Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 41)

10/06/201312:00 SA(Xem: 9234)
Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 41)

KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 41)


Pháp Sư Tịnh Không

 

“THƯỜNG DĨ PHÁP ÂM, GIÁC CHƯ THẾ GIAN”

Câu kinh văn này là trong tám tướng thành đạo, “chuyển pháp luân” trong tổng tướngnói pháp”, các vị đã thấy rất rõ ràng trên đề kinh. Hai câu này là tổng thuyết, nói rõ Thế Tôn vì sao phải xuất thế, cũng nói rõ Thế Tôn vì sao xây dựng Phật phápthế gian này. Nhà Phật thường nói “Như Lai gia nghiệp”.

“Thường dĩ pháp âm”

Thường dĩ pháp âm” là pháp giác, giúp đỡ tất cả chúng sanhphá mê khai ngộ, lìa khổ được vui”. Tám chữ là tông chỉ mục đích giáo học của Phật Thích Ca Mâu Ni. Khổ từ mê hoặc mà có. Vui từ giác ngộ mà ra. Mê ngộ là nhân, khổ vui là quả. Giúp chúng sanh lìa khổ được vui nhất định phải ở trên nhân mà hạ thủ. Phật biết pháp khổ vui, biết được nhân quả trong đây, cho nên cả đời từ công việc giáo học giúp đỡ chúng sanh phá mê khai ngộ.

Thường” là không gián đoạn, đặc biệt hiển thị rõ ở hội Hoa Nghiêm, gọi là “trần thuyết sát thuyết, vô gián đoạn thuyết”. Chư Phật Như Lai đã nói tất cả kinh pháp đều không ngoại lệ, đều đồng một pháp vị, thuần chân vô vọng. Đó là ý “thường”.

Cái gì gọi là “pháp âm”?. Pháp âm không phải là giảng giải Phật kinh. Nếu theo cách nói này, sai biệt sẽ rất lớn. “Pháp” là pháp tánh. Phật gọi thân của chúng sanh hữu tình là “Phật tánh”, còn thân chúng sanh vô tình là “pháp tánh”. Pháp tánh bao gồm Phật tánh, nhưng Phật tánh không bao gồm pháp tánh. Kỳ thật Phật tánh cùng pháp tánh là một tánh. Phật trong kinh giáo nói, vũ trụ từ đâu mà có, sinh mạng từ đâu mà có? Không chỉ sinh mạng mà thế gian này thường gọi, nó còn bao hàm chúng sanh hữu tình mười pháp giới, họ từ đâu mà đến? Lại nói hoàn cảnh của y báo. Hoàn cảnh chúng ta sinh sống, núi sông đất đai, gọi là hoàn cảnh vật chất, từ đâu ra? Khoa học gia hiện tại đều đang nghiên cứu, thăm dò, tìm kiếm nguồn gốc của vũ trụ, liệu họ có thể tìm được hay không? Chúng ta có thể khẳng định họ không cách gì tìm ra, bởi vì phương pháp họ dùng là sai lầm, phương hướng cũng sai lầm. Việc này không chỉ khoa học thời hiện đại xem thành vấn đề sống còn để nghiên cứu mà từ xưa, sớm hơn những năm Thế Tôn ra đời, người ta cũng đã tìm tòi.

Theo cách nói của phương tây, vào thời đại hai ngàn năm trăm năm về trước, nếu chiếu theo ghi chép của lịch sử Trung Quốc thì đó là thời đại của ba ngàn năm trước, không ít người thông minh thời đó cũng đi tìm khởi nguồn của sinh mạng và vũ trụ. Ở Ấn Độ, trong điển tích tôn giáo cổ xưa, có thể xem thấy họ đã nói ra hai mươi lăm đế, minh đế chính là khởi nguồn của vũ trụ. Phật nói đó là một sự ngộ nhận rất lớn, không phải sự thật. Sở dĩ sanh ra hiểu lầm lớn như vậy là do phương pháp lẫn phương hướng sai lầm, cùng phạm sai lầm như các nhà khoa học hiện đại. Khoa học hiện đại thì dùng máy móc tiên tiến để dò tìm, còn những nhà tôn giáo cổ đại thì dùng công phu thiền định, thực tế mà nói, cao minh hơn nhiều so với những thiết bị của khoa học gia hiện đại.

Khoa học kỹ thuật hiện đại đến nay vẫn không cách gì đột phá được thời không. Trong khoa học chứng thực có quá khứ, vị lai; biết được chúng ta có thể quay trở lại quá khứ, cũng có thể bước vào cảnh giới tương lai. Trên lý luận thì nói thông, nhưng lại không có phương pháp gì để trở về quá khứ. Họ biết việc đảo ngược thời gian, ngày nay gọi là trục đạo thời gian, nhưng hiện tại trục đạo thời gian vẫn chưa thông, không thể trở lại quá khứ cũng không cách gì bước vào tương lai. Tuy nhiên, nếu dùng công phu thiền định thì có thể đột phá được chướng ngại này, có thể trở lại quá khứ cũng có thể bước vào tương lai.

Hiện có rất nhiều nơi lưu hành quyển sách Sướng Tiêu Thư. Một đồng tu đem đến cho tôi xem cuốn đang rất thịnh hành: “Mật Mã Kinh Thánh”, có phiên dịch Trung văn, nguyên bản tiếng Anh. Truyền thuyết quyển sách này được viết từ ba ngàn năm trước. Đó là sách dự ngôn rất chính xác. Ba ngàn năm trước biết những việc xảy ra của ba ngàn năm sau, gồm những tai nạn lớn sẽ xảy ra ở thế gian này vào thời hiện đại của chúng ta. Tôi xem qua bản dịch, không phải nguyên bản. Một nhà báo Hoa Kỳ không tín ngưỡng tôn giáo, ông xem thấy những sự việc đã viết ra trên sách này, rất lấy làm kinh ngạc vì những dự ngôn chuẩn xác đó. Ông cũng rất thông minh biết được quyển sách này không phải do Thượng Đế viết, vì nếu Thượng Đế viết thì Thượng Đế phải có năng lực hoá giải những tai nạn này. Thượng Đế chỉ đưa ra cảnh báo nhưng lại không có cách gì hoá giải, cho nên việc này không phải Thượng Đế viết. Ông ấy cho rằng, đây phải là một người rất thông minh, một người rất từ bi đã đưa ra cảnh báo nghiêm trọng cho chúng sanh thời hiện đại, một quan điểm tương đối khách quan.

Phàm hễ dự ngôn, không luận trong nước ngoài nước, thời xưa thời hiện đại, lý luận dự ngôn căn cứ trên hai sự việc. Một là số học. Từ trong số học phán đoán ra, cũng đoán được tương đối chuẩn. Trong Liễu Phàm Tứ Huấn, Khổng tiên sinh đoán mạng cho tiên sinh Liễu Phàm rất chuẩn, đó là dự ngôn. Liễu Phàm lúc đó còn trẻ. Khổng tiên sinh đoán ông năm mươi tuổi phải chết. Lành dữ cả đời gần như đều bị ông đoán trúng, đó cũng là dự ngôn. Ông căn cứ vào số học để suy đoán. Chỉ cần bạn có ngày giờ sanh chính xác, lấy đây làm căn cứ, liền có thể suy đoán kiết hung họa phước của cả đời bạn. Nếu số học của ông ấy kém thì chẳng phải đoán sai bạn rồi sao. Đoán một người tương đối dễ dàng, vì thời gian ngắn, nhưng nếu đoán kiếp vận của thế gian mới khó, vì thời gian dài. Đoán sự việc sau ba ngàn năm lại càng không dễ. Cho nên chúng ta tỉ mỉ xem “Kinh Thánh”, trong lời dự ngôn đã viết ra cũng có thể khẳng định, đó là công phu của thiền định, không phải số học.

Thiền định có thể đột phá được thời không. Trong thiền định có thể thấy vị lai. Ba ngàn năm không quá dài, hành giả thiền định có thể nhìn thấy được. Cho nên phần dự ngôn này là từ thiền định mà có, đáng tin hơn rất nhiều so với số học. Suy đoán của số học sẽ sai lầm, còn cảnh giới hiện tượng trong định gần như chính xác đến 100%.

Pháp âm” chỉ có Phật mới có thể nói, đó là pháp tánh. Ngôn ngữ, âm thanh, giáo học của tánh đều bao hàm trong hai chữ này. Như Lai thân-ngữ-ý ba luân đều không ngoài lợi ích tất cả chúng sanh, cho nên gọi là pháp âm. Quyển kinh là dấu hiệu của ngôn ngữ, văn tự là phù hiệu, ghi chép của ngôn ngữ, cũng là phương pháp lưu truyền lâu dài. Cho nên văn tự kinh điển thuộc phạm vi của pháp âm. Ngày nay chúng ta đọc kinh điển, nghe Phật pháp, làm chuyển biến tư tưởng, kiến giải, quan niệm, hành vi của chúng ta, pháp âm này liền nhận được hiệu quả.

“Giác chư thế gian”

Thế gian có ba loại, trong đó có “hữu tình thế gian chủ”. Kinh Hoa Nghiêm nói những thế chủ này là hữu tình chúng sanh. Chúng ta ở đây đều thuộc về hữu tình chúng sanh. Loại thế gian thứ hai gọi là “khí thế gian chủ”. Khí thế gian chủ cũng là chúng sanh, nhưng mắt thịt chúng ta không thể nhìn thấy. Kinh nói thần đất, thần núi, thần cây đều là khí thế gian chủ. Đạo tràng này của chúng tathần đạo tràng, thần bảo hộ đạo tràng. Các vị đồng tu ở nhà, kinh Địa Tạng nói có thần trạch bảo hộ nhà của bạn. Những loại chúng sanh này mắt thịt chúng ta không thể nhìn thấy, thế nhưng chúng ta được sự bảo hộ của họ.

Nếu chúng ta tạo tác ác nghiệp thì những thiện thần này sẽ đi mất, và đổi một tốp quỷ thần khác đến. Thiện thần đi rồi, không ai bảo hộ bạn nữa, thì ác thần liền kéo đến giúp bạn tạo nghiệp, tương lai đọa vào địa ngục. Họ ở đó nhìn thấy sẽ vui mừng. Trong quỷ thần, ác nhiều thiện ít.

Những quỷ thần thiện đa số đều quy y Tam Bảo, đều là đệ tử Phật. Cho nên trong quỷ vương có rất nhiều Bồ tát thị hiện, không phải chân thật là quỷ vương. Những quỷ đáng thương này biết khuyên họ đoạn ác tu thiện, không nên hại chúng sanh, mà phải phát tâm bảo hộ. Loại này gọi là “khí thế gian chủ”.

Còn loại thế gian thứ ba là “trí chánh giác thế gian chủ”. Đó là những người chứng quả từ A La Hán trở lên. Tông thiên thai gọi là tạng giáo Phật, Phật của thông giáo, đều thuộc về trí chánh giác thế gian chủ. Cho nên đối tượng Phật giảng kinh nói pháp, bao gồm ba loại thế gian này, gọi là chư thế gian. Đây chính là ý nói chúng sanh chín pháp giới hữu giáo vô loại. Phật một mực dạy bảo bình đẳng, hiển thị đại từ đại bi vô tận. Từ bithanh tịnh bình đẳng, không phân thiện ác. Phật dạy người thiện, dạy cả người ác, không phân oán thân. Phật dạy người có quan hệ thân thiết với Phật, dạy cả oan gia đối đầu với ngài. Đó gọi là đại từ đại bi. Phương pháp Phật giảng kinh vô lượng vô biên, Phật có trí tuệ cứu cánh viên mãn, cho nên vì chúng sanh khai thị pháp môn pháp âm vô lượng vô biên. “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, Phật nói, chúng ta phải phát tâm học vô lượng pháp môn.

Trọng điểm ở “giác”, khiến cho thế gian phổ biến bình đẳng giác ngộ. Chư Phật Như Lai xuất hiệnthế gian phải làm một việc lớn, gọi là Phật sự, tức sự nghiệp của Phật Bồ tát. “Thế gian”, thế chỉ thời gian. Người Trung Quốc lấy ba mươi năm làm một đời. “Gian” là không gian. Hai chữ “thế gian” hoặc “thế giới” có ý nghĩa giống nhau, đồng nghĩa vớivũ trụ”, dùng lời hiện tại mà nói chính là “thời không”. Thế là thời, gian là không. Trong thời không đã bao hàm tất cả vạn sự vạn vật, gọi là chư thế gian, tức vô lượng vô biên.

Phật vì phương tiện nói pháp khai mở, phân thành ba loại lớn: hữu tình thế gian, khí thế gian, trí chánh giác thế gian. Phật đối với ba loại thế gian này đều “thường dĩ pháp âm” giúp họ giác ngộ. Hữu tình thế gian nói đến mười pháp giới. Khí thế gian là nói thế giới của vật chất. Trong mười pháp giới, chánh báohữu tình thế gian, y báokhí thế gian. Cũng trong mười pháp giới, bốn pháp giới phía trên gọi là trí chánh giác, còn hữu tình thế gian chuyên chỉ chúng sanh sáu cõi.

