Quyển 1

01/06/201012:00 SA(Xem: 4734)
Quyển 1

LUẬN KINH KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT 
PHÁ THỦ TRƯỚC BẤT HOẠI GIẢ DANH

Tập 25, Thích Kinh Luận Bộ ,số 1515 , 2 quyền, Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Phá Thủ Trước Bất Hoại Giả Danh Luận, Công Đức Thi Bồ Tát tạo Đường Địa Bà Ha La đẳng dịch, Nguyên Huệ Việt dịch

 

QUYỂN 1

 

Kính lạy bậc Giác ngộ pháp thật
Lìa các phân biệt cùng hý luận
Muốn khiến thế gian rời bùn lầy
Trong không ngôn thuyết, hành ngôn thuyết.
Chỗ tạo của hết thảy dị đạo
Không thể trừ bỏ các tưởng kiến
Kim cương đoạn trừ mọi tưởng kiến
Nên con tâm quy pháp môn ấy.
Nghĩa bí mật trong các câu nghĩa
Trí tuệ thế gian không thể xét
Mở dẫn chúng con và quần sinh
Chúng Bồ-tát kia nay kính lễ.

Giáo pháp do Phật thuyết giảng đều quy về 2 Đế:

1. Tục đế.

2. Chân đế.

+ Tục đế: Nghĩa là các phàm phu, Thanh-văn, Độc-giác, Bồ-tát, Như Lai, cho đến danh nghĩa, trí cảnh, nghiệp quả liên hệ.

+ Chân đế: Tức ở nơi ấy đều không có thủ đắc. Như nói đệ nhất nghĩa, không phải là đối tượng hành của trí, huống chi là văn tự. Cho đến không nghiệp, không quả của nghiệp, là tánh của các Thánh chủng. Thế nên, trong Bát-nhã Ba-la-mật nầy đã nói bố thí không trụ. Tất cả pháp không tướng, không thể giữ lấy, không thể nêu bày. Sinh, pháp vô ngã, không đối tượng để thủ đắc, không chủ thể chứng, không thành tựu, không đến, không đi v.v… Đây là giải thích về Chân đế.

Lại nói nội, ngoại, thế gian, xuất thế gian, tất cả pháp tướng cùng các công đức, đây là kiến lập Tục đế, nên biết như thế.

+ Tôi nghe như vầy: Tức hiển bày kinh nầy là do Đức Thế Tôn hiện giác diễn nói, không phải là tự tạo ra.

+ Một thời: Là nói về thời gian thuyết giảng kinh nầy. Thời gian khác lại thuyết giảng vô lượng kinh. Nơi chốn thuyết giảng là tại thành Xá-vệ v.v…, là biện giải về xứ có ý nghĩa gì, đã đem lại lợi ích cho chúng sinh. Lợi ích như thế nào? Tức nhận biết địa phương ấy, Đức Phật đã từng du hóa, cư ngụ, tâm tịnh tôn kính, gieo trồng nhân phước.

Nơi phần đầu của tất cả kinh đều nêu ra đủ, là hiển bày uy đức lớn của Đức Như Lai. Lại, người kết tập kinh đã chứng nhận về sự truyền thừa không khác với pháp đã nêu giảng. Trong các kinh Đại thừa đã nói rộng về công đức của Đức Thế Tôn, Bồ-tát. Tôn giả Tu-bồ-đề đối với chư vị ấy đã sinh tịnh tín, thế nên nói là hy hữu v.v…

Ở đây:

+ Thế Tôn: Nghĩa là có thể dứt trừ hết bốn thứ ma sợ hãi.

+ Thiện Thệ: là nơi đệ nhất nghĩa, hết thảy pháp đều không thủ đắc, đều tự chứng biết.

+ Như Lai: Là nơi ba vô số kiếp, phước trí viên mãn, như thế mà đi đến (Lai) thành tựu chánh giác.

+ Ứng: Tức các phiền não oán đều đã vĩnh viễn loại trừ.

+ Chánh: Là nghĩa không điên đảo.

+ Đẳng: Là nghĩa hiện khắp cùng đầy đủ, nên gọi là Chánh đẳng giác.

Hộ niệm có hai loại: Như Lai thâu nhận khiến tỏ ngộ, là hộ niệm chân thật. Lại khiến chuyển hóa vô lượng chúng sinh, là hộ niệm bậc nhất. Đã biết về hộ niệm, còn phó chúc là gì? Vì có trường hợp chưa thể thấy được chân thật. Đây cũng có hai loại: Các Bồ-tát kia, nơi khắp thế gian, sẽ thành tựu thể tướng độc tôn của Như Lai. Như thế là khen ngợi, giao phó cho thiện tri thức, khiến họ xem xét, giúp đỡ, khiến người đã sinh trụ pháp Phật cùng là phó chúc tăng trưởng vì người chưa sinh thắng pháp giao phó khiến sinh, là phó chúc bậc nhất. Lại do nhân gì xả bỏ kiến chấp về nẻo chân, khen ngợi trường hợp chưa có kiến chấp. Là vì thương xót chư vị ấy chưa đạt được phẩm thiện của trí thù thắng, nên khuyên dẫn tâm kia khiến tinh tấn, dũng mãnh.

+ Thiện nam, thiện nữ phát khởi thừa Bồ-tát v.v…: Nghĩa là hộ niệm phó chúc các Bồ-tát hướng đến Phật thừa, nên làm thế nào để trụ v.v…

+ Làm thế nào để trụ?: Là đối với quả tướng nào, tâm trụ nguyện cầu.

+ Làm thế nào để tu hành?: Là nên tu tập hành nào để được quả ấy.

+ Làm thế nào để hàng phục tâm mình?: Là hàng phục những tâm nào khiến nhân đấy thanh tịnh.

Các pháp là nhân trước quả sau, do đâu trước nói quả? Tức trước là khen ngợi đức của quả, khiến người nghe vui thích mong cầu mà tu nhân.

+ Lắng nghe: Là tâm chuyên vào một cảnh.

+ Thiện: Là ở nơi nghĩa như lý sinh tin tưởng, không nghi.

+ Tư niệm (nhớ nghĩ): Là kính giữ không quên.

+ Nên trụ như thế v.v…: Là như thứ lớp đó, nơi quả như thế mà tâm được trụ. Tu hành như thế tất chứng quả kia. Hàng phục tâm như thế, tức nhân thanh tịnh.

Ở đây, hiển bày về quả của Bồ-tát có bốn thứ tâm tương ưng với lợi ích. Những gì là bốn? Đó là:

1. Vô biên.

2. Tối thượng.

3. Ái nhiếp.

4. Chánh trí.

+ Thế nào là tâm vô biên? Kinh viết: Tất cả loài chúng sinh hiện có v.v…

Nói loài chúng sinh: Nghĩa là nhận lấy hơi thở, sự sống, gồm cả tình, giác. Đây lại là thế nào? Tức loài sinh từ trứng: như chim chóc v.v… Loài sinh từ thai: như con người v.v… Loài sinh từ nơi ẩm ướt: như các thứ côn trùng v.v… Loài sinh do biến hóa: như chư Thiên v.v… Bốn thứ như vậy đều có nhiều tộc loại.

Các chúng sinh nầy, trụ nơi xứ nào, dùng gì làm thể? Kinh viết: Hoặc có sắc, hoặc không sắc.

Có sắc: Nghĩa là có hình tướng.

