tượng thờ, lấy ngày mồng mười tháng giêng làm ngày kỵ. Bà mẹ thì chôn ở chùa Ba Lăng, làng Thượng An, nay là chùa Hoa Lăng. Chùa này thờ hai vị thánh phụ và thánh mẫu tức là cha mẹ của Từ Đạo Hạnh.

 Đạo Hạnh muốn trả thù cho cha, song chưa biết bằng cách nào. Một hôm trông thấy Đại Diên đi ngang qua nhà liền xách gậy ra định đánh. Bỗng nghe trên không có tiếng la lên “đừng, đừng”, liền bỏ gậy xuống không dám đánh nữa. Sau đó Đạo Hạnh cùng hai người bạn là Minh KhôngGiác Hải cùng rủ nhau sang Ấn Độ để học linh thuật về chống trả với Đại Diên. Nhưng đi đến xứ người Răng Vàng[12], thấy đường sá hiểm trở, ba người muốn trở về. Bổng thấy một ông già chèo chiếc thuyền con dạo chơi trên sông, ba người đến gần hỏi đường. Ông già trả lời: Đường núi hiểm trở di chân không được đâu; lão có chiếc thuyền con, xin chở giúp các người, và có cái gậy trúc con, nhắm thẳng Tây Vực mà đi thì chẳng xa là mấy. Nói xong đọc bài kệ:

Đồng đạo cùng đi sự đã đành

Công nhiều chí lớn ắt thành danh

Chớ nề khó nhọc đường trăm ngả

Theo riết Hoàng Giang thấy thánh sinh

 Đọc xong, ngửa mặt trông chừng giây lát đã đến bờ Tây Thiên. Đạo Hạnh ở lại giữ thuyền con, Giác HảiMinh Không lên bờ học Đạo. Học xong hai người bỏ về trước. Đạo Hạnh giữ thuyền đã ba ngày, không thấy hai bạn trở về. Bỗng gặp một bà lão bên sông tới hỏi thăm, được bà cho biết là hai người đã học được phép linh của bà và đã về trước rồi. Bà lão bảo Đạo Hạnh gánh hai thùng nước về nhà và bà bắt đầu dạy pháp thuật cho. Đạo Hạnh học xong cũng về nước. Giữa đường nghĩ tới hai bạn, liền niệm chú. Hai người bị đau bụng không đi tiếp được nữa. Đạo Hạnh dùng phép rút đất, vượt hai người, rồi hóa ra con cọp trong bụi rậm, gầm lên một tiếng làm hai người giật mình. Nơi Đạo Hạnh hóa cọp để “hù” hai người bạn thuộc về làng Ngãi Cầu, huyện Từ Liêm. Minh Không thấy Đạo Hạnh giả cọp, cười nói với Đạo Hạnh: “Nghiệp của anh còn nặng, anh sẽ còn luân hồi và sẽ gặp nạn. Nhưng tôi sẽ cứu cho”.

 Đạo Hạnh về ẩn trong chùa Thiên Phúc núi Phật tích, nhất tâm trì tụng thần chú Đại Bi, đủ mười vạn tám nghìn biến. Một hôm thấy có một vị Thần đến, xưng là Tứ Trấn Thiên Vương, nói rằng vì cảm công đức của Đạo Hạnh nên đến để được sai khiến. Đạo Hạnh biết pháp thuật của mình đã viên mãn, có thể báo thù cha được, bèn cầm gậy đi đến cầu Quyết sông Tô Lịch, liệng gậy xuống nước. Gậy liền lội ngược dòng như con rồng, mãi cho đến cầu Tây Dương mới ngừng. Đạo Hạnh mừng nói: “Phép của ta hơn phép của Đại Diên rồi”. Bèn tới nhà Đại Diên. Trông thấy Đạo Hạnh, Đại Diên hỏi: “Ngươi không nhớ việc ngày trước hay sao?” Đạo Hạnh ngữa mặt lên Trời, không thấy phản ứng gì, liền lấy gậy đánh Đại Diên một gậy. Đại Diên về phát bệnh mà chết.

 Từ đó, thù xưa rửa sạch, niềm tục lạnh như tro tàn, Đạo Hạnh mới đi khắp tùng lâm mà cầu tâm ấn. Nghe Thiền sư Trí Huyền dạy Đạo ở Thái Bình, Đạo Hạnh tìm tới tham vấn, trình lên bài kệ:

Lẫn với bụi đời tự bấy lâu

Chân tâm vàng ngọc biết tìm đâu

Cúi xin rộng mở bày phương tiện

Thấy được chân như sạch khổ sầu.

Trí Huyền đáp:

Trong ngọc vang ra tiếng diệu huyền

Mỗi âm đều hiển lộ tâm thiền

Bồ đề hiện rõ ngay tầm mắt

Tìm kiếm lại càng ngăn cách thêm.

 Đạo Hạnh hoang mang không hiểu. Sau này, khi tu học với Thiền sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân, có lần Đạo Hạnh hỏi:

- Cái gì là chân tâm?

 Sùng Phạm đáp:

- Cái gì không phải là chân tâm? 

 Đạo Hạnh thoạt nhiên tỏ ngộ. Hỏi rằng:

- Làm thế nào để giữ gìn?

 Sùng Phạm nói:

- Đói thì ăn, khát thì uống.

 Từ đó về sau pháp lực Đạo Hạnh càng tăng cường, cơ duyên Thiền học càng chín chắn, có thể sai khiến chim rừng và dã thú…Hễ có ai đau ốm đến khẩn cầu thì niệm chú trị bệnh, ai ai cũng được nhờ ơn. Có lần đệ tử hỏi:

- Thế nào là Phật tâm?

 Đạo Hạnh trả lời:

Có thì có tự trần sa

Không thì cả cõi Ta bà cũng không

Có không bóng nguyệt dòng sông

Có không chẳng phải là không chút nào.

 Lại nói:

Nhật nguyệt trên đầu núi

Ai cũng thấy mịt mùng

Nhà giàu kia có ngựa

Mà lại đi chân không

 Hồi ấy vua Nhân Tông không có con nối dõi. Năm Hội Tường Đại Khánh thứ ba, phủ Thanh Hóa báo cáo về là có một đứa trẻ linh dị xuất hiện, mới ba tuổi đã nói năng thông thạo, tự xưng tên là Giác Hoàng, không có việc gì vua làm mà không biết. Vua sai người xét thấy đúng như lời báo cáo, mới rước đứa bé về kinh đô cho ở chùa Báo Thiên. Thấy nó thông minh dị thường vua rất lấy làm yêu mến, muốn lập làm Hoàng Thái Tử. Quần thần đều cản, bảo rằng nếu nó quả thật linh dị thì tự khắc nó phải thác sinh làm con vua. Vua liền tổ chức đại hội bảy ngày bảy đêm cầu cho Giác Hoàng đầu thai làm con của mình. Lúc đó Đạo Hạnh nói:

- Đứa trẻ kia là yêu quái, mê hoặc lòng người, ta không thể ngồi yên để nó làm loạn.

 Nói xong nhờ bà chị giả làm người đi xem hội, bí mật đem vài hạt ấn kết của Đạo Hạnh đến giắt lên trên rèm. Đại hội khai diễn đến ngày thứ ba. Giác Hoàng thọ bệnh, bảo rằng:

- Khắp nước giăng đầy lưới sắt, muốn thác sinh mà không có cách gì vào lọt.

 Vua nghi rằng đó là do Đạo Hạnh làm, liền cho điều tra, quả nhiên như vậy. Đạo Hạnh bị giam ở lầu Hưng Thanh, trong khi vua họp quần thần để xử tội. Khi Sùng Hiền Hầu đi qua lầu, Đạo Hạnh van:

- Xin hết sức cứu cho bần Tăng khỏi tội, tôi sẽ xin thác thai trong cung để báo ân.

 Hầu vào tâu vua:

- Nếu Giác Hoàng thật quả có thần lực, thì dù có bị Đạo Hạnh ngăn cản cũng vẫn thác thai được. Nay sự việc như thế thì tỏ ra Đạo Hạnh cao tay hơn nhiều. Tại sao không cho Đạo Hạnh thác thai?

 Vua liền nghe lời, thả Đạo Hạnh ra. Đạo Hạnh đi thẳng ngay đến nhà Hầu, nhìn vào nhà tắm. Phu nhân giận mách Hầu. Hầu đã biết trước nên không quở trách gì. Sau đó phu nhân có thai. Đạo Hạnh nói rằng:

- Chừng nào gần đến giờ sinh thì báo cho biết.

 Đến ngày được báo tin, Đạo Hạnh tắm rửa, thay áo, bảo với chư Tăng:

- Túc nhân của ta chưa hết, phải thác sinh lần nữa ở thế gian, tạm làm Quốc vương. Sau kiếp Quốc vương lại phải sinh lên cõi Trời Tam Thập Tam Thiên. Sau khi chết, trong một thời gian, chân thân ta sẽ không hư hoại. Đến ngày nó hư hoại thì đó là ngày ta vào Niết Bàn, không còn ở cõi sinh diệt nữa. Môn đồ khóc lóc. Đạo Hạnh đọc bài kệ:

Thu sang chẳng báo nhạn cùng bay

Cười lạnh trần gian khổ lụy đầy

Nhắn với môn đồ đừng luyến tiếc

Thầy xưa mấy kiếp lại thầy nay

 Đọc xong, Đạo Hạnh đi vào núi, bỏ thân mà hóa. Đó là ngày mồng bảy tháng ba. Phu nhân Sùng Hiền Hầu sinh hạ được một trai, đặt tên là Dương Hoán, ba tuổi được vua Nhân Tông nuôi ở trong cung, lập làm Hoàng Thái Tử. Tháng chạp năm Thiên Phù Khánh Thọ thứ nhất, vua băng, Thái Tử tức vị làm vua hiệu là Thần Tông. Thần Tông tức là Đạo Hạnh hóa thân vậy.

 Thiền sư Minh Không tự Không Lộ, họ Nguyễn, tên là Chí Thành, bạn của Đạo Hạnh và Giác Hải. Năm Minh Không hai mươi chín tuổi, ba người đi Tây Trúc học. Minh Không đắc lục trí thần, về quê quán dựng chùa Diên Phúc chuyên trì chú Đại Bi. Minh Không muốn tạo ra bốn kỳ quan của Đại Việt là Tháp Báo Thiên, Đỉnh Phổ Minh, Chuông Quy Điền và Tượng Quỳnh Lâm, nhưng không có đủ đồng, liền đi sang Trung Hoa. Ngủ đêm tại một nhà người giàu có, Minh Không xin sáu thước đất vuông để lập tu viện Kỳ Viên; người trưởng giả cười nói:

- Ngày xưa Thái Tử Lương lập Kỳ Viên có đất rộng cả vạn dặm, sáu thước làm sao lập được?

 Đêm ấy Minh Không tung áo ca sa mình che cả một đám đất ngàn dặm. Thấy có thần thông, người trưởng giả đem vợ con đến quỳ lạy xin theo Tam Bảo. Sáng sớm, Minh Không mặc pháp phục, chống tích trượng vào triều. Vua hỏi: “Muốn gì?”. Minh Không nói:

- Bần Tăng xuất gia đã lâu, nay muốn tạo tứ khí cho Đại Việt, cho nên đã không quản ngại ngàn dặm tới đây, xin Bệ Hạ bố thí cho một ít đồng. Vua hỏi có bao nhiêu đi theo. Minh Không nói đi một mình. Vua nói:

- Đường về quý quốc xa lắm. Vậy Thầy muốn lấy bao nhiêu thì lấy.

 Với chiếc tay nãi, Minh Không nhét hết kho đồng của nước bạn. Quẩy tay nãi trên vai, Minh Không vào chào vua về nước.

 Vua tiếc mà không biết làm sao lấy lại kho đồng. Đem đồng về chùa Quỳnh Lâm, Minh Không đúc một tượng Phật A Di Đà vĩ đại cho chùa, một đỉnh tháp lấy tên là tháp Báo Thiên, một đại hồng chung tại làng Phổ Lại và một chiếc đỉnh lớn tại Phổ Minh. Số đồng còn đủ để đúc cho chùa địa phương nặng ba ngàn ba trăm cân, một chiếc đại hồng chung khác cho chùa Diên Phúc ở huyện Giao Thủy nặng ba ngàn cân. Công quả xong rồi Minh Không đọc bài kệ:

Nổi trên mặt đại dương,

Cánh tay nặng ngàn cân

Kho đồng trong một túi

Giây phút vượt ngàn trùng

 Lúc đó vua Nhân Tông dựng điện Hưng Long đã xong, làm lễ Lạc thành, bổng nghe tiếng kêu kỳ quái trên nóc điện, tiếng kêu to như sấm. Vua sợ, nhờ Minh KhôngGiác Hải tới trừ. Rồi Nhân Tông phong Minh Không làm Quốc sư. Khi vua Thần Tông lên hai mươi mốt tuổi, một chứng bịnh lạ kỳ xảy tới cho vua. Đầy mình mọc lông, vua rống như mãnh hổ, không thầy thuốc nào chữa lành. Lúc đó người ta nghe trẻ con ngoài đường hát bài đồng dao sau đây:

Có được Lý Thần Tông

Nước nhà vạn sự thông

Muốn chữa bệnh Hoàng Đế

Phải nhờ Nguyễn Minh Không

 Triều đình sai sứ đến chùa Giao Thủy đón Minh Không. Minh Không biết trước, cười hỏi:

- Có phải là chuyện cứu vua mắc bệnh hóa cọp phải không?

 Sứ thần ngạc nhiên, hỏi tại sao Minh Không biết. Minh Không bảo:

- “Chuyện này ta đã biết trước cách đây ba mươi năm.” Ý muốn nói chính ba mươi năm trước đó vì Đạo Hạnh rắn mắt hóa hổ để nhát hai bạn nên nay thác sinh làm vua bị quả báo.

 Minh Không sai lấy nồi nấu cơm thết sứ giả và quân lính tùy tùng. Quan quân ăn no nê, vậy mà cơm trong chiếc nồi nhỏ xíu vẫn còn. Minh Không, Giác Hảimọi người xuống thuyền. Minh Không nói mọi người hãy nghỉ ngơi, đợi con nước lên rồi hãy nhổ neo. Trong khi mọi người ngủ say, Minh Không làm phép cho thuyền đi nhanh như tên bắn, phút chốc đã tới kinh đô. Mọi người thức dậy nhìn ra thì đã thấy tháp Báo Thiên rồi.

 Khi Minh Không vào tới cung, các ngự y thấy ăn mặc quê mùa, không ai đứng dậy chào. Minh Không lấy một cây đinh dài năm tấc đóng sâu vào cột điện rồi nói lớn:

- Ai rút được cây đinh này ra thì mới mong chữa lành bịnh cho Hoàng Thượng.

 Không ai rút được, Minh Không nhón hai ngón tay, nhẹ rút cây đinh ra. Khi vào tẩm điện, thấy vua đang lồng lộn gầm thét, Minh Không thét lớn:

- Đại trượng phu đứng đầu muôn dân, trị vì bốn bể, sao lại làm gì cuồng loạn như thế?