Thanh văn, Duyên giác, Bồ táttrí chánh giác thế gian, đó là pháp giới bốn thánh. Kinh đại thừa Phật nói, sáu cõi là phàm phu, pháp giới bốn thánh cũng là phàm phu. Sáu cõi gọi là nội phàm, pháp giới bốn thánh gọi là ngoại phàm, chưa được xem là thánh nhân. Pháp Tướng Duy Thức nói đồng sanh cùng dị sanh. Đồng sanh là trí chánh giác, dị sanhphàm phu. Đồng sanh cùng với chư Phật Như Lai dùng đồng một chân tâm. Tâm của bạn và tâm chư Phật như nhau. Dị sanh là tâm của bạn cùng tâm Phật không như nhau.

Vì sao không giống nhau? Chúng ta khởi tâm động niệm dùng tâm tám thức năm mươi mốt tâm sở. Đó là dị sanh tánh, cũng là phàm phu. Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát quyền giáo trong bốn giáo của Đại sư Thiên Thai đã nói Tạng giáo Phật, Thông giáo Phật đều dùng tám thức năm mươi mốt tâm sở, là dị sanh tánh. Rốt cuộc thì ai là đồng sanh tánh? Biệt giáo sơ địa trở lên, viên giáo sơ trụ trở lên, phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân, đồng sanh tánh, cùng chư Phật Như Lai dùng đồng một chân tâm, đó mới chân thật gọi là chánh giác, kinh cũng gọi là đẳng chánh giác. Tuy là chánh đẳng chánh giác, họ siêu việt mười pháp giới, trụ nhất chân pháp giới nhưng những Bồ tát này còn có bốn mươi mốt giai bậc. Kinh Hoa Nghiêm gọi là bốn mươi mốt vị pháp thân đại sĩ, chưa được viên mãn. Cho nên Phật vẫn phải giúp họ, vẫn phải dùng pháp âm giác chư thế gian, pháp âm vi diệu không thể nghĩ bàn. Đó không phải loại giảng kinh nói pháp ngay trong quan niệm tưởng tượng của phàm phu chúng ta, không giống như hội trường này nghe Phật giảng kinh nói pháp giáo hóa chúng ta. Pháp giới nhất chân chúng ta không cách gì tưởng tượng, kinh nói “bất khả tư nghì”.

Do đây, chúng ta phải thể hội ý nghĩa của hai chữ “pháp âm”, không để rơi vào vết tích của nó. Chỉ cần là trùng trùng phương pháp giúp tất cả chúng sanh giác ngộ, phương tiện khéo léo, thì đều gọi là pháp âm. Tương lai chúng ta ở hội kinh Hoa Nghiêm sẽ đọc đến, trời Quang Âm tương thông ý kiến với nhau không cần nói chuyện. Nếu Phật ở đó giảng kinh cho mọi ngườicần dùng ngôn ngữ không? Dùng phương pháp gì để tương thông ý kiến? Phóng quang, vừa phóng quang ra, mọi người vừa xem liền giác ngộ. Bạn nghĩ xem thuận tiện dường nào. Dùng ngôn ngữ phải tốn nhiều sức, giảng một bộ kinh Hoa Nghiêm khổ cực chuyên cần mỗi ngày hai giờ đồng hồ trong năm năm mới xong. Nếu như phóng quang, vừa phóng quang ra, một sát na là có thể giảng xong bộ kinh Hoa Nghiêm viên mãn. Vô cùng tự tại, chân thật không thể nghĩ bàn.

Người trời Quang Âm trở lên đều không dùng ngôn ngữ. Thực tế mà nói, phạm vi của ngôn ngữ rất nhỏ hẹp, rất có hạn, từ cùng ý trái nhau, từ không thể đạt ý. “Ý” là nói ý thức thứ sáu. Năng lực của ý thức thứ sáu mạnh hơn nhiều so với ngôn ngữ. Thức thứ sáu có thể duyên hư không pháp giới. Trong có thể duyên đến A Lại Da Thức, thế nhưng nó vẫn có giới hạn, không duyên đến chân như bổn tánh. Cho nên dùng tâm ý thức để tu hành không thể kiến tánh. Dùng tâm ý thức tu hành đúng pháp, hoàn toàn chiếu theo kinh giáo Như Lai để tu. Phật dạy bạn phải đoạn, bạn thật đã đoạn dứt; Phật dạy bạn nên làm, bạn thật đã làm được tròn đầy, cũng có thể làm đến được Tạng Giáo Phật, Tông Giáo Phật, nhưng không ra khỏi mười pháp giới, vì sao? Vì giới hạn của thức thứ sáu là mười pháp giới. Khi tường tận, bạn có thể chuyển tám thức thành bốn trí vậy thì mới đột phá mười pháp giới, liền vào pháp giới nhất chân, đồng một sanh tánh với Phật.

Các vị phải biết, “thường dĩ pháp âm, giác chư thế gian”, bao gồm mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai trong hư không pháp giới làm việc rộng độ chúng sanh. Tám chữ này đã nêu hết tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc. Chúng ta học Phật phải khéo học tập, học nắm cương lĩnh, nhất là tổng cương lĩnh. Câu kinh này chính là tâm bồ đề viên mãn tròn đầy, tâm bồ đề vô thượng, cũng là tứ hoằng thệ nguyện viên mãn. Trong tứ hoằng thệ nguyện, “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” có phải là giác chư thế gian hay không? Bạn dùng phương pháp gì để độ chúng sanh? Đó là pháp âm. Sau đó đoạn phiền não, học pháp môn, thành Phật đạo. Hai chữ pháp âm thảy đều bao gồm lấy. Đó là “tổng tướng”.

Biệt tướngáp dụng của tổng tướng, đó là tổng nguyên tắc, làm thế nào thực hiện trên sự tướng, văn phân hai đoạn. Hai vị Bồ tát làm đại biểu, Phổ Hiền đại hạnh, Văn Thù đại trí. Phật pháp đại thừa lấy bốn vị Bồ tát này làm căn bản, như xây dựng một cái nhà. Bốn trụ cột không thể thiếu một trụ. Phổ Hiền, Văn Thù, Quan Âm, Địa Tạngbốn đại danh sơn Trung Quốc chúng ta. Có bốn đại Bồ tát mới có thể xây dựng Phật pháp đại thừa.

“PHÁ PHIỀN NÃO THÀNH, HOẠI CHƯ DỤC TRẠM, TẨY TRẠC CẤU UẾ, HIỂN MINH THANH BẠCH”

Tuy nói biệt tướng nhưng biệt tướng vẫn là nguyên tắc, cương lĩnh. Phía trước “giác chư thế gian”, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phải bắt tay từ chỗ nào? Phiền não vô biên thệ nguyện đoạn. Không đoạn phiền não, chính mình độ mình còn không được thì còn có thể độ ai? Làm gì có đạo lý này. Bạn muốn độ chính mình, trước tiên phải đoạn phiền não. Thế Tôn rất cao kiến, đã đem vô lượng vô biên phiền não quy nạp thành hai mươi sáu loại. Sau đó quy nạp tiếp thành sáu loại căn bản phiền não, “tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến”. Phật còn quy nạp lần nữa thành ba loại tham sân si, gọi là phiền não ba độc. Ba loại này nếu quy nạp thành một thì chính là tham.

Tất cả chúng sanh vô lượng kiếp đến nay lưu chuyển sáu đường, sanh tử luân hồi không hề ngừng dứt, nguyên nhân căn bản chính là tham. Phật dạy chúng ta bố thí đối phiền não tham. Chúng ta không thể không biết vấn đề nghiêm trọng này. Đời người chúng tathế gian để làm gì? Chúng ta có nghĩ đến hay không? Một đời này phải làm việc gì? Bạn ở trong một đời đi đến khắp nơi đụng chạm sứt đầu chảy máu, sau cùng vẫn là mê hoặc điên đảo, lỡ qua một đời đáng tiếc dường nào.

Thời xưa không chỉ người xuất gia chí hướng rõ ràng tường tận, minh bạch, có mục đích ra khỏi ba cõi, vĩnh thoát sanh tử luân hồi, mà người tại gia, cổ thánh tiên hiền cũng dạy bảo, dẫn dắt chúng ta lập chí. Bạn không lập chí, cả đời này không luận nỗ lực thế nào, phấn đấu đến đâu, bạn cũng không có mục tiêu, không có phương hướng, công phu của bạn nhất định trống không. Phải có phương hướng, có mục tiêu thì ngay đời này bạn mới có thể kiến công lập nghiệp, lập chí trong thế pháp cùng phát nguyệnPhật pháp. Sau khi lập chí, nếu muốn chí nguyện đạt đến viên mãn thì bạn phải nỗ lực phấn đấu cầu học.

“Phá phiền não thành”

Việc thứ nhất của cầu học là đoạn phiền não, đoạn dục vọng. Vì phiền nãodục vọng chướng ngại trí tuệ của bạn. Bạn không khai mở trí tuệ mà đi học pháp môn thì theo đại sư Thanh Lương nói trong kinh Hoa Nghiêm sớ sao: “cái học được chỉ là tà tri tà kiến. Học kinh giáo đại thừa cũng biến thành tà tri tà kiến”. Giả như không đoạn phiền não mà học pháp môn có thể thành tựu, thành Phật, thành tổ thì đã có quá nhiều rồi, yêu ma quỷ quái đều thành Phật cả. Nhưng tại sao họ không thể thành Phật? Vì tập khí phiền não dục vọng không dứt, làm chướng ngại không thể kiến tánh.

Phật pháp nói thẳng không gì khác hơn là dạy bạn đoạn dứt phiền não chướngsở tri chướng. Chỉ cần đoạn dứt hai loại chướng ngại này, trí tuệ bát nhã đức năng đầy đủ trong tự tánh liền có thể hiện tiền, trí tuệ chân thật, vô lượng công đức tự nhiên thành tựu. Khi đại sư Liên Trì còn trẻ tham phỏng Biến Dung lão hoà thượng, một cao tăng đương thời. Ngài rất chân thành, đúng như đại sư Ấn Quang từng nói, “một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Ngài mười phần thành kính, ba bước một lạy lên tận trên núi, lạy đến trước mặt lão hoà thượng, khẩn thiết cầu ngài khai thị. Lão hoà thượng thấy ngài chân thành đến như vậy, bèn nói “ông không nên bị danh lợi lừa dối”. Rất nhiều người nghe đều cười rộ, cho rằng lão hoà thượng chỉ có thể nói được câu tầm thường như vậy. Mọi người cười Liên Trì, chân thành cũng chỉ nhận những lời rất thường ngày của lão hoà thượng, không có chút mới mẻ nào. Người ta nghe mấy mươi lần, thậm chí mấy trăm lần cũng chỉ như gió thoảng qua tai, không tác dụng. Nhưng đại sư Liên Trì nghe câu nói này như sấm nổ bên tai, liền khởi tác dụng. Ngài nói với người khác, “lão hoà thượng chân thật từ bi, không nói huyền nói diệu với tôi. Ngài nói cho tôi một lời thành thật, thành tựu của cả đời ngài”. Nhờ vào lời khai thị này, viễn ly danh vọng lợi dưỡng, thành thật tu hành, đại sư Liên Trì thật khởi lên tác dụng. Hiện tại chúng ta có mấy người thành thật như vậy?

Khoảng hai mươi năm trước, pháp sư Thanh Độ ở Nhật Bản rất thân với tôi. Ông cũng rất hay giúp đỡ những pháp sư Đài Loan, đã tìm mấy suất học bổng tiến sĩ Phật học ở Nhật để tặng Đài Loan, trong đó có tặng một phần cho pháp sư Ấn Thuận. Ông cũng muốn tặng một phần cho tôi nhưng tôi từ chối. Hàm tước tiến sĩ đó là cái gì? Là thòng lọng của ma vương buộc lấy bạn. Bạn rơi vào danh vọng lợi dưỡng, lấy được hàm tước tiến sĩ rồi sẽ cống cao ngã mạn. Cho nên cái thòng lọng đó có thể buộc lấy người khác nhưng không buộc được tôi. Chúng ta học Phật không mong cầu danh vọng lợi dưỡng thế gian. Chỉ cần một chút tiêm nhiễm thì liền đọa lạc vào sáu cõi luân hồi, vào ba đường ác.

Muốn đoạn tham sân si, được tâm thanh tịnh hiện tiền thì thuận cảnh không khởi tham ái, nghịch cảnh không khởi sân hận. Trong tất cả cảnh duyên rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo, không si mê sanh trí tuệ, thuận nghịch cảnh duyên không động tâm. Đó chính là thiền định. Kinh Kim Cang nói “Bất thủ ư tướng, như như bất động”. Đối với cảnh giới bên ngoài, thuận cảnh tốt, nghịch cảnh cũng tốt; thiện duyên, ác duyên đều tốt; không động tâm, không chấp tướng. Chúng ta tu hành chính là tu việc này. Trong cảnh giới còn khởi tâm động niệm thì vẫn là phàm phu.

Không động niệm sẽ được nắm chắc phần pháp hỉ. Dù công phu chưa thành tựu nhưng nhất định sẽ không đọa lạc vào ba đường ác, phước báu đời sau nhất định không ở nhân gian, mà lên trời hưởng phước. Tuy nhiên, bạn phải đặt mục tiêu giác ngộ, cầu sanh Tịnh Độ, vì sao? Vì trời không cứu cánh, sợ rằng khi vừa lên lại bị mê, hưởng hết phước lại phải đọa luân hồi, rơi vào ba đường, chẳng phải là đặc biệt sai lầm hay sao? Cho nên không được mê hoặc phước báu thế gian và không động tâm phước trời mà phải chân thật phá phiền não. Chính mình có phước thì để phước cho mọi người hưởng.

Thế Tôn làm tấm gương tốt nhất cho chúng ta. Thiên thượng nhân gian phước báu rất lớn, viên mãn nhất cũng không hơn Phật. Chúng taquy y Phật nhị túc tôn”, trí tuệ phước đức viên mãn. Phật có hưởng phước hay không? Không. Phật vẫn ba y một bát, nửa ngày một bữa, dưới mỗi gốc cây ngủ một đêm, cả đời không thay đổi. Vì sao ngài phải làm như vậy? Mục đích để chúng ta xem. Phước báu của Phật cho tất cả chúng sanh hưởng thụ, đặc biệtgia trì chúng sanh khổ nạn, khiến tai nạn của họ giảm nhẹ, khiến thời gian chịu nạn của họ rút ngắn. Các vị nên biết, nếu khôngPhật lực từ bi gia trì, thì thế giới ngày nay của chúng ta không biết phải gặp tai nạn như thế nào. Chúng sanh tội nghiệp cực trọng, ấy thế mà thế giới vẫn duy trì, nhờ Phật lực và phước báu của Phật mang đến cho chúng ta nhưng chúng ta không hề biết cũng không cảm kích. Ngày ngày đọc thượng báo tứ trọng ân, nhưng chỉ có miệng vô tâm, rốt cuộc không tường tận ân đức quá to lớn duy trì cả thế giới này.

Thành” là thí dụ kiên cố, giống như thành trì tập khí phiền não của chúng ta không dễ gì đoạn. Vậy phải làm thế nào để đoạn? Vẫn là lời nói của đại sư Thiện Đạogặp duyên chẳng đồng”. Gặp duyên thù thắng, chúng ta rất có khả năng đoạn. Đó là duyên ngày ngày nghiên cứu đại kinh đại luận, mỗi giờ mỗi phút nhắc nhở chúng ta thì mới có thể đoạn trừ. Một ngày không đọc kinh, bồ đề liền suy, phiền não liền thêm lớn. Ba ngày không đọc kinh, hoàn toàn thoái chuyển. Người đi trước duyên sâu, ngày ngày đọc kinh, ngày ngày niệm Phật, từ đầu năm đến cuối năm đều không gián đoạn, cho nên tính cảnh giác của họ rất cao, mỗi giờ mỗi phút có thể nhớ, dần dần phiền não chuyển biến thành Bồ Đề, giác ngộ rồi, chân thật phá mê khai ngộ. Hiện tại thời gian chúng ta đọc kinh quá ít, niệm Phật quá ít, thường xem niệm Phật tụng kinh như buổi điểm tâm, không phải bữa cơm chính, ngược lại còn lấy tham sân si mạn làm bữa ăn chính.

Vì vậy nhất định ghi nhớ, nếu chúng ta muốn học Phật, muốn vãng sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc thì phải phá phiền não. Muốn phá phiền não thì phải “tâm không ác niệm”. Cái gì là ác? Mười ác, “sát, đạo, dâm, vọng ngữ, hai lưỡi, ỷ ngữ, ác khẩu, tham, sân, si”, không còn, chân thật đối với người, với việc, với vật chân thành, cung kính, từ bi, quyết không chút ý niệm chiếm tiện nghi lợi ích của người khác, đó là tà tư. Phải xả mình vì người. Người khác xâm chiếm ta, không nên để ý đến, ngược lại còn bố thí ba la mật cúng dường họ, không xâm chiếm chút gì lợi ích của họ. Miệng không nói lời ác, thân không tà hạnh, mỗi niệm quan tâm xã hội, thương yêu chúng sanh, toàn tâm toàn lực giúp đỡ xã hội này. Chúng ta có thể tu hành như vậy, nhất định sẽ được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần bảo hộ, phiền não của bạn cũng liền sẽ ít đi.

“Hoại chư dục trạm”

. “Trạm” là thí dụ. Trước thành thị có tường thành, bên ngoài thành có hào giữ thành, hào gọi là trạm. Phật ở chỗ này đem phiền não thí dụ cho thành, đem dục vọng thí dụ cho hào giữ thành. Tất cả chúng sanhthế gian đều có dục vọng, cụ thểngũ dục” gồm năm loại dục vọng mãnh liệt: “tài, sắc, danh, thực, thùy”; “lục dục” gồm “sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp” còn gọi là lục trần. Những thứ này phải viễn ly, phải xả bỏ, hạ dục vọng của đời sống xuống mức thấp nhất thì đời sống của bạn liền được đại tự tại, ngay đời này chân thật hạnh phúc mỹ mãn. Thích Ca Mâu Ni Phật hiểu được. Phật và học trò của ngài cũng làm được điều này, nên họ trải qua đời sống thong dong tự tại. Dưới mỗi gốc cây chỉ ngủ một đêm, nửa ngày ăn một bữa, không có gánh nặng nào.

Trong khi người thế gian mê hoặc điên đảo, tham đắm năm dục sáu trần, nghĩ hết cách phải thành gia lập nghiệp, tạo dựng cái nhà. Nhà là gì? Các vị xem thử kiểu dáng “nhà”, văn tự Trung Quốc, giống như chữ “hào”. Có một căn phòng nhỏ, trong phòng là chú heo nhỏ, đó chính là chữ nhà. Phật đầy đủ trí tuệ nên không làm việc này. “Nghiệp” là gì? là nghiệp chướng. Bạn còn phải lập nghiệp, chướng ngạiminh tâm kiến tánh”, chướng ngại thoát sanh tử, ra ba cõi. Gia nghiệp trói buộc, người giác ngộ phải biết xả bỏ nó. Vậy ngày nay, người xuất gia chúng ta có thật xuất gia hay không? Không. Họ ra khỏi nhà nhỏ, liền xây nhà to; xả bỏ nghiệp nhỏ, làm một đại nghiệp, khổ nói không ra lời. Cho nên phải tỉ mỉ tư duy, nghĩ xem khi còn ở đời, Phật đã dạy chúng ta như thế nào, tổ sư đại đức xưa nay dạy bảo chúng ta như thế nào.

Khi Thế Tôn còn tại thế, không có đạo tràng. Tuy lúc tuổi già, một số quốc vương đại thần cúng dường tịnh xá, vườn rừng, thỉnh Phật ở đó giảng kinh nói pháp, đó chỉ là thỉnh Phật tạm trú, không hề tặng Phật Thích Ca Mâu Ni. Vườn rừng đạo tràng vẫn là của chính các tín đồ, họ vẫn có quyền sở hữu. Phật Thích Ca Mâu Ni cùng các đệ tử này chỉ có quyền sử dụng, chứ không có quyền sở hữu. Cũng như chúng ta ở nhà nghỉ vậy, chỉ đến ở vài ngày, nhưng ông chủ mới là người có quyền sở hữu. Lão hòa thượng tiền bối cũng từng nói, căn phòng này khi mưa xuống bị dột, người xuất gia thấy dột thì dọn qua nơi không dột. Bị dột nữa thì đi nơi khác. Sửa sang phòng ốc là việc của người chủ. Người tạm nghỉ không lo việc này. Loại cúng dường đó công đức chân thật.

Ngày nay, một số tín đồ mua nhà cửa, cúng dường quyền sở hữu cho pháp sư. Pháp sư liền bước lên thòng lọng, thiệt hại càng to. Không phải bạn đang muốn xuất gia hay sao? Người ta kéo bạn trở lại thì bạn đã quay lại, rồi có một căn nhà, nhốt chết bạn, vĩnh viễn không thể thoát khỏi luân hồi. Tôi hy vọng đồng tu xuất gia chúng ta phải cảnh giác cao độ, quyết không để bị thiệt.

Nếu như bạn muốn hỏi, “không có bất cứ thứ gì vẫn có thể thân tâm an ổn làm đạo sao?”. Cả đời tôi làm tấm gương cho các vị, cả đời tôi không có đạo tràng, đều ở đạo tràng của người khác. Cả đời này chẳng phải tự tại, an vui hay sao? Không có gia nghiệp càng tự tại, càng an vui. Nếu không có người quan tâm đến tôi, không thỉnh tôi giảng kinh, không có nơi để ở, thì tôi càng an vui không gì bằng. Tôi có thể lập tức đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, được A Di Đà Phật tiếp dẫn. Vì các vị vẫn cúng dường, tìm tôi giảng kinh, nên tôi không còn cách nào khác, phải ở thêm vài ngày vậy, đó là sự thật. Dục vọng giảm xuống mức thấp nhất. Hiện tại tôi gần như khôngdục vọng. Hoằng pháp lợi sanh là việc của các vị, không liên quan đến tôi. Tôi ở đây giảng kinh, các vị muốn lưu thành băng đĩa để truyền bá khắp nơi, lợi ích chúng sanh, đó là việc của các vị, không liên quan đến tôi. Từ trước giờ tôi không nghe không hỏi, đó không phải là việc của tôi. Ai thích làm gì thì làm. Tôi cũng không có bản quyền, không gởi quan cáo trạng các vị về tác quyền.

Chúng ta phải học, người thông minh phải biết những thứ này không là việc tốt, quyết không có chướng ngại, xả bỏ tất cả mới có thể được đại tự tại. Mấy ngày nay, một số đồng tu nói với tôi, họ nghe tôi giảng kinh thuyết pháp, đem nhà và gia nghiệp thảy đều buông bỏ để đến học Phật. Sự nghiệp vừa buông bỏ, không làm việc, không thu nhập, qua vài ngày đời sống trở thành vấn đề. Cả nhà kêu khổ, thân thích bạn bè xem thấy cho rằng người học Phật này bị ma ám, mê muội. Nghe xong, tôi thấy họ đã hiểu sai ý nghĩa lời tôi nói. Tôi không dạy như vậy. Kinh nói “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”, thực tế không dễ dàng. Ý nghĩa lời tôi nói bạn còn hiểu sai thì làm sao có thể hiểu được ý của Như Lai?

Trong kinh Phật dạy chúng ta buông bỏbuông bỏ phiền não, buông bỏ dục vọng. Không bảo bạn buông bỏ công việc. Kinh luận đại thừa tiểu thừa, không có bài kinh nào Phật bảo bạn buông bỏ công việc. Nếu Phật bảo buông bỏ hết công việc thì công tác giảng kinh nói pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni cũng buông bỏ. Chúng ta sẽ không có kinh nghe, thế gian không có Phật pháp. Việc không hề chướng ngại, trên kinh Hoa Nghiêm nói rất hay: “lý sự vô ngại, sự sự vô ngại”. Ngại là gì? Là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chính là nói phiền não, dục vọng. Cho nên, chướng ngại trên tâm lý phải buông bỏ. Trên sự không có chướng ngại. Không chỉ Phật không dạy buông bỏ công việc, mà Phật còn dạy bạn làm việc chăm chỉ nỗ lực hơn người. Bạn muốn làm tốt hơn người khác, phải trở thành tấm gương để người khác soi theo.

Sau cùng trong kinh Hoa Nghiêm nói đến năm mươi ba đồng tham, chẳng phải là thí dụ hay sao. Năm mươi ba vị đó không phải là Bồ tát mà là năm mươi ba vị Phật. Họ dùng thân đại sĩ để xuất hiện. Họ nội chứng, vẫn là thị hiện, không phải thật, đều là chư Phật Như Lai. Trên dấu vết có nam nữ già trẻ, các ngành nghề, nhưng từ một nghề nghiệp nào đó, họ làm ra tấm gương tốt nhất. Cho nên Bồ tát đạo tu ở đâu? Chính ngay cuộc sống thường ngày của mình, không hề rời khỏi đời sống. Nếu bạn nói, nhất định phải phát tâm, phải học Phật, phải tu hành chứng quả, phải xả bỏ việc nhà, thì nhất định phải xuất gia, nhưng xuất gia có thể thành Phật hay không? Xuất gia nếu không gặp duyên tốt, tạo tội nghiệp càng sâu, đọa A Tỳ địa ngục càng nhanh, càng thê thảm. Chúng ta ở năm mươi ba vị đồng tham xem thấy, năm mươi ba vị Phật chính ngay trong đời sống của họ, trong nghề nghiệp của họ, mỗi mỗi đều thành tựu. Chúng ta phải giác ngộ. Những người đó đoạn tham sân si trong cuộc sống, xả bỏ dục vọng, thành tựu vô lượng pháp môn, thành tựu vô thượng Phật đạo, đó gọi là học Phật. Tuyệt nhiên không xả bỏ đi sự nghiệp của mình.

Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện người xuất gia, một nghề nghiệp tu hành chứng quả có thể thành Phật. Cư sĩ Duy Ma cùng Thích Ca Mâu Ni Phật trong một thời đại, thị hiện tại gia thành Phật, có gia nghiệp, có vợ con, dù tại gia nhưng cũng thành tựu cứu cánh viên mãn quả Phật như nhau. Cho nên các vị phải biết, xuất gia là một hạnh trong ba trăm sáu mươi hạnh. Hạnh nghiệp này là giáo dục xã hội, một tính chất nghĩa vụ. Bạn có hứng thú đối với việc này thì có thể chọn lựa. Hạnh nghiệp này là hoàn toàn dốc hết nghĩa vụ, quyết không ham muốn báo đáp. Không nhận báo đáp, bạn mới thanh tịnh.