Không sắc: Là không có hình tướng. Chúng sinh nơi ba cõi, ở đây đều gồm thâu hết.

hình tướng: Là cõi Dục có hai mươi xứ nương dựa. Cõi Sắc có mười bảy xứ nương dựa.

Không có hình tướng: Tức là cõi Vô sắc.

Đây lại có bao nhiêu thứ? Kinh viết: Hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc phi tưởng phi không tưởng.

Có tưởng: Nghĩa là xứ không vô biên, xứ thức vô biên, khởi tưởng không, tưởng thức.

Không tưởng: Là xứ vô sở hữu, lìa ít tưởng, nên gọi là không tưởng.

Phi có tưởng phi không tưởng: Tức là thuộc cõi Hữu đảnh.

+ Số lượng chúng sinh như thế, tất cả Ta đều thâu nhận.

+ Thế nào là tâm tối thượng? Kinh viết: Ta đều khiến nhập nơi Niết-bàn vô dưđược giải thoát.

Niết-bàn vô dư: Nghĩa là thấu tỏ các pháp là tánh không, không sinh. Vĩnh viễn dứt hết mọi hoạn nạn nơi các uẩn. Vật dụng vô biên, công đức hy hữu, sắc tướng thanh tịnh, trang nghiêm viên mãn, lợi rộng muôn loài, nghiệp diệu vô tận.

+ Thế nào là tâm ái nhiếp? Kinh viết: Giải thoát cho vô lượng chúng sinh như thế, mà thật khôngchúng sinh nào được giải thoát. Đây là nghĩa thế nào? Là Bồ-tát thương yêu tất cả chúng sinh, đồng nơi thân mình, nên chúng sinh giải thoát tức là mình, không khác. Đó gọi là ái nhiếp. Nếu là các Bồ-tát nhập nơi Địa thứ nhất của đệ nhất nghĩa không có tưởng về chúng sinh, do chúng sinh không thể thủ đắc. Như người Dự lưu không khởi thân kiến, Bồ-tát kia không thấy một chúng sinh nào là đối tượng được hóa độ.

+ Thế nào là tâm chánh trí? Kinh viết: Nếu có tưởng chúng sinh, tức không gọi là Bồ-tát.

Gọi là những gì? Đó là phàm phu. Vì sao? Vì do mê lầm nơi đệ nhất nghĩa, khởi các tưởng ngã, tưởng chúng sinh, tưởng mạng, tưởng thủ giả. Nếu chứng đắc đệ nhất nghĩa chân thật, thì các tưởng như chúng sinh v.v… quyết định không sinh. Ở đây, do diệu lực của Bát-nhã nên chứng đắc đệ nhất nghĩa, hết thảy chúng sinh đều không thể đạt được. Do tâm đại bi nên thường gắn bó với chúng sinh, ở nơi sinh tử, tùy thuận hóa độ, dẫn dắt. Bốn thứ như thế là quả tạo lợi ích cho chúng sinh, nên dùng tục đế để khiến tâm trụ. Bốn thứ tâm đó là nhân của quả viên mãn, phần tiếp theo nên hiển bày. Do đấy kinh viết: Lại nữa, nầy Tu-bồ-đề! Bồ-tát không trụ nơi sự để hành bố thí v.v…:

Trong tên gọi bố thí nầy gồm đủ 6 Ba-la-mật. Thí có 3 loại thâu giữ nơi 6. Những gì là 3?

1. Tư sinh thí (Tài thí).

2. Vô úy thí.

3. Pháp thí.

Ở đây, Tư sinh thí gồm thâu Bố thí Ba-la-mật. Vô úy thí gồm thâu 2 Ba-la-mật là Trì giớiNhẫn nhục. Đối với việc ác đã làm, chưa làm cho mình đều không sợ hãi. Pháp thí gồm thâu 3 Ba-la-mật còn lại. Tinh tấn không mệt mỏi dẫn phát các thần thông. Như không thủ đắc, vì người giảng nói. Hoặc tất cả các Ba-la-mật kia, vì kẻ khác mở bày, diễn giảng, đều thành pháp thí. Sự v.v… là những gì? Thế nào là không trụ nơi sự? Tức tự thân, thân nầy luôn có vô số sự việc như khổ vui v.v…

+ Không trụ: Nghĩa là ở trong đó, tâm không tham ái, vướng mắc.

+ Không chỗ trụ: Là không mong cầu báo ân.

+ Không trụ nơi sắc v.v…: Là tâm không mong cầu các cảnh vừa ý. Lại do nghĩa nào nên không trụ nơi chúng? Do tâm giữ nơi mình, không thể hành tuệ thí. Nếu có mong cầu khác thì thoái mất Bồ-đề.

Lại nữa, không trụ nơi sự là dựa nơi tư sinh thí mà nói. Nghĩa là người bố thí, đối với các vật thí như của cải v.v… không nên ái chấp. Ái mà hành thí, tâm tất sinh khổ. Hoặc sau khi thí, trở lại hối tiếc.

Không chỗ trụ: Là dựa nơi vô úy thí mà nói. Tức các Bồ-tát, lúc tu tập về giới, nhẫn, không nên sinh tâm cầu quả báo.

Không trụ nơi sắc v.v…: Là dựa nơi pháp thí mà nói. Pháp thí có hai quả: Là hiện đời, đời khác. Ở trong hai thứ quả ấy không nên tham chấp. Quả của hiện đời: Là những vật dụng nơi năm cảnh như sắc v.v… Đây lại là thế nào? Người thuyết giảng pháp, được nhiều người kính ngưỡng, nên dùng các thứ sắc diệu v.v… như hương hoa, kỹ nhạc, thức ăn uống, y phục cúng dường. Quả của đời khác: Là dựa nơi cảnh của pháp mà nói.

Vì sao trong ấy cũng không trụ? Nếu các Bồ-tát, lúc chứng đắc chân thật, cho đến Pháp thân cũng không thủ đắc.

Thế nào là tu hành sáu Ba-la-mật là nhân đạt được thanh tịnh? Kinh viết: Nầy Tu-bồ-đề! Bồ-tát nên bố thí như thế: Không trụ nơi tưởng, tướng v.v… Nghĩa ấy là thế nào? Tức là các Bồ-tát, ở trong đệ nhất nghĩa, người thí, kẻ nhận, cùng vật dùng để thí, các tưởng về danh, nghĩa, trí, cảnh không sinh khởi, tức là nhân hàng phục tâm khiến thanh tịnh. Hoặc cho, có bố thí v.v…, tức có thể sinh nhóm (số lượng) phước. Ba sự đều quên thì phước ở đâu mà có? Đây là nói về đệ nhất nghĩa, nên không trụ nơi tưởng. Theo tục đế nên hành thí, nhóm phước như thế là khó có thể lường tính, như hư không trong mười phương rộng khắp, vô tận. Trước nhân nơi xứ hành thí, nên tán thán về phước ấy. Ở đây nói, là làm sao hàng phục nơi tâm? Tức các tưởng không sinh. Không sinh tưởng thì hành thí mới thanh tịnh. Do nhân thanh tịnh, nên phước là vô biên.

* Từ đây trở xuống, tất cả phần Hỏi – Đáp của kinh là nhằm trừ bỏ nghi. Thọ trì chánh pháp đạt phước đức, uy lực. Uy lực nầy thành tựu tất cả pháp tu tập. Tu hành tự nhiên đạt quả, nhân nơi tướng thanh tịnh. Tánh Như Lai tạng của tất cả chúng sinhcảnh giới Phật, thấy Pháp thân Phật nơi tướng pháp giới. Không trụ nơi Niết-bàn, quán xét hữu vi. Đức Thế Tôn thuyết giảng rồi, Thánh giả Tu-bồ-đề nghi, nêu: Nếu Bồ-tát lúc bố thí, pháp cũng không trụ, thì vì sao do cầu đạt tướng tốt nên hành bố thí? Pháp công đức tích tụ như trăm phước tướng, gọi là Thế Tôn? Nếu không trụ nơi pháp thì làm sao thành tựu được thể tướng của chư Phật?

Vì nhằm trừ bỏ nghi vấn ấy, kinh viết: Nầy Tu-bồ-đề! Ý của Tôn giả thế nào? Có thể dùng tướng thành tựu để thấy Như Lai chăng? Không thể, bạch Đức Thế Tôn! v.v…

+ Tướng thành tựu: Là vô thường. Như kinh nói: Phàm các tướng hiện có đều là hư vọng. Các tướng phi tướng, tức phi hư vọng.

+ Phi hư vọng: Đó là chân thật. Do chân thật nên gọi là Như Lai. Các tướng nếu giữ lấy là hư dối. Như kinh nói: Nên dùng các tướng phi tướng mà thấy Như Lai. Tức tướng nêu cầu không thủ đắc. Nếu có thể xa lìa sự mong cầu các quả, cho đến Pháp thân cũng không thủ đắc. Luôn hành thí không trụ như thế, tức đối với Phật thân mau chóng thành tựu viên mãn.

* Thánh giả Tu-bồ-đề lại nghi, nêu: Nếu ba thứ thí đều không thủ đắc là nhân thanh tịnh, rõ tướng tánh không là quả chân thật, thì ở trong đời sau, ai là người vui thích tin tưởng? Chỉ nói toàn là không thì đồng nơi Thạch nữ, do đó đã thưa hỏi: Từng có chúng sinh, nơi đời vị lai, năm mươi năm sau, lúc pháp sắp diệt, nghe kinh nầy, sinh khởi tưởng thật chăng?

Vì nhằm dứt trừ nghi vấn ấy, kinh nêu: Nầy Tu-bồ-đề! Chớ nên nói như thế! v.v…

+ Năm mươi năm sau: Thọ mạng của con người là một trăm tuổi, chia làm hai phần: Phần đầu năm mươi, giáo lực tăng mạnh. Phần sau thì suy giảm dần. Phật Bát-Niết-bàn rồi, gọi là đời vị lai, ở đây, chánh pháp lúc sắp diệt, giáo lực giảm yếu, do đó nói là năm mươi năm sau.

Bồ-tát Ma-ha-tát, nghĩa ấy thế nào? Ở nơi xứ Bồ-đề, có tâm quyết định là Bồ-tát. Đối với tất cả chúng sinh thệ nguyện khởi tạo lợi ích, là Ma-ha-tát.

+ Thế nào lại gọi là có Thi-la (Giới)? Trong đời quá khứ, gặp vô lượng Phật, đều cúng dường. Cúng dường có 3 thứ:

1. Gần gũi hầu cận.

2. Bày biện đầy đủ các vật cần dùng.

3. Tuân hành pháp yếu.

Có thể giữ gìn nên gọi là Thi-la. Nghĩa là có thể khéo giữ sáu căn. Thi-la lại có 3:

1. Thi-la có thể lìa: Lìa nơi mười nghiệp bất thiện.

2. Thi-la có thể tạo tác: Tác nghiệp nơi Bồ-đề phần.

3. Thi-la có thể hướng tới: Hướng tới nơi đệ nhất nghĩa đế.

+ Thế nào lại gọi là có công đức? Gieo trồng ba thiện căn như không tham v.v… Ngay thẳng, hòa dịu, cùng có đủ trí, bi, đó gọi là công đức.

+ Thế nào lại gọi là có trí tuệ? Nhận biết rõ về sinh, pháp, hai thứ đều vô ngã. Nhận biết rõ như thế, lìa nơi tám tưởng sinh pháp, mỗi thứ đều có bốn thứ tưởng.

+ Lìa tưởng sinh: Kinh nói: Các Bồ-tát ấy không có các tưởng ngã, tưởng chúng sinh, tưởng mạng, tưởng thủ giả. Nghĩa nầy là thế nào? Có dụng của chủ tể gọi là ngã. Quán đúng thực về các uẩn không có thể tướng kia. Tưởng vô ngã an trụ nơi tánh thường gọi là chúng sinh. Các uẩn vô thường nối tiếp lưu chuyển, không có một pháp nào là tánh an trụ, nên không có tưởng chúng sinh. Như có kinh nói: Ông nay trong từng sát-na, cũng sinh, cũng già, cũng chết, nên không có tưởng mạng. Các uẩn tuần hoàn, thọ nhận các nẻo khác, gọi là “Thủ giả”. Ở đây, không có người có thể nhận lấy các nẻo, xả bỏ hiện uẩn, thọ nhận uẩn sau, như bỏ áo cũ, mặc lấy áo mới. Nhưng dựa nơi tục đế, ví như nhân nơi vật thật mà hiện ra hình tượng vật thật không đến hình tượng mà có hình tượng hiện bày. Do uẩn trước nêu uẩn sau tiếp tục sinh. Trước không đến sau mà sau nối tiếp. Do đó Bồ-tát không có tưởng thủ giả. Đây nghĩa là nhận biết rõ tánh của sinh là vô ngã.

+ Lìa tưởng pháp: Kinh viết: Không có tưởng pháp, cũng không có tưởng phi pháp. Không tưởng cũng không phi tưởng. Đây lại là thế nào? Pháp của đệ nhất nghĩa vốn không sinh, nên không có tưởng pháp. Do không sinh nên cũng không có diệt, nên không có tưởng phi pháp. Lìa phân biệt pháp, phi pháp nên không tưởng. Đây nói không tưởng chính là hiển bày tưởng không, chẳng phải cho là có pháp mà gọi là phi tưởng.

Lại nữa, tuy nơi đệ nhất nghĩa lìa tất cả tưởng, nhưng tùy theo ngôn ngữ của thế gian mà nói về tưởng. Thế nên Bồ-tát cũng không phi tưởng. Đây nghĩa là nhận biết rõ tánh của pháp là vô ngã.

Vì sao chỉ nói có trì giới gieo trồng thiện như Thi-la v.v…? Vì có thể dấy khởi trí tuệ tin sâu, thấy sinh đúng nơi tưởng thật. Hết thảy công đức cùng được gồm thâu ở đây. Lại do nghĩa gì nói là thấy biết? Vì điều ấy khiến các Bồ-tát tâm dũng mãnh, gắng sức. Nói như vầy: Ta nay tin hiểu chỗ thấy biết của Như Lai, nên lại chuyên cần tu các pháp thiện. Do đâu hai thứ thấy, biết cùng được nói đến? Vì muốn mở bày rõ về Nhất thiết trí. Đây lại là thế nào? Nhất thiết trí ấy, nơi các cảnh giới đều hiện nhận biết rõ ràng, không phải như tỷ trí thấy khói nhận biết có lửa, không thể soi chiếu rõ về các tướng có sai biệt. Cũng không phải như nhục nhãn, chỉ thấy các vật thô, gần, chướng vi tế, xứ xa thì không thể nhận biết, chỉ theo đấy nói đồng hoặc như đấy. Nếu các Bồ-tát dấy khởi các tưởng như ngã v.v…, cùng các tưởng như pháp v.v… thì có lỗi lầm gì? Tức nhân đấy sinh các chấp như ngã v.v…

Thế nào là các tưởng như ngã, sinh khởi các chấp như ngã v.v…? Tức nếu sinh chấp ấy là do có tưởng kia.

Thế nào là các tưởng như pháp v.v…, sinh khởi các chấp như ngã v.v…? Tức ngã, ngã sở trong uẩn dấy khởi tưởng pháp, phi pháp, chẳng phải ở nơi cây cõi v.v… của vô ngã. Kinh nói: Không nên giữ lấy pháp, không nên giữ lấy phi pháp. Nghĩa ấy là thế nào? Là xả bỏ hai biên. Pháp có tánh tướng hãy còn không nên giữ lấy, huống chi là phi pháp vốn không có tánh tướng.

Lại nữa, không phân biệt: Là thiện, như pháp hãy còn không giữ lấy, huống hồ là bất thiện, phi pháp. Hoặc suy nghĩ: Bất thiện thì không nên giữ lấy, do đâu không giữ lấy thiện? Nếu pháp cũng không giữ lấy, thì vì sao Đức Phật trong ba vô số kiếp đã tích tập tư lương? Do đấy, kinh viết: Do nghĩa ấy, nên Như Lai thường nói dụ như chiếc bè, pháp hãy còn nên bỏ, huống chi là phi pháp. Nghĩa nầy là thế nào?

Như muốn qua sông, trước nên dùng bè, đến bờ bên kia rồi, thì bỏ bè mà đi. Đức Thế Tôn cũng vậy. Muốn vượt qua dòng chảy khổ, phải nhờ vào bè tư lương, vượt khỏi tất cả quả lên bờ Niết-bàn, nhân lạc hãy còn lìa, huống chi là nhân khổ. Như Kinh Tượng Hiếp nói: Nếu ra khỏi sinh tử, chứng đắc cảnh giới Niết-bàn, thì nhân của quả ái, phi ái, nhân của pháp, phi pháp, tất cả đều bỏ.

* Lại nữa, nghi nêu: Nếu lúc chứng đắc, pháp - phi pháp đều bỏ, thì do đâu Đức Thế Tôn, dùng một niệm tương ưng với chánh trí, hiện giác các pháp, để thuyết giảng?

Vì nhằm dứt trừ nghi vấn ấy, kinh nói: Nầy Tu-bồ-đề! Ý của Tôn giả thế nào? Như Laichứng đắc đạo quả Chánh đẳng giác vô thượng chăng? Như Laithuyết pháp chăng? v.v…

Đây là biện minh về nghĩa gì? Tức hiển bày Đức Thế Tôn chứng đắc nơi chân thật, không pháp có thể giữ lấy.

+ Nói các pháp: Là thuận theo danh, ngôn của thế tục, không phải là đệ nhất nghĩa. Nếu pháp, phi pháp đều không giữ lấy, tức dựa nơi Tục đế mà nói, gọi là Bồ-đề không có vật thật. Như nói: Đại Phạm! Chư Phật, Như Lai chứng đắc Bồ-đề, nghĩa là “Vô sở đắc”. Nếu là “Vô sở đắc” thì vì sao Đức Thế Tôn có các thứ sự việc thuận theo? Bản nguyện của Như Lai là đem lại lợi ích cho khắp quần sinh: Ta thành Chánh giác, lìa các phân biệt, không do tác ý, cho đến chúng sinh, sinh tử chưa đoạn hết, tùy theo chủng loại, ham muốn vui thích chẳng đồng, hình tướng ngôn ngữ sai biệt, đều ứng hiện. Nơi tánh của các pháp đều vô sở đắc, là chứng đắc Bồ-đề cũng gọi là Pháp thân. Bồ-đề, Pháp thân đều “Vô sở đắc”. Tuy không động niệm, nhưng do diệu lực của thệ nguyện từ trước, nên có vô biên sắc tượng dùng để trang nghiêm thân, mười phương cõi nước hành hóa khắp không ngăn ngại, phàm có thấy nghe, không ai là không nhận được ân ích. Thánh giả Tu-bồ-đề, do Bồ-đề vô sinh, nên mật ý đáp: Không có chút pháp nào để Như Lai chứng đắc. Tức không phải ở nơi vô sinh mà không hiện chứng. Như kinh nói: Như Lai thuyết giảng pháp, đều không thể giữ lấy, không thể nêu bày, là phi pháp, phi phi pháp. Nghĩa ấy là thế nào?

+ Vô sinh: Tức phi thị pháp, cũng phi phi pháp. Pháp, phi pháp là cảnh phân biệt.

+ Không thể giữ lấy, không thể nêu bày: Là không thể giữ lấy, thuyết giảng. Vì chứng đắc là “Vô sở đắc”. Như kinh nói: Do tướng vô vi nên gọi là Thánh nhân.

+ Vô vi: Là nghĩa “Vô sở đắc”.

+ Tướng vô vi: Là nghĩa tự tánh của “Vô sở đắc”.

+ Thánh nhân: Là nghĩa thấy chân như.

Thánh giả Tu-bồ-đề lại suy niệm: Có Thi-la (Giới) v.v…, nếu nơi kinh nầy khởi tin tưởng sâu xa, thì phước đức có được như thế nào? Do đó đã biện minh rộng về uy lực của việc thọ trì pháp. Kinh viết: Nầy Tu-bồ-đề! Ý của Tôn giả thế nào? Nếu đem bảy thứ báu đầy khắp trong Tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, cho đến: Vì người khác thuyết giảng v.v…

+ Vì người khác thuyết giảng: Nghĩa là đối với hai đế: hữu sở đắc, vô sở đắc, lý khéo có thể mở bày diễn nói không điên đảo.

+ Phước đức có được ấy hơn hẳn trường hợp kia vô lượng A-tăng-kỳ: Tức không phải là chỗ lường xét của tâm, là vô lượng. Sáu mươi phần vị số cũng không thể bằng A-tăng-kỳ.

+ Nhóm phước đức tức phi nhóm phước đức: Là tài thí tuy nhiều nhưng so với phước đức có được do thọ trì kinh thì rất ít. Phước đức do thọ trì kinh có nhiều, vì đã thành lập 2 môn: giáo, lý.

Thế nào là giáo? Như có kinh nói: Tối thắng trong thí, đó là pháp thí. Nay ở đây, thí bằng bảy báu là thuộc về tài thí.

Thế nào là lý? Tài thí tuy đạt được quả giàu có, nhưng là ở nơi sinh tử, vô thường, hư hoại. Pháp thí có thể thành tựu công đức cứu cánh, đoạn trừ vĩnh viễn hết thảy nhân khổ của sinh tử. Như kinh nói: Đạo quả Bồ-đề Vô thượng từ nơi kinh nầy xuất khởi. Chư Phật, Như Lai, từ nơi kinh nầy sinh ra.

Thế nào là xuất sinh? Tức dựa nơi pháp môn ấy, tâm không thủ đắc, chứng nhậpvô sinh nơi Bồ-đề vi diệu.

Lại nói nghĩa vô sinh v.v… của các pháp, là nói về luật nghi. Từ đấy sinh khởi thân các đức. Do tướng luật nghi của thân khiến nghiệp viên mãn sinh hóa thân.

