Quyển Thứ Hai

10/06/201012:00 SA(Xem: 20484)
Quyển Thứ Hai

CHÚ GIẢI KINH PHẬT THUYẾT
ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC

(Dịch theo bản in lần thứ nhất của Hoa Tạng Phật Giáo Đồ Thư Quán,
Đài Bắc, tháng 2, năm Dân Quốc 81 (1992))
Vận Thành Hạ Liên Cư hội tập
Hoàng Niệm Tổ chú giải - Như Hòa dịch Việt

 Quyển Thứ Hai

 Trong quyển này, từ phẩm thứ tư đến phẩm thứ mười trình bày nhân địa của Phật Di Đà một cách chi tiết: thấy Phật nghe pháp, sơ phát đại tâm, năm kiếp tinh tấn kết thành đại nguyện, Nhất Thừa nguyện hải, sáu chữ hồng danh độ khắp ba căn, cứu hết muôn loài, tích công trữ đức, trụ chơn thật huệ, một dạ chuyên chí trang nghiêm cõi nước nhiệm mầu. Trong vô lượng kiếp, ngài vun bồi đức hạnh để thành tựu viên mãn các đại nguyện đã phát. Trong ba kinh Tịnh Độ, chỉ mình kinh này giảng nói những sự việc như vậy nên kinh này được xưng tụng là kinh Tịnh Độ đệ nhất. 

B. Chánh Tông Phần 

Phần Chánh Tông của một bản kinh giống như thân người có đủ các tạng: tim, phổi... Phần Chánh Tông của kinh này gồm các phẩm từ phẩm thứ tư đến phẩm thứ mười hai. Nhân hạnh của Phật Di Đà, đại nguyện của Pháp Tạng, y báo, chánh báo trang nghiêm cõi Cực Lạc, chánh nhân vãng sanh của ba bậc, sự tu trì của các Bồ Tát cõi Cực Lạc, nhân duyên sanh vào nghi thành biên địa, các sự ác khổ của cõi uế Sa Bà, hiển hiện Cực Lạc để chứng tín v.v... đều được thuật rõ trong phần Chánh Tông. Đấy chẳng những là chủ thể của kinh này mà còn thật sự là những điểm chủ chốt trong toàn bộ diệu pháp Tịnh Độ vậy.

Kinh này hơn hẳn các kinh khác ở chỗ nó trình bày tường tận vô biên pháp hạnh nhiệm mầu như sự tu hành khi còn tu nhân của Cực Lạc giáo chủ A Di Đà Phật, thệ nguyện thù thắng của ngài v.v... Nội dung của quyển hai này bàn về lời phát nguyện của Di Đà khi còn tu nhân cũng như những việc ngài đã thực hiện để viên mãn những đại nguyện đó. Trước hết, kinh nói ‘trong quá khứ vô lượng chẳng thể nghĩ bàn kiếp’ nhằm diễn giải: trong thuở cùng cực lâu xa về quá khứ, Phật Di Đà trong thời Phật Thế Gian Tự Tại Vương được gặp Phật xuất gia học đạo, pháp danhPháp Tạng, phát khởi thệ nguyện sâu rộng. Như vậy, thời gian kể từ khi đức Phật Di Đà còn đang tu nhân phát tâm tu hành đến nay thật chẳng thể tính kể nổi.

Lúc đức Di Đà phát nguyện, ngài đã không còn là phàm phu. Đa số các bậc cổ đức đều cho rằng khi phát nguyện như thế, ngài đã ở địa vị địa thượng Bồ Tát. Suy ra, thời kỳ ngài phát tâm ban đầu còn phải lâu xa hơn nữa. Do vậy, người tu Tịnh Độ càng phải sanh lòng tin trong sạch, cảm niệm ân đức vô biên của Phật. Y báo, chánh báo cõi Cực Lạcdiệu pháp trì danh chính là diệu quả do đức Di Đà trong vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn kiếp đã siêng gắng tu tập thành để nay ta đem cái diệu quả ấy làm nhân tâm của mình. Ân ấy, đức ấy không cách nào sánh ví, diễn tả nổi.

Hơn nữa, khi còn tu nhân đức Di Đà đã chứng Pháp Thân từ lâu nên Nhất Thừa nguyện vương, sáu chữ hồng danh, các thứ trang nghiêm y báo, chánh báo, thậm chí một sợi lông, một mảy bụi không một thứ nào chẳng phát sanh từ vô vi Pháp Thân, trí huệ chơn thật. Mỗi một thứ ấy đều siêu tình ly kiến, mỗi một thứ ấy đều được Thật Tướng chánh ấn in vào, mỗi một thứ đều khai hóa hiển thị Chơn Thật Tế, mỗi một thứ đều ban cho chúng sanh cái lợi chơn thật. Do vậy, pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn.

Phẩm thứ tư tiếp theo đây sẽ nói về nhân duyên phát tâm học đạo của tỳ kheo Pháp Tạng trong khi tu nhân.

4. Pháp Tạng nhân địa

Chánh kinh:

Phật bảo A Nan:

- Vô lượng chẳng thể nghĩ bàn vô ương số kiếp trong quá khứ có Phật xuất thế hiệu là Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn trụ thế giáo hóa trong bốn mươi hai kiếp. Khi ấy, đức Phậtchư thiên và người đời nói kinh giảng đạo.

Giải:

‘Vô ương số kiếp’, tiếng Phạn là a tăng kỳ, dịch thành Vô Ương Số. Ương nghĩa là cùng tận. Do kiếp số chẳng thể tính đến cùng tận nên gọi là vô ương số kiếp (hoặc còn nói là a tăng kỳ kiếp. Trong quyển 1 đã giảng chữ ‘kiếp’: Kiếp là đơn vị thời gian rất dài. Số kiếp nhiều đến nỗi chẳng thể tính đếm nổi thì gọi là vô ương số kiếp). A tăng kỳ kiếp lại chẳng có hạn lượng, chẳng thể nghĩ bàn cho xiết nên bảo là ‘vô lượng chẳng thể nghĩ bàn vô ương số kiếp’, ngụ ý: thời gian lâu xa đến vô cực trong quá khứ.

‘Thế Gian Tự Tại Vương’ (danh xưng này dựa theo cách dịch của bản Đường dịch): trong quá khứ lâu xa đến vô lượng chẳng thể nghĩ bàn vô tận đại kiếp, có một vị Phật xuất hiện trong thế gian, danh xưng là Thế Gian Tự Tại Vương Phật. Ngài là một vị cổ Phật. Thế Gian Tự Tại là thường ở trong thế gian nhưng chẳng bị thế gian chướng ngại như câu nói: ‘Phật chiếu tướng thế gian, thường trụ tự tịch diệt’. Sách Bình Giải lại bảo: ‘Chữ Thế Gian tương ứng với Bát Nhã, Tự Tại nghĩa là giải thoát, Vương là Pháp Thân. Ba chính là một, một chính là ba, chẳng ngang, chẳng dọc nên gọi là Thế Tự Tại Vương’. Đấy là cách giải thích danh hiệu Phật dựa trên ba đức của Niết Bàn.

Thời cổ, mọi thứ đều thuộc về nhà vua cả nên dùng chữ Vương để ví Pháp Thân. Hết thảy đều từ Pháp Thân hiện ra, nhưng thứ nào rồi cũng quy về Pháp Thân cả nên bảo VươngPháp Thân. Thông đạt thế gianBát Nhã đức, tự tại trong thế gianGiải Thoát đức. Như vậy, danh hiệu Thế Tự Tại Vương chứa trọn ba đức, ba tức là một, một tức là ba, giống như ba điểm của chữ Y (\). Câu ‘chẳng ngang chẳng dọc’ diễn tả diệu đức vô thượng: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của chơn thân Niết Bàn.

Từ ‘Như Lai’ đến ‘Phật Thế Tôn’ là hiệu chung của chư Phật, hết thảy các đức Phật cùng có đủ mười hiệu này. Thật ra, chư Phật vô lượng đức nên đức hiệu cũng vô lượng, nay do thuận theo căn cơ chúng sanh nên chỉ nói giản lược mười hiệu.

Trong các kinh, do tách ra hay gộp lại sai khác nên mười danh hiệu trên thành ra sai khác. Chẳng hạn như Tịnh Ảnh Sớ đã dựa theo Thành Thật Luận gộp Vô Thượng SĩĐiều Ngự Trượng Phu thành một hiệu, tách chữ Phật Thế Tôn thành hai danh hiệu. Theo các kinh Niết Bàn, kinh Anh Lạc và quyển 10 của bộ Đại Luận thì Vô Thượng SĩĐiều Ngự Trượng Phu là hai danh hiệu, Phật Thế Tôn được gộp lại thành một danh hiệu. Tôi theo thuyết này.

Mười hiệu được giải thích như sau:

a. Như Lai: Như là Chơn Như. Nương theo đạo Chơn Như để đạt (lai) thành Chánh Giác nên gọi là Như Lai. Còn có thể hiểu là chư Phật đạt đạo an ổn nên cũng bảo là Như Lai đến, lại chẳng sanh trong sanh tử nên gọi là Như Lai. Lại giống như chư Phật mà đến nên gọi là Như Lai.

Sách Hợp Tán lại giảng: ‘Phẩm Phạm Hạnh của kinh Niết Bàn chép rằng: Vì sao gọi là Như Lai? Giống như lời nói của chư Phật quá khứ chẳng biến đổi. Vì sao không biến đổi? Chư Phật quá khứ vì độ chúng sanh nên giảng mười hai bộ kinh, Như Lai nay cũng thế nên gọi là Như Lai’.

Sách Hội Sớ lại nói: “Chữ Như Lai có ba nghĩa là: Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân. Kinh Kim Cang dạy: ‘Không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu’ là nói về Pháp Thân Như Lai. Luận Chuyển Pháp Luân bảo: ‘Đệ Nhất Nghĩa Đế là Như, Chánh Giác là Lai’ là nói về báo thân Như Lai. Luận Thành Thật chép: ‘Nương đạo Như Lai đạt thành Chánh Giác nên gọi là Như Lai’ là nói về ứng thân Như Lai”.

Trong bản sớ giải phẩm Thọ Lượng [kinh Pháp Hoa], tổ Thiên Thai (Trí Giả đại sư) lại giảng rằng: ‘Như là pháp bất biến, giống như tấm gương, chẳng phải là nhân, chẳng phải là quả. Dẫu có Phật hay không có Phật thì tánh tướng vẫn thường như vậy. Trọn khắp hết thảy các chốn mà chẳng bị đổi khác là Như, bất động mà đến được khắp tất cả là Lai’. Giải thích như vậy là giảng theo Pháp Thân Như Lai. Do Phật có ba thân: pháp, báo, ứng nên chữ Như Lai tất nhiên được giải thích theo từng quan điểm: pháp, báo, ứng khác nhau. Nói đầy đủ thì sẽ như Hội Sớ giảng:

- Chẳng đến, đi là Pháp Thân.

- Chánh Giác Đệ Nhất Nghĩa Đế, đạt đến Chơn Như Thật Tướng như thế là Báo Thân.

- Nương theo Chơn Như Thật Tướng để thành tựu Chánh Giác, đạt đến như vậy thìỨng Thân.

 Với các cách giải thích khác, ta luôn có thể dựa theo cách giải thích của Hội Sớ để lãnh hội ý chỉ.

b. Ứng Cúng: Đại Luận chép: ‘Đức Phật đã trừ sạch hết các kiết sử, đắc hết thảy trí huệ nên xứng đáng nhận lãnh sự cúng dường của hết thảy chúng sanh trong trời đất. Vì vậy, Phật được xưng là Ứng Cúng’. Tịnh Ảnh Sớ lại bảo: ‘Chứng, diệt tương ứng nên gọi là Ứng. Lại do chứng diệt nên đáng cúng dường vì vậy bảo là Ứng Cúng’. Sách Hội Sớ lại bảo: ‘Vạn hạnh viên thành, phước huệ đầy đủ, xứng đáng nhận lãnh sự cúng dường của trời, người, lợi ích hữu tình nên Phật hiệu là Ứng Cúng’.

c. Đẳng Chánh Giác: tiếng Phạn là Tam Miệu Tam Bồ Đề, nói đủ là ‘a nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề’. A là Vô, Nậu Đa La là thượng, Tam là chánh, Miệu là đẳng, Bồ Đề là giác, nói gộp lại là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bồ Tát nhân hạnh viên mãn nên thành Đẳng Chánh Giác, xưa kia dịch là Vô Thượng Chánh Biến Tri. Bản chú giải kinh Duy Ma Cật của ngài Tăng Triệu có chép: ‘A Nậu Đa La: Hán dịch là Vô Thượng. Tam Miệu Tam Bồ Đề: Hán dịch là Chánh Biến Tri. Do không có gì lớn hơn được đạo nên đạo là Vô Thượng; đạo ấy chơn chánh, không pháp nào chẳng biết nên là Chánh Biến Tri’. Tịnh Ảnh Sớ lại chép: ‘Chánh là lý. Chiếu soi tột cùng lý thể nên bảo là Biến Tri’.

 d. Minh Hạnh Túc: Có nhiều cách giải thích chữ Minh.

- Đại Luận giảng: ‘Túc mạng, thiên nhãn, lậu tận gọi là tam minh’. Sách Hội Sớ và Tịnh Ảnh Sớ cùng theo cách giải thích này, đều cho rằng Minh chínhTam Minh.

- Tịnh Ảnh Sớ lại còn viết thêm: ‘Minh là chứng hạnh. Chứng pháp rõ ràng rốt ráo nên bảo là Minh’. So ra, thuyết này sâu sắc hơn cả vì toàn bộ kinh Hoa Nghiêm chỉ là tín giải hành chứng. Nếu thấu suốt rõ ràng, chứng ngộ thông suốt được hành pháp thì mới được gọi là Minh.

- Quyển 18 kinh Niết Bàn có chép: ‘Minh là được vô lượng thiện quả... Thiện quả gọi là A-nậu-đa-la tam-miệu tam Bồ Đề’. Thuyết này cực sâu vì đã chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mới được gọi là Minh.

Dùng thuyết của kinh Niết Bàn để giải thích chữ Minh trong bản kinh Vô Lượng Thọ này là thỏa đáng nhất. Quyển 18 kinh Niết Bàn giảng chữ Hạnh Túc như sau: ‘Hạnh là như chân cẳng (cước túc)…. Chân cẳng là Giới, Huệ. Dùng chân Giới, Huệ để đắc A-nậu-đa-la tam miệu tam Bồ Đề nên gọi là Minh Hạnh Túc’. Tịnh Ảnh Sớ cũng giảng tương tự: ‘Ngài Long Thọ nói: Giới, Không Huệ v.v... được gọi là Hạnh. Đầy đủ trọn vẹn hai thứ ấy (chỉ giới và không huệ) thì gọi là Túc’. Sách Hội Sớ giảng hơi khác: ‘Hạnh Túc là thân khẩu ý nghiệp chơn chánh, thanh khiết. Dùng nguyện lực của chính mình để khéo tu trọn vẹn hết thảy các hạnh nên hiệu là Minh Hạnh Túc’.

e. Thiện Thệ: Thiện là hay, tốt. Thệ là đi qua. Vì vậy, Thiện Thệ còn được dịch là Hảo Khứ (khéo đi qua). Đại Luận chép: “Hảo Khứ là khéo đạt các tam ma đề (chánh định) sâu và vô lượng đại trí huệ như lời kệ: ‘Nhất thiết trí của Phật là cỗ xe lớn, hành tám chánh đạo nhập Niết Bàn’ nên gọi là Hảo Khứ”. Sách Hợp Tán lại bảo: ‘Thiện là phát tâm lúc đầu tiên, Thệ là Đại Bát Niết Bàn. Như Lai chẳng bỏ cái tâm đã phát đầu tiên mà chứng đắc Niết Bàn. Vì vậy, Như Lai hiệu là Thiện Thệ’. Cả hai thuyết trên đều coi ‘nhập Niết Bàn’ là Thiện Thệ. Sách Hội Sớ lại bảo: ‘Thiện Thệ nghĩa là diệu trụ, tức là vô lượng trí huệ đoạn được các hoặc, khéo xuất thế gian nên đạt đến Phật quả vậy’. Như vậy, thuyết này xem ‘đạt Phật quả’ là Thiện Thệ, nhưng thật ra cũng chẳng khác với hai thuyết nói trên. Phật đã chẳng đến, đi, sao lại bảo là Hảo Khứ? Tịnh Ảnh Sớ giảng: ‘Phật đức viên mãn chẳng có chốn nào để đến nên bảo là Hảo Khứ. Tuy không đến đâu nhưng chẳng phải là không đến được, như lửa lúc kiếp tận tuy chẳng thiêu cái gì, nhưng không cái gì nó chẳng thiêu được. Vì vậy, cũng có thể bảo là Khứ’.

f. Thế Gian Giải: Còn dịch là Tri Thế Gian. Sách Bình Giải giảng: ‘Thế Gian là ngũ ấm. Giải là biết. Chư Phật Thế Tôn khéo hiểu ngũ ấm nên được gọi là Thế Gian Giải’. Tịnh Ảnh Sớ giảng: ‘Thế Gian Giải là Hóa Tha Trí. Khéo hiểu thế gian nên gọi là Thế Gian Giải’. Sách Hội Sớ giảng: ‘Với các pháp nhân quả thế gian, xuất thế gian, không pháp nào chẳng hiểu rõ nên gọi là Thế Gian Giải’. Tổng hợp ba cách giải thích trên, Thế Gian Giảithánh trí hóa độ người khác (hóa tha trí), nghĩa là Như Lai thật sự hiểu rõ các pháp: nhân quả thế gian, xuất thế gian.

g. Vô Thượng Sĩ: Sĩ là người, cao quý nhất trong loài người thì gọi là Thượng Sĩ. Kinh Niết Bàn dạy: ‘Như Lai gọi là Vô Thượng Sĩ. Ví như nơi thân người, đầu ở cao nhất, chân tay, các chi chẳng bằng được; Phật cũng giống như vậy, cao quý nhất, Pháp, Tăng chẳng bằng’. Kinh còn chép: ‘Còn có cái để đoạn thì gọi là Thượng Sĩ. Không còn gì để đoạn là Vô Thượng Sĩ’. Sách Hội Sớ cũng giảng giống hai thuyết trên: ‘Hoặc nghiệp hết sạch thì không có gì để đoạn, trong nhân thiên phàm thánh của tam giới là bậc nhất, tối thượng, không ai bằng nên hiệu là Vô Thượng Sĩ’. Trí Độ Luận lại bảo: ‘Pháp Niết Bàn vô thượng, Phật tự biết là Niết Bàn chẳng phải nghe từ người khác, lại còn có thể dẫn dắt chúng sanh đạt đến Niết Bàn. Như Niết Bànvô thượng trong các pháp, Phật cũng là vô thượng trong chúng sanh. Hơn nữa, Phật trì giới, thiền định, trí huệ giáo hóa chúng sanh không ai bằng được nổi, huống là hơn nổi ngài. Vì vậy, gọi Phật là vô thượng’.

h. Điều Ngự Trượng Phu: Tịnh Ảnh Sớ giảng: ‘Khéo có thể điều phục chúng sanh thì gọi là Điều Ngự Trượng Phu’. Sách Hợp Tán lại giảng: ‘Chính mình đã là trượng phu, lại có thể điều phục trượng phu. Vì vậy, xưng tụng Phật là Điều Ngự Trượng Phu. Nếu đầy đủ bốn pháp thì gọi là trượng phu. Những gì là bốn? Gần thiện tri thức, hay nghe pháp, suy nghĩ ý nghĩa [của pháp đã được nghe], đúng lời dạy tu hành’. Sách Hội Sớ lại giảng: ‘Đầy đủ lực dụng của đại trượng phu để thuyết các pháp, điều phục chế ngự hết thảy chúng sanh khiến họ lìa cấu nhiễm, đắc đại Niết Bàn’.

Nếu có kẻ chất vấn: Cũng phải nên giáo hóa bọn nữ nhân, cớ sao chỉ nói đến bọn trượng phu? [Xin mượn lời] Trí Độ Luận để đáp: ‘Nếu nói trượng phu là đã tính cả nhị căn (kẻ có đủ hai căn nam, nữ), vô căn (bẩm sinh không có bộ phận sinh dục), nữ nhân, nên chỉ nói là trượng phu’. Như vậy, khi nói đến trượng phu là đã tính hết phụ nữ, nhị căn, vô căn trong ấy.

i. Thiên Nhân Sư: Tịnh Ảnh Sớ giảng: ‘Có thể dùng chánh pháp để gần gũi, giáo hóa trời người thì gọi là Thiên Nhân Sư’. Sách Hội Sớ bảo: ‘Tất cả thiên thượng, nhân gian, ma vương, ngoại đạo, Thích, Phạm, thiên, long đều cùng quy mạng, tuân lời dạy vâng làm, đều làm đệ tử nên hiệu là Thiên Nhân Sư’. Sách Hợp Tán lại bảo: Chư Phật tuy là vô thượng đại sư của hết thảy chúng sanh, nhưng trong các loài chúng sanh chỉ có trời và người phát nổi tâm vô thượng đại Bồ Đề. Do đó, xưng tụng Phật là Thiên Nhân Sư’.

j. Phật Thế Tôn: Thành Thật Luận tách danh hiệu này ra làm hai, coi Phật là danh hiệu thứ chín, Thế Tôndanh hiệu thứ mười. Nay tôi theo ý kinh Niết Bàn gộp Phật và Thế Tôn thành hiệu thứ mười.

Phật là giác: tự giác, giác thagiác mãn. Ba giác viên mãn nên xưng là Phật. Sách Hợp Tán lại giảng rằng: ‘Phật là Giác. Đã tự giác ngộ, lại còn giác ngộ người khác. Ví như có kẻ hiểu biết kẻ giặc, giặc chẳng làm gì nổi’. Phật còn nghĩa là Trí như Trí Độ Luận viết: ‘Phật Đà, Hán dịch là Trí Giả. Biết được hết thảy các pháp: chúng sanh số, phi chúng sanh số, hữu thường, vô thường v.v... trong quá khứ, vị lai, hiện tại. Dưới cội Bồ Đề, ngài hiểu biết rành rẽ hết cả nên gọi là Phật Đà’. Luận còn chép: ‘Phật thành tựu hết thảy trí huệ, đầy đủ trọn vẹn các đức nên đều hiểu rành rẽ quá khứ, vị lai, hiện tại, tận, bất tận, động, bất động, hết thảy thế gian nên hiệu là Phật Đà’.

‘Thế Tôn’ tiếng Phạn là Bà Già Phạm, đầy đủ trọn vẹn các đức được thế gian khâm ngưỡng nên hiệu là Thế Tôn. Phẩm Thập Hiệu của Thành Thật Luận có câu sau: ‘Trọn vẹn chín danh hiệu như trên, là bậc cao quý trong tam thế thập phương thế giới nên gọi là Thế Tôn’ (Trí Độ Luận xem Phật là hiệu thứ mười vì cho rằng Thế Tôn là tiếng xưng tụng chung cả mười đức hiệu. Cách tách ra hay gộp lại này so với thuyết của Tịnh Ảnh Sớ hơi khác đôi chút, nhưng vẫn tương đồng).

‘Trụ thế giáo hóa trong bốn mươi hai kiếp. Khi ấy, đức Phậtchư thiên và người đời nói kinh giảng đạo’ (câu này trích từ bản Hán dịch): Đức Phật ấy trụ thế hoằng pháp tất cả bốn mươi hai kiếp. Khi ấy, ngài vì chư thiênnhân dân trong thế gian diễn thuyết kinh văn, giảng luận đạo phápđạo yếu.

Đạo là con đường giác ngộ. Luận Câu Xá giảng: ‘Đạo nghĩa là gì? Là đường Niết Bànđi theo con đường ấy đến được thành Niết Bàn’. Hoa Nghiêm Đại Sớ cũng nói: ‘Thông đến quả Phật nên gọi là Đạo’. Đạo pháp là pháp dẫn đến chánh đạo Niết Bàn. ‘Đạo yếu’ là điểm trọng yếu trong Phật đạo như Tán A Di Đà Phật Kệ đã viết: ‘Thông suốt đạo yếu chẳng chướng ngại’.

Chánh kinh:

Có đại quốc chúa tên là Thế Nhiêu Vương nghe Phật thuyết pháp hoan hỷ, khai giải liền phát vô thượng chánh chơn đạo ý, bỏ nước bỏ ngôi vua trở thành sa môn, hiệu là Pháp Tạng.

Giải:

Danh hiệu Thế Nhiêu Vương được ghi trong bản Hán dịch, kinh chép: ‘Thế Nhiêu Vương nghe kinh tu đạo hoan hỷ, khai giải, liền bỏ ngôi vua, trở thành tỳ kheo’. Ngài Nghĩa Tịch bảo: ‘Chuẩn theo kinh văn, Thế Nhiêu Vương chính là tục danh của ngài Pháp Tạng’. Ngài nói như vậy vì kinh văn bản Hán dịch khẳng định rõ ràng: lúc làm quốc vương, [Pháp Tạng] tên là Thế Nhiêu Vương, sau đó xuất gia trở thành tỳ kheo Pháp Tạng.

Vào thời ấy, có một đại quốc vương tên là Thế Nhiêu Vương nghe đức Phật Thế Gian Tự Tại Vương thuyết pháp tâm chợt khai ngộ, thấu suốt Thật Nghĩa nên kinh chép là ‘khai giải’. Do khai giải nên tự nhiên ‘hoan hỷ’. Điểm này giống như cuối các bản kinh thường chép: ‘Nghe lời Phật dạy đều đại hoan hỷ’.

Trong câu ‘liền phát vô thượng chánh chơn đạo ý’, chữ ‘liền’ có nghĩa là ngay lập tức, ‘phát’phát tâm. ‘Vô thượng chánh chơn đạo’ tiếng Phạn là a nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề, tức là đạo mà đức Phật đã chứng đắc. Do không gì hơn được đạo ấy nên bảo là ‘vô thượng’. ‘Chơn’ là chơn thật. ‘Chánh’thánh trí vì biết đúng như pháp tướng. ‘Đạo’ là đạo vô ngại. ‘Ý’ là tâm năng cầu, tức là cái tâm cầu Bồ Đề đạo được gọi là ‘ý’. Vì vậy, ‘vô thượng chánh chơn đạo ý’ chính là phát vô thượng đại Bồ Đề tâm. Thế Nhiêu Vương nghe pháp khai giải, ngay lập tức phát vô thượng đại Bồ Đề tâm, bỏ đất nước và ngôi vua, tránh đời, xuất gia, trở thành sa môn.

‘Sa môn’ nguyên là tiếng để gọi chung những người xuất gia, kể cả ngoại đạo, sau này mới trở thành danh từ dành riêng cho tăng lữ Phật giáo. Sa môn nghĩa là Cần Tức, sách Hội Sớ giảng: ‘Kẻ ấy siêng (cần) tu pháp lành, dứt (tức) các ác’. Kinh Tứ Thập Nhị Chương chép: ‘Từ biệt thân thuộc xuất gia, hiểu thấu cội rễ của tâm tánh, hiểu pháp vô vi, gọi là Sa Môn’. Đấy chính là ý nghĩa sâu xa của chữ Sa Môn vậy.

‘Hiệu là Pháp Tạng’: Pháp Tạng chính là pháp danh của Thế Nhiêu Vương sau khi trở thành tỳ kheo. Bản Hán dịch chép là Pháp Bảo Tạng, bản Ngô dịch ghi là Đàm Ma Ca, bản Đường dịch viết là Pháp Xứ, bản Tống dịch ghi là Tác Pháp, Đại Luận lại ghi là Pháp Tích, chỉ mỗi bản Ngụy dịch chép là Pháp Tạng; bản hội tập dùng danh xưng này. Các bản dịch tên ngài sai khác như vậy chỉ là do cách dùng từ sai khác. Theo Thám Huyền Ký, chữ Pháp có đến bốn nghĩa:

- chứa đựng, bao gồm

- tích chứa sâu sắc.

- sanh ra

- vô tận.

Do chứa đựng hết thảy pháp nên gọi là Pháp Tạng như Gia Tường Sớ nói: ‘Do có thể tích lũy Phật pháp một cách sâu xa nên gọi là Pháp Tạng’. Lại vì có thể mở bày pháp tạng của Phật nên gọi là Pháp Tạng

  Chánh kinh:

Tu Bồ Tát đạo, cao tài dũng triết, siêu dị hơn đời, tín, giải, nhớ dai đều là bậc nhất. Lại có hạnh nguyệnniệm huệ lực thù thắng để tăng thượng tâm mình kiên cố chẳng động, tu hành tinh tấn chẳng ai hơn nổi.

 

Giải:

Đoạn kinh này khen ngợi nồng nhiệt đức hạnh tu hành của tỳ kheo Pháp Tạng sau khi xuất gia. Câu ‘tu Bồ Tát đạo’ trích từ bản Ngô dịch, hàm ý: Pháp Tạng hướng thẳng đến Nhất Thừa chẳng lạc trong Quyền, Tiểu. Bản Tống dịch ghi là ‘Đại Thừa đệ nhất’. Như vậy, pháp của Bồ Tát tu chỉ là pháp Nhất Thừa Chơn Như viên mãn.

‘Cao tài dũng triết’: Tài là khả năng hay trí huệ, Triết là hiểu rõ. Gia Tường Sớ giảng: ‘Khen ngợi tài năng siêu quần nên bảo là Cao Tài. Tự thắng được mình, thắng được người nên khen là Dũng. Sáng suốt phá tan tà kiến nên bảo là Triết’. Tịnh Ảnh Sớ lại giảng: ‘Tài là tài khéo, tài đức hơn người nên bảo là Cao Tài. Ý chí mạnh mẽ là Dũng. Tâm sáng suốt là Triết’. Như vậy, câu ‘cao tài dũng triết’ hàm ý: Bồ Tát Pháp Tạng tài cao hơn người, dũng mãnh tinh tấn, tâm rạng trí sáng.

Tịnh Ảnh Sớ giảng câu ‘siêu dị hơn đời’ như sau: ‘Riêng mình ngài đức hạnh vượt trỗi nên bảo là siêu dị hơn đời’. Sách Hội Sớ lại bảo: ‘Thường nhân chẳng bằng nổi nên bảo là siêu dị hơn đời’. Sách Hợp Tán lại bảo: ‘Nếu là ở bậc địa thượng phát tâm thì đời (Thế) có nghĩa là những người thuộc địa tiền’. Vì không dám đoan chắc lúc Bồ Tát Pháp Tạng phát tâm đã đạt đến địa vị nào nên sách Hợp Tán chỉ nói dè dặt rằng: ‘Nếu là ở bậc địa thượng phát tâm’ thì chữ Thế trong câu ‘siêu dị hơn đời’ (ư thế siêu dị) sẽ chỉ hết thảy những người chưa đạt đến Sơ Địa. Đó là vì những người còn thuộc Địa Tiền được gọi chung là thế gian, chỉ bậc chứng Sơ Địa trở lên mới được gọi là xuất thế gian. Tôi trộm nghĩ tác giả sách Hợp Tán tin rằng ngài Pháp Tạng khi ấy đã là bậc địa thượng Bồ Tát phát tâm nhưng chưa dám quả quyết thôi.

Với vấn nạn: ‘Khi phát tâm Bồ Tát Pháp Tạng đã ở địa vị nào?’ các nhà chú giải kinh nêu lên nhiều thuyết khác nhau. Ngài Tịnh Ảnh bảo: ‘Ở đây, ngài vừa mới phát tâm vô thượng nên còn thuộc địa tiền thế gian hạnh, đến đoạn sau có câu: ‘‘Ta phát tâm Vô Thượng Chánh Giác’’, [lúc ấy] ngài mới thuộc địa thượng xuất thế gian hạnh’. Các vị: Nghĩa Tịch, Vọng Tây v.v... cũng nghĩ tương tự: trong đoạn kinh này, khi Pháp Tạng phát tâm là còn thuộc địa tiền; đến phẩm thứ năm khi phát tâm lần nữa, ngài mới là địa thượng Bồ Tát phát tâm.

Các vị Đàm Loan, Gia Tường, Thiện Đạotác giả sách Bình Giải đều bác thuyết ấy. Sách Bình Giải bác thuyết của ngài Tịnh Ảnh như sau: ‘Dẫu có nói phát tâm trước (đoạn kinh này), sau (phẩm thứ năm) nhưng chẳng có hai lượt phát tâm. Chỉ là một lần phát tâm mà thôi!’. Ý nói: Đoạn này là đức Thích Ca thuyết pháp, thuật lại sự phát tâm của Bồ Tát Pháp Tạng; trong phẩm thứ năm ở phần sau, chính tỳ kheo Pháp Tạng tự thuật việc phát tâm của mình. Việc phát tâm thuật trong phần sau chỉ là nhắc lại việc phát tâm lần này. Tuy kinh có nói đến thứ tự phát tâm trước sau một cách sơ lược hay chi tiết sai khác, nhưng việc phát tâm của ngài Pháp Tạng chỉ là một, chẳng hề có đến hai lần!

Ý kiến của sách Bình Giải rất xác đáng. Sách còn viết tiếp: ‘Đại sĩ Long Thọ phán định là thuộc Sơ Địa hoặc là Bát Địa, cũng là từ quả hướng đến nhân, thật khác với ý các sư lắm!’ Viết như vậy là căn cứ vào Đại Luận. Trong Đại Luận, Đại Sĩ Long Thọ phán định Bồ Tát Pháp Tạng khi phát tâm đã ở bậc Sơ Địa hay là Bát Địa, nghĩa là đều thuộc bậc địa thượngphát tâm. Do đó, ý Đại Luận thật khác xa thuyết của các sư! Thuyết của sách Bình Giải thật có chứng cứ đích xác.

Phẩm Thọ Lượng kinh Pháp Hoa chép: ‘Từ khi ta (Phật Thích Ca) thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức na do tha kiếp’. Kinh Pháp Hoa lại bảo đức Thích Ca cùng Phật Di Đà trong vô lượng a tăng kỳ kiếp trước cùng làm vương tử của Đại Thông Trí Thắng Như Lai. Như vậy, Di Đà Như Lai cũng đã thành Phật từ rất lâu xa rồi, đúng là tỳ kheo Pháp Tạng chỉ từ quả hướng nhân mà thôi.

‘Tín, giải, nhớ dai đều là bậc nhất’: Tín là tin nhận (tín thọ). Quyển hai sách Đại Thừa Nghĩa Chương chép: ‘Đối với Tam Bảo tâm tịnh chẳng ngờ gọi là Tín’. Quyển sáu kinh Hoa Nghiêm (bản dịch đời Tấn) cũng bảo: ‘Tín là nguồn đạo của biển công đức... thị hiện khai phát vô thượng đạo’. ‘Giải’liễu giải, khai giải, hiểu thông suốt. Kinh Hoa Nghiêm lấy ‘tín giải hạnh chứng’ làm cương yếu là bởi có tín giải chơn thật thì mới có thể sanh khởi hạnh chứng chơn thật. ‘Nhớ dai’ (tạm dịch chữ minh ký) là ghi nhớ một cách phân minh, chẳng hề quên mất pháp đã nghe, nhớ rành mạch phân minh nên bảo là ‘minh ký’.

Câu ‘đều là đệ nhất’hai nghĩa:

- Một là cao cùng tột vô thượng không ai hơn được nổi.

- Hai là sự tín, giải, lãnh hội của ngài đều khế hợp Đệ Nhất Nghĩa Đế nên ‘đều là bậc nhất’.

‘Lại có hạnh nguyệnniệm huệ lực thù thắng để tăng thượng tâm mình kiên cố chẳng động’: “Thù thắng” là thuật ngữ riêng của Phật giáo, Thù là đặc biệt, Thắng là siêu việt. Việc gì siêu phàm tuyệt tục, thế gian hy hữu thì bảo là ‘thù thắng’.

‘Hạnh nguyện’ là thân hạnh và tâm nguyện hỗ trợ nhau. Sách Bồ Đề Tâm Luận giảng: ‘Cầu Bồ Đềphát Bồ Đề tâm, tu Bồ Đề tâm’. ‘Phát’ là tín nguyện, ‘tu’ là hạnh. Ba thứ tư lương: tín, nguyện, hạnh như ba chân của cái đỉnh, chẳng thể thiếu một. Phật Di Đà hiệu là Đại Nguyện Vương, pháp môn Tịnh Độ hoàn toàn nương vào biển nguyện Nhất Thừa của Phật Di Đà, lấy tín nguyện trì danh làm tông cho thấy chữ Nguyện thật đúng là cốt lõi của Tự Giác, Giác Tha vậy.

Đại nguyện sanh ra đại lực nên đại nguyện và sức niệm huệ cùng làm tăng thượng duyên. Tịnh Ảnh Sớ nói: ‘Nguyện để khởi hạnh thì gọi là nguyện lực’. Sách Hội Sớ nói: ‘Nguyện lực là tứ hoằng thệ nguyện để thanh tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh vậy’. Nay Bồ Tát Pháp Tạng có đủ các nguyện lực thù thắng không chi bằng nổi nên ngài được gọi là Đại Nguyện Vương. Chữ ‘niệm huệ lực’ còn chỉ niệm lực và huệ lực. Tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực gọi chung là ngũ lực. Trí Độ Luận nói: ‘Tăng trưởng ngũ căn khiến chúng chẳng bị phiền não phá hoại nên gọi là Lực’. Luận còn nói: ‘Thiên ma ngoại đạo chẳng thể ngăn trở, phá hoại nên gọi là Lực’.

Niệm lực tăng trưởng niệm căn, phá được các tà niệm. Huệ lực tăng trưởng huệ căn, phá các hoặc trong tam giới. Đại sư Linh Phong (tổ Ngẫu Ích) còn bảo: ‘Niệm căn tăng trưởng thành tựu hết thảy chánh niệm xuất thế công đức nên gọi là niệm lực. Huệ căn tăng trưởng ngăn che được hết thảy các Hoặc Chướng dù thông hay biệt, phát sanh chơn vô lậu nên gọi là huệ lực’. Kiến Tư Hoặcthông hoặc vì cả ba thừa cùng phải đoạn trừ. Trần Sa Hoặc, Vô Minh Hoặcbiệt hoặc, chỉ riêng Bồ Tát phải đoạn. Huệ quang dứt được hoặc, hiển phát vô lậu chơn trí nên gọi là Huệ Lực. Các lực như vậy đều thù thắng cả.

‘Tăng thượng’ là có thế lực mạnh mẽ, có thể khiến cho các pháp khác được tăng trưởng, phát triển thêm nên gọi là ‘tăng thượng’. Cái được tăng thượng trong đoạn kinh này thật hết sức thù thắng vì nó chẳng phải là pháp nào khác mà chính là ‘tâm mình’. ‘Tâm mình’ chính là tự tâm của đương nhân. Kinh Kim Cang dạy: ‘Đừng trụ vào đâu cả mà sanh tâm mình’. Cả hai kinh cùng nhắc đến ‘tâm mình’, đó chính là ‘nhất tâm’. Giống như khi mài kiếng, chất dơ hết thì gương hiện sáng; vô minh hoặc đã hết, tự tâm liền hiện sáng. Vì thế, kinh nói: ‘Tăng thượng tâm mình’.

‘Kiên cố chẳng động’: Tâm mình như kim cang phá được hết thảy, nhưng hết thảy chẳng phá được tâm nên bảo là ‘kiên cố’. Tâm ấy như như, giống như kinh Kim Cang nói: ‘Như như bất động’ nên bảo là ‘chẳng động’. Cái tâm bất động ấy chẳng hề bị chìm đắm, vướng mắc trong không tịchtâm tâm khế hợp với Chơn Như, niệm niệm nhập trong Như Lai Giác Hải.

‘Tu hành tinh tấn không ai hơn được’: “Tu hành” xưa vốn là tiếng thông dụng, chỉ từ đời Tấn trở đi, tu hành mới trở thành thuật ngữ Phật giáo chuyên biệt. Đúng như lý mà hành Giới, Định, Huệ thì gọi là ‘tu hành’. Tu hành chính là hành pháp trong bốn pháp: Giáo, Lý, Hành, Quả. ‘Tinh tấn’ là siêng năng. Trong bản sớ giải kinh Quán Di Lặc Thượng Sanh, ngài Từ Ân (Khuy Cơ) giảng chữ ‘tinh tấn’ như sau: ‘Tinh là tinh thuần, không ác tạp. Tấn là thăng tấn, chẳng biếng lười’. ‘Hơn’ (tạm dịch chữ du) nghĩa là: vượt hơn, hơn hẳn, vượt trội.

Hai câu này (tức là câu: ‘tu hành tinh tấn, không ai hơn nổi’) dùng để tổng kết đoạn kinh văn trên. Chữ ‘tu hành’ chỉ chung các diệu hạnh đã thuật trong các đoạn trên. Với các hạnh như vậy đều siêng năng tấn tới nên bảo là ‘tu hành tinh tấn’. Đức hạnh của tỳ kheo Pháp Tạng không ai bằng được nổi nên bảo là ‘không ai hơn nổi’.

Chánh kinh:

Đi đến chỗ Phật, đảnh lễ, quỳ dài, hướng về Phật chắp tay, liền dùng già tha khen Phật, phát nguyện rộng lớn, tụng rằng:

Giải:

‘Đảnh lễ’: tiếng Phạn là Na Mộ, Tàu dịch là Quy Mạng, Khể Thủ, Đảnh Lễ hoặc chỉ dịch là Lễ, thường nói: ‘Đảnh lễ Phật túc’ (đảnh lễ dưới chân Phật). Chỗ quý nhất trong thân ta là đảnh đầu, chỗ thấp hèn nhất là bàn chân. Dùng cái tôn quý nhất của ta để cung kính cái thấp hèn nhất của người để biểu lộ lòng cung kính đến cùng cực.

‘Già tha’ (gatha): xưa dịch là Kệ, nay dịch là Tụng. Tụng có nghĩa là khen ngợi, ca tụng. Dùng đến kệ tụng vì hai lý do:

a. Lời kệ ít chữ nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa, dễ hiểu, dễ nhớ.

b. Âm điệu bài kệ du dương nên thường được dùng để tán vịnh. 

Tỳ kheo Pháp Tạng đến trước đức Phật, lễ Phật, khen ngợi, lại còn phát ra lời nguyện rộng lớn (như sẽ thuật đủ trong phần kinh văn kế tiếp). Hết thảy chúng sanh trong hiện tại và tương lai đều nương theo Nhất Thừa nguyện hải ấy mà được độ thoát cả.

Chánh kinh:

Như Lai vi diệu sắc đoan nghiêm

Hết thảy thế gian không ai sánh

Quang minh vô lượng chiếu thập phương

Nhật, nguyệt, hỏa, châu đều ẩn sáng

Thế Tôn hay diễn một âm thanh

Hữu tình tùy loại đều hiểu được

Lại hiện ra một diệu sắc thân

Khiến khắp chúng sanh tùy loại thấy

  Giải:

Bài tụng này trong bản Hán dịch mỗi câu chỉ có năm chữ, bản Ngụy dịch mỗi câu bốn chữ, hai bản Đường dịch và Tống dịch mỗi câu có bảy chữ (bản Ngô dịch thiếu hẳn bài kệ này). So ra, câu văn và ý nghĩa bài kệ trong hai bản Đường dịch và Tống dịch hay hơn cả nên hội bản cũng dùng bài kệ bảy chữ.

Trong bài tụng trên, đoạn đầu tán thán Phật đức. ‘Vi’ là nhỏ nhiệm, tinh diệu; ‘diệu’ là tốt đẹp, tinh túy. Đây là tiếng dùng để khen ngợi, ngụ ý: đủ các sự chẳng thể nghĩ bàn, không gì so sánh nổi. Báo độ, báo thân, sắc tướng của đức Phật chẳng thể nghĩ bàn nổi nên khen là ‘diệu sắc’. ‘Vi diệu’ là tinh diệu đến cùng cực. ‘Sắc đoan nghiêm’sắc tướng đoan chánh, trang nghiêm. Phẩm Tự của kinh Pháp Hoa có câu: ‘Sắc thân như hòn núi bằng vàng, đoan nghiêm thật vi diệu’.

‘Nặc’ (ẩn giấu) là giấu kín, ẩn đi, mất đi. ‘Diệu’ (trong lời kệ tạm dịch là sáng do số chữ hạn chế) có nghĩa là chiếu sáng. Nghĩa của bốn câu đầu bài tụng như sau: Sắc tướng Như Lai vi diệu, đoan chánh, trang nghiêm khó nghĩ lường nổi. Hết thảy tất cả các vật trong thế gian không vật nào sánh nổi sắc tướng của Như Lai. Ý nghĩa hai câu này cũng giống như lời kệ tán Phật: ‘Thập phương sở hữu ngã tận kiến, nhất thiết vô hữu như Phật giả’ (Con đã thấy hết tất cả hết thảy các vật trong mười phương. Trong hết thảy các vật, không có vật nào sánh bằng được Phật).

Phật phóng ra vô lượng quang minh chiếu khắp các cõi nước trong mười phương. Ánh sáng rực rỡ của mặt trời, mặt trăng, lửa, châu trong các cõi ấy đều bị quang minh của Phật che lấp mất chẳng thấy được nữa. Chữ ‘hỏa’ ở đây chỉ chung hết thảy đèn, đuốc và hết thảy các thứ ánh lửa sáng. ‘Châu’ma ni, còn phiên là Mạt Ni, nói đầy đủ là chấn đá mạt ni (cintamani), dịch nghĩa là châu, bảo, ly cấu, như ý. Nếu dịch gộp chung các ý trên thì dịch là ‘như ý bảo châu’. Ma ni tỏa quang minh lớn, hơn hẳn các thứ trong đời. Sách Hội Sớ nói: ‘Vật sáng nhất trong thiên hạ không gì hơn mặt trời, mặt trăng. Vật sáng nhất trong muôn vật không gì hơn nổi ma ni. Nhưng Phật quang vừa tỏa, ánh sáng của chúng đều bị che lấp hết’.

Bốn câu tụng kế đó đều trích nguyên văn từ bản Đường dịch. Bốn câu này xưng tán Thế Gian Tự Tại Vương Phật viên minh cụ đức, sự sự vô ngại (1), diệu dụng chẳng thể nghĩ bàn. Nghĩa của bốn câu ấy như sau: Thế Tôn diễn thuyết diệu pháp, trong một âm thanh có thể khiến cho các loài chúng sanh trong khắp cả cửu giới, lục đạo, tứ sanh đều tùy theo căn tánh của từng loài cùng nghe được, hiểu được lời Phật dạy. Ngôn ngữ trong thế gian thường bị trở ngại vì phương ngôn khác nhau cũng như do người nghe, kẻ nói không cùng một trình độ nên không hiểu được nhau. Đức Thế Tôn diệu dụng vô cùng, ngài khiến cho khắp tất cả các loài chúng sanh loài nào cũng hiểu được tiếng nói của ngài. Tiếng nói của Phật càng chẳng thể nghĩ bàn hơn nữa vì trong một âm thanh đã đầy đủ trọn vẹn vô biên diệu dụng chẳng thể nghĩ bàn như thế.

Hai câu kệ này thật đã hiển thị cảnh giới sự sự vô ngại siêu tình ly kiến của kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm có câu: ‘Lời nói của hết thảy Như Lai thanh tịnh, mỗi một tiếng có đủ các biển âm thanh. Theo ý thích của từng chúng sanh, mỗi một tiếng phát xuất biển biện tài của Phật’. Quả thật, bài kệ trên có cùng một ý chỉ với hai câu kệ trong kinh này: ‘Thế Tôn hay diễn một âm thanh, hữu tình tùy loại đều hiểu được’. Mỗi một âm thanhvô lượng âm thanh, mỗi một âm trong vô lượng âm thanh ấy lại có vô biên diệu dụng, tùy theo ý thích của từng chúng sanh mà mỗi một âm thanh xuất hiện vô biên biện tài khiến cho mỗi chúng sanh đều được nghe hiểu, được độ thoát. Đây chính là môn ‘chủ bạn viên minh cụ đức’ trong mười huyền môn: Một pháp viên mãn công đức của hết thảy pháp nên bảo là ‘viên minh cụ đức’. Trong một âm vang ra vô lượng âm, nói trọn vẹn hết thảy pháp, phổ độ vô biên chúng sanh, đấy chính là ‘viên minh cụ đức’. Hiển nhiên, kinh này và kinh Hoa Nghiêm có cùng một pháp vị.

Hai câu kệ trên đã diễn tả ngữ mật của Như Lai, hai câu kệ kế tiếp: ‘Lại hiện ra một diệu sắc thân, khiến khắp chúng sanh tùy loại thấy’ diễn tả thân mật của đức Như Lai. Phật có thể hiện ra một sắc thân vi diệu khiến cho khắp các loài chúng sanh tùy theo phẩm loại của chúng đều được thấy Phật. Xét ra, Phật thân có đến năm loại: Pháp Thân, báo thân, ứng thân, hóa thân, đẳng lưu thân.

 a. Pháp Thân: tức là Tự Tánh Thân, mang tên Tỳ Lô Giá Na, dịch là Biến Nhất Thiết Xứ. Thân này là lý thể của Trung Đạo, lìa khỏi hết thảy tướng và các hí luận, đầy đủ vô biên công đức thanh tịnh, chơn thật. Đây là cảnh giới chỉ có Phật với Phật mới chứng nhập được.

b. Báo thân: Thân này của đức Như Lai mang tên Lô Xá Na, dịch là Quang Minh Biến Chiếu, phải là bậc Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên mới thấy nổi.

c. Ứng thân: Chẳng hạn như đức Thích Ca Văn. Ứng thân [nói chung] chỉ thân Phật dùng để hiện tám tướng thành đạo. Địa tiền Bồ Tát, Nhị Thừa, phàm phu đều thấy được thân này.

d. Hóa thân: Thân Phật hóa hiện trong một giai đoạn nào đó thì gọi là Hóa Thân

e. Đẳng lưu thân: Là một trong bốn thân do Mật giáo lập ra. Đẳng Lưu Thân là thân do Phật thị hiện có cùng hình dạng như các loài trời, người, quỷ, súc sanh v.v... cho các dị loại đều được thấy.

Câu kệ trong bài tụng trên có nghĩa là: từ một thân Phật hiện ra vô lượng các thân khiến cho mọi loài chúng sanh mỗi loài đều được trông thấy. Câu này cũng hiển thị cảnh giới viên minh cụ đức chẳng thể nghĩ bàn vậy.

Phần kệ tụng trên đây là lời khen ngợi Phật, phần tiếp theophát nguyện. Tỳ kheo Pháp Tạng sau khi tán thán công đức của Phật xong liền phát khởi thệ nguyện rộng lớn: nguyện tự làm Phật, nguyện nhiếp trì Phật độ, lợi khắp chúng sanh chóng thành Chánh Giác.

Phải phát đại nguyện vì đó là việc trọng yếu nhất. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có chép: ‘Giả sử mười phương hết thảy chư Phật liên tục diễn nói công đức của Như Lai trong số kiếp nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật cũng chẳng thể nói hết nổi. Nếu muốn thành tựu môn công đức ấy phải tu mười thứ hạnh nguyện rộng lớn’. Vì vậy, Tịnh tông dùng ba thứ tín, hạnh, nguyện làm tư lương.

Linh Phong đại sư dạy: ‘Không có tín chẳng đủ để phát khởi nguyện, không có nguyện chẳng đủ dẫn dắt hạnh’. Pháp sư Tỉnh Am đời Thanh cũng nói: ‘Tu hành thì việc cần kíp trước tiên là lập nguyện. Nguyện đã lập mới độ nổi chúng sanh, tâm đã phát mới kham thành được Phật đạo’. Ngài còn dạy: ‘Vì vậy, cần biết là nếu muốn học Như Lai thừa thì trước hết phải phát đủ Bồ Tát nguyện, chẳng được chần chừ’.

Đoạn kệ tụng tiếp sau đây là lời Pháp Tạng nguyện cầu đức tự giác, giác tha.

Muốn giác tha thì trước hết mình phải tự giác đã. Cầu tự giác chính là để giác tha
Chánh Kinh:

Nguyện con được tiếng Phật thanh tịnh

Pháp âm phổ cập vô biên giới

Tuyên dương giới, định, tinh tấn môn

Thông đạt thậm thâm vi diệu pháp

Trí huệ rộng lớn sâu như biển

Nội tâm thanh tịnh tuyệt trần lao

Vượt khỏi vô biên ác thú môn

Mau đến bờ Bồ Đề rốt ráo

Vô minh, tham, sân vĩnh viễn dứt

Hoặc tận, lỗi mất, tam muội lực

Giải:

Hai câu đầu là tỳ kheo Pháp Tạng nguyện được đầy đủ hạnh đức lợi tha như Phật: nguyện được tiếng thanh tịnh của Như Lai. ‘Thanh tịnh’ là không có lầm lỗi ác hạnh, lìa phiền não cấu nhiễm thì gọi là ‘thanh tịnh’. Nguyện tôi được như Phật có thể phát ra những pháp âm không lầm lỗi, không cấu nhiễm, phổ cập vô biên các giới.

Sách Đại Thừa Nghĩa Chương giảng chữ ‘giới’ như sau: ‘Chia riêng biệt ra gọi là Giới. Tánh các pháp riêng biệt nên gọi là Giới’. Như vậy, Giới có nghĩa là “sai biệt”. Mỗi thứ sự vật tự duy trì tướng của nó, tướng sai biệt nhưng chẳng hỗn độn thì là Giới, chẳng hạn như ta thường nói: ‘Các giới nhân sĩ’. Do chữ Giới có nhiều nghĩa như vậy nên câu ‘phổ cập vô biên giới’ có nghĩa là phổ biến khắp hết thảy.

Câu kệ thứ ba: ‘Tuyên dương giới, định, tinh tấn môn’ trích từ bản Tống dịch. Câu kệ này trong bản Đường dịch được ghi là: ‘Diễn thuyết các pháp môn: thí, giới, nhẫn nhục, tinh tấn và định huệ’. Bản Đường dịch nói rõ lục độ: bố thí, trì giới, tinh tấn, thiền định, bát nhã. Bản Hán dịch cũng chép như vậy, bản Tống dịch ghi giản dị hơn là ba độ: giới, định, tinh tấn. Ba độ này là cốt lõi cùng bao hàm cả ba thứ kia.

Câu kế tiếp: ‘Thông đạt thậm thâm vi diệu pháp’ nói đến pháp thậm thâm vô thượng được mười phương chư Phật khen ngợi, đó là trì danh niệm Phật. Tỳ kheo Pháp Tạng nguyện đạt được pháp âm như Phật, rộng tuyên các diệu hạnh như lục độ... là muốn cho chúng sanh thông đạt pháp thậm thâm vi diệu sau đây: ‘Tâm này là Phật, tâm này làm Phật’, hiểu rõ bổn tâm của chính mình, thấu hiểu bổn tánh của mình, đều sẽ thành Phật độ sanh cả.

Bốn câu đầu của phần kệ tụng này là lời mong cầu Giác Tha Đức, sáu câu tiếp theo là ý mong cầu Tự Giác Đức. Trước hết cầu pháp âm được tuyên lưu, sau cầu trí huệ rộng như biển, đạt thẳng đến bờ kia rốt ráo.

‘Trí huệ’Bát Nhã, Trí Độ Luận nói: ‘Bát Nhã: Hán dịch là Trí Huệ. Trong hết thảy các thứ trí huệ, Bát Nhã là bậc nhất, vô thượng, không gì sánh, không chi bằng, không có gì hơn được nổi’. Sách Vãng Sanh Luận Chú cũng viết: ‘Bát Nhã là tên gọi của cái trí huệ đã đạt Như’, nghĩa là: Trí huệ thông đạt được Chơn Như gọi là Bát Nhã. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương lại giảng: ‘Thể của Chơn Như sáng tỏ, tự tánh chẳng tối tăm nên gọi là Huệ’, nghĩa là: Bổn thể của Chơn Như sáng tỏ, tự tánh rạng ngời, sáng suốt không chút tối tăm nên ta gọi đó là Huệ.

Trong phần phát nguyện được tự giác của kệ tụng, trước tiên, nói ngay đến Trí HuệTrí Huệtối thượng. Hơn nữa, chỉ dùng trí mới vượt nổi biển cả Phật pháp như bản Hán dịch chép: ‘Đàn thí, điều phục ý. Giới, nhẫn và tinh tấn. Tam muội định như thế, trí huệ là tối thượng’. Ngài Gia Tường giảng: ‘Thấu hiểu năm độ mới là hạnh, chưa thể thoát khỏi sanh tử; cần phải do trí huệ thấu đạt cội nguồn mới có thể giải thoát. Do đó, trí huệ là tối thượng’. Theo như câu văn trong Đại Thừa Nghĩa Chương vừa trích dẫn ở trên, ta thấy rằng Trí Huệ chính là bổn thể của chơn tâm sáng tỏ, tự tánh không tối tăm. Vì vậy, ngay khi Trí Huệ đã sâu rộng như biển thì nội tâm ắt cũng phải thanh tịnh, không ác, không lỗi, ly cấu, ly nhiễm, dứt sạch các trần lao nên mới bảo: ‘Nội tâm thanh tịnh tuyệt trần lao’ như Tâm kinh đã dạy: ‘Lúc thực hành Bát Nhã ba la mật một cách sâu sa, soi thấy năm uẩn đều là không, vượt khỏi hết thảy khổ ách’.

‘Tuyệt’ có nghĩa là dứt, diệt, hoàn toàn không còn nữa. ‘Trần lao’phiền não. Do các phiền não: tham, sân, si… như bụi bặm (trần cấu) che lấp chơn tánh khiến thân tâm nhọc mệt, não loạn nên ta gọi phiền não‘trần lao’.

Do trí huệ sâu rộng, thanh tịnh tuyệt trần như vậy nên có thể vượt khỏi vô biên vô số các nẻo ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, chẳng đọa trong ba đường ác nên nói: ‘Vượt khỏi vô biên ác thú môn’ và nhanh chóng đạt đến bờ kia Bồ Đề rốt ráo. Bồ Đề là Giác. ‘Bờ kia Bồ Đề rốt ráo’ chính là Cứu Cánh Giác. Sách Tam Tạng Pháp Số giảng: ‘Cứu Cánh nghĩa là quyết định, chung cực, nghĩa là: hiểu rõ ràng nguồn gốc của cái tâm cấu nhiễm đến mức cùng tột, rốt ráo thì tâm ấy chính là bổn giác nên ta gọi đó là Cứu Cánh Giác’. Đấy chính là sự giác ngộ đến cùng tột, trọn vẹn nhất của bậc Bồ Tát đại hạnh viên mãn, tức là đã thành Phật vậy.

Vì muốn thoát khỏi sanh tử, trước hết tỳ kheo Pháp Tạng cầu trí huệ. Do trí huệ chiếu soi, nội tâm thanh tịnh sạch hết trần lao, ngay khi ấy, đóng lấp các nẻo ác, nhanh chóng chứng được quả giác cứu cánh. Do đó, ngài bảo: ‘Mau đến bờ Bồ Đề rốt ráo’. Chữ ‘bờ’ ở đây là ‘bờ kia’ (bỉ ngạn). Sanh tử là bờ bên này (thử ngạn), Niết Bànbờ bên kia. ‘Bờ cứu cánh’địa vị Niết Bàn cứu cánh.

‘Vô minh’ là tên khác của Si. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương viết: ‘Thể của cái tâm bị si ám là vì không có trí huệ sáng suốt nên gọi là vô minh’. Vô minh, tham, và sân là tam độc. Do trí huệ đạt đến bờ kia, lại do sức tam muội nên vĩnh viễn không còn tam độc, tam hoặc (kiến tư, trần savô minh) đều hết sạch, bao lỗi lầm đều chẳng còn.

‘Tam muội’ còn gọi là Chánh Định, Chánh Thọ, Đẳng Trì. Sách Thám Huyền Ký, quyển ba giảng: ‘Tam Muội, Tàu dịch là Đẳng Trì. Vì chẳng chìm nổi, vì trí huệ bình đẳng nên gọi là Đẳng. Do tâm chẳng tán loạn, trụ vào một cảnh nên gọi là Trì’. Trong các tam muội chỉ có Niệm Phật tam muội là cao quý nhất như vị vua, quý nhất như của báu nên kinh Đại Tập gọi Niệm Phật tam muộiBảo Vương tam muội. ‘Tam muội’ được nói trong bài kệ tụng ở đây chính là Niệm Phật tam muội. Sau chữ ‘tam muội’ lại thêm chữ ‘lực’ để biểu thị các đức lớn lao như trên đều xuất phát từ sức Niệm Phật tam muội nên nói: ‘Vô minh, tham, sân vĩnh viễn dứt. Hoặc tận, lỗi mất, tam muội lực’.

Sáu câu phát nguyện này lấy trí huệ để mở đầu, lấy Bảo Vương tam muội và Giới, Định, Huệ v.v… để kết thúc, thật là ý chỉ sâu xa vậy.

 Chánh kinh:

Cũng như vô lượng Phật quá khứ

Làm đại đạo sư cho quần sanh

Cứu độ hết thảy các thế gian:

Sanh, lão, bịnh, tử... các khổ não

Thường hành Bố Thí và Giới, Nhẫn,

Tinh Tấn, Định, Huệ, sáu ba la

Hữu tình chưa độ khiến được độ

Kẻ đã được độ khiến thành Phật

Giả sử cúng dường hằng sa thánh

Chẳng bằng kiên dũng cầu Chánh Giác.

Giải:

Đoạn kệ phát nguyện trên đây diễn tả ý mong cầu đức Giác Tha của Phật.

Ý của bốn câu đầu là tỳ kheo Pháp Tạng nguyện được như hết thảy vô lượng chư Phật trong quá khứ: làm đại đạo sư cho hết thảy hữu tình, dẫn dắt chúng sanh lìa khổ được vui, từ mê được ngộ, thoát biển sanh tử, nhập Phật tri kiến, lại dùng các thứ phương tiện khiến hết thảy chúng sanh được sức vô úy. Vì thế, ngài nói: ‘Cứu độ hết thảy các thế gian, sanh, lão, bịnh, tử... các khổ não’.

Nói một cách thô thiển, Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới là ‘các thế gian’. Tam giới chẳng an ví như nhà lửa, đều thuộc trong biển sanh tử nên nguyện cứu độ. Nói ở mức độ cao hơn, ngay cả những vị ở bậc Địa Tiền vẫn còn thuộc thế gian, vô minh chưa dứt nên cũng cần phải độ thoát họ. Bốn câu từ chữ ‘thường hành Bố Thí’ trở đi nói đến bổn nguyện đại bi vô tận của Pháp Tạng Bồ Tát: nguyện thường hành Lục Độ phổ độ chúng sanh.

Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện chép: ‘Chư Phật Như Lai lấy đại bi làm thể nên đối với chúng sanh khởi đại bi, do đại bi nên sanh Bồ Đề tâm, do Bồ Đề tâm thành Đẳng Chánh Giác. Ví như trong chốn sa mạc có đại thọ vương, nếu rễ của nó hút được nước thì cành, lá, hoa, quả thảy đều sum xuê. Cây thọ vương Bồ Đề trong chốn sa mạc sanh tử cũng giống như vậy: hết thảy chúng sanh là rễ cây, chư Phật, Bồ Táthoa quả. Lấy nước đại bi làm lợi chúng sanh thì thành tựu được hoa quả trí huệ của chư Phật, Bồ Tát’. Kinh Đại Nhật cũng dạy: ‘Đại bi làm rễ’. Ở đây, ngài Pháp Tạng cũng thế: do đại bi nên rộng hành Lục Độ, phổ độ quần sanh.

‘Sáu ba la’ tức là Lục Độ, là chánh nhân để chứng Niết Bàn. Nguyện hành Lục Độ chính là: ‘Pháp môn vô biên thệ nguyện học’ và ‘Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành’. Hơn nữa, Bố Thí trị được keo tham, Trì Giới trị phá giới, Nhẫn Nhục trị nóng giận, Tinh Tấn trị biếng trễ, Thiền Định trị tán loạn, Trí Huệ trị ngu si. Thường hành Lục Độ thì chính là ‘phiền não vô biên thệ nguyện đoạn’. Tự giác, giác tha là dùng sự giác ngộ của chính mình để giác ngộ khắp các chúng sanh, dùng hạnh của chính mình để dẫn dắt chúng sanh, đem đức của chính mình hồi hướng đến chúng sanh. Đấy chính là ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’. Do vậy, trong kệ tụng có câu: ‘Hữu tình chưa độ khiến được độ, kẻ đã được độ khiến thành Phật’. Cứu vớt, gánh vác cho họ đều đạt tới bỉ ngạn. Bốn câu kệ này đã chứa trọn ý nghĩa tứ hoằng thệ nguyện.

Trong hai câu ‘Giả sử cúng dường hằng sa Phật, chẳng bằng kiên dũng cầu Chánh Giác’, chữ ‘hằng sa’ chỉ cát trong con sông Hằng của Ấn Độ. Do sông Hằng lắm cát, đại chúng ai cũng thấy rõ như vậy nên Phật thường dùng cát sông Hằng làm thí dụ. Ý nghĩa của hai câu kệ trên là: Giả sử cúng dường chư Phật nhiều như số cát của sông Hằng ‘chẳng bằng cầu Chánh Giác một cách kiên cố, dũng mãnh chẳng khiếp nhược’. Đoạn kinh này giống hệt như ý nghĩa của đoạn kinh sau đây trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm:

Này thiện nam tử! Trong các loại cúng dường, pháp cúng dường là bậc nhất. Pháp cúng dường là: cúng dường bằng cách tu hành đúng như lời dạy, cúng dường bằng cách lợi ích chúng sanh, cúng dường bằng cách nhiếp thọ chúng sanh, cúng dường bằng cách chịu khổ thay cho chúng sanh, cúng dường bằng cách siêng tu các căn lành, cúng dường bằng cách chẳng bỏ Bồ Tát nghiệp, cúng dường bằng cách chẳng rời Bồ Đề tâm.

Này thiện nam tử! Công đức của vô lượng các thứ cúng dường trước đó (ý nói cúng dường bằng tài vật) đem so với công đức của pháp cúng dường dẫu trong một niệm thì chẳng bằng được một phần trăm, một phần ngàn [cho đến] cũng chẳng bằng nổi một phần trăm ngàn câu chi na do tha, ca la phần, toán phần, số phần, dụ phần, ưu bà ni sa đà phần. Vì sao vậy? Vì các đức Như Lai tôn trọng pháp, do tu hành đúng như lời dạy sẽ sanh ra chư Phật. Nếu các Bồ Tát thực hành pháp cúng dường thì chính là thành tựu việc cúng dường Như Lai. Tu hành như thế mới là cúng dường chơn chánh’.

‘kiên cố, dũng mãnh cầu Chánh Giác’ chính là pháp cúng dường, là cúng dường chơn chánh, là bậc nhất trong các cách cúng dường nên cầu Chánh Giác vượt xa cúng dường hằng sa chư thánh bằng các tài vật khác.

Trong đoạn kinh Hoa Nghiêm trên đây, ‘câu chi’ là một ngàn vạn, ‘na do tha’ là vạn vạn, những con số nói kế tiếp đó càng lớn hơn nữa. Dẫu đem cả đại địa nghiền nát thành vi trần thì con số ‘ưu bà ni sa đà’ vẫn còn lớn hơn số vi trần ấy nữa. Công đức của pháp cúng dường ví như số vi trần trong toàn bộ quả địa cầu còn công đức của tài cúng dường chưa bằng một hạt bụi nhỏ, làm sao sánh nổi với tất cả số vi trần của địa cầu. Đấy chính là lời khen chi tiết về công đức chẳng thể nghĩ bàn của pháp cúng dường vậy.

Câu kệ ‘chẳng bằng kiên dũng cầu Chánh Giác’ chỉ rõ công đức ‘kiên cố, dũng mãnh cầu Chánh Giác’ của Bồ Tát Pháp Tạng vượt xa công đức cúng dường hằng sa chư thánh.

 Chánh kinh:

Nguyện sẽ an trụ tam ma địa

Luôn phóng quang minh chiếu hết thảy

Cảm được chốn thanh tịnh, rộng lớn

Trang nghiêm thù thắng không chi sánh

Các chúng sanh luân hồi các nẻo

Chóng sanh cõi tôi hưởng an lạc

Thường vận từ tâm cứu hữu tình

Độ hết vô biên chúng sanh khổ

Giải:

Tám câu trên đây chính là lời nguyện cầu thành Phật, nhiếp thủ Tịnh Độ. Tám câu này thật đúng là chỗ quy kết của toàn bộ các nguyện trên, cũng chính là cốt lõi của bốn mươi tám nguyện sẽ được thuật trong phần sau của chánh kinh.

Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện chép: ‘Nếu các Bồ Tát dùng nước đại bi làm lợi ích chúng sanh thì có thể thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì vậy, Bồ Đề thuộc về chúng sanh’. Để làm phương tiện rốt ráo hầu thành tựu sự nghiệp độ sanh nên ngài phát đại nguyện nhiếp thủ cõi Tịnh Độ.

Trong hai câu: ‘Nguyện sẽ an trụ tam ma địa, luôn phóng quang minh chiếu hết thảy’, ‘tam ma địa’ chính là tam muội hay chánh định. Nguyện an trụ trong Chánh Định, thường phóng quang minh chiếu trọn hết thảy. Nói cách khác, câu trên là nói về Tịch, về Thể; câu dưới nói về Chiếu, về Dụng. Hai câu kệ ngụ ý diệu đức: định huệ đẳng trì, tịch chiếu đồng thời, thể dụng bất nhị.

Phóng quangtu đức, thể của nó là tánh đức: tịch mà thường chiếu, chiếu nhưng luôn tịch. Cõi nước là Thường Tịch Quang, thân là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang Như Lai cho nên an trụ tịch định, luôn phóng quang minh chiếu khắp hết thảy. Do vậy, cảm được cõi Phật rộng lớn, thanh tịnh.

Chữ ‘cư’ (tạm dịch là chốn) trong câu ‘cảm được chốn thanh tịnh, rộng lớn’ chỉ quốc độ. Chữ ‘rộng lớn’ chỉ cõi nước ‘rộng rãi, bằng phẳng, chẳng có hạn lượng’ được nói trong kinh. ‘Thanh tịnh’‘thanh tịnh trang nghiêm, vượt trội mười phương’. Do vậy, bảo là ‘quảng đại thanh tịnh cư’ (chốn thanh tịnh rộng lớn).

Luận Vãng Sanh bảo ba thứ trang nghiêm vào trong một pháp cú mà một pháp cúthanh tịnh cú. Thanh tịnh cú là chơn thật trí huệ vô vi Pháp Thân. Vô vi Pháp Thân là thể, từ thể hiện ra y báo, chánh báo trang nghiêm của cõi Cực Lạc, nên nói: ‘Cảm được chốn thanh tịnh, rộng lớn, trang nghiêm thù thắng không chi sánh’. ‘Không chi sánh’ (vô đẳng luân) nghĩa là không gì bằng được nổi, không gì so sánh nổi. Bản Ngụy dịch lại chép rằng: ‘Đạo tràng siêu tuyệt’. ‘Siêu tuyệt’thù thắng, ý nghĩa cũng tương tự.

Gia Tường Sớ ghi: ‘Tu đạo nhanh chóng thành Phật nên bảo là siêu tuyệt’. Một lời của đại sư Gia Tường đã mở toang chỗ thù thắng siêu việt của Tịnh tông: nhanh chóng thành Phật, phàm phu vãng sanh chứng ngay bất thối; có bất thối mới mau chóng thành Phật nổi. Do phương tiện thù thắng nên phổ nguyện: ‘Các chúng sanh luân hồi các nẻo, mau sanh cõi tôi hưởng an lạc’. Sự an lạc ấy mới là an lạc chơn thật. Nhanh chóng thoát khỏi sanh tử, chóng thành Chánh Giác nên bảo là an lạc.

Kinh Xưng Tán Tịnh Độ lại dạy: ‘Vì các hữu tình tuyên thuyết pháp thậm thâm vi diệu để họ được lợi ích an vui thù thắng’. Kinh còn chép: ‘Chẳng có hết thảy khổ não nơi thân tâm, chỉ có vô lượng hỷ lạc thanh tịnh. Vì vậy, gọi là Cực Lạc thế giới’. Do những điều trên, kệ nói: ‘Hưởng an lạc’ vậy. Những điều vừa trình bày trên chính là ý nghĩa thật sự của câu kinh: ‘Ban cho cái lợi chơn thật’.

‘Thường vận từ tâm cứu hữu tình, độ tận vô biên chúng sanh khổ’: Từ là ban vui, Bi là dẹp khổ. Hai câu trên thể hiện hoằng thệ đại từ đại bi của ngài Pháp Tạng: nguyện thường vì hết thảy chúng sanh dẹp khổ, ban vui đến tột cùng đời vị lai; cứu vớt, gánh vác độ hết sạch chúng sanh xong mới thành Chánh Giác.

‘Thường’ là nói về thời gian. Quá khứ, vị lai, hiện tại được gọi là ‘tam tế’ (“Tế” là bờ mé, giai đoạn). Thường là tính theo chiều dọc, tột cùng cả tam tế, bao quát hết thảy thời gian quá khứ, hiện tại lẫn vị lai.

‘Vô biên’ là nói về không gian, trọn khắp cả mười phương hư không, tức là theo chiều ngang bao trọn hết thảy mười phương, bao quát hết thảy không gian nên vô biên, mười phương tam thế vô lượng vô biên.

Pháp Tạng Bồ Tát trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, đại từ đại bi độ thoát chúng sanh mãi cho đến khi độ xong tất cả mới ngưng nghỉ, nhưng thời gian vô cùng tận, không gian vô cùng tận, chúng sanh cũng vô cùng tận nên đại từ, đại bi, đại nguyện, đại hạnh cũng vô cùng tận.

Chánh kinh:

Hạnh tôi: sức quyết định, kiên cố

Chỉ Phật thánh trí chứng biết nổi

Dẫu thân tôi trụ trong các khổ

Nguyện tâm như thế mãi chẳng thối

 Giải:

Bổn nguyện được chia thành ba đoạn lớn: đoạn đầu là tán thán Phật, đoạn kế phát nguyện, bốn câu sau cùng này thỉnh Phật chứng minh. Tỳ kheo Pháp Tạng phát nguyện xong, liền thỉnh đức Thế Tự Tại Vương Như Lai chứng minh.

‘Tôi’ là tiếng Pháp Tạng tự xưng. Hạnh nguyện của tôi vốn sẵn đủ sức kiên cố quyết định, chỉ có đức Phật Thế Tôn là đấng đã viên mãn ba giác, ngũ nhãn rạng ngời, trí huệ vô ngại mới có thể chơn thật chứng cho tôi, nên nói: ‘Chỉ Phật thánh trí chứng biết nổi’.

Hơn nữa, khi ngài Pháp Tạng phát nguyện thì đã thuộc về cảnh giới rất sâu của bậc địa thượng Bồ Tát nên những người khác chẳng thấu hiểu nổi, chỉ có thánh trí của Phật mới có thể chứng biết nổi. Điểm này chứng tỏ Đại Sĩ Pháp Tạng diệu đức khó lường nổi.

Hai câu kệ cuối cùng chính là kết thệ để lập tâm. Bản Đường dịch ghi: ‘Ví chìm trong địa ngục thế gian, nguyện tâm như vậy trọn chẳng thối’. Vô Gián địa ngục khổ sở vô hạn, bản Đường dịch lấy cái khổ nặng nề nhất trong Vô Gián để chỉ chung tất cả các nỗi khổ khác. Trong bản hội tập, ngài Pháp Tạng thề rằng: ‘Dẫu cho thân trụ trong các khổ’ vì chữ ‘khổ’ dĩ nhiên đã gồm cả cái khổ địa ngục. Thề rằng dẫu đọa vào địa ngục thì hạnh nguyện trên đây của tôi cũng chẳng bị thoái chuyển, minh thị rõ điều được nói trong câu kệ ngay trước đó: ‘Hạnh tôi: sức quyết định, kiên cố’. Sách Hội Sớ cũng giảng: ‘Nếu chỉ có nguyện thì nguyện ấy là hư dối; nếu chỉ có hạnh, hạnh ấy cũng luống uổng. Vì vậy, nguyện hạnh phải hỗ trợ nhau thì việc làm (tu hành) mới thành tựu’.

 

5. Chí tâm tinh tấn  

Phẩm này tiếp ý phẩm trước. Pháp Tạng Bồ Tát phát đại nguyện rằng: Tôi đã phát tâm Vô Thượng Chánh Giác, lúc tôi thành Phật: quốc độ, Phật hiệu đều nổi tiếng mười phương, hết thảy hữu tình cho đến cả các loài trùng bọ hễ sanh vào nước tôi đều thành Bồ Tát, chẳng có thừa nào khác [ngoài Bồ Tát thừa] và nguyện rằng do Nhất Thừa nguyện hải vừa được phát khởi ấy cõi nước của tôi sẽ siêu việt vô số cõi Phật. Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai đáp ứng lời thỉnh, hiện cho Pháp Tạng thấy cả hai trăm mười ức cõi Phật. Pháp Tạng liền tu tập siêng gắng trong năm kiếp, kết thành nguyện thù thắng, nhiếp thọ cõi nước vượt trội xa cả hai trăm mười ức Phật sát ấy. Do vậy, phẩm này mang tên Chí Tâm Tinh Tấn.

‘Chí tâm’ là các thứ tâm hạnh chí thành vô thượng như trong kinh dạy. Hiểu sâu hơn, Pháp Tạng sau khi đích thân được thấy vô biên Phật sát ‘liền nhất tâm chọn lựa lấy những điểm mình thích’. ‘Nhất tâm’ tức là ‘chí tâm’ vậy. ‘Tinh tấn’‘siêng năng gắng gỏi, cung kính, thận trọng gìn giữ, tu tập công đức trọn cả năm kiếp’ ‘thành tựu hạnh trang nghiêm cõi Phật thanh tịnh’.

 Chánh kinh:

Tỳ kheo Pháp Tạng nói bài kệ ấy xong liền bạch Phật rằng:

- Con nay hành Bồ Tát đạo đã phát tâm Vô Thượng Chánh Giác, phát nguyện thành Phật ngõ hầu được như đức Phật. Nguyện Phật vì con rộng tuyên kinh pháp, con sẽ phụng trì, tu hành đúng như pháp, nhổ các cội rễ sanh tử nhọc nhằn, chóng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Con muốn khi mình được thành Phật: trí huệ, quang minh, quốc độ mình ở, giáo thọ, danh hiệu đều nổi tiếng mười phương. Chư thiên, nhân dân và các loài bay, bò.... hễ sanh về nước con đều là Bồ Tát. Nguyện con lập đây: [‘Cõi nước của con] thù thắng hơn vô số nước của chư Phật’] có thể đạt được chăng?

 Giải: Đoạn kinh văn này tiếp ý đoạn trước, nối kết đoạn sau. Trong phẩm trước, Pháp Tạng dùng kệ tỏ bày thệ nguyện; trong đoạn kinh này, ngài dùng lối văn trường hàng để bạch Phật: ‘Đã phát tâm Vô Thượng Chánh Giác’. Đấy là vì: điều quan trọng để nhập đạo là trước hết phải phát tâm; việc cần gấp trước hết trong tu hành là phải lập nguyện. Vì vậy, Bồ Tát Pháp Tạng sau khi phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, mong kết đại nguyện vượt trỗi hơn vô số cõi Phật nên ngài thỉnh đức Thế Tôn vì mình diễn giảng kinh pháp.

Đại ý của đoạn kinh này là: Con nay lúc hành Bồ Tát đạo, đã phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. Nguyện lúc thành Phật, hết thảy đều được như Phật. Vì vậy, xin đức Thế Tôn vì con rộng nói kinh pháp, con sẽ phụng trì, tu hành đúng như pháp. Nguyện vĩnh viễn lìa khỏi hết thảy gốc sanh tử nhọc nhằn. Ấy là vì sanh tử rất khổ, nó lại chẳng cạn kiệt nên bảo là ‘nhọc nhằn’. Muốn trừ sanh tử khổ quả phải nhổ rễ nó. Rễ của nó chính là các hoặc: kiến, tư, trần sa, vô minh... Do đoạn sạch các hoặc nên bảo là ‘Nhổ các cội rễ sanh tử nhọc nhằn’. Lại nguyện chóng thành Chánh Giác. Nghĩa của chữ ‘chóng’ trong đoạn kinh này giống như chữ ‘chóng’ trong câu ‘chóng sanh về cõi tôi hưởng an vui’ của phẩm trước. Hai chữ ‘chóng’ này cùng nói về nhất tâm. Bồ Tát Pháp Tạng tâm độ sanh khẩn thiết nên nguyện: ‘Các loài chúng sanh luân hồi trong các đường chóng sanh cõi tôi hưởng an vui’.

Câu ‘chư thiên, nhân dân và các loài trùng bay, bò... sanh trong cõi tôi đều là Bồ Tát’ ý nói: Các loài quần sanh sanh về nước tôi chẳng có Nhị Thừa, chỉ là Bồ Tát, đều thuộc địa vị Bổ Xứ. Vì vậy, đại nguyện của ngài Pháp Tạng thật là Nhất Thừa nguyện hải.

‘Đều thành Phật quả’Nhất Thừa, chẳng có hai hay ba thừa. Vì vậy, ba bậc vãng sanh đều cần phải phát Bồ Đề tâm. Rõ ràng, muốn mau thành Phật chỉ để chóng được độ sanh. Vì muốn độ sanh nên lúc thành Phật cần phải đạt được ‘trí huệ, quang minh, quốc độ mình ở, giáo thọ, danh hiệu đều nổi tiếng cả mười phương’. Đây chính là căn bản của nguyện thứ mười bảy ‘chư Phật khen ngợi’, nguyện thứ mười tám ‘mười niệm ắt vãng sanh’, nguyện thứ mười chín ‘nghe tên phát tâm’ trong bốn mươi tám đại nguyện vậy. Muốn khiến cho mười phương chúng sanh nghe danh hiệu Phật liền phát được tâm Bồ Đề, một dạ chuyên niệm thậm chí chỉ mười niệm cũng đều được vãng sanh. Như vậy, chúng sanh đắc độ trước hết là do nghe danh. Do vậy, Pháp Tạng Bồ Tát nguyện lúc thành Phật thì quang minh, trí huệ của Phật, cõi nước thù diệu siêu thắng, công đức, danh hiệu của Đạo Sư (tức giáo chủ Di Đà) vang dội mười phương. Do vậy, chúng sanh nghe danh, phát tâm liền được sanh Cực Lạc, quyết định thành Phật.

Câu cuối trong đoạn kinh văn này là lời thỉnh Phật chứng minh: ‘Nguyện con lập đây: [cõi nước] thù thắng hơn vô số nước của chư Phật có thể đạt được chăng?’. Nguyện ‘cõi Phật đã thành sẽ thù thắng hơn các cõi Phật’ đó chẳng biết có thể thành tựu được chăng, xin Phật dạy cho.

Ngoài ra, trong đoạn kinh trên, chữ ‘hành’ trong ‘hành Bồ Tát đạo’thực hành. ‘Vô Thượng Chánh Giác’ là cách nói gọn chữ ‘Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác’, tiếng Phạn là “A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề”. ‘Kinh pháp’ là lời do kim khẩu đức Phật nói ra, là thường pháp cho muôn đời nên gọi là kinh pháp. ‘Phụng trì’ chính là chữ ‘phụng hành’ thường dùng, có nghĩa là ‘kính vâng nhận lấy’‘hành trì’. Do vậy, cuối các kinh thường ghi là ‘tin nhận, phụng hành’ ý nói: kính nhận lấy, tuân hành, cung kính gìn giữ.

‘Giáo thọ’: dạy truyền thánh ngôn gọi là ‘giáo’, giảng giải nghĩa lý‘thọ’, tức là dạy dỗ và truyền thọ nghĩa lý kinh pháp. Các thiện tri thức như vậy được gọi là ‘giáo thọ thiện tri thức’. Trong đoạn kinh trên đây, ‘giáo thọ’ là cách nói giản lược về công hạnh của bậc đạo sư.

 Chánh kinh: Thế Gian Tự Tại Vương Phật liền vì Pháp Tạng mà nói kinh rằng:

- Ví như có kẻ dùng đấu đong biển cả, trải bao kiếp số còn chẳng đến đáy; người chí tâm cầu đạo tinh tấn chẳng ngơi ắt đều thành công, nguyện gì chẳng được. Ông tự suy nghĩ tu phương tiện nào để thành tựu được cõi Phật trang nghiêm. Việc tu hành như thế ông nên tự biết, với việc thanh tịnh cõi Phật ông nên tự nhiếp.

 Giải: Đại ý của đoạn kinh này là Phật bảo Pháp Tạng rằng: giả sử có một người dùng đấu để đong nước trong biển cả, dẫu trải qua cả kiếp vẫn chẳng thể thấy được đáy biển; nhưng người dùng tâm chí thành cầu đạo, tinh tấn chẳng ngơi ắt sẽ đắc quả. Hơn nữa, có nguyện nào mà chẳng thể đạt được.

Trong cuốn Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận, cư sĩ Bành Thiệu Thăng giảng: ‘Như ngài Pháp Tạng nói: ‘‘Con phát tâm Vô Thượng Chánh Giác’’ thì nên biết rằng hết thảy các nguyện vương xuất sanh từ Vô Thượng Chánh Giác, hết thảy Tịnh Độ do đây được kiến lập. Vừa mới phát tâm, ngay lúc ấy Cực Lạc trang nghiêm đã trọn vẹn. Vì vậy, kinh nói: ‘‘Chí tâm cầu đạo tinh tấn chẳng ngơi, ắt đều thành công, nguyện gì chẳng được’’. Vì sao thế? Vì hết thảy pháp chẳng ngoài tự tâm vậy’. Thuyết của ông Bành tỏ rõ bổn ý của đức Thế Tôn trong lời đáp vậy. Ấy là vì phát khởi tâm chí thành nên tâm ấy ắt hàm chứa thánh quả. Vì nhân đã cùng tột quả hải nên hoa quả đồng thời, chỉ cần tinh tấn thì nguyện gì chẳng thành; hết thảy nhân quả chẳng lìa tự tâm, chẳng có pháp nào ngoài tự tâm cả.

Trong đoạn tiếp theo, dùng liên tiếp ba chữ ‘tự’: ‘Ông tự suy nghĩ’, rồi: ‘ông tự nên biết’, và ‘ông nên tự nhiếp’đức Thế Tôn chẳng đáp trực tiếp, lại phải dùng đến ba chữ ‘tự’; thật là tấm lòng tha thiết, tâm ý sâu xa. Trong sách Hội Sớ, ngài Tuấn Đế người Nhật đã giải thích như sau: ‘Câu ‘‘ông tự nên biết’’ có ý giống như ba lượt ngăn không cho nói trong kinh Pháp Hoa: nghĩa lý đó sâu xa quá chẳng thể nói một cách dễ dàng được’. Thuyết này rất hay, câu kinh: ‘Thôi thôi chớ nên nói’ của kinh Pháp Hoa có cùng ý nghĩa với câu kinh này. Lục Tổ bảo: ‘Điều ẩn mật ở ngay nơi ngươi’, bậc cổ Thiền đức nói: ‘Ông tự hiểu nhận lấy cái hay, tôi chẳng giống ông’ cũng chính là ý nghĩa của ba chữ ‘tự’ trong đoạn kinh ở đây. Ngài Tuấn Đế giảng tiếp rằng:

‘Câu này có ba nghĩa:

a. Từ xưa, Pháp Tạng Bồ Tát đã gieo trồng [thiện căn] sâu dày, cao tài, dũng triết siêu dị hơn đời; đối với việc nghiêm tịnh Phật quốc, ngài đã rõ thấu từ lâu. Phật trí không gì không biết nên ngài dạy: ông biết như thế nào thì cứ tự thực hành như thế (điều này lại chứng minh rằng ngài Pháp Tạng là từ quả hướng nhân).

b. Nhiếp thủ Phật quốc đều tùy theo ý thích: hoặc chọn lấy uế độ, hoặc cầu cõi thanh tịnh, hoặc dung nhiếp tam thừa, hoặc nguyện Nhất Thừa. Vì vậy, tùy lòng ưa thích của Bồ Tát mà chọn lấy chẳng cần tuân theo ý chỉ của Như Lai.

c. Phàm là cõi Tịnh Độ, ắt có cõi là báo độ hay hóa độ. Pháp báo cao diệu, Bồ Tát chẳng có phần, chỉ nên thuận theo sức mình mà nhiếp thủ nên bảo: ‘Ông tự nên biết’.

‘Chỉ nên thuận theo sức mình’ chính là điều Tịnh tông dạy: những việc thuộc về Pháp Thân vượt khỏi khả năng của Bồ Tát, phàm phu chẳng thể lãnh hội được nghĩa lý này. Trong đoạn kinh tiếp theo đây, Pháp Tạng Bồ Tát lại thỉnh cầu lần nữa.

 Chánh kinh: Pháp Tạng bạch rằng:

- Nghĩa ấy sâu thẳm chẳng phải là cảnh giới của con, kính xin đấng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri diễn rộng vô lượng diệu sát của chư Phật. Nếu con được nghe những pháp như vậy, tư duy, tu tập, thề sẽ viên mãn sở nguyện.

 Giải: ‘Cảnh’ là những điều tâm mình cảm thọ, nghĩ tưởng đến, như sắc là cái được nhãn thức cảm thọ nên gọi là sắc cảnh, cho đến pháp là điều được ý thức cảm thọ nên gọi là pháp cảnh. Xét về lý Thật Tướng, điều gì được diệu trí cảm thọ đều gọi là Cảnh, cũng thuộc về pháp cảnh. Giới là khu vực. ‘Cảnh giới’ là cảnh, phần hạn, khu vực được quán.

Sách Vô Lượng Thọ Kinh Tiên Chú lại bảo: ‘Khu vực mà sức thế lực của mình ảnh hưởng đến cũng như phần hạn của quả báo ta đạt được đều gọi là cảnh giới’.

‘Diễn’tuyên thuyết. ‘Như Lai Ứng Chánh Biến Tri’ là ba hiệu trong số mười hiệu từ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đến Phật. Ở đây chỉ nói tượng trưng về mười hiệu của Phật.

Đại ý của đoạn kinh này là: Pháp Tạng Bồ Tát thưa: Nghĩa ấy quá sâu, vượt ngoài cảnh giới của con (nếu nói một cách thông thường, ta có thể miễn cưỡng hiểu cảnh giớitrình độ hiểu biết). Vì vậy, lại thỉnh Phật nói rộng vô lượng cõi Phật, con nghe xong rồi nhất định có thể tu hành đúng pháp, trọn vẹn sở nguyện.

Sư Tuấn Đế bảo:

Câu ‘‘Nghĩa ấy sâu thẳm chẳng phải là cảnh giới của con’’ cũng có ba nghĩa:

- Con đã biết cách thức thông thường của việc Bồ Tát trang nghiêm Tịnh Độ rồi, còn cách để đạt Tịnh Độ tối thắng trong các cõi Phật thì nghĩa ấy quá sâu thẳm, chẳng phải là cảnh giới của con.

- Quả thật tuy là tùy theo sự ưa thích của mỗi người mà tự chọn lấy Tịnh Độ, nhưng nay con muốn cả năm thừa cùng được thâu tóm vào trong báo độ thì nghĩa ấy quá sâu thẳm, chẳng phải là cảnh giới của con (báo độ là chỗ Pháp Thân Đại Sĩ ở. Nay khiến cho Nhị Thừa và nhân, thiên cùng thuộc vào báo độ thì đấy chẳng phải là điều phàm phu thấu hiểu nổi).

- Tuy pháp báo cao diệu Bồ Tát chẳng có phần, con có thể trong vô lượng kiếp quyết sẽ đạt được (trải qua vô lượng kiếp ắt sẽ chứng ngộ Pháp Thânbáo thân, nhưng lúc này chưa có phần nên bảo là ‘chẳng phải cảnh giới của con). Nghĩa ấy hoằng thâm (rộng lớn là hoằng, u viễn là thâm) chẳng phải là cảnh giới của con.

Tuy có ba nghĩa khác nhau, nhưng bỏ đi phần mình để chuyên hướng về Phật lực. Đấy chính là Pháp Tạng Bồ Tát tự mở ra tha lực môn vậy’.

Thuyết ‘mở ra tha lực môn’ của ngài Tuấn Đế thật đã chỉ rõ sự thật mầu nhiệm siêu tình ly kiến chẳng thể nghĩ bàn, phương tiện rốt ráo quả giác nhân tâm của Tịnh tông. Thuyết của sư Tuấn Đế có thể hiểu thô thiển như sau:

Pháp Tạng Bồ Tát nói ‘chẳng phải cảnh giới của con’ là có ba ý nghĩa:

- Một, con tuy đã biết đường lối chung để tạo dựng Tịnh Độ của các Bồ Tát, nhưng nay muốn tạo dựng cõi Tịnh Độ tối thắng vượt hơn hẳn các cõi Phật thì đó ‘chẳng phải là cảnh giới của con’.

- Hai, Tịnh Độ được chọn giữ lấy đó trên thực tế tuy là tùy theo ý thích của mỗi cá nhân, nhưng nay con muốn gom trọn hành nhân cả năm thừa đều được sanh vào cõi nước của báo thân Phật, trong mười phương không có cõi nào như vậy nên đó ‘chẳng phải là cảnh giới của con’. Năm thừa là: nhân thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa, Phật thừa (Như Lai thừa). Nay muốn khiến cho hành nhân cả năm thừa cùng vào được cõi của báo thân Phật thật là khác hẳn thường tình. Nhân thiên thừaphàm phu. Thanh Văn, Duyên GiácTiểu thừa. Nay muốn khiến cho hành nhân phàm phu được hệt như Đại thừađại Bồ Tát của Nhất Phật Thừa cùng chứng cõi Thật Báo Tịnh Độ thì nghĩa ấy rất sâu nên nói rằng: ‘Chẳng phải là cảnh giới của con’.

- Ba, cảnh giới cao diệu của Pháp ThânThường Tịch Quang Tịnh Độ, báo thân và Thật Báo Trang Nghiêm độ chẳng phải là hạnh thông thường của hết thảy Bồ Tát, nhưng con có thể trong vô lượng kiếp chuyên tinh tu tập sẽ chứng đắc nổi. Chỉ vì hiện giờ con chưa đủ sức nên bảo là ‘chẳng phải cảnh giới của con’.

Lời đáp này của Pháp Tạng Bồ Tát tuy có ba nghĩa khác nhau, nhưng đều là ‘bỏ đi sức mình, chuyên cậy Phật lực’. Bốn chữ ‘phi ngã cảnh giới’ (chẳng phải là cảnh giới của con) chính là bỏ đi sức mình, thỉnh Phật khai thị chính là chuyên cậy Phật lực.

Trong đoạn văn trước đó, Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai đáp: ‘Ông tự tư duy’, ‘ông tự nên biết’‘ông nên tự nhiếp’, ba chữ ‘tự’ đều chỉ tự tánh của đương nhân, khai hiển diệu tâm, chính là huyền chỉ ‘tâm này là Phật’ của kinh Quán Vô Lượng Thọ. Muốn cho hết thảy chúng sanh hiểu được điểm căn bản này, nhận thức được linh tánh của mình mới có thể sanh khởi vô lượng vô biên diệu hạnh tự giác giác tha nên Pháp Tạng Bồ Tát lại thỉnh lần nữa: ‘Chẳng phải là cảnh giới của con’ xin Phật rộng dẫn để tỏ vẻ kính mộ chư thánh vậy.

Sư Tuấn Đế nói: ‘Đấy chính là Pháp Tạng tự mở ra tha lực môn vậy’. Một lời này mở toang điều huyền vi của Tịnh tông, thế gian thường gọi Tịnh tôngTha Lực Môn. Sở dĩ Tịnh tông có thể khắp thích ứng cả ba căn, một đời thành Phật, phàm phu, Nhị Thừa cùng chứng bất thối đều là nhờ vào Nhất Thừa nguyện hải của Phật Di Đà, oai lực của sáu chữ hồng danh. Đó chính là ‘cậy vào tha lực’. Sở dĩ Tịnh tôngphương tiện rốt ráo là vì đã lấy Vô Thượng Quả Giác của Phật Di Đà làm sơ tâm tu nhân cho chúng sanh. Nhân đã tột cùng quả hải, quả lại thấu triệt nguồn nhân; nhân quả đồng thời, cảm ứng khó nghĩ bàn. Đấy chính là diệu dụng của Tha Lực Môn.

Hơn nữa, ngoại thánh thì dễ tin, cái linh tri trong tâm mình thì khó rõ. Do vậy, phàm phu đầy rẫy phiền não chỉ có thể tin rằng ‘Có một thế giới tên là Cực Lạc, cõi ấy có Phật hiệu A Di Đà’. Tin sâu xa vào hai chữ ‘có’ ấy mà khẩn thiết nguyện được vãng sanh, một dạ trì danh thì được như nguyện, chứng lên bất thối. Đấy là điều phàm phu có thể thực hiện nổi. Nếu chỉ nói thấu hiểu tự tâm đến cùng tột ắt chỉ bậc thượng trí mới kham nổi!

Trong lúc tu nhân, Pháp Tạng bi nguyện sâu thẳm, khai hiển pháp môn tha lực này, nên Di Đà được xưng tụngĐại Nguyện Vương.

Ngoài ra, Mật tông cũng là Tha Lực Môn, cũng thuộc về Quả Giáo, cũng là từ quả khởi tu.

Tha Lực Môn thù thắng khó suy nghĩ nổi này chính là điểm cùng tột của Di Đà bi nguyện, cũng chính là chỗ phương tiện rốt ráo của cả hai tông Tịnh và Mật. Đó là bởi tự, tha vốn bất nhị, chỉ chịu cậy vào tha lực thì mới sanh nổi lòng tin trong sạch nơi pháp khó tin này. Khó tin mà tin nổi toàn là do trí huệ vô thượng của đương nhân, đấy lại chính là tự lực. Chỉ cần tin nhận, niệm Phật ròng rặt thì tự nhiên năng, sở đều mất, tự tâm hiện rõ, từ sự trì đạt đến lý trì, tâm phàm biến thành tâm Phật. Cái nhiệm mầu của Tịnh tông toàn là ở điểm này!

Pháp Tạng Bồ Tát sau khi bày tỏ ‘chẳng phải cảnh giới của con’ liền khải thỉnh Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai vì mình diễn rộng vô lượng cõi nước thắng diệu của chư Phật, ngài được nghe các cõi nước mầu nhiệm và cách thức nhiếp thủ các cõi như vậy sẽ tư duy, tu tập, thề sẽ viên mãn điều ngài phát nguyện.

 Chánh kinh: Thế Gian Tự Tại Vương Phật biết ông ta cao minh, chí nguyện sâu rộng, liền vì ông ta tuyên thuyết công đức nghiêm tịnh, tướng trạng viên mãn rộng lớn của hai trăm mười ức các cõi nước Phật, ứng theo tâm nguyện ông ta đều hiện cho thấy. Lúc nói pháp ấy trải qua một ngàn ức năm.

 Giải: ‘Cao’ là trên, cao vợi, xa thẳm. ‘Minh’ là sáng, chiếu, thông suốt. Sách Hội Sớ giảng: ‘Cao minh: ý nói đức hạnh đầy đủ. “Sâu rộng” là nói về nguyện tâm, nghĩa là: trì giới, thiền định siêu thắng thế gian nên bảo là Cao. Phương tiện, Bát Nhã chiếu các pháp đến cùng tột nên bảo là Minh. Chiếu cùng tột đời vị lai chẳng nhiễu loạn (ý nói: có thể chiếu xa đến cùng cực đời vị lai, nhưng chẳng gây trở ngại) nên bảo là Sâu, bao trùm hết thảy không sót nên bảo là Rộng’. ‘Liền vì ông ta tuyên thuyết’Phật thuyết pháp.

‘Đều hiện cho thấy’ nghĩa là Phật hiện ra các cõi nước ấy. Thế Gian Tự Tại Vương Phật tuyên thuyết, thị hiện tướng trạng viên mãn rộng lớn, công đức nghiêm tịnh của hai trăm mười ức các cõi của chư Phật. ‘Nghiêm tịnh’trang nghiêm, thanh tịnh. Trong hai chữ ‘viên mãn’, ‘viên’ nghĩa là trọn khắp, tánh thể trọn khắp là Viên; ‘mãn’ nghĩa là đầy đủ. Vì vậy, ‘viên mãn’ còn được gọi là ‘viên túc’. Như vậy, ‘viên mãn’ chính là huyền nghĩa ‘viên minh cụ đức’ của tông Hoa Nghiêm.

Với ‘hai trăm mười ức cõi’ ắt có kẻ nghi rằng: Ngay khi ấy, Pháp Tạng Bồ Tát chỉ thấy có hai trăm mười ức cõi, sao lại bảo rằng quốc độ của ngài tạo dựng ‘thù thắng hơn vô số quốc độ của chư Phật’? Có hai cách trả lời câu vấn nạn này:

- Theo phẩm Hoa Tạng Thế Giới trong kinh Hoa Nghiêm, cõi Phật vô lượng nhưng nói chung có hai mươi tầng, các cõi nước vây quanh các cõi ấy số đến hai trăm mười vi trần số. Nay trong kinh này, cũng lấy con số hai trăm mười để chỉ số các cõi nước thì đã ngầm hợp với nghĩa lý kinh Hoa Nghiêm, hàm nhiếp vô lượng cõi nước trong mười phương.

- Hai là như Trí Độ Luận bảo: ‘Khi xưa, Phật A Di Đà làm Pháp Tạng tỳ kheo được Phật dẫn đến khắp mười phương chỉ cho cõi nước thanh tịnh để chọn lựa nước tịnh diệu nhất để tự trang nghiêm cõi nước mình’. Như vậy, kinh dùng ‘hai trăm mười ức cõi’ để phiếm chỉ cõi Phật mười phương.

Hơn nữa, hai trăm mười ức cõi nước chỉ là những ‘quốc độ thanh tịnh’ hay là tính cả những uế độ? Cổ đức căn cứ các câu kinh ‘trời, người, thiện, ác’, ‘quốc độ thô, diệu’ mà lập ra hai thuyết khác nhau:

- Một là như Gia Tường Sớ ghi: ‘Về mặt nhân lành, hai trăm mười ức cõi Phật tuy có phân chia hơn, kém, nhưng các cõi nước được chiêu cảm đều bằng bảy báu hóa hiện một cách thô diệu. Thô là to lớn, diệu là đẹp đẽ. Ý kinh bảo hai trăm mười ức cõi nước được ứng hiện ấy đều là cõi to lớn, đẹp đẽ mà thôi’. Như vậy, ngài Gia Tường cho rằng cõi nước đã hiện chỉ là Tịnh Độ.

- Hai là Phật hiện cả cõi nước tịnh lẫn uế. Tịnh Ảnh Sớ chép: ‘Thô là chẳng tinh. Nói đến cái ác, cái thô để xa lìa. Nói đến cái lành, cái đẹp là để tu tập’, nghĩa là: hai trăm mười ức cõi Phật được nói đó có cả tịnh lẫn uế. Các vị Cảnh Hưng, Nghĩa Tịch, Huyền Nhất, Vọng Tây cũng đều cho rằng có cả tịnh lẫn uế độ được hiện. Kinh Bi Hoa dạy: ‘Cõi Phật được hiện hoặc có thế giới nghiêm tịnh, hảo diệu, cho đến hoặc có thế giới có đại hỏa tai’. Câu này chứng tỏ trong những cõi nước được hiện có cả uế độ.

Hơn nữa, cõi nước được hiện có cõi là báo độ, có cõi là hóa độ. Kinh Bi Hoa nói: ‘Hoặc có thế giới thuần là Bồ Tát đầy khắp trong nước, chẳng có danh từ Duyên Giác, Thanh Văn’. Đấy là cõi của báo thân Phật. Kinh cũng nói: ‘Hoặc có thế giới thanh tịnh, vi diệu, không có các trược ác’, đấy chính là Tịnh Độ của hóa Phật.

Lúc bấy giờ, đức Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai ‘ứng theo tâm nguyện của ông ta (Pháp Tạng tỳ kheo)’ liền đều hiện cho thấy các hình tướng của cả hai trăm mười ức cõi Phật báo, hóa, tịnh, uế. Câu ‘Lúc nói pháp ấy trải qua ngàn ức năm’ thuật chi tiết về việc thuyết pháp, hiện cõi nước tường tận, lại còn ngụ ý: thời gian cũng kéo dài hay rút ngắn vô ngại.

 Chánh kinh: Lúc bấy giờ, Pháp Tạng nghe lời Phật dạy thảy đều thấy rõ, khởi phát nguyện thù thắng vô thượng. Với thiên, nhân, thiện, ác, quốc độ thô, diệu của các cõi ấy đều tư duy đến rốt ráo, ngài liền dốc một lòng chọn lựa lấy điều mình mong muốn kết thành đại nguyện, siêng gắng cầu lấy, cung kính, thận trọng gìn giữ, hành trì, tu tập công đức trọn đủ năm kiếp. Với các công đức trang nghiêm của hai mươi mốt câu chi cõi Phật kia, ngài hiểu rõ, thông đạt như một cõi Phật. Cõi nước được ngài nhiếp thọ siêu việt các cõi kia.

 Giải: ‘Thấy’ (đổ) là thấy. Sách Bình Giải giảng: ‘Đổ là thấy bằng mắt, Kiến là thấy bằng Huệ như cái thấy của ‘kiến phần’ (2) Chữ “đổ kiến” (tạm dịch thấy rõ)  có ý nghĩa: suy cầu và soi xét’.

Ngay lúc ấy, ngài Pháp Tạng đối với hai trăm mười ức cõi Phật do đức Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai hiện ra đều tận mắt thấy, tâm hiểu rõ cả. Nếu ai ngờ vực Pháp Tạng tỳ kheo còn đang tu nhân làm sao trông thấy khắp các cõi nước tịnh diệu của mười phương chư Phật nổi, tôi xin đáp rằng: Kinh Pháp Tập dạy: ‘Bồ Tát Ma Ha Tát đắc thiên nhãn của đức Phật Như Lai ấy’, Trí Độ Luận cũng nói: ‘Thiên nhãn thấy cùng tột, bất động nhưng đến khắp nơi. Mười phương chẳng đến [chỗ tỳ kheo], tỳ kheo cũng chẳng đi qua đấy nhưng giống như thiên nhãn của Phật nên cùng một lúc trông thấy rõ cả mười phương cõi nước’. Dựa theo các kinh, luận trên ta thấy được rằng Pháp Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát nương thần lực gia bị của Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai, được thiên nhãn như Phật nên có thể bất động mà thấy trọn mười phương. Với các cõi nước Phật đã nói, ông đều trông thấy, hiểu rõ cả.

Trong câu ‘khởi phát nguyện thù thắng vô thượng’, chữ ‘khởi’ nghĩa là phát khởi. Nguyện ấy không gì hơn được nên gọi là ‘vô thượng’. ‘Thù thắng’: sự gì siêu tuyệt, hy hữu thì gọi là ‘thù thắng’. Sách Hội Sớ giảng: ‘Không gì hơn được nguyện này nên bảo là “vô thượng”. Siêu thắng các nguyện nên bảo là “thù thắng”. Đó là vì trang nghiêm vô thượng, hưởng vui vô thượng, quang minh, thọ lượng vô thượng, danh hiệu vô thượng, chánh nhân vãng sanh vô thượng, lợi ích vô thượng. Đấy chính là đại thể của cả bốn mươi tám nguyện’.

‘Thiên, nhân, thiện, ác’: Phán định về tánh thiện, ác có nhiều thuyết bất nhất. Ở đây, tôi chỉ giới thiệu các thuyết trọng yếu nhất:

 - Một, kinh Bồ Tát Anh Lạc coi thuận theo Đệ Nhất Nghĩa Đế là thiện, trái nghịch Đệ Nhất Nghĩa Đế là ác. Kinh dạy: ‘Thoạt tiên, tâm thức của hết thảy chúng sanh khởi lên một ý tưởng trụ vào duyên. Thuận theo Đệ Nhất Nghĩa Đế mà khởi thì gọi là thiện, trái nghịch Đệ Nhất Nghĩa Đế mà khởi thì gọi là ác’. Đệ Nhất Nghĩa Đế mà kinh vừa nói chính là Chơn Đế, Thánh Đế, Chơn Như, Thật Tướng, Trung Đạo v.v... cũng chính là Thật Tế lý thể. ‘Đế’ là đạo lý chơn thật. Đạo lý ấy là bậc nhất trong các pháp nên gọi là Đệ Nhất Nghĩa Đế. Nếu chúng sanh khởi một niệm thuận với lý thể thì là thiện, trái lý thể thì thành ác. Cách phán định này lấy lý thể làm chuẩn.

 - Hai, Duy Thức Luận coi các hành pháphữu lậu hay vô lậu nhưng thuận ích cho đời này, đời sau là thiện; những hành pháp hữu lậu tổn nghịch đời này, đời sau là ác. Luận viết: ‘Có thể thuận ích cho đời này, đời khác thì gọi là thiện. Quả vui trong cõi trời, người tuy thuận ích cho đời này nhưng chẳng thuận ích đời sau nên chẳng được gọi là thiện. Gây tổn hại cho đời này, đời sau thì gọi là bất thiện. Khổ quả trong đường ác tuy là tổn nghịch cho đời này nhưng chẳng tổn hại đời sau nên chẳng gọi là bất thiện’. Đây là cách phán định thiện, ác trên quan điểm thuận ích hay tổn nghịch.

- Ba là như ngài Tịnh Ảnh phán định ba thứ thiện, ác:

a. ‘Thuận ích là thiện, tổn nghịch là ác’. Cách phán định này giống với Duy Thức Luận.

b. ‘Thuận lý là thiện, nghịch lý là ác’. Lý là vô tướng tánh không. Ví dụ như: khi thực hành bố thí, nếu có thể với người thí, kẻ nhận, và vật được thí đều thấy thể của chúng là không, chẳng có gì thì là thuận theo Lý. Vô tướng mà hành là thiện. Nếu còn ý tưởng có kẻ thí, người nhận, vật đem bố thí thì là trái lý, là hữu tướng hành nên là ác. Như vậy, thiện pháp đã tu của các vị kể từ Phật, Bồ Tát xuống đến A La Hán mới là thiện. Thiện pháp của chúng sanh tu đều là hữu tướng hạnh nên gọi là ác.

c. ‘Thuận theo thể là thiện, trái với thể là ác’.Quan điểm này vừa tương đồng cách phán định thứ hai vừa giống với quan điểm của kinh Anh Lạc. Chơn tánh của pháp giới là tự thể của chính mình. Thể tánh duyên khởi trở thành hạnh đức, sở hạnh chỉ là tự thể; tâm không duyên vào đâu, tùy theo ý thích mà chẳng phạm giới, đấy mới là Thiện. Theo quan điểm này, chẳng luận phàm phu, Nhị Thừa, kể cả tam thừa (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát) dẫu làm điều thiện mà còn có chỗ duyên vào thì đều là ác cả.

 - Bốn là như tông Thiên Thai lập ra sáu thứ thiện ác:

a. Cái thiện trong trời, người. Ngũ giới, thập thiện là sự thiện, nhưng khi quả báo cõi trời người đã hết, lại đọa trong ba ác đạo nên cũng là ác.

b. Cái thiện của Nhị Thừa: xa lìa cái khổ tam giới nên gọi là thiện, nhưng chỉ tự độ, chẳng độ được người nên cũng là ác.

c. Cái thiện của Bồ Tát: từ bi cứu vớt hết cả nên là thiện, nhưng chưa đoạn một mảy phiền não nên gọi là ác.

d. Cái thiện của tam thừa trong Thông giáo: tam thừa cùng đoạn được kiến tư phiền não nên là thiện, nhưng rớt vào nhị biên, chẳng thấy được lý Trung Đạo của Biệt giáo, chưa đoạn được một phần vô minh nên cũng là ác.

e. Cái thiện của Bồ Tát trong Biệt giáo: Thấy được lý Trung Đạo là thiện, nhưng vẫn còn cách biệt Trung Đạo, chẳng thể thấy được Diệu Trung viên dung của Viên giáo, sở hành còn vướng trong phương tiện, chẳng xứng hợp lý nên cũng là ác.

d. Cái thiện của Viên giáo Bồ Tát: Lý viên diệu là điều thiện cùng tột, nhưng lý này có hai nghĩa:

* Viên lý thuận với Thật Tướng là thiện, trái nghịch Thật Tướng là ác.

* Thấu đạt viên lý này là thiện, chấp trước viên lý lại thành ác. Chấp vào viên lý còn là ác, huống hồ là chấp vào các pháp khác.

Quan điểm ‘thấu đạt viên lý là thiện, chấp trước viên lý là ác’ là giáo thuyết độc đáo do tông Thiên Thai phát huy, nghĩa lý này thật tinh diệu.

‘Quốc độ thô diệu’: Chữ ‘thô diệu’ như phần trên đã giảng. ‘Thô’ là chẳng tinh, ‘diệu’ là thắng diệu. Sư Nghĩa Tịch bảo: ‘Trong Tịnh Độ có thô, diệu sai khác. Thô chính là biến hóa, diệu chính là thọ dụng’ nghĩa là: Trong Tịnh Độ, có các sự thô hay diệu sai khác. Thô là có suy, có biến, còn ‘diệu’ là cõi Thật Báo tự thọ dụng hay tha thọ dụng.

‘Thiên nhân thiện, ác’ là nhân, ‘quốc độ thô, diệu’ là quả. Người lành thời cõi nước diệu, người ác ắt cõi nước hèn kém. Vì vậy, sách Hội Sớ bảo: ‘Quốc độ chính là hình bóng của chúng sanh. Hình dài thì bóng nó dài, hình ngắn thì cõi đất ngắn ngủi’. Ý nói: Quốc độ thô hay diệu giống như cái bóng. Thân dài hay ngắn là hình; cái bóng do hình quyết định, bóng ắt phụ thuộc hình. Vì vậy, Tịnh Ảnh Sớ ghi: ‘Câu ‘Thiên nhân thiện ác’ phiếm chỉ cái nhân của các cõi nước. ‘Quốc độ thô diệu’ là chỉ chung cái quả hết thảy các cõi’.

‘Tư duy đến rốt ráo, ngài liền nhất tâm chọn lựa lấy điều mình mong muốn kết thành đại nguyện’: Với mỗi một cái nhân thiện ác, cái quả thô, diệu của các cõi Phật, Pháp Tạng Bồ Tát đều suy nghĩ, phân biệt tỉ mỉ đến cùng cực, thấu đạt rốt ráo. ‘Rốt ráo’ chính là Chơn Thật Tế được nói trong kinh, cũng là một pháp cú, thanh tịnh cú, chơn thật trí huệ vô vi Pháp Thân. Ngài bèn chuyên nhất tự tâm chọn lựa lấy ý nguyện độ sanh, khai hóa, hiển thị, nêu lên các thứ y báo, chánh báo trang nghiêm, pháp môn Tịnh Độ chẳng thể nghĩ bàn, kết thành đại nguyện để ban cho chúng sanh cái lợi chơn thật.

‘Dốc một lòng’ chính là nhất tâm. Vì thế, phẩm này mang tên Chí Tâm Tinh Tấn. Nhất tâm tức là Chơn Như như sách Chỉ Quán nói: ‘Nhất tâm đủ mười pháp giới’. Sách Thám Huyền Ký cũng nói: ‘Nhất tâm là tâm không có một niệm khác’. Sách Giáo Hạnh Tín Chứng Văn Loại còn viết: ‘Một niệm là tín tâm không có hai tâm nên bảo là một niệm. Đấy gọi là nhất tâm. Nhất tâm là cái nhân chơn thật của báo độ thanh tịnh vậy’. Câu trên giống hệt như câu ‘nhất tâm kết thành đại nguyện’ trong kinh này vậy, chỉ rõ: nhất tâm chính là cái nhân chơn thật của báo độ.

Với câu ‘siêng gắng cầu lấy’, hai bản Hán dịch và Ngô dịch đều chép là ‘dũng mãnh tinh tấn, vất vả tìm tòi’ nên chữ ‘siêng’ ở đây là tinh tấn, ‘gắng’ có nghĩa là gắng gỏi chăm chỉ. ‘Cầu’ là mong cầu, ‘lấy’ là giữ lấy.

Bản Hán dịch ghi câu ‘Cung kính, thận trọng gìn giữ’ như sau: ‘Con sẽ phụng trì, sẽ trụ Trung Đạo’. ‘Cung’cung kính, ‘thận’ là cẩn thận, chí thành, tịch tịnh. Câu ‘sẽ trụ Trung Đạo’ chính là ý nghĩa thật của hai chữ ‘cung’ và ‘thận’. An trụ Trung Đạocung kính, chí thành một cách chơn thật. Chữ ‘bảo’ trong ‘bảo trì’ (gìn giữ, hành trì) cùng nghĩa chữ ‘bảo’ trong ‘bảo nhậm’. Nhà Thiền nói: ‘Tâm tâm chẳng khác là bảo’. ‘Trì’ là hành trì, cũng có nghĩa là giữ lấy. Như vậy, chữ ‘bảo trì’ tương đương chữ ‘phụng trì’ của bản Hán dịch. Do đó, ‘cung thận bảo trì’ (cung kính, thận trọng gìn giữ, hành trì) có nghĩa là tự nhiên cung kính, nghiêm túc, thung dung Trung Đạo, tâm tâm chẳng khác, tùy ý tự chấp trì vậy.

Câu ‘Tu tập công đức trọn đủ năm kiếp’ được bản Hán dịch ghi như sau: ‘Tư duy trọn đủ năm kiếp, nhiếp thủ hạnh thanh tịnh trang nghiêm Phật quốc’. Bản Đường dịch ghi: ‘Với tất cả các sự nghiêm tịnh của hai trăm mười ức cõi Phật ấy đều nhiếp thọ cả. Đã nhiếp thọ xong, tư duy tu tập trọn cả năm kiếp’. Bản Tống dịch chép: ‘Ở nơi thanh tịnh, ngồi một mình tư duy, tu tập công đức trang nghiêm cõi Phật, phát đại thệ nguyện trong suốt cả năm kiếp’. Với câu này, cổ đức có nhiều thuyết khác nhau:

a. Các vị Tịnh Ảnh, Cảnh Hưng cùng cho rằng năm kiếp là thời gian tu hành sau khi phát nguyện. Sách Tịnh Ảnh Sớ viết: ‘Nương nguyện tu hành’‘vì vậy, ở ngay nơi đức Phật ấy, ngài Pháp Tạng ngay trong một thân tu hành năm kiếp’. Sách Lược Tiên cũng ghi: ‘Đấy là thời gian tu hành. Trong thời gian năm kiếp, tư duy, siêng năng tu tập, tu thành tựu viên mãn cái hạnh mình đã nguyện. Đã phát nguyện xong chẳng thể không có hạnh’. Các ý kiến trên đều cho rằng năm kiếp là thời gian tu hành sau khi phát nguyện.

b. Năm kiếp chính là thời gian phát nguyện. Sách Hợp Tán bảo: ‘Năm kiếp là thời gian phát nguyện, tư duy’. Ngài Vọng Tây cũng đồng quan điểm này. Sách Hội Sớ viết: ‘Phàm Bồ Tát kiến lập Tịnh Độ thì cũng giống như thợ giỏi xây dựng đại thành, trước hết phải suy nghĩ, hoạch định họa đồ.... Năm kiếp tư duy như vẽ đồ án’. Quan điểm này cho rằng năm kiếp tư duy giống như trước khi thi công, phải thực hiện đồ án. Sách Hợp Tán đồng quan điểm với sách Hội Sớ, cũng cho rằng năm kiếp là thời gian phát nguyện, chẳng phải là thời gian tu hành sau khi đã phát nguyện. Sách Bình Giải cũng đồng nhận định. Các vị ấy đều lấy bản Ngụy dịch làm chứng cứ để lập luận.

c. Riêng ngài Gia Tường lại bảo: ‘Trong năm kiếp tu hành phát nguyện’. Thuyết này nêu cả tu hành lẫn phát nguyện nhưng lấy phát nguyện làm chỗ quy thú, rất phù hợp với ý bản Tống dịch. Do bản Tống dịch trước tiên viết: ‘Tư duy tu tập’ rồi viết tiếp: ‘phát đại thệ nguyện suốt trong năm kiếp’ ta thấy: trong năm kiếp ngài dùng hạnh thanh tịnh tu tập đại nguyện giữ lấy cõi Phật thanh tịnh. Trọn cả năm kiếp đại nguyện mới thành. Quan điểm này rất phù hợp với ý hội bản: phải là sau khi ‘siêng gắng tìm lấy, cung kính, thận trọng gìn giữ, hành trì, tu tập công đức trọn đủ năm kiếp’ thì ‘quốc độ được ngài nhiếp thủ mới siêu việt các cõi ấy’. Kinh chép như vậy thật tương hợp với thuyết của ngài Gia Tường. Vì vậy, ‘năm kiếp tu hành’thời gian tu hànhphát nguyện.

Chữ ‘câu chi’ trong đoạn kinh trên có nghĩa là một ngàn vạn. Trong năm kiếp, tỳ kheo Pháp Tạng đối với các thứ công đức kỳ diệu, trang nghiêm thù thắng của hai trăm mười ức cõi Phật, đối với mỗi một thứ thiện, ác, thô, diệu sai biệt đều ‘hiểu rõ, thông đạt như là một cõi Phật’. Qua một thời gian dài lâu suy nghĩ, chọn lựa, tu tập, nhiếp thủ nên mới có thể kết thành đại nguyện ngõ hầu ‘quốc độ được ngài nhiếp thọ vượt trội các cõi kia’. Chữ ‘kia’ chỉ hai trăm mười ức cõi Phật. Nay cõi Phật được nhiếp thủ bởi đại nguyện của Pháp Tạng Bồ Tát không những thật sự siêu việt hai trăm mười ức cõi Phật mà còn siêu việt mười phương cõi Phật, cực tả sự thù thắng độc diệu của cõi Cực Lạc.

 Chánh kinh: Đã nhiếp thọ xong, lại đến chỗ Thế Tự Tại Vương Như Lai, dập đầu lễ chân Phật, nhiễu Phật ba vòng, đứng chắp tay, bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn, con đã thành tựu hạnh thanh tịnh trang nghiêm cõi Phật.

Phật khen:

- Lành thay! Nay chính là đúng lúc, ông nên thuật đủ khiến cho đại chúng hoan hỷ, cũng khiến cho đại chúng nghe pháp ấy xong được đại thiện lợi, có thể tu tập, nhiếp thọ cõi Phật, đầy đủ vô lượng đại nguyện.

 Giải: Câu ‘đã nhiếp thọ xong’ là câu để nối kết đoạn kinh trước với đoạn kinh này. Khi đó, Pháp Tạng Bồ Tát lại đến chỗ đức Thế Gian Tự Tại Vương Phật. ‘Dập đầu’ là cúi đầu sát đất. ‘Lễ chân’ là dùng đầu mình áp sát chân Phật. Kế đó, nhiễu Phật cũng là cách kính lễ. ‘Ba vòng’ là nhiễu quanh Phật ba vòng, biểu thị ý trân trọng hành lễ. Nhiễu xong liền chắp tay đứng yên trước Phật, hướng về đức Phật bạch rằng: ‘Con đã thành tựu hạnh thanh tịnh trang nghiêm cõi Phật’. Phật khen ‘Lành thay’ ý nói: hạnh của tỳ kheo Pháp Tạng thật vừa ý thánh tâm, thông suốt bổn hoài của Phật, ứng trọn các căn cơ nên được Phật khen ngợi, chấp thuận. ‘Lành thay!’ là tiếng biểu lộ sự vui mừng rất sâu của Phật.

‘Nay chính là đúng lúc’: Do thời cơ chín muồi để hội ba thừa quy về một thừa, hành giả cả ba thừa cùng được hưởng xe trâu trắng lớn, cùng nhập một Như Lai thừa để khai tri kiến Phật, chỉ bày tri kiến Phật cho các chúng sanh nên kinh Pháp Hoa nói: ‘Nay chính là đúng lúc’. Trong kinh này cũng thế, muốn cho thập phương cửu giới chúng sanh cùng nhập Nhất Thừa đại thệ nguyện hải của Phật Di Đà, hết thảy hàm linh đều được độ thoát nên Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai bảo: ‘Nay chính là đúng lúc, ông nên thuật đủ khiến đại chúng hoan hỷ, cũng khiến cho đại chúng nghe pháp ấy xong được đại thiện lợi’. Như Lai có ý khuyên Pháp Tạng tuyên thuyết để toàn bộ đại chúng được lợi ích. Hai chữ ‘đại chúng’ bao gồm đại chúng hiện diện khi ấy lẫn hết thảy phàm phu, Nhị ThừaBồ Tát trong đời tương lai (bọn phàm phu chúng ta ngày nay cũng nằm trong số này). Nói ra sẽ khiến cho khắp đại chúng được nghe cùng phát nguyện vãng sanh, mau vượt khỏi biển khổ sanh tử nên ‘khiến cho đại chúng hoan hỷ’; cũng khiến cho đại chúng nghe pháp được lợi ích, khắp phát cái nguyện của Di Đà, học hạnh của Pháp Tạng, nhiếp thủ cõi Phật, viên mãn đại nguyện.

Tịnh Ảnh Sớ giảng: ‘Pháp Tạng tự nói nguyện của mình xong khiến các Bồ Tát học theo ngài cùng phát nguyện’. Sách Hội Sớ cũng nói: ‘Bồ Tát nghe xong tự phát tâm dũng mãnh. Ổng là trượng phu, ta cũng vậy, ổng đã phát nguyện nhiệm mầu, ta há chẳng bằng ổng sao? Vì vậy, nguyện của Pháp Tạng làm duyên viên mãn đại nguyện [của đại chúng].

‘Đầy đủ vô lượng đại nguyện’viên mãn hết thảy chí nguyện. Sách Vãng Sanh Luận Chú viết: ‘Viên mãn một nguyện vãng sanh Tịnh Độ chính là viên mãn hết thảy các chí nguyện, nên bảo là: đầy đủ vô lượng đại nguyện’. Đàm Loan đại sư (tác giả sách Vãng Sanh Luận Chú) quả thật đã giãi bày trọn vẹn tâm tủy của chư Phật. Cái đại nguyện do Pháp Tạng Bồ Tát trong cả năm kiếp siêng gắng tìm cầu, chọn lọc thật ra chỉ là một nguyện nhằm làm cho chúng sanh chơn thật phát khởi ý nguyện cầu vãng sanh Tịnh Độ. Vì vậy, bọn phàm phu đời mạt chúng ta chỉ cần viên mãn nguyện này ắt liền xứng hợp Di Đà đại nguyện, liền nhập Nhất Thừa nguyện hải, liền cùng một thể với Di Đà đại nguyện nên kinh mới bảo: ‘Đầy đủ vô lượng đại nguyện’. Những gì là phương tiện, những gì là đường thẳng chóng? Chính là từ quả khởi tu thẳng đến cứu cánh. Pháp môn Tịnh Độ thật chẳng thể nghĩ bàn.

6. Phát đại thệ nguyện

 Trong phẩm này, Pháp Tạng Bồ Tát tuân lời Phật dạy, đối trước đại chúng tuyên thuyết đại nguyện thù thắng mình đã phát. Đại thệ nguyện này diệu đức khó lường như sách Bình Giải nhận định: Bốn mươi tám nguyện công đức thành tựu chỉ quy về một Chánh Giác, tức là Nam Mô A Di Đà Phật. Đấy gọi là hoằng thệ bổn nguyện hải, cũng gọi là bi nguyện Nhất Thừa. Đấy chính là công đức Chánh Giác của Di Đà vậy. Công đức của Chánh Giác chẳng thể nghĩ bàn là vì thệ nguyện chẳng thể nghĩ bàn. Do vậy, tác phẩm Hành Quyển dùng đến ba mươi sáu câu để khen ngợi thệ nguyện chẳng thể nghĩ bàn nhằm hiển dương công đức rộng lớn của Chánh Giác. Sách viết: “Kính giãi bày cùng hết thảy người vãng sanh, hoằng thệ Nhất Thừa hảithành tựu vô ngại vô biên tối thắng thâm diệu bất khả tư nghị chí đức. Vì sao thế? Do thệ nguyện chẳng thể nghĩ bàn nên bi nguyện to lớn như hư không. Các diệu công đức rộng lớn vô biên, ví như cỗ xe lớn... nhẫn đến như cơn gió lớn đi khắp thế gian chẳng bị chướng ngại, vượt khỏi thành tam hữu trói buộc, cho đến khai hiển phương tiện tạng, thật đáng phụng trì, thật đáng cúi lạy, nhận lấy vậy”.

Về phần nguyện văn nhiều, ít, các dịch bản đều sai khác. Hai bản Hán dịch và Ngô dịch cùng ghi hăm bốn nguyện, còn ghi ‘[kinh này mang tên là] kinh Kết Được Hai Mươi Bốn Nguyện’. Bản Tống dịch chép băm sáu nguyện, hai bản Ngụy dịch và Đường dịch chép bốn mươi tám nguyện, còn kinh Hậu Xuất A Di Đà Kệ có câu ‘thệ nguyện hăm bốn chương’. Như vậy, đa phần các kinh nói có hăm bốn nguyện, nhưng do chỉ có bản Ngụy dịch lưu hành rộng rãi trong đời nên thế nhân chỉ biết đến bốn mươi tám nguyện, ít người nghe nói hăm bốn nguyện.

Tuy hai bản Hán dịch và Ngô dịch cùng chép hăm bốn nguyện, nhưng nội dung các nguyện cũng chẳng giống nhau. Nguyện thứ hai trong bản Ngô dịch là ‘Khi tôi thành Phật, trong nước tôi không có nữ nhân. Nữ nhân muốn sanh về nước tôi liền biến thành nam tử. Vô ương số chư thiên, nhân dân, các loài bay lượn, ngọ nguậy, bò toài sanh về nước tôi đều hóa sanh, lớn khôn trong hoa sen nơi ao nước bảy báu, đều là Bồ Tát. A La HánBồ Tát đều vô ương số. Thỏa nguyện ấy mới làm Phật. Chẳng thỏa nguyện ấy, trọn chẳng làm Phật’. Chỉ mình bản này nói rõ đại nguyện thù thắng ‘hóa sanh trong hoa sen’‘cõi nước không có nữ nhân’, bản Hán dịch không có. Các bản dịch khác cũng không thấy đề cập đến. Do đây, ta thấy rõ sự sai biệt giữa các bản dịch rất lớn.

Hơn nữa, hai bản Hán dịch, Ngô dịch tuy cùng nói hăm bốn nguyện, nhưng thực ra nội dung của chúng chẳng chỉ hạn cuộc trong hăm bốn nguyện. Cứ lấy cái nguyện thứ hai trong bản Ngô dịch vừa nêu trên để làm thí dụ thì thật ra nguyện này gồm các nguyện sau:

* Nước không nữ nhân

* Liên hoa hóa sanh

* Loài trùng ngọ nguậy, bay lượn, bò toài cũng được sanh, đều thành Bồ Tát, A La Hán.

* Bồ Tát, A La Hán đều vô ương số.

Do đó, tuy nói là hăm bốn nguyện nhưng thật sự chẳng phải chỉ có hăm bốn nguyện. Cứ theo ý câu kinh ‘thệ nguyện hăm bốn chương’ trong kinh Hậu Xuất A Di Đà Phật Kệ, ta suy ra thệ nguyện của Phật A Di Đà thật sự có đến hăm bốn chương, chứ chẳng phải chỉ có hăm bốn nguyện.

Còn như hai bản Đường dịch và Ngụy dịch tuy nói là bốn mươi tám, nhưng thật chẳng đủ số bốn mươi tám. Ví dụ: nguyện thứ hai mươi chín trong bản Ngụy dịch là: ‘Nếu như tôi thành Phật, các Bồ Tát trong nước nếu đã nhận, đọc kinh pháp, phúng tụng, trì, nói mà chẳng được biện tài trí huệ, tôi chẳng lấy ngôi Chánh Giác’. Nguyện thứ ba mươi là: ‘Nếu như tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ Tát trong nước tôi còn có hạn lượng thì chẳng lấy ngôi Chánh Giác’. Rõ ràng, hai nguyện này chỉ sai khác ở chỗ nói chi tiết hay đại lược mà thôi. Nguyện thứ 30 chỉ bổ sung thêm chi tiết cho nguyện thứ 29. Nguyện thứ 29 và 30 trong bản Đường dịch cũng giống vậy. Nói cách khác, hai bản Đường dịch và Ngụy dịch cùng thiếu các nguyện ‘liên hoa hóa sanh’‘nước không nữ nhân’. Rõ ràng, bốn mươi tám nguyện nói trong bản Ngụy dịch và Đường dịch cũng chưa đầy đủ tất cả các nguyện vậy.

Xét đến hai bản Ngô dịch và Hán dịch, chúng lại bị khuyết đại nguyện căn bản bậc nhất là nguyện ‘mười niệm ắt vãng sanh’. Như vậy, cả năm bản dịch các đời Ngụy, Đường, Tống, Ngô, Hán đều chưa phải là văn bản hoàn thiện của kinh Vô Lượng Thọ. Vì vậy, việc hội tập các bản dịch, chọn lấy những ưu điểm của các bản để soạn riêng thành một hội bản là điều không thể chần chừ được nữa.

Do đấy, cụ Hạ với đại nguyện hội tập các bản dịch đã chú ý thấy các bản cổ dịch đa phần nói đến hăm bốn nguyện và thuận theo quan niệm phổ biến là có bốn mươi tám nguyện, bèn chia nguyện văn thành hăm bốn chương, gồm bốn mươi tám đề mục. Cách phân định như vậy vừa phù hợp câu kinh ‘thệ nguyện hăm bốn chương’ lại dung hợp quan niệm bốn mươi tám nguyện. Bản hội tập chọn lấy những ưu điểm của các bản dịch, những nguyện trọng yếu như ‘mười niệm vãng sanh’, ‘liên hoa hóa sanh’, ‘nước không nữ nhân’ đều được thấy ghi trong hội bản.

Cụ còn khéo chọn lấy những điểm tinh yếu của các nguyện, lời ít nhưng nghĩa nhiều. Chẳng hạn như, trong bản Ngụy dịch nguyện thứ băm tám là: ‘Ví như tôi thành Phật, trời, người trong nước muốn có y phục, nghĩ đến liền có: tự nhiên trên thân khoác áo đẹp đúng theo pháp như Phật đã khen ngợi. Nếu còn phải cắt, may, đập, nhuộm, giặt giũ, chẳng lấy ngôi Chánh Giác’. Nguyện thứ hăm bốn: ‘Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi khi ở trước chư Phật hiển hiện cội đức của mình, nếu những vật họ muốn có để cúng dường chẳng được như ý thì chẳng lấy ngôi Chánh Giác’. Cả hai nguyện trên của bản Ngụy dịch nói đến y phục và vật cúng như ý, nhưng chẳng nói đến cơm ăn như ý.

Nguyện hăm ba của bản Hán dịch (nguyện thứ hăm bốn trong bản Ngô dịch) là: ‘Lúc tôi thành Phật, các Bồ Tát trong nước tôi lúc muốn ăn thì tự nhiên sanh ra cơm trăm vị trong bát bằng bảy báu hiện ra trước mặt. Ăn xong, bát tự nhiên biến mất. Nếu chẳng được vậy, tôi chẳng làm Phật’ (do đây, ta càng thấy rõ bản Ngụy dịch thật sự chẳng đủ bốn mươi tám nguyện).

Trong hội bản, cả ba nguyện này cùng được tổng hợp lại như sau: ‘Lúc tôi thành Phật, người sanh nước tôi: thức ăn, y phục, các thứ vật cúng cần dùng đều tùy ý hiện đến, không chi chẳng được mãn nguyện’. Hiển nhiên, hội bản văn ngắn gọn, ý nghĩa súc tích, các nguyện thù thắng của Phật Di Đà ghi trong các bản dịch đã được nêu đủ không còn sót. Vì vậy, hội bản này được các bậc hiền đức cận đại công nhận là bản hoàn thiện nhất thì cũng là điều rất hợp lý vậy.

 Chánh kinh: Pháp Tạng bạch rằng:

- Kính xin đức Thế Tôn đại từ nghe, xét.

 Giải: ‘Nghe’ là tai nghe, ‘xét’ là trong tâm suy xét. Sách Hội Sớ giảng: ‘Như Lai nghe ông ta trình bày, soi xét tấm lòng son nên bảo là ‘xét, nghe’. Như vậy, câu kinh trên có nghĩa là: Pháp Tạng Bồ Tát thỉnh cầu Thế Tôn rủ lòng thương xót mình, nghe lời mình thưa, soi xét tấm lòng thành của mình. Tiếp theo đó, Pháp Tạng trình bày những đại nguyện mình đã phát.

 Chánh kinh: Nếu tôi chứng được Vô Thượng Bồ Đề, thành Chánh Giác rồi thì cõi nước tôi ở sẽ đầy đủ vô lượng công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn, không có địa ngục, ngạ quỷ, cầm thú, các loài ngọ nguậy, bay lượn, bò trườn. Tất cả hết thảy chúng sanh cho đến những kẻ từ trong cõi Diêm Ma La, trong ba đường ác sanh sang cõi tôi, nhận pháp hóa của tôi ắt thành A-nậu-đa-la tam-miệu Tam Bồ Đề, chẳng đọa vào đường ác nữa. Nguyện được như thế mới làm Phật. Chẳng thỏa nguyện ấy, chẳng giữ lấy vô thượng Chánh Giác.

(Nguyện thứ nhất: Cõi nước không có ác đạo. Nguyện thứ hai: Chẳng đọa đường ác)

 

Giải: Bốn câu đầu bao trùm các đại nguyện: Nguyện lúc tôi thành Phật, cõi nước tôi ngự có đầy đủ vô lượng (không thể dùng số lượng nào biểu thị nổi) công đức thắng diệu, đầy đủ vô lượng thanh tịnh trang nghiêm. ‘Đầy đủ’viên mãn, chứa đựng trọn vẹn, không khuyết, không sót nên bảo là ‘đầy đủ’. Những công đức trang nghiêm đầy đủ ấy đều chẳng thể nghĩ bàn: siêu tình ly kiến, chẳng thể suy lường, phân biệt mà biết được nổi, chẳng thể dùng ngôn ngữ, văn tự diễn tả nổi nên bảo là ‘chẳng thể nghĩ bàn’.

Chỉ mình kinh Hoa Nghiêm nói đến cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn: sự sự vô ngại, một tức là nhiều, nhiều tức là một, lớn nhỏ dung chứa lẫn nhau, rộng hẹp tự tại, kéo dài hay rút gọn cùng một lúc, trùng trùng vô tận, viên minh cụ đức v.v... Nói đầy đủ là mười huyền môn như trong phần Phán Giáo đã trình bày sơ lược. Trong kinh này, A Di Đà Phật chính là Tỳ Lô Giá Na Như Lai, Cực Lạc Tịnh Độ nào khác Hoa Tạng thế giới. Toàn thể y báo, chánh báo cõi Cực Lạccảnh giới sự sự vô ngại chẳng thể nghĩ bàn, thứ nào cũng đầy đủ trọn vẹn vô tận huyền môn nên nói: ‘Đầy đủ vô lượng công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn’. Do đầy đủ vô lượng công đức chẳng thể nghĩ bàn nên có thể khiến cho chúng sanh nghe tên được phước, nghe tên phát tâm, mười niệm ắt được vãng sanh, mau chứng ngôi bất thối.

Cũng do đầy đủ vô lượng công đức chẳng thể nghĩ bàn nên vạn vật nghiêm tịnh, vi diệu đến cùng cực, sáng láng như gương, chiếu tột cùng mười phương. Được ánh sáng chiếu đến liền an lạc, cấu diệt, thiện sanh; mùi hương xông khắp, chúng sanh trong mười phương thế giới ngửi thấy đều tu Phật hạnh; thấy cây Bồ Đề, chứng Vô Sanh Nhẫn. Thế giới Cực Lạc hiển hiện đẹp đẽ: mỗi hạt bụi, mỗi sợi lông đều viên minh cụ đức.

Vì vậy, bốn câu này được đặt ở đầu lời nguyện để biểu thị: không nguyện nào trong các nguyện sẽ được trình bày dưới đây lại chẳng giống như vậy. Mỗi mỗi nguyện đều vì chúng sanh, mỗi mỗi nguyện đều hiển hiện bổn tâm diệu minh của Phật Di Đà, mỗi một sự tướng đều là thanh tịnh cú, đều là chơn thật trí huệ vô vi Pháp Thân.

Đoạn văn kế tiếp nói rõ: Trong nước tôi không có ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh (trong kinh thường lấy cầm thú, các loài ngọ nguậy, bay lượn, bò trườn để biểu thị súc sanh).

‘Địa ngục’ là tiếng Hán, tiếng Phạn là na lạc ca (naraka), nê lê v.v... Sách Đại Nhiếp Luận Âm Nghĩa nói: ‘Dịch ra, Nê Lê có bốn nghĩa: chẳng vui sướng nổi, chẳng cứu vớt nổi, tối tăm, và địa ngục’. Chữ ‘địa ngục’ dùng trong kinh này chỉ là lấy một trong bốn nghĩa trên. Bà Sa Luận ghi: ‘Phía dưới Thiệm Bộ châu năm trăm du thiện na có địa ngục’.

‘Du thiện na’ (yojana) là do tuần, là cách người Thiên Trúc tính số dặm vậy. Bản chú giải kinh Duy Ma của ngài Tăng Triệu ghi: ‘Thượng do tuần là sáu mươi dặm, trung do tuần là năm mươi dặm, hạ do tuần là bốn mươi dặm’.

Như vậy, ta thường nói ‘địa ngục’ là chỉ cái ngục ở dưới đất, nhưng thật ra, địa ngục chẳng phải chỉ ở dưới đất. Ở trên núi, hoặc bên bờ biển cả, hoặc trong đồng hoang, dưới cội cây, giữa không trung đều có địa ngục. Nói chung, địa ngục có ba loại:

a. Căn bổn địa ngục tức là tám đại địa ngục và tám địa ngục lạnh. Nói có tám đại địa ngục là so với tám địa ngục lạnh mà nói, chúng cũng được gọi là tám ngục nóng. Phía dưới mặt đất Thiệm Bộ châu năm trăm do tuầnđịa ngục tên là Đẳng Hoạt. Từ đấy, lần lượt tính xuống đến địa ngục thứ tám tên là Vô Gián. Tám địa ngục ấy chồng lên nhau theo chiều dọc. Theo luận Câu Xá cũng như Đại Luận, tám địa ngục đó là:

 

* Đẳng Hoạt địa ngục: Tội nhân trong ấy bị đâm, chém, xay, giã, khổ quá chết đi, chợt có cơn gió lạnh thổi qua, thịt da sanh lại, lại sống như trước (nên có tên là Đẳng Hoạt: sống lại như trước).

 * Hắc Thằng địa ngục: trước hết dùng những sợi dây đen đủi (hắc thằng) trói chặt mình mẩy tội nhân, rồi mới cưa, chém.

 * Chúng Hợp địa ngục: Nhiều thứ hình cụ độc ác cùng xô đến ép thân.

 * Hiệu Khiếu địa ngục: Bị các khổ bức bách, rú lên những tiếng đau đớn, than oán.

 * Đại Khiếu địa ngục: Bị khổ sở quá mức, vang tiếng kêu khóc ầm ĩ.

 * Viêm Nhiệt địa ngục: Lửa bốc từ trong thân cháy ra, ngọn lửa tỏa khắp, cái khổ vì nóng bức khó lòng chịu đựng nổi.

 * Đại Nhiệt địa ngục: Sức nóng dữ dội nhất nên gọi là Đại Nhiệt.

 * Vô Gián địa ngục: Chịu khổ không gián đoạn, không lúc nào ngớt.

 Phía ngoài tám địa ngục trên lại có tám địa ngục lạnh, kể theo thứ tự như sau:

* Ngạch Bộ Đà, Tàu dịch là Pháo (phồng rộp lên). Thân bị rét cóng nên thân thể sưng phồng lên.

* Nê Lạt Bộ Đà: thân bị rét quá, mình mẩy nứt nẻ, vỡ ra.

* A La La (bị lạnh quá, răng khua lộp cộp, phát ra tiếng rên hừ hừ)

* A Bà Bà (cũng như trên)

* Hổ Hổ Bà (như trên)

* Ốt Bát La (hoa sen xanh): Bị lạnh quá mức, mình mẩy nứt gẫy da vênh lên như cánh sen xanh.

* Bát Đặc Ma (hoa sen đỏ): thân thể gãy nát [tươm máu] như hoa sen hồng.

* Ma Ha Bát Đặc Ma (hoa sen đỏ lớn): thân thể gãy nát như hoa sen đỏ lớn.

 Đấy là căn bổn địa ngục, tiếp theo đây, sẽ lược thuật về cận biên địa ngụccô độc địa ngục.

 b. Mười sáu du tằng địa ngục: Trong số tám đại địa ngục nói trên, mỗi địa ngục đều có bốn cửa. Ngoài mỗi cửa lại có bốn tầng ngục phụ mang tên: Đường Ổi tằng (tầng ngục nung vùi trong tro nóng), Phẩn Tằng (tầng ngục phân dơ), Phong Nhận Đao tằng (tầng ngục mũi gươm, đao sắc nhọn), Liệt Hà tằng (tầng ngục sông sôi sùng sục), tổng cộng 16 tầng, gọi chung là 16 du tằng địa ngục. Tính ra, tám đại địa ngục có tất cả một trăm hăm tám ngục phụ, cũng gọi là cận biên địa ngục.

 c. Cô độc địa ngục ở giữa núi, đồng hoang, cội cây, không trung. Loại này có vô số, chịu khổ vô lượng. Khổ quả trong địa ngục là nặng nề nhất, một ngày đến tám vạn bốn ngàn lần chết đi, sống lại, trải qua vô lượng kiếp. Sách Phụ Hành Ký nói: ‘Tạo tội ngũ nghịch, thập ác nặng nhất thì cảm lấy [quả địa ngục]’.

 Trong quyển 8 sách Đại Thừa Nghĩa Chương, chữ ‘ngạ quỷ’ được giảng như sau: ‘Do cầu nơi người khác nên gọi là ngạ quỷ. Lại thường đói khát nên gọi là Ngạ, khủng khiếp, lắm điều sợ hãi nên gọi là Quỷ’.

Bà Sa Luận chép: ‘Quỷ là sợ, tức là: khủng khiếp, lắm nỗi sợ hãi. Quỷ cũng có nghĩa là oai vì có thể làm cho kẻ khác sợ cái oai của mình. Lại do mong cầu nên gọi là Quỷ, tức là: loài ngạ quỷ thường đi theo người khác mong được thức ăn để duy trì tánh mạng’. Luận còn viết thêm: ‘Có thuyết bảo do chúng đói khát dữ dội nên gọi là Quỷ. Do chúng bo bo tích cóp nên cảm cái nghiệp đói khát. Trong trăm ngàn năm chẳng được nghe đến cái tên của nước uống, huống là được thấy hay là chạm được. Có thuyết bảo do chúng bị xua đuổi nên gọi là Quỷ: Ở nơi nào cũng thường bị chư thiên xua đuổi’.

Loài ngạ quỷ có mặt khắp mọi nơi. Kẻ nào có phước đức thì làm thần trong rừng, núi, gò mả, miếu thờ. Kẻ không phước đức ở chỗ chẳng sạch, không có thức ăn, luôn bị đánh đập, ngăn sông, lấp biển, chịu khổ vô lượng. Sách Phụ Hành Ký nói: ‘Hạ phẩm ngũ nghịch thập ác cảm lấy [ngạ quỷ]’.

Chữ ‘súc sanh’ tân dịch (3) là ‘bàng sanh’ ngụ ý: các loài sanh vật thân hình nằm ngang. Tân Bà Sa Luận nói: ‘Thân hình chúng nằm ngang nên cũng đi ngang. Hoặc do đi ngang nên thân hình cũng nằm ngang. Vì vậy, chúng được gọi là bàng sanh’. Bàng có nghĩa là nằm ngang. Sách Hội Sớ nói: ‘Loài này có mặt khắp nơi: đeo lông, đội sừng, vảy, mai, lông mao, lông vũ, bốn chân, nhiều chân, sống dưới nước, trên mặt đất, bay trên không, ăn nuốt lẫn nhau, chịu khổ vô lượng’. Sách Phụ Hành Ký bảo: ‘Tạo ngũ nghịch thập ác bậc trung cảm lấy quả này’.

‘Diệm Ma La giới’ (cõi Diệm Ma La) là thế giới của vua Diệm Ma La (Yamaraja). Diệm Ma La còn được phiên âm là Viêm Ma, Diễm Ma, Diêm Ma, Diêm Ma La, dịch nghĩa là Phược, nghĩa là trói buộc tội nhân. Diệm Ma La dịch nghĩa là Bình Đẳng Vương. Vị vua này ghi chép, xử đoán quản trị cái nghiệp sanh tử, tội phước của thế gian, làm chúa địa ngục, tám ngục nóng, tám ngục lạnh và các tiểu địa ngục quyến thuộc v.v... quyết đoán thiện ác, sai sử quỷ tốt. Trong năm đường, vua truy bắt tội nhân, tra khảo, trừng phạt chẳng lúc nào ngơi. Vì vậy, kinh Tam Khải nói: ‘Giao cho vua Diễm Ma theo nghiệp thọ báo. Nhân thù thắng thì sanh đường lành, ác nghiệp đọa Nê Lê’.

Diêm Ma Vương còn được dịch là Song Vương vì anh và em gái cùng làm vua địa ngục. Anh coi đàn ông, em coi đàn bà nên gọi là Song Vương. ‘Cõi Diêm Ma La’ là cõi vua Diêm La cai quản. Luận Câu Xá chép: ‘Cõi nước vua Diễm Ma: ở phía dưới Thiệm Bộ châu chừng năm trăm du thiện na (do tuần) có Diễm Ma vương quốc. Cõi nước có kích thước cũng cỡ đó, lần lượt thay phiên nhau mà trụ: hễ cõi này tan hoại thì dời qua cõi khác’.

Phẩm Địa Ngục của kinh Trường A Hàm cũng nói: ‘Phía Nam châu Diêm Phù Đề, trong núi Đại Kim Cang có cung vua Diêm La là chỗ vua cai trị, ngang dọc sáu ngàn do tuần’. 

‘Ba đường ác’ (tam ác đạo) còn gọi là “tam ác thú”, hay “tam đồ” là chỗ sanh về của hết thảy chúng sanh tạo nghiệp nên gọi là “ác đạo”. Ba đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh gọi là “tam ác đạo”. Phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa có câu: ‘Do nhân duyên các dục, đọa lạc tam ác đạo’ nghĩa là: Nếu chúng sanh trong tâm có ý niệm tham cầu dục lạc làm nhân, ngoài vin nắm dục cảnh làm duyên thì do nhân duyên ấy khởi niệm tạo ác; cuối cùng sẽ đọa ác đạo.

Chương này nêu lên hai nguyện: ‘Nước không ác đạo’‘chẳng đọa đường ác’. Ý của mấy câu đầu trong đoạn kinh như sau:

Nếu tôi chứng được Như Lai quả giác, thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tức là đã rốt ráo thành Phật, thì ngay khi ấy trong cõi Phật mà tôi trụ trì có đầy đủ vô lượng công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn. Dùng những câu trên đây để diễn tả một cách tổng quát những sự vi diệu thù thắng của thế giới Cực Lạc. Vì vậy, những câu ấy được nêu ở đầu nguyện thứ nhất; kế đó, lần lượt trình bày nội dung của từng nguyện trong bốn mươi tám nguyện.

Nguyện thứ nhất là: ‘Chẳng có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cầm thú, các loài ngọ nguậy, bay lượn, bò trườn’, đó là nguyện cõi nước không có ác đạo. Nguyện này thật sự thể hiện đức Di Đà do tâm đại bi thiết tha nên ngay trong hai nguyện đầu đã chỉ mong chúng sanh không khổ. Cái khổ trong ba ác đạo là nỗi khổ nặng nề nhất. Trong Mật giáo có nói: ‘Đại bi làm căn, phương tiện làm cứu cánh’. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm cũng nói: ‘Chư Phật Như Lai lấy đại bi làm thể’ nên Phật nguyện trong nước vĩnh viễn chẳng có đường ác.

‘Nguyện chẳng đọa vào đường ác’ hoặc còn gọi là ‘nguyện chẳng đọa đường ác lần nữa’ chính là nguyện thứ hai. Nguyện này tiếp ý nguyện thứ nhất: cõi ta chẳng những không có ba đường ác mà thậm chí hết thảy chúng sanh từ trong ba ác đạo như từ cõi vua Diêm La (tức là trong địa ngục) sanh về cõi ta, nhận lãnh sự giáo hóa của Phật thì chẳng những chỉ vĩnh viễn chẳng bị sanh vào ác đạo lần nữa mà còn đều thành được A-nậu-đa-la tam-miệu Tam-bồ-đề.

Sách Tịnh Độ Luận Chú ghi: ‘Pháp Phật chứng đắc gọi là A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam Bồ Đề’. Sách Pháp Hoa Huyền Tán lại giảng: ‘A là vô, nậu đa la là thượng, tam là chánh, miệu là đẳng, tam lại có nghĩa là chỉ (ngưng dứt), Bồ Đề là giác, tức là: Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác’. Đại Trí Độ Luận, quyển tám mươi lăm có câu: ‘Chỉ mình trí huệ của Phật là a nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề’.

Chúng sanh trong ác đạo thiện căn kém cỏi, lại lắm túc nghiệp, được nhờ nguyện lực của Phật gia bị, nhiếp thọ vãng sanh, sanh sang cõi kia rồi thảy đều thành Phật. Đây thật là thánh nguyện vô thượng từ bi đến cùng cực của Di Đà Như Lai: chúng sanh từ trong đường ác mang theo nghiệp vãng sanh vốn đầy dẫy ác nghiệp, đáng lẽ đọa ác đạo nhưng nhờ Di Đà nguyện lực gia trì nên được vãng sanh Cực Lạc, chẳng đọa trong tam đồ nữa nên bảo là ‘chẳng đọa đường ác’. Vì vậy, Đại Sĩ Long Thọ nói: ‘Kẻ nào nếu sanh cõi kia thì trọn chẳng đọa ba đường ác nữa’. Đại sư Thiện Đạo cũng dạy: ‘Cho đến khi thành Phật chẳng lăn lóc trong sanh tử nữa’. Đấy chính là vượt ngang khỏi sáu đường vậy.

Chương này gồm hai đại nguyện thù thắng:

a. Một là chúng sanh trong đường ác cũng được vãng sanh Cực Lạc chẳng bị đọa vào ác thú nữa, biểu thị: Di Đà bi tâm vô tận, hóa độ không sót

b. Hai là hễ được vãng sanh thảy đều thành Phật, rốt ráo Bồ Đề.

Do vậy, ta thấy được tấm lòng của Phật Di Đà: niệm niệm đều nguyện chúng sanh thành Phật. Nguyện này đã thành tựu đủ chứng tỏ trí huệ công đức, oai thần, lực dụng của Phật Di Đà thật chẳng thể nghĩ bàn.

Cuối đoạn kinh trên có câu: ‘Nguyện được như thế mới làm Phật, chẳng thỏa nguyện này, chẳng giữ lấy vô thượng Chánh Giác’, ý nói: nguyện này thành tựu, ta (Pháp Tạng Bồ Tát) mới thành Phật. Nếu nguyện này chẳng thành, ta trọn chẳng thành Phật, nên nói rằng: ‘Chẳng giữ lấy vô thượng Chánh Giác’. Trong các nguyện sau, chỉ nói gọn là ‘chẳng giữ lấy Chánh Giác’.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, khiến cho tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới sanh trong cõi tôi đều được đầy đủ thân sắc vàng ròng trau giồi sáng bóng, ba mươi hai tướng đại trượng phu đoan chánh, tịnh khiết, giống hệt như nhau. Nếu họ hình dáng sai khác có xấu đẹp thì chẳng giữ lấy Chánh Giác.

(Nguyện thứ ba: thân đều như kim sắc, nguyện thứ tư: đủ ba mươi hai tướng, nguyện thứ năm: thân không có sai khác)

 Giải: Chương này gồm ba nguyện.

Câu ‘khiến tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới sanh về cõi tôi đều đầy đủ thân màu vàng ròng trau giồi sáng bóng’ là nguyện thứ ba ‘thân đều là kim sắc’. Sanh cõi ấy rồi, thân đều có màu như màu của vàng ròng được trau chuốt đến mức sáng bóng.

Màu vàng ròng là màu nơi thân Như Lai. Đại sư Thiện Đạo nói: ‘Chư Phật muốn hiển thị tướng thường trụ bất biến nên hiện ra sắc hoàng kim’. Sư Nhật Khê bảo: ‘Màu đó tiêu biểu màu của Thật Tướng’.

Nay trong đại nguyện này, Phật muốn khiến cho hết thảy người đã vãng sanh đều có thân tướng giống hệt thân Phật, đều có màu vàng ròng để hiển thị: chúng sanh và Phật bất nhị, chơn thật bình đẳng. Vì vậy, sách Hội Sớ nhận xét: ‘Do đó, nguyện rằng nhân dân trong cõi tôi thuần một sắc vàng, chẳng có xấu, đẹp, ta và người đều bình đẳng, dứt tuyệt ý tưởng trái, thuận’. Thuyết của sách Hội Sớ thật đã trình bày tỏ tường ý nghĩa của Trung Đạo Thật Tướng.

‘Ba mươi hai tướng đại trượng phu’: Trời, người trong cõi nước ấy đều đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu là nguyện thứ tư, còn gọi là ‘nguyện băm hai tướng’. Băm hai tướng đại trượng phu còn gọi là băm hai tướng đại nhân, gọi tắt là băm hai tướng. Băm hai tướng này chẳng mình đức Phật mới có, Chuyển Luân thánh vương cũng có đủ băm hai tướng. Trí Độ Luận, quyển tám mươi tám có nói Phật hiện ra tướng đại nhân này là vì ‘thuận theo quan niệm của người Thiên Trúc nơi cõi Diêm Phù Đề trong thế gian nên hiện ra băm hai tướng’. Thuyết này rất tuyệt, Phật vốn ly tướng lại hiện có tướng là thuận theo tập tục thế gian vậy.

Sách Pháp Giới Thứ Đệ quyển hạ nói: ‘Nơi thân ứng hóa của đức Như Lai thị hiện ba mươi hai tướng này để biểu thị Pháp Thân có các đức viên mãn đến cùng cực khiến cho người trông thấy yêu kính, biết Phật có đức hạnh thù thắng đáng tôn sùng, là bậc tôn quý trong trời người, là vua của chư thánh. Vì vậy, Phật thị hiện có ba mươi hai tướng’. Theo Tam Tạng Pháp Số, quyển bốn mươi tám, ba mươi hai tướng là:

1) Bàn chân bằng phẳng, lòng bàn chân không chỗ nào lõm xuống.

2) Tướng bánh xe ngàn căm: dưới chân có hình bánh xe.

3) Ngón tay dài nhọn: ngón tay thon dài.

4) Chân tay mềm mại.

5) Chân tay có màng lưới: giữa các ngón chân, ngón tay có màng lưới nối liền nhau như chân vịt, ngỗng.

6) Gót chân đầy đặn: Gót chân đầy đặn không khuyết.

7) Lưng bàn chân vun tròn: Mu bàn chân cao đầy, tròn trịa.

8) Bắp đùi nai chúa: Bắp đùi Phật tròn trịa, nuột nà như bắp đùi nai chúa.

9) Tay dài quá gối: Tay dài qua khỏi đầu gối.

10) Mã âm tàng: Nam căn của Phật ẩn kín trong cơ thể như âm ngựa.

11) Thân to rộng: Chiều cao của Phật bằng với khoảng cách hai tay giang ra.

12) Lỗ chân lông có sắc xanh: nơi mỗi lỗ chân lông mọc một sợi lông sắc xanh, nhưng các sợi lông chẳng mọc loạn xị.

13) Lông trên thân mướt đẹp: Lông trên thân mọc xoáy về phía phải, hướng lên trên, mượt mà.

14) Thân sắc vàng: Màu sắc thân Phật như màu vàng ròng.

15) Thường quang chiếu xa một trượng: Thân Phật tỏa quang minh, mỗi phía đều xa đến cả trượng.

16) Da dẻ mềm mại, mượt mà: da dẻ mềm mịn, trơn láng.

17) Bảy chỗ bằng phẳng. Bảy chỗ là hai lòng bàn chân, hai lòng bàn tay, hai vai và đảnh đầu, cả bảy chỗ ấy đều bằng phẳng, đầy đặn không khuyết hãm.

18) Hai nách đầy đặn.

19) Thân như tướng sư tử: thân thể đầy đặn, đẹp đẽ, oai nghi đoan nghiêm như sư tử chúa.

20) Thân thể đoan trực: thân hình đoan chánh, không cong vẹo.

21) Vai tròn đầy: hai vai tròn trịa đầy đặn.

22) Bốn mươi cái răng: Phật có đủ cả bốn mươi cái răng.

23) Răng trắng, khít, bằng: Bốn mươi cái răng đều trắng sạch, mọc khít khao.

24) Bốn răng nanh trắng sạch: Bốn răng nanh lớn nhất nhưng thật trắng sạch.

25) Má đầy như má sư tử: Hai gò má tròn đầy như tướng gò má sư tử.

26) Nước miếng trong họng có vị ngon ngọt nhất: Trong cổ họng Phật thường có chất nước miếng khiến cho ăn vật gì cũng trở thành thơm ngon nhất.

27) Lưỡi rộng dài: Lưỡi to mà dài, mềm mại, thanh mảnh, khi thè ra che cả khuôn mặt đến tận mí tóc.

28) Phạm âm vang sâu xa: Phạm nghĩa là thanh tịnh. Âm thanh của Phật thanh tịnh nhưng nghe vang rất xa.

29) Mắt có màu cám thanh: Tròng con mắt có màu cám thanh (xanh biếc hơi pha sắc đỏ).

30) Lông mi như trâu chúa: Lông mi mắt đẹp như lông mi mắt trâu chúa.

31) Giữa hai chân mày có tướng bạch hào: Giữa hai chân mày có một sợi lông trắng, uyển chuyển cuộn về bên phải, thường phóng quang minh.

32) Trên đảnh có nhục kế: Nhục kế tiếng Phạn là ô sắt nị (usni), dịch là nhục kế. Trên đảnh Phật có thịt gồ cao lên như hình búi tóc, còn gọi là Vô Kiến Đảnh Tướng (4)

(Các kinh, luận khác nói về ba mươi tướng có đôi chút sai khác).

 Sư Vọng Tây viết: ‘Do bởi nguyện ấy, các chúng sanh đã vãng sanh đều đủ các tướng, chẳng cần tu mà tự được. Hỏi: Sau khi hoa nở hay là trước khi hoa nở được đầy đủ các tướng? Đáp: Chẳng đợi đến khi hoa nở, hễ sanh về đấy ắt liền có’.

Nguyện kế tiếp theo đó là nguyện ‘thân không sai biệt’. Nguyện rằng: Chúng sanh trong cõi nước tôi, dung mạo, hình dáng thảy đều đoan chánh, tịnh khiết giống hệt như nhau. Nếu còn phân ra xấu, tốt sai khác, tôi nguyện chẳng thành Phật. Nguyện này nói rõ người trong cõi Cực Lạc có cùng một hình dạng như nhau không hề sai khác. Vì thế, đại sư Đàm Loan nói: ‘Do chẳng giống nhau nên thân có quý, hèn. Do thân có quý, hèn nên thị phi sanh khởi. Thị phi đã khởi thì chìm đắm mãi trong ba cõi. Vì vậy, Phật hưng khởi lòng đại bi, khởi lên nguyện bình đẳng’. Đại sư đã chỉ rõ nguyên nhân Phật phát khởi nguyện này vậy.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, tất cả chúng sanh sanh về nước tôi tự biết các việc thiện ác đã làm trong túc mạng đến vô lượng kiếp, đều trông thấy rõ ràng, nghe rành rẽ, biết được các việc trong quá khứ, hiện tại, vị lai suốt mười phương.

(nguyện thứ sáu: đắc túc mạng thông; nguyện thứ bảy: đắc thiên nhãn thông; nguyện thứ tám: đắc thiên nhĩ thông)

 Giải: Chương này nói rõ chúng sanh cõi ấy viên mãn nguyện thứ sáu ‘túc mạng thông’, nguyện thứ bảy ‘thiên nhãn thông’ và nguyện thứ tám ‘thiên nhĩ thông’.

Thông là nói tắt chữ ‘thần thông’. Thần dị đến cùng cực, chẳng lường nổi công hạnh thì gọi là ‘thần’. Làm gì cũng chẳng bị úng tắc, tự tại vô ngại thì là ‘thông’. Có sáu thứ thần thông, thường gọi là lục thông tức là: túc mạng thông, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thônglậu tận thông. Trong sáu loại thần thông này, loại thứ sáu chỉ bậc thánh (từ A La Hán trở lên) mới có, năm loại trước phàm phu, dị sanh (không phải loài người) cũng có thể đạt được. Chư thiên trong tam giới do quả báo nên đều tự nhiên cảm được năm thứ thần thông đầu (thậm chí quỷ thần cũng có chút thần thông) nhưng chẳng đắc lậu tận thông. Chỉ bậc thánh mới chứng nổi lậu tận thông vì phải đoạn sạch phiền não mới là lậu tận vậy.

Cần chú ý một điều là chúng sanh nơi Cực Lạc chứng được những thần thông vượt xa những thứ thần thông do Thiền Định phát sanh như trong các kinh luận khác đã nói. Nêu một ví dụ: phàm phu đạt được túc mạng thông thì không thể biết việc quá khứ lâu hơn tám vạn kiếp được. Trong kinh này lại nói biết đến vô lượng kiếp là do chúng sanh nơi Cực Lạc nhờ vào sức bổn nguyện của Phật mà đạt được thần thông Đại thừa bất cộng nên vượt xa phàm phu lẫn Tiểu thừa.

Sách Bình Giải bảo: ‘Tiểu thừa chỉ dựa vào bốn căn bản định để chứng đắc năm thứ thần thông đầu. Với lậu tận thông, họ còn ở mức tứ thiền chưa đạt đến trung gian và ba thứ vô sắc (chữ ‘vô sắc’ ở đây chỉ vô sắc định. Chữ ‘ba’ trong câu nói trên là lầm. Có tám thứ định là tứ thiền của Sắc giớitứ vô sắc định của Vô Sắc giới). Đại thừa nương vào hết thảy định nên đều đạt được cả sáu.

Những thần thông nói trong kinh này lại khác hẳn những loại thần thông nói trên vì hết thảy trời người [cõi Cực Lạc] nương vào đại nguyện của Phật. Vì vậy, ta bảo: lấy sức bổn nguyện của Phật Di Đà làm tăng thượng duyên như sách Sự Tán bảo: “Tam minh tự nhiên nương Phật nguyện; chắp tay giây lát đắc thần thông”, há nào phải dựa vào sức thiền hữu lậu?’

Như vậy, thần thông của trời, người cõi Cực Lạc chẳng do tu tậpchứng đắc, chẳng đợi phải tu mới có, mà là tự nhiên được thành tựu. Thần thông ấy cũng chẳng giống với ngũ thông do quả báo mà có của chư thiên; chỉ là nương vào tu đức của Phật Di Đà làm nhân, nương Như Lai nguyện lựcthọ hưởng quả đức an lạc tự nhiên. Do đó, cảm được báo vượt xa lệ thường. Vì vậy, sách Yếu Tập nhận định: ‘Chẳng nương vào bốn thứ tịnh lự (thiền định) làm cái nhân tu tập thần thông, chỉ hễ sanh về đấy liền được quả báo tùy ý như vậy, há chẳng sung sướng lắm sao!’

Hơn nữa, thần thông của chư Phật, Bồ TátNhị Thừa cũng có nhiều điểm sai khác. Sách Bình Giải dựa trên Đại Thừa Nghĩa Chương nêu ra những điểm sau:

a. Rộng, hẹp chẳng giống nhau như kinh Địa Trì nói Thanh Văn thấu tỏ hai ngàn cõi nước, Duyên Giác thấu tỏ sáu ngàn cõi nước (kinh này bảo thấy trọn ức na do tha trăm ngàn cõi Phật, đủ thấy khác biệt rất lớn).

b. Nhiều ít khác biệt: Trong một tâm niệm, Nhị Thừa chỉ có thể hóa hiện được một việc, chẳng làm nổi nhiều việc; chư Phật, Bồ Tát có thể hóa hiện ra hết thảy hình dạng trong khắp mười phương thế giới, cùng một lúc có thể hiện thân trong năm đường.

c. Lớn nhỏ sai khác: Nhị Thừa hóa ra thân lớn chẳng vào trong được thân nhỏ, hóa thân nhỏ chẳng dung nổi thân lớn. Chư Phật, Bồ Tát hiện thân to chật cả tam thiên thế giới, lại có thể đem thân ấy nhét trong một vi trần, hóa hiện thân nhỏ như mảy trần nhưng thân ấy chứa được hết thảy. Hơn nữa, với hết thảy sắc vật Bồ Tát có thể đem cái lớn bỏ trong cái nhỏ, dùng cái nhỏ đựng cái lớn. Nhị Thừa không làm nổi như thế.

d. Nhanh, chậm sai khác: Nhị Thừa muốn đến được chỗ xa xôi, phải mất một thời gian mới tới vì chẳng được như ý thông. Chư Phật, Bồ Tát trong một niệm đến khắp mười phương thế giới do đã chứng đắc như ý thông.

e. Thật, giả sai khác: Hết thảy thứ do Nhị Thừa hóa hiện chỉ là tương tự, chẳng thể thật sự dùng được. Chư Phật Bồ Tát hóa hiện ra thứ gì cũng đều có công dụng thật sự.

f. Việc làm sai khác: Chư Phật, Bồ Tát hóa ra vô lượng người khiến cho mỗi người đều có tâm, mỗi người làm một việc hoàn thành khác nhau. Nhị Thừa chẳng thể làm nổi như vậy.

g. Hóa hiện sai khác: Chư Phật, Bồ Tát chỉ hiện một thân mà mỗi người mỗi thấy khác nhau; chỉ nói ra một tiếng mà mỗi người nghe mỗi khác; an trụ một cõi mà hiện đủ mười phương. Nhị thừa không làm thế nổi.

h. Hóa các căn có công dụng sai khác như kinh Niết Bàn nói: ‘Chư Phật Bồ Tát dùng lẫn sáu căn’ (dùng căn này làm chuyện khác, như trong lỗ chân lông, tức là thân căn, vang ra các bài kệ. Như vậy, Bồ Tát đã dùng thân căn thay thế cho thiệt căn nói kệ). Nhị Thừa chẳng làm được vậy.

i. Tự tại sai khác: Như kinh Niết Bàn nói: ‘Chư Phật, Bồ Tát hễ làm điều gì thân tâm tự tại, chẳng vướng theo duyên. Dẫu thân hiện lớn, tâm chẳng lớn theo. Dẫu thân hiện nhỏ, tâm cũng chẳng nhỏ theo. Với hết thảy hỷ, ái v.v… đều như vậy’ (ý nói thân hiện vẻ vui mừng, tâm không vui mừng). Nhị thừa chẳng được như thế.

Thần thông của trời, người cõi Cực Lạc như sách Hợp Tán nói: ‘Nay đã là sức thần thông bất cộng của Đại Thừa, lại thêm nhờ sức bổn nguyện (của Phật Di Đà) nên há lại giống với thần thông của phàm phu, Tiểu Thừa!’

Câu ‘tự biết được việc thiện ác đã làm trong túc mạng đến vô lượng kiếp’ chính là nguyện thứ sáu ‘đắc túc mạng thông’. ‘Túc’ là đời quá khứ, tục gọi là đời trước, ‘mạng’ là sanh mạng. Như vậy, ‘túc mạng’ là nhiều kiếp sống trước trong quá khứ. Biết được các việc thiện ác trong nhiều kiếp sống quá khứ thì gọi là túc mạng thông.

Sách Bình Giải giảng: ‘Việc đã đi vào quá khứ gọi là Túc, pháp quá khứ tiếp nối thì gọi là Mạng. Hiểu rõ những việc ấy không vướng mắc thì gọi là túc mạng thông’.

Sách Hội Sớ cũng nói: ‘Biết kiếp trước của thân mình từ một đời, hai đời, ba đời cho đến trăm ngàn vạn đời và các việc đã làm, cũng có thể biết kiếp trước của chúng sanh trong lục đạo và việc họ đã làm thì gọi là túc mạng thông’.

Nhị Thừa biết được nhiều lắm là đến tám vạn kiếp, Bồ Tát biết đến vô cực. Lời nguyện trong kinh này lại nói là túc mạng đến vô lượng kiếp thì chính là nói đến thần thông của Bồ Tát vậy.

Nguyện này gồm hai ý nghĩa:

- Một là như sư Trừng Hiến người Nhật nói: ‘Do chẳng biết túc mạng nên chẳng sốt sắng làm lành, chẳng sợ điều ác. Với muôn điều thiện trở nên lười biếng, tạo tác các ác cũng chỉ do không biết túc nghiệp. Vị La Hán kia nhớ cái khổ trong Nê Lê (địa ngục)toát mồ hôi lẫn máu (xưa có vị La Hán nhớ đến khi xưa ở trong địa ngục, chịu các sự thống khổ thảm thiết mà kinh sợ cùng cực, mồ hôi toát ra có lẫn cả máu). Ngài Phước Tằng thấy xương đời trước của mình liền chợt khai ngộ. Lại có kẻ chẳng biết kẻ ấy là mẹ đẻ trong đời trước nên lấy làm vợ, chẳng biết là oán gia đời trước nên nuôi như con, chẳng biết là cha đời trước nên đem nấu thành thức ăn ngon v.v... Đấy đều do mê muội túc sự, ham đắm cái nỗi vui trong đời, nay chợt nghe bổn duyên đều sanh tâm nhàm chán vậy’.

Như vậy, người cõi Cực Lạc cần phảitúc mạng trí thông là để biết được hạnh nghiệp của chúng sanh trong quá khứ để nhờ đó dẫn dụ họ, dùng đó làm phương tiện hóa độ chúng sanh.

 - Hai là như ngài Tịnh Chiếu nói: ‘Nếu biết được túc mạng thì chẳng tự cao. Nhớ nghĩ đến vô số công đức trong quá khứ nên chỉ nương theo thệ nguyện của Phật được sanh về cõi kia’. Ngài Trừng Hiến cũng nói: ‘Vãng sanh cõi kia liền trước hết biết túc mạng, thật là thâm tạ Phật đức’. Như vậy, người cõi Cực Lạc do túc mạng trí nên hết lòng cảm ngưỡng ân đức của Phật vậy.

‘Thấy rõ ràng, nghe rành rẽ việc quá khứ, hiện tại, vị lai trong suốt mười phương’ (đỗng thị, triệt thính tri thập phương khứ, lai, hiện tại chi sự). ‘Đỗng’sâu xa, thông suốt. ‘Triệt’ là thông, sáng tỏ. ‘Thập phương’không gian, ‘khứ, lai, hiện tại’thời gian, tức là quá khứ, vị lai, hiện tại. Trước chữ ‘khứ’ là câu thừa tiếp cái nguyện ‘đắc túc mạng thông’ ở phần trên: biết được việc thiện ác đã làm trong quá khứ trong vô lượng kiếp suốt cả mười phương, đều ‘thấy rành rẽ, nghe rõ ràng’ [các việc ấy]. Sau chữ ‘khứ’ là nguyện thứ bảy ‘đắc thiên nhãn thông’ và nguyện thứ tám ‘đắc thiên nhĩ thông’.

Thiên nhãn thông còn gọi là thiên nhãn trí thông hoặc sanh tử trí thông. Thiên nhãn là con mắt cõi trời thấy được hết thảy hình sắc thô to, nhỏ nhặt, xa gần và tướng trạng sanh tử của chúng sanh trong tương lai. Trong quyển 5 của Trí Độ Luận có câu: ‘Thiên nhãn thấy được lục đạo chúng sanh và các vật trong tự địa và hạ địa (lấy người cõi trời mà nói thì tự địa là cõi trời, các chốn tu la, người, súc sanh, quỷ, địa ngụchạ địa) dù xa hay gần, các sắc dù thô hay tế, không thứ gì chẳng thấy rõ’.

Thiên nhãn thông lại như sách Hội Sớ bảo: ‘Thấy được các tướng: chết đây, sanh kia, khổ, vui.... của lục đạo chúng sanh và thấy hết thảy các thứ hình sắc chướng nội, chướng ngoại, thế gian, xuất thế gian chẳng bị chướng ngại’. Mắt thịt của phàm phu chỉ thấy được vật ‘chướng nội’. Ví dụ: tường vây quanh là chướng. Phàm phu chỉ thấy được vật giữa các bức tường (chướng nội) chẳng biết được hết thảy vật ngoài tường (chướng ngoại). Thiên nhãn thấy được cả vật chướng ngoại nên thông đạt vô ngại.

Thiên nhãn của trời, người cõi Cực Lạc lại vượt xa thiên nhãn của Nhị Thừachư thiên. Đại sĩ Long Thọ nói: ‘Bậc tiểu Thanh Văn trong hàng Nhị Thừa nếu chẳng tác ý liền thấy được một ngàn cõi. Nếu tác ý thì thấy hai ngàn quốc độ. Đại Thanh Văn chẳng tác ý thấy được hai ngàn, tác ý thấy được ba ngàn. Bậc tiểu Duyên Giác chẳng tác ý thấy hai ngàn, tác ý thấy ba ngàn. Bậc đại Duyên Giáctác ý hay không cũng đều thấy được việc trong tam thiên đại thiên thế giới. Chư Phật, Bồ Tát thấy được sự việc trong vô lượng thế giới’.

Chẳng cần biết là tác ý hay không, những điều mà trời người cõi Cực Lạc thấy được như: chúng sanh sanh tử lưu chuyển trong các thế giớinhân duyên, hạnh nghiệp của chúng.... đều vượt xa Nhị Thừa. Bản Tống dịch chép lời nguyện thứ năm như sau: ‘Hết thảy đều được thiên nhãn thanh tịnh, thấy được trăm ngàn câu chi (trăm vạn) na do tha (ức) thế giới: sắc tướng thô, tế...’ Hội bản ghi là thấy rõ ‘việc quá khứ, hiện tại, vị lai trong mười phương’, ý nói: thấy được sự việc trong vô lượng thế giới, đủ thấy thần thông của người cõi Cực Lạc chính là thần thông của chư Phật, Bồ Tát.

Với nguyện thứ bảy này, lại có hai thuyết:

- Một là như ngài Vọng Tây nói: ‘Do chúng sanh trong cõi nước chẳng thấy các quả khổ nên chẳng sợ cái nhân tạo khổ, cũng do chẳng thấy các quả vui nên chẳng tu cái nhân sanh vui. Ngài Pháp Tạng thương xót những bọn chúng sanh ấy nên chọn lựa cái nguyện này để nhiếp thủ chúng nó’. Sách Hội Sớ cũng bảo: ‘Mắt thịt mờ mịt, kém cỏi, chẳng thấy nổi vật bị che lấp bởi một tờ giấy. Chỉ tính cái trước mắt, chẳng thấy khổ dữ nơi địa ngục nên chẳng dũng mãnh siêng tu; chẳng thấy được cái vui thù thắng nơi Tịnh Độ nên hờ hững tâm niệm ham cầu’. Ngài Trừng Hiến lại nói: ‘Ôi chao thương thay! Chẳng thấy quả khổ địa ngục, ngạ quỷ, chẳng thấy cha, mẹ, sư trưởng thọ báo nên hờ hững cái tâm nhàn chán, biếng nghĩ việc báo ân’. Vì vậy, ngài Vọng Tây bảo: ‘Việc trọng yếu thượng cầu hạ hóa, cái đạo chán khổ báo ân chỉ cốt ở thiên nhãn soi thấy mà thôi!’.

-Hai là như sách Trích Ký khai triển:

“Các sách như Hội Sớ v.v... cho rằng Phật phát nguyện như thế là để diệt ác sanh thiện, chán khổ ham tịnh. Nếu như vậy thì hóa ra là chẳng phải để đạt lợi ích nơi cõi chơn độ (chỉ Cực Lạc). [Tôi cho rằng] nguyện này chính là để đạt lợi ích nơi cõi chơn thật.

Như có Tịnh Độ, tuy thánh chúng cõi ấy có thiên nhãn thấy được hai ngàn thế giới hoặc thấy ba ngàn thế giới nhưng chẳng thấy trọn bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số cõi Phật (5). Hoặc có Tịnh Độ, Bồ Tát cõi ấy tuy được thiên nhãn nhưng chẳng trọn đủ ngũ nhãn. Do vậy, Phật đặc biệt phát ra nguyện này.

Cũng bởi thế, trong phần Nguyện Thành Tựu có nói: ‘Mắt thịt trong trẻo không gì chẳng thấy rõ. Thiên nhãn thông đạt vô lượng vô hạn.’ Như vậy, được một thứ thiên nhãn thì sẽ trọn đủ ngũ nhãn.

Bởi thế, thấy được cõi Phật nhiều như số vi trần, thấy rõ chúng sanh chết đây sanh kia, cứu giúp, lợi lạc chúng sanh, luôn làm Phật sự. Đó chính là lợi ích thù thắng của nguyện này vậy’.

Ý của câu trên là: Nếu cho rằng nguyên khởi của lời nguyện này chỉ là để diệt điều ác, sanh điều lành và khiến chán khổ, thích vui thì đó chưa phải là cái lợi ích thực tế cho người cõi Cực Lạc. Trời, người cõi Cực Lạc thấy được bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số cõi Phật, nhưng do đắc thiên nhãn họ liền được đầy đủ trọn vẹn cả ngũ nhãn: huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãnnhục nhãn sẵn có. Do đó, họ thấy được cõi nước nhiều như vi trần, thấy rõ các tướng sống chết qua lại của chúng sanh nên có thể cứu giúp quần sanh, lợi lạc vạn vật. Đấy mới là lợi ích thù thắng của bổn nguyện.

Trong hai thuyết trên, thuyết sau rất đạt bổn nguyện của Phật Di Đà,

Câu ‘nghe rõ ràng chuyện vị lai, hiện tại trong mười phương’ chính là nguyện thứ tám ‘đắc thiên nhĩ thông’. Thiên nhĩ thông còn gọi là thiên nhĩ trí thông. ‘Thiên nhĩ’ là tai của chư thiên trong Sắc giới nghe được tiếng nói của hết thảy chúng sanh trong lục đạo và hết thảy âm thanh xa, gần, lớn, nhỏ. Sách Hội Sớ bảo: ‘Thiên nhĩ thông là nghe được hết thảy tiếng nói, âm thanh: chướng nội, chướng ngoại, khổ, vui, lo, mừng không úng trệ vậy’.

Nguyện này được bản Ngụy dịch ghi như sau: ‘Trời, người trong nước chẳng được thiên nhĩ, tối thiểunghe lời dạy của trăm ngàn ức na do tha Phật mà chẳng thọ trì hết cả thì chẳng lấy Chánh Giác’. Bản Đường dịch ghi: ‘Hữu tình trong nước chẳng được thiên nhĩ, cho đến chẳng được nghe lời thuyết pháp cách xa ức na do tha trăm ngàn du thiện na thì chẳng lấy Chánh Giác’.

Theo đó, thiên nhĩ thông của trời, người cõi Cực Lạc vượt xa Nhị Thừa, chẳng những nghe được khắp tất cả âm thanh trong mười phương mà còn có thể nghe được vô lượng chư Phật thuyết pháp.

Ngài Trừng Hiến bảo: ‘Thần thông này rất quan trọng. Nghe được tiếng các khổ nơi địa ngục, tiếng đói khát của loài ngạ quỷ liền thêm lớn bi tâm. Nghe tiếng nhạc Càn Thát Bà (Càn Thát Bànhạc thần của Thiên Đế, gảy đàn lưu ly, tiếng vang vọng khắp tam thiên đại thiên thế giới), tiếng thần tiên tụng kinh. Nghe rồi thường thích chốn núi non tịch tĩnh; huống hồ nghe chư Phật thuyết pháp, nghe xong đều thọ trì, nghe Bồ Tát bàn bạc càng thêm khát ngưỡng!’

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, tất cả chúng sanh sanh trong nước tôi đều đắc tha tâm trí thông. Nếu chẳng biết được hết tâm niệm của chúng sanh trong ức na do tha trăm ngàn cõi Phật, chẳng giữ lấy Chánh Giác.

(nguyện thứ chín: tha tâm thông)

 Giải: Đây là nguyện thứ chín ‘đắc tha tâm thông’. Tha tâm thông còn gọi là tha tâm trí thông. Tha tâm trí là cái trí biết được tâm niệm của người khác. Tha tâm trí thông là thấy rõ hết thảy chúng sanh trong tâm đang nghĩ gì như gương sáng hiện rõ muôn hình tượng.

Thâm ý của lời nguyện này là như ngài Trừng Hiển nói: ‘Thế tục còn coi việc hiểu lòng người khác là quan trọng, huống hồ bậc xuất thế lợi lạc chúng sanh’.

Sách Hội Sớ lại giảng: ‘Vì vậy nguyện rằng: thánh chúng trong nước tôi chẳng cần phải tu trì mà tự hiểu tâm người khác, thuận theo ý thích tiếp độ, giáo hóa không trở ngại’.

Bản Ngụy dịch ghi lời nguyện này như sau: ‘Chẳng được thấy tâm trí người khác, tối thiểu là biết được tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha các cõi Phật, chẳng lấy Chánh Giác’.

Khi chú giải đoạn kinh này, hậu thế cũng có hai thuyết:

- Một là chữ ‘tối thiểu’ (hạ chí) ám chỉ ở mức độ thấp nhất, tha tâm thông đã biết được cả trăm ngàn ức na do tha cõi Phật. Với bậc thượng, ắt biết được bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số cõi Phật trong mười phương.

- Hai là chữ ‘hạ’ đó chỉ tâm niệm của chúng sanh, còn nếu bàn về bậc thượng thì sẽ biết được tâm niệm của chư Phật, Bồ Tát. Sách Bình Giải bảo: ‘Nhị Thừa chỉ hiểu được thô tâm của phàm phutiểu thánh, chẳng biết được tế tâm. Chư Phật Bồ Tát thấu hiểu tâm vi tế, thậm chí biết được cả Phật tâm. Bồ Tát cõi An Dưỡng cũng giống như vậy’. An Dưỡng là tên khác của Cực Lạc thế giới. Trong số các Bồ Tát vãng sanh cõi Cực Lạc, đa số những vị Bồ Tát bậc thượng đã là Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát, họ lại được Di Đà hoằng nguyện gia trì nên biết được cả Phật tâm.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, tất cả chúng sanh sanh trong nước tôi đều được thần thông tự tại, ba la mật đa. Trong khoảng một niệm chẳng thể vượt qua ức na do tha trăm ngàn cõi Phật, đến khắp tất cả [các cõi ấy] cúng dường chư Phật thì chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện thứ mười: thần túc thông, nguyện mười một: cúng dường khắp chư Phật)

 Giải: Chương này nói đến nguyện thứ mười ‘thần túc thông’ và nguyện mười một ‘cúng dường khắp chư Phật’. Lời kinh nói gộp hai nguyện. Trong câu ‘đến khắp tất cả cúng dường chư Phật’, chữ ‘đến khắp’ là nguyện thứ mười, ‘cúng dường’ là nguyện thứ mười một.

‘Ba la mật đa’ hoặc ‘ba la mật’ dịch là Sự Cứu Cánh, Đáo Bỉ Ngạn, Độ Vô Cực, hoặc chỉ dịch gọn là Độ. Đại hạnh của Bồ Tát có thể hoàn thành trọn vẹn hết thảy tự hạnh và sự nghiệp hóa độ người khác nên gọi là Sự Cứu Cánh. Bồ Tát nương những đại hạnh ấy có thể từ bờ này sanh tử vượt đến được bờ kia Niết Bàn rốt ráo nên gọi là Đáo Bỉ Ngạn (ba la là bờ kia, mật đa là đến). Do đại hạnh ấy sẽ thấu đạt được sự sâu rộng của các pháp nên gọi là ‘độ vô cực’.

Sanh cõi kia liền đầy đủ thần thông (thần là diệu dụng chẳng lường nổi, thông là dung thông tự tại) tự tại vô ngại, có thể triệt để quán triệt hết thảy tự hạnh và sự nghiệp hóa độ người khác nên bảo là ‘thần thông tự tại ba la mật đa’.

Câu ‘trong khoảng một niệm... vượt qua ức na do tha trăm ngàn cõi Phật’ diễn tả thần túc thông, còn gọi là thần túc trí thông, thần cảnh trí thông, thân như ý thông, thân thông. ‘Na do tha’ là ức (một vạn vạn) (thời cổ, Trung Hoa hiểu chữ Ức theo ba cách khác nhau: mười vạn, trăm vạn, ngàn vạn. Vì vậy, các vị cổ đức cũng phán định con số này không đồng nhất).

Sách Hội Sớ giảng chữ ‘thần túc’ (cũng gọi là như ý túc) như sau:

‘Thần túc có ba loại:

a. Vận thân hành: bay trên không giống như chim bay.

b. Thắng giải thông: với chỗ xa xôi nhất, chỉ tác ý tư duy liền tới ngay đó.

c. Ý thế thông: với chỗ xa xôi nhất, tâm vừa nghĩ đến, thân đã ở đấy’.

Sách Đại Luận lại bảo: ‘Như ý thông có ba thứ: Năng đáo, chuyển biến, thánh như ý. Năng đáo có bốn thứ:

a. Một là thân bay được đến đó như chim không trở ngại.

b. Biến xa thành gần, chẳng qua đó mà đến được nơi ấy.

c. Biến mất chỗ này hiện ra chỗ kia.

d. Trong một niệm đến ngay nơi đó.

Chuyển biến là biến nhỏ thành lớn, biến lớn thành nhỏ, biến một thành nhiều, nhiều biến thành một. Với các vật đều chuyển biến được. Ngoại đạo biến hóa không lâu được hơn bảy ngày. Chư Phật và đệ tử chuyển biến tự tại, chẳng có gần, xa.

Thánh như ý là ngay trong lục trần, có thể quán vật bất tịnh chẳng đáng ưa là tịnh, quán vật khả ái thanh tịnh thành vật bất tịnh. Chỉ mình đức Phật đắc pháp như ý trí này’.

Câu ‘trong khoảng một niệm’ ý nói thời gian rất ngắn. Bao lâu là một niệm? Có nhiều thuyết khác nhau, xin coi lời giải thích trong phần trước. Theo sách Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập thì một sát na là một niệm cũng như theo Đại Luận: ‘Trong khoảng khảy ngón tay có sáu mươi sát na’, ta thấy rằng một niệm lâu bằng một phần sáu mươi thời gian khảy ngón tay. Như vậy, một niệm cực ngắn ngủi.

Trong khoảng một sát na cực ngắn như thế đã có thể ‘vượt qua ức na do tha trăm ngàn cõi Phật đi khắp tất cả’ thì hiển nhiên, thần thông diệu dụng của người cõi Cực Lạc chẳng thể nghĩ bàn.

‘Na do tha’ là một con số, từ xưa đã có nhiều thuyết. Nhỏ nhất là như sách Huyền Ứng Âm Nghĩa bảo: ‘Na do tha là mười vạn của Trung Quốc’. Lớn hơn là: ‘Đời Tùy, na do tha là ngàn vạn’ (các thuyết khác chẳng dẫn ra). Như vậy, khó lòng xác định na do tha lớn bao nhiêu, nhưng ta có thể đoan chắc ‘na do tha trăm ngàn’ là một con số rất lớn đến nỗi khó tính biết nổi.

Trong một sát na vượt qua được những cõi Phật nhiều đến như vậy là ngụ ý: đến được những cõi rất xa.

Câu ‘đi khắp tất cả’ ngụ ý: con số cõi nước họ đến cực lớn. Câu ‘cúng dường chư Phật’ ngụ ý: tuy phát khởi lên rất nhiều sự, nhưng chỉ trong khoảng một niệm đều viên mãn thành tựu được hết tất cả những sự việc ấy. Rõ ràng cõi nước Cực Lạc sự sự vô ngại, một tức là nhiều, nhiều tức là một, kéo dài, rút ngắn đồng thời, hạt cải dung nhập núi Tu Di, mười phương chẳng rời khỏi nơi mình đang trụ. Trong một niệm cúng trọn tất cả, ba đời nào khác một niệm, đương hạ tức thị (6), thâu tóm trọn vẹn không sót. Vì vậy, ta thường nói: Hoa Tạng nào khác Cực Lạc, Tịnh Độ chứa trọn sự huyền diệu.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, tất cả chúng sanh sanh trong nước tôi xa rời phân biệt, các căn tịch tĩnh. Nếu họ chẳng quyết định thành Đẳng Chánh Giác, chứng Đại Niết Bàn thì chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện mười hai: quyết định thành Chánh Giác)

 Giải: Đây là nguyện thứ mười hai: ‘Chắc chắn thành Chánh Giác’.

Vãng sanhquyết định thành Phật; điều này thể hiện thật rõ tâm nguyện Phật Di Đà: chỉ dùng một Phật thừa để đưa trọn vô biên chúng sanh vào Niết Bàn rốt ráo.

Câu ‘xa rời phân biệt, các căn tịch tĩnh’ trích từ bản Tống dịch. Câu ‘nếu chẳng quyết định thành Đẳng Chánh Giác, chứng đại Niết Bàn thì chẳng lấy Chánh Giác’ trích từ bản Đường dịch. Bản Ngụy dịch ghi là: ‘Chẳng trụ định tụ, đều diệt độ thì chẳng lấy Chánh Giác’.

Khi đại sư Thiện Đạo chú giải bản Ngụy dịch, lắm chỗ ngài dẫn bản Đường dịch để làm rõ thêm ý nghĩa. Đại sư đặt cho nguyện này bốn cái tên: một là nguyện ‘ắt đạt diệt độ’, hai là nguyện ‘chứng đại Niết Bàn’, ba là nguyện ‘vô thượng Niết Bàn’, bốn là nguyện ‘trụ tướng chứng quả’.

Sách Bình Giải ca tụng: ‘Cao tổ (chỉ ngài Thiện Đạo) đặt tên các nguyện đã hiển lộ tột cùng ý nghĩa lời nguyện vậy’. Nay hội bản không những đã trích lấy câu kinh từ bản Đường dịch, lại còn đặt tên nguyện này là nguyện ‘quyết thành Chánh Giác’ thì thật là rất phù hợp ý chỉ đại sư Thiện Đạo vậy.

Trong bốn mươi tám nguyện, đại sư Thiện Đạo gọi năm nguyện: ‘Quyết thành Chánh Giác’, ‘quang minh vô lượng’, ‘thọ mạng vô lượng’, ‘chư Phật khen ngợi’ ‘mười niệm ắt được vãng sanh’ là chơn thật nguyện. Ngài coi chúng là tâm yếu của cả bốn mươi tám nguyện. Như vậy, nguyện này là tâm tủy của Di Đà hoằng thệ.

Bổn hoài của đức Phật chỉ là cốt sao khiến hết thảy chúng sanh quyết định thành Phật. Để thực hiện lời nguyện này, ngài lại có đại nguyện thù thắng ‘mười niệm ắt vãng sanh’, chúng sanh chỉ việc nương theo đấy mà tu. Thật là giản dị bậc nhất, là đường tắt cực viên cực đốn. Niệm Phật được vãng sanh xong thì sẽ quyết định thành Phật.

Chữ ‘phân biệt’ dùng trong lời nguyện nghĩa là: suy nghĩ, hiểu biết được sự và lý thì gọi là “phân biệt”. Do lấy phân biệt hư vọng làm thể tánh nên với pháp vô phân biệt lại sanh lòng phân biệt là ngã hay là pháp. Bởi vậy, phân biệt hư vọng gọi là ‘phân biệt hoặc’. Đoạn được cái ‘phân biệt hoặc’ ấy thì gọi là Vô Phân Biệt Trí. Sách Duy Thức Thuật Ký, quyển 7 giảng: ‘Phân biệt là tâm tam giới hữu lậu, là tâm sở pháp (7), nó lấy phân biệt hư vọng làm tự thể’. Chữ ‘xa lìa phân biệt’ trong lời nguyện có nghĩa là: rời bỏ, đoạn trừ phân biệt vọng hoặc, hiểu rõ ‘Chơn Như chính là vạn pháp, vạn pháp chính là Chơn Như’.

‘Tịch tĩnh’: lìa phiền não là Tịch, dứt khổ sở là Tĩnh; tức là lý Niết Bàn. Sách Tư Trì Ký giảng: ‘Tịch tĩnh là Niết Bàn lý’. Quyển thượng sách Vãng Sanh Tập Yếu cũng bảo: ‘Hết thảy các pháp vốn tịch tĩnh, chẳng có, chẳng không’.

‘Các căn’ là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu căn này đồng quy về tịch tĩnh như kinh Hoa Nghiêm dạy: ‘Quán pháp tịch tĩnh, lìa các si ám’, chẳng sanh phân biệt, tự nhiên xa lìa si ám nên các căn tịch tĩnh.

Giảng rộng hơn chút nữa, đức Thế Tôn hiệu là Thích Ca Mâu Ni, Mâu Ni nghĩa là tịch mặc hay tịch tĩnh. Sách Nhân Vương Kinh Hiệp Sớ, quyển thượng giảng: ‘Mâu Ni là tên, Tàu dịch thành Tịch Mặc do tam nghiệp đều tịch mặc’. Sách Lý Thú Thích bảo: ‘Mâu Ni nghĩa là Tịch Tĩnh. Thân, khẩu, ý tịch tĩnh nên gọi là Mâu Ni’. Thân, khẩu, ý tịch tĩnh chính là ý nghĩa câu ‘các căn tịch tĩnh’ trong kinh này. Tịch tĩnh lại chính là lý thể của Niết Bàn! Do xa lìa phân biệt vọng hoặc, các căn tịch tĩnh nên khế nhập lý Niết Bàn.

Bởi vậy, kinh dạy tiếp: ‘Quyết định thành Đẳng Chánh Giác, chứng đại Niết Bàn’. ‘Đẳng Chánh Giác’‘Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác’ nói tắt. ‘Đại Niết Bàn’ cũng là tên khác của Phật quả, dịch nghĩa là Nhập Diệt, nói đầy đủ là ‘bát Niết Bàn’. ‘Bát’ có nghĩa là Viên, Tàu dịch Niết Bàn là Tịch. Do vậy, ‘bát Niết Bàn’ dịch là ‘viên tịch’. Nghĩa lý đầy ắp cả thế giới, đức lại nhiều như trần sa nên gọi là ‘viên’. Thể tột cùng chơn tánh (bổn thể cùng tột Chơn Như pháp tánh), diệu tuyệt tướng lụy (đoạn tuyệt được các vướng mắc vào hình tướng một cách vi diệu) là ‘tịch’. Trong Tâm Kinh Lược Sớ, tổ Hiền Thủ giảng: ‘Niết Bàn, Tàu dịch là Viên Tịch, nghĩa là: không đức gì chẳng đủ nên bảo là Viên, không chướng gì chẳng hết nên gọi là Tịch’.

Đại Niết BànNiết Bàn của Đại thừa, gọi là Đại để phân biệt với Niết Bàn của Tiểu Thừa. Niết Bàn của Đại thừa có đủ ba đức: Pháp Thân, Bát Nhãgiải thoát, đủ bốn nghĩa: thường, lạc, ngã, tịnh, lìa khỏi hai thứ sanh tử phần đoạn và biến dịch, đầy đủ vô biên thân trí. Đó là Đại Thừa Niết Bàn.

Trong ba đức, Niết Bàn của Nhị Thừa chỉ có giải thoát; trong bốn nghĩa chỉ có thường, lạc, tịnh, chỉ lìa phần đoạn, vẫn còn biến dịch sanh tử. Niết Bàn của Tiểu thừa chỉ chú trọng nát thân diệt trí.

 

Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, quang minh vô lượng chiếu khắp mười phương vượt xa chư Phật, hơn hẳn quang minh của nhật, nguyệt ngàn vạn ức lần. Nếu có chúng sanh thấy quang minh của tôi chiếu chạm vào thân, không ai là chẳng an vui, từ tâm làm lành, sanh về cõi tôi. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện mười ba: quang minh vô lượng; nguyện mười bốn: quang minh soi đến được an vui)

 Giải: Chương này gồm hai nguyện: từ câu ‘ngàn vạn ức lần’ trở lên là nguyện thứ mười ba: ‘Quang minh vô lượng’; từ chữ ‘nếu có chúng sanh’ trở đi là nguyện thứ mười bốn: ‘Quang minh soi đến được an lạc’.

Ngài Tịnh Ảnh bảo nguyện thứ mười ba này và nguyện thứ mười lăm ‘thọ mạng vô lượng’ là những nguyện ‘nhiếp Pháp Thân’ vì các nguyện này nhằm để thành tựu Pháp Thân.

Sách Bình Giải cho rằng hai nguyện ấy thể hiện cái đức của chơn báo thân, còn cho rằng cả hai nguyện ‘quang minh và thọ mạng vô lượng’ ‘cái gốc đại bi của phương tiện Pháp Thân’.

Thọ vô lượng là theo chiều dọc cùng tột cả ba đời, do Phật thân thường trụ nên chúng sanh có chỗ để nương dựa. Quang minh vô lượng là theo chiều ngang khắp cả mười phương, đức dụng trọn khắp, nhiếp hóa vô tận. Vì vậy, quang minhthọ lượng là cái gốc của phương tiện đại bi, là thật đức của báo thân. Như vậy, Phật Di Đà thệ nguyện quang minhthọ mạng vô lượng thật ra chỉ là để khiến cho hết thảy chúng sanh đều có quang minhthọ mạng vô lượng.

Sách Vãng Sanh Luận lại bảo: ‘Ba thứ trang nghiêm vào trong một pháp cú. Một pháp cú chính là thanh tịnh cú, tức là chơn thật trí huệ vô vi Pháp Thân’. Ba thứ trang nghiêm chính là các thứ y báo, chánh báo trang nghiêm thù thắng đã được 48 nguyện đề cập đến. ‘Nhập một pháp cú’hoàn toàn quy về chơn thật trí huệ vô vi Pháp Thân. Do vậy, sách Bình Giải bảo: ‘Nếu xét về sở chứng của Phật thì bốn mươi tám nguyện đều quy về quang thọ Pháp Thân’, nghĩa là: Y báo, chánh báo của cõi Cực Lạc chỉ từ Pháp Thân Phật Di Đà hiện ra cho nên bốn mươi tám nguyện hiển bày trọn vẹn Pháp Thân.

Về mặt độ sanh, sách Bình Giải lại bảo: ‘Xét về mặt độ sanh thì nguyện nào cũng là vì chúng sanh nên nói: bốn mươi tám nguyện nhiếp thọ chúng sanh’. Lại bảo: ‘Mỗi một thệ nguyện đều vì chúng sanh vậy’. Bốn mươi tám nguyện như vậy dung chứa lẫn nhau chẳng thể nghĩ bàn.

Ý nghĩa của lời nguyện trên như sau: lúc Pháp Tạng tôi thành Phật, nguyện cho quang minh của tôi vô lượng vô biên, ‘chiếu khắp mười phương’ hết thảy các cõi nước dù uế hay tịnh.

Ngài Vọng Tây giảng: ‘Theo chiều ngang, do mười phương hư không vô biên nên quốc độ cũng vô biên. Do quốc độ vô biên nên chúng sanh cũng vô biên. Chúng sanh vô biên nên đại bi cũng vô biên. Đại bi vô biên nên quang minh cũng vô biên, quang minh vô biên nên nhiếp thủ, tạo lợi ích cũng vô biên. Nói tóm lại, vì muốn làm lợi ích vô biên nên quang minh vô biên’. Theo ý ngài Vọng Tây, ta có thể hiểu đoạn kinh này như sau: do muốn làm lợi ích vô biên nên quang minh vô biên, đầy đủ các đức vô cùng tận vậy.

‘Vượt xa chư Phật, hơn hẳn quang minh của nhật nguyệt ngàn vạn ức lần’: Phẩm Quang Minh Biến Chiếu trong kinh này có chép: ‘Quang minh của chư Phật chiếu xa hay gần là do đời trước khi cầu đạo nguyện được công đức lớn hay nhỏ sai khác. Lúc thành Phật, mỗi vị tự cảm được [quang minh] để biến hiện tự tại, chẳng biết trước nổi. A Di Đà Phật quang minh thiện hảo, trỗi hơn quang minh của mặt trời, mặt trăng ngàn vạn ức lần’. Như vậy, Phật A Di Đà quang minh vượt xa chư Phật là do nguyện lực đời trước siêu tuyệt nên ngày nay tự nhiên được như vậy. Vì thế, trong kinh còn dạy: ‘A Di Đà Phật oai thần quang minh cao quý bậc nhất, mười phương Như Lai chẳng bằng được nổi’.

Kinh Đại Pháp Cự Đà Ra Ni nói chư Phật có hai thứ quang minh: thường quangphóng quang. Thường quang thì viên minh vô ngại, không lúc nào chẳng chiếu. Phóng quang là dùng ánh sáng để cảnh tỉnh người khác, tùy lúc mà chiếu: hoặc tỏa ra hoặc thâu vào tùy nghi tự tại. Quang minh nói trong lời nguyện đây là thường quang. Kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ dạy: ‘Đức Như Lai ấy luôn phóng ra vô lượng vô biên quang minh mầu nhiệm, chiếu khắp hết thảy mười phương cõi Phật thực hiện Phật sự’. Đây là chứng cớ để nói quang minh được đề cập trong nguyện này là thường quang.

Nguyện thứ mười bốn thuật rõ quang minh của Phật đầy đủ diệu đức lợi ích chúng sanh. ‘Thấy quang minh của tôi chiếu chạm đến thân’: hễ ai thấy được quang minh của Phật và được quang minh của Phật chiếu vào thân thì ‘không ai chẳng được an vui, từ tâm làm lành, sanh về cõi tôi’. Phẩm Quang Minh Biến Chiếu trong kinh này có chép: ‘Gặp được ánh sáng này, cấu diệt, thiện sanh, thân ý nhu nhuyễn. Nếu đang ở trong chốn tam đồ cực khổ mà được thấy quang minh này thì [mọi sự khổ] đều được ngưng nghỉ, chết đi đều được giải thoát’. Đấy chính là ý nghĩa của câu ‘không ai chẳng an vui, từ tâm làm lành’.

Sách Lễ Tán cũng viết: ‘Di Đà Thế Tôn vốn phát thệ nguyện sâu nặng, dùng quang minh, danh hiệu nhiếp hóa mười phương’. Lại như Quán kinh nói: ‘Quang minh chiếu khắp chúng sanh niệm Phật trong mười phương thế giới, nhiếp thủ chẳng bỏ’. Nói ‘quang minh nhiếp thủ’ chính là nói về nguyện này. Gặp được ánh sáng ấy đều được vãng sanh nên bảo: ‘Sanh về cõi tôi’. Câu này hiển thị quang minhlợi ích chẳng thể nghĩ bàn.

Do những điều trên, ta thấy rằng tuy quang minh là đức tướng nơi thân Phật, nhưng quang minh ấy thật ra là để lợi lạc chúng sanh. Vì vậy, người xưa bảo: ‘Bốn mươi tám nguyện đều hiển thị Pháp Thân’, lại còn bảo: ‘Mỗi một thệ nguyện đều vì chúng sanh’.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, thọ mạng vô lượng. Trong nước tôi, Thanh Văn, trời, người vô số, thọ mạng cũng đều vô lượng. Giả sử chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới đều thành Duyên Giác, trong trăm ngàn kiếp cùng nhau tính toán mà biết nổi số lượng ấy thì chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện mười lăm: thọ mạng vô lượng; nguyện mười sáu: Thanh Văn vô số)

 Giải: Chương này gồm nguyện thứ mười lăm ‘thọ mạng vô lượng’ và nguyện mười sáu ‘Thanh Văn vô số’.

Trong nguyện thọ mạng vô lượng, không những thọ mạng của Phật vô lượngvô số Thanh Văn, trời, người trong cõi ấy thọ mạng cũng đều vô lượng. Trong bản Ngụy dịch, nguyện này được tách ra làm hai, đủ thấy bốn mươi tám nguyện trong hội bản đây gói trọn bốn mươi tám nguyện đức của Phật Di Đà, chi tiết hơn bất cứ bản cổ dịch nào.

Trong nguyện thứ mười lăm ‘thọ mạng vô lượng’, trước tiên kinh bảo vị giáo chủ cõi ấy thọ mạng vô lượng. Kinh Pháp Hoa nói về thọ mạng của Sơn Hải Huệ Như Lai như sau: ‘Thọ mạng chẳng hạn lượng vì thương xót chúng sanh’. Ấy là vì nếu đức Phật chỉ trụ thế trong một thời gian ngắn thì sự giáo hóa cũng ngắn ngủi, chúng sanh khó gặp gỡ được. Giáo chủ ở lâu nơi đời thì hóa duyên vô cùng, lợi lạc chúng sanh vô tận. Vì vậy, ngài Trừng Hiến khen ngợi: ‘Phật thọ vô lượng là hạnh đức giáo hóa đến tột bậc, ai lại chẳng khâm ngưỡng lời nguyện ấy hay sao!’

Hơn nữa, Di Đàbáo thân Phật, Cực Lạcbáo độ (cõi của báo thân Phật ngự), giáo chủ thọ mạng vô lượng thì thật sự là vô lượng, chứ chẳng phải là vô lượng của hữu lượng (cụm từ ‘vô lượng của hữu lượng’ chỉ con số vô lượng rất lớn được nói trong kinh Hoa Nghiêm, dẫu rất lớn nhưng vẫn tính đếm được nên gọi là vô lượng của hữu lượng). Nói theo ngôn ngữ hiện đại, thọ mạng vô lượngvô lượng tuyệt đối chứ chẳng phải vô lượng một cách tương đối.

Tiếp đó, kinh văn bảo thọ mạng của nhân dân trong cõi ấy cũng vô lượng. Ngài Trừng Hiến khen: ‘Nhân dân thọ mạng vô lượng là đức tánh bậc nhất của Tịnh Độ’, rồi giải thích như sau: ‘Tu hành Phật đạo chỉ e sợ tử ma vì sự gián đoạn giữa sống và chết chính là căn nguyên tạo duyên thối thất. Gặp Phật, nghe pháp, gặp gỡ thánh chúng, cúng dường chư Phật, thân cận bạn lành, khoái lạc tự nhiên, chẳng có các khổ... Nếu thọ mạng ngắn ngủi, di hận khó tính nổi, khác nào chén ngọc không đáy. Lời nguyện này thật là tối quan trọng’ (Chén ngọc thật là của quý, nhưng thủng đáy thì chẳng ra cái gì). Ngài Vọng Tây cũng bảo: ‘Căn bản của các sự vui [nơi cõi Cực Lạc] chỉ thuộc nơi nguyện này’. Lại như Tịnh Độ Quần Nghi Luận bảo: ‘Nhân dân cõi ấy thọ cực dài lâu, dẫu cho là phàm phu vẫn còn thuộc biến dịch sanh tử (ý nói họ đã đoạn hết phần đoạn sanh tử, chỉ còn biến dịch sanh tử) nhưng cũng rốt ráo thành Phật’. Đó là vì khi đã sanh về Cực Lạc, gặp Phật nghe pháp, trong hết thảy thời, hết thảy chỗ đều tăng thượng, chẳng có duyên thối chuyển, thọ mạng lại vô lượng nên chẳng luận là căn khí nào đi nữa, hễ sanh về cõi ấy sẽ quyết định thành Phật. Điều này được xưng tụng là đức tánh bậc nhất của Tịnh Độ kể cũng chẳng ngoa.

Nguyện thứ mười sáu là Thanh Văn vô số. Kinh chép: ‘Thanh Văn, trời người trong nước vô số’, ngài Trừng Hiến bảo: ‘A Di Đà Phật có đệ tử vô lượng, đó là một trong ba thứ vô lượng’. Ba vô lượngquang minh vô lượng, thọ mạng vô lượngquyến thuộc vô lượng. Lời nguyện chỉ nói đến Thanh Văn nhưng ngụ ý kể cả Duyên Giác.

Nếu có kẻ ngờ vực: kinh Bi Hoa dạy: ‘Chẳng có Thanh VănBích Chi Phật thừa. Tất cả đại chúng thuần là Bồ Tát vô lượng vô biên’, sao kinh này lại bảo ‘Thanh Văn vô số’? Hai câu kinh này dường như mâu thuẫn nhau, nhưng nghĩa lý thật sự chẳng trái nghịch nhau. Với ba bậc vãng sanh, kinh này đều bảo ‘phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm’. Ba bậc vãng sanh đều đã phát Bồ Đề tâm thì hạnh của họ phải thuộc Bồ Tát thừa nên kinh Bi Hoa bảo ‘thuần là Bồ Tát’. Trong cõi ấy, gọi là Thanh Văn, Duyên Giác là chỉ căn cứ trên mức độ đoạn được hoặc chướng mà nói: Tuy đã đoạn được kiến hoặc, tư hoặc, nhưng chưa phá nổi trần sa hoặcvô minh hoặc thì gọi là Thanh Văn, chứ nào phải đâu là hạng Nhị Thừa chỉ cầu tự độ. Nếu chỉ cầu tự độ, chẳng nguyện độ người khác, làm sao phát nổi Bồ Đề tâm? Chẳng phát Bồ Đề tâm, chẳng được vãng sanh!

Xét ra, bản Tống dịch nói rõ ý nghĩa này nhất. Bản Tống dịch ghi: ‘Tôi đắc Bồ Đề thành Chánh Giác rồi, khiến cho tất cả chúng sanh sanh trong nước tôi tuy trụ địa vị Thanh Văn, Duyên Giác nhưng đi đến trăm ngàn câu chi na do tha bảo sát làm đủ các Phật sự để khiến cho [chúng sanh trong các cõi ấy] đều đắc a nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề’. Xét ra, Thanh Văn chẳng nghe đến danh hiệu Phật phương khác, chỉ cầu Tiểu Thừa Niết Bàn, chẳng cầu Phật quả, thế nhưng nhân dân cõi Cực Lạc tuy gọi là ‘Thanh Văn’ mà lại qua được đến vô số cõi Phật xa xôi, làm vô lượng Phật sự, độ cho vô biên chúng sanh đều thành Phật thì đấy chính là hành vi của bậc Bồ Tát, há dám bảo họ đều là Thanh Văn thật sự hay không? Những người được gọi là ‘Thanh Văn’ ấy đều đã phát đại tâm Bồ Tát, hành đại hạnh Bồ Tát, hướng đến đại quả vô thượng, họ thật đúng như kinh Bi Hoa bảo: ‘Thuần là Bồ Tát’ vậy.

Tiếp theo đó, kinh lại dạy: ‘Giả sử chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới đều thành Duyên Giác, trong trăm ngàn kiếp chung nhau tính toán. Nếu họ biết được số lượng ấy thì chẳng lấy Chánh Giác’. Câu kinh này nêu tổng quát các ý nghĩa sau: Phật thọ vô lượng, nhân dân thọ mạng vô lượng, đệ tử trong nước vô lượng.

‘Tam thiên đại thiên thế giới’cảnh giới hóa độ của một đức Phật. Lấy núi Tu Di làm trung tâm, gộp cả bốn đại châu, mặt trời, mặt trăng, chư thiên, ta có một thế giới. Gộp một ngàn thế giới như vậy lại, ta được một tiểu thiên thế giới. Gom một ngàn tiểu thiên thế giới lại, ta được một trung thiên thế giới. Gom một ngàn trung thiên thế giới lại ta được một đại thiên thế giới. Do trước hết lấy một ngàn thế giới tạo thành một tiểu thiên, lại đem nhân tiểu thiên lên một ngàn lần thì được trung thiên, cuối cùng đem trung thiên nhân lên một ngàn lần thì được đại thiên; ba lượt nhân lên như thế nên đại thiên thế giới được gọi là ‘tam thiên đại thiên thế giới’. Thật sự chỉ là một đại thiên thế giới, chứ không phải là ba ngàn cõi đại thiên thế giới. Một tam thiên đại thiên thế giới có một ngàn ức thế giới.

Hiện thời, các nhà thiên văn mới tạm thời phát hiện được trong vũ trụvô lượng thế giới. Hiện tại, ai cũng biết là mặt trời và chín đại hành tinh hợp thành một thái dương hệ. Địa cầu chỉ là một ngôi sao xoay quanh mặt trời trong thái dương hệ. Mặt trời chẳng những tự xoay mà nó còn đi vòng quanh trung tâm của một ngân hà tinh vân (hiện thời, khoa học tạm gọi đó là một hắc đỗng (black hole)) mất một thời gian ước chừng hai vạn năm. Mặt trời chỉ là một hằng tinh trong dải tinh vân mang tên Ngân Hà. Dải Ngân Hà có chừng một ngàn ức hằng tinh. Trong vũ trụvô lượng tinh vân. Bản thân tinh vân cũng đang xoay vần, Ngân Hà cũng chỉ là một thiên thể lớn trong vũ trụ. Cứ tính rộng dần dần như thế chẳng biết đâu là cùng tận. Điều phát hiện mang tính cách sơ khởi của Thiên Văn học quả đã chứng thực điều kinh dạy: ‘Thế giới vô lượng’. Tam thiên đại thiên thế giới chỉ là cảnh hóa độ của một đức Phật, mà Phật vô lượng nên thế giới cũng vô lượng.

Đại ý của lời nguyện là: giả sử hết thảy chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới đều thành Duyên Giác rồi dùng sức thần thông hợp lại tính toán cũng chẳng biết nổi thọ lượng của Phật Di Đà, thọ lượng của nhân dân cõi ấy và số lượng của người trong nước ấy.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, vô số chư Phật trong vô lượng cõi nước trong mười phương thế giới nếu chẳng cùng khen ngợi danh hiệu của tôi, thuật sự tốt lành của cõi nước và công đức của tôi thì chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện mười bảy: Chư Phật khen ngợi)

 Giải: Đây là nguyện thứ mười bảy: ‘Chư Phật xưng thán’. Xưng là xưng dương, thán là tán thán. Bản Hán dịch ghi: ‘Lúc tôi thành Phật, tiếng tăm của tôi vang khắp tám phương, trên, dưới. Trong vô số cõi nước, các đức Phật vị nào cũng ngự giữa chúng đệ tử khen ngợi công đức và sự tốt lành của cõi nước tôi. Chư thiên, nhân dân, các loài ngọ nguậy, bò trườn nghe được danh hiệu tôi thảy đều hớn hở sanh về cõi tôi’. Bản Ngô dịch ghi tương tự.

Ngài Vọng Tây bảo: ‘Trong bốn mươi tám nguyện, nguyện này rất thiết yếu’‘nếu không có nguyện này, làm sao mười phương [nghe được danh hiệu ngài]. Nay chúng ta được gặp gỡ giáo pháp vãng sanh hoàn toàn là nhờ vào nguyện này, khá nên suy nghĩ kỹ’. Ý của ngài Vọng Tây là nếu không có nguyện này thì bọn chúng ta thân đang trong cõi Sa Bà uế độ, làm sao nghe được danh hiệu của vị giáo chủ và cõi nước ấy? Dẫu cho cõi ấy, Phật ấy công đức thắng diệu, thanh tịnh trang nghiêm nhưng nếu ta chưa từng được nghe biết thì biết còn nhờ vào đâu để phát khởi nguyện thù thắng cầu vãng sanh cõi ấy? Vì vậy, ngày nay bọn chúng ta nghe được pháp môn Tịnh Độ thật là nhờ sức của thệ nguyện này. Do đó, trong cõi uế độ này, đức Bổn Sư Thích Ca mới xưng dương, tán thán A Di Đà Phậtcông đức chẳng thể nghĩ bàn của cõi ngài cho chúng ta được nghe biết. Bởi thế, ngài Vọng Tây khen rằng: ‘Trong bốn mươi tám nguyện, nguyện này tối quan trọng’.

Ngài Pháp Tạng cầu nguyện danh hiệu mình vang dội thập phương chỉ là để nhiếp trọn mười phương hết thảy chúng sanh vãng sanh Cực Lạc, rốt ráo thành Phật. Nếu khônglời nguyện này thì cái nguyện ‘mười niệm vãng sanh’ cũng chỉ vô ích bởi có nghe được pháp thì mới biết cách trì danh chứ!

Sách Hội Sớ lại giảng câu ‘xưng thán danh hiệu tôi’ như sau: ‘Câu ‘Xưng thán danh hiệu tôi’ có ba nghĩa:

a. Chư Phật xưng dương đức hiệu của đức Phật ấy.

b. Chư Phật khen ngợi người xưng danh như Tiểu Kinh (kinh A Di Đà) thật đã nói rõ chư Phật hộ niệm người xưng danh

c. Chư Phật vừa khen ngợi lại vừa tự mình xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà’.

Sách còn nói thêm: ‘Tam thế chư Phật do niệm Di Đà tam muội mà thành Đẳng Chánh Giác’.

Ý sách Hội Sớ là: câu ‘chư Phật xưng thán’ có ba nghĩa: Chư Phật khen ngợi thánh hiệu của Phật A Di Đà, chư Phật khen ngợi hết thảy người trì niệm danh hiệu A Di Đàbản thân chư Phật cũng xưng niệm thánh hiệu A Di Đà. Chư Phật nhờ niệm Phật tam muội mà trọn thành Chánh Giác.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, mười phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi chí tâm tin ưa, tất cả thiện căn tâm tâm hồi hướng nguyện sanh cõi tôi, dẫu chỉ mười niệm nếu chẳng được sanh thì chẳng lấy Chánh Giác. Chỉ trừ kẻ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp.

(nguyện mười tám: mười niệm ắt vãng sanh)

 Giải: Đoạn kinh này nói về nguyện thứ mười tám: ‘Mười niệm ắt vãng sanh’. Các vị cổ đức thuộc Tịnh tông Nhật Bản phán định rằng: trong các kinh, mình kinh Hoa Nghiêm là chơn thật. Nhưng nếu đem Hoa Nghiêm so với kinh này thì kinh này mới là chơn. Đem các nguyện khác so sánh với nguyện này thì nguyện này chơn thật nhất, nghĩa là: nguyện này chơn thật nhất trong các nguyện chơn thật.

‘Chí tâm’tâm chí thành, tâm chí cực. Sách Kim Quang Minh Văn Cú nói: ‘Chí tâm là tột cùng nguồn tâm, tận cùng Thật Tế của tâm nên bảo là chí tâm’. ‘Nguồn tâm’ là nguồn gốc của bổn tâm. ‘Thật tế’ là Chơn Thật Tế nói trong kinh này. ‘Tin ưa’ là tin thuận pháp đã được nghe, do ưa thích nên sanh lòng tin hoan hỷ. ‘Chí’ còn có nghĩa là chơn thành, thành thật. ‘Tâm’trân trọng, thành thật. ‘Tín’ là chơn thật, thành thật, viên mãn, trung tín. ‘Ưa’ham thích, mong muốn, yêu mến, sung sướng, vui vẻ, mừng rỡ. Như vậy, ‘tín tâm’ là tấm lòng chơn thật, thành thực, trọn vẹn, tấm lòng mong mỏi yêu thích, tấm lòng hoan hỷ, mừng rỡ. Dùng cái tâm như thế để tin yêu, ham thích nên bảo là ‘chí tâm tin ưa’.

‘Thiện căn’ là sự lành nơi ba nghiệp: thân, khẩu, ý kiên cố chẳng thể nhổ trốc gốc được. Do thiện lại có thể sanh ra diệu quả và các điều lành khác nên gọi là thiện căn. ‘Tâm tâm’ là tấm lòng thuần nhất, tấm lòng tịnh niệm liên tục.

Trong chữ Hồi Hướng thì ‘hồi’ là xoay chuyển, ‘hướng’ là hướng đến; hồi chuyển công đức mình đã tu để hướng đến điều mình mong mỏi thì gọi là ‘hồi hướng’. Sách Hoa Nghiêm Đại Sớ Sao, quyển 23 có ghi: ‘Hồi là chuyển, hướng là hướng đến. Chuyển vạn hạnh của chính mình để hướng đến ba chỗ nên gọi là hồi hướng... Ba chỗ là chúng sanh, Bồ Đề và Thật Tế’. Vãng Sanh Luận Chú, quyển hạ cũng bảo: ‘Hồi hướng là đem công đức của chính mình thí cho khắp các chúng sanh cùng được thấy A Di Đà Như Lai, sanh cõi An Lạc’. Đây chính là ý nghĩa của hai chữ ‘hồi hướng’ trong lời nguyện.

‘Nguyện sanh cõi ta’ chính là lời hồi hướng: nguyện hết thảy chúng sanh vãng sanh cõi nước Cực Lạc. ‘Mười niệm’ là như kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy: ‘Đầy đủ mười niệm xưng Nam Mô A Di Đà Phật’. Sách Tiên Chú giảng: ‘Mười lần xưng danh’. Ngài Vọng Tây bảo: ‘Trong khoảng mười niệm, chuyên xưng danh hiệu Phật thì là mười niệm. Chữ “niệm” ở đây là xưng Nam Mô A Di Đà Phật. Đọc hết sáu chữ ấy là một niệm’.

Ý nghĩa câu này được các kinh, luận giảng như nhau. ‘Dẫu chỉ mười niệm’ ý nói: dẫu chỉ xưng niệm danh hiệu mười niệm cũng được vãng sanh. Đây là nói về mức độ thấp nhất nên bảo là ‘dẫu chỉ’, nếu có thể niệm nhiều hơn thì càng niệm được càng nhiều càng tốt.

Nếu có kẻ cật vấn: trong kinh chỉ nói ‘mười niệm’, sao lại chỉ khuyên xưng niệm danh hiệu Phật chứ chẳng thực hành những cách niệm Phật khác? Đáp: Chữ ‘niệm’ trong ‘mười niệm’ chỉ cho cách niệm danh hiệu Phật bằng miệng. Điều này thật có chứng cớ, bản Tống dịch ghi: ‘Tất cả chúng sanh cầu sanh trong cõi ta, niệm danh hiệu ta, phát tâm chí thành, kiên cố chẳng thối. Người ấy lúc mạng chung, ta sai vô số bí sô (tỳ kheo) hiện ra trước mặt, cùng quây quần đến đón người ấy. Trong khoảnh khắc được sanh về cõi ta’. Chữ ‘niệm danh hiệu ta’ trong đoạn kinh trên chỉ có thể hiểu là niệm hồng danh của Phật mà thôi. Kinh Bát Châu cũng nói: ‘Lúc bấy giờ, A Di Đà Phật bảo Bồ Tát ấy rằng: Muốn sanh về cõi ta nên thường niệm danh ta chẳng ngớt. [Làm] như vậy thì được sanh về cõi ta’. Trong phần hạ phẩm hạ sanh, Quán kinh cũng nói nếu có chúng sanh tạo nghiệp chẳng lành: ngũ nghịch, thập ác, làm đủ các việc chẳng lành. Lúc mạng sắp chết, gặp thiện tri thức giảng cho diệu pháp, dạy cho niệm Phật (quán tưởng niệm Phật). Nếu chẳng niệm nổi thì nên xưng danh hiệu Phật: ‘Chí tâm như vậy chẳng để dứt tiếng, đầy đủ mười niệm xưng Nam Mô A Di Đà Phật. Do xưng Phật danh nên trong mỗi niệm trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử’. Sau khi mạng chung liền được vãng sanh. Do những đoạn kinh trên, ta thấy rõ ‘mười niệm’ được nói trong kinh này chính là Trì Danh Niệm Phật!

Với lời nguyện này, các vị cổ đức chú giải kinh cũng hiểu khác nhau. Có vị bảo: ‘Nguyện này thuộc về thượng phẩm, nói nguyện này tiếp độ hạ phẩm là sai’. Lại có vị bảo: ‘Nguyện này thuộc về ba phẩm bậc thượng, mười niệm được nói ở đây là dựa vào mười pháp để khởi niệm, chứ chẳng phải là mười niệm xưng danh’. Bảo ‘dựa vào mười pháp để khởi niệm’ là ý nói mười niệm được dạy trong kinh Di Lặc Sở Vấn. Kinh Di Lặc Sở Vấn chép:

‘Đầy đủ những niệm như sau liền được vãng sanh An Lạc quốc độ. Có mười niệm, những gì là mười?

Một là với hết thảy chúng sanh thường sanh từ tâm; với hết thảy chúng sanh chẳng hủy hoại hạnh của họ. Nếu hủy hạnh của họ, trọn chẳng được vãng sanh.

Hai là với hết thảy chúng sanh, phát khởi bi tâm sâu xa, trừ bỏ ý tàn hại.

Ba là phát tâm hộ pháp, chẳng tiếc thân mạng. Với hết thảy pháp, chẳng sanh phỉ báng.

Bốn là sanh tâm quyết định nơi nhẫn nhục.

Năm là thân, tâm thanh tịnh, chẳng nhiễm lợi dưỡng.

Sáu là phát tâm Nhất Thiết Chủng Trí, hằng ngày thường niệm chẳng hề quên mất.

Bảy là với hết thảy chúng sanh khởi tâm tôn trọng, trừ ý ngã mạn, nói năng khiêm tốn.

Tám là chẳng ham thích những lời đàm luận của thế gian.

Chín là chú trọng giác ý, sanh khởi các thứ thiện căn nhân duyên, xa lìa tâm ồn náo, tán loạn.

Mười là chánh niệm quán Phật, trừ khử các căn’ (trừ khử các căn nghĩa là không để các căn trần làm nhiễm loạn thân tâm).

Sách Tông Yếu nói: ‘Mười niệm như vậy phàm phu không làm nổi, phải là từ Sơ Địa Bồ Tát trở lên mới thực hiện đầy đủ nổi mười niệm ấy’.

Các thuyết trên đều cho rằng nguyện này chuyên vì thượng phẩm, thậm chí là bậc địa thượng Bồ Tát mới thực hiện trọn vẹn nổi; như vậy thì bậc trung, hạ phàm phu biết nhờ vào đâu để được vãng sanh? Rõ ràng ý kiến của các vị trên chẳng phù hợp với chân lý Tha Lực Quả Giáo của Tịnh tông. Còn như ngài Nghĩa Tịch dùng ngay thập niệm của hạ phẩm hạ sanh trong Quán kinh để giải thích ý nghĩa ‘mười niệm’ trong nguyện thứ 18 này mới thật là bậc am hiểu.

Sư Vọng Tây bảo: ‘Tông gia không nghĩ vậy (tông gia là tiếng người Nhật gọi ngài Thiện Đạo). Mười niệm đây chỉ là miệng xưng niệm, bậc thượng thì niệm suốt cả đời, bét nhất là một niệm. Thông cả ba bậc, gồm trọn chín phẩm, không ai chẳng được vãng sanh’. Ý ngài bảo: mười niệm trong lời nguyện đây chỉ là miệng niệm. Bậc thượng thì suốt cả một đời chỉ niệm Phật danh; tệ nhất thì chỉ niệm một tiếng đều được vãng sanh (Chỉ niệm một tiếng là một niệm khi lâm chung, hoặc là ‘đạt được một niệm tịnh tâm, phát một niệm tâm niệm đức Phật ấy’ cũng được vãng sanh).

Trong lời nguyện này có nói ‘chí tâm tin ưa’, Quán kinh cũng dạy: ‘Chí tâm như thế chẳng cho ngơi tiếng, đầy đủ mười niệm’. Thế nào là ‘chí tâm’ và thế nào là ‘đầy đủ mười niệm’? Đây là những điểm rất quan yếu của lời nguyện này. La Thập đại sư giải thích những điểm trên một cách hết sức khéo léo, ảo diệu như sau:

‘Ví như có người ở trong đồng hoang gặp phải ác tặc vung giáo, quơ gươm xông đến toan giết, người ấy rảo chạy, thấy mình phải vượt sông. Nếu chẳng vượt sông khó giữ nổi đầu cổ. Lúc bấy giờ, chỉ nghĩ cách vượt sông: mình chạy đến bờ sông, mặc áo mà lội hay là cởi áo mà bơi? Nếu vẫn mặc áo, sợ không qua sông nổi. Nếu cởi áo ra, sợ không kịp nữa. Chỉ nghĩ như vậy, không nghĩ gì khác. Cái ý nghĩ vượt sông khi ấy chính là nhất niệm. Mười niệm này đây chẳng để niệm nào khác xen vào. Hành giả cũng giống thế: nếu niệm danh hiệu Phật hoặc niệm tướng Phật đều niệm Phật không gián đoạn cho đến mười niệm. Chí tâm như vậy thì gọi là mười niệm’.

Nghĩa là: trong lúc ấy chỉ nghĩ cách làm sao vượt được sông, không còn nghĩ gì khác; niệm như thế chính là nhất niệm. Niệm Phật liên tục như vậy đến mười niệm thì chính là ‘mười niệm’.

Sách Tông Yếu lại ghi: ‘Mười niệm nói trong kinh này có cả hai nghĩa ẩn mật và hiển liễu’. Mười niệm hiển liễu là như mười niệm được đại sư La Thập giảng trong đoạn văn vừa trích ở trên. Mười niệm ẩn mật là như các niệm: từ tâm v.v... mà kinh Di Lặc Sở Vấn đã nói. Ngài Nghĩa Tịch bảo: ‘Trong mỗi một niệm, tự nhiên đầy đủ mười niệm như: từ tâm v.v...’ có nghĩa là: nếu có thể như Quán kinh dạy hay như lời ngài La Thập dạy mà niệm mười niệm thì trong mỗi một niệm đó tự nhiên đầy đủ cả mười niệm như kinh Di Lặc Sở Vấn dạy. Ấy là trong nghĩa hiển liễu tự nhiên hàm chứa nghĩa ẩn mật. Lời nhận xét của ngài Nghĩa Tịch thật đã phô trọn lẽ huyền vi của Tịnh tông. Người đời thường ưa thích sự huyền diệu mà chẳng biết rằng sự huyền diệu tối cực lại chỉ nằm trong cái bình thường nên cổ đức bảo: ‘Tâm bình thường là đạo’. Chỉ cần bình bình thường thường, ròng rặt chuyên tinh miên mật niệm Phật thì tự nhiên thầm hợp diệu đạo, niệm niệm ly niệm. Dùng cái tâm phàm phu mà nhập được Thật Tướng các pháp thì chỉ có trì danhtrì chú là dễ nhất. Vì sao niệm Phật lại có công đức như thế? Là vì niệm niệm đều thầm ứng hợp với Thật Tướng vậy!

‘Chỉ trừ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp’: Tội ác trái nghịch với Lý đến cùng cực thì gọi là ‘nghịch’. Do Ngũ Nghịch sẽ cảm lấy ác nghiệp khổ quả trong Vô Gián địa ngục nên còn gọi là Vô Gián Nghiệp.

Kinh A Xà Thế Vấn Ngũ Nghịch chép: ‘Có năm thứ tội nghịch; nếu tộc tánh tử, hoặc tộc tánh nữ phạm năm tội chẳng cứu được này quyết sẽ vào địa ngục không còn ngờ gì nữa. Những gì là năm? Chính là: giết cha, giết mẹ, hại a xà lê, gây rối chúng Tăng, khởi ác ý đối với Như Lai’.

Kinh Hoa Nghiêm, trong phần ba chương Khổng Mục cũng nói: ‘Ngũ Nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá Tăng, làm thân Phật chảy máu. Hai thứ đầu là bội ân dưỡng dục, ba thứ sau là phá hoại phước điền. Vì vậy, gọi là Nghịch’.

Nói nôm na, ngũ nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng. Phạm những tội nghịch này ắt đọa Vô Gián địa ngục trong một đại kiếp chịu khổ không ngừng ngớt.

Trong chữ ‘phỉ báng’, Phỉ có nghĩa giống như báng; báng là chê bai, nhục mạ. Nói việc xấu của người khác quá mức sự thật là ‘báng’. Phỉ báng chánh pháp tức là phỉ báng Phật pháp. Đại nguyện ‘mười niệm ắt được sanh’ này phổ độ hết thảy nhưng không độ được kẻ đã phạm tội Ngũ Nghịch và hủy báng chánh pháp. Quán kinh dạy: ‘Ngũ nghịch, thập ác, lâm chung mười niệm cũng được vãng sanh’, kinh này lại loại trừ họ ra là vì họ đã phạm Ngũ Nghịch lại còn phỉ báng chánh pháp, tội càng thêm tội. Vả lại, tội phỉ báng rất nặng! Kẻ báng pháp gọi là báng pháp xiển đề nên chẳng được vãng sanh vậy.

Hỏi: Quán kinh bảo người phạm tội ngũ nghịch nhưng chẳng phỉ báng chánh pháp cũng được vãng sanh. Vậy thì kẻ chỉ phỉ báng chánh pháp nhưng chẳng phạm ngũ nghịch có được vãng sanh hay chăng?

Vãng Sanh Luận Chú đáp: Nếu chỉ phỉ báng chánh pháp, chẳng phạm các tội khác cũng nhất định chẳng được vãng sanh. Vì sao bảo vậy? Kinh dạy: Tội nhân ngũ nghịch đọa trong A Tỳ đại địa ngục, chịu đủ hết thảy trọng tội (chỉ đến khi kiếp tận mới được ra). Người phỉ báng chánh pháp đọa trong A Tỳ đại địa ngục, nếu kiếp này tận rồi bèn bị chuyển sang A Tỳ đại địa ngục ở phương khác. Lần lượt trải qua trăm ngàn A Tỳ đại địa ngục như thế mà Phật chẳng huyền ký lúc nào sẽ thoát khỏi. Như vậy, tội phỉ báng chánh pháp nặng nề nhất’.

Sách còn viết thêm: ‘Ông chỉ biết năm tội nghịch là trọng mà chẳng biết năm tội nghịch đều là do không có chánh pháp mà sanh. Vì vậy, tội người báng chánh pháp rất nặng’.

Trong Quán kinh sớ, đại sư Thiện Đạo lại có cách giải thích khác biệt: nói ngũ nghịch, báng pháp chẳng được vãng sanh là do Phật muốn ngăn ngừa điều ác nên phương tiện nói thế. Sách viết:

‘Với nghĩa này, nên dùng Ức Chỉ Môn để hiểu. Trong bốn mươi tám nguyện loại trừ kẻ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp là vì hai nghiệp này gây chướng rất nặng. Chúng sanh nếu trót phạm phải liền vào thẳng A Tỳ, kinh hoàng bao kiếp, biết nhờ đâu để thoát khỏi. Đức Như Lai sợ chúng sanh tạo hai tội lỗi ấy nên mới thốt lời ngăn ngừa ‘chẳng được vãng sanh’, nhưng chẳng phải là ngài chẳng nhiếp thủ bọn họ....

Dẫu tạo tội vẫn được nhiếp thủ vãng sanh, tuy được vãng sanh nhưng hoa sen trong nhiều kiếp chưa nở. Lúc ở trong hoa, bọn tội nhân ấy có ba thứ chướng: một là chẳng được thấy Phật và các thánh chúng; hai là chẳng được nghe chánh pháp; ba là chẳng được qua khắp các nơi cúng dường. Trừ những điều trên ra không còn các nỗi khổ nào khác’.

Trong phần nói về tông chỉ của kinh, sách Hợp Tán cũng nhận định: ‘Nói chỉ trừ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp là đối với căn cơ chưa tạo nghiệp, chỉ là để ngăn ngừa mà thôi. Nếu với căn cơ đã trót tạo nghiệp, đã hồi tâm thì Phật cũng nhiếp thủ chẳng để sót vậy’. Ý nói: Nói ‘trừ’ nhưng thật sự là nhằm ngăn dứt điều ác để kẻ chưa tạo ác chẳng dám tạo. Kẻ đã trót tạo nếu biết hồi tâm, sám hối niệm Phật thì vẫn nhiếp thủ như cũ chẳng để sót vậy.

Như vậy, Di Đà đại nguyện nhiếp thủ căn cơ vô tận nên Thiện Đạo đại sư bảo: ‘Như Lai sở dĩ xuất hiện trong đời chỉ là để nói biển bổn nguyện của Phật Di Đà’. Ý nói: Tam thế chư Phật xuất hiện trong đời chỉ để nói đại sự nhân duyên sau: tuyên thuyết nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà Như Lai nhằm cứu vớt chúng sanh. Vì vậy, đại sư lại bảo: ‘Nay được gặp gỡ di tích của Phật Thích Ca trong đời mạt pháp, pháp môn trọng yếu bổn thệ nguyện Cực Lạc của Phật Di Đà, hết thảy phàm phu thiện ác được vãng sanh không ai lại chẳng nương vào đại nguyện nghiệp lực của A Di Đà Phật làm tăng thượng môn vậy’.

Thoạt nhìn, thuyết của Vãng Sanh Luận Chú tựa hồ mâu thuẫn với thuyết của Quán Kinh Sớ, nhưng thật ra cả hai thuyết dung thông lẫn nhau. Thuyết của Vãng Sanh Luận Chú thật phù hợp với ý chỉ ngăn ngừa của Như Lai: khiến người kinh sợ chẳng dám báng pháp. Trong luận lại có câu: ‘Kẻ ngu si trong đời này đã sanh lòng phỉ báng thì lẽ nào nguyện sanh?’ Vì vậy, kinh dạy ngũ nghịch, báng pháp chẳng được vãng sanh. Quán Kinh Sớ thì hiển thị bi nguyện vô tận của Phật Di Đà: tuy ngũ nghịch, báng pháp nhưng lúc lâm chung lại có thể niệm Phật thì chính là sám hối phát tâm, người như vậy trong ức ức người khó được một, hai kẻ, nên Phật vẫn từ mẫn nhiếp thọ.

Thiện Đạo đại sư lại bảo: ‘Hoằng thệ môn nói đến cả bốn mươi tám nguyện, nhưng chỉ bảo niệm Phật là thiết yếu. Ai niệm Phật thì Phật niệm người ấy. Chuyên tâm tưởng Phật thì Phật biết người ấy’. Ngài lại bảo: ‘Chỉ có niệm Phật được quang minh nhiếp thọ. Ta nên biết rằng bổn nguyện là mạnh mẽ nhất’.

Thiện Đạo đại sư phán định trong bốn mươi tám nguyện, chỉ có năm nguyện chơn thật. Xét trong năm nguyện ấy, chỉ có nguyện mười tám là chơn thật, nên ngài viết trong sách Sự Tán như sau: ‘Mỗi một lời nguyện dẫn về nguyện thứ mười tám’. Sách Bình Giải nói: ‘Bốn mươi tám nguyện tuy rộng nhưng chỉ quy về nguyện mười tám’. Sách còn viết: ‘Do nơi nguyện này nên chúng sanh được sanh về cõi không có ba đường ác, chẳng đọa đường ác nữa, đủ tướng hảo, hiện thần thông mà được diệt độ do nhập vào biển quang minh, thọ lượng. Vì vậy, riêng nguyện này thật tối thắng vậy’. Sách Tiên Chú cũng nhận xét: ‘Rõ ràng, trong bốn mươi tám nguyện, nguyện niệm Phật vãng sanh này là vua của các nguyện căn bổn’.

Nguyện này thể hiện phương tiện rốt ráo, Nhất Thừa nguyện hải, sáu chữ hồng danh, công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật Di Đà. Do danh hiệu chính là thật đức nên ‘thanh, chữ đều là Thật Tướng’ vậy.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, mười phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi liền phát Bồ Đề tâm, tu các công đức, phụng hành sáu ba la mật kiên cố bất thối, lại đem các thiện căn hồi hướng nguyện sanh cõi tôi, nhất tâm niệm tôi, ngày đêm chẳng ngớt. Lúc lâm chung, tôi cùng các Bồ Tát chúng hiện đến đón trước mặt, trong khoảnh khắc liền sanh cõi tôi, thành bậc a duy việt trí Bồ Tát. Chẳng thỏa nguyện này chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện mười chín: nghe tên phát tâm, nguyện hai mươi: lâm chung tiếp dẫn)

 Giải: Chương này gồm nguyện mười chín ‘nghe danh phát nguyện’ và nguyện hai mươi ‘lâm chung tiếp dẫn’. ‘Danh hiệu’ là tên hiệu. Danh để nêu rõ cái thể, hiệu là cái tên được phô ra ngoài để thiên hạ hay biết. Danh và hiệu đồng thể. Danh hiệu vốn được dùng để chỉ chung những tên hiệu của chư Phật, Bồ Tát, nhưng trong kinh này chữ ‘danh hiệu’ chuyên dùng để chỉ danh hiệu vị giáo chủ cõi Cực Lạc: A Di Đà.

‘Phát Bồ Đề tâm’: Bồ Đề là tiếng Phạn, cựu dịch là Đạo, tân dịch là Giác. Ngài Tăng Triệu bảo: ‘Đạo đạt đến chỗ cùng cực gọi là Bồ Đề, Tàu không có tiếng nào dịch nổi. Ấy chỉ là chơn trí Chánh Giác vô tướng mà thôi!’. Bồ Đề tâm là cái tâm cầu chơn đạo, tâm cầu Chánh Giác. Bồ Đề tâm còn có nghĩa là tâm tự giác giác tha; nói tỉ mỉ thì như Vãng Sanh Yếu Tập bảo có hai thứ Bồ Đề tâm:

 a. Duyên sự Bồ Đề tâm (đây chính là Hạnh Nguyện Bồ Đề tâm trong Mật tông). Tâm này dùng tứ hoằng thệ nguyện làm thể:

* ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’ là nhân của Ứng Thân Bồ Đề.

* ‘Phiền não vô số thệ nguyện đoạn’ là nhân của Pháp Thân Bồ Đề.

* ‘Pháp môn vô tận thệ nguyện học’ là nhân của Báo Thân Bồ Đề.

* ‘Vô thượng Bồ Đề thệ nguyện chứng’ là nguyện cầu chứng đắc Phật quả Bồ Đề.

Do thành tựu trọn vẹn ba hạnh nguyện trước nên chứng được tam thân Bồ Đề viên mãn rồi lại lợi ích khắp hết thảy chúng sanh.

 b. Duyên lý Bồ Đề tâm (đây chính là tâm Thắng Nghĩa Bồ Đề trong Mật thừa): hết thảy các pháp vốn không tịch nên an trụ trong Trung Đạo Thật Tướng để viên thành hạnh nguyện thượng cầu hạ hóa.

[Tâm Bồ Đề nói trong kinh này] là tâm Bồ Đề tối thượng tức là duyên lý Bồ Đề tâm.

Trong sách Tông Yếu, sư Nguyên Hiểu người xứ Tân La luận về Bồ Đề tâm như sau:

Một là tùy sự phát tâm, hai là thuận lý phát tâm.

a. Tùy sự là: phiền não vô số nguyện đều đoạn cả; thiện pháp vô lượng nguyện đều tu cả; chúng sanh vô biên nguyện đều độ cả. Quyết định nguyện thành tựu ba điều này. Tâm thứ nhất làm chánh nhân cho Đoạn Đức của Như Lai, tâm kế đó là chánh nhân cho Trí Đức của Như Lai, tâm thứ ba là chánh nhân của Ân Đức. Ba đức hợp thành quả Bồ Đề vô thượng. Ba tâm này gọi chung là nhân của Vô Thượng Bồ Đề.

Nhân, quả tuy khác nhưng rất rộng lớn, bình đẳng không sót, không gì mà nó chẳng bao gồm như kinh nói: “Cả hai thứ: phát tâm và rốt ráo. Trong hai tâm như thế, tâm trước là khó: chưa tự đắc độ đã độ người trước. Vì vậy, tôi lễ bậc sơ phát tâm”. Quả báo của tâm này tuy là Bồ Đề (thành Phật), nhưng hoa báo lại là Tịnh Độ (vãng sanh). Vì sao như thế? Bồ Đề tâm lượng rộng lớn vô biên, dài lâu vô hạn nên cảm được y báo Tịnh Độ rộng lớn không ngằn mé, chánh báo thọ mạng dài lâu vô lượng. Ngoại trừ Bồ Đề tâm không thứ gì khác có khả năng làm được như thế. Vì vậy bảo tâm này là chánh nhân cho Bồ Đề.

b. Thuận lý phát tâm là tin hiểu các pháp đều như huyễn mộng, chẳng có, chẳng không, dứt nói năng, bặt suy lường. Dùng lòng tin hiểu đó để phát tâm rộng lớn, tuy chẳng thấy có phiền não hay thiện pháp nhưng chẳng bác rằng không có gì để tu, để đoạn. Vì vậy, tuy nguyện đoạn tất cả, tu tất cả nhưng chẳng trái nghịch Vô Nguyện tam muội. Tuy nguyện đều độ vô lượng hữu tình nhưng chẳng có [quan niệm] người độ và kẻ được độ nên có thể tùy thuận Không, Vô Tướng như kinh dạy: “Diệt độ vô lượng chúng sanh như vậy, nhưng thật khôngchúng sanh nào được diệt độ” v.v... Phát tâm như thế chẳng thể nghĩ bàn. Đấy là nói về thuận lý phát tâm.

Tùy sự phát tâm còn có thể bị thối chuyển, kẻ bất định tánh cũng có thể phát được tâm ấy. Thuận lý phát tâm thì chẳng bị thối chuyển, chỉ căn tánh Bồ Tát mới phát nổi. Phát tâm như thế công đức vô biên. Giả sử chư Phật trong suốt kiếp nói các công đức ấy còn chẳng thuật đủ được’.

Trong đoạn văn trên đây của ngài Nguyên Hiểu, ‘tùy sự phát tâm’ chính duyên sự Bồ Đề tâm, ‘thuận lý phát tâm’ là duyên lý Bồ Đề tâm. Ở đây, tôi trích dẫn trọn đoạn văn trên vì xét ra sách Tông Yếu giảng Bồ Đề tâm tường tận hơn.

Bản ‘Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn’ cũng viết: ‘Phát Bồ Đề tâm là vua trong các điều lành’. Sách Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận lại bảo: ‘Nên biết rằng Bồ Đề tâm là nguồn cội của chư Phật, là huệ mạng của chúng sanh. Vừa phát tâm này đã thành Phật đạo vì đã tương ứng với Phật trí, bất tư nghị trí, bất khả xưng trí, trí Đại Thừa rộng lớn, trí tối thượng thắng không gì sánh tày vậy’. Hơn nữa, ba bậc vãng sanh trong kinh này đều do ‘phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm’, đủ thấy phát Bồ Đề tâm thật là điều quan trọng hàng đầu.

Xét ra, vì nguyện thứ hăm sáu là ‘nghe danh được phước’ và nguyện bốn mươi bảy là ‘nghe danh đắc nhẫn’ thì nguyện thứ mười chín ‘nghe danh phát tâm’ này phải nên được hiểu là do nghe danh hiệu của Phật, được Phật gia bị nên phát tâm Bồ Đề. Hiểu như vậy liền thấy rõ công đức của danh hiệu A Di Đà chẳng thể nghĩ bàn, sức hoằng thệ nguyện của đấng Nguyện Vương chẳng thể nghĩ bàn.

‘Tu các công đức... ngày đêm chẳng ngớt’đại hạnh sẽ làm sau khi phát tâm. Câu này và câu trước đó hợp thành toàn văn của nguyện thứ mười chín: do nghe danh hiệu Phật Di Đà nên phát tâm và tu các đại hạnh.

Trong lời nguyện, chữ ‘sáu ba la mật’ chỉ lục độ. ‘Độ’ là vượt qua được biển sanh tử đạt tới bờ Niết Bàn. Sáu độ là Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền ĐịnhBát Nhã. Lục Độ bao trùm vạn hạnh.

‘Kiên cố bất thối’ nghĩa là các đại nguyện, đại hạnh trên quyết định chẳng lay động, vĩnh viễn chẳng lui sụt. Như phần kệ tụng đã nói: ‘Hạnh tôi sức kiên cố quyết định, chỉ Phật thánh trí chứng biết nổi, dẫu thân ở trong các chốn khổ, nguyện tâm như vậy trọn bất thối’ thì ‘kiên cố’ có nghĩa là bất thối.

Trong câu ‘nhất tâm niệm tôi’, chữ ‘nhất tâm’ như phần trên đã giải thích: nhất tâm chỉ thật thể Chơn Như của vạn hữu. Xét trong kinh này, nhất tâmtín tâm kiên định, chẳng bị các tâm khác não loạn nên gọi là ‘nhất tâm’. Sách ‘Giáo Hạnh Tín Chứng Văn Loại’ nói: ‘Tín tâm chính là nhất tâm. Nhất tâm chính là lòng tin chơn thật. Vì vậy, luận chủ khăng khăng nói nhất tâm’. Sách Thám Huyền Ký, quyển 3 cũng nói: ‘Nhất tâm là tâm không dị niệm’. Sách Chỉ Quán, quyển bốn lại viết: ‘Nhất tâm là lúc tu pháp này, một dạ chuyên chí, tâm chẳng duyên theo điều gì khác’ (tức là trong tâm chẳng nghĩ đến sự vật nào khác).

Hơn nữa, nhất tâm lại có hai thứ: sự và lý. Không xen lẫn niệm nào khác là sự nhất tâm, nhập Thật Tướng là lý nhất tâm.

Câu ‘nhất tâm niệm tôi’ trong kinh này gồm cả sự lẫn lý. Người tu học tịnh nghiệp hiện tại chỉ cần tin sâu, nguyện thiết, xưng niệm danh hiệu thì đã là ‘nhất tâm niệm tôi’. Hành được như đại sư Thiện Đạo dạy: ‘Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu A Di Đà Phật, đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng luận thời tiết, xa gần, niệm niệm chẳng bỏ’ thì chính là ‘nhất tâm niệm Phật’ từ sự nhập lý, nhưng toàn thể của sự lại chính là lý vậy.

Nguyện thứ mười chín là nhân, nguyện thứ hai mươi là quả. Nếu ai phát tâm niệm Phật đúng như nguyện thứ mười chín dạy thì khi lâm chung, Phật Di Đà cùng hàng Bồ Tát trong thế giới Cực Lạc sẽ hiện đến trước mặt tiếp dẫn.

Trong khoảnh khắc, người ấy liền vãng sanh Tịnh Độ Cực Lạc làm bậc Bồ Tát a duy việt trí (bất thối chuyển). Nguyện hai mươi thể hiện sâu xa diệu dụng chẳng thể nghĩ bàn của phương tiện tha lực trong Quả giáo. Kẻ phàm phu nghiệp chướng chất chồng lại có thể mang nghiệp đi vãng sanh; đấy toàn là do nguyện này của Phật Di Đà, do sức từ bi đại lực nhiếp thọ của thánh chúng hiện diện trong lúc lâm chung.

Ngài Linh Chi (Nguyên Chiếu) đời Tống nói: ‘Phàm người lâm chung thức thần vô chủ, không một thứ nghiệp chủng thiện hay ác nào lại không phát hiện: hoặc khởi ác niệm, hoặc khởi tà kiến, hoặc sanh quyến luyến, hoặc phát điên rồ, chẳng phải chỉ có một thứ ác tướng... đều là điên đảo cả’. Rõ ràngphàm phu nghiệp nặng, lúc lâm chung lắm nỗi điên đảo, lại bị tứ đại bức bách khổ sở, đau đớn khó tả nổi, làm sao mà chánh niệm trì danh được! Chẳng thể trì danh làm sao vãng sanh nổi?

Vì vậy, phàm phu vãng sanh chẳng phải do tự lực mà toàn là cậy vào sức gia bị của đại nguyện của Phật Di Đà giữ cho chẳng điên đảo nên mới được vãng sanh như sách Viên Trung Sao nói: ‘Chúng sanh cõi Sa Bà tuy có thể niệm Phật nhưng kiến hoặc còn rối bời chưa thể đoạn trừ được; khi lâm chung chẳng bị điên đảo thì vốn nào phải do sức mình chủ trì nổi mà chỉ toàn là cậy vào Di Đà đến cứu vớt thôi. Tuy không có chánh niệm mà giữ nổi chánh niệm nên tâm chẳng điên đảo, liền được vãng sanh’.

Ý tưởng trên càng được diễn tả rõ hơn trong hai kinh Tiểu Bổn (bản Đường dịch) và kinh Bi Hoa. Kinh Tiểu Bổn bản Đường dịch mang tên là Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ kinh có nói: ‘Lúc lâm chung, Vô Lượng Thọ Phật cùng vô lượng Thanh Văn đệ tử, Bồ Tát của ngài trước sau vây quanh, đến đứng trước mặt, từ bi gia hựu khiến tâm chẳng loạn’. Rõ ràngphàm phu khi lâm chung tâm chẳng điên đảo và chẳng tán loạn, chánh niệm trì danh toàn là nhờ sức Phật Di Đà từ bi ban ân vậy. Kinh Bi Hoa cũng chép: ‘Lúc lâm chung, ta cùng các đại chúng vây quanh hiện trước mặt người ấy. Người ấy thấy ta liền đối trước ta sanh lòng hoan hỷ. Do thấy ta nên lìa các chướng ngại, liền xả thân sanh về cõi ta’. Kinh còn chép lời nguyện sau: ‘Tất cả chúng sanh nếu nghe danh hiệu của ta, phát nguyện muốn sanh trong thế giới ta thì lúc mạng chung các chúng sanh ấy thảy đều thấy ta và các đại chúng vây quanh trước sau. Ngay khi ấy, ta nhập Vô Ế tam muội. Do sức tam muội nên ở trước mặt kẻ đó mà thuyết pháp cho nó. Do được nghe pháp, kẻ ấy liền đoạn trừ được hết thảy khổ não, tâm đại hoan hỷ nên đắc Bảo Chơn Tam Muội. Do sức tam muội nên tâm đắc niệm và Vô Sanh Nhẫn. Sau khi mạng chung ắt sanh về cõi ta’.

Kinh Bi Hoa đã nói rõ diệu dụng của tha lực một cách thật rành rẽ. Kinh ‘Xưng Tán Tịnh Độ’ là tiểu bổn của kinh này, kinh Bi Hoa nói về nhân địa của Phật Di Đà và cõi Cực Lạc trang nghiêm. Hai kinh cùng nói rõ lúc lâm chung, Phật đến tiếp dẫn, nguyện lực nhiếp thọ vãng sanh thù thắng, đủ thấy Di Đà nguyện vương diệu đức khó lường, đại ân, đại lực chẳng thể tính kể nổi.

‘A duy việt trí’ còn được phiên là A Bệ Bạt Trí, dịch nghĩa là bất thối chuyển, là một địa vị của Bồ Tát. Theo sách Di Đà Yếu Giải:

‘A-bệ-bạt-trí, Tàu dịch là bất thối:

a. Vị bất thối: vào dòng thánh, chẳng đọa địa vị phàm phu.

b. Hạnh bất thối: luôn độ sanh, chẳng đọa địa vị Nhị Thừa.

c. Niệm bất thối: tâm tâm lưu nhập biển Tát Bà Nhã (nhất thiết trí).

Trong cõi Sa Bà này, Sơ Quả của Tạng giáo, bậc Kiến Địa của Thông giáo, bậc Sơ Trụ của Biệt giáo, bậc Tín Địa của Viên giáo gọi là Vị Bất Thối. Bồ Tát của Thông giáo, bậc Thập Hướng của Biệt giáo, bậc Thập Tín của Viên giáo gọi là Hạnh Bất Thối. Sơ Địa của Biệt giáo, Sơ Trụ của Viên giáo mới gọi là Niệm Bất Thối’

Nghĩa là: Bất thối có ba thứ, loại cao nhất là niệm bất thối. Hành giả trong cõi này phải là bậc tu chứngHoan Hỉ địa trong Biệt giáo, hay bậc tu đến Sơ Phát Tâm Trụ trong Viên giáo mới phá được một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân rồi mới có thể trong mỗi niệm chứng nhập biển Tát Bà Nhã (biển Nhất Thiết Chủng Trí, tức là quả hải của Như Lai). Bỏ cả nhị biên, hoàn toàn quy về Trung Đạo thì mới gọi là ‘niệm niệm lưu nhập biển Tát Bà Nhã’. Như vậy, rất khó chứng được niệm bất thối, nhưng trong nguyện này, Phật lại nói: mười phương chúng sanh nghe danh phát tâm, nhất tâm niệm ta liền sanh trong cõi ta thành bậc a duy việt trí Bồ Tát. Kinh Tiểu Bổn cũng dạy: ‘Chúng sanh sanh về cõi nước Cực Lạc đều là a bệ bạt trí’.

Sách Yếu Giải còn giảng: ‘Nay trong Tịnh Độ, ngũ nghịch, thập ác mười niệm thành tựu, ôm nghiệp đi vãng sanh thuộc về hạ hạ phẩm cũng đều được ba thứ bất thối’. Người hạ hạ phẩm mà cũng chứng ba thứ bất thối, trong một đời viên thành Phật quả thì thật là không đâu được như vậy, chỉ mình Cực Lạc riêng có. Siêu tuyệt, lạ lùng đặc biệt đến thế dẫu suy nghĩ, biện luận cũng chẳng thấu đạt nổi nên sách Yếu Giải bảo: ‘Nếu chẳng phải là do tâm tánh đạt đến cùng cực, do sự un đúc kỳ diệu của trì danh, do đại nguyện của Di Đà thì làm sao mà được như vậy!’.

Trong 48 nguyện, hai nguyện này như hồng tâm của bia bắn tên, còn nguyện thứ mười tám lại là trung tâm của các hồng tâm vậy.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, mười phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi, hệ niệm cõi tôi, phát Bồ Đề tâm kiên cố bất thối, gieo các cội đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về Cực Lạc thì không ai chẳng được toại nguyện. Nếu có nghiệp ác đời trước, nghe danh hiệu tôi liền tự hối lỗi, tu đạo làm lành, liền trì kinh giới, nguyện sanh cõi tôi, chết đi chẳng đọa vào tam ác đạo nữa, liền sanh trong cõi tôi. Nếu chẳng được vậy chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện hăm mốt: sám hối được vãng sanh)

 Giải: Đây là nguyện thứ hăm mốt ‘Sám hối được vãng sanh’. Ý của đoạn văn từ câu đầu đến câu ‘không ai chẳng được toại nguyện’ giống ý của nguyện hai mươi trong bản Ngụy dịch (câu văn và chữ dùng trong hội bản được chọn từ bản Đường dịch lẫn Tống dịch); phần còn lại trích từ nguyện thứ năm của bản Ngô dịch (bản Hán dịch chép giống vậy) để kết thành nguyện này, đặt tên là nguyện ‘hối lỗi được vãng sanh’.

Khác với nguyện thứ mười tám và nguyện hai mươi, nguyện này chú trọng kẻ tạo ác nghiệp trong đời trước: tội nghiệp sâu nặng phải chịu quả báo trong tam đồ. Đời này được nghe danh hiệu liền phát tâm, chí tâm hồi hướng, vun bồi đức hạnh cầu vãng sanh. Lúc lâm chung được Phật nguyện gia bị, chẳng đọa ba ác đạo, vãng sanh cõi kia. Nguyện này thể hiện từ đức thù thắng của Phật nguyện nên cổ đức bảo: ‘Bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng vì cứu độ chúng sanh’. Đại bi từ phụ ân đức vô cực, chúng ta học Phật lẽ nào chẳng báo?

‘Hệ niệm’ nghĩa là: tâm niệm chuyên chú một chỗ, chẳng nghĩ đến điều gì khác như Quán kinh dạy: ‘Phải nên chuyên tâm, hệ niệm một chỗ tưởng nơi Tây phương’.

Chữ ‘thực’ trong ‘thực chúng đức bổn’ (trồng các cội đức) có nghĩa là trồng trọt. ‘Đức bổn’thiện căn. Đức là thiện, bổn là cội rễ. ‘Đức bổn’ còn có nghĩa là căn bổn của các đức vậy. Hiểu theo nghĩa này, danh hiệu Phật A Di Đà chính là cội đức như sách Giáo Hạnh Chứng Tín giảng: ‘Đức bổn là đức hiệu của Như Lai. Xưng niệm đức hiệu ấy một tiếng thì chí đức được thành tựu trọn vẹn, chuyển được các họa. Do [đức hiệu A Di Đà] là gốc của mười phương tam thế đức hiệu nên gọi là “đức bổn”.

Câu ‘nghiệp ác đời trước’ chỉ các nghiệp ác đã gây tạo trong đời trước, tức là tội ác trong đời quá khứ. ‘Hối’ là sửa đổi, sửa đổi quá khứ, tu tập tương lai. ‘Hối lỗi’ là hướng về Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng mà sám hối tội lỗi, thề chẳng tái phạm. Do nguyện này mang tên ‘hối lỗi được vãng sanh’ nên ta biết: Sám Hối là chìa khóa để vãng sanh vì do sám hối sẽ diệt được hết thảy tội. ‘Trì’ là phụng trì.

‘Chết đi chẳng đọa tam ác đạo nữa, liền sanh về cõi ta’ chính là yếu chỉ của lời nguyện này. Nếu đời trước trót làm ác, có nghiệp quyết định thì sau khi mạng chung ắt phải ở cõi này hoặc trong thế giới phương khác đọa trong ba ác đạo. Do đời này hối lỗi tu đạo hành thiện, tụng kinh, trì giới, phát Bồ Đề tâm, chuyên niệm Cực Lạc, chí tâm hồi hướng cầu sanh Tịnh Độ v.v... thì nhờ vào công đức của lời nguyện này của Phật Di Đà để ngăn chặn túc nghiệp, được Phật tiếp dẫn chẳng đọa tam đồ, nhanh chóng sanh về Cực Lạc. Vì vậy, kinh chép: ‘Không ai chẳng được toại nguyện’. Chữ ‘toại nguyện’ nghĩa là ý nguyện cầu sanh Cực Lạc được thỏa mãn trọn vẹn. Rõ ràng, người túc nghiệp sâu nặng đều chẳng bị đọa vào tam đồ nữa, được mang nghiệp đi vãng sanh. Bi nguyện Phật Di Đà sâu thẳm, sức nhiếp độ mênh mông vượt trỗi mười phương.

Hiện thời, giới Phật giáo hải ngoại đang tranh cãi về thuyết ‘đới nghiệp vãng sanh’, nay ta cứ dựa trên kinh này thì biết ngay thuyết đới nghiệp vãng sanh thật đã căn cứ trên lời Phật nguyện. Hơn nữa, cái nghiệp được mang theo đó chính là ác nghiệp!

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, nước không nữ nhân. Nếu có nữ nhân nghe danh hiệu tôi sanh lòng tin thanh tịnh, phát Bồ Đề tâm, chán ngán thân nữ, nguyện sanh cõi tôi, chết đi liền hóa thành nam tử sanh về cõi tôi. Các loài chúng sanh trong mười phương thế giới sanh về cõi tôi đều hóa sanh trong hoa sen nơi ao bảy báu. Nếu chẳng được vậy chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện hăm hai: nước không nữ nhân; nguyện hăm ba: chán thân nữ, chuyển thân nam; nguyện hăm bốn: liên hoa hóa sanh)

 Giải: Chương này gồm ba nguyện: nguyện hăm hai ‘nước không nữ nhân’ (trích từ bản Ngô dịch); câu ‘nếu có nữ nhân... mạng chung hóa thành nam tử, sanh về cõi tôi’ là nguyện thứ hăm ba ‘chán thân nữ, chuyển thành thân nam’, còn gọi là nguyện ‘nữ nhân vãng sanh’; nguyện hăm bốn là ‘liên hoa hóa sanh’ (trích từ bản Ngô dịch).

Bản Ngô dịch chép nguyện ‘nước không nữ nhân’ như sau: ‘Khiến trong nước ta không có phụ nữ’. Trong bản Hán dịch, phần kinh văn thuật về sự thành tựu của lời thệ nguyện có ghi: ‘Nữ nhân vãng sanh thì đều hóa sanh, biến thành nam tử’. Kinh còn nói: ‘Cả nước đều là Bồ Tát, A La Hán, không có phụ nữ’.

Hơn nữa, ngài Đạo Tuyên luật sư đời Đường còn dẫn kinh như sau: ‘Mười phương thế giới chỗ nào có nữ nhân, chỗ đó có địa ngục’. Nay Cực Lạc không có ba ác đạo, ắt hẳn chẳng có phụ nữ, thuần là người đủ băm hai tướng đại trượng phu. Đó là vì giữa nam nữ dễ sanh tình ái, thành duyên thối chuyển. Vì vậy, cõi đồng cư Cực Lạc thù thắng hơn Sa Bà nhiều.

Trong Quán Niệm Pháp Môn, Thiện Đạo đại sư giải thích về nguyện thứ hăm ba ‘nhàm chán thân nữ, chuyển thành thân nam’ như sau: ‘Ấy là do sức bổn nguyện của Phật Di Đà nên nếu nữ nhân xưng danh hiệu Phật thì ngay lúc lâm chung liền chuyển thân nữ trở thành nam tử. Di Đà dắt tay, Bồ Tát nâng thân, đặt ngồi trên hoa sen báu theo Phật vãng sanh’ và: ‘Hết thảy nữ nhân nếu chẳng nhờ sức danh hiệu của Phật Di Đà thì trong ngàn kiếp vạn kiếp, kiếp số như cát sông Hằng, trọn chẳng thể đổi được thân nữ’.

Ngay như Phật Thích Ca lúc còn tu nhân phải mất cả một đại kiếp tu hành siêng năng mới dần dà thoát khỏi thân nữ, đủ thấy nữ chuyển thành thân nam thật chẳng dễ dàng. Nay do nghe danh hiệu Phật ‘sanh lòng tin thanh tịnh’ (thanh tịnh là lìa khỏi các lầm lỗi ác hạnh, không phiền não cấu nhiễm. Lòng tin không cấu nhiễm gọi là lòng tin thanh tịnh). Do lòng tin thanh tịnhphát Bồ Đề tâm, nhàm chán thân nữ, nguyện sanh Cực Lạc, tin sâu, nguyện thiết thì ắt khởi thắng hạnh niệm Phật, được bổn nguyện của Phật gia hộ nên lúc lâm chung liền chuyển nữ thành nam, vãng sanh Cực Lạc. Đó là nguyện ‘chán thân nữ, chuyển thành thân nam’.

Nguyện thứ hăm bốn là liên hoa hóa sanh: ‘Sanh trong cõi ta đều hóa sanh trong hoa sen nơi ao bảy báu’. Phẩm mười bốn trong kinh đây chép: ‘Nếu có chúng sanh tin rõ Phật trí cho đến thắng trí, đoạn trừ nghi hoặc, tin vào thiện căn của mình, tạo các công đức, chí tâm hồi hướng thì tự nhiên hóa sanh ngồi xếp bằng trong hoa bằng bảy báu. Trong khoảnh khắc, được thành tựu đầy đủ thân tướng, quang minh, trí huệ, công đức như các Bồ Tát’.

Kinh A Di Đà Cổ Âm Thanh Vương Đà Ra Ni cũng dạy: ‘Tây phương An Lạc thế giới hiện đang có Phật hiệu A Di Đà. Nếu có tứ chúng có thể chánh trì danh hiệu đức Phật ấy thì do công đức đó, lúc sắp chết, A Di Đà Phật liền cùng đại chúng đến chỗ người ấy cho kẻ ấy được thấy. Thấy rồi, liền sanh lòng vui sướng, tăng thêm công đức bội phần. Do nhân duyên ấy, với chỗ sẽ sanh về vĩnh viễn thoát khỏi thân trong thai bào, uế dục, thuần tự nhiên hóa sanh trong hoa sen diệu bảo, đủ các đại thần thông, quang minh chói lọi’.

Hai kinh trên cùng bảo người vãng sanh Cực Lạc đều tự nhiên hóa sanh trong hoa sen, thanh tịnh vô cấu, thần thông, trí huệ, phóng đại quang minh đầy đủ như Bồ Tát. Đấy là do lời nguyện này nên chứng được như thế.

Liên Trì đại sư viết trong Di Đà Sớ Sao rằng: ‘Lục đạo chúng sanh nơi thân trung ấm (8) tự cầu cha, mẹ. Vãng sanh cõi lành thì như trong khoảng búng ngón tay liền hóa sanh trong hoa sen. Hoa sen ấy là cung huyền diệu để thoát thân phàm, là nhà thần diệu để an huệ mạng’, nghĩa là: hết thảy chúng sanh trong sáu nẻo, sau khi mạng chung, hiện thành thân trung ấm. Nơi thân trung ấm ấy, do túc nghiệp nhân duyên của tự thân mà đi tìm cha mẹ trong thế gian, gieo thân vào chỗ bụng mẹ đầy phân nhơ để kết thành cái thân trược nhiễm tội nghiệp, sao bằng vãng sanh về cõi lành, lâm chung được Phật tiếp dẫn, trong khoảng khảy ngón tay, hóa sanh trong hoa sen, liền sanh cõi An Lạc. Hoa sen ấy chính là cung điện u huyền để thoát bỏ thân phàm phu, là căn nhà thần diệu để an dưỡng huệ mạng của đương nhân. Mấy lời này đã hiển lộ Phật Di Đà đại nguyện sâu xa đại nguyện, bi tâm tột bực, diệu đức khó lường.

Quyển 15 sách Đại Nhật Kinh Sớ có câu: ‘Như người đời cho hoa senthanh tịnh tốt lành, khiến mọi người vui sướng, nay trong bí tạng, cũng lấy diệu pháp liên hoa của Đại Bi Thai Tạng làm bí mật cát tường bậc nhất, hết thảy thân gia trì pháp môn ngồi trên đài hoa ấy’. Như vậy, chín phẩm sen nơi Cực Lạc thật đã hiển thị mật ý của Đại Nhật Như Lai: toàn thể đều là bí mật cát tường tối thắng.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, mười phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi hoan hỷ tin ưa, lễ bái, quy mạng, dùng tâm thanh tịnh tu Bồ Tát hạnh. Chư thiên, người đời ai chẳng cung kính. Nếu nghe tên tôi, sau khi hết tuổi thọ sẽ sanh nhà tôn quý, các căn chẳng khuyết, thường tu phạm hạnh thù thắng. Nếu chẳng được thế, chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 25: trời người lễ kính; nguyện 26: nghe tên được phước; nguyện 27: tu hạnh nguyện thù thắng)

 Giải: Chương này gồm ba nguyện từ chữ ‘nghe danh hiệu tôi’ đến ‘không ai chẳng cung kính’ là nguyện 25 ‘trời người lễ kính’; từ chữ ‘nếu nghe tên tôi’ đến ‘các căn chẳng khuyết’ là nguyện 26 ‘nghe tên được phước’; phần còn lại là nguyện 27 ‘tu hạnh nguyện thù thắng’.

Nguyện thứ mười tám ‘mười niệm ắt vãng sanh’ ở phần trước là chánh nhân vãng sanh, là cốt lõi của 48 nguyện. Hai nguyện 19 và 20 triển khai nguyện 18. Nguyện 21 đặc biệt chú trọng những chúng sanh có đủ túc nghiệp: nếu biết hối lỗi phát tâm Bồ Đề, nhất tâm chuyên niệm cũng đều được vãng sanh, chẳng đọa ác đạo nữa. Nguyện 23 chuyên vì phụ nữ: nghe danh phát lòng tin trong sạch, phát tâm Bồ Đề cầu sanh Tịnh Độ, khi tuổi thọ hết chuyển thành thân nam, vãng sanh Cực Lạc. Những nguyện trên đều là nghe danh phát tâm, được vãng sanh Tịnh Độ, toàn là những sự lợi ích bậc thượng; chương này nói về sự lợi ích bậc hạ. Ấy là vì chúng sanh căn khí chẳng đồng nên khi nghe danh phát tâm tín ưa khác nhau, hoặc là do đại tâm chẳng vững vàng, hoặc do tín nguyện chẳng sâu, hoặc do trì niệm chẳng chuyên đến nỗi chẳng thể hoàn toàn khế hợp các đại nguyện của Phật Di Đà như: mười niệm ắt vãng sanh v.v... Vì vậy, đời sau họ chưa thể thoát khỏi sanh tử, chỉ có thể đạt được phước báo trong hiện tạivị lai nên phước được hưởng thua kém các nguyện trước.

Chữ ‘tu Bồ Tát hạnh’ trong nguyện 25 chỉ lục độ, vạn hạnh, đây là tu rộng rãi nhiều thứ điều lành. Kinh này dạy ba bậc vãng sanh đều phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm. Do phát tâm là vua của các nguyện, trì danh là hạng nhất trong các hạnh nên nếu khuyết những chánh nhân vãng sanh đó thì dẫu có làm các điều thiện một cách rộng lớn nhưng lại chẳng chuyên, nhiều nhưng không tinh nên chẳng khế hợp bổn nguyện của Phật Di Đà, khó bề chứng đạo ngay trong đời này. Do đó, chỉ được trời, người cung kính mà thôi.

Sách Đại Luận giảng câu ‘sanh nhà tôn quý’ trong nguyện hăm sáu như sau: ‘Sanh dòng sát lợi thì có thế lực, sanh nhà bà la môn thì có trí huệ; sanh nhà cư sĩ thì giàu có lớn nên có thể làm lợi ích chúng sanh’. Sách Hội Sớ cũng bảo: ‘Sanh nhà hạ tiện bị đời khinh rẻ, chẳng thể tạo lợi ích rộng rãi’. Vì vậy, ‘nghe danh được phước’đời sau sanh trong nhà tôn quý. ‘Các căn’ là sáu căn: mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, ý.

Tiếp đó là nguyện 27. ‘Phạm hạnh’: Phạm nghĩa là thanh tịnh. Phạm hạnh là hạnh thanh tịnh vô dục. Chư thiên đoạn trừ dâm dục nên được gọi là Phạm thiên. Hạnh đoạn được dâm dục như Phạm thiên thì gọi là “phạm hạnh”. Sách Pháp Hoa Sớ của ngài Gia Tường giảng: ‘Có người bảo hết thảy các giới là phạm hạnh, hoặc bảo chỉ thực hành giới đoạn trừ dâm dụcphạm hạnh. Vì vậy, kinh Đại Phẩm dạy: ‘Dâm dục còn chướng ngại sanh làm Phạm thiên, huống hồ là Bồ Đề’.

Các ý kiến trên đây đều cho rằng ly dụcphạm hạnh; nhưng nếu hiểu sâu xa hơn, muôn hạnh để chứng Niết Bàn đều là phạm hạnh. Pháp Hoa Sớ của ngài Gia Tường có câu: ‘Tướng của phạm hạnh, tiếng Phạn gọi là Niết Bàn, chính là căn bản pháp luân đại Niết Bàn. Thực hành pháp ấy thì là phạm hạnhđạt đến Niết Bàn vậy’. Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 17 cũng giảng: ‘Phạm là Niết Bàn. Phạm hạnh nghĩa tu đạt trọn vẹn Đại Niết Bàn nên gọi là Phạm hạnh’. Cả hai bộ kinh sớ trên đều cho rằng hạnh đạt đến Niết Bànphạm hạnh. Đó mới là nghĩa sâu xa của chữ Phạm Hạnh, chứ chẳng hạn cuộc trong trì giới hay đoạn dục mới là phạm hạnh. Chữ ‘phạm hạnh thù thắng’ trong lời nguyện này lại có hai nghĩa:

* Do đoạn trừ dâm dục, lễ Phật, niệm Phật, phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm, hướng đến diệu hạnh Đại Niết Bàn căn bổn pháp luân. Một phen nghe danh hiệu Phật liền được đầy đủ công đức như vậy. Điều này chứng tỏ Phật hiệu đầy đủ vạn đức.

Hơn nữa, công đức nghe danh hiệu vi diệu khó lường như kinh Tôn Thắng Đà Ra Ni dạy: ‘Các loài chim bay, súc sanh, hàm linh một phen nghe đà ra ni này thoảng qua tai, hết một thân ấy liền chẳng thọ lại nữa’. Kinh Niết Bàn cũng nói: ‘Đại Niết Bàn này cũng giống như thế. Nếu có chúng sanh một phen nghe được, trong bảy kiếp sau chẳng đọa đường ác’. Một phen được nghe đã đạt công đức đến mức như vậy, huống hồ nghe xong lại tin nhận thì công đức càng lớn lao hơn nữa. Một chữ ‘nghe’ trong kinh này chẳng chỉ có nghĩa là ‘nghe’ xuông mà còn có nghĩa là ‘tin nhận’. Vì vậy, người nghe danh hiệu Phật dẫu đời này chẳng được vãng sanh thì đời sau cũng sẽ thường tu phạm hạnh thù thắng

 Chánh kinh: Lúc tôi làm Phật, trong nước không có danh từ bất thiện. Tất cả chúng sanh sanh trong nước tôi đều đồng một tâm, trụ nơi Định Tụ, vĩnh viễn thoát khỏi nhiệt não, tâm được thanh lương, hưởng thọ khoái lạc như là lậu tận tỳ kheo. Nếu họ khởi tưởng niệm tham chấp cái thân thì chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 28: nước không sự bất thiện; nguyện 29: trụ chánh định tụ; nguyện 30: vui như lậu tận; nguyện 31: chẳng tham chấp thân)

 Giải: Nguyện 28 đến nguyện 31 trong chương này là những nguyện dành cho chúng sanh cõi Cực Lạc, thể hiện công đức thọ dụng của chúng sanh trong cõi Cực Lạc. Chương này gồm bốn nguyện: ‘Trong nước không có danh từ bất thiện’ là nguyện 28 ‘nước không có sự bất thiện’; từ đó đến chữ ‘trụ trong định tụ’ là nguyện 29 ‘trụ chánh định tụ’; từ đấy đến chữ ‘như là lậu tận tỳ kheo’ là nguyện 30 ‘vui như lậu tận’; phần còn lại là nguyện 31 ‘chẳng tham đắm thân’.

Nguyện 28 ‘nước không có danh từ bất thiện’ ý nói: cõi Cực Lạc còn không có danh từ bất thiện huống là thật có sự bất thiện? Long Thọ Đại Sĩ dạy: ‘Cõi đức Phật ấy không có danh từ ác, cũng không có nỗi sợ ác đạo, nữ nhân; cho đến chẳng có ác tri thức và các đường ác’, nghĩa là: cõi Cực Lạc không có các điều bất thiện. Vãng Sanh Luận lại nói: ‘Nên biết rằng quả báo Tịnh Độ lìa khỏi hai thứ tị hiềm: một là thể, hai là danh. Thể có ba thứ: một là người Nhị Thừa, hai là nữ nhân, ba là người chẳng đủ các căn. Do không có ba lỗi này nên gọi là lìa được cái thể của tị hiềm. Danh cũng có ba thứ, chẳng những không có ba thể mà còn chẳng nghe ba thứ danh từ Nhị Thừa, nữ nhân, các căn chẳng đủ nên lìa được cái danh của tỵ hiềm’. Câu ‘cái danh của tị hiềm’ được dùng trong Vãng Sanh Luận ám chỉ câu ‘chẳng có danh từ bất thiện’ trong lời nguyện ở đây. Sách Sớ Sao lại bảo: ‘Do tai chỉ nghe vạn đức hồng danh của chư Phật, các thứ danh hiệu tốt lành của Bồ Tát, Thanh Vănchư thiên, thượng nhân nên các danh tự ba ác chưa từng nghe lọt qua tai’. Tai chẳng nghe tiếng ác nên bảo là ‘chẳng có danh từ bất thiện’.

Hơn nữa, kinh A Di Đà dạy: ‘Cõi nước Phật ấy còn không có cái tên ác đạo huống là thật có! Các loài chim ấy đều do A Di Đà Phật vì muốn khiến cho pháp âm được tuyên lưu nên biến hiện ra’. Linh Phong đại sư đã giảng câu này rất tường tận trong sách Di Đà Yếu Giải như sau:

‘Hỏi: Các loài như bạch hạc v.v... chẳng phải là tên ác đạo hay sao?

Đáp: Chúng đã chẳng phải là tội báo thì mỗi mỗi danh tự đều diễn bày công đức của Như Lai, nghĩa là: cứu cánh bạch hạc v.v... không danh tự nào chẳng phải là tiếng tôn xưng tánh đức, há có phải là ác danh đâu!’.

Ý ngài nói: Trong kinh có câu ‘cõi ấy thường có các loài chim nhiều màu kỳ diệu như bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, chim cộng mạng’ nên mới có kẻ hoạnh họe: Cõi ấy đã có các loài chim như bạch hạc v.v... thì những cái tên như bạch hạc v.v... ấy há chẳng phải là cái tên của ác báo hay sao?

Đáp rằng: Kinh dạy: ‘Ông chớ cho rằng những loài chim ấy thật do tội báo sanh ra’, những loài chim như bạch hạc.... đã chẳng phải do tội báo sanh ra thì những danh từ như: bạch hạc… chỉ là giả danh, cũng chẳng phải là ác danh. Các loài chim ấy đều từ tánh đức của Như Lai hóa hiện nên tên gọi của chúng biểu thị tánh đức của Như Lai. Đó chính là mỹ hiệu, chẳng nên bảo là ác danh.

Lại như Quán kinh dạy: ‘Như ý châu vương tỏa ra quang minh kim sắc vi diệu, quang minh ấy hóa ra chim có màu như trăm thứ báu’ thì y báo, chánh báo cõi Cực Lạc đều được trang nghiêm bởi Quả Giác của Như lai. Các loài chim ấy đều do Phật Di Đà biến hóa ra. Cõi ấy mỗi sắc, mỗi hương, mỗi hạt bụi, mỗi danh từ không thứ nào chẳng là Trung Đạo, đều là toàn thể đại dụng của pháp giới chẳng thể nghĩ bàn. Vì vậy, mỗi một danh tự trong cõi nước kia đều thể hiện tánh đức của Như Lai.

Như Lai chứng nghiệm pháp giới đến cùng tột, soi tột cùng nguồn tâm, công đức hoàn thiện. Do một thứ đã chơn thật thì hết thảy đều chơn thật, một thứ đã cứu cánh thì hết thảy đều cứu cánh. Lại do giả danh hiển thị toàn vẹn Thật Pháp nên mỗi một danh tự trong cõi kia đều là cứu cánh. Bạch hạccứu cánh bạch hạc, chim cộng mạngcứu cánh cộng mạng. Các loài chim ấy đều hiển thị tánh đức của Như Lai nên tên của chúng tuy là giả danh nhưng cũng là tiếng tôn xưng tánh đức, nào phải đâu là ác danh ư!

Nguyện 29: ‘Tất cả chúng sanh sanh trong cõi tôi đều đồng một tâm, trụ trong Định Tụ’ là kết quả của nguyện thứ năm ‘không sai biệt’: Sanh trong cõi ấy, hình mạo không khác nhau, đều giống như nhau. Hình mạo đã giống nhau, tâm cũng giống hệt. Tâm đã đồng nhất nên cùng trụ trong Định Tụ. Định Tụ nghĩa là Chánh Định Tụ, là một trong tam tụ. Tam tụ bao gồm hết thảy chúng sanh. “Tụ” có nghĩa là những gì giống nhau được gom lại. Chúng sanh được chia làm ba loại nên gọi là “tam tụ”. Cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa đều nói đến tam tụ, nhưng có nhiều thuyết:

 a. Thuyết thứ nhất: Tam tụ là:

* Chánh định tụ: những người nhất định chứng ngộ.

* Tà định tụ: hoàn toàn chẳng chứng ngộ.

* Bất định tụ: Ở giữa hai hạng trên, hữu duyên thì chứng ngộ, vô duyên ắt chẳng chứng ngộ.

 b. Thuyết thứ hai là như sách Hội Sớ nói: ‘Định Tụ nói đầy đủ là Chánh Định Tụ, cũng gọi là bất thối chuyển, tức là Bồ Tát a bệ bạt trí. Vì sao gọi là chánh định? Phàm hết thảy chúng sanh tuy căn tánh muôn phần sai khác nhưng nếu phân loại thì chẳng ngoài ba thứ: ắt đọa trong sáu đườngtà định, nếu thăng trầm tùy duyên thì là bất định, quyết định đạt đến Bồ Đề thì gọi là chánh định’.

 c. Thuyết thứ ba là của Khởi Tín Luận: Từ phàm phu đến hạng chưa đạt bậc Thập Tín, chẳng tin nhân quảtà định. Từ Thập Trụ trở lên là chánh định, hạng Thập Tínbất định tánh. Thuyết này là thuyết của Đại Thừa Thật giáo.

Phẩm hăm hai kinh này chép: ‘Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân hoặc đã sanh, hoặc sẽ sanh thảy đều trụ trong Chánh Định Tụ, quyết định chứng A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề’. Như vậy, được sanh về cõi kia liền thuộc vào chánh định tụ, ắt chứng quả Đại Niết Bàn.

Do đó, ngài Thiện Đạo nói: ‘Chẳng đoạn phiền não mà đắc Niết Bàn, điều này thể hiện tánh đức tự nhiên của cõi An Lạc vậy’. Long Thọ Đại Sĩ cũng nói: ‘Dùng nhân duyên tin Phật nguyện sanh Tịnh Độ, khởi tâm lập đức, tu các hạnh nghiệp. Do Phật nguyện lực nên liền vãng sanh. Do Phật lực gìn giữ nên liền nhập Đại Thừa chánh định tụ. Chánh Định Tụ chính là địa vị a bệ bạt trí bất thối vậy’. (Ngài Thiện Đạo còn căn cứ vào lời nguyện này và bản Đường dịch bảo rằng nguyện này còn ẩn tàng mật nghĩa: ngay hiện đời chứng được bất thối. Kinh nói ‘hoặc sẽ sanh’ là chỉ người đang cầu vãng sanh cũng được nhập chánh định tụ. Đây là một thuyết rất kỳ đặc, trong phẩm 22, tôi sẽ trình bày tường tận).

Câu ‘xa lìa nhiệt não, tâm được thanh lương, hưởng thọ khoái lạc như là lậu tận tỳ kheo’ chính là nguyện 30 ‘vui như lậu tận’. ‘Nhiệt não’ nghĩa là bị sự rất khổ bức bách khiến thân bức rức, tâm phiền muộn nên gọi là “nhiệt não”. Phẩm Tín Giải của kinh Pháp Hoa bảo: ‘Do vì ba khổ nên trong sanh tử, chịu các nhiệt não’. Nay trong cõi Cực Lạckhông có các khổ, chỉ hưởng các điều vui’ nên vĩnh viễn xa lìa nhiệt não. ‘Thanh lương’ là thanh tịnh mát mẻ, trái nghĩa với ‘nhiệt não’. Quyển hăm hai của luận Đại Trí Độ giảng: ‘Người bị cơn nóng dữ làm khổ nếu được vào trong ao trong mát thì mát dịu, thư thái, không bị nhiệt não nữa’. Ao trong mát (thanh lương trì) ví cho Niết Bàn. Nay người vãng sanh được vào trong ao thanh lương lớn của cõi kia nên đều ‘được tâm thanh lương’.

Chữ ‘lậu’ trong ‘lậu tận tỳ kheo’ có nghĩa là rò rỉ, rịn chảy, lậu là tên khác của phiền não. Phiền não hiện hành khiến tâm luôn bị rò rỉ, lưu tán chẳng ngớt nên gọi phiền não là ‘lậu’. Lại do sáu cái cửa: mắt, mũi v.v… ngày đêm thường tuôn tràn phiền não nên gọi là “lậu”. Dùng thánh trí để đoạn sạch các phiền não ấy thì gọi là ‘lậu tận’. Năm thứ đầu của lục thônghữu lậu thông, riêng mình lậu tận thôngvô lậu thông. Tỳ kheo đoạn sạch phiền não được xưng là ‘lậu tận tỳ kheo’, tức là A La Hán.

Pháp Tạng Bồ Tát nguyện chúng sanh trong cõi ngài huởng vui vô cực, nhưng với những sự vui sướng ấy, tâm chẳng chấp trước như bậc A La Hán nên bảo là ‘như là tỳ kheo lậu tận’. Dùng hình ảnh này để ví họ hưởng thọ các vui nhưng không nghĩ là vui. Ngài Nghĩa Tịch gọi nguyện này là nguyện ‘hưởng vui chẳng nhiễm’, ngài Cảnh Hưng gọi là nguyện ‘hưởng lạc không lầm lỗi’ đều cùng ngụ ý này.

Nguyện 31 là ‘chẳng tham chấp thân’: không khởi tưởng niệm tham chấp thân. Phần nhiều phàm phu tu hành hay bị mắc vào Thân Kiến. Thân Kiếnkiến chấp lớn nhất trong kiến hoặc. Kiến hoặc chẳng đoạn, chẳng thể vào dòng thánh, tất nhiên thường lưu chuyển sanh tử, không mong ngày ra. Tham chấp thân là chấp có thân ta nên tham đắm, so đo. Sách Hội Sớ giảng: ‘Vọng chấp tự thân, so đo yêu, ghét, thuận, nghịch thì gọi là tham chấp. Đấy gọi là ngã chấp’: Phàm phu vọng tưởng thân mình chính là ngã rồi tham chấp, so đo, ham thích, giữ gìn, bồi bổ, thuận với mình thì sanh lòng yêu thích, nghịch thì sanh giận giữ. Toàn thể các thứ phân biệt, tham đắm ấy đều là phiền não. Sách Vãng Sanh Luận bảo: ‘Xa lìa ngã tâm, tham trước thân mình, xa lìa tâm chẳng an chúng sanh, xa lìa tâm cúng dường cung kính thân mình. Cần biết rằng: Ba pháp ấy đều chướng ngại Bồ Đề tâm nên phải xa lìa’. Ý nói: cả ba cái tâm: tham chấp tự thân, tâm chẳng an chúng sanh, tâm cúng dường cung kính thân mình đều chướng ngại tâm Bồ Đề. Kinh này lấy ‘phát tâm Bồ Đề, nhất hướng chuyên niệm’ làm tông; nếu tâm Bồ Đề bị chướng ngại ắt chẳng được vãng sanh nên Phật nguyện rằng: ‘Nếu khởi niệm tưởng tham chấp thân mình thì chẳng lấy Chánh Giác’.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, [người] sanh trong nước tôi thiện căn vô lượng, đều được thân kim cang na la diên, sức kiên cố, thân và đảnh đều có quang minh chiếu rực, thành tựu hết thảy trí huệ, đạt được vô biên biện tài, khéo bàn các pháp bí yếu, thuyết kinh, hành đạo tiếng vang như chuông. Nếu chẳng được vậy chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 32: thân na la diên; nguyện 33: quang minh, trí huệ, biện tài; nguyện 34: khéo bàn pháp yếu)

 Giải: Chương này gồm ba nguyện. Câu ‘sanh trong nước tôi thiện căn vô lượng’ là câu nói chung. Thiện căn là điều thiện nơi ba nghiệp thân, khẩu, ý kiên cố chẳng thể nhổ trốc được nên gọi là căn. Đại sư La Thập bảo: ‘Thiện tâm kiên cố, sâu chẳng thể nhổ trốc đi được nên gọi là căn’. Lại vì ‘thiện’ có thể sanh ra diệu quả và sanh ra các điều thiện khác nên gọi là ‘căn’.

Câu ‘đều có thân kim cang na la diên, sức kiên cố’ là nguyện băm mốt ‘thân na la diên’, ngài Cảnh Hưng gọi là ‘nguyện được thân kiên cố’. ‘Kim Cang’, tiếng Phạn là bạt triết ra (vajra) hoặc phiên là phạt triết ra, dịch là kim cang. Sách Tam Tạng Pháp Số, quyển 5 giảng: ‘Là chất cứng rắn nhất trong các loại vàng nên gọi là kim cang’. Sách Đại Tạng Pháