Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 46)

15/06/201312:00 SA(Xem: 9229)
Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 46)

KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 46)


Pháp Sư Tịnh Không

 

ĐẮC PHẬT BIỆN TÀI, TRỤ PHỔ HIỀN HẠNH, THIỆN NĂNG PHÂN BIỆT, CHÚNG SANH NGỮ NGÔN. KHAI HÓA HIỂN THỊ CHÂN THẬT CHI TẾ; SIÊU QUÁ THẾ GIAN CHƯ SỞ HỮU PHÁP”.

“Đắc Phật biện tài”

Đề mục nhỏ ý nói “diệu hạnh hiển thật”. “Hạnh” là hành vi đời sống của các Ngài, “hiển” là hiển thị tác dụng chân thật. “Đắc Phật biện tài”, biện tài của Phật vô ngại, đạt đến cứu cánh viên mãn. Phật kinh giải thích biện tài có bốn loại:

Thứ nhất, “nghĩa”

Nghĩa là lý luận, Phật thấu triệt lý luận của tất cả pháp. Người thế gian tán thán thượng đế toàn tri toàn năng, nhưng thực tế biện tài của Phật mới thật toàn tri toàn năng. Biện tài của Phật chính là biện tài của chính chúng ta. Chúng ta vì còn chướng ngại khiến tài năng không thể xuất hiện, nên mới gọi là phàm phu. Nếu trừ bỏ chướng ngại thì năng lực của chúng ta hiện tiền, đó gọi là Phật. Cho nên nói “chúng sanh” là nói chính mình, nói “chư Phật” cũng nói chính mình. Chính mình mê thì gọi là chúng sanh, khi giác ngộ thì thành Phật. Phải biết quan hệ của Phật và chúng ta là một không phải hai. Từng câu từng chữ trên kinh đều là bản năng của chúng ta, trí tuệ tự tánh vốn đủ. Chúng ta sau khi đọc kinh phải làm thế nào hồi phục lại bản năng của mình. Trên lý luận thông đạt sẽ không còn chướng ngại.

Thứ hai, “Pháp”

Pháp là phương pháp. Tất cả quá trình diễn biến của các pháp đều ở trong pháp. Dùng lời nhà Phật mà nói thì đó chính là biến thiên nhân quả, thuộc về pháp. Trong lúc giảng giải, tôi từng nói với các vị: “Vạn pháp giai không, nhân quả bất không”. Nhân quả vì sao bất không? Chuyển biến của nhân quả bất không, tương tục bất không. Chuyển biến cùng tiếp nối đều là pháp. Phật thông đạt không hề có chướng ngại đối với những thứ này.

Thứ ba, “Từ” vô ngại

Từ” là biểu đạt của ngôn ngữ, hiện tại chúng ta gọi “từ lệnh cao siêu không gì bằng”. Chúng ta nói “Phật biện tài vô ngại”, “biện tài” phần nhiều gọi là từ lệnh. Đó là các Ngài biết cách nói.

Thứ tư, “Lạc thuyết”, ưa thích nói.

Bạn tuy biện tài vô ngại nhưng không ưa thích nói thì không ổn, người ta sẽ không được lợi ích. Phải ưa thích giảng cho người khác nghe. Chỉ cần người khác chịu tiếp nhận, ưa thích nghe thì Phật liền ưa thích nói.

Biện tài của Phật bao hàm bốn ý nghĩa này. Hiện tại, một số đồng tu tại gia xuất gia phát tâm muốn học giảng kinh. Học giảng kinh nhất định phải học biện tài của Phật. Nhưng biện tài của Phật lưu lộ từ tánh đức, hay nói cách khác không phải do học mà có. Vậy làm thế nào bạn có? Phải định. Phương pháp giáo học hiện đại không giống thời trước. Nếu chúng ta muốn khai mở trí tuệ vẫn từ phương pháp cũ mới có hiệu quả hơn, đó là dạy từ “thiền định”.

Ví dụ, bạn muốn học giảng kinh phải bắt đầu từ đâu? Tu thiền định. Sau khi được thiền định thì học giảng kinh rất dễ dàng, vừa nghe liền khai ngộ, thông đạt. Vì tâm định có thể sanh trí tuệ, có huệ giải. Hiện tại vì sao bạn học khổ cực? Vì bạn còn vọng tưởng, tạp niệm, phiền não, lo lắng, vướng bận. Bạn không có trí tuệ nên trước khi lên đài giảng kinh một giờ đồng hồ thì phải chuẩn bị hết mấy mươi giờ, rất khổ cực. Phải thiền định thì bạn chỉ chuẩn bị một giờ đồng hồ mà có thể giảng được mười giờ một cách tự tại, an lạc. Thời trước học giảng kinh phải tu định đầu tiên. Còn hiện tại mọi người không chịu tu định, vừa mở đầu liền muốn nghiên cứu kinh điển, nghiên cứu chú giải của người xưa nên vĩnh viễn không thể khai ngộ. Nay tuy chúng ta không có thiền đường, nhưng có niệm Phật đường. Niệm Phật đường cũng có thể thành tựu.

Nếu chân thật học giảng kinh, phát đại tâm tương lai muốn hoằng pháp lợi sanh, nối tiếp huệ mạng Phật, phải bắt đầu học từ niệm Phật đường, thành thật trung thực niệm ba năm. Sau khi niệm Phật ba năm, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều không còn, một ngày từ sớm đến tối chỉ một câu A Di Đà Phật, không nghĩ tưởng xằng bậy, buông bỏ vạn duyên, tâm của bạn định. Trong niệm Phật đường ba năm, nghe tôi giảng kinh, thì khả năng khai ngộ rất cao. Hiện tại mọi người học giảng kinh khổ cực vì phương pháp giáo học hiện đại không giống thời trước nên thành tựu của người tu học kém xa thời trước. Đạo lý ở chỗ này.

“Trụ Phổ Hiền hạnh”

Phổ Hiền hạnh” chính là Hoa Nghiêm tam muội. Phẩm kinh trong bộ kinh này, vừa mở đầu liền nói “Hàm cộng tuân tu Phổ Hiền đại sĩ chi đức”. “Phổ Hiền đại sĩ chi đức” chính là Phổ Hiền hạnh. Đơn giản chỉ một ý niệm lợi ích tất cả chúng sanh, tạo phước xã hội, tạo phước nhân sanh, không chút tự tư tự lợi, đó là hạnh Phổ Hiền. Cho nên hạnh Phổ Hiền là dùng tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chân thành, tâm từ bi làm tất cả công việc lợi ích chúng sanh. Đó là hành môn thù thắng nhất trong hạnh Phổ Hiền. Hạnh Bồ Tát cao cấp cũng gọi là hạnh Phổ Hiền.

Dáng vẻ của hạnh Phổ Hiềnsinh hoạt hiện tại của chúng ta từ công việc đến đối nhân xử thế tiếp vật hiện tiền; dáng vẻ chiếu theo thường ngày. Trên sự không hề cải đổi, trên tâm lý có thay đổi, nhất định không còn cách nghĩ như lúc trước mà đã chuyển đổi. Lúc trước mỗi niệm có ta, vì ta, vì lợi ích của ta. Hiện tại ý niệm này không còn, mỗi niệm vì tất cả chúng sanh và vì đại chúng xã hội. Người thế gian gọi là hy sinh phụng hiến nhưng ý niệm hy sinh phụng hiến của họ cũng không có. Còn ý niệmhy sinh phụng hiến” thì vẫn còn là phàm phu, đó không phải hạnh Phổ Hiền mà là hạnh phàm phu. Phàm phu tu cái gì? Tu thiện hạnh, nhân thiện, tương lai gặt quả báo thiện chứ không phải hạnh Phổ Hiền. Quả báo của hạnh Phổ Hiền không ở ba đường thiện, mà là bốn câu phía trước của bổn kinh. Hạnh Phổ Hiền không những không ở sáu cõi mà ngay mười pháp giới cũng không. Quả báo của họ ở Pháp Giới Nhất Chân. Chúng ta học Phật không thể không biết.

Tường tận mà nói, hạnh Phổ Hiền chính là bộ kinh Hoa Nghiêm hoàn chỉnh. Bạn triển khai kinh Hoa Nghiêm từ “như thị ngã văn”, đến “tín thọ phụng hành”, mỗi chữ mỗi câu đều là hạnh Phổ Hiền. Một người trong cuộc sống có được duyên phận học tập là đại phước báu không chỉ một đời, tức cơ hội này không phải lúc nào bạn cũng có thể gặp được, chân thậttrăm ngàn muôn kiếp khó gặp”. Kinh Hoa Nghiêm chí ít hơn hai trăm năm gần đây không có người giảng. Ngày nay chúng ta gặp hội này quyết không phải ngẫu nhiên. Nếu các vị không phải thiện căn phước đức nhân duyên chín muồi thì không thể nào gặp. Bạn gặp cũng chưa chắc sanh tâm hoan hỉ. Gặp mà sanh tâm hoan hỉ là nhiều đời nhiều kiếp thiện căn phước đức nhân duyên đã chín muồi, không phải dễ. Chúng ta được thân người, gặp cơ hội thì không nên để lỡ. Tuy không thể học hạnh Phổ Hiền viên mãn, chỉ học một hai điều nhưng ngay đời này chúng ta cũng đều thọ dụng bất tận.

Kinh Vô Lượng Thọcương yếu của kinh Hoa Nghiêm, đương nhiên cũng chính là cương yếu của hạnh Phổ Hiền.

“Thiện năng phân biệt, chúng sanh ngữ ngôn

Đây là đột phá chướng ngại trên ngôn ngữ. Khu vực Singapore tuy nhỏ nhưng quy tụ rất nhiều chủng tộc. Việc chọn quan viên cũng phải chọn bốn loại ngôn ngữ: Anh, Hoa, Malaysia, Ấn Độ, ngữ văn không đồng. Thế nhưng Phật Bồ Tát bản lĩnh rất lớn, chỉ dùng một âm thanh để nói pháp, chúng sanh tùy loại tự lĩnh ngộ. Chúng ta không thể làm được việc này. Nếu Phật và những Bồ Tát giảng kinh nơi đây cho các loại chủng tộc khác nhau, những người không cùng quốc gia, không đồng ngôn ngữ ngồi phía dưới nghe cũng sẽ không cần phải qua phiên dịch. Mỗi người đều nghe hiểu. Rất vi diệu. Mỗi người nghe Phật giảng đều bằng ngôn ngữ của chính mình. Thử nghĩ xem có thể chăng? Hiện tại dùng vi tính chúng ta sẽ làm được. Trí tuệ Phật so với vi tính cao hơn gấp bao nhiêu lần. Cho nên chúng ta thao tác vận dụng vi tính sẽ nhận thấy năng lực này của Phật là thật, không phải giả. Phật đích thực có năng lực này.

Như Lai cùng những vị Pháp Thân Đại Sĩ trí tuệ chân thật, biện tài vô ngại, sức mạnh công đức có thể biến hiện ra tùy loại ngôn ngữ. Các Ngài không cần người khác phiên dịch, cùng một nơi một chỗ dùng một âm thanh làm cho tất cả mọi người đều nghe hiểu như chính âm thanh của họ. Năng lực như vậy thuyết pháp lợi sanh sẽ không hề chướng ngại. Mọi người có thể hiểu Phật pháp thù thắng. Ngày nay Phật pháp hoằng dương trên toàn thế giới, chướng ngại ngôn ngữ là nhân tố trước nhất. Tuy chân thật có người tu hành nhưng người tu hành chưa chứng được Hoa Nghiêm tam muội. Nếu chứng Hoa Nghiêm tam muội thì vấn đề này liền được giải quyết. Chúng ta không đạt công phu sâu như vậy nên chỉ vào cảnh giới thấp. Nói cách khác, công hạnh chưa đạt tiêu chuẩn nên bị chướng ngại ngôn ngữ. Ngôn ngữ bất đồng hoặc văn tự bất đồng, nên chúng ta không thể đem Phật pháp thù thắng vi diệu giới thiệu đến mọi người, mà cứ cần phải thông qua phiên dịch.

2500 năm trước, Phật pháp truyền đến Trung Quốc. Lúc đó kinh điển toàn tiếng Phạn, đến Trung Quốc nhất định phải phiên dịch thành Hoa Văn thì người Trung Quốc xem mới hiểu. Thông qua phiên dịch, ý nghĩa nguyên văn của Thế Tôn rất có khả năng bị phiên dịch sai. Người thông thường chúng ta viết một thiên văn chương rồi mời người khác phiên dịch ra văn tự ngoại quốc cùng ý nghĩa ban đầu của chúng ta thì liệu có hoàn toàn như nhau không? Rất khó. Nếu ý nghĩa của Phật dịch sai thì sẽ làm chúng sanh ngộ nhận. Điều này dẫn khởi người hiện đại học Phật đôi khi sanh hoài nghi đối với kinh điển, cho nên một số người nhất định phải tìm kinh điển nguyên bản văn Phạn. Nhưng kinh điển nguyên văn hầu như thất truyền do thời xưa người Trung Quốc không biết bảo tồn. Sau khi phiên dịch thành Trung văn thì không cần đến kinh điển tiếng Phạn nữa, họ không hề giữ để lưu truyền. Thật đáng tiếc!

Những năm đầu khi tôi học Phật, tôi đã đem việc này thỉnh giáo với tiên sinh Phương Đông Mỹ. Tôi hỏi, những điển tích trân quý như vậy vì sao không cố gắng giữ gìn lưu lại? Người xưa Trung Quốc vốn hay lo sợ kinh Phật trong tương lai khi có tai nạn lớn sẽ bị thất truyền nên khắc thành thạch kinh, thường trụ danh sơn lưu truyền đến đời sau. Mấy năm trước ở Phòng Sơn Trung Quốc phát hiện Thạch Kinh. Như vậy, người xưa dụng tâm nhiều, lo sợ thất truyền nên khắc trên đá toàn bộ Đại Tạng kinh, Phân Biệt Tạng ở bảy cái động đá. Tôi đến Phòng Sơn tham quan, khen ngợi không hết lời. Công trình đó không thua kémVạn Lý Trường Thành. Căn cứ vào ghi chép của họ, bộ kinh điển tổng cộng đã khắc gần ba bốn trăm năm mới hoàn công. Biết bao nhân lực tài lực làm công tác này. Thế nhưng tại sao không lưu giữ văn Phạn lại?

Phương tiên sinh nghe xong liền cười thật to. Trận cười này cũng làm cho tôi cười ràn rụa. Ông nói: “chú không biết, người xưa Trung Quốc không giống người Trung Quốc hiện tại. Người Trung Quốc hiện tại không có lòng tự tin dân tộc, thường cảm thấy không bằng người khác. Còn người Trung Quốc ngày trước tự tin mạnh mẽ, các dân tộc khác không thể so sánh. Kinh Phật dịch thành Trung Văn, không những ý nghĩa của kinh một chút không sai sót, tiền nhân có thể khẳng định chắc chắn như vậy, hơn nữa văn tự còn hoa mỹ hơn so với nguyên văn tiếng Phạn. Điều đó ý nói với thiên hạ về sau đọc kinh điển Trung Văn là đủ, không cần phải đọc bản tiếng Phạn”. Bạn xem loại khí khái này chúng ta không hề nghĩ đến.

Người Trung Quốc dịch thành kinh điển Trung Văn một cách đáng tự hào. Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam nói với tôi, năm xưa tham gia công tác phiên dịch ở dịch trường có rất nhiều người tu hành chứng quả, nên ý nghĩa dịch không sai. Phật nói những người tu hành như thế chân thật chứng và khế nhập được cảnh giới nên họ phiên dịch không vấn đề gì. Quyết không như hiện tại chúng ta, không biết tường tận tự cho là đúng, đó là sai lầm đến trăm lần. Người trước chân thật có tu có chứng, còn người hiện tại chúng ta có tín có học, còn cái tu thì không nói đến, chứng lại càng không có. Ngày nay học Phật, thành quả của chúng ta kém xa so với người xưa, nên kinh nói câu này, chúng ta sâu sắc tin tưởng. Ngày nay chúng ta vẫn phải thông qua phiên dịch. Công tác phiên dịch rất gian nan. Muốn chân thật phiên dịch tốt vẫn phải dựa vào công phu tu hành.

“Khai hoá hiển thị chân thật chi tế”

Bổn kinh tổng cộng đã nói ba chữ “chân thật”. Chỗ này được người xưa rất tán thán. Một bộ kinh mà nói ba chữ “chân thật” là rất hiếm. Chữ thứ nhất “chân thật chi tế”, phía sau còn hai câu “trụ chân thật huệ” và “huệ dĩ chân thật chi lợi”. Ba câu này cũng có thể là tổng cương lĩnh của kinh Vô Lượng Thọ, cũng như thời đại nhà Đường, đại sư Thiện Đạo nói với chúng ta: “nhất thiết giai tùng chân thật tâm trung tác”.

Khai hoá hiển thị chân thật chi tế”, nói rõ vì sao chư Phật Như Lai đến thế gian thị hiện. Chúng sanh có cảm, Ngài liền có ứng. Lòng chúng ta có cảm nhưng chính mình lại không biết. Khoa học hiện tại gọi là sóng điện. Sóng điện của chúng ta phát ra nơi đây rất vi tế mà chính mình đều không hề cảm giác, thế nhưng Phật Bồ Tát đã tiếp nhận loại sóng vi tế này. Các Ngài cao minh hơn nhiều so với chúng ta, chúng ta phát ra sóng điện mà vẫn còn không biết, nhưng các Ngài đã biết và liền đi đến, còn chúng ta lại kinh ngạc vì sao Phật Bồ Tát đến.

Sóng vi tế là gì? Là trạng thái có thể tiếp nhận Phật pháp. Cũng như có người nói ra, chúng ta nghe rồi có thể tin tưởng và lý giải. Nếu bạn nghe pháp, tiếp nhận pháp nhưng bạn không tin tưởng, không thể lý giải, thì các Ngài không đến. Cho nên loại sóng này phát ra liền có cảm. Phật Bồ tát đến hiện thân nói pháp, đó là ứng. Chúng sanh có cảm thì Phật Bồ Tát có ứng. Nếu chúng ta dục vọng mong cầu mãnh liệt, đương nhiên phát ra sóng sẽ rất mạnh mẽ. Chẳng hạn, hiện tại chúng ta xây niệm Phật đường, hy vọng sẽ xây làng Di Đà, mong cầu Tam Bảo gia trì nên sức mạnh của tâm rất lớn. Chúng ta có cảm, đương nhiên Phật Bồ Tát có ứng. Vậy Phật Bồ Tát làm thế nào đến để ứng? Các Ngài chỉ xem tâm chúng ta phát ra có phải là chân tâm không. Nếu như chân tâm thì phản ứng liền sẽ rõ ràng tường tận. Nếu như vọng tâm, tiếp theo đó lại là danh vọng lợi dưỡng, tham thố năm dục sáu trần thì Phật Bồ Tát sẽ không ứng. Sóng này của bạn dù mạnh hơn cũng không ứng. Vì sao? Vì tần số không giống với các Ngài. Tần số không giống nhau nên không khởi lên cảm ứng tương thông. Còn nếu tâm của bạn chí thành cung kính thì liền có cảm ứng.

Phật Bồ Tát thị hiện đến thế gian dùng đủ loại thân phận khác nhau: Nam nữ già trẻ, các ngành nghề, thế nhưng các Ngài biểu hiện ra đều không rời khỏi nguyên tắc “khai hoá hiển thị chân thật chi tế”. Trên kinh Hoa Nghiêm cho thấy rõ Thiện Tài Đồng Tử năm mươi ba lần tham học chính là câu nói này. Kinh Hoa Nghiêm đã dùng bốn mươi quyển kinh văn, còn trên kinh Vô Lượng Thọ thì tám chữ.

Khai” tức khai Phật tri kiến. “Hóa” tức khế nhập cảnh giới. Nhà Phật thường giảng khai thị, “khai” chính là ý nghĩa khai thị. Chúng sanh đối với những lý này mà không tường tận, không lý giải thì gọi là bế tắc. Bạn gặp những thiện tri thức, những người minh bạch cụ thể là Phật Bồ Tát thị hiện, được họ đến nói rõ, giảng tường tận cho bạn, chỉ thị bạn; sau khi bạn nghe rồi giác ngộ, đó gọi là khai mở bế tắc. Họ khai thị cho chúng ta về chân tướng của vũ trụ nhân sanh, chính là câu sau: “Chân thật chi tế”. “Chân thật chi tế” là chân tướng sự thật.

Hóa” là tường tận, chúng ta liền sanh ra biến hoá. Ban đầu mê hoặc điên đảo, hiện tại thoát nhiên đại ngộ, cho nên chỗ này gọi là khai hoá.