Lại do từ nghĩa nào, tức thí chỉ đạt được quả là của cải nhiều, ngôi vị lớn, không phải là nhân của chư Phật? Kinh nói: Phật pháp, tức phi Phật pháp, đó gọi là Phật pháp. Nghĩa nầy là thế nào? Thể tánh của các pháp là không, không có thực. Ở đây, nếu mở bày, làm rõ là Pháp thân của Phật. Người tánh thấy có, là đối với pháp chưa tỏ ngộ. Dựa nơi mật ý nầy nói là phi Phật pháp. Nếu nhận biết tánh của pháp là không, giác ngộ điều ấy nên gọi là Phật. pháp nầy Phật có, người khác thì không, đó gọi là Phật pháp. Do thọ trì chánh pháp, thấu tỏ pháp là tánh không, nên hành nơi tài thí không thể đạt được phước nhiều như là pháp thí, là do nghĩa ấy.

* Lại nữa, nghi nêu: Nếu pháp được chứng đắc không có tánh, thì bốn Thánh quả làm sao được thành? Không thấy nơi thế gian không vật mà có quả. Vì trừ bỏ nghi ấy, kinh nói: Nầy Tu-bồ-đề! Ý của Tôn giả thế nào? Vị Tu-đà-hoàn có thể khởi niệm: Ta chứng đắc quả Tu-đà-hoàn chăng? Tu-bồ-đề thưa: Không thể, bạch Đức Thế Tôn! v.v…

Do đâu gọi là Tu-đà-hoàn? Do dựa vào dòng vô đắc. Thế nào là vô đắc? Là đối với các cảnh như sắc v.v… đều không thủ đắc. Đạt 15 niệm là kiến đạo, nhân đấy hướng tới quả, gọi đó là hướng quả. Niệm thứ 16 gọi là trụ quả. Hai nẻo người, trời, tối đa là bảy lần sinh. Do đâu có bảy lần sinh? Là do còn có 7 kiết. 7 kiết là: Tham, sân nơi cõi Dục. Hữu tham, ái, trạo, mạn, vô minh nơi cõi Sắc, Vô sắc. Từ đấy lại đoạn trừ các Hoặc do tu đạo đoạn trong cõi Dục, cho đến năm phẩm, gọi là hướng Tư-đà-hàm. Ở đây, lại nói hai thứ Gia gia: Là trời và người. Gia gia của trời: Nghĩa là tại nẻo trời, hoặc nơi một cảnh trời, hoặc nơi hai, ba cảnh trời, các Gia lưu chuyển mà Bát-Niết-bàn. Gia gia của người: Là tại nẻo người, hoặc ở nơi châu nầy, hoặc trong châu khác, các Gia lưu chuyển mà Bát-Niết-bàn. Hết phẩm thứ 6 gọi là trụ nơi quả ấy, lại một lần sinh đến thế gian nầy. Như vậy, theo thứ lớp lại đoạn trừ hai phẩm, một lần sinh là thời gian sẽ Bát-Niết-bàn. Đó tức gọi là hướng A-na-hàm. Chín phẩm vĩnh viễn lìa dứt, gọi là trụ nơi quả ấy. Lại không còn sinh trở lại nơi cõi Dục. Như vậy, lại đoạn trừ dục của địa sơ thiền, cho đến khi đạo vô gián đoạn trừ phẩm thứ 9 nơi cõi Hữu đảnh, tất cả gọi là hướng A-la-hán. Đạo vô gián nầy cũng gọi là định kim cang dụ, do có thể hủy hoại vĩnh viễn các tùy miên, hoặc, đến đạo giải thoát gọi là tận trí, đồng thời sinh cùng với đắc lậu tận. Như thế gọi là trụ nơi quả A-la-hán. Nên tạo sự lợi ích cho mình, người. Nên được tất cả người có tham chấp cúng dường.

Bốn vị như thế đều không khởi niệm: Ta có thể chứng đắc quả. Vì sao? Vì lúc chứng đắcvô sở đắc. Như kinh nói: Thật không có pháp gọi là Tu-đà-hoàn, cho đến thật không có pháp gọi là A-la-hán. Do đâu không muốn khởi niệm đắc quả? Vì nếu sinh niệm ấy là có các chấp giữ như ngã v.v… Người lìa thân kiến thì không còn chấp giữ đó. Thế nên trước nói, do tướng vô vi nên gọi là Thánh nhân.

+ Tướng vô vi: Là nghĩa tướng của tánh không.

Thánh giả Tu-bồ-đề nêu bày chỗ chứng đắc của mình, xác nhận là không có niệm ấy, nói: Như Lai nói con là người hành không tranh bậc nhất, con là A-la-hán lìa dục. Con không niệm v.v… Nghĩa nầy là thế nào? Nếu Thánh giả Tu-bồ-đề hành nơi không tranh, chẳng tỏ ngộ “tức không”, thì vì sao Như Lai khen ngợi, nói là bậc nhất. Nói bậc nhất, là đã tỏ ngộ “tức không”. Như kinh nói: Do Tu-bồ-đề thật sự là “không chỗ hành”.

Thế nào là tranh chấp? Đó là phiền não. Lìa phiền não ấy, gọi là định không tranh. Tu-bồ-đề trụ nơi định đó, các chướng và tranh chấp đều không còn hiện hành. Tùy thuận thế tục, nên nói: Hành không tranh, hành không tranh.

* Lại nữa, nghi nêu: Nếu các vị Dự lưu v.v… không chứng đắc tự quả, thì vì sao Đức Thế Tôn khi gặp Đức Phật Nhiên Đăng, đã đạt được Nhẫn vô sinh? Vì nhằm loại trừ nghi nầy, kinh viết: Nầy Tu-bồ-đề! Ý của Tôn giả thế nào? Như Lai, về thời xa xưa, tại trụ xứ của Phật Nhiên Đăng, đối với pháp có chỗ giữ lấy chăng? Tu-bồ-đề thưa: Không có, bạch Đức Thế Tôn! v.v… Đây là nêu rõ về nghĩa gì? Tức hiển bày về thời xa xưa, lúc gặp Đức Phật Nhiên Đăng, Đức Như Lai đã tỏ ngộ về vô sinh, không pháp có thể giữ lấy.

+ Nói đạt được nhẫn: Là do tục đế. Như nói đạt được Bồ-đề, nghĩa là vô sở đắc.

Lại có kinh nói: Nầy Văn-thù-sư-lợi! Ta an tọa nơi đạo tràng, không thủ đắc mà khởi đạo tràng kim cang. Kinh lại nói như vầy: Pháp hiện có của Ta đều không thể thủ đắc. Hoặc hàng Thanh-văn, Độc-giác và cả Như Lai. Hoặc nói: Ngôn ngữ không thể giữ lấy đối với pháp chứng đắc. Không phải trí thì không giữ lấy. Đây nói là trái với kinh? Kinh nói về đệ nhất nghĩa, không phải là đối tượng hành của trí, huống chi là văn tự.

Lại nữa, cảnh nơi đối tượng nhận thức của trí, gọi là cảnh của đối tượng được giảng giải, là đối tượng chứng đắc của hai trí sai biệt. Gọi là chẳng hành thứ nhất (?), vậy do nghĩa nào cần nói là ngôn ngữ không thể giữ lấy? (?). Đây hoặc là đã giản lược thái quá (?), nên nói đầy đủ: Răng môi, chân tay, các phần của thân v.v… không thể giữ lấy (?).