Nếu bạn tự làm rất nhiều việc từ thiện xã hội thì hà tất phải làm người xuất gia cho phiền. Bạn có tiền có thế lực thì cứ làm. Còn cúng dường pháp sưyêu cầu pháp sư làm từ thiện giúp, như thế chẳng phải phiền người khác hay sao. Thích Ca Mâu Ni Phật không bao giờ làm. Trong hàng đệ tử của Ngài có biết bao quốc vương đại thần, nhưng Ngài không bao giờ tiếp nhận cúng dường hay lời thỉnh mời làm giúp những việc từ thiện. Phật chỉ dạy cách làm và bạn phải tự làm. Phật không làm thay việc này cho bạn.

Hiện tại người xuất gia phá giới phạm quy củ cũng vì tiếp nhận cúng dường của người tại gia, làm việc cho người tại gia. Nếu thông minhtrí tuệ, chúng ta không làm việc ngốc này. Hãy để họ tự làm, chúng ta mới có thể viên mãn tròn đầy bổn phận của mình. Không ít người đi khắp nơi cúng dường tăng, trở thành một phong tục. Nếu bạn không tiếp nhận thì bị mắng và quy kết không từ bi, không chịu để người gieo chút phước điền. Việc này thật bất đắc dĩ cho nên không cách gì. Chẳng hạn ở HongKong, tôi không thể không tiếp nhận. Sau khi tiếp nhận, tôi liền đưa đồng tu mang về, thảy giao cho cư sĩ Lý Mộc Nguyên làm Phật sự. Ở Đài Loan cũng nhận ít cúng dường. Vừa đúng lúcpháp sư đến đại lục cứu tế. Tôi nghe nói đại lục nạn nước rất nghiêm trọng, nên thảy đều giao hết tiền cúng dường cho pháp sư đó. Tôi không hề nhìn qua bao nhiêu tiền bên trong, nhiều bao đỏ mang đến lại cho đi, rất tự tại.

Phải biết tham sân si mạn, năm dục sáu trần hại chúng ta đời đời kiếp kiếp không ngẩng đầu lên. Không phải chúng ta không có thiện căn, nếu khôngthiện căn, bạn không thể ngồi đây đến hai giờ đồng hồ. Ngồi được hai giờ đồng hồ, chứng tỏ bạn có thiện căn, Phật duyên của bạn rất sâu, quá khứ đời đời kiếp kiếp thân cận chư Phật Như Lai, chư đại Bồ tát, tổ sư đại đức, nhưng vì sao bạn không thể vãng sanh, vì sao vẫn đọa vào sáu cõi sanh tử luân hồi? Vì phiền não của bạn chưa đoạn, dục vọng chưa xả hết, bạn thường hay nghĩ đến việc này, càng nghĩ càng đáng sợ, càng nghĩ càng thấy nghiêm trọng. Trong đời này chúng ta gặp Phật pháp, được cơ duyên thù thắng, thuận lợi vãng sanh, nhưng còn phải xem bạn có chịu đem phiền não dục vọng hạ xuống mức thấp nhất hay không. Xả bỏ và hạ thấp thì ngay đời này liền thành tựu. Nếu đời này vẫn bị tập khí lôi kéo, vẫn không buông bỏ, hay nói cách khác, đời này cũng giống y đời trước, chỉ kết được thiện duyên với Phật A Di Đà thì không thể đi được. Bạn lại uổng qua một đời nữa, nghĩ xem có đáng tiếc không. Kinh văn mở ra câu thứ nhất liền nói đến phiền não dục vọng, thế mới biết tính nghiêm trọng của nó. Vô lượng kiếp đến nay chúng ta đã bị hại thê thảm, vậy mà vẫn chưa chịu giác ngộ hay sao?

“Tẩy trạc cấu uế”

Cấu” là phiền não chướng, “uế” là sở tri chướng, là vô minh, những thứ chúng ta phải kỳ rửa cho thật tinh sạch. Câu kinh này từ trên thí dụ mà nói, vậy phải dùng phương pháp gì để tẩy rửa? Lý luận trong kinh điển đại tiểu thừa cho chúng ta nhiều phương pháp phương tiện khéo léo tẩy rửa sở tri chướngphiền não chướng. Tịnh tông, Bồ tát Đại Thế Chí dạy chúng tagom nhiếp sáu căn, tịnh niệm tương tục”, đó là phương pháp tốt, nhưng làm thế nào để gom nhiếp sáu căn? “Nhiếp” là thâu nhiếp. Phật dạy như vậy, thánh nhân thế gian cũng dạy chúng ta như vậy. Các vị đọc Tứ Thư, Mạnh tử đã nói ra ý này, “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ”. “Cầu kỳ phóng tâm” chính là “gom nhiếp sáu căn”. Tâm phàm phu chúng ta tùy theo sáu căn mà chạy rong bên ngoài, phan duyên sáu trần, nhãn duyên sắc, tai duyên tiếng, tâm hướng ra ngoài. Những thánh hiền thế xuất thế gian dạy bảo chúng ta phải gom nhiếp tâm đó lại. Mắt không duyên sắc trần, tai không duyên thinh trần, đó chính là học vấn, là công phu.

Xã hội hiện đại rất phức tạp. Kinh Lăng Nghiêm nói “tà sư thuyết pháp như cát sông Hằng”, thật không quá đáng chút nào. Phàm hễ mê hoặc bạn thì đều là tà sư. Truyền hình đang dạy bạn, ca vũ đang dạy bạn, sáu căn của bạn tiếp xúc với cảnh giới đều đang dạy bạn tạo mười ác nghiệp, tăng thêm tham sân si mạn, mục đích kéo bạn vào A Tỳ địa ngục, không dễ gì thoát khỏi. Bồ tát Địa Tạng ở nơi đó khổ cực lắm mới kéo bạn từ địa ngục đi ra. Kéo ra chưa được mấy ngày, những ma vương bên ngoài thấy bạn lại tạo nhiều sự mê hoặc. Bạn vừa nắm lấy thì lập tức trở vào. Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện Kinh đã nói, Bồ tát Địa Tạng thấy bạn vừa ra khỏi, rồi đánh một vòng lại trở vào, “chúng sanh Diêm Phù Đề, cang cường nan hoá”. Do đó chúng ta phải ghi nhớ lời của Phật Bồ tát, không nên rơi vào thòng lọng yêu ma quỷ quái. Phải hiểu được gom nhiếp sáu căn.

Phàm hễ tà ác, tà thì không chánh, ác thì không thiện, nhất định phải biết nguyên lý. Người chân thật tu hành không nên xem truyền hình. Truyền hình thời đại hiện nay là dấu hiệu của ma vương. Bạn qua lại với nó thì phiền não sẽ to. Vô số chúng sanh trên thế giới này từ nhỏ đã kết giao mật thiết với nó, một ngày không rời khỏi. Chúng ta phải cảnh giác cao độ. Không chỉ đó là ma vương, tương lai e rằng càng hung hơn, tà ác hơn. Đường truyền internet không cách gì phòng bị. Nội dung trong đó quá tà ác. Internet là một công cụ rất tốt để ma vương lợi dụng. Chúng tađệ tử Phật, phải phát tâm dùng công cụ này tuyên dương chánh pháp. Trong số người thế gian, người có thiện căn vẫn rất nhiều, họ sẽ giác ngộ, quay đầu.

Lần trước tôi đến HongKong, lão pháp sư Giác Quang gọi điện cho tôi. Ông vừa từ Seattle Hoa Kỳ trở về. Ông ấy có hai đạo tràng ở Seattle, nên mỗi năm phải đi về hai lần, mỗi lần mười mấy ngày. Ông bảo, ở Seattle ngày ngày ông đều nghe tôi giảng kinh. Tôi lấy làm lạ, làm sao tôi có thể giảng kinh ở Seattle? Thì ra trên truyền hình. Mỗi ngày ở Hoa Kỳ có thời gian một giờ đồng hồ phát sóng băng đĩa giảng. Ông xem thấy rất hoan hỉ, gọi điện nói với tôi. Ông nói từ trước đó, trên truyền hình cũng có một số tà sư nói pháp, mê hoặc người. Sau khi phát tiết mục này của tôi, những tiết mục đó liền rất ít, người xem cũng giảm. Ông báo tin cho tôi, rồi mời tôi ăn cơm.

Cho nên, chúng ta phải cố gắng lợi dụng công cụ khoa học kỹ thuật. Ngạn ngữ thường nói: “không sợ không biết hàng, chỉ sợ hàng đụng hàng”. Chúng ta dùng hàng thật, hàng tốt để tạo sự so sánh. Một số người có thiện căn tự biết chọn lựa. Do đó chúng ta phải xem trọng khoa học kỹ thuật, phải khéo lợi dụng nó mà đem chánh pháp của Phật, pháp thuần thiện của Phật truyền bá khắp thế giới.

Mọi người đều biết kiếp nạn tai biến triền miên, vậy có thể hoá giải được không? Trên lý luận khẳng định có thể hoá giải. Kiếp nạn hình thành do tri kiến tà ác, hành vi tà ác, chúng sanh nghiệp lực trói buộc, ác nghiệp chiêu cảm. Hiện tại có rất nhiều người không tin điều này. Họ không tiếp nhận, nhưng những điều này đều là sự thật. Phật thường nói “mười pháp giới y chánh trang nghiêm, duy tâm sở hiện duy thức sở biến”, đó là nói rõ nguồn gốc của vũ trụ nhân sanh, do vậy mà đến. Lại nói với chúng tatất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, hữu tình có tưởng liền biến thành hữu tình thế gian, vô tình vô tưởng liền biến thành khí thế gian. Hữu tình thế gian cùng khí thế gian đồng một căn nguyên. Người học qua pháp tướng duy thức đều biết. Bốn phần của a lại da, hữu tình hữu tưởng kiến phần, vô tình vô tưởng tướng phần. Kiến phần tướng phần cùng đồng một tự chứng phần. Nếu chúng ta có thể đoạn tất cả tà ác, nỗ lực tu thiện thì nghiệp thiện thêm lớn, hoàn cảnh y báo liền chuyển, tai nạn tự nhiên cũng có thể tiêu trừ, hoặc chuyển biến, chân thật là “y báo tùy theo chánh báo chuyển”.

Tóm lại, người chân thật hiểu dụng công, biết dụng công thì không gì khác hơn “gom nhiếp sáu căn”. Người niệm Phật so với phương pháp Bồ tát Đại Thế Chí đã nói còn phải đơn giản hơn, có hiệu quả hơn. Dùng phương pháp một danh hiệu Phật gom nhiếp sáu căn, “nhất thanh Phật hiệu, nhất thanh tâm”, “nhất niệm tương ưng, nhất niệm Phật”. Ngay trong một niệm không có tà ác thì tương ưng; không có tà tư, không có ác niệm thì tương ưng. Niệm Phật vẫn khởi vọng tưởng, vẫn còn tham sân si mạn, vẫn có phải quấy nhân ngã thì không tương ưng. Nói chung, những tri kiến thế tục này thảy đều không còn, tâm địa thanh tịnh mới tương ưng.

“Hiển minh thanh bạch”

Thanh bạch” là thí dụ chân tâm bổn tánh, tự tánh. Loại bỏ hai chướng ngại, phiền não chướngsở tri chướng thì tự tánh thanh bạch liền hiển lộ. Ngày nay tự tánh thanh bạch của chúng ta bị hai loại chướng này chướng ngại nên không thể hiển lộ. Như Bồ tát Đại Thế Chí đã nói: “Bất dã phương tiện, tự đắc tâm khai”.

Hiển minh” chính là tự đắc tâm khai. Tông môn gọi là “minh tâm kiến tánh”. Bốn chúng đồng tu chúng ta ngay đời này phải lấy đây làm mục tiêu. Tất cả cái khác đều giả, cái này là thật, tịnh tông gọi là “Nhất tâm bất loạn”. Bạn niệm Phật đến nhất tâm thì thành tựu của bạn là chân thật.

Buổi tối hôm qua, một học sinh đến hỏi tôi, làm thế nào để học giảng kinh? Tôi hỏi anh ấy năm nay bao nhiêu tuổi? Anh trả lời hai mươi tám tuổi. Tôi bảo anh hãy chuyên giảng kinh Vô Lượng Thọ trong mười năm, đến ba mươi tám tuổi. Trong mười năm, không nên can dự đến các kinh điển khác, chỉ chuyên một môn. Khi một môn thâm nhập tâm của bạn liền định. Một bộ kinh được giảng trên dưới mười năm thì mỗi năm chí ít cũng phải giảng hai lần. Hy vọng trong mười năm, bộ kinh này được giảng từ đầu đến cuối ba mươi lần, thậm chí năm mươi lần càng tốt. Sau mười năm, chắc chắn bạn sẽ trở thành giảng sư hay nhất thế giới, là chuyên gia của kinh Vô Lượng Thọ. Bạn chính là Vô Lượng Thọ Phật sống, Vô Lượng Thọ Phật giảng kinh Vô Lượng Thọ. Bạn liền có thể hóa độ tất cả chúng sanh thế giới.