Phật tri Phật kiến”. “Phật” mang ý nghĩa của giác ngộ, tri kiến của giác ngộ. “Tri” là thông suốt tường tận. “Kiến” là kiến giải. Thông hiểukiến giải của bạn hoàn toàn chính xác. Nhưng tiêu chuẩn của chính xác là gì? Hoàn toàn tương ưng phù hợp với chân tướng của vũ trụ nhân sanh thì tư tưởng kiến giải này mới gọi là chính xác. Mọi người không nên cho rằng tri kiến của Phật nhất định phải lấy tư tưởng kiến giải của Thích Ca Mâu Ni Phật làm tiêu chuẩn, vậy thì bạn sai. Thích Ca Mâu Ni Phật không có tư tưởng, không có kiến giải. Tiêu chuẩn này là chân tướng sự thậttương ưng với chân tướng sự thật.

Hiển thị” chính là “thị Phật tri kiến”, căn tánh lanh lợi. Nhà thiền thường nói người căn tánh nhạy bén, Phật vừa giảng thì họ liền thông suốt, đó là người thượng căn. Người căn tánh trung hạ vẫn không thể. Bạn giảng cho họ nghe, họ nửa hiểu nửa ngờ, không thể thấu triệt, cho nên tiến thêm một bước là phải hiển thị tấm gương để họ xem, vậy thì mới hoát nhiên đại ngộ, họ mới chân thật tường tận.

Hiển thị phải làm gương để họ xem. Trong tất cả kinh luận Phật pháp, Phật thường hay dặn bảo chúng ta, lời dạy này không biết mấy trăm lần, mấy ngàn lần, thậm chí đến mấy vạn biến. Toàn bộ Đại Tạng kinh có mấy vạn biến, đều khuyên chúng tathọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói”. Đó là Phật hết lời dạy bảo, khuyên nhủ chúng ta.

Thọ” thọ là tiếp thọ. Chúng ta phải tiếp nhậntin tưởng những đạo lý, những phương pháp, những cảnh giới mà Phật đã nói. Đó là thọ.

Trì” là giữ gìn không để mất. Nhất định phải đem nó áp dụng ngay đời sống của chúng ta, dùng trong công việc thường ngày, trong đối nhân xử thế tiếp vật. Phải ứng dụng những phương pháp đạo lý của Ngài, gọi là thọ trì.

Đọc tụng” là khuyên chúng ta phải đọc tụng kinh điển để không quên lời dạy bảo của lão sư. Phàm phu rất hay quên. Bộ kinh này nếu không đọc tụng sẽ quên mất. Tôi giảng kinh thường vận dụng một số kinh điển nhưng cũng hay sai chữ vì loại kinh đó tôi ít đọc, thậm chí hai mươi năm chưa ôn lại lần nào, chỉ thỉnh thoảng nhớ một hai câu nên có vài chữ nhớ sai. Vì vậy, người đọc sách, đặc biệt người học giảng kinh, nhất định không được rời bỏ những tư liệu tham khảo.

Ngày trước, tôi ở đạo tràng của chính mình, rất hoàn bị những tư liệu này. Khi đến nơi đây tôi cũng mang theo không ít. Nhưng dọn nhà vài lần thì không thấy đâu nữa. Hiện tại trên tay tôi không còn bất cứ thứ gì, tư liệu kinh luận không biết đi đâu mất hết. Trước kia tôi ở nhà cư sĩ rồi dọn đến đây. Khi vừa dọn thì lộn xộn cả lên. Về sau dọn đến Tịnh Tông Học Hội, từ Tịnh Tông Học Hội dọn đến Malaysia, từ Malaysia lại dọn đến Úc châu thì không còn thấy nữa, cho nên ở giáo học gặp rất nhiều khó khăn vì rất nhiều tư liệu không tìm ra.

Hy vọng tương lai chúng ta có một đạo tràng dài lâu, một thư viện hoàn thiện để tham khảo tư liệu, không chỉ giúp chúng ta lên đài giảng kinhbình thường cùng người ta nói Phật pháp, dẫn cứ kinh điển cũng không bị sai lầm. Phật dạy chúng ta phải đọc tụng nên nhất định phải đọc nhiều.

Vì người diễn nói”. “Diễn” là hiển thị hoặc biểu diễn. Bạn đã học thì phải làm được. Học nhưng chưa làm thì không tính. “Diễn” là làm tấm gương cho người xem.

Thuyết” là nói rõ cho người nghe, khai hoá, hiển thị, vì người diễn nói. Diễn nói cái gì? “Chân thật chi tế”. Bổn kinh dùng từ “chân thật vi tế”, còn kinh Bát Nhã dùng từ “thực tướng các pháp”, hoàn toàn tương ưng. “Tế” là đạt đến cực điểm. Chúng ta dùng danh từ Phật học để giảng thực tướng các pháp diệu lý cứu cánh đến cùng cực, đó là ý nghĩa của chữ “tế”. Hoặc “thực tướng diệu xứ cùng tận kỳ lý”, đạt đến cùng tột gọi là tế, là bờ mé, đỉnh điểm. Thông thường trên kinh đại thừa cũng nói “triệt pháp đệ nguyên”, đó là gốc của tất cả pháp, là đầu nguồn của tất cả pháp, cũng là ý nghĩa của ranh giới. Do đây mà biết, “khai hoá hiển thị chân thật chi tế” không phải người thông thường có thể làm được, trừ Chư Phật Như Lai vì các Ngài chứng được chân thật chi tế. Bạn chưa đạt đến thì bạn làm sao nói ra?

Bồ Tátchúng ta giảng kinh nói pháp nhất định được Phật lực gia trì. Nếu không được Phật lực gia trì thì do không phải cảnh giới của chính họ nên họ không thể nói ra. Bồ Tát Đẳng Giác nói pháp đều phải cầu Phật. Chúng ta xem thử người xưa chú thích kinh, phía trước luôn có kệ tụng cầu Phật gia trì. Người xưa trước khi lên đài giảng kinh luôn lạy Phật. Chúng ta không cầu Phật thì lên đài giảng liền sẽ nói năng xằng bậy. Cho nên trước khi lên đài giảng phải lạy Phật ba lạy cầu Phật gia trì.

“Siêu quá thế gian chư sở hữu pháp”

Tám chữ này thực tế đã viên mãn hàm nhiếp tất cả Phật pháp. Không chỉ tất cả pháp Thích Ca Mâu Ni Phật nói suốt bốn mươi chín năm mà mười phương ba đời tất cả Chư Phật Như Lai nói pháp cho vô lượng vô biên chúng sanh cũng không vượt ngoài tám chữ này. “Siêu quá thế gian chư sở hữu pháp” là lý đương nhiên, không chỉ vượt qua tất cả pháp thế gian mà cũng vượt luôn tất cả pháp xuất thế gian. Vậy câu kinh văn thực tiễn vào đâu? Thực tiễn vào ngay bộ kinh. Bộ kinh này chính là Chư Phật Như Laikhai hoá hiển thị chân thật chi tế”. Các đại đức xưa, thời Tùy Đường đã nghiên cứu tìm hiểu, Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh nói pháp bốn mươi chín năm thì bộ kinh nào được xem như đệ nhất? Kết luận sau cùng, bộ kinh Vô Lượng Thọ là đệ nhất. Đó là kết luận sau khi so sánh với rất nhiều kinh. Câu kinh này có thể thực tiễn ngay trong bộ kinh, đích thực siêu việt tất cả pháp thế xuất thế gian. Chúng ta phải đặc biệt trân trọng.

Mỗi lần giảng kinh Vô Lượng Thọ tôi lại gặp pháp duyên đặc biệt thù thắng. Tôi giảng kinh đã bốn mươi năm, đi qua rất nhiều quốc gia khu vực, giảng bất cứ kinh điển nào, pháp duyên thù thắng đều không hơn bộ kinh này. Thính chúng đông, tâm trạng hoan hỉ. Nếu bạn nói do tôi biết giảng thì mỗi bộ kinh tôi giảng đều phải làm người ta hoan hỉ nhưng không phải như vậy. Tôi giảng bộ kinh này thì người nghe đặc biệt đến rất đông, còn giảng kinh khác thì người nghe ít đi phân nửa. Nguyên nhân do Tam Bảo gia trì không như nhau. Tôi thể hội rất sâu sắc. Qua nhiều năm tôi thường hay nghĩ tình hình trong đạo tràng nhưng chỉ riêng giảng kinh Vô Lượng Thọ thì pháp duyên mới đặc biệt thù thắng. Kế đến là giảng Di Đà Kinh Sớ Sao Yếu Giải, thính chúng cũng rất hoan hỉ, hoàn toàn khác với giảng các bộ kinh khác. Điều này chứng minhsiêu quá thế gian chư sở hữu pháp”.

TÂM THƯỜNG ĐẾ TRỤ, ĐỘ THẾ CHI ĐẠO, Ư NHẤT THIẾT VẠN VẬT, TÙY Ý TỰ TẠI, VI CHƯ THỨ LOẠI, TÁC BẤT THỈNH CHI HỮU

“Tâm thường đế trụ, độ thế chi đạo”

Tâm thường hay an trụ ở đạo độ thế. “Đế” là chân thật, không phải giả. “Trụ” là an trụ. Vậy thìđộ thế” chính là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” mà tứ hoằng thệ nguyện đã nói. Tâm phải thường hay an trụ trong đại nguyện, đó gọi là “đế trụ độ thế chi đạo”. Phải thường giữ tâm này vì đó là tâm bồ đề chân thật.

Độ” là quan tâm, thương yêu, giúp đỡ bằng sự chân thành với tất cả chúng sanh. Người thế gian có rất ít loại tâm này, chỉ chư Phật Bồ Tát mới đích thực giữ được. A La Hán tuy cũng có tâm giúp người nhưng tâm đó không mạnh. Nhất định phải có người cầu giúp đỡ, vị A La Hán xem xét thấy vừa mắt mới đến giúp, còn không vừa mắt thì chưa chắc đến giúp. Không như Bồ Tát, Bồ Tát chân thật có cầu ắt có ứng. Thậm chí bạn không cầu, họ cũng đến. Càng là nơi khổ nạn thì Phật Bồ Tát càng thị hiện nhiều, phàm phu mắt thịt chúng ta không thể nhận biết.

