Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 29)

10/06/201312:00 SA(Xem: 9204)
Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 29)

KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 29)


Pháp Sư Tịnh Không

 

“Ma”

Trong kinh Bát Đại Nhân Giác, Phật nói bốn loại ma. Thứ nhất là “ngũ ấm ma”. Ngũ ấmthân thể. Bạn có thân thể này thì bạn phải chịu rất nhiều sự dày vò. Có thân thể đương nhiên có tâm lý. Thân có khổ vui, tâm cũng vậy. Mọi người đều biết thân khổ hay tâm khổ là sự dày vò nhưng không biết được cái ưa thích trong tâm hay cái vui của thân cũng là sự dày vò, vì sao? Hưởng thụ tâm lý bình thườngthanh tịnh, bình lặng. Còn hỉ, nộ, ai, lạc đều làm cho bạn không bình lặng. Một khi trong lòng khởi lên sóng động chính là sự dày vò.

Ngũ ấm ma gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Bất cứ chúng sanh nào đều không thể tránh khỏi. Chúng ta phàm phu nên nhận thân ngũ ấm, như Phu Tử từng nói: “Ta có đại hoạn vì ta có thân”. Người thông minh nhất đẳng không bao giờ muốn mình có thân. Vậy có thể làm được không? Có thể. Trong Phật pháp, người tu họccông phu tương đối. Kinh Phật nói “ba cõi sáu đường” có dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Dục giới, sắc giới đều có thân thể, hay nói cách khác, không thể nào tránh khỏi khổ. Thiên nhân của vô sắc giới không có thân. Họ biết thân là gốc khổ, thân là tích chứa, thân là đại hoạn, cho nên họ không cần thân. Thiên nhân tầng trời thứ tư vô sắc giới không có thân tướng, chúng ta gọi là “linh giới”, cao cấp nhất trong phàm phu. Họ có được xem là giác ngộ không? Được. Không thể nói họ không giác ngộ, thế nhưng họ không phải chánh giác.

Trong Phật pháp, chúng ta giác ngộchánh giác. Chữ “chánh” chỉ riêng nhà Phật mới có. Người thế gian tuy giác nhưng không chánh. Người trời tứ không có thể nhìn thấy rõ ràng, không cần cái thân này thì không thể giải quyết được vấn đề. Cho dù sanh đến phi tưởng phi phi tưởng thiên, tuổi thọ tám vạn đại kiếp vẫn là có hạn. Sau tám vạn đại kiếp, họ liền phải đọa lạc. Ngạn ngữ nói “Leo càng cao té càng đau”. Họ vừa đọa thì liền vào địa ngục. Tuyệt đại đa số đọa lạc trong vô gián địa ngục. Nguyên nhân ở đó không phải vô cớ. Những người này đều là người tu hành, vì không tu hành đã không đến được cảnh giới cao đến vậy. Tu đến được cảnh giới này, cho rằng mình đã thành Phật, chứng được đại Niết Bàn, không sanh không diệt. Đó không phải là giả. Nhưng họ đem trời tứ thiền, trời vô tưởng, tứ không thiên tương đương Niết Bàn. Đó là sai lầm, ngộ nhận. Lỗi lầm chính ở họ, quyết không phải Phật Bồ Tát.

Phật Bồ Tát trong kinh điển nói rõ ràng tường tận. Chúng ta không thể hiểu lầm ý này. Dày vò của ngũ ấm không thể nào tránh khỏi, cho dù Phật Bồ Tát ứng hoá ở sáu cõi. Chư Phật Bồ Tát ứng hoá đến, hiện ra thân tướng cũng là thân ngũ ấm. Loại thị hiện này kinh Hoa Nghiêm nói “thay chúng sanh chịu khổ”. Vậy những vị Phật Bồ Tát thị hiện có phải chịu khổ hay không? Trên hình tướng mà nói, họ cũng phải chịu khổ. Nhưng trên thực tế các ngài không hề khổ. Đó là chư Phật Bồ Tát ứng hoáthế gian, hoàn toàn khác khi chúng ta đến. Trên hình tướng, ăn mặc đi đứng đời sống của các ngài không hề khác chúng ta. Phàm phu chúng ta có khổ vui, các ngài cũng có khổ vui biểu diễn bên ngoài, nhưng tâm các ngài vĩnh viễn thanh tịnh, quyết không khổ. Sở dĩ phải làm ra dáng vẻ khổ để phàm phu chúng ta xem và có được sự giác ngộ. Mục đích của ngài là hoá độ chúng sanh, là đến thị hiện, chứ không phải chân thật đang chịu khổ.

Ngoài ngũ ấm ma, Phật nói “phiền não là ma”. Phiền não vô lượng vô biên dày vò chúng ta. Trong phiền não bao gồm cả thất tình ngũ dục. Phạm vi rất rộng.

Loại thứ ba là “tử ma”, ý nói sanh tử dày vò. Chúng sanh chưa ra khỏi sáu cõi thì không cách gì tránh khỏi. Có sanh nhất định có tử. Sau khi chết họ lại đi đầu thai. Tuyệt đối không thể nói chết rồi là hết. Nếu chết rồi là hết thì chúng ta không cần phải học bất cứ thứ gì, không phải khổ cực tu hành vì cũng dùng không được. Xin nói với các vị, nhất định chết không phải là hết. Các vị tỉ mỉ đọc kinh Địa Tạng sẽ biết cái chết thật đáng sợ. Sự việc chết tuyệt nhiên không đáng sợ, nhưng sau khi chết thì phiền phức rất lớn. Sau khi chết sẽ tùy nghiệp thọ báo.

Thử nghĩ xem từ quá khứ đời đời kiếp kiếp đến đời này, chúng ta đã tạo nghiệp gì? Nghiệp thiện có quả báo của ba đường thiện, nghiệp ác nhất địnhquả báo của ba đường ác. Ba đường ác dễ dàng đọa lạc, thoát ra là việc vô cùng khó khăn. Từ đó Phật dạy chúng ta phương pháp tu họcnăm giới mười thiện”, đó là pháp cơ bản.