 Vua nghe sợ run, không dám lồng lộn nữa. Minh Không sau nấu một chảo dầu, bỏ vào đấy một trăm cây đinh. Rồi lấy tay khoắng dầu đang sôi, vớt đinh ra ném vào người vua. Tự khắc lông lá rụng hết, vua khỏi bệnh.

 Minh Không sinh năm Bính Thìn, ngày mười bốn tháng tám, tịch ngày mồng ba tháng sáu năm Giáp Tuất. Thần tượng và bia ký để ở Lý Quốc Sư Từ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội. Có để lại bài kệ sau đây:

Chọn nơi địa thế đẹp sông hồ

Vui thú tình quê quên sớm trưa

Có lúc trèo lên đầu chót núi

Kêu dài một tiếng lạnh hư vô.”

12. Ngài Jetsun Milarepa (1052 – 1135) truyền lại cách tu tập lửa Tam muội hay Nội nhiệt Yoga (Tummo Yoga) cho đến ngày nay. Ngài cũng được xem là vị Thánh Thi sĩ vĩ đại trong lịch sử Phật Giáo, Ngài đã để lại một trăm ngàn điệu hát, lời thơ (The Hundred Thousand Songs of Milarepa), chưa được sang tiếng Việt. Sách Phật giáo Tây Tạng, viết[13]: “Người (Ngài Milarepa) chứng đạt thần thông quảng đại, có thể đi xuyên qua núi, bay giữa hư không, biết rõ quá khứ, vị lai, có thể nhìn thấy ba ngàn đại thiên thế giới”.

Sách Milarepa Con Người Siêu Việt, viết[14]: “Như thế cho đến bây giờ, cái Tri Thức Siêu Việtvô danh đã đến với tôi (Ngài Milarepa). Đối với tôi đã minh bạch rằng khuynh hướng ác của tôi đã biến thành khuynh hướng thiện trong một sát na và tôi bắt đầu hiểu cái Một của Tất Cả, nó phá tan mối tương hệ chủ khách trong những danh từ mà chúng ta suy tư cả đời. Bây giờ tôi thấy cả Niết BànThế Giới Huyễn Ảo cũng chỉ tương đối và là những cảnh giới phụ thuộc; và chẳng có gì cả trừ cái Tâm mà trong nó chẳng có sự phân biệt, chẳng có sự chia lìa. Theo quan niệm: Tâm như là một Đại Nhân Duyên trong chiều hướng thông thường người ta bước vào cái Thế Giới Huyễn Ảo mà thường con người có thể nhận thức được; trong chiều hướng trái nghịch nó đưa con người đến Niết Bàn hay sự thức ngộ về huyễn ảo và sự nhận thức không có bất cứ một căn cơ huyễn ảo nào. Cả hai thế giới, thế giới của chúng taNiết Bàn, mà tôi đã thức ngộ nằm trong Tư Tưởng Chân Không hay là Tâm.

 Cái Tri Thức mới mà đã đạt được này đã có từ các nỗ lực vĩ đại trước kia của tôi. Tất cả những gì tôi cần trong lúc khủng hoảng là dưỡng chất và những hướng dẫn, và bây giờ tôi có cả hai. Peta và Zesay đã đóng góp về mặt vật chất vì thế món nợ của tôi đối với họ thật là to lớn. Tôi đã hát cho cả hai nghe một Thánh ca để đáp lại hành vi tốt đẹp của họ, như thế việc làm đó sẽ được dâng đến Mục Đích Vĩnh Cửu.

 Sau khi luyện tập và Thiền định gắt gao hơn nữa các năng lực Thần thông đã bắt đầu phát triển mạnh trong thân thể tôi, những Thần lực này có thể biến tôi ra bất cứ hình thể nào tôi muốn và tôi có thể bay lượn trong hư không được. Rồi ban ngày tôi làm như làm các phép lạ và ban đêm tôi có thể băng qua mọi tầng trong Vũ Trụ và có thể thấy rõ tất cả những gì chứa trong Vũ Trụ này. Trước tiên những Thần lực này chỉ xuất hiện trong các giấc mộng của tôi, nhưng khi tiếp tục một cách phi thường, tôi thấy rằng tôi có thể bay được giữa thanh thiên bạch nhật và đến bất cứ nơi nào tôi muốn đến. Việc này đưa tôi đến một tiến bộ vĩ đại hơn trong phép luyện lửa Tam Muội, đây là mục tiêu chính của tôi.

 Một hôm tôi đang bay như thế và khi bay ngang qua trên ngôi làng của người bà con xa tôi ở, người này có người dâu một trong số ba mươi lăm người bị chết trong buổi tiệc cưới của gia đình chú thím tôi. Ông ta và cậu con trai đang cày ruộng ngoài đồng khi tôi đang bềnh bồng trên đầu họ, cậu con trai đứng trước đầu bò và người cha đang cầm cày cày ruộng.

 Bỗng nhiên cậu con trai nhìn lên thấy tôi, la lớn “Kìa! Có người đang bay!” Người cha giận dữ: “Việc gì thế?” Tại sao mi sững sờ như ở cung trăng rớt xuống vậy? Nó chỉ là tên vô lại Mila, một tên vô tích sự bệnh hoạn vì thiếu ăn, con trai của mụ già độc ácgần đây đó. Đứng tránh ra, đừng đứng dưới bóng hắn và mi làm việc đi”. Người cha nhảy tránh một bên và tôi cũng cố gắng tránh cho bóng tôi đừng phủ xuống họ. Nhưng cậu con trai nói: “ Con chẳng biết người ta vô tích sự hay không gì hết, miễn là anh ta có thể bay được là con khoái rồi, bay được là việc kỳ diệu nhất mà con người có thể làm được”. Và cậu ta tiếp tục ngước mắt nhìn tôi.”

13. Sách Tạng Thư Sống Chết, viết[15]:

 “Thân thể cầu vồng.

 Qua những công phu cao cấp về Dzogchen này, những hành giả đã hoàn tất sự tu tập có thể đưa cuộc đời họ đến một kết thúc phi thườngvinh quang. Khi chết, họ có thể làm cho cơ thể mình tan hoà trở lại trong tinh chất ánh sáng của tứ đại đã tạo ra nó, và kết quả là cơ thể vật chất họ tan thành ánh sáng và biến mất hoàn toàn. Tiến trình này gọi là “thân thể cầu vồng” hay “thân thể ánh sáng”, vì sự tan rã cơ thể thường xảy ra đồng thời với sự xuất hiện tự nhiên của ánh sáng và cầu vồng. Những mật điển Dzogchen xưa cổ và trước tác của bậc Thầy vĩ đại phân biệt rõ ràng các loại khác nhau của hiện tượng lạ lùng này, vì đã có một thời việc ấy xảy ra nếu không phải bình thường thì cũng khá thường xuyên. Thông thường một người khi biết thân mình sắp thành ánh sáng cầu vồng, sẽ yêu cầu được đặt thi thể trong một cái phòng hay lều, đừng động tới trong bảy ngày. Vào ngày thứ tám người ta chỉ thấy tóc và móng là bất tịnh duy nhất của cơ thể còn để lại. Điều này có thể khó tin đối với chúng ta ngày nay, nhưng lịch sử truyền thừa của Dzogchen đầy những trường hợp cá nhân đã chứng được thân cầu vồng, và Dudjom Rinpoche thường nói đây không phải chỉ là chuyện lịch sử quá khứ. Trong số nhiều trường hợp, tôi xin đơn cử một trường hợp gần đây nhất mà tôi có liên hệ mật thiết. Vào năm 1952, ở miền đông Tây Tạng, có một vụ nổi tiếng về thân thể biến thành ánh cầu vồng được nhiều người chứng kiến. Người đạt được chuyện ấy là Sonam Namgyal, thân phụ của thầy tôi và là anh của Lama Tseten, người có cái chết tôi đã mô tả ở đầu sách này.