Như thế giới hiện tại, mỗi ngày chúng ta xem tin tức quốc gia khu vực xảy ra rất nhiều tai nạn. Vậy những nơi chịu khổ nạn thì chư Phật Bồ Tát có cách gì giúp đỡ không? Có. Nhưng Chư Phật Bồ Tát giúp đỡ thì tại sao họ còn bị tai nạn lớn đến như vậy? Vì nghiệp lực hiện tiền. Phật Bồ Tát có thể giúp đỡ nhưng Phật Bồ Tát không thể giúp bạn tiêu trừ tội nghiệp. Kinh Phật nói “tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt”. Sức mạnh của tâm, sức mạnh của Phật và nghiệp lực của chúng sanh tạo tác, ba sức mạnh này bình đẳng. Chúng ta đọc kinh Địa Tạng giảng nghiệp lực của chúng sanhnăng địch Tu Di, năng sanh đại hải”. Nghiệp bạn tạo thì bạn nhất định phải nhận lấy quả báo. Ngay khi chịu quả báo, Phật Bồ Tát chắc chắn ở bên cạnh giúp đỡ, chăm sóc bạn. Nếu hiểu sâu đối với Phật pháp, bạn sẽ có cảm nhận này. Khi chúng sanh chịu tai nạn lớn, Phật Bồ Tát làm sao nỡ phẩy tay áo, bàng quan mà nhìn. Thế nhưng nếu chúng ta may mắn thoát khỏi tai nạn, tâm niệm của chúng ta cùng tâm niệm của Phật Bồ Tát phải tương ưng thì rất có khả năng tránh khỏi kiếp nạn. Điểm này cũng giống như phần trên tôi đã giảng. Trong lòng chúng ta phát ra sóng tư tưởng cùng sóng tâm của Phật tần suất gần nhau. Tần suất giống nhau thì liền được giúp, nhà Phật gọi là bảo hộ gia trì. Người không hiểu thì cho rằng mê tín. Nếu hiểu đó là tần suất của sóng tư tưởng tương ưng thì đích thực có thể được giúp đỡ.

Giảng đường chúng ta phát ra sóng gì? Nơi đây rất nhiều đồng tu đang dốc lòng nghe giảng, hai giờ đồng hồ không khởi ác niệm, mỗi niệm đều thuần thiện niệm, đều tương ưng với kinh giáo, như vậy sóng này tốt, gần với sóng của Phật Bồ Tát mặc dù tần suất không thể hoàn toàn như nhau nhưng cũng được Phật gia trì. Mọi người ngày đêm ở Niệm Phật đường niệm Phật, sức mạnh càng lớn. Cho nên đạo tràng, giảng đường cùng niệm Phật đường chính là trạm phát sóng âm tư tưởng. Nếu sức mạnh của sóng chúng ta mạnh, liền có thể giúp một số chúng sanh của thế gian có sóng âm tư tưởng tham-sân-si-mạn, tự tư tự lợi được can thiệp bởi sóng âm mạnh của chúng ta. Chúng ta có thể quấy nhiễu sóng âm không tốt của họ, không để họ khởi tác dụng. Chúng ta mang đến thế giới sự an lành, làm giảm nhẹ tai nạn thế gian, làm chậm mọi kiếp nạn. Ưu điểm của niệm Phật ở ngay chỗ này. Đây không phải mê tín mà thật có lý luận và nền tảng khoa học trong đó.

Hiện tại khoa học gia thừa nhận hiện tượng sóng âm, thậm chí tuyên bố thế gian căn bản không tồn tại, tức vô tướng; tất cả hiện tượng vật chấthiện tượng sóng động. Lời nói này rất có đạo lý, tôi vừa nghe liền thấu hiểu, không sai chút nào. Đích thực đó là hiện tượng của sóng động sanh ra huyễn giác. Kinh Bát Nhã nói: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Tất cả vật chất, thực vật khoáng vật, chỉ cần có hiện tượng đều được hiện tại khoa học gia phân tích thành phân tử, nguyên tử, điện tử, đến hạt cơ bản, tỉ mỉ quan sát nó đều đang động. Động thì sanh ra sóng, cho nên, vật tướng nào mà không có sóng? Nhà Phật chúng ta không dùng từ “sóng” mà dùng từ “quang”. Người học khí côngTrung Quốc gọi là “khí”, khoa học gia gọi là sóng, đều nói lên một hiện tượng. Hơn nữa sóng động thì lấy sóng động tư tưởngrõ ràng nhất. Phật pháp nói: “Y báo tùy theo chánh báo chuyển” chính là căn cứ vào đạo lý này.

Vì sao hoàn cảnh vật chất tùy theo sóng tư tưởng mà thay đổi? Vì sức mạnh của sóng tư tưởng rất lớn có thể can thiệp thay đổi tần suất sóng động nên hiện tượng vật chất liền thay đổi. Chúng ta cũng có thể thay đổi tần suất của hoàn cảnh vật chất. Nếu tư tưởng không chính xác, quấy rối thì liền phá hoại hiện tượng tự nhiên, chúng ta sẽ phải chịu khổ. Cân bằng sinh thái địa cầu hiện tại đang bị phá hoại do nguyên nhân gì? Khí hậu cũng khác thường, nhiệt độ nước biển nâng cao, băng ở Nam Bắc cực tan chảy do nguyên nhân gì? Đều do sóng tư tưởng của chúng ta quấy nhiễu. Sóng tư tưởng chính là tham-sân-si-mạn, phát tiết ra tham-sân-si nghiêm trọng. Tham là nước, sân là lửa, si là gió, bất bình là động đất, đều có nguyên nhân của nó. Thế nhưng đạo lý sâu này, khoa học gia hiện tại vẫn chưa phát hiện. Đây mới là nhân tố thứ nhất.

Nếu chúng ta muốn giúp đỡ tất cả chúng sanh thì phải bắt đầu từ đâu? Từ giáo dục. Người xưa hiểu nhưng người hiện tại không hiểu. Người xưa rất chú trọng giáo dục, đặc biệt dạy bạn tư tưởng kiện toàn, hợp lý. Cái lý này chính là “chân thật chi tế”. Phải tương ưng với chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Trái với chân tướnghoàn toàn sai lầm. Phải, trái, nhân, ngã, tham, sân, si, mạn không có trong chân thật chi tế; nếu có là trái ngược, sai lầm. Sai lầm liền sẽ phá hoại sinh thái tự nhiên. Còn nếu chính xác thì sinh thái tự nhiên liền sẽ bình thường. Những đạo lý này đều ở trong kinh điển đại thừa, Phật nói rất nhiều và tỉ mỉ. Người học Phật gọi là Tam Bảo; người thế gian lại rất xem thường, cho rằng mê tín rồi phế bỏ, không chịu tìm hiểu, không biết được thứ này có thể giải quyết nguy cơ của hiện đại, giải quyết tai nạn của tất cả chúng sanh, đưa chúng ta lìa khổ được vui. Cho nên người hiện tại mê tín khoa học, hậu quả của mê tín khoa học không bằng mê tín Phật học. Mê tín Phật học thì tương lai còn sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, nhưng mê tín khoa học thì đi đến đâu, tôi thật không biết.

“Ư nhất thiết vạn vật, tùy ý tự tại”

Mấy câu phía sau dạy tâm thường áp dụng: “Đế trụ, độ thế chi đạo, ư nhất thiết vạn vật, tùy ý tự tại”. “Tùy ý” là thái độ đời sống của chúng ta tùy duyên tự tại, người hiện tại gọi là tâm thái. “Tùy duyênxuất phát từ “phan duyên”. Mong cầu trong lòng bạn chính là phan duyên. Phan duyên thì không tự tại, vì bạn có tâm được mất. Tâm được mất sanh phiền não. Bỏ đi tâm được mất thì bạn tự tại, liền trải qua ngày tháng chân thật hạnh phúc mỹ mãn. Khi bạn dùng hết tâm huyết, chẳng hạn dùng hết tâm huyết, hết thủ đoạn, phương pháp để kiếm tiền. Tiền có trong mạng của bạn. Nếu trong mạng không có thì cố kiếm nhiều hơn cũng không thể kiếm ra. Bạn nghĩ xem hao phí tâm lực như vậy không phải oan uổng sao? Hết thảy bạn đều xả bỏ, trong lòng một niệm không sanh, trong mạng của bạn một ngày kiếm được bao nhiêu tiền thì nó tự nhiên đến. Vậy có tự tại hơn không? Rất thoải mái, an lạc!

Tôi thường hay khuyên bạn quay về nhà đọc một mạch ba trăm lần Liễu Phàm Tứ Huấn thì liền hiểu rõ. “Một bữa ăn, một ngụm nước đều do tiền định”, đó là thật không giả. Ai định? Chính mình định. Nhân do chính mình đời trước tu được thì ngay đời này nhận quả báo. Đời trước bạn không tu nhân thì đời này làm gì có quả báo. “Nhân duyên quả báo không lọt mảy lông”. Thông đạt đạo lý, hiểu rõ chân tướng sự thật thì đời sống của bạn đại tự tại. Ta không cần mong cầu. Trong mạng có, đến lúc tự nhiên liền đến, cầu làm gì? Đến rồi cũng không thấy lạ, vì sao? Đáng đến thì nó phải đến, không đáng đến thì nó sẽ không đến, không hề có ý niệm được mất. Đời sống phải hiểu được tùy duyên, tức tùy thuận phép tắc nhân quảtùy thuận sự thật của nhân quả.

“Vi chư thứ loại, tác bất thỉnh chi hữu”

Ví dụ các vị muốn tiền, mỗi người đều cầu tài. Tài từ đâu mà có? Bố thí. Tài của tôi không có một xu nhưng tôi muốn bao nhiêu thì có bấy nhiêu, bạn nói xem tự tại cỡ nào. Tùy niệm liền đến, khởi ý niệm thì nó xuất hiện. Thế nhưng sau khi đến, tôi lập tức xả đi, vì nếu tôi không xả thì sau sẽ không đến. Tôi vừa xả thì phía sau ùn ùn không ngừng kéo đến. Cho nên bạn phải biết, xả thì được, như lời Phật dạyxả là nhân, đắc là quả báo”. Bạn không chịu xả thì làm sao có? Không cách gì có được, như thế trái với nhân quả. Sau khi có, bạn phải xả ra, lại phải đem cái được đó xả đi thì bạn liền giống như dòng nước chảy, vĩnh viễn không cùng tận.

Bạn xả tài được tài phú, xả pháp được trí tuệ, thí vô uý được khoẻ mạnh sống lâu, tùy ý tự tại, cả đời sẽ không bị bệnh, không già yếu. Tôi còn nói bạn sẽ không chết. Đó là thật không phải giả. Muốn không già, không bệnh, không chết thì phải thâm nhập kinh Vô Lượng Thọ và Đại Hoa Nghiêm.