Tam phước trong Quán kinh xếp ở hai điều phía trước. Mười thiện gồm thân ba, khẩu bốn, ý ba. Thân không sát sanh, không trộm cắp, tại gia không tà dâm. Khẩu không nói dối, không hai chiều, không ác khẩu, không thêu dệt. Ý không tham, không sân, không si. Trong một đời, mười điều này chúng ta đã làm được bao nhiêu? Làm được mười điều thì năm giới đương nhiên bao gồm trong đó, bạn mới có thể có lại thân người. Con người sau khi chết muốn được lại thân người thật khó. Nếu lấy điểm số để nói, nhất định phải thực hiện mười điều đến tám mươi điểm, mới có thể nắm chắc đời sau được thân người. Nếu làm được 100%, thì quả báo của bạn không ở nhân gianở trên trời hưởng phước. Phước báu lớn hơn nhiều so với nhân gian. Đó là Phật dạy pháp tắc căn bản cho chúng ta.

Tạo mười ác nghiệp, nhẹ thì ngạ quỷ, súc sanh; nặng thì đọa vào địa ngục. Chúng ta phải cố gắng phản tỉnh, kiểm điểm chính mình. Mỗi ngày từ sớm đến tối, từ đầu tháng đến cuối tháng rốt cuộc đã làm mười thiện hay mười ác? Rốt cuộc là sức nghiệp thiện mạnh hay sức nghiệp ác mạnh? Người tu hành phải phản tỉnh từng giờ, kiểm điểm từng giờ. Thân người khó được mà dễ mất, sau khi mất đi, chúng ta phải làm sao? Việc này không thể không suy nghĩ đến.

Cho nên Phật trong kinh điển một mực khuyên bảo phải trân trọng sức khỏe thân thể hiện tại. Tất cả điều kiện đều đầy đủ, phải chăm chỉ nỗ lựctu học. Cả đời tu hành, công phu tốt thì sau khi chết, đời sau sẽ không tệ. Có công phu thì đời sau được thân người. Khi phải nhập thai được thân người, công phu đời trước thảy đều tiêu hết, chúng ta phải bắt đầu lại. Đó gọi là dày vò, không thể đời đời kiếp kiếp tiếp nối. Việc gián đoạn chí ít cũng hết hai mươi năm, đó là bị mê khi cách ấm, bạn bị quên hết sạch. Cho nên thế gian tu hành khó. Phật nói ba a tăng kỳ kiếp, vô lượng kiếp, đạo lý chính ngay chỗ này. Nếu việc tu học của chúng ta quả như giữ được không để gián đoạn, không thoái chuyển, phàm phu thành Phật, thì làm gì mất thời gian dài đến vậy.

Trong sáu cõi, thời gian thoái chuyển rất dài. Vừa đọa vào ác đạo, tuổi thọ trong địa ngục đều vô số kiếp, một thời gian dài không nghe được Phật pháp. Trời cõi dục giới đỡ hơn một chút, còn từ sắc giới trở lên cũng không dễ, vì phước báu quá lớn. Họ lo hưởng phước nên xem nhẹ việc tu hành. Thế mới có câu “giàu sang khó học đạo”. Trong sanh tử đại sự, tử ma rất phiền phức. Nếu chúng ta không muốn chết thì đã có kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta vô lượng thọ. Bạn y theo pháp môn này mà tu học, ngay trong một đời bạn nhất định không chết. Khi giảng giải, tôi đã nói rất nhiều lần về pháp môn này. Lời tôi nói đều thật, không phải giả. Mỗi giờ mỗi phút đều khuyên bảo mọi người. Pháp môn này không già không bệnh, không chết, nhưng đáng tiếc rất ít người tin. Đúng như chư Phật nói “pháp khó tin”.

Có người muốn hỏi: “Bạn nói không chết, nhưng chúng tôi thấy người niệm Phật chết cũng không ít, thế thì sao lại không chết chứ?”. Kỳ thật người niệm Phật không chết, họ vứt bỏ thân thể này để đi đến thế giới Cực Lạc. Khi ra đi, họ thấy rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo đức Phật đến rước. Họ không có đau khổ, ngược lại hoan hỉ vui vẻ đi theo Phật. Sau khi xả bỏ thân này, đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, cái thân đó giống như thân của Phật A Di Đà, sắc thân tử ma vàng thật. Trên kinh Phật nói “đầy đủ ba mươi hai tướng”, đó là tùy thuận phàm phu chúng ta mà nói. Trên thực tế không phải như vậy. Trên thực tế thân có vô lượng tướng, tướng có vô lượng vẻ đẹp. Đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, mãi mãi không còn già nữa, vĩnh viễn sẽ không bị bệnh. Tất cả sự mong cầu là tùy tâm sở nguyện, chân thậttâm tưởng sự thành. Bạn thử nghĩ xem nơi đó tốt đến dường nào.

Người đại phú đại quý ở thế gian chúng ta so với thế giới Tây Phương Cực Lạc, cõi phàm thánh đồng cư hạ hạ phẩm vãng sanh cũng không thể so được. Thậm chí kinh còn nói, dù trên trời, người Trung Quốc gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế cũng không thể sánh, vì họ mới là dục giới, tầng trời thứ hai. Trời Đao Lợi là chủ, nhưng Đại Phạm Thiên Vương cũng không thể sánh được với thế giới Tây Phương Cực Lạc, với phước báu của người hạ hạ phẩm vãng sanh. Cho nên các vị muốn chân thật hưởng phước báu lớn thì ở thời đại hiện tại này, tai nạn triền miên, người trung niên trở lên phải thường hay nghĩ đến nơi quay về. Phải tự hỏi, sau khi già thì làm sao? Đi đến nơi nào?

Đó cũng là lý docư sĩ phát khởi muốn xây dựng thôn Di Đà. Hôm nay ông cho tôi xem biên bản hội nghị. Đại hội Cư Sĩ Lâm đã thông qua. Đó là chỗ quay về hiện tại của chúng ta. Một người thông minh, một người giác ngộ thì đến nơi nào là tốt nhất? Đó là thôn Di Đà. Thôn Di Đà tương lai nhất định thấy được Phật A Di Đà, nhất định vãng sanh tịnh độ. Cả đời này chúng ta không hề luống qua. Vô lượng kiếp đến naycơ duyên hy hữu khó gặp. Chúng ta ở ngay đời này xem là đã đợi được, không chỉ đại sự một đời, mà đời đời kiếp kiếp vô lượng đến nay.

Loại sau cùng là “thiên ma”. Kinh Phật nói, thiên mama vương Ba Tuần. Ba loại ma trước đều là tự thân chúng ta đầy đủ. Ngũ ấm là tự thân ta; phiền não cũng là tự thân, sanh tử vẫn là tự thân. Chỉ có một loại bên ngoài. Loại ma bên ngoài này rốt cuộc là gì?

Hiện tại thế giới muôn màu bên ngoài, tất cả người sự vật bạn thấy được, nghe được, hay tiếp xúc được đều đang mê hoặc bạn. Đó chính là ma, khiến thân tâm bạn vĩnh viễn không an bình. Do đây mà biết loại ma này trong thì phiền não, ngoài thì mê hoặc.

“Oán”

Oan gia có hai loại. Thứ nhất là hoan hỉ oan gia. Đó cũng là những việc phiền phức. Oan gia không chỉ ngày ngày chọc bạn sanh phiền não, mà oan gia cũng làm bạn ngày ngày hoan hỉ. Nói chung, oan gia luôn làm tâm bạn không thể buông bỏ. Trong tâm luôn có vướng bận. Hai năm trước, tôi ở Đài Loan khoảng thời gian tết. Có một vị lão cư sĩ đến chúc tết tôi. Ông nói: “Pháp sư à! Những năm qua tôi niệm Phật cũng không tệ. Bất cứ thứ gì đều có thể buông bỏ. Chỉ có đứa cháu là tôi không thể buông bỏ. Vậy phải làm sao?”. Đứa cháu đó chính là oan gia của ông nên ông không quên nó. Chỉ cần một việc không thể buông bỏ thì không thể vãng sanh. Khi Phật A Di Đà đến tiếp dẫn, bạn nói còn việc này việc nọ chưa buông bỏ, thì Phật A Di Đà sẽ không đợi bạn. Ngài liền đi mất.

Do đó đối với oan gia, Phật dạy chúng ta phải dùng định, dùng huệ. Định huệ có lực thì có thể “hàng phục ma oán”. Bạn liền có năng lực đối phó với chúng. Người có định huệ cũng có thể hàng phục ngũ ấm ma.

Thứ nhất là thân thể khoẻ mạnh không bị bệnh. Bị bệnh là do bốn đại không điều hòa. Thành thật mà nói, nếu bạn có bệnh, tức bạn không có công phu. Người thật có công phu mà bị bệnh, đó là thị hiện. Cư sĩ Duy Ma thị hiện giả bệnh. Ngài giả bệnh để phương tiện hoá độ chúng sanh, chứ không phải ngài bệnh. Còn bạn bị bệnh rốt cuộc là giả bệnh hay thật bệnh? Việc này chính bạn phải rõ ràng. Cho nên thân thể phải khoẻ mạnh, đó là cách hàng phục ngũ ấm ma.

Thứ hai là dung mạo không dễ suy già. Đây cũng thuộc về ngũ ấm ma. Có định có huệ, tâm địa tất sẽ thanh tịnh. Hiện tại, rất nhiều người đang chú trọng dưỡng sinh. Phải ăn thực phẩm gì để khoẻ mạnh, phải trị liệu thế nào về sinh lý, vận động thế nào để bảo dưỡng thân thể? Tôi thấy đều không hiệu quả. Phật pháp nói cái đạo dưỡng sinh là nói đến tu định. Tu định có phải mỗi ngày chéo gối xếp bằng quay mặt vào vách không? Một số người nói đến tu định thì cho rằng mỗi ngày phải ngồi xếp bằng mấy giờ đồng hồ. Những người tu định đó, tôi cũng thấy qua, tướng mạo năm sau không bằng năm trước, thân thể cũng vậy. Do mỗi ngày tuy ngồi mấy giờ đồng hồ, nhưng trong lòng vẫn nghĩ tưởng lung tung thì làm sao gọi là định được?

Các vị phải biết, trong tâm khôngvọng tưởng, phân biệt, chấp trước mới gọi là định. Không nhất thiết chéo gối ngồi xếp bằng. Trong Đàn kinh, Đại sư Huệ Năng tổ thứ sáu thiền tông là một người cừ khôi. Mặc dù Đàn kinh không ghi chép, nhưng mỗi ngày ngài ngồi mấy giờ đồng hồ. Đàn kinh chỉ ghi chép số lượng công việc mỗi ngày của ngài. Ngài ở Hoàng Mai, làm việc trong nhà bếp, bửa củi, giã gạo, hầu như toàn công việc thô nặng. Nếu ngài xếp bằng quay vào vách thì đạo tràng chẳng có cơm ăn. Đạo tràng nhiều người đến vậy. Họ cần ăn cơm do ngài giã gạo. Vì thế công việc của ngài rất nhiều, làm gì có thời gian để ngồi thiền. Nhưng rốt cuộc ngài có thật tọa thiền hay không? Có! Làm việc chính là tọa thiền. Ngài nói ý nghĩa của tọa thiền.

Tọa” ý nói bất động, không có nghĩa bảo bạn ngồi một ngày từ sớm đến tối. Bạn ngồi đó thì ai hầu, phước báu của bạn bao lớn? Trong khi Phật dạy phước huệ song tu, làm sao bạn có thể ngồi đó hưởng phước được? “Tọa” là bất động. Không phải thân bất động mà tâm bất động.