 Ông là một con người bình dị khiêm cung, làm nghề đẻo đá dạo, khắc những câu thần chú và kinh lên đá. Một vài người nói hồi còn trẻ ông đã từng làm thợ săn, và đã thụ giáo với một bậc Thầy vĩ đại. Không ai biết sự thật ông là một hành giả, ông quả là một vị tu mật hạnh. Một thời gian trước khi chết, người ta thường trông thấy ông lên trên một đỉnh núi và cứ ngồi im lìm giữa nền Trời, mắt nhìn vào không trung. Ông tự đặt ra những bài Thánh ca để tụng đọc thay vì đọc những bài cổ truyền. Không ai biết ông đang làm gì. Rồi ông ngã bệnh hay dường như thế, nhưng lạ thay ông càng có vẻ sung sướng hơn. Khi bệnh tình trở nặng, gia đình ông thỉnh các bậc Thầy và mời bác sĩ. Con trai ông dặn ông nên nhớ lại tất cả những giáo lý mà ông đã được nghe. Ông chỉ mỉm cười bảo: “Ta đã quên tuốt luốt rồi. Vả lại chẳng có gì để mà nhớ. Mọi sự đều huyễn ảo, nhưng ta tin chắc tất cả đều tốt đẹp.”

 Ngay trước khi chết, vào năm ông 79 tuổi, ông nói: “Tôi chỉ yêu cầu một chuyện là khi tôi chết, hãy để thi hài tôi yên ổn đừng động chạm trong một tuần lễ.” Khi ông chết, gia đình quàng thây ông và thỉnh các vị tu sĩ, Lạt Ma đến hành lễ cho ông. Họ đặt thi thể ông vào một phòng nhỏ trong nhà, và họ không để ý rằng mặc dù bình thường ông cao lớn, lúc bấy giờ họ đưa ông vào đó rất dễ dàng, như thể là người ông thu nhỏ lại. Đồng thời có ánh sáng cầu vồng toả khắp xung quanh nhà. Vào ngày thứ sáu, khi nhìn vào căn phòng, người ta thấy thi thể ông càng rút lại thêm nữa. Ngày thứ tám sau khi ông chết, buổi sáng vào giờ làm tang lễ, những người phu đến để nhặt xác ông. Khi mở những vải liệm ra, họ không thấy gì ngoài ra là tóc và móng của người đã chết.

 Thầy tôi Jamyang Khientse bảo đem những di vật này đến cho Ngài xem, và Ngài đã xác nhận đấy là một trường hợp của thân thể biến thành ánh sáng cầu vồng.”



[1] Kinh Tương Ưng Bộ, tập 5, Phẩm Nalandā, Đại Tạng Kinh Việt Nam xuất bản tại Việt Nam, Phật Lịch 2537 – 1993, trang 252~256.

[2] Kinh Tiểu Bộ, tập 1, Đại Tạng Kinh Việt Nam xuất bản tại Việt Nam, Phật Lịch 2543 – 1999, trang 288~289.

[3] Hoà Thượng Tuyên Hóa khai thị, quyển 5, xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2005, nhân dịp Thiền Thất tháng 12 năm 1980, từ trang 97 trở đi.

[4] Hòa Thượng Thích Thanh Từ soạn dịch, Trung Hoa Chư Thiền Đức Hành Trạng, tập 2, Hòa Thượng Thích Thanh Từ soạn dịch, Trung tâm Văn Hóa Phật giáo Việt Nam tại Cộng Hòa Liên Bang Đức tái bản, Phật lịch 2530-1986, phần nói về Thiền sư Thiện Chiêu ở Phần Dương (947-1024), Thầy và thị giả cùng đi một lượt, trang 360.

[5] Thu Nguyệt Long Dận (Akizuki Ryūmin, người Nhật Bản) soạn, Mỗi ngày một câu chuyện Thiền, Tàn Mộng Tử biên dịchchú giải, Văn Mới xuất bản tại Hoa Kỳ, năm 2005, trang 50.

[6] Vườn Thiền rừng ngọc (Thiền Uyển Đạo Lâm) của Thiền sư Chí Minh & Tuyết Đường, Thông Thiền dịch, xuất bản tại Việt Nam năm 2001, trang 173.

[7] Thiền Sư Sùng Sơn (Zen Master Seung Sahn – Hàn Quốc), Thế Giới Nhất Hoa (365 công án trong đời sống hàng ngày), Hòa Thượng Thích Giác Nguyên dịch, trang 27.

[8] Thượng Tọa Thích Thông Phương giảng, Tâm Kinh Bát Nhã qua cái nhìn của nhà Thiền, Hội Thiền Học Việt Nam xuất bản tại Hoa Kỳ, Phật lịch 2547-2003, trang 20.

[9] Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận (S: Siksasamuccaya), Hòa Thượng Thích Như Điển dịch, Chùa Phật BảoPhật tử Việt Nam tại Hoa Kỳ ấn tống, Phật Lịch 2549 - 2005, trang 15, có một phần nói về tiểu sử Tôn Giả Tịch Thiên (S: Santideva), do Thượng Tọa Thích Trí Siêu viết, dựa theo tiếng Tây Tạng, Anh và Pháp.

[10] Ngữ Lục Hòa Thượng Hư Vân, Tỳ Kheo Thích Hằng Đạt dịch, Tịnh Xá Phật Đảnh xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2001, trang 258.

[11] Nguyễn Lang (Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 2, Lá Bối tái bản tại Hoa Kỳ năm 1986, từ trang 67.

[12] Nguyễn Lang chú thích: Có lẽ là Miến Điện.

[13] Giáo sư Trần Quang Thuận , Phật giáo Tây Tạng, Trung Tâm Học Liệu xuất bản tại Hoa kỳ năm 2004, trang 225.

[14] Rechung, Milarepa Con Người Siêu Việt, Đỗ Đình Đồng dịch, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản tại Hoa Kỳ, Phật Lịch 2526 – 1982, trang 128 và 129.

[15] Sogyal Rinpoche , Tạng Thư Sống Chết, Ni sư Thích Nữ Trí Hải dịch, Thanh Văn xuất bản năm 1996, trang 239.


Tạo bài viết
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo
Vào sáng ngày 22 Oct vừa qua, phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng lại tiếp tục lên đường cứu trợ cho 3 ngôi làng nghèo Thừa Thiên Huế, đó là Làng Phò Ninh, Làng Cổ Bi và Làng Hiền Sỹ. Đây là 3 ngôi làng thời gian qua bị nước lũ vây hãm không có đoàn nào vô làng cứu trợ được, may mắn là khi đoàn Từ thiện Trái tim BDDT có mặt thì nước lũ đã rút đi nhiều nên xe chở hàng cứu trợ đã có thể vào tận nơi để phát quà cho dân.
Sáng hôm qua, (ngày 21 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 2 xã Phú Lễ, xã Quảng Phú, Huyện Quảng Điền Tp Huế, đoàn đã phát tổng cộng là 300 phần quà tại nhà văn hóa cạnh chùa Quang Bảo- Phù Lễ. Chuyến cứu trợ lần này được sự nhiệt tâm giúp đỡ về mặt tổ chức cũng như vận chuyển hàng hóa của chư Phật tử chùa Quang Bảo & các thành viên trong Hội từ thiện nên đã diễn ra tốt đẹp và thành tựu viên mãn.