Thần Thông Hay Cảm Thông ? Thành Văn

04/10/201212:00 SA(Xem: 3587)
Thần Thông Hay Cảm Thông ? Thành Văn

THẦN THÔNG HAY CẢM THÔNG
Thành Văn

 Mục đích sau cùng của công phu tu tập theo Phật giáochứng ngộ giải thoát. Đạo Phật không đặt nặng vấn đề về thần thông. Nếu trong tiến trình tu trì có đôi lúc Phật, Bồ Tát phải thi triển thần thông cũng là vì bất đắc dĩ phải làm. Tại sao vậy?

 Bởi chư Phật không muốn chúng sanh chấp vào thần thông rồi mê luyến không rứt ra được sự ham muốn thần thông để rồi đi lạc con đường tu, mãi mãi luẩn quẩn trong vòng sinh tử luân hồi. Có thần thông cũng như có một thứ phương tiện xảo diệu, nhưng vẫn còn nằm trong các pháp thế gian. Con đường Thế tôn chỉ cho chúng sanhcon đường giải thoát rốt ráo, ra ngoài tất cả các pháp thế gian. Còn luẩn quẩn trong cõi ta bà là vẫn còn ở trong ngôi nhà lửa. Khổ vẫn còn nguyên.

 Người tu chứng, đạt được thần thông, ví như kẻ có quyền lực trong tay, dễ sa vào lạm quyền bất chấp pháp luật. Người có thần thông nếu lạm dụng thần thông có thể xâm phạm luật nhân quả, tạo nghiệp mà phải nối tiếp dòng sinh tử luân hồi.

 Câu chuyện sau đây chứng minh Phật xem thần thông chỉ là một phương tiện xảo diệu, không phải mục đích của người tu giải thoát. (Xin chỉ lược thuật ý truyện, không chấp vào câu chữ):

 Một lần ở một bến đò, có tu sĩ ngoại đạo hỏi Đức Phật: “Này ông Cồ Đàm. Ta nghe nói ông tu hành đắc đạo, vậy chớ ông đạt được thần thông gì? Có thể đi trên nước mà sang sông hay không?”

 Phật không trả lời. Tu sĩ ngoại đạo bảo Phật và chúng đệ tử của ngài hãy nhìn xem ông thi triển thần thông bằng cách bẻ một cành lá, thả xuống nước rồi đứng trên đó mà sang sông.

 Phật và chúng đệ tử dùng đò để qua sông như mọi người. Đến bờ bên kia, Phật mới hỏi đạo sĩ: “Này, ông đạo sĩ, để đạt được công năng như vậy, ông phải tu luyện bao lâu?”

 Đạo sĩ trả lời: “Tôi đã phải tu luyện ba mươi năm để đạt được thần thông như vậy.”

 Phật bảo: “Này ông đạo sĩ. Ông phải tốn đến ba mươi năm công phu tu tập chỉ để qua được con sông như thế này, trong khi những người khác chỉ cần bỏ ra mấy xu để trả tiền đò cũng qua được. Ông thấy thế nào?”

 Tuy rằng thần thông không phải mục đích tu hành của chư Phật, nhưng công đức hành trì tu tập cũng tự nhiên đưa đến kết quả đạt được thần thông. Như Đức Phật khi chứng ngộ chân lý thành Phật, ngài đạt lục thông.

 Trong kho tàng kinh sách do Phật và chư thánh tăng thuyết, để lại, chúng ta rất ít khi gặp những trường hợp Phật thi triển thần thông. Sau này trải qua thời gian đến nay các trước tác của các bậc thiện tri thức để lại nếu có nói đến thần thông thì cũng chỉ là nói đến một phương tiện xảo diệu, trợ duyên trong việc hoằng pháp mà thôi. Thần thông không phải cứu cánh của người tu Phật.

 Thế nhưng, đọc trong kinh sách nhà Phật chúng ta lại thường bắt gặp câu “Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn”.

 Đạo cảm thông là gì?

 Là một kẻ sơ cơ học Phật người viết muốn trình những kiến giải sau đây đến chư vị thiện tri thức để mong được những lời chỉ giáo. Tuyệt nhiên không có tham vọng “giảng thuyết” điều gì. Bởi người viết cũng hiểu kẻ học tu chưa chứng mà nghĩ rằng đã chứng. Chưa hiểu rõ đạo mà đã ngông cuồng muốn thuyết đạo là mắc tội vọng ngôn rất nặng.

 Cho nên những trình bày sau đây của người viết chỉ có mục đích giải bày những suy nghĩ của mình qua quá trình “văn, tư, tu” để mong cầu sự giúp đỡ chỉ dạy của các bậc thiện tri thức, nhất là các vị thày đã dày công tu học. Được như vậy thật là may mắn cho tác giả, người đang mò mẫm trên con đường tu học. Biển học mênh mông, Phật pháp nhiệm màu. Biết hỏi ai? Nếu tự mình nói lên những suy nghĩ của mình để may ra có người thương xót mà chỉ cho những cái đúng, cái sai thì đó cũng là sở nguyện của người viết.

 Trở lại với đề tài. Xin lược qua những bối cảnh từ thời Đức Thế tôn còn tại thế. Sau khi đắc quả Phật dưới cội cây bồ đề Phật đã bốn mươi chín năm ròng rã, di chuyển hàng ngàn cây số, đến rất nhiều địa phương để giảng pháp, độ sinh.

 Thời ấy, cách đây hai lăm thế kỷ, nước Ấn độ so với ngày nay thế nào?

 Ai cũng có thể hình dung ra một đất nước Ấn độ vào thời đó mà không sai lắm: núi rừng hoang vắng, thú dữ đầy dẫy. Cọp beo rắn độc nơi nào cũng có. Đường xá làng mạc đâu có phải như bây giờ. Đa phần là rừng hoang, xóm vắng. Làm gì có đô thị sáng đèn, đường xá phẳng phiu như ngày nay.

 Đức Phật và chúng đệ tử di chuyển hết chỗ này đến nơi khác chỉ với đôi bàn chân trần, không giày dép. Không xe cộ, áo mũ, trừ một mảnh y đơn sơ đắp trên người và chiếc bát để nhận của bố thí cúng dường. Cuộc sống của Phật cực kỳ đơn giản và có thể nói hoàn toàn không được bảo vệ tránh các rủi ro trước bao nhiêu loại thú dữ rắn rết.

 Nhưng Đức Phật vẫn thọ đến 80 tuổi với hơn 50 năm sống trong rừng. Trong các kinh sách ghi lại cũng không thấy nói đến có người nào trong đám đệ tử đầu tiên của Phật bị thú dữ ăn thịt hay rắn độc cắn (thiện tri thức nào có tài liệu chứng minh qua kinh sách, người viết xin thọ nhận và biết ơn.)

 Điều gì đã khiến các loài thú dữ rắn độc không xâm phạm đến báo thân các ngài? Liệu có phải các ngài đã dùng thần thông để xua đuổi các loài thú dữ, hay tạo ra các phương tiện để tự vệ? Kinh sách không thấy đề cập đến.

 Vậy phải chăng có sự “cảm thông không thể nghĩ bàn” giữa Phật và chúng đệ tử của Ngài với các loài ác thú khiến bản năng của chúng không thể phát sinh trước sự hiện diện của Ngài và tăng chúng? Do tâm từ bi của Phật và chúng tăng luôn luôn rải khắp trong không gian, nên tập khí sát sinh của các loài thú đã bị chìm lắng, ngủ yên khi gần cận các ngài?

 Dưới nhãn quan và sự hiểu biết của con người với kiến thức khoa học ngày nay, các loài thú nói chung, chúng không có tri thức. Hoạt động của chúng theo bản năng. Đói thì đi kiếm ăn, tìm mồi. Chúng chỉ sát hại các loài khác khi bản năng thúc dục.

 Không phải chỉ thời Đức Phật, ngay cả thời cận đại, nếu quan tâm tìm hiểu người ta vẫn có thể thấy có những trường hợp nếu lấy khoa học ra lý giải thì rất khó giải thích. Đó là những trường hợp của các vị sư lên núi ẩn tu. Ai ở vùng Thất sơn, VN chắc ít nhiều đều nghe chuyện về những dị nhân lên núi ẩn tu.