Thiền” là không dính mắc. Không động tâm là tọa, do đó thân có thể động. Một ngày từ sớm đến tối thân làm việc, bận rộn đến quên hết tất cả. Trong lòng không hề khởi tâm động niệm. Cái bản lĩnh này cao, tâm địa vĩnh viễn thanh tịnh, thì không luận làm bất cứ việc gì, dù công việc có khổ hơn, nặng nề hơn, họ cũng làm một cách nhẹ nhàng, thư thái, vì họ không dính mắc.

Phàm phu chúng ta làm công việc nặng nề thường cảm thấy mệt, do dính mắc, do phân biệt chấp trước. Nhưng nếu không dính mắc thì bạn sẽ không có cảm xúc. Không chỉ không dính mắc tướng của công việc, mà tướng của cái thân cũng không dính mắc. Kinh Kim Cang nói “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”. Công việc là ở tướng chúng sanh, thọ giả tướngthời gian. Thời gian làm việc có dài hơn, ngài cũng sẽ không cảm thấy mệt mỏi. Ngày nay chúng ta chỉ hơi cực một chút thì mệt đừ ra, dính lấy bốn tướng. Cho nên phải có định, có huệ, hiểu rõ các pháp không tướng. Tất cả pháp, tướng đều là huyễn có, diệu hữu, thể là chân không, đó là trí tuệ. Ngài Huệ Năng sau khi hiểu rõ chân tướng sự thật, đương nhiên ngài liền không chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mới có thể chân thật đoạn dứt.

Cho nên huệ giúp định, định giúp huệ. Định và huệ là thành tựu lẫn nhau, tạo năng lực hàng phục ma oán. Trong ma oán, phiền não nhất là nhân sự. Từ xưa đến nay cách ngôn đã nói “làm việc khó, làm người càng khó”, đặc biệt người hiện đại. Lòng người khó lường, ý niệm thiên biến vạn hoá. Kinh Địa Tạng cũng nói “tánh thức bất định”. Lòng người thế gian bất định, không thể dò tìm. Người ứng phó không có trí tuệ không làm được. Phàm hễ ai tiếp xúc với chúng ta, kinh Phật nói, đều không ngoài bốn loại duyên “báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ”. Đời này chúng ta quen biết tất cả mọi người đều là bốn loại quan hệ này. Khi chúng ta đi bộ trên đường, gặp được người, nếu hòa nhã chào hỏi bạn, dù cả đời chỉ gặp một lần, sau khi đi qua sẽ không gặp lại cũng là thiện duyên đời quá khứ. Đó là cái duyên nhiều nhất, ngay một đời chỉ có một lần. Hoặc một số người kéo đến không quen biết, vừa nhìn thấy bạn liền tỏ ra không vừa lòng, trợn mắt với bạn. Đó cũng là duyên, nhưng duyên bất thiện, có thể ngay trong một đời chỉ gặp một lần. Duyên này tương đối mỏng. Nếu duyên kết sâu thì phiền phức liền lớn.

Chúng ta phải làm thế nào để cùng sống với họ? Thực tế thật khó. Người học Phật có nguyên tắc, tuân thủ lời giáo huấn của Phật. “Tam phước, lục hòa, lục độ”, là tổng nguyên tắc đối nhân xử thế tiếp vật. Những nguyên tắc này đều không rời khỏi định huệ. Không phải cửa định sở nhiếp thì là cửa huệ bao hàm. Học định huệ ở đâu? Học ngay cuộc sống thường ngày, trong đối nhân xử thế tiếp vật. Công phu của Bồ tát từ trước chưa từng gián đoạn, chỗ này gọi là “không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn”. Công phu chân thật dùng được đắc lực ngay nơi khởi tâm động niệm.

Như Lai định huệ viên mãn nên tất cả oan gia trái chủ đều được Phật giúp đỡ phá mê khai ngộ, đều được giúp đỡ tu hành chứng quả. Phật là tấm gương tốt cho chúng ta. Không luận đối với người thân cận, đối với chính mình trước oan gia trái chủ cũng phải giống như Phật. Dùng sức định huệ để độ họ, giúp họ giác ngộ, thoát khỏi luân hồi sanh tử, ngay một đời vãng sanh bất thoái thành Phật. Việc này phải nhờ vào định huệ của chính mình.

Một số đồng tu nói, chính mình học Phật nhưng lại rất khó độ người trong nhà. Vì sao khó độ? vì bạn chưa có định, chưa có huệ. Độ người trong nhà chân thật không dễ dàng. Bạn phải tu hành chân thật mới có thể độ được người nhà, trở thành một tấm gương tốt nhất để người nhà nhìn thấy tường tận sự thay đổi từ khi bạn bắt đầu học Phật cho đến sau khi học Phật. Trước khi học Phật, bạn tạo nhiều lỗi lầm tập khí khiến người chán ghét. Sau khi học Phật, những lỗi lầm tập khí thảy không còn, đều thay đổi. Ngôn hạnh cử chỉ của bạn khiến người hoan hỉ, tôn kính, thì người nhà của bạn mới có thể được độ. Mỗi ngày sống cùng nhau, lỗi lầm dù nhỏ, họ ngày ngày nhìn thấy. Công phu tu hành của bạn kém, họ liền khinh thường. Còn thân thích bạn bè bên ngoài dễ độ hơn vì lỗi lầm nhỏ của bạn, người bên ngoài không nhìn thấy. Họ chỉ thấy bạn tiếp xúc với họ rất qui củ, nhưng không thấy được mặt sau.

Độ chúng sanh, Phật nói trong kinh điển, trước tiên chúng ta phải độ người ngoài. Ý nói chúng ta cần chân thật làm được trong ngoài như nhau. Phật dạy chúng ta công phu thận trọng, chỉ riêng một mình cũng phải cẩn thận, cung kính, không phóng túng, không tùy tiện. Làm được như vậy thì người trong nhà làm sao không độ được.