Chúng ta, đặc biệt đồng tu Tịnh Độ, học Phật nhất định phải lấy Phật làm tấm gương, phải nỗ lực chăm chỉ học tập Phật A Di Đà. Phật A Di Đà ở đâu? Một bộ kinh chính là Phật A Di Đà. Ngày trước tôi cũng đã từng nói với các vị, nếu chúng ta không những tin hiểu sâu kinh này mà còn có thể làm thì chúng ta giống y Phật A Di Đà, vãng sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc thượng thượng phẩm vãng sanh, cõi Thật Báo Trang Nghiêm. Nếu chúng ta không thể học trọn vẹn mà chỉ học bảy tám mươi phần trăm thì cũng có thể sanh đến cõi Phương Tiện Hữu Dư. Còn học được ba bốn mươi phần trăm thì đạt phần vãng sanh cõi Đồng Cư. Nếu nói tin mà không hiểu, hiểu mà không thể làm thì không thể nắm phần vãng sanh. Đó là lý dongười niệm Phật nhiều mà người vãng sanh ít”, chính bởi vì không chịu làm theo, hoặc không chịu chăm chỉ học tập.

“Tâm thường đế trụ, độ thế chi đạo”, hợp bổn kinh lại thì đó chính là bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật. Mỗi nguyện đều giúp chúng sanh vãng sanh bất thoái thành Phật. Chúng ta đọc bốn mươi tám nguyện, nhất định phải nương theo tấm gương tốt của Phật Đà, từ nội tâm mình cũng phải phát ra đại nguyện như vậy để cùng A Di Đà Phật đồng tâm đồng nguyện. A Di Đà Phật không hề vì chính mình. Tận hư không khắp pháp giới chính là mình, mỗi niệm Ngài vì chúng sanh. Chúng ta học Phật cũng phải từ chỗ này mà học. Trong ba bậc vãng sanh thì điều kiện là “phát tâm Bồ Đề, một lòng chuyên niệm”. Phát tâm Bồ Đề cũng có thể chỉ bốn mươi tám nguyện. Nếu y giáo phụng hành, chúng ta với tất cả vạn vật tự nhiên liền “tùy ý tự tại”, tùy loại hoá thân, tùy cơ nói pháp.

Trên kinh Phạm Võng, Thế Tôn từng nói: “Thiên bá ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật”. “Thiên bá ức” là đồng thời có thể hóa trăm ngàn ức thân. Ngàn trăm ức thân này không phải một hình dáng vì nếu chỉ một hình dáng thì năng lực của Phật vẫn còn hạn hẹp. Trăm ngàn ức thân là trăm ngàn ức loại thân phận, mỗi thân phận không như nhau, mỗi thân tướng cũng không như nhau. Thân đó của ngài làm thế nào hiện? Là vô tâm biến hiện, tức tùy theo tâm niệm của chúng sanh mà biến hiện ra. Mỗi chúng sanh tâm niệm không như nhau nên đức tướng của Phật cũng không như nhau nhưng nhất định mãn tâm nguyện của chúng sanh. Không chỉ hiện sắc tướng mãn tâm nguyện chúng sanh mà nói pháp cũng mãn tâm nguyện của chúng sanh, đó là tùy ý tự tại.

Vi chư thứ loại, tác bất thỉnh chi hữu”, “thứ loại” chuyên chỉ tất cả đại chúng trong nhân gian. Ý nghĩa rộng hơn có thể bao gồm chín pháp giới. Từ cảnh giới của Phật mà nói, chúng sanh chín pháp giới đều là thứ loại, trong mười pháp giới cũng đều có thể gọi là thứ loại, then chốt ở “tác bất thỉnh chi hữu”. Những chúng sanh đó không đến mời bạn nói pháp mà bạn phải đi đến. Như vậy có trái với sư đạo hay không?

Thế xuất thế gian pháp, chúng ta biết được đều thuộc về sư đạo, phải tôn sư trọng đạo. Lão pháp sư Ấn Quang nói: “Một phần thành kính được một phần lợi ích, hai phần thành kính được hai phần lợi ích”. Tu học của chúng ta được bao nhiêu không phải ở thầy giáo dạy mà ở học trò khéo học. Biết học là dùng một tâm chân thành thanh tịnhtiếp nhận mới có thể đạt. Cho nên cũng đồng một thầy, đồng một phòng học nhưng lợi ích khác nhau. Ngày trước tôi ở Đài Trung thân cận lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam. Lão sư Lý lên lớp khoảng bảy tám mươi học trò. Mọi người đều nghe lão sư dạy học, giảng kinh nhưng mỗi người tiếp thu không như nhau, thọ dụng không giống nhau. Không phải do căn tánh lợi độn, mặc dù căn tánh lợi độn nhiều ít cũng có chút liên quan nhưng không quan trọng. Quan trọng nhất ở sự thành kính. Quả nhiên có tâm chân thành cung kính, cho dù căn tánh ngu độn cũng có thể khai ngộ.

Năm xưa khi Thế Tôn tại thế, trong số học trò có người rất ngu độn. Các vị đọc kinh đều biết Châu Lợi Bàn Đà Gia. Tôi nghĩ nếu so sánh với các vị thì các vị thông minh hơn ông ấy nhiều. Ông đọc một bài kệ, vừa đọc câu trước thì quên câu sau, dạy câu sau thì ông quên câu trước. Ông ở trong hội của Thế Tôn có thể chứng quả A La Hán, được biện tài vô ngại, nhờ đạo lý gì? Thành kính. Điểm này chúng ta phải biết.

Phật phápsư đạo, do đó thị hiện thân phận Phật độ chúng sanh thì tương đối không thuận tiện nên phải có chư Phật Như Lai khác thị hiện làm học trò giúp bạn giáo hóa chúng sanh, gọi là “một Phật thị hiện, ngàn Phật ủng hộ”, ngàn vị Phật đến thị hiện làm học trò. Những học trò này không phải người thông thường mà là chư Phật Như Lai, pháp thân đại sĩ tái sanh. Họ thị hiện thân phận đệ tử Phật, có thể “vị chư thứ loại, tác bất thỉnh chi hữu”. Bởi vì họ không thị hiện thân phận lão sưthị hiện thân phận học trò, thân phận huynh trưởng nên dễ nói chuyện, không bị bó buộc. Hiểu đạo lý này, chúng ta mới hiểu vì sao Bồ Tát sau khi thành Phật còn phải thừa nguyện tái lai, trở lại làm địa vị của Bồ Tát. Đó là sự từ bi cùng cực. Các Ngài nhất định quay lại tùy loại hóa thân mới có thể phổ độ chúng sanh, đầy đủ hoằng nguyện khi ở nơi nhân địa đã phát ra.

Câu kinh văn này chúng ta phải tỉ mỉ tư duy rồi áp dụng ngay trong cuộc sống thường ngày. Đó là chân thật hành Bồ Tát đạo, chân thật thực hiện hoằng nguyện “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. “Tâm thường đế trụ”, phải thường làm được. Khi đã làm được thì bạn sẽ “là bạn không mời của chúng sanh”. Vậy làm bằng cách nào? Phương tiện khéo léo vô lượng vô biên, bạn phải hiểu quán cơ, tức là phải hiểu vào lúc nào, nơi chốn nào, đối với chúng sanh nào, trong hoàn cảnh nào, và dùng phương thức nào để giúp đỡ họ. Khế cơ, khế lý linh hoạt không khô cứng. Kinh Hoa Nghiêm từ đầu đến cuối có quá nhiều loại linh động hoạt bát này, đó là một quyển sách hay. Bổn kinh chính là nguyên tắc và cương yếu. Trong kinh Hoa Nghiêm gọi là tế hạnh hoặc tế tiết. Nó chứa nguyên tắc quan trọng, đó chính là bạn thật lòng, thật chịu làm mới được. Câu nói này sở dĩ phải lặp đi lặp lại nhiều lần vì nó quá quan trọng.

Ngày nay chúng ta học Phật thực tế còn rất lơ đãng. Bạn nói không có lòng vẫn thật có lòng, nói có lòng lại không thấy hành động. Chúng ta không đủ lòng tin kiên định, tâm nguyện không đủ mạnh, gặp sự việc còn do dự không chịu nỗ lực, đặc biệt không chủ động làm. “các loại chúng sanh mà làm bạn không mời” là chủ động đi làm, đó mới là Bồ Tát. Nếu có người khuyên bảo bạn, xúc tiến bạn, thì bạn miễn cưỡng, đó là người tiểu thừa, không phải đại thừa. Đại thừa nhất định phải chủ động.

“THỌ TRÌ NHƯ LAI, THẬM THÂM PHÁP TẠNG. HỘ PHẬT CHỦNG TÁNH THƯỜNG SỬ BẤT TUYỆT”

“Thọ trì Như Lai, thậm thâm pháp tạng”

Như Lai thậm thâm pháp tạngám chỉ bộ kinh Vô Lượng Thọ. Then chốt ở hai chữ “thọ trì”. “Thọ” là tiếp thọ, thật tin, thật hiểu, thật làm. “Trì” là giữ gìn, vĩnh viễn không đánh mất. Bộ kinh điển, đặc biệt bổn hội tập của Hạ Lão cư sĩ, chúng ta xem thấy không sâu nhưng đều có thể hiểu. Đó là chỗ hội tập rất hay của kinh. Bởi vì tác dụng của bộ kinh là phải phổ độ pháp giới tất cả chúng sanh: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, căn tánh lanh lợi, có trí tuệ, có thần thông, phàm phu sáu cõi chúng ta, đặc biệt chúng sanh ác đạo căn tánh ngu kém. Đề kinh đã nói qua, bộ kinh này thật hy hữu, tất cả chư Phật đều tán thán. Kinh Vô Lượng Thọ có thể khiến chúng sanh năm đường bình đẳng thành Phật. Năm đường chỉ sáu cõi, tức chúng sanh sáu cõi đều có thể bình đẳng thành Phật. Người xưa còn gọi là ngũ thừa. Ý nghĩangũ thừa” rất viên mãn, ngoài Thanh văn, Duyên giác, người, trời, bộ kinh còn bao gồm chúng sanh địa ngục. Chín pháp giới tất cả chúng sanh bình đẳng thành Phật, chân thật không thể nghĩ bàn.

Người sâu xem thấy rất sâu, người cạn xem thấy cạn, đó là diệu, cho nên có thể phổ cập, có thể nhận hoan nghênh từ tất cả đại chúng. Mỗi người xem thấy hoan hỉ, không luận loại căn tánh nào đều như người xưa từng nói “trùm khắp ba căn, lợi độn đều thâu”. Các loại căn tánh khác nhau, khi tiếp xúc đều sanh tâm hoan hỉ. Đương nhiên việc này có pháp duyên liên quan với Phật A Di Đà. Tất cả chúng sanh từ kiếp lâu xa đã kết duyên sâu dày với Phật A Di Đà, nên nghe đến danh hiệu, tiếp xúc kinh điển liền xúc động thiện căn, lòng hoan hỉ của họ sanh khởi.