Còn nếu bạn muốn học cùng lúc hai ba bộ kinh thì sức mạnh của bạn sẽ bị phân tán, không thể thành tựu. Bạn có học mười bộ kinh thì bạn cũng chỉ là một nhà Phật học, không liên quan gì đến việc thoát sanh tử vượt ba cõi. Tương lai bạn chết như thế nào vẫn phải chết như thế đó, đáng luân hồi như thế nào vẫn phải luân hồi như thế đó. Bạn phải hiểu đạo lýchân tướng sự thật này.

Bạn cũng không nên học tôi. Hôm nay tôi giảng nơi đây, ngày mai tôi lại giảng Hoa Nghiêm, giảng cái này, cái kia. Nếu bạn học tôi thì thật đáng lo. Vì tôi bị ép không còn cách lựa chọn. Nếu có người giảng Hoa Nghiêm, tôi sẽ tuyệt đối không giảng Hoa Nghiêm nữa mà một đời chỉ chuyên giảng một bộ kinh. Nhưng sở dĩ tôi phải giảng nhiều như vậy vì không có người giảng. Tôi không còn cách nào nên mới làm vậy. Rất nhiều người nói, “Pháp sư à! Lưu lại bộ băng đĩa này đi, đây là một công trình thật to lớn”. Thế nhưng tôi hy sinh có mức độ khi một đời giảng nhiều bộ kinh. Hạ hạ phẩm vãng sanh là mức thấp nhất, tôi biết mình có thể vãng sanh ít nhất là bậc hạ hạ phẩm. Còn nếu hạ hạ phẩm vãng sanh bạn cũng không thể nắm chắc thì việc giảng nhiều bộ kinh nhất định không nên làm. Hãy nghe lời tôi khuyên, ngay trong một đời này chuyên giảng một bộ kinh, tương lai các vị vãng sanh sẽ là thượng thượng phẩm. Đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, phẩm vị của bạn sẽ cao hơn tôi nhiều.

Năm xưa Đại sư Trí Giả ở đời cũng đã hi sinh rất lớn. Khi ngài sắp vãng sanh cõi phàm thánh đồng cư, học trò hỏi phẩm vị vãng sanh của ngài. Ngài nói: “nếu tôi không độ chúng, phẩm vị rất cao. Nhưng vì độ chúng, phải lo việc trụ trì, cho nên chỉ vãng sanh ở phẩm vị thứ năm”. Công phu của phẩm vị thứ năm không cao, tương đương với ngũ đình tâm vị trong tiểu thừa. Thị hiện này xả mình vì người, đó là việc rất khó được. Thế nhưng chính ngài phải nắm chắc mức độ thấp nhất để vãng sanh. Đó là từ bi chịu hi sinh chính mình. Một khi chấp nhận hi sinh, phẩm vị cũng không gì đáng tiếc. Còn nếu chính mình không nắm chắc được phần vãng sanh thì vạn nhất không nên làm. Đó là việc chính mình nhất định phải biết, quyết không làm trung gian.

Bạn thông đạt các loại kinh luận, đều giảng được, tiếng tăm của bạn cao, vậy coi như xong. Tiếng tăm đó hại chết bạn. Bạn sẽ không bằng người chân thật cừ khôi, bậc đại thiện tri thức. Những người đó, bạn hỏi họ, thứ gì họ cũng không biết, chỉ biết một môn. Năm mươi ba tham trong Hoa Nghiêm chính là tấm gương như vậy. Khi Thiện Tài đến tham phỏng năm mươi ba vị thiện tri thức, họ ngay trong vô lượng pháp môn chỉ học một pháp môn, không học các pháp môn khác, chính mình khiêm tốn, tán thán người khác. Họ tự cho cái biết của mình rất có hạn, người khác biết nhiều hơn nên lại giới thiệu Thiện Tài Đồng Tử đến nơi khác tham phỏng. Chư Phật Bồ tát đều làm tấm gương tốt nhất cho chúng ta xem. Chúng ta phải giác ngộ.

Ngạn ngữ Trung Quốc nói: “Chỉ cần công phu sâu, lo gì sắt không mài thành kim”. Chỉ cần bạn hạ công phu, làm gì không thể thành tựu vô thượng bồ đề. Ngay một đời này, chúng ta đích thực có thể chứng đắc, chỉ cần bạn thật chịu làm, chân thật buông bỏ phiền não, xả bỏ dục vọng, một lòng một dạ chuyên môn công phu minh tâm kiến tánh. Phải biết sau khi ngộ, tất cả thông đạt vô ngại. Giáo học thời xưa không chỉ là Phật pháp mà còn có giáo học của nhà Nho. Lão sư rất xem trọng ngộ tánh của học trò. Thời kỳ kháng chiến, trường học chúng tôi ở Quế Châu, lão sư vẫn xem trọng ngộ tánh của học trò. Học trò nào ngộ tánh cao, thầy giáo đặc biệt quan tâm, chăm sóc. Họ không truyền bá tri thức mà dùng phương tiện khéo léo giúp bạn khai ngộ, đó mới là giáo dục chân thật. Còn trường học hiện tại hoàn toàn truyền thụ tri thức, không chú trọng ngộ tánh, sai lầm to lớn. Sau khi ngộ, bạn không chỉ thông đạt pháp xuất thế gian, mà pháp thế gian cũng thông đạt.

Có người hỏi những Bồ tát này cùng phàm phu chúng ta đồng một A Lại Da Thức không? Không sai, là như nhau. Họ lại hỏi, ngay trong giống nhau vì sao lại nói “khứ hậu lai tiên tác chủ công”? Trong giống có không giống. Thế Tônkinh Lăng Nghiêm đem tâm tánh thí dụ cho đại hải. A Lại Da Thức của mỗi chúng sanh thí dụ cho bọt nước. Mỗi người là một bọt nước, vậy những bọt nước trong biển lớn giống nhau hay khác nhau? Đều từ đại hải biến hiện ra. Khi bọt nước này của bạn trong bể thì không giống, bởi vì phạm vi của bạn rất hẹp. Bọt nước của bạn sau khi ra bể mới hoàn toàn giống nhau. Cho nên quả nhiên có thể chuyển thức thành trí. Trí tuệ khai thì tất cả chư Phật công đức trí tuệ đã tu vô lượng kiếp đều biến thành chính ta. Các ngài tu biến thành của ta, vì đồng một pháp thân, đồng một tự tánh, đồng một A Lại Da Thức. Tương tự, vô lượng kiếp đã tu của ta cũng biến thành của người khác. “Viên mãn Bồ Đề, quy vô sở đắc”, đến quả địa Như Lai Phật Phật như nhau, không hề khác.

Hiểu rõ đạo lý này mới biết khai ngộ rất đáng quý. Sau khi ngộ, tất cả thông đạt, thế xuất thế gian pháp cũng thông đạt. Từ xưa đến nay thế xuất thế gian pháp, bậc thiện tri thức chân thật thương yêu chúng sanh đều chủ trương dạy bảomột môn thâm nhập, huân tu lâu dài”, không hề dạy nhiều và tạp. Rất nhiều rất tạp chính là hại bạn, làm cho bạn hướng đến con đường danh lợi, không phải hướng đến học vấn chân thật. Học vấn chân thật không liên quan danh vọng lợi dưỡng. Có học vấn chân thật sẽ không còn truy cầu danh vọng lợi dưỡng. Bên cạnh đó, nếu có duyên có thể nhờ danh vọng lợi dưỡng giáo hoá chúng sanh, lợi ích chúng sanh, quyết không ham muốn danh vọng lợi dưỡng. Phải hiểu đạo lý này, phương châm tu học mới có thể nắm chắc thành tựu.

“ĐIỀU CHÚNG SANH, TUYÊN DIỆU LÝ, TRỮ CÔNG ĐỨC, THỊ PHƯỚC ĐIỀN, DĨ CHƯ PHÁP DƯỢC, CỨU LIỆU TAM KHỔ”

Đoạn kinh văn đại ýbi trí liệu khổ”. Kinh Phật nói tam giới đều khổ, đó là nói đến trời, nhân gian. Trong mấy năm gần đây, người hiện đại chúng ta cảm xúc rất sâu sắc cái khổ của nhân gian. Trên trời cũng vậy. Kinh Phật cho biếthai mươi tám tầng trời, cũng rất khổ. Khổ vô lượng vô biên có thể được phân làm ba loại lớn “khổ khổ, hoại khổ, hành khổ”.

Khổ khổ”, chữ khổ phía sau là danh từ, phía trước là động từ, ý nói quá nhiều quá rộng. Phật quy nạp thành tám loại, gọi là tám khổ, mục đích thuyết minh nói rõ khổ khổ, trong đó có sanh lão bệnh tử, cầu bất đắc, ái biệt ly, oán tắng hội, ngũ ấm xí thạnh. Tôi sẽ không nói tỉ mỉ vì mất nhiều thời gian. Ngoài tám khổ giao nhau, còn có hoại khổ, đối với tất cả sắc tướng luôn biến hoại. Khi nó tồn tại, chúng ta cảm thấy tốt đẹp, đến khi biến hoại liền cảm thấy rất khổ. Sau cùng là hành khổ. Thí dụ như người thế gian thường nói “không thể trẻ mãi”, đây thuộc về hành khổ. Sát na đang thay đổi, xê dịch đều thuộc về hành khổ.

Phật nói, trong dục giớiba loại khổ này, rất khó vượt qua. Trời sắc giới không có khổ khổ, vì khống chế được dục, nên gọi là “thiểu dục tri túc”. Họ có trí tuệ, sức định, xả bỏ được tham ái hưởng thọ trong năm dục sáu trần, do đó họ không có khổ khổ. Người trời sắc giớihoá sanh, cho nên họ cũng không có khổ sanh lão bệnh tử. Họ đều xả bỏ năm dụctài, sắc, danh, thực, thuỳ”. Trong khi đó, cõi dục giớithai sanh, noãn sanh, thấp sanh chiếm đại đa số.

Một điều khiến chúng ta khó tưởng tượng. Chúng ta có thể xả tài, xả sắc, con người vẫn chưa phải chết; danh có thể không cần, nhưng ăn thì không được. Có người nào chịu nổi không ăn, không ngủ? Thế nhưng, các vị phải biết, người trời sắc giới thiền định rất sâu, “thiền duyệt vi thực”. Cái ăn dùng để nuôi thân, nhưng nuôi thân không cần phảithức ăn, đó là thiền định. Thiền định cũng là trạng thái tỉnh táo, không hôn trầm. Họ ở trong định năm dục, nhằm chứng minh cho chúng ta họ đều có thể xả được. Hiểu rõ đạo lý này, chúng ta nên tận khả năng hạ thấp lòng tham sân si xuống, như thế mới tốt cho chính mình. Không chỉ giúp đỡ việc tu học, giúp bạn khai trí tuệ, mà còn giúp thân thể bạn khoẻ mạnh sống lâu, không dễ già yếu.

Định huệ khởi lên tác dụng nhất định. Người sức định càng sâu, họ biết thân thể này phiền phức, chính là sắc tướng. Người trời sắc giớithân thể, tuy không khổ khổ, nhưng họ có hoại khổ. Thân hình có ngày sẽ hoại đi. Hoàn cảnh lầu các cung điện cũng sẽ hủy diệt. Cho nên họ có hoại khổ. Hoại khổ bắt nguồn từ đâu? Từ thân. Vì có sắc tướng nên mới có hoại khổ. Người thông minh biết tiến thêm một bước, tức không cần đến thân. Sắc tướng cũng xả bỏ, tiến vào vô sắc giới. Vô sắc giới đương nhiên khônghoại khổkhổ khổ, nhưng họ có hành khổ. Hành khổ chính là cảnh giới tốt nhưng không thể vĩnh viễn giữ gìn. Đó là tầng cao nhất trong tầng trời, không gì cao hơn. Họ không giữ gìn được thì liền phải hướng xuống đọa lạc, đây gọi là hành khổ.

Phật nói tam giới thảy đều khổ. Kinh Pháp Hoa hình dung ba cõi như nhà lửa. Bên trong đã cháy thì không nơi nào an toàn. Chúng ta nhất định phải biết, trong sáu cõi chỉ có khổ, không có vui. Bạn nói vui nhưng cái vui đó là cái khổ tạm thời đình chỉ nên bạn cảm thấy vui. Kỳ thật đó là cái thấy sai lầm của bạn. Phật thí dụ, con người mỗi ngày không thể ít đi ba buổi cơm. Ăn no ba bữa liền cảm thấy an vui. Nếu một bữa không được ăn thì thấy rất khổ. Hai bữa không được ăn sẽ càng khổ hơn, có thể thấy khổ là thật. Cái thân này có gì tốt, có gì vui? Đã đến lúc phải trị. Không trị không được. Đây là chân tướng sự thật.

Cho nên tỉ mỉ mà nghĩ, lời Phật nói mỗi câu đều chân thật. Phật xuất hiệnthế gian nhằm giáo hoá chúng sanh. Ngài vì việc này mà đến. Tám tướng thành đạo, tướng thứ bảy là “chuyển pháp luân tướng” chính vì sự việc này. Đối tượng giáo dục là tất cả chúng sanh sáu cõi, mở rộng hơn nữa là chúng sanh chín pháp giới. Đoạn này nói lên nguyên tắc giáo học của ngài “điều chúng sanh, tuyên diệu lý”.

“Điều chúng sanh, tuyên diệu lý”

Chúng sanh” ở đây là tất cả chúng sanh hữu tình, thuộc về động vậtcảm tình. Then chốt là chữ “điều”. Chúng sanh thân tâm không thể điều hòa. Bốn đại không hoà, trên sinh lý bạn liền đau bệnh. Tâm lý không hòa, bạn liền ưu tư phiền não. Cho nên nguyên tắc giáo học của Phật giúp chúng sanh cách điều tâm, điều thân. Tiêu chuẩn của điều là pháp tắc tự nhiên. Nếu thuận theo pháp tắc tự nhiên, thân tâm liền khoẻ mạnh. Pháp tắc của tự nhiên trong kinh Phật gọi là pháp tánh, Phật tánh tương ưng với thể tánh, đó gọi là điều thuận. Trái với thể tánh thì tất cả chúng sanh mê mất đi tự tánh. Cái tâm này là tư tưởng kiến giải của bạn, hoàn toàn trái với pháp tắc của tự nhiên nên chiêu cảm đến tất cả khổ nạn và những việc không vừa ý.

Pháp tắc tự nhiên là gì? Kinh luận Phật nói rất nhiều, mọi người đều biết, thế nhưng thân tâm bạn vẫn cứ trái ngược với pháp tắc nên bạn không được thọ dụng của Phật pháp. Còn tương ưng với pháp tắc thì bạn liền được đại tự tại, liền có thọ dụng chân thật, hạnh phúc viên mãn. Pháp tắc này nói với chúng tatướng có thể không”. Nhà Phật nói “tướng có tánh không”. Tánh chính là thể. “” không phải thật có. Bát Nhã Tâm Kinh mọi người ngày ngày đều đọc, “” gọi là diệu hữu, “không” gọi là chân không. “Diệu hữu phi hữu, chân không bất không”, cho nên trước chữ “không” thêm một chữ “chân”. Chân không ý nói tâm tánh của chúng ta. Tâm tánh biến hiện ra tướng, những tướng này gọi là diệu hữu. Sum la vạn tượng, bao gồm chính thân thể của chúng ta, bao gồm tất cả vạn tượng; cái vạn tượng này không thật.

Kinh Kim Cang nói “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Hư vọng không thể nói không có tướng. Tướng là hư vọngtướng không thể tồn tại vĩnh hằng. Không chỉ tướng của mười pháp giới không thể tồn tại vĩnh hằng mà tướng của pháp giới nhất chân cũng không thể tồn tại. Thế nhưng chúng ta thấy những hiện tượng này vẫn tồn tại một khoảng thời gian, tướng tiếp nối tướng, như vậy mới hiểu rõ chân tướng sự thật. Nếu hiểu rõ chân tướng sự thật, chúng ta sẽ không phân biệt đối với tướng, sẽ không chấp trước, vì nó là giả, mộng huyễn bào ảnh. Còn nếu bạn phân biệt thì bạn vọng tưởng, nếu chấp trước thì phiền não. Vọng tưởng phiền não do tự làm tự chịu.

Kinh Hoa Nghiêm nói, tất cả hiện tượng tồn tại thời giankhoảng sát na”. Kinh Nhân Vương nói, một khảy móng tay sáu mươi sát na. Một sát na có chín trăm lần sanh diệt, thời gian rất ngắn. Cũng như phim ảnh, trong máy chiếu là phim gốc, một giây đầu ống kính đóng mở hai mươi bốn lần. Trong một giây chiếu ra hai mươi bốn tấm. Phim gốc đó liên tục tướng tiếp nối tướng, chúng ta xem thấy như thật. Phật dùng cách nói này trên kinh Nhân Vương, “cái khảy móng tay của người khỏe mạnh”. Thân thể của đại lực sĩ rất khỏe mạnh nên khảy rất nhanh, một giây có thể khảy bốn lần. Bốn khảy móng tay nhân sáu mươi sát na, lại nhân tiếp cho chín trăm lần sanh diệt. Vậy tổng cộng có đến hai trăm mười sáu ngàn lần sanh diệt. Trên phim ảnh, một giây có hai mươi bốn tấm phim gốc đã có thể lừa được bạn. Bạn liền cho đó là thật. Nhưng nếu một giây là hai trăm mười sáu ngàn tấm thì làm sao bạn biết nó là giả?

Kinh Nhân Vương phương tiện nói. Các vị tỉ mỉ tư duy mới hiểu được lời Phật, mới thể hội phần nào câu “tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như chớp”. “Hoa Nghiêm phẩm thập định” nói rõ ràng hơn, một sát na không chỉ chín trăm lần sanh diệt. Chúng ta đọc kinh Nhân Vương thấy rõ việc này. Phật Thích Ca Mâu Ni phương tiện nói, không phải nói chân thật. Nếu nói chân thật thì tốc độ còn nhanh hơn gấp nhiều lần. Phật nói rõ chân tướng sự thật của vũ trụ hiện tượng, sát na sanh diệt, Phật cũng đem hiện tượng này gọi là “bất sanh bất diệt”. Vì sao Phật nói tất cả sanh diệt của pháp tướngbất sanh bất diệt? Vì tốc độ sanh diệt của nó quá nhanh, sanh diệt gần như đồng thời, cho nên gọi bất sanh bất diệt. Đó là ý nghĩa Phật nói pháp.

Chúng tanguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”, nghĩ xem làm gì có pháp tướng tồn tại? Mười pháp giới y chánh trang nghiêm, bao gồm sáu cõi ba đường, căn bản không thể tồn tại, chân thậtmộng huyễn bào ảnh. Ấy thế mà tất cả chúng sanh mê ngay cảnh giới này, cho cảnh giới này là thật có. Từ đấy khởi lên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Thế là đem hiện tượng sát na sanh diệt chuyển biến. Cái tướng đó là sát na sanh diệt, sát na chuyển biến. Vậy dùng sức mạnh gì để chuyển biến hiện tượng này? Dùng ý niệm, chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Ý niệm của bạn thiện, chuyển biếncảnh giới thiện; ý niệm ác, chuyển biếncảnh giới ác.

Do đây có thể biết thiên đường là do ý niệm biến ra, địa ngục cũng là do ý niệm biến ra, hiểu rõ học vấn trong cái đạo lý này thật to lớn, quan trọng nhất là điều tâm. Thân không phải lo vì thân là tùy tâm, tùy ý niệm mà biến hiện. Chúng ta phải chú trọng điều năng biến. Năng biến tương ưng với pháp tắc tự nhiên. Còn sở biến không quan trọng, sở biến thuận lý thành chương liền biến thành thế giới Cực Lạc, thế giới Hoa Tạng, thành khu vườn tốt đẹp thế gian, người người sinh hoạt đều hạnh phúc tràn đầy. Làm được hay không tùy thuộc bạn hiểu đạo lý trong đó, hiểu được cảnh giới diễn biến như thế nào?

Cho nên khi Phật dạy chúng ta, thực tế ngài đem thế giới Hoa Tạng, thế giới Cực Lạc phổ cập đến tất cả thế gian, khiến tất cả thế gian đều biến thành thế giới Cực Lạc, thế giới Hoa Tạng. Cách biến thế nào? Trước hết phải điều tâm. Thế giới Tây Phương Cực Lạc tốt đẹp đến như vậy vì lòng người ở đó tốt, kinh nói “các bậc thượng nhân cùng ở một nơi”. Nếu thế gian này của chúng ta, mỗi người đều là thượng thiện thì hoàn cảnh y báo của chúng ta ngày nay nhất định giống thế giới Cực Lạc. Tương tự, vì sao thế giới Hoa Tạng tốt đẹp đến như vậy? Vì người trong thế giới Hoa Tạng, mỗi mỗi đã đoạn kiếnphiền não, trần sa phiền não; phá được mấy phẩm vô minh, cho nên thế giới đó tốt đẹp.

Còn thế giới ngày nay của chúng ta vì sao không tốt? Tất cả chúng sanh tư tưởng kiến giải, lời nói tạo tác hoàn toàn trái ngược pháp tắc tự nhiên. Trong lòng nghĩ ra liền trái với pháp tắc tự nhiên, nên gọi là tà tri tà kiến, tạo mười ác nghiệp. Kinh Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện đã nói, “chúng sanh Diêm Phù Đề khởi tâm động niệm đều là tội”. Tội nghiệp biến ra hoàn cảnh hiện tiền của chúng ta. Đặc biệt một hai năm gần đây, thiên tai nhân họa ở đâu cũng có. Một số đồng tu đến hỏi tôi, liệu có thể tránh khỏi hay không? Tôi nói không cách gì tránh khỏi.

Nếu các vị muốn di dân, tìm một khu vực nào trên thế giới không bị tai nạn, thì tôi cũng xin nói, không hề có. Nơi nào con người không có tham sân si thì nơi đó chính là đất phước. Vậy bạn tìm thử xem, có nơi nào mà con người không tham sân si? Có nơi nào mà con người không tạo ác nghiệp? Bạn tìm được nơi này thì tốt. Chúng ta đều biết trên địa cầu không hề có, nên không thể tìm ra. Nhưng thế giới Tây Phương Cực Lạc lại có. Vì vậy, người niệm Phật, người học Phật là người sáng suốt.

Họ không sợ tai nạn, họ có thể tránh khỏi tai nạn. Tránh khỏi không phải tránh thân thể này không bị nạn. Thân gặp nạn hay không cũng không hề gì, vì thân không thể thường trụ trước sanh lão bệnh tử, việc này chúng ta phải triệt để giác ngộ. Tai nạn đến, chúng ta thấy rất bình thường, không chút lạ kỳ. Nghiệp nhân quả báo ngõ ngách ngọn nguồn, rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo thì bạn còn gì mà khẩn trương. Cho nên ở cảnh giới này, đại nạn đến đầu cũng không khiếp sợ. Tâm định, tâm thanh tịnh thì bất luận tai nạn thế nào cũng có thể tiếp nhận. Thân thể bị hủy diệt trong tai nạn, nhưng tinh thần, Phật pháp gọi là “thần thức”, thế pháp gọi là “linh hồn” đi tìm một thân thể khác. Đó không phải là chết.

Thân thể chúng tasanh diệt. Trong sanh diệt vẫn có cái “ta” không sanh diệt. Nói cách khác, thân này của ta sanh diệt nhưng thân không phải là ta. Nếu bạn nhận biết thần thức linh hồn là ta, thân không phải là ta thì coi như bạn đã nâng cao cảnh giới của chính mình. Thân chỉ là sở hữu của ta, cũng giống như mặc quần áo. Quần áo cũ rách, bạn sẽ đổi một bộ mới. Thân này hoại thì ta bỏ nó đi, lại đổi một thân khác. Bạn chân thật có chút công phu, không cần rất cao, bạn liền sanh tử tự tại. Sanh tử tự tạixả thân thọ thân, giống như lột bỏ quần áo thay bộ quần áo khác. Người thế gian không biết sự việc này, thay quần áo nhưng lại cảm thấy khổ. Đặc biệt trẻ con, bảo nó đổi một bộ khác rất khó. Nó chạy đông chạy tây, không cam tâm, cảm thấy như cực hình. Còn người lớn thì không như vậy. Quần áo dơ phải giặt. Kiểu dáng không thích hợp thì đổi kiểu mới. Họ an vui xả thân thọ thân.

Học Phật công phu xem sanh tử như thay bộ quần áo, không chút đau khổ, khẩn trương, khiếp sợ. Người như vậy xả thân thọ thân, khi thọ thân khác nhất định tốt đẹp hơn nhiều so với thân thể cũ, đó là thiện báo. Nếu khi xả thân, cảm thấy hoang mang, khiếp sợ, thì bạn sẽ đổi một thân khác xấu đi, đó là thân súc sanh, thân ngạ quỷ, khó có thể quay lại, giống như bạn bị thay đổi quần áo rách nát, khó coi. Học Phật có thể được chút thọ dụng này. Đây là thọ dụng nhỏ trong Phật pháp, không phải thọ dụng lớn. Vì sao? Bạn nhận biết thần thức là “ta”, nhưng thần thức vẫn không phải là ta. Chân thật ta chính là pháp tánh, thiền tông gọi là “minh tâm kiến tánh”. Kiến tánh thấy được chân ngã, tông môn gọi là “mặt mũi trước khi cha mẹ sanh ra”. Bạn nhận định thần thức là ta, không nhận cái thân này là ta thì bạn có thể thoát khỏi sáu cõi luân hồi, nhưng không rời khỏi sáu cõi luân hồi. Bạn nhất định được hưởng phước trời, sanh lên trên cõi trời. Cao minh hơn thì siêu việt sáu cõi, nâng cao lên pháp giới của thanh văn, duyên giác, Bồ tát. Trong mười pháp giới, pháp giới bốn thánh là không gian sinh hoạt của bạn, thù thắng hơn nhiều so với sáu cõi.

Nếu bạn biết thần thức vẫn không phải là ta, vẫn là giả, tự tánh mới là ta, vậy thì công đức của bạn liền viên mãn. Bạn liền siêu việt mười pháp giới, đi đến thế giới Hoa Tạng, thân cận Tỳ Lô Giá Na Phật, làm bạn với bốn mươi mốt vị pháp thân đại sĩ; hoặc vãng sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, vĩnh viễn siêu việt mười pháp giới. Đó là chân tướng sự thật. Phật xuất hiệnthế gian muốn nói cho chúng ta nghe sự việc này, chân thật có thể “điều chúng sanh”. Cho nên chúng ta học Phật, hiện tại quan trọng nhất phải tu “tâm thanh tịnh”.

Đề kinh của kinh Vô Lượng Thọ đưa ra nguyên tắc tu học: thanh tịnh, bình đẳng, giác. Ba nguyên tắc này nhắc chúng ta mọi nơi mọi lúc đối nhân xử thế tiếp vật, phải tu tâm thanh tịnh. Tất cả mọi người không nhiễm ô tâm tánh. Nếu trong đối xử mọi người, thuận với chính mình thì khởi ý niệm thương yêu, không thuận với chính mình thì sanh sân hận, đố kỵ, như vậy tâm của bạn bị ô nhiễm, không thanh tịnh. Cho nên tu hành là tu ở ngay đây, khi tất cả cảnh giới hiện tiền phải rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo, không bị cảnh giới bên ngoài ô nhiễm, bạn mới có được công phu chân thật. Hay nói cách khác, cảnh giới trước mắt rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo, đó là huệ. Trong lòng như như bất động, không phân biệt, không chấp trước, không khởi tâm không động niệm, đó là công phu.

Chúng ta tu hành phải tu trong hoàn cảnh nhân sự, trong hoàn cảnh vật chất. Mỗi ngày sáu căn tiếp xúc tất cả người, vật, việc, ý niệm vừa khởi lên, cho dù niệm thiện hay ác đều là ô nhiễm. Ác niệmô nhiễm, thiện niệm cũng là ô nhiễm, nên khi ý niệm vừa khởi lên, câu A Di Đà Phật làm cho ý niệm này lắng xuống. Đó là phương pháp của Tịnh tông chúng ta dùng. Một câu Phật hiệu làm cho ý niệm lắng xuống, hoá giải hết ý niệm, tất cả vọng niệm thảy đều qui về câu A Di Đà Phật, đức hiệu trong tự tánh của chúng ta. A Di Đà Phật chính là chân như bổn tánh của chúng ta, đó là một câu Phạn ngữ, dịch sang ý nghĩa Trung Quốc là “Vô lượng giác”. Tất cả đều quy về vô lượng giác. Danh hiệu đạo sư của thế giới Tây Phương Cực LạcA Di Đà Phật, cho nên kinh Phật thường nói “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ”, đó là từ trên tâm tánh mà nói.

Bạn phải biết niệm câu Phật hiệu này, đem tất cả ý niệm của bạn chuyển biến thành A Di Đà Phật. Trong tâm bạn, ngoài câu A Di Đà Phật, không có bất cứ tạp niệm nào. Có như thế tâm thanh tịnh của bạn mới hiện tiền, kinh Di Đà nói “Nhất tâm bất loạn”. “Niệm Phật tam muội”, “tam muội” là tiếng Phạn, ý nghĩa là “chánh thọ”, hưởng thụ bình thường. Ngày nay chúng ta hưởng thụ không bình thường. Còn hưởng thụ bình thườngvô niệm, “niệm mà không niệm, không niệm mà niệm”, đó là hưởng thụ bình thường.

Cho nên tông chỉ giáo hoá chúng sanh của Phật, mục đích chính nhằm “điều chúng sanh tuyên diệu lý”. Diệu lýchân tướng sự thật, cũng là “thật tướng các pháp”, chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Phật vì chúng ta nói rõ sự việc này để chúng ta hiểu rõ. Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta phải chính mình khế nhập cảnh giới này, tự lợi công đức. Tuy nhiên, thế gian vẫn còn rất nhiều chúng sanh chưa giác ngộ, chúng ta không thể không quan tâm, Phật pháp gọi là “tự cho mình cao”. Phật không tán thán những người như vậy. Bạn tự độ, còn phải giúp đỡ người khác, đó là Bồ tát.

“Trữ công đức, thị phước điền”

Muốn hoá tha cần phải tự độ. Đối với chân tướng sự thật, bạn không thấu triệt, không hiểu rõ; tà kiến, phiền não, tập khí của chính mình chưa đoạn dứt thì làm sao có thể giúp người khác. Trên thực tế, chúng ta cũng từng thấy việc mượn danh để tư lợi, giả mượn Phật pháp tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp, thỏa mãn dục vọng của riêng mình. Họ có thể nói khéo léo, giảng kinh có đầu có đuôi, cũng xây dựng đạo tràng trang nghiêm, cũng có không ít đồ chúng tu hành theo, thế nhưng những gì họ làm hoàn toàn trái ngược Phật pháp, vẫn cứ danh vọng lợi dưỡng, vẫn phải quấy nhân ngã, vẫn mỗi niệm xem nặng được mất.

Vì sao có lỗi lầm này? Vì họ không làm được hai câu trên, cho nên công đức liền biến thành phước đức, thậm chí công đức phước đức còn biến thành tội lỗi. Họ khuyên bảo mọi người tu phước, cùng xả tài tu phước. Khi mọi người xả tài, còn họ thì đựng đầy trong túi, phục vụ chính mình. Người xưa không như vậy. Người xưa hiểu xây dựng đạo tràng trang nghiêm, không phải chính mình hưởng thụ. Các vị tỉ mỉ quan sát những tòng lâm được xây dựng vào thời xưa, phòng ốc của trụ trìchấp sự rất thô sơ. Do đây có thể biết đại chúng cúng dường để tu phước, nhưng chính họ không hưởng. Nói cách khác, ăn mặc ngủ nghỉ của họ không hề thay đổi. Đó là rõ lý, không tạo tội nghiệp.

Hiện tại khi mọi người quyên mộ nhiều tiền, xây dựng đạo tràng lớn, trước tiên thường bố trí rất đẹp hoàn cảnh cư trú của chính mình, như vậy là tạo tội nghiệp. Xây dựng đạo tràng để có nơi làm đạo, nơi cúng cho chúng, không phải cúng dường chính mình. Nhà Phật từng nói “một hạt gạo của thí chủ nặng như núi Tu Di. Đời nay không liễu đạo, mang lông đội sừng để trả”. Lời nói này là thật, không phải giả. Bạn làm gì có phước báu lớn đến vậy, có thể hưởng thọ mười phương chúng sanh cúng dường. Chỉ có Phật và đại Bồ tát mới có phước báu này. Người mê hoặc điên đảo, hưởng phước báu không được vài năm, khi chết đều mơ mơ hồ hồ mà chết, chết rồi đi đâu? Tương lai vẫn không tránh khỏi phải trả nợ.

Cho nên Phật dạy chúng tatrữ công đức”, không phải phước đức. Trong công đứcphước đức, nhưng trong phước đức chưa chắc có công đức. Công đức do tu công mà có. Thí dụ chúng ta trì giới có công, bạn liền được định, định chính là đức. Tu định có công, trí tuệ khai, khai huệ là đức. Do đây mà biết, công là tu nhân, đức là quả báo. Tu nhân được quả là đạo lý nhất định. Chúng ta phải trữ công đức, tích công bồi đức.

Làm thế nào để giữ được công đức? Chữ “trữ” này rất quan trọng. Trữ là tồn trữ, lưu kho, công đức của bạn mới có thể tích lũy. Nhà Phật nói: “Lửa thiêu rừng công đức”. Công đức rất khó tồn trữ, chỉ một đám lửa thì cháy sạch, đó là lửa sân hận. Vừa khởi tức giận, công đức đều hết. Bạn phải biết, cả đời này tu hành trữ được bao nhiêu công đức. Sau đó bạn nghĩ lại xem mình không khởi tức giận bắt đầu từ lúc nào. Nếu sáng sớm nay khởi lên một cơn giận chỉ có mấy giờ đồng hồ, công đức của đời quá khứ và đời này đã tu thảy đều cháy sạch, không còn gì cả.

Người hiện tại nói đến công đức, thực ra đều hữu danh vô thực. Có cái tên của công đức, tu tên của công đức nhưng không tu công đức thật. Khi trong lòng không vui thì công đức hết. Phải biết thế gian yêu ma quỷ quái rất nhiều. Chúng chỉ sợ bạn tích công bồi đức nên thị hiện vô số cảnh giới, vô số nhân duyên nhằm phá hoại công đức của bạn. Thế nhưng bản thân họ không có năng lực phá hoại công đức của bạn, thậm chí bất cứ người nào cũng đều không cách gì phá hoại công đức của bạn được, chỉ có chính mình phá hoại chính mình. Họ thúc đẩy bạn, khiến bạn khởi tức giận, khởi tâm sân hận. Nếu bạn nghe lời, quả nhiên khởi tức giận, khởi tâm sân hận thì coi như bạn đem công đức của mình thiêu hết sạch. Ma ở nơi đó liền vỗ tay vui mừng.

Chúng ta hiểu rõ đạo lý thì nhất định phải đề cao cảnh giác. Tất cả thuận cảnh không sanh tâm hoan hỉ, nghịch cảnh không khởi tâm sân hận thì công đức của bạn mới có thể giữ được. Phía trước hàng ma, Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện cho chúng ta xem, “định huệ lực, hàng phục ma oán”. Nếu bạn không có định, không có huệ, thì công đức của bạn không thể giữ được. Ở trong cảnh giới thường hay khởi tâm động niệm, tâm tùy theo cảnh giới bên ngoài xoay chuyển, đó là tâm luân hồi tạo nghiệp luân hồi, tương lai chịu báo luân hồi. Cho nên chúng ta trong cuộc sống thường ngày phải rèn luyện. Rèn luyện chính là tu hành.

Ngày trước sáu căn chúng ta tiếp xúc với cảnh giới sáu trần dễ bị cảnh giới bên ngoài xoay chuyển. Xem thấy ưa thích, chúng ta khởi lên tâm hoan hỉ, xem thấy không ưa thích chúng ta khởi tâm ghét bỏ, vậy là sai, phải tu sửa lại. Tu sửa thế nào? Thuận cảnh không sanh tâm hoan hỉ, nghịch cảnh không sanh tâm áo não, đó gọi là tu hành. Tu hành không phải mỗi ngày tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật, tất cả chỉ là hình thức. Tu hành phải chân thật hữu dụng, phải dùng được ngay trong đời sống, đối diện với tất cả mọi người, mọi vật, mọi việc thật khởi lên tác dụng, không còn bị cảnh giới này xoay chuyển, mới gọi là có công phu. Bạn ở niệm Phật đường niệm Phật mỗi ngày mười vạn danh hiệu Phật, khi đối diện với cảnh giới, tâm còn bị cảnh giới bên ngoài xoay chuyển, vậy thì như người xưa nói: “đau mồm rát họng chỉ uổng công”, bạn không có công phu, hoặc công phu của bạn là giả, không phải thật.

Công phu phải trải qua sự khảo nghiệm, cùng ở với mọi người, cùng giao lưu với chúng sanh, cũng phải có biểu lộ. Nếu biểu lộ trên mặt giống tượng thần điêu khắc thì có thể hù chết người trong xã hội. Giao lưu với tất cả chúng sanh, tuy biểu hiện hỉ, nộ, ai, lạc nhưng phải là biểu diễn, không phải thật. Bên trong thanh tịnh vô nhiễm, như Vĩnh Gia từng nói: “phân biệt diệc phi ý”. Ứng dụng ngay trong cuộc sống thường ngày phải hoạt bát, hiển thị Phật pháp đáng quý, viên dung, thọ dụng chân thật, từng li từng tí không ô nhiễm, có định huệ. Đây gọi là công phu, bạn chân thật là trữ được công đức.

Thị phước điền”. Bạn còn phải tu phước. Tu phước quyết không phải vì chính mình mà vì chúng sanh. Không có phước báu làm sao độ chúng sanh. Cho nên thành Phật, Phật gọi là “nhị túc tôn”. Túc là đầy đủ, viên mãn. Nhị là hai loại, trí tuệ viên mãnphước đức viên mãn.

Phật biểu thị phước đức viên mãn. Có phước lớn mới có thể cho tất cả chúng sanh hưởng phước. Ngày nay chúng ta ngồi ở đạo tràng này hai giờ đồng hồ là hưởng phước báu của chư Phật. Mười phương chúng sanh xả tài, xả lao lực để được phước báu này cho chúng ta cùng hưởng. Chúng ta cũng phải học tập, có phước nhất định phải cho mọi người cùng hưởng, không nên hưởng riêng mình. Hưởng riêng là tạo nghiệp, còn cho mọi người hưởng gọi là tu phước.

Thị” chỉ ra những gì là phước điền. Có rất nhiều phước điền. Nói cách khác, cơ duyên tu phước quá rộng. Nhà Phật phước điền vô lượng, quy nạp thành ba loại lớn.

Loại thứ nhất gọi là “Bi điền”, từ bi, lân mẫn. Tất cả chúng sanh trong mười pháp giới đều bần cùng khổ nạn, không phải chỉ người không có cơm ăn áo mặc, mà cả những người có phước báu, ở nơi phòng ốc rất tốt, đời sống dư giả. Loại người này không nghèo cùng nhưng cũng chẳng khác người không có cơm ăn áo mặc. Vậy họ nghèo ở chỗ nào? Nghèo cùng ở trí tuệ. Đời sống vật chất của họ có thể trải qua nhưng đời sống tinh thần rất khổ. Cho nên nghèo cùng có loại nghèo về vật chất và nghèo về tinh thần, nghèo về đạo nghiệp, hay nghèo trí tuệ. Phạm vi nghèo cũng quá rộng lớn. Chúng ta chỉ mới so sánh năng lực kỹ thuật với người khác rồi cho rằng nghèo cùng hay lạc hậu nhưng không biết phạm vi sâu rộng vô hạn của nghèo cùng. Bồ tát thấy điều đó. Các ngài đại từ đại bi giúp đỡ chúng ta trồng phước. Phương pháp trồng phước điền cũng rất nhiều. Bạn phải có trí tuệ, mỗi giờ đều là giờ để tu phước, nơi nơi đều là chỗ để tu phước. Hiện tại người thế gian nghèo cùng, việc này người căn tánh trung hạ đều có thể quan sát rõ ràng. Chính mình phải biết làm thế nào cứu giúp chúng sanh khổ nạn nghèo cùng của thế giới.

Loại thứ hai gọi là “Ân điền”, báo ân. Ai có ân với chúng ta? Trước tiêncha mẹ, nhất định phải báo đáp. Báo đáp cha mẹ là trồng phước điền. Kế đến là thầy giáo. Sinh mạng của chúng ta được nhờ ở cha mẹ, còn trí tuệ của chúng ta, nhà Phật nói “pháp thân huệ mạng” là nhờ thầy giáo. Ân đức của thầy giáo cùng cha mẹ không hề khác. Trong cổ lễ Trung Quốc nói rất nhiều lý do vì sao thời hiện đại không có hiếu đạo. Cho nên sư đạo cũng không có. Sư đạo được xây dựng trên nền tảng của hiếu đạo. Phật phápsư đạo, chúng ta gọi Thích Ca Mâu Ni Phật là “Bổn sư”, thầy giáo sáng lập đầu tiên. Giáo dục Phật Đà từ nơi ngài sáng lập, nên chúng ta gọi ngài là thầy giáo căn bản, người sáng lập đầu tiên. Mỗi niệm chúng ta đều không quên ngài. Trên giảng đường, chúng ta cúng dường tượng Phật, cúng dường hình tượng thầy giáo, ý nghĩa này chính là báo ân, không quên nguồn gốc. Chúng ta nơi đây làm công tác giảng giải, cùng với đồng tu học tập kinh điển, cũng giống như ở trước mặt Phật vậy. Phật Bồ tát chứng minh cho chúng ta. Đó là báo ân, trồng phước điền.

Ngoài thầy giáo và cha mẹ, thì chư Phật Bồ tát, tổ sư đại đức, tất cả thiện tri thức đều là ân điền. Mở rộng hơn, quốc giaân đức bảo hộ hoàn cảnh đời sống của chúng ta được an ninh. Tất cả chúng sanhân đức hỗ trợ hợp tác cúng dường đời sống thường ngày cho chúng ta, đây chính là kệ hồi hướngchúng ta vẫn đọc: “trên đền bốn ân nặng”. Tất cả chúng sanh đều có ân đức với chúng ta, đó là ân điền.

Loại thứ ba là “Đức điền”. Chỉ riêng nêu ra Tam Bảo thì Phật Pháp Tăng không chỉ có ân đức với chúng ta, mà các ngài còn là ruộng công đức, nên gọi là “đức điền”. Đó là chuyên chỉ Tam Bảo. Tam Bảođại trí tuệ, đại đức, đại năng, giáo hoá chúng sanh. Muốn trồng phước điền, chúng ta phải đến những nơi này. Dù năng lực chúng ta không đạt đến nhưng không thể không có tâm. “Tâm thừa mà sức thiếu”, tâm không khởi vọng tưởng khống, mà phải chân thật.

Hiện nay báo chí đăng tin, nạn nước rất nghiêm trọng. Năm xưa mỗi lần nạn nước, chúng ta luôn tận tâm tận lực quyên tiền giúp đỡ cư dân khu vực tai nạn. Năm nay khu vực tai nạn mở rộng, đồng thời lại bị ảnh hưởng kinh tế, khiến chúng ta không biết làm thế nào. Có phương pháp gì hoá giải tai nạn không? Có. Trị tận gốc chính là giáo hoá chúng sanh diệt trừ tham sân si; tu giới định huệ. Việc này có lợi ích gì với thực tế? Người thế gian thường không tường tận. Rất nhiều tai biến có quan hệ mật thiết với lòng người. Kinh Phật thường hay nói: “y báo tuỳ theo chánh báo chuyển”. Vì sao chúng ta không nghe nói thế giới Tây Phương Cực Lạc có nạn lụt, hay thế giới Hoa Tạng có động đất? Nơi đó không có vì nơi đó không có nhân, thì họ làm gì bị những thứ này.

Nước là từ lòng tham biến hiện ra, lòng tham con người ngày càng lớn thì nước sẽ càng nhiều. Lửa từ sân hận, địa chấn từ bất bình của lòng người. Chúng ta nói những lời này, người thông thường sẽ cho rằng không có chứng cứ khoa học nên không thể tin tưởng, không thể tiếp nhận. Khoa học thực tế rất non nớt nên vẫn chưa đạt cảnh giới này. Đến khi đạt được cảnh giới này, chúng ta đã phải chịu khổ nạn vô cùng rồi, chờ họ thừa nhận có ích gì. Cho nên diệt trừ tham sân si liền có thể tự nhiên tiêu trừ tai ách thế gian. Hiện tại chúng ta thường du lịch nước ngoài, mỗi quốc gia khu vực, lòng người tham sân si mỗi năm một tăng, thật đáng sợ. Tôi không hề nghe nói nơi nào đó, ý niệm tham sân si đã bình hoà, đã giảm; ngược lại, mỗi ngày đang gia tăng tốc độ.

Lòng tham mang đến nạn nước, sân hận mang đến nạn lửa, ngu si mang đến gió bão, bất bình mang đến động đất; người hiện tại đều làm ra. Mỗi năm mỗi tăng, lần sau luôn nghiêm trọng hơn lần trước, “có nhân ắt có quả”. Người hiện tại thường vẫn không tin tưởng.

Phật pháp còn nói: “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, không phải không có phương pháp trị phần nổi. Tài nguyên sức người của Trung Quốc đứng đầu thế giới, sức lao động nhiều đến vậy nhưng không hề được vận dụng tốt, để những sức lực này lãng phí, thật đáng tiếc. Cho nên ở công tác trị phần nổi, mỗi năm chúng ta có nạn nước, thì phải học Đại Vũ trị thuỷ, hiểu rõ địa hình, rồi dẫn đạo dòng nước từ phương hướng nào đó chảy về biển cả. Công cụ khoa học hiện đại tiến bộ hơn rất nhiều so với ngày trước, chúng ta có thể khai mương dẫn nước, mở rộng ao hồ.

Lịch sử ghi chép, động đình từ trước là 800 dặm, còn hiện tại chưa đến 300 dặm. Bạn phải biết hồ lớn khi nước lụt đến trở thành hồ chứa nước. Cho nên dọc theo sông dài hồ lớn, nhất định có phải nhiều hồ bạc của thiên nhiên. Chúng ta phải giữ gìn, phải dùng máy móc nạo vét sâu hơn và rộng hơn để sức chứa của nó nhiều hơn. Đồng thời bên cạnh khu vực sông, có thể dùng nhân công giữ đê, giảm thiểu nạn nước. Công trình thuỷ lợi vô cùng quan trọng, là kiến thiết cơ bản của quốc gia. Tương tự, đường giao thông, đường sắt, đường quốc lộ đều là kiến thiết cơ bản.

Vì sao Hoa Kỳ duy trì cường thịnh đến như vậy? Vì họ xây dựng cơ bản quá tốt. Thế nhưng công trình thủy lợi Hoa Kỳ vẫn có chỗ chưa đủ. Bình thường khi khô hạn, tưới tiêu ruộng vườn, không chướng ngại nhà nông thu hoạch nông sản. Khi nước nhiều thì chứa nước, không đến nỗi tạo thành nạn lụt. Ngoài công trình cơ bản hiện tại, còn thêm công trình phát điện. Trên thế giới có rất nhiều nơi lợi dụng thuỷ lợi để phát điện. Trung Quốc có sông dài hồ lớn, cũng phải từ bề nổi mà làm. Khoảng sau năm đến mười năm, Trung Quốc vĩnh viễn sẽ không có nạn lụt, đó là đại công đức, đại bố thí. Nền tảng này xây dựng kiên cố thì toàn quốc đều phát triển. Không chỉ ở khu vực Duyên Hải mà ngay đến đất liền thảy đều phát triển. Do đây có thể biết, việc ở người làm. Chúng ta phải nghĩ vì chúng sanh tạo phước.

Lại nói đến hiện tại trước mắt, đại chúng hiện tiền chúng ta đối với bốn câu kinh này, nên làm thế nào để tu, làm thế nào thực tiễn ngay trong đời sống hiện tiền? Cư Sĩ Lâm là một đạo tràng trang nghiêm đúng pháp, mọi người công nhận, không phải cá nhân tôi tuỳ tiện nói. Chúng ta phát tâm đến đây nghe kinh, niệm Phật, chính là thực tiễn bốn câu kinh văn này.

Nếu bạn muốn hỏi, chúng ta đến đây nghe kinh hai giờ đồng hồ, niệm Phật mấy giờ đồng hồ, với “điều chúng sanh, tuyên diệu lý” có liên quan gì? Giảng đường của Cư Sĩ Lâm mỗi ngày giảng kinh hai giờ. Chúng ta phát tâm để giờ giảng kinh mãi mãi không gián đoạn, đó là tuyên diệu lý. Đến nghe kinh là làm chúng ảnh hưởng cho mọi người, khiến người sơ học Phật thông thường dần dần nghe được, dần dần thấy học Phật có chỗ tốt đến như vậy, lợi ích nhiều như vậy. Còn nếu các vị cảm thấy Phật pháp rất hay, ở trong nhà tu cũng được, không cần phải đến thì nơi giảng kinh này liền trống vắng thưa thớt. Những người sơ học vừa nhìn thấy bèn chán nản, tín tâm sẽ không có. Họ nghĩ vị pháp sư này giảng không hay nên sẽ không đến.

Người đến nghe kinh là Bồ tát, là chúng ảnh hưởng, bất tri bất giác, ảnh hưởng đông đảo quần chúng trong xã hội, đó là trồng phước. Bạn nghe kinh ở nhà rất thuận tiện nhờ đường truyền internet liên thông. Thế nhưng, nghe kinh trong nhà chỉ có tự lợi, không thể lợi tha. Bạn không thể tạo ra sức ảnh hưởng. Còn đến nơi đây nghe kinh chính là lợi được hai bên. Chúng ta phải trồng phước điền, phải làm chúng ảnh hưởng. Tương tự, bạn ở nhà niệm Phật cũng tốt, nhưng vì sao phải đến nơi đây niệm? Vì để trang nghiêm đạo tràng, cũng là làm chúng ảnh hưởng. Cho nên trong đạo tràng, niệm Phật đường đều có Bồ tát đang niệm, Phật đang niệm, thiên long quỷ thần đang ở niệm Phật đường niệm Phật rất nhiều. Như vậy là tu công đức, phước đức, không nhất thiết phải tốn tiền, chỉ cần có thời gian. Thậm chí bạn đến đây ăn một bữa cơm cũng là trồng phước. Đạo tràng tuyên dương Phật pháp, ăn cơm cũng tuyên dương.

Cư Sĩ Lâm hiện nay là thế giới đệ nhất gia, mỗi ngày cúng dường ba bữa cơm, không cần tốn tiền. Tương lai còn có thôn Di Đà, đến nơi đây ở cũng không cần tốn tiền. Chỉ cần bạn chịu thành thật niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nơi đây là đạo tràng thành tựu cho người vãng sanh bất thoái thành Phật. Chúng ta ở đây tu phước đặc biệt dễ dàng, không cần bỏ tiền nhiều, một đồng hai đồng đềucông đức hy hữu. Nhiều người đang ở đây thật tu thật làm, cho nên phước điền này là phước điền chân thật, công đức nơi đây cũng là công đức chân thật.

(Còn tiếp ...)

KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC

Pháp sư: HT. TỊNH KHÔNG

Biên dịch: Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: PT. Giác Minh Duyên

 

Tạo bài viết
14/06/2010(Xem: 40770)
Cứ mỗi mùa Phật Đản về, là hoa đăng trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè lung linh sắc màu huyền ảo..
Đức Đạt Lai Lạt Ma hội thoại với dân Việt Nam tại Hà Nội, Sài Gòn và Hải Phòng cũng như một nhóm người Việt tại nơi cư trú của ngài ở thị trấn Dharamsala, Ấn Độ