Oan gia trái chủ rất khó ở với nhau. Kinh Phật cũng nói, những oan gia trái chủ này đã kết oán nhiều đời nhiều kiếp. Chỉ có thể đem oán kết hoá giải, không nên kết nữa, “oan gia nên giải không nên kết”. Phải có tánh nhẫn nại rất lớn, trí tuệ cao độ, nơi nơi đều nhường nhịn thì mới có thể hóa giải. Nhất quyết không mang tâm oán hận, báo thù. Nếu còn, thì oan gia kết chặt không thể hóa giải. Đời này họ báo thù ta, đời sau ta báo thù họ, càng diễn càng tàn khốc, mỗi lần báo thù lại vượt hơn lần trước.

Xem An Sĩ Toàn Thư, Văn Xương Đế Quân Âm Trắc Văn, thấy Văn Xương Đế Quân nói rõ, đời trước mười bảy đời của ông làm thầy thuốc. Ông đã tạo oan nghiệp đời đời kiếp kiếp báo thưởng không thôi, rất thống khổ tàn khốc. Sau đó may gặp Phật pháp, hiểu rõ đạo lý, hiểu rõ chân tướng sự thật, ông mới nhẫn chịu hãm hại của oan gia, không khởi tâm báo thù, không khởi tâm oán hận. Oán này liền giải, sổ nợ liền tính xong. Chúng ta cũng nên học tập, nhất định phải tường tận. Chúng ta có ân với người khác, không nên cầu người ta báo đáp. Nếu chúng ta có oán với người, phải mau hoá giải ngay trong đời này. Quyết không kết oán thù với bất cứ người nào, đó là nguyên tắc căn bản.

“ĐẮC VI DIỆU PHÁP, THÀNH TỐI CHÁNH GIÁC”

Tướng thứ sáu của thành đạo. “Đắc vi diệu pháp, thành tối chánh giác”, đây chính là dáng vẻ Bồ tát thị hiện thành Phật. Cả đời Thích Ca Mâu Ni Phật Thế Tôn trải qua như vậy. Từ trời Đâu Xuất giáng sanh ở hoàng cung, sau đó xả bỏ phú quý xuất gia tu hành, đến khắp nơi tham học, tầm sư học đạo, sáu năm khổ hạnh. Dưới cội Bồ Đề thị hiện hàng ma, sau cùng ma không còn quấy nhiễu, áp bức dẫn dụ đều không động tâm. Đó là chân thật trải qua khảo nghiệm, “ngoài không dính mắc, trong không động tâm”. Ngài xem thấy thế xuất thế gian tất cả pháp như huyễn như họa, như mộng như ảnh, cho nên có thể như như bất động. “Đắc vi diệu pháp”, ngài ở dưới cội Bồ Đề thị hiện thành Phật, vậy ngài được vi diệu pháp gì mà thành Phật? Tôi nghĩ mọi người chúng ta đều rất muốn biết.

Đại sư Ngẫu Ích trong Yếu Giải nói, Thích Ca Mâu Ni Phật niệm Phật A Di Đàthành Phật. Vi diệu pháp chính là niệm Phật A Di Đà. Pháp môn niệm Phật từ xưa đến nay chưa từng được tổ sư đại đức nói qua, nay được đại sư Ngẫu Ích nói. Kỳ thật tổ sư đại đức xưa nay cũng đã từng nói qua về Phật trên kinh điển nhưng không hàm xúc rõ ràng như vậy. Chỉ có đại sư Ngẫu Ích nói được rất rõ ràng. Có một số đồng tu xem Yếu Giải rồi đem câu nói của đại sư Ngẫu Ích đến hỏi tôi: “Đại sư Ngẫu Ích nói Thích Ca Mâu Ni Phật do niệm Phật A Di Đàthành Phật. Ngài căn cứ vào đâu?” Căn cứ của ngài chính là ở trong Phật Thuyết A Di Đà kinh.

Chúng ta ngày ngày đọc kinh Di Đà không biết bao nhiêu lần nhưng không phát hiện ra, không biết được câu nói nào. Đại sư điềm chỉ như vậy. Chúng ta quay đầu xem lại, quả nhiên không sai, niệm Phật thành Phật. Ngày trước tôi đã giới thiệu qua với các đồng tu, điều sau cùng trong tịnh nghiệp tam phước, “phát tâm Bồ Đề, thâm tín nhân quả”. Câu nói đó, tôi tìm tòi nhiều năm không ra, tôi không hiểu “thâm tín nhân quả”. Đến sau này mới bỗng nhiên hiểu ra, “niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”. Niệm Phật thành Phậtđạo lý nhất định.

Vi diệu pháp này chúng ta đặc biệt phải lưu ý và xem trọng. Trên kinh Địa Tạng, đọc đến Đại Trưởng Giả, Bà La Môn nữ, Quang Mục nữ. Mỗi người đều chọn pháp môn niệm Phật. Đặc biệt Bà La Môn nữ, Quang Mục nữ đều biết mẫu thân của mình đời trước tạo tác tội nghiệp cực trọng. Tội nghiệp này nhất địnhđịa ngục. Hai người đều là hiếu nữ, làm thế nào để siêu độ thân mẫu của mình. Họ cầu Phật gia trì. Phật liền dạy họ phương pháp niệm Phật. Cho nên chúng ta thấy trong kinh Địa Tạng, Phật không lừa dối người. Phật có năng lực vào địa ngục cứu cha mẹ bạn hay không? Không có. Phật không có năng lực, nhưng Phật biết dùng phương pháp gì có thể giúp họ. Bạn cứ y theo phương pháp Phật dạy mà làm, quả nhiên liền có hiệu quả.

Ngày nay chúng ta hiểu rõ đạo lý. Kinh Hoa Nghiêm Phật nói, “mười pháp giới y chánh trang nghiêm”, đó là nói tận hư không khắp pháp giới, không phải chỉ cái thế giới này. Tận hư không khắp pháp giới do đâu mà có? “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Kinh đại thừa lại thường nói “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, lòng chúng ta nghĩ cái gì liền sẽ hiện ra cảnh giới như thế. Do đó, nếu trong lòng chúng ta nghĩ đến Phật, Phật liền hiện tiền. Kinh Lăng Nghiêm cũng nói “nhớ Phật niệm Phật, hiện tiền tương lai nhất định thấy Phật”. Đây chính là nguyên lý niệm Phật thành Phật, niệm Bồ Tát thì chứng được quả vị Bồ Tát, niệm A La Hán tương lai liền chứng quả A La Hán. Phương pháp này mau chóng hơn so với bất cứ phương pháp nào trong đại thừa. Phương pháp trên kinh tiểu thừa nói khá nhiều, khi tu thì quá phức tạp, trong khi phương pháp này lại mau chóng thẳng tắt.

Kinh nói sáu cõi luân hồi, sau khi chết có sáu nơi để đi. Vì sao mọi người thường nói “người chết đều làm quỷ”? Tỉ mỉ nghĩ lại, “người chết làm quỷ” cũng không phải không có đạo lý, vì họ ngày ngày nghĩ đến quỷ. Đương nhiên khi chết sẽ không đi nơi nào khác ngoài cõi quỷ. Chưa chết nhưng ngày ngày nghĩ đến quỷ, nghĩ thứ gì thì liền biến thành thứ đó. Ngoài nghĩ quỷ, còn làm việc quỷ, tạo nghiệp quỷ, kết cái duyên với quỷ quá sâu. Việc của quỷ là tham. Phật nói nhân hạnh nghiệp nhân của mười pháp giới, đường ngạ quỷ là lòng tham, đường địa ngụcsân hận, đường súc sanhngu si. Một ngày từ sớm đến tối tham tài, tham danh, tham sắc, mọi thứ đều tham, ngay đến học Phật rồi vẫn tham Phật pháp, như thế có đáng lo không?. Lòng tham liền tạo ra nghiệp quỷ, tạo nghiệp quỷ lại thường hay nghĩ tưởng chết rồi làm quỷ. Cho nên đại đa số người khi chết đều đi đến cõi quỷ, cũng rất có đạo lý.

Hiểu rõ nguyên tắc này thì vì sao ta không tạo ra nghiệp của Phật? Vì sao không niệm Phật? Mười pháp giới thực tế do chính mình chọn lấy. Không ai làm chủ tể cho chúng ta. Việc này kinh Phật nói quá nhiều. Cho dù đọa ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục đều là chính chúng ta chọn lấy. Quyết không phải do thiên thần, quỷ thần chi phối. Hoàn toàn ta tự làm tự chịu, lỗi lầm đều ở chính mình. Hiểu rõ chân tướng sự thật thì vì sao không ở trong mười pháp giới tranh thủ hướng lên trên?

Tâm của Phật là gì? Tâm Phậttâm bình đẳng. Chúng ta đối với mọi người, tất cả việc, tất cả vật cũng dùng tâm bình đẳng đối đãi. Nói thì dễ nhưng làm rất khó. Người chính là không bình đẳng, tướng chính là không giống nhau. Phật một phương pháp, chúng ta xem cái tánh của chúng, không nên dính vào cái tướng của chúng. Chúng sanh hữu tìnhPhật tánh, chúng sanh vô tình có pháp tánh. Tánh là bình đẳng. Cho nên chúng ta trên tánh mà hạ công phu, không nên dính vào tướng. Phàm hễ thấy sắc nghe tiếng đều có thể quay về tự tánh, tâm bình đẳng của bạn liền sẽ hiện tiền.

Tất cả Bồ tát không luận tu học pháp môn gì. Pháp môn chỉ là phương pháp tu hành không giống nhau, phương tiện không như nhau, nhưng nguyên lý nguyên tắc quyết không hề khác nhau, đều dạy khéo quan sát. Khéo là từ tướng mà thấy tánh, tánh không tịch, tướng là hư vọng. Tướng có ngàn vạn sự khác biệt, tánh chỉ có một không hề khác nhau, đều không tịch. Cái không này là chân không, không phải trống không. Tịch là linh tịch, không phải tối tăm trống rỗng không linh.

Nếu chúng ta không biết dụng tâm thì dùng phương pháp của kinh Kim Cang cũng tốt. Hiện tượng muôn ngàn khác biệt, không luận là chúng sanh hữu tình hay vô tình, trong lòng bạn phân biệt chấp trước, phiền não tập khí hiện hành thì phải làm sao? Kinh Phật nói “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng”, hư vọng như nhau. Phàm sở hữu tướng, tướng tốt cũng vậy mà tướng không tốt cũng vậy, khác biệt thế nào đi nữa thảy đều là quy về hư vọng. Kinh lại nói: “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh”. Chỗ này Phật khuyên chúng tanhư lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán”. Phải nên có cái nhìn, cách nhìn như vậy mới là phương pháp tu hành của pháp thân đại sĩ, không chấp tướng vì cái tướng này là bình đẳng.

Chúng ta tu nghiệp bình đẳng. Nghiệp bình đẳng là nghiệp tu Phật, sau đó niệm Phật thì làm sao không vãng sanh, làm sao không thành Phật? Cho nên nhất định không nên dính mắc. Yêu thích cái tướng này, chán ghét cái tướng kia, đó là bạn đang tạo nghiệp luân hồi, phải chịu khổ báo ba đường, phiền não thật lớn. Phải biết hảo tướng do tâm thiện biến hiện ra, tướng không tốt là do tâm ác biến hiện ra. Năng biến là tánh thức bất định, biến hiện là huyễn tướng ngàn vạn lần sai biệt. Mười pháp giới y chánh trang nghiêm, chúng ta hiểu rõ đạo lý, hiểu rõ sự thật này, sau đó vận dụng ngay trong cuộc sống, công phu đắc lực, pháp hỉ sung mãn.

Học Phật phải từ chỗ này mà học tập, từ chỗ này mà dụng công. Niệm Phậtpháp môn đệ nhất trong tất cả pháp môn. Tất cả chư Phật Như Lai độ chúng sanh, đoạn phiền não, chứng bồ đề, thành Phật đạo đều do niệm Phật A Di Đàthành tựu. Thế Tôn trong bổn kinh tán thán Phật A Di Đàquang trung cực tôn, Phật trung chi vương”. Phật Thích Ca Mâu Ni đại diện cho tất cả chư Phật Như Lai tán thán Phật A Di Đà. Duyên của chúng ta cũng thù thắng không gì bằng, vừa học Phật thì liền gặp được vua trong các Phật, liền gặp được đệ nhất kinh thù thắng nhất trong nhà Phật. Bạn nói xem duyên này thù thắng dường nào. Đó là do mọi người có phước, như kinh Di Đà đã nói, vô lượng kiếp đến nay thiện căn, phước đức, nhân duyên của chúng ta ngay lúc này thảy đều chín muồi. Ngày nay gặp được thì nhất định phải nắm lấy cơ duyên, nhất quyết không để lỡ.

Đắc vi diệu pháp, thành tối chánh giác”, chúng ta được vi diệu pháp, vấn đề chính là chúng ta có thể thành tựu tối chánh giác hay không? Nếu muốn thành tối chánh giác thì không gì khác hơn là y giáo phụng hành. Phật trong kinh dạy, chúng ta nhất định chăm chỉ nỗ lực mà làm. Phật dạy không nên làm, chúng ta nhất định không phạm quy củ. Có thế thì vãng sanh Tây Phương tịnh độ, người người đều có phần.

Pháp mônba căn đều nhiếp, lợi độn đều thâu”, đặc biệtđạo tràng này, bốn chúng đồng tu đều là đệ tử Di Đà. Như câu nói của Kito giáo “vinh quang vô thượng”. Thượng đế của họ là vinh quang, đệ tử Di Đà vinh quang đệ nhất. Thượng đế nhìn thấy bạn đều cúi đầu tán thán, vì sao? Vì đệ tử Di Đà nơi đây làm sự nghiệp của Di Đà, rộng độ tất cả chúng sanh, tiếp dẫn tất cả chúng sanh, vãng sanh bất thoái thành Phật. Đạo tràng này của Singapore là đạo tràng đệ nhất thế giới. Nói đệ nhất để hy vọng còn có đệ nhị, đệ tam, còn rất nhiều. Thế nhưng hiện tại, thế giới chỉ có một đạo tràng này, mỗi ngày giảng kinh, ba trăm sáu mươi ngày không gián đoạn. Lầu bốn niệm Phật đường ngày ngày niệm Phật. Thôn Di Đà xây dựng xong, số người tham gia tăng. Chúng ta có thể phân ban niệm Phật, nhất định hai mươi bốn giờ không gián đoạn.

Ngày trước lão pháp sư Đế Nhàn dạy đồ đệ vá nồi. Người ta niệm Phật được ba năm, đứng mà vãng sanh. Sau khi chết vẫn còn đứng ba ngày đợi sư phụ đến làm hậu sự. Đế lão dạy ông ấy phương pháp rất đơn giản, đó là không nên hoài nghi, không nên xen tạp, không nên gián đoạn, thành thật niệm, niệm mệt rồi nghỉ, nghỉ xong niệm tiếp. Ông liền y giáo phụng hành, ba năm thành công.

Tương lai niệm Phật đường, thôn Di Đà chúng ta tuân thủ theo khai thị này của lão pháp sư Đế Nhàn. Bên cạnh niệm Phật đường có nơi nghỉ ngơi. Tôi thấy phía dưới đã làm xong một dãy phòng nghỉ ngơi. Tuy nhiên, dãy phòng đó dường như vẫn không đủ dùng, nên kéo dài ra thành một hàng. Người mệt thì đi nghỉ. Khi nghỉ ngơi không nên cởi áo tràng, vì đã cởi ra sẽ dễ ngủ luôn, không dậy được. Mang áo tràng nằm nghỉ một lát, tinh thần tốt hơn thì phải mau ngồi dậy đến niệm Phật đường mà niệm.

Phương pháp niệm Phật, chúng ta tuân thủ theo pháp sư Hành Sách. Đó là tổ sư của tịnh tông. Phương pháp của ngài “nhiễu Phật, chỉ tịnh, lễ bái”. Tương lai nếu có nhiều người niệm Phật, chúng ta phân thành khu. Tượng Phật đặt ngay giữa để nhiễu Phật. Tượng Phật không nên để trên đài, vì không thể nhiễu qua được. Quanh tượng Phật phải có đường đi. Phía sau tượng có thể nhiễu Phật. Cho nên niệm Phật đường không giống như giảng đài. Niệm Phật là lấy nhiễu Phật làm chủ. Bởi vì tinh thần thể lực chúng ta không đủ thì không cách gì duy trì quá lâu, cho nên nếu nhiễu mệt, chúng ta có thể ngồi xuống nghỉ ngơi. Việc này chúng ta xem trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng tử đi tham học, tham phỏng vị thứ nhất là tỳ kheo Đức Vân, Hoa Nghiêm 40 gọi là tỳ kheo Kiết Tường Vân. Ông đi tham phỏng nhưng không tìm thấy ngài. Kết quả sau cùng “biệt phong kiến đạo”, trên đỉnh núi có một đỉnh núi khác. “Biệt phong” đại biểu cho ý gì? pháp môn đặc biệt chính là pháp môn tịnh độ. Cho nên ngài tu pháp môn đặc biệt này ở nơi biệt phong.

Ngài tu như thế nào? Bát Chu Tam Muội, Phật Lập Tam Muội. Ngài chỉ đứng và kinh hành nhiễu Phật, không ngồi, không nằm ngủ. Thông thường chúng ta nói Bát Chu Tam Muội, một kỳ là ba tháng. Vậy phải có thể lực rất tốt, người thông thường không làm được. Một ngày một đêm không ngủ, bạn còn không chịu nổi thì chín mươi ngày không ngủ làm sao được? Không chỉ không ngủ mà ngay đến ngồi cũng không được ngồi. Cho nên niệm Phật đường phải lấy nhiễu Phật làm chủ đạo. Nhiễu Phật phải ra tiếng. Sau khi nhiễu mệt thì bên cạnh có bồ đoàn để bạn ngồi xuống niệm. Khi ngồi có thể không niệm ra tiếng mà cùng niệm theo đại chúng. Nếu ngồi mà hôn trầm ngủ gật thì liền đứng dậy đến trước tượng Phật lạy. Lạy Phật cũng là phương pháp vận động điều tiết thân thể. Còn nếu quá mệt thì sang khu bên cạnh nghỉ ngơi cho khoẻ rồi phải mau trở lại niệm Phật một cách thật dụng công, chân thật nỗ lực.

Ngày trước thiền đường thiền tông gọi là “trường tuyển Phật”. Ngày nay nơi đây chúng ta cũng là trường tuyển Phật. Tất cả chúng sanh tuyển cử đến để làm Phật, còn có việc gì quan trọng hơn việc này? Đại sự nhân duyên chính là như vậy. Hy vọng đồng tu chúng ta trân trọng, dùng toàn bộ lực lượng thành tựu đạo tràng. Đạo tràng này là đạo tràng của mười phương tất cả chư Phật Như Lai. Chính chúng ta rất rõ ràng tường tận. Mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai bao gồm chính chúng ta trong đó. Nếu chúng ta đã muốn làm Phật, tất cả Phật đều tán thán Phật A Di Đà thì chúng ta cũng phải tán thán Phật A Di Đà; cũng phải toàn tâm toàn lực vì Phật A Di Đà mà làm việc. Phải thay Phật A Di Đà trong đại thời đại này mà xây dựng một nơi tiếp dẫn chúng sanh đến niệm Phật thành Phật, không luận sức cống hiến của chúng ta lớn hay nhỏ. Kinh Hoa Nghiêm nói, đó đều là bình đẳng. Một niệm thiện, một chút công đức nhỏ đều là tận hư không khắp pháp giới. Phước báu vô lượng vô biên. Chúng ta có thể khẳng định, không nên hoài nghi, đó là đắc đạo thành đạo.

Phật sau khi thành đạo không thể nói là không còn việc gì. Sau khi thành đạo, một việc to lớn duy nhất chính là ở ngay trong nhân địa phải thực hiện viên mãn cái nguyện đã phát ra. Không thể nói mà không làm. Trong nhân địa đã phát ra nguyện gì? “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. “Độ chúng sanh” là thương yêu, quan tâm, thương xót chúng sanh; toàn tâm toàn lực giúp đỡ chúng sanh. Trên kinh nói “ngàn nơi mong cầu ngàn nơi đến”. Nơi nào chúng sanh có cảm, Phật liền hiện thân. Cảm này chính là mong cầu Phật Bồ tát bảo hộ, gia trì. Chỉ cần có cầu, Phật liền có ứng.

Cảm” có hai loại: cảm rõ ràng, còn gọi hiển cầu; và cảm âm thầm, chính mình thậm chí không phát hiện ra chính mình có ý niệm mong cầu. Ý niệm này dường như rất vi tế, không phát hiện ra. Một ý niệm vi tế như vậy, chính mình còn không biết, thế nhưng cảm ứng của Phật rất linh mẫn. Các ngài có thể cảm ứng đến. Khi quan sát đến, Phật nhất định có ứng.

Ứng của Phật cũng có hai loại: hiển ứng và minh ứng. Minh ứng thì bạn không thể cảm giác được. Phật đích thực đang ở xung quanh bạn, đang giúp đỡ bạn, nhưng bạn không hề cảm giác được. Hiển ứng là cho bạn cảm nhận, hoặc giả bạn nhìn thấy hình tượng của Phật Bồ Tát, nghe được âm thanh của Phật Bồ Tát. Như kinh Địa Tạng, Bà La Môn nữ cúng dường đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Cô nghe được âm thanh của Phật, nói chuyện với Phật, đó là hiển ứng rõ ràng. Tuy Phật không hiện thân, không nhìn thấy thân tướng, nhưng nghe được âm thanh. Cho nên cảm và ứng đều có minh hiển khác nhau. Có minh cảm hiển ứng, minh cảm minh ứng, có hiển cảm hiển ứng, hiển cảm minh ứng. Cảm ứng đạo giao có bốn loại khác nhau. Chúng sanh thế gian căn tánh chín muồi, đó là minh cảm không phải hiển cảm.

Vào ba ngàn năm trước, thế gian này của chúng ta căn tánh chín muồi, cảm động Thích Ca Mâu Ni Phật ứng hoá đến. Phật là hiển ứng, ứng hoá rõ ràng. Phật xuất hiệnthế gian, không có người quen biết, không có người thỉnh pháp. Không người thỉnh pháp thì Phật phải nhập diệt, phải vào Bát Niết Bàn, vì ngài ở thế gian này không có việc gì làm. Phàm phu chúng ta ngu si không biết Thế Tôn thành Phật, không hề biết có Phật xuất thế. May mà người trời Tịnh Cư xem thấy, vội vàng đi xuống, thay chúng ta khải thỉnh. Người trời Tịnh Cư chính là ngũ bất hoàn thiên trong đệ tứ thiền. Tầng trời thứ năm này đều là người tu hành, không phải phàm phu. Kinh điển nói “thánh nhân tam quả trở lên”, nơi đó đạo tràng lớn, họ mới nhìn thấy Phật xuất hiệnthế gian.

Thế là Thế Tôn tiếp nhận lễ thỉnh của chúng sanh, bắt đầu vì mọi người giảng kinh nói pháp, triển khai sự nghiệp giáo hoá chúng sanh. Sự nghiệp này dùng lời hiện đại mà nói là “công tác giáo dục xã hội”.

(Còn tiếp ...)

KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC

Pháp sư: HT. TỊNH KHÔNG

Biên dịch: Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: PT. Giác Minh Duyên

 

Tạo bài viết
14/06/2010(Xem: 40794)
Cứ mỗi mùa Phật Đản về, là hoa đăng trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè lung linh sắc màu huyền ảo..
Đức Đạt Lai Lạt Ma hội thoại với dân Việt Nam tại Hà Nội, Sài Gòn và Hải Phòng cũng như một nhóm người Việt tại nơi cư trú của ngài ở thị trấn Dharamsala, Ấn Độ