Nói bộ kinh Vô Lượng Thọ sâu sắc cũng cần phải lược nói qua vì nếu không thì đồng tu mới đến nghe kinh chưa khỏi sinh nghi hoặc, nhất là khi lật qua quyển kinh cảm thấy không quá sâu. Chỉ bộ kinh này càng cạn càng rõ ràng hơn kinh A Di Đà. Nhiều người tụng qua đều thuộc lòng kinh A Di Đà giống như kể câu chuyện. Chúng ta thấy dường như rất cạn, không sâu. Thế nhưng các vị xem qua chú giải của đại sư Ngẫu Ích, chú giải của đại sư Liên Trì thì sẽ không hiểu. Kinh rất dễ dàng xem hiểu nhưng chú thì lại không hiểu, do nguyên nhân gì? “Pháp tạng thậm thâm”.

Bộ kinh này ngày trước tôi đã từng giảng nhiều lần, thường nói nếu như Thế Tôn tỉ mỉ làm chú giải cho kinh Vô Lượng Thọ thì đó phải là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. Mọi người xem kinh Hoa Nghiêm thì biết đích thực rất sâu. Hoa Nghiêmchú giải cho kinh này. Kinh này nguyên văn đương nhiên phải sâu hơn Hoa Nghiêm. Vậy kinh Hoa Nghiêmchú giải hay không? Có! Tất cả các kinh mà Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói trong bốn mươi chín năm chính là chú giải của kinh Hoa Nghiêm. Các vị phải biết, ngày nay chúng ta đem toàn bộ Đại Tạng kinh rút gọn, thì đó là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. Kinh Hoa Nghiêm lại rút gọn thì chính là kinh Vô Lượng Thọ. Từ ngay đây bạn liền thể hội, kinh Vô Lượng Thọ đích thực là “pháp tạng thậm thâm”. Nếu triệt để thông đạt tường tận thì Phật nói rất hay: “Chỉ Phật với Phật mới có thể cứu cánh”. Nói cách khác, Bồ Tát Đẳng Giác cũng không được. Bồ Tát Đẳng Giác còn phải nhờ Phật lực gia trì mới có thể hiểu và chứng. Ngày nay chúng ta trong pháp hội cũng đang nghiên cứu thảo luận, dường như cũng có thể nói, nghe, hiểu, thể hội đại ý của kinh, vẫn phải nhờ oai thần bổn nguyện gia trì của chư Phật Như Lai. Nếu không được Phật lực gia trì, phàm phu chúng ta không thể nói. Không có năng lực, bạn nghe hiểu cũng không được. Còn có thể nghe, hiểu, có thể hoan hỉ thì đó là thiện căn trong đời quá khứ hiện tiền cùng Phật lực gia trì, nên mới thọ trì Như Lai pháp tạng thậm thâm.

Hộ Phật chủng tánh thường sử bất tuyệt

Phật chủng tánh” là gì? Kinh Phật nói: “Phật chủng tùng duyên sanh”, đại ý trong A Lại Da Thức hàm chứa hạt giống thành Phật. Hạt giống này nếu bạn muốn giữ gìn tiếp nối không gián đoạn thì bạn ngay một đời nhất định phải thành Phật. Chúng ta tu hành không thể chứng quả, không thể thành tựu vì thường bị gián đoạn.

Hai chữ “Phật chủngý nghĩa không chỉ rộng mà còn sâu. Mỗi vị đồng tu có duyên phận đến đây nghe kinh hai giờ đồng hồ, đến niệm Phật đường niệm Phật một giờ đồng hồ đều là Phật chủng khởi hiện hành. A Lại Da Thức trong đời quá khứ, nếu khônghạt giống làm Phật thì ngày nay bạn không thể ngồi đây hai giờ đồng hồ; chỉ ngồi chưa đến năm phút, bạn phải mau chạy ra ngoài. Điều đó chứng minh thiện căn phước đức nhân duyên của các vị đồng tu ngay trong một đời viên mãn đầy đủ. Đầy đủ thì có cơ hội làm Phật. Mỗi một chúng sanh, chúng ta không nên dùng từ “mỗi một người”, vì phạm vi của từ này rất nhỏ, “mỗi một chúng sanh” có phạm vi lớn bao gồm từ Bồ Tát, Thanh văn, Duyên giác hướng xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; tất cả chúng sanh chủng tánh của mười pháp giới thảy đều có hạt giống Phật. Ngày nay chúng ta tuy ở cõi người nhưng cũng có giống của địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, thảy đều đầy đủ.

Con người sau khi chết sẽ đi đến cõi nào, việc này không định. Phải xem một niệm khi họ lâm chung, loại hạt giống nào mạnh. Kinh Phật thường nói: “Kẻ mạnh đến trước”. Cái nào mạnh hơn sẽ lôi kéo họ đi thọ báo, cho nên lâm chungđại sự nhân duyên. Phật pháp không nói “sanh tử đại sự” mà là “tử sanh đại sự”. Sanh tử chỉ là một giai đoạn, còn tử sanh là thời gian dài, chết rồi sanh, sanh rồi chết, không hề ngừng dứt. Hai chữ đảo ngược lại có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Sau khi chết, bạn đi đến nơi đâu để thọ thân đó mới là việc lớn. Sanh tử không phải việc lớn, thậm chí chỉ là việc nhỏ. Tử sanh mới là việc lớn, xác định trong bốn chữ: “Thường sử bất tuyệt”. Bốn chữ này làm chủ tể.

Phật chủng” là gì? Kinh Phật nói rất rõ ràng tường tận là “một lòng chuyên niệm A Di Đà Phật”. Bạn chỉ cần có A Di Đà Phật thì bạn liền có hạt giống của Phật. Người Trung Quốc nhà nhà đều thờ Bồ Tát Quán Thế Âm. Bạn có Quán Thế Âm nên có hạt giống của Bồ Tát. Tôi nghe nói ngày trước ở Singapore còn diễn Tế Công Truyện. Trong đầu bạn có một Tế Công thì bạn có hạt giống của A La Hán. Hạt giống của ngạ quỷtham ái, san tham; hạt giống địa ngụcsân hận, thảy đều đầy đủ. Hiện tại trong cuộc sống thường ngày thì loại hạt giống nào thường hiện tiền, mối quan hệ này vô cùng to lớn. Phật dạy tốt nhất “giữ hạt giống Phật”. Chúng ta xây niệm Phật đường vì mỗi ngày phải niệm Phật mười hai tiếng đồng hồ, tức là thực hiện câu nói “hộ Phật chủng tánh thường sử bất tuyệt”. Ở niệm Phật đường ba năm, bạn có thể vỗ ngực sẽ đạt phần vãng sanh. Thời gian ba năm tạo hạt giống nhiều sức mạnh. Nhiều vị trải qua thời gian huân tu lâu dài, tuy có hạt giống Phật nhưng hạt giống này không đủ mạnh.

Hiện nay Lý hội trưởng đang vì mọi người mỗi ngày đều bận rộn, nằm mộng cũng không quên nghĩ đến xây dựng thôn Di Đà. Trong đầu ông chỉ có một thôn Di Đà, ngoài ra không có thứ nào khác. Nhờ Tam Bảo gia trì nên chúng sanh phương này có phước đã tìm một miếng đất lý tưởng mà không ít đồng tu đi xem. Phật Bồ Tát an bày. Vốn dĩ chúng ta nhắm vào tòa nhà bên cạnh nơi đây nhưng Thượng Đế không để chúng ta sử dụng miếng đất của Ngài mà lại xếp đặt cho chúng ta một nơi tốt hơn. Sau này tôi nghe nói người chủ miếng đất mỗi ngày than khóc. Ông là tín đồ Ki Tô nhưng do Thượng Đế an bày nên ông không còn cách nào.

Sau khi xây xong thôn Di Đà, nếu chúng ta thường trụ ở thôn Di Đà thì còn phải nghiên cứu làm cách nào trong kỳ hạn ba năm, thân tâm thế giới thảy đều buông bỏ. Niệm Phật ba năm đích thực đạt năng lực tự tại vãng sanh, muốn đi lúc nào thì đi, muốn ở thêm vài năm cũng không ngại gì, chân thật đạt đến sanh tử tự tại. Chúng ta có thể dời đến các niệm Phật đường khác để niệm Phật, thôn Di Đà được nhường cho người khác nhằm thành tựu thêm một số người.

Tôi khẳng định câu nói này căn cứ vào kinh văn. Bình thường chúng ta công phu niệm Phật không có lực, thường hay gián đoạn, xen tạp. Cách niệm như vậy dù niệm ba trăm năm cũng không đáng tin, đừng nói ba mươi năm. Nhất định phải thảy đều buông bỏ, một lòng một dạ như trong kinh Lăng Nghiêm. Bồ Tát Đại Thế Chí dạy chúng ta phương phápgom nhiếp sáu căn, tịnh niệm liên tục”. Ở thôn Di Đà, trong niệm Phật đường đích thực có thể làm được, đó chính là “hộ Phật chủng tánh thường sử bất tuyệt”; không gián đoạn, không xen tạp. Phật hiệu phải hai mươi bốn giờ không gián đoạn, đem hết thảy tạp niệm, lo lắng, vướng bận đều tiêu hết, đó mới là “hộ Phật chủng tánh”. Chúng ta viễn ly chủng tánh của chín pháp giới khác, chỉ hộ trì Phật chủng tánh.

Cho nên, câu “thậm thâm pháp tạng” chỉ kinh Vô Lượng Thọ. “Hộ Phật chủng tánh” chính là trì danh niệm Phật, ngay trong đời quyết định vãng sanh bất thoái thành Phật, như vậy thù thắng dường nào. Bất cứ pháp môn nào cũng đều không thể so sánh.

HƯNG ĐẠI BI, MẪN HỮU TÌNH, DIỄN TỪ BIỆN, THỌ PHÁP NHÃN, ĐỖ ÁC THÚ, KHAI THIỆN MÔN

Phần trước là tự thành tựu, tự lợi. Tự lợi còn phải lợi tha. Thực tế kinh Phật cũng dạy bảo chúng ta như vậy. Sau khi tự lợi mới có thể lợi tha. Bản thân mình chưa thành tựu mà muốn thành tựu người khác thì kinh Phật thường nói: “Vô hữu thị xứ”, không hề có đạo lý này. Nếu bạn muốn độ chúng sanh, trước tiên bạn phải độ chính mình. Chính mình chưa được độ thì không cách gì độ chúng sanh. Theo tịnh tông, chính mình được độ là đã nắm chắc phần vãng sanh, không cần để ý phẩm vị vãng sanh cao thấp. Nếu một mực chấp trước mình phải vãng sanh phẩm vị cao thì nguyện độ chúng sanh của bạn sẽ không có. Hay nói cách khác, bạn chưa chắc được vãng sanh phẩm vị cao vì bạn có phân biệt, chấp trước, còn hướng vọng cao xa, cho dù bạn có thể vãng sanh nhưng phẩm vị không cao. Ngược lại, với người trong lòng không chút dính mắc, không cầu bất cứ thứ gì, trung thực thành thật niệm A Di Đà Phật đến cùng, thì phẩm vị mới cao, vì họ không phân biệt, chấp trước. Do đây mà biết, chúng ta bình thường tùy duyên hóa độ thì đối với chính mình niệm Phật vãng sanh không có chướng ngại. Không những không chướng ngại mà còn có công đức.

Đại Từ Bồ Tát nói rất hay: “Bạn khuyên hai người niệm Phật thì còn thù thắng hơn chính bạn tu hành”. Nhưng phải ghi nhớ, hai người này thật được vãng sanh mới tính. Không phải ta khuyên người niệm Phật, lôi kéo nhiều người đến nghe kinh, hoặc đến niệm Phật đường niệm Phật, như vậy không tính. Hai người này phải chân thật được vãng sanh. Bạn ở trong một đời giúp hai người thành Phật thì công đức của bạn vô cùng to lớn. Thử nghĩ xem, tương lai bạn vãng sanh hay không? Nhất định sanh Tịnh Độ.

Bạn thấy kinh Vô Lượng Thọ nói rõ, trí tuệ đức năng thần thông của người thế giới Tây Phương Cực Lạc gần giống với Phật A Di Đà. Khi chúng ta sắp vãng sanh họ đều xem thấy. Cho dù chúng ta kém một chút, giải đãi một chút nhưng trong A Lại Da Thức của chúng ta, chủng tính Phật tương đối mạnh, hai người được bạn khuyên sanh thế giới Cực Lạc sẽ mau kéo Phật A Di Đà cùng đến tiếp dẫn. Họ sẽ nói với Phật A Di Đà rằng: “Chúng tôi đến được nơi đây làm Phật đều do họ khuyên. Nay họ sắp lâm chung, chúng ta phải mau tiếp họ”. Đại Từ Bồ Tát nói, nếu bạn có thể khuyên mười mấy người cho đến mấy mươi người chân thật vãng sanh thì phước báu của bạn là vô lượng vô biên. Nếu có thể khuyên được mấy trăm người, mấy ngàn người thì bạn chân thật trở thành Bồ Tát.

Sáu câu kinh dạy chúng ta trong cuộc sống thường ngày tùy duyên tùy phận tiếp dẫn chúng sanh. Phật tương lai sẽ tiếp độ chúng ta nên chúng ta cũng phải tiếp dẫn chúng sanh có duyên. Duyên từ đời quá khứ do họ có thiện căn phước đức, đã từng học tập pháp môn này. Chỉ đáng tiếc họ chưa gặp được duyên nên họ chưa tin tưởngthiện căn không thể hiện tiền. Chúng ta phải khuyên bảo, giúp đỡ họ phát triển thiện căn. Công đức đó rất lớn.

Cho nên điều kiện thứ nhất, bạn phải có lòng “bi”, tức cứu khổ. Cho dù đó là bạn của bạn, quen biết với bạn, họ là đại phú đại quý, không phải kẻ bần tiện thông thường nhưng chúng ta hãy đưa mắt nhìn xa một chút, xem thử ngay đời này hành nghiệp của họ tạo ra có bị đoạ vào ba đường ác hay không? Có vẫn lưu chuyển luân hồi hay không? Nếu như có thì họ rất đáng thương với tiền đồ tối tăm. Bồ Tát liền phát khởi lòng đại từ bi thương xót họ. Phú quý trước mắt chỉ là tạm bợ, tiền đồ tương lai tối tăm, đó là “kẻ đáng thương” mà kinh thường nói. Vậy trước tiên bạn phải nhận biết tường tận, sau đó dùng trí tuệphương tiện khéo léo “diễn từ biện”. “Diễn” là biểu diễn, “biện” là nói rõ để họ xem, đó là chân thật từ bi. “Từ bi” dùng lời hiện tại mà nói là thái độ thương yêu, quan tâm, toàn tâm toàn lực giúp đỡ họ.

Phàm phu tầm nhìn nông cạn, chỉ lo lợi hại trước mắt, còn lợi hại của ngày mai thì không biết, thậm chí lợi hại năm tới càng không cần phải nói. Đồng tu học Phật tầm nhìn phải xa hơn. Chúng ta nghĩ đến đời sau kiếp sau như vậy coi như thông minh hơn những người này rất nhiều. Nhất là đời sau kiếp sau có nhiều con đường phải đi, chúng ta chọn lựa con đường nào thì lại càng chứng tỏ thông minh hơn nữa. Việc chọn lựa chính xác mang đến quả báo thù thắng không gì bằng.

Muốn giúp chúng sanh mê hoặc điên đảo khởi tín xây dựng lòng tin thì chính mình phải biểu diễn bằng cách trở thành tấm gương cho họ xem. Sau khi họ xem, lâu ngày tự nhiên liền giác ngộ. Việc này cần phảilòng nhẫn nại tùy thuộc những chúng sanh mà bạn đang giúp đỡ có căn tánh thế nào. Nếu căn tánh lanh lợi thì sau thời gian ngắn họ giác ngộ. Nếu căn tánh trung hạ thì có thể rất nhiều năm họ mới giác ngộ quay đầu. Một số người phải mất mấy chục năm mới quay đầu. Nếu bạn không nhẫn nại thì làm sao được.

Tôi không phải căn tánh lanh lợi, tôi thuộc về căn tánh trung đẳng. Đại sư Chương Gia là một vị thầy tốt có trí tuệ, có phương pháp đã dạy bảo tôi. Ba năm sau tôi mới quay đầu. Tương đối không dễ dàng. Không phải Ngài vừa dạy thì tôi liền tin tưởng. Có cái tôi tin tưởng nhưng cũng có cái tôi vẫn hoài nghi, không thể hoàn toàn tiếp nhận, nên ba năm mới quay đầu. Đại sư rất nhẫn nại, đã chân thật thị hiện cho tôi xem. Thị hiện thế nào? Ngài thị hiện viên tịch qua đời. Nếu ngài không thị hiện như thế thì e rằng tôi vẫn còn chưa quay đầu. Đại sư đối với tôi rất tốt, rất thương yêu. Tôi cảm ân nên nơi hỏa thiêu ngài, tôi dựng một túp lều nhỏ và ở đó ba ngày ba đêm để tư duy những gì lão sư đã dạy tôi suốt ba năm. Nỗ lực phản tỉnh, tôi mới thể hội được nỗi khổ tâm của Ngài. Nếu Ngài không thị hiện nhập diệt thì chúng ta sẽ không thể nào nỗ lựcphản tỉnh.

Diễn từ biện” là biểu diễn cho bạn xem, thông thường là giảng giải giúp chúng ta đoạn nghi sanh tín. Tôi ở chung với đại sư Chương Gia ba năm sâu sắc thể hội rằng Ngài đang biểu diễn cho tôi xem, làm ra tấm gương để tôi ở ngay nơi đó mà học tập.

Thọ pháp nhãn”, “thọ” là truyền thọ, không phải dùng tay để truyền cho bạn nhận lấy. Thiện tri thức biểu diễn cho chúng ta xem, nói pháp cho chúng ta nghe, chúng ta thoát nhiên đại ngộ, đó chính là “thọ”. Thế gian hiện tại truyền pháp thường viết một bản chứng minh cho pháp quyến: “Tôi là đời thứ…, anh là đời thứ… đều là tổ sư”. Việc này không đáng tin. Người thế gian xem trọng văn bằng, nhưng Phật giáo thì không xem trọng văn bằng mà chỉ xem trọng thật chứng. Bạn đích thực khế nhập cảnh giới thì mới tính. Không vào được cảnh giới thì tấm giấy kia chỉ là giả, nhất là vào thời kỳ mạt pháp hiện tại của chúng ta, văn bằng giả quá nhiều.

Pháp nhãn” chính là ngũ nhãn của Như Lai mà kinh thường nói đến. Vì sao Ngài không nói Phật nhãn? Ở đây chỉ nói giai đoạn của Bồ Tát, không nói thành Phật. Bồ Tátpháp nhãn. Thực tế, Bồ Tát cũng đầy đủ Phật nhãn nhưng thần thông đạo lực kém hơn một bậc so với Phật. Trên kinh Hoa Nghiêm, Như Lai có mười loại nhãn, mười lực bốn vô uý. Kinh Phật cũng nói với chúng ta, Bồ Tátmười lực bốn vô uý, nhưng năng lực của Bồ tát không hề viên mãn như Phật, huống hồ Pháp Thân Đại Sĩ Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát, phá một phẩm vô minh chứng một phần pháp thân, trí tuệ công đức thần thông trên quả địa Như Lai họ đều đầy đủ.

Đắc pháp nhãn” là minh tâm kiến tánh, được pháp thân thanh tịnh. Chúng ta thường nói “chứng được pháp thân thanh tịnh”, trí tuệ hiện tiền. Đối với tất cả thế xuất thế gian pháp, chân vọng, tà chánh, phải quấy, thiện ác, lợi hại, họ đều có năng lực phân biệt rất nhanh, không cần suy nghĩ, vừa tiếp xúc thì liền thấu hiểu, gọi là pháp nhãn. Dùng lời hiện tại mà nói thì “thọ pháp nhãn” là truyền thọ trí tuệ cao độ. Hai câu “Hưng đại bi, mẫn hữu tình” chỉ động cơ giúp người, “diễn từ biện” là phương pháp giúp người, “thọ pháp nhãn” là nâng cao cảnh giới của người. Còn hai câu sau mục đích giúp người nhận hiệu quả.

Ác thú” ở đây không chỉ ba đường ác, mà Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát cũng đều là ác thú, vì sao? Chưa kiến tánh. Tiêu chuẩn định ở “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”, đó mới là thiện môn. Tiêu chuẩn chỗ này không phải là tiêu chuẩn thông thường. Tịnh tôngpháp môn ngay đời thành tựu, còn Mật tông cũng nói “tức thân thành Phật”. Không sai. Thế nhưng “tức thân thành Phật” của họ là thành Phật ở đẳng cấp nào và niệm Phật của Tịnh Độ tông, niệm Phật vãng sanh bất thoái thành Phậtthành Phật ở đẳng cấp nào? Chúng ta cần phân biệt rõ.

Trong Văn Sao của pháp sư Ấn Quang nói, đối với tu học chứng quả của Mật tông, “Tức thân thành Phật” gọi là Tạng Giáo Phật, chính là A La Hán của tiểu thừa. Địa vị này còn kém xa so với “minh tâm kiến tánh” của Thiền tông. “Minh tâm kiến tánh” của Thiền tôngđịa vị Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát. Phật trong Mật tông thành tựu, Thiên Thai Giáo gọi là Tạng Giáo, Hiền Thủ Giáo gọi là Tiểu giáo, chưa ra khỏi mười pháp giới. Họ tuy có năng lực siêu việt tam giới nhưng không có năng lực siêu việt mười pháp giới, tức vô minh chưa đoạn, chỉ đoạn kiếnphiền não mà thôi. Đó là thành tựu rất thù thắng, nhưng họ chân thậtthể đạt đến được cảnh giới này hay không mới là vấn đề.

Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ là Kim Cang Thượng Sư của Mật tông, cũng là A Xà Lê của Mật tông. Ông là con người thành thật, không nói lời giả dối. Ông nói, học Mật phải thành tựu trong Mật, điều này ngày nay gần như không thể. Ông khẳng định, học Mật tông thành tựu, hiện tạithế gian này đã không có người nào cho nên ông khuyên niệm Phật.

Ngày trước lão pháp sư Đàm Hư nói, ở thời đại ngày nay, tham thiền cũng không thể thành tựu. Lão pháp sư là người của nửa thế kỷ trước, sống rất thọ, hơn chín mươi tuổi vãng sanh. Ngài nói với mọi người rất nhiều rằng, cả đời Ngài qua lại mật thiết với đại đức của thiền tông; người “minh tâm kiến tánh” không chỉ cả đời ông chưa từng thấy qua mà nghe cũng chưa nghe qua.

Thiền tông nếu khôngminh tâm kiến tánh” thì xem như không thành tựu, vì không ra khỏi sáu cõi luân hồi. Đó là lời khẳng định của lão pháp sư Đàm Hư. Ông đã thấy qua tham thiền được định. “Được thiền định” đã không dễ dàng, chân thật tham thiền được định có thể sanh trời sắc giới, còn tùy thuộc vào mức độ thiền định công phu sâu cạn mà sanh đến sắc giới sơ thiền, nhị thiền, tam thiền. Việc này lão pháp sư đã thấy qua. Dù sanh đến trời Tứ Thiền, Tứ Không Thiên cũng không thể sánh bằng thế giới Tây Phương Cực Lạc, cõi Phàm Thánh Đồng Cư hạ hạ phẩm vãng sanh.

Chúng ta có thể nói rõ ràng tường tận những đạo lý này làm cho người phát tâm tu học Phật pháp hiểu rõ giác ngộ. Đây gọi là “thọ pháp nhãn”. Họ nhận biết, chọn lựa kinh Vô Lượng Thọ, chọn pháp môn niệm Phật, kiên định một dạ quyết không nghi hoặc, như vậy bạn chân thật đem pháp nhãn truyền cho họ. Sau đó, đường ác tự nhiên đóng bít. Không những họ sẽ không đọa vào đường ác, mà còn không luân hồi trong sáu cõi, cũng không bằng lòng ở mười pháp giới. Nhất định phải siêu việt. Siêu việt quá khó, niệm Phật dễ dàng, cho nên trong vô lượng pháp môn, gọi là tám vạn bốn ngàn pháp môn, con số này là thật. Bạn xem trong Giáo Thừa Pháp Số hoặc Phật Học Học Đại Từ Điển, thì bạn chỉ chọn lựa pháp môn niệm Phật. Nếu khôngpháp nhãn chân thật thì dù bày ra trước mắt bạn cũng sẽ để lỡ mất. “Ác thú” ở chỗ này hàm chứa ý nghĩa rất rộng.

Khai thiện môn”, ý nghĩa của “thiện môn” cũng rộng, không phải ba đường thiện, không phải cõi thiện của trời người mà là đường đến thành Phật, hơn nữa đó là cứu cánh viên mãn Phật, Phật quả của Viên Giáo. Không luận Thiên Thai tông, Hiền Thủ tông, quả vị cứu cánh chỉ có pháp môn niệm Phật mới chân thật là thiện môn. Khi tiếp dẫn người sơ cơ, chúng ta nhất định phải tỉ mỉ quan sát căn tánh của họ. Các vị đồng tu học giảng kinh đều từng nghe tôi nói qua ba lần quán cơ. Nếu người sơ học chưa tiếp xúc Phật pháp, chúng ta dùng Phật pháp sơ cạn để giúp họ tiếp nhận. Pháp tạng thậm thâm không phải vừa mở đầu thì họ có thể tiếp nhận ngay.

Tôi tiếp nhận pháp môn Tịnh Độ sau khi học Phật bảy năm, không phải dễ dàng. Lão sưtrí tuệ, có phương pháp, kinh Phật thường nói “phương tiện khéo léo”, có thể hiểu được làm thế nào để dẫn dắt. Khi tôi còn trẻ ưa thích đọc sách, ưa thích học vấn nên tiếp xúc Phật môn. Lão sư tuy biết niệm Phật rất tốt nhưng nếu ông dạy tôi pháp môn này thì e rằng tôi liền lắc đầu bỏ đi, không đến học Phật nữa, vì đối với lý luận, phương pháp, cảnh giới, tôi không hề biết chút gì. Bạn có cố nói, tôi cũng hoài nghi, hoặc sẽ còn một tràng nghịch lý để tranh luận với bạn, rất phiền phức. Lão sư cao minh đã thuận theo thị hiếu của tôi để dạy tôi. Tôi thích nghiên cứu, lão sư để tôi nghiên cứu, nhưng dần dần từng bước từ trong kinh luận đại tiểu thừa, Ngài dẫn tôi vào Tịnh Độ. Phương pháp này rất cao minh. Thầy đã dùng những phương pháp vòng vèo quanh co, dẫn dắt tôi đi đến đúng con đường, sau đó mới phát hiện pháp môn này cao.

Ban đầu tôi mới học Phật, tiên sinh Đông Phương Mỹ dạy tôi đem Phật pháp xem thành triết học. Phật pháp có mười tông phái. Tánh tông, Tướng tông giảng đạochúng ta cảm thấy tốt, đó là triết học. Còn Tịnh Độ tông, Mật tôngmê tín nên không thèm xem qua kinh điển. Về sau tôi mới hiểu. Xin nói với các vị, khi tôi giảng kinh Hoa Nghiêm mới phát hiện. Trên hội Hoa Nghiêm từ Văn Thù, Phổ Hiền, bốn mươi mốt vị pháp thân đại sĩ thảy đều niệm Phật cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc. Việc này làm tôi giật thót cả người vì tôi không hề nghĩ đến. Chúng ta tôn kính nhất là Bồ Tát Phổ Hiền, Ngài đại biểu trí tuệ đệ nhất (Triết học chính là cầu trí tuệ), thế mà ngài niệm Phật cầu vãng sanh, vậy chúng ta còn dám nói vãng sanh là sai, là mê tín hay không? Nếu niệm Phật không phải là pháp môn chân thật thù thắng đệ nhất thì Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền tuyệt đối sẽ không tu theo. Quán Âm, Thế Chí lại càng không cần phải nói vì các Ngài đã là người của thế giới Tây Phương Cực Lạc. Xem qua những vị đại Bồ Tát, không vị nào không ở thế giới Cực Lạc, cũng không có vị nào không quan hệ mật thiết với A Di Đà Phật. Như vậy chúng ta mới nhận thức Tịnh Độchân thật quay đầu.

Khai thiện môn” ý nói Tây Phương Tịnh Độ. Tất cả pháp môn đại thừa khác đều giáng xuống thấp nhưng không chủ ý. Việc giáng thấp này là từ trên căn tánh chính chúng ta mà nói. Kinh Phật có câu “pháp môn bình đẳng, không cao thấp”, thế nhưng những pháp môn này thực tế chúng ta không cách gì học được.

Thành thật mà nói, căn tánh của tôi còn mạnh hơn thầy tôi một chút. Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam nhận biết pháp môn này khó khăn hơn tôi. Thầy vẫn học thiền, học mật, học giáo tốn rất nhiều thời gian để học qua nhiều thứ. Đến sau cùng gặp pháp sư Ấn Quang, bị lão pháp sư quở mắng mới chịu buông bỏquay về Tịnh Độ. Thầy thường nói với chúng tôi, chí ít thầy đã lãng phí thời gian hai mươi năm. Còn thời gian tôi lãng phí mới bảy năm nên căn tánh của tôi mạnh hơn thầy một chút. Cá nhân căn tánh không như nhau nên quay đầu sớm trễ. Chúng ta tiếp xúc quần chúng rộng lớn nhất định phải có lòng nhẫn nại. Có trí tuệ cũng phải có phương tiện.

(Còn tiếp ...)

KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC

Pháp sư: HT. TỊNH KHÔNG

Biên dịch: Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: PT. Giác Minh Duyên

 

Tạo bài viết
14/06/2010(Xem: 41232)
Người con Phật nghĩ gì về án tử hình? Đứng về phương diện cá nhân, rất minh bạch rằng không Phật tử nào ủng hộ án tử hình. Đứng về phương diện quốc gia, thực tế là rất nhiều quốc gia -- nơi Phật giáo gần như quốc giáo, như Thái Lan, Miến Điện, Sri Lanka… -- vẫn duy trì và thực hiện án tử hình.
Vừa qua, được sự ủy nghiệm của Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới từ ngày 08 tháng 7 đến 15 tháng 7 năm 2018 tại Như Lai Thiền Tự, San Diego đã trang nghiêm tổ chức khóa An Cư Kiết Hạ 2018 với gần 200 Chư Tôn Đức Tăng –Ni đến từ các truyền thống Phật giáo trở về cấm túc an cư tu học.
Chùa Hương Sen hôm cuối tuần đã nhận một món quà tặng quý giá: 120 thùng sách Phật học. Đó là toàn bộ thư viện Phật học của Cư sĩ Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả lưu giữ trong nhiều thập niên tu học, hoạt động.