 Cách đây khoảng 100 năm, Thất Sơn vẫn còn là một vùng rừng núi thâm u, bí hiểm, ít ai dám lên (cho nên mới có ngọn Núi Cấm). Nhưng lại vẫn có những dị sĩ ẩn tu. Họ một thân một mình lên núi cất am tranh tu luyện. Có không ít những câu chuyện truyền khẩu trong dân gian về hành trạng các ngài. Có những truyện cọp đến trước sân chùa trên núi nằm nghe kinh. Những con rắn hổ tu hành dài cả chục thước đến chùa nghe kinh. Chúng không hại ai cả.

 Dĩ nhiên một khi không thể dùng khoa học để chứng minh hay giải thích, người ta có thể kết luận đó chỉ là những truyền thuyết mang tính dị đoan, không thể có thật.

 Thế nhưng đâu có phải hễ cứ điều gì khoa học không chứng minh được đều là không có thật cả đâu. Ở đây không khéo lại rơi vào một thứ mê tín khác; đó là “mê tín khoa học”. Có biết bao nhiêu điều trước khi khoa học khám phá ra đều bị cho là hoang đường.

 Ngày xưa, thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ là thần thông. Ngày nay, người ở cách xa nhau vạn dặm vẫn có thể nhìn thấy nhau và nói chuyện với nhau với chiếc iPhone, hay Webcam là chuyện bình thường.

 Trong kinh sách nói đến công năng cứu khổ của Đức Tầm Thanh Cứu Khổ Quan Thế Âm Bồ Tát. Về khả năng tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà đối với những ai thành tâm trì niệm danh hiệu ngài đến “nhất tâm bất loạn” về Tây phương cực lạc vào giây phút lâm chung.

 Một khi điều đó xảy ra phải chăng là do sức “cảm thông không thể nghĩ bàn” giữa Đức Phậtchúng sinh trì niệm?

 Đã nói không thể nghĩ bàn thì tất nhiên không thể đòi hỏi một giải thích bằng khoa học. Nếu khoa học giải thíchgiải quyết được hết mọi sự thì đã không có tôn giáo. Chính tôn giáođiều kiện của nó là Đức Tin sẽ giải quyết một số vấn đề mà khoa học bó tay. Mà sự giải quyết chỉ có chính người trong cuộc mới có thể cảm nhận biết được.

 Sự chứng ngộ là một kinh nghiệm hoàn toàn cá nhân. Ai chứng người ấy biết, cũng như ai ăn người ấy no. Không thể nói cho người khác biết ta ăn ngon như thế nào, ta vui như thế nào. Cho nên người ta mới hay dùng cách nói “Ngon không thể tả, vui không thể tả, buồn không thể tả…”

 Nhưng để có được sự “cảm thông” cần có một số điều kiện như một lòng tin mạnh mẽ, và một sự trì niệm (hay cầu nguyện) không mệt mỏi. Đến một lúc nào đó (vào lúc nhất tâm bất loạn chẳng hạn), sự cảm thông xuất hiện và sự nhiệm màu xảy ra.

 Đó là trường hợp những người vãng sanh. Hay gần đây nhất là những trường hợp người vượt biển bị bão tố hay cướp biển. Có những trường hợp niệm danh hiệu Phật bà nhưng không ứng nghiệm. Nhưng nhiều người kể lại về những trường hợp họ cầu xinchứng nghiệm, được cứu thoát rất nhiệm màu. Đó chính là những trường hợp mà giữa Phật và chúng sinh đã đạt được sự cảm thông.

 Xin được tạm dùng một hình ảnh thế gian để minh họa điều này cho dễ hiểu. Sự cảm thông (không thể nghĩ bàn) giữa chư Phật, Bồ Tát với chúng sanh có thể ví như sự liên lạc qua máy điện thoại giữa hai bên. Trước hết ta phải tin rằng có một ai đó có thể cứu giúp chúng ta khi ta gặp khó khăn (tin có Phật A Di Đà, có Bồ tát…) Sau đó chúng ta phải thường xuyên mở máy liên lạc với người đó trên một tần số nào đó nhất định (hàng ngày trì danh, trì niệm, cầu nguyện). Khi cần, ta gọi mới có thể liên lạc được (có sự cảm thông)

 Người cầu nguyện không linh ứng ví như bình thường không bao giờ mở máy rà tần số liên lạc, đến khi hữu sự lòng bối rối biết tần số nào mà liên lạc. Hơn nữa máy của ta bị nhiễu (tâm còn nhiều tạp niệm, không nhất tâm), tín hiệu phát ra không rõ, bên kia có nhận được cũng không hiểu, hoặc có trả lời, nhưng ta không nhận được.

 Sự cảm thông như vậy nó nằm ngoài các pháp thế gian, nằm ngoài tất cả sự suy luận duy lý. Đó là cái biết trực tiếp (bằng trực giác). Kẻ nào đạt được kẻ ấy biết. Không thể nói năng giải thích cho người khác hiểu được. Cho nên nói “không thể nghĩ bàn”.

 Xin mở ngoặc để nói thêm về cái biết do tri giác, lý luận so với cái biết trực tiếp do trực giác để làm rõ thêm vấn đề.

 Thí dụ một, trong ca dao tục ngữ, có những câu như: “Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy/ Cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi” cho thấy người nông dân do kinh nghiệm mà có thể dự đoán trước vài giờ thời tiết trong khu vực để họ giải quyết công việc nhà nông.

 Thí dụ hai, hiện nay các đài truyền hình ở các nước văn minh với sự trợ giúp của máy móc tinh vi, có thể dự báo thời tiết trong một vùng chính xác đến 7 ngày (với xác xuất đến 90%).

 Thí dụ ba, một tác giả định cư ở Pháp (xin lỗi không nhớ tên) thuật lại câu chuyện khi ông cuốc đất làm vườn vào một ngày mùa thu. Có người hàng xóm đi qua hỏi ông rằng khi cuốc có thấy những con giun đất không. Ông bảo không thấy. Ông Tây hàng xóm bảo, như vậy là năm nay trời sẽ lạnh lắm đây. Giun nó đào hang xuống sâu để tránh lạnh.

 Hai thí dụ trên thuộc pháp thế gian, có thể nghĩ bàn.

 Với thí dụ ba, ta thấy những con giun không có trí tuệ để lý luận suy diễn, nó cũng không có máy móc để theo giõi bầu khí quyển, nhưng chúng dự đoán trước và thường rất đúng thời tiết đến ba tháng trước đó. Vì sao những con giun đó biết được sự diễn biến thời tiết như thế? Khoa học đến nay không giải thích. Chỉ cho là do bản năng của loài giun đất.

 Cái biết của loài giun là một cái biết trực tiếp, không lý luận. Đó là một sự kỳ diệu lý thú của thiên nhiên, không thể nghĩ bàn. Cái biết của con giun không thuộc lý trí. Nó biết nhờ trực giác. Vậy phải chăng cái biết ấy là một phần của Phật tánh? (Phật nói, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, chỉ vì vô minh làm cho mê mờ.)

 Nếu chỉ tuyệt đối tin ở khoa học, người ta giải thích sao về những loài chim thiên di. Những hiện tượng muông thú biết trước khi những thiên tai sắp xảy ra?

 Tóm lại, dù không chứng minh được (cho đến giờ này), nhưng chúng ta vẫn thừa nhận, dựa trên đức tin và những chứng nghiệm trực tiếp về những sự mầu nhiệm được mô tả trong các kinh sách.

 Có học giả phát biểu rằng: “Cứ cầu nguyện đi, rồi anh sẽ có đức tin.” Người tin Phật, nếu tinh tấn tu hành, trì niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ tát, đến một lúc nào đó sự mầu nhiệm sẽ xảy ra. Đó chính là sự thật của “Đạo cảm thông, không thể nghĩ bàn.”

Và đó cũng là cơ sở và hành trang chúng ta mang theo để vững bước trên con đường tu họchành đạo./.

 

Thành Văn

Sept., 2012


Tạo bài viết
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.