Lại nữa, trong một số kinh khác, Đức Thế Tôn đã tự giải thích: Tại trụ xứ của Phật Nhiên Đăng, đã đạt được trí vô sinh, không giữ lấy các pháp. Như kinh kia nói: Nầy Hải Tuệ nên biết! Bồ-tát có 4 loại:

1. Bồ-tát mới phát tâm.

2. Bồ-tát tu hành.

3. Bồ-tát không thối chuyển.

4. Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ.

Ở đây, Bồ-tát mới phát tâm thấy Như Lai sắc tướng. Bồ-tát tu hành thấy Như Lai thành tựu công đức. Bồ-tát không thối chuyển thấy Như Lai Pháp thân. Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ thấy phi sắc tướng, thấy phi thành tựu công đức, thấy phi Pháp thân. Vì sao? Vì Bồ-tát ấy đã dùng tuệ nhãn thanh tịnh để quán xét, dựa nơi tuệ tịnh để trụ, nương nơi tuệ tịnh để hành.

Tuệ tịnh: Là không chốn hành, không hý luận, không còn là thấy (kiến). Vì sao? Vì kiến, phi kiến là hai biên, xa lìa hai biên tức là thấy Phật. Nếu thấy được Phật tức thấy tự thân. Thấy thân thanh tịnh, thấy Phật thanh tịnh. Thấy Phật thanh tịnh, là thấy tất cả pháp thảy đều thanh tịnh, trong ấy, thấy trí thanh tịnh cũng lại thanh tịnh. Đó gọi là thấy Phật.

Nầy Hải Tuệ! Ta đã thấy Đức Như Lai Nhiên Đăng như thế, chứng đắc Nhẫn vô sinh, đạt được lý vô đắc - vô sở đắc. Tức vào lúc ấy, Ta đã bay lên hư không, cao bằng bảy cây Đa-la, trí Nhất thiết trí sáng tỏ hiện tiền, đoạn trừ các phẩm kiến, vượt các thứ phân biệt, phân biệt khác, phân biệt khắp, không trụ nơi tất cả cảnh giới của thức, đắc sáu vạn Tam-muội. Như Lai Nhiên Đăng tức thọ ký cho Ta: Vào đời vị lai, ông sẽ thành tựu quả vị Phật, hiệu là Thích-ca Mâu-ni. Âm thanh thọ ký ấy không đến nơi tai, cũng không phải là chỗ có thể nhận biết của trí khác, cũng không phải là Ta tối tăm, mịt mờ đều không hiểu biết gì, nhưng là “Vô sở đắc” cũng không có tưởng về Phật, không có tưởng về ngã, không có tưởng về thọ ký, nói thọ ký, cho đến nói rộng.

+ Nói không có tưởng: Là hiển bày trí chứng nhưng không chấp giữ.

+ Tưởng: Là pháp của tâm, không phải là lời nói.

Nên biết ở đây, nói cảnh giới của trí, thế nên nói dùng tuệ nhãn thanh tịnh mà quán xét.

Lại nữa, Nhẫn vô sinh: Là pháp của tâm, không phải là pháp của ngôn ngữ.

Lại nữa, chứng nơi vô đắc - vô sở đắc: Là do pháp vô tánh nên không thể thủ đắc. Lý vô đắc ấy có thể đắc chăng?, đều không sở đắc thì trì đâu có thể giữ lấy.

Lại nữa, đoạn trừ các phẩm kiến, vượt quá các thứ phân biệt về phẩm kiến, phân biệt về trí, pháp không phải là ngôn ngữ.

Lại nữa, không trụ nơi tất cả cảnh giới của thức, không nói là không trụ nơi tất cả cảnh giới của ngôn ngữ. Không có đối tượng được giữ lấy, là cảnh giới của trí, vì sao có sự khác lại cố cho là ngăn chận ngôn ngữ?

* Lại nữa, nghi vấn nêu: Nếu trí cũng không thể giữ lấy các pháp Phật, thì vì sao Bồ-tát dùng trí để giữ lấy công đức nơi cõi Phật nhằm hưng khởi thệ nguyện? Vì để loại trừ nghi vấn ấy, kinh viết: Nầy Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát nói như vầy: Ta đã thành tựu việc làm trang nghiêm quốc độ của Phật, thì người ấy nói không thật v.v… Dùng các thứ châu báu đẹp đẽ, khác lạ tô điểm khiến tâm ý vui thích gọi là trang nghiêm. Quốc độ kia có thể tướng, tánh là sắc v.v…, còn trong đệ nhất nghĩa, thì điều ấy không thể được, nên nói là phi trang nghiêm. Nhưng dựa nơi tục đế, do trí thành tựu, đó gọi là trang nghiêm. Bồ-tát nên không sinh có tâm trụ như thế: Ta tạo tác, ta thành tựu. Tâm trụ như vậy là không nên sinh.

+ Không nên sinh tâm trụ nơi sắc v.v…: Là đối với các quả như sắc v.v… không nên cầu.

+ Nên không chỗ trụ để sinh khởi tâm: Là do trí thành tựu nhưng không trụ, nên sinh tâm như vậy.

* Lại nữa, nghi nêu: Nếu không giữ lấy tất cả pháp, thì vì sao chư Phật đã giữ lấy thân tự tại hiện hữu khắp? Vì để loại bỏ nghi vấn nầy, kinh viết: Nầy Tu-bồ-đề! Ví như có người thân như núi chúa Tu-di v.v…

Dụ nầy hiển bày về pháp tương tợ nơi thân tự tại kia, nghĩa ấy là thế nào? Như núi Tu-di, do sức của cộng nghiệp, tuy không phân biệt mà sinh thể lớn. Như Lai cũng thế. Nơi vô lượng kiếp tu các hành phước, tuy đạt được đại thân, nhưng không phân biệt.

Như Lai do đâu đồng với núi Tu-di là không phân biệt? Trong đệ nhất nghĩa, núi cùng sắc thân là không thể tánh, nên hình tướng ấy đều là hữu vi. Như kinh nói: Vì sao? Vì Phật nói phi thân, đó gọi là thân. Phi nghĩa là có thân gọi là đại thân.

Lại nữa, hiển bày việc thọ trì chánh pháp, phước có được là rất nhiều, thế nên ở đây lại nói thí dụ lần nữa. Kinh viết: Như số lượng cát hiện có nơi sông Hằng, như thế số lượng sông Hằng cũng nhiều như số lượng cát ấy. Theo ý của Tôn giả thì thế nào, số lượng cát nơi những con sông Hằng đó, nên cho là nhiều chăng? v.v… Thắng dụ nầy vì sao không nêu lên trước? Do các phàm phu chưa thấy chân thật, nên trước vì họ nói rộng về chỗ không sinh tin hiểu, lần lượt nghe rồi mới sinh tin tưởng.

Lại nữa, thọ trì chánh pháp, phước có được rất nhiều, là do 13 thứ nhân nên có thể thành tựu. 13 thứ nhân là:

1. Nơi chốn đáng cung kính.

2. Người đáng tôn sùng.

3. Hết thảy nhân hơn hẳn.

4. Nghĩa ấy là vô thượng.

5. Vượt cả trong, ngoài.

6. Nhân của sắc tướng Phật thù thắng.

7. Vượt phước nội thí.

8. Xuất hiện đồng Phật.

9. Mong cầu có thể tin hiểu.

10. Khó có người tu hành.

11. Tin tu quả lớn.

12. Tín, giải thành tựu.

13. Uy lực không gì hơn.

Do đâu Đức Thế Tôn đã ân cần nêu rõ tướng của các nhân ấy? Do các chúng sinh hành tư sinh thí (Tài thí) cầu đạt về tài sản, địa vị, không thọ trì chánh pháp, để đoạn trừ nhân của các khổ.

+ Ở đây, nơi chốn đáng cung kính: Kinh viết: Lại nữa, nầy Tu-bồ-đề! Tùy theo nơi chốn hiện có thuyết giảng pháp môn nầy, cho đến: Một bài kệ bốn câu, nên biết nơi chốn ấy tức là Tháp miếu.

+ Người đáng tôn sùng: Kinh nói: Nên biết là người ấy đã thành tựu pháp hy hữu tối thượng v.v…

+ Hết thảy nhân hơn hẳn: Kinh viết: Pháp môn nầy nên gọi là gì?, cho đến: Gọi là Bát-nhã Ba-la-mật v.v… Nghĩa nầy là thế nào? Tức chư Phật, Bồ-tát, do Bát-nhã Ba-la-mật, nên đối với thế gian, xuất thế gian đều nhận biết rõ hơn hết. Nay, nơi pháp môn nầy đã chỉ dạy như thế. Làm sao nhận biết? Như kinh nói: Tức phi Ba-la-mật. Đây lại là thế nào? Là trí nơi bến bờ công đức không thể lường xét.

Lại nữa, không phải là bờ kia: Nghĩa là, pháp trí của ba cõi có thể xưng nêu, nhận biết là không kiên cố. Do đệ nhất nghĩa bản tánh không sinh, do đó nói là phi Ba-la-mật.

+ Nghĩa ấy là vô thượng: Tức nghĩa như thế, không có gì hơn, ở trên. Như kinh nói: Nầy Tu-bồ-đề! Ý của Tôn giả thế nào? Như Laithuyết pháp chăng? v.v… Nghĩa đó là sao? Do trong Bát-nhã Ba-la-mật, không pháp có thể thủ đắc, thế nên Như Lai cũng không thể dùng văn tự để giảng nói. Chỉ nơi phần lượng nầy nói là Bồ-đề. Như có kinh nói:

Dấu chim trong không chẳng thể đạt

Tánh Bồ-đề cũng lại như vậy.

+ Nói Bồ-tát: Là ở trong nẻo “vô đắc” đã có thể nhận biết rõ.

+ Vượt số lượng nhiều của bên ngoài: Kinh viết: Số lượng vi trần hiện có trong Tam thiên đại thiên thế giới nên cho là nhiều chăng? v.v… Ở đây, nêu số lượng vi trần trong Đại thiên thế giới là nhiều, là muốn đối chiếu để hiển bày phước của việc thọ trì kinh. Hiển bày thế nào? Là so với phước của việc thọ trì kinh, tức số lượng kia không nhiều. Như kinh nói: Các vi trần ấy, Như Lai nói tức phi vi trần. Phi vi trần: Là hiển bày về nghĩa không nhiều. Nếu do không nhiều gọi là “phi vi trần”, thì vì sao lại nói: “Đó gọi là vi trần”? Là dựa vào phần hạn của chính mình, là số lượng vi trần của một Đại thiên thế giới.

Vượt quá số lượng nhiều của bên trong. Kinh viết: Thế giới hiện có, Như Lai nói là phi thế giới v.v… Trong ấy, thế giới: Là chúng sinh giới. Nơi Đại thiên thế giới, mỗi mỗi chúng sinh, số lượng vi trần thở vào thở ra nơi từng sát-na đều cũng là nhiều. Phi thế giới v.v…: Như nói về vi trần.

+ Nhân của sắc tướng Phật thù thắng: Kinh viết: Có thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai chăng? v.v…

Đây là nêu rõ về nghĩa gì? Là hiển bày Pháp thân, thể là vô tướng. Như kinh nói: Ba mươi hai tướng tức là phi tướng. Phi tướng: Là không phải tướng của Pháp thân. Đó gọi là tướng: Là tướng trượng phu của sắc thân Phật. Phước do thọ trì kinh là nhân của Pháp thân, không phải là nhân của các tướng, do đó phước ấy là hết sức thù thắng.

+ Vượt phước nội thí: Kinh viết: Nếu các thiện nam, thiện nữ, đem Hằng hà sa thân mạng để bố thí, cho đến: Phước ấy hơn trường hợp trước là vô lượng A-tăng-kỳ. Đây là nhân gì? Là tài thí. Xả bỏ thân mạng hãy còn như thế, huống chi là vật bên ngoài thì lại càng thua kém xa.

+ Thế nào gọi là xuất hiện đồng với Phật? Phật xuất hiện ở đời, kẻ phước mỏng khó gặp, kinh nầy cũng như thế, người được nghe thì ít. Như kinh nói: Bấy giờ, Thánh giả Tu-bồ-đề, nghe giảng nói về pháp môn nầy, sinh tin hiểu sâu xa, cảm động bùi ngùi rơi nước mắt, liền gạt lệ bạch Phật: Hy hữu thay thưa Đức Thế Tôn! v.v… Tu-bồ-đề là vị A-la-hán, theo Phật được giác ngộ, đối với chánh pháp ấy, từ xưa hãy còn chưa được nghe, thế nên cho là hy hữu, đồng với Phật hiện.

+ Mong có thể tin hiểu: Kinh viết: Nếu lại có người, được nghe kinh nầy, sinh khởi tưởng thật, nên biết người ấy đã thành tựu sự hy hữu tối thượng v.v…

Tưởng thật: Nghĩa là nghe pháp môn nầy là nhân của vô biên phước tin cho đó là thật.

Lại nữa, nghĩa là lãnh hội pháp khó có được, đồng với việc Phật xuất hiện ở đời, tin cho đấy là thật.

Lại nữa, nghĩa là nghe ở đây nói tất cả pháp không sinh, không chỗ thủ đắc v.v…, tin cho là thật.

Nói tất cả pháp không sinh, vì sao nói sẽ sinh tưởng thật? Tức tuy sinh tưởng thật nhưng không hủy hoại không sinh. Như kinh nói: Tưởng thật, tức là phi tưởng. Do đó nên biết, sinh tưởng thật là dựa nơi tục đế mà nói, còn đệ nhất nghĩa đế tức phi tưởng thật.

Lại nữa, tục đế gọi là tưởng thật: Là tưởng của tục đế. Người ấy tuy tin các pháp là không sinh, nhưng không bỏ pháp của tục đế. Do vậy sẽ được hy hữu tối thượng.

+ Khó có người tu hành: Kinh viết: Con nay được nghe pháp môn như thế, tin hiểu, thọ trì, không đủ cho là khó v.v…

+ Tin tu quả lớn: Kinh viết: Các chúng sinh ấy không còn khởi tưởng ngã, tưởng chúng sinh, tưởng mạng, tưởng thủ giả v.v… Nghĩa nầy là thế nào? Do đối với kinh ấy tin cùng hành, nên hiểu rõ, sinh tánh vô ngã, không khởi các tưởng như ngã v.v… Vì sao? Vì có đối tượng được giữ lấy là ngã, trong ấy mới sinh khởi chủ thể giữ lấy tưởng. Chủ thể giữ lấy tưởng kia là theo ngôn thuyết của thế tục, còn nơi đệ nhất nghĩa tức là phi tưởng. Vì sao? Vì chư Phật Thế Tôn chứng đắc pháp vô ngã, xa lìa hết thảy tưởng phân biệt, nên thể tướng của chư Phật gọi là quả lớn.

+ Tín giả thành tựu: Kinh viết: Nếu lại có người, được nghe kinh nầy, không kinh, không sợ, không hãi v.v…

Ở đây, không kinh: Nghĩa là, đối với lý không sinh của các pháp, tâm không kinh ngạc, hướng đến sinh đạo. Không sợ: Nghĩa là đối với tướng không hòa hợp của các pháp tâm không lo sợ, nhưng ở trong tướng hòa hợp của thế tục, nối tiếp phân biệt, cho là thật. Không hãi: Là tâm hoàn toàn quyết định không như thế.

Lại nữa, không kinh không sợ v.v…: Theo như thứ lớp, nghĩa là lúc nghe pháp, lúc tư duy, lúc tu tập, tâm an ổn không động. Các tưởng như chúng sinh v.v… đã xa lìa.

+ Uy lực không gì hơn: Kinh viết: Nầy Tu-bồ-đề! Như Lai giảng nói Ba-la-mật bậc nhất, thì Ba-la-mật bậc nhất ấy, vô lượng chư Phật cùng giảng nói như vậy v.v…

Thế nào gọi là bậc nhất? Là không gì sánh bằng. Vì sao không có gì sánh bằng? Vì trong tất cả pháp Phật, đều có uy lực tối thắng, hết thảy chư Phật đồng diễn nói.

Do 13 thứ nhân như vậy, nên phước của việc thọ trì kinh nhiều hơn phước do bố thí châu báu.

* Lại nữa, nghi nêu: Nếu trong tất cả pháp Phật, Bát-nhã Ba-la-mậttối thượng thì sao còn khổ nhọc hành trì các Độ khác? Vì để loại trừ nghi vấn ấy, chỉ rõ là Bát-nhã đã thâu giữ các Độ kia, kinh viết: Nầy Tu-bồ-đề! Như Lai nói Nhẫn nhục Ba-la-mật tức phi Nhẫn nhục Ba-la-mật v.v…

+ Phi Ba-la-mật: Là xa lìa tâm phân biệt ấy.

Thế nào là không phân biệt? Kinh viết: Như Ta vào thời xa xưa bị vua Ca-lợi cắt, chặt các chi phần nơi thân. Bấy giờ, Ta không hề có các tưởng ngã, chúng sinh, mạng, thủ giả v.v… Nghĩa nầy là thế nào? Nếu có các tưởng như ngã v.v…, tức thấy có mình, kẻ khác. Kẻ khác đến phạm nơi mình, tất sinh sân hận.

Nếu cho tưởng không phân biệt là tâm ngu si, tâm si tạo nhân cho niệm giận dữ dấy khởi trở lại. Ở chỗ vị vua kia, ai có thể không kháng cự? Do không kháng cự, nên chứng biết là không tưởng, cũng không phải là không tưởng.

+ Không tưởng: Đó là không có các tưởng như ngã v.v…, không có tưởng về mình người khác, cùng tưởng giận dữ.

+ Không phải là không tưởng: Nghĩa là không phải ngu si. Do đâu ngu si gọi là không tưởng? Là do không thể xem xét là nên làm, là không nên làm.

Lại nữa, không tưởng, cũng không phải không tưởng: Là lìa nhiễm chấp phân biệt về tưởng, không tưởng.

Ở đây đã nói là lúc bị vua Ác hãm hại, đã thâu giữ nhẫn nhục. Lại muốn làm rõ là trong các thời gian khác cũng luôn thâu giữ. Kinh viết: Lại nhớ nghĩ về quá khứ, nơi năm trăm đời làm Tiên nhân Nhẫn nhục v.v… Đây là hiển bày về thời xa xưa, chưa gặp vua Ác, đã ở trong nhiều đời đoạn dứt các tưởng như ngã v.v…, đều do sức thâu giữ của Bát-nhã.

Lại nhằm làm rõ về chỗ thâu giữ Bồ-đề. Kinh viết: Bồ-tát nên lìa tất cả tưởng để phát tâm Bồ-đề cầu đạt đạo quả Chánh giác Vô thượng. Tức do lìa các tưởng nên đạt được Bồ-đề. Như nói: Ngồi nơi tòa Bồ-đề, hoàn toàn đoạn trừ tất cả tưởng.

Thế nào là lìa tưởng? Kinh viết: Không nên trụ nơi sắc để sinh tâm. Không nên trụ nơi thanh hương vị xúc pháp để sinh tâm. Nên không chỗ trụ để sinh tâm.

+ Nếu sinh tâm từ không chỗ trụ, thì vì sao trụ nơi Bồ-đề mà phát tâm? Vì do trụ nơi Bồ-đề nên là không chỗ trụ. Như kinh nói: Vì sao? Vì trụ như thế, tức là phi trụ. Nghĩa ấy là thế nào?

+ Trụ như thế: Là Tục đế.

+ Phi trụ: Là đệ nhất nghĩa đế.

Lại nữa, nói trụ nơi Bồ-đề tức là phi trụ. Như có kinh nói: Bồ-đề là xứ không trụ, thế nên phi trụ là tên gọi khác của trụ nơi Bồ-đề.

Đã nói Bát-nhã thâu giữ nhẫn nhục. Vậy thâu giữ các Độ còn lại, sự việc ấy như thế nào? Kinh viết: Thế nên Phật nói: Bồ-tát, tâm không trụ nơi sắc để bố thí, không trụ nơi thanh hương vị xúc để bố thí. Ba thứ thí gồm thâu sáu Độ như trước đã nói. Năm Ba-la-mật, lìa nơi ba thứ phân biệtvật thí, người thí, người nhận, tức là tướng của Bát-nhã Ba-la-mật. Thâu giữ các Độ còn lại, nghĩa ấy đã thành. Như nói năm Ba-la-mật, nếu lìa Bát-nhã, thì như người không mắt mà không có thầy dẫn đường. Vì nhằm làm rõ phương tiện đó, kinh viết: Bồ-tát vì tạo lợi ích cho tất cả chúng sinh, nên bố thí như thế.

Hoặc có người suy nghĩ: Nếu không trụ nơi pháp mà hành bố thí, thì làm sao tạo lợi ích cho chúng sinh? Do đấy, kinh viết: Tất cả tưởng chúng sinh tức là phi tưởng.

+ Tạo lợi ích: Là theo ngôn thuyết của tục đế. Đệ nhất nghĩa tức là phi tưởng. Vì sao? Là do tưởng chúng sinh giữ lấy các chúng sinh, chấp cùng với uẩn là khác, hoặc không khác. Còn trong đệ nhất nghĩa thì không thể thủ đắc. Như kinh nói: Các chúng sinh ấy tức phi chúng sinh. Đây là làm rõ chỗ xa lìa hai thứ phân biệt về trí cùng đối tượng nhận biết.

+ Nói phi tưởng: Là hiển bày trí vô tánh.

+ Phi chúng sinh: Tức đối tượng nhận biết, là vô tánh.

Hai thứ vô tánh ấy, Như Lai chứng đắc, thấu tỏ, các tưởng vĩnh viễn dứt trừ, là chứng đắc vô tánh.

HẾT - QUYỂN 1
Tạo bài viết
14/06/2010(Xem: 41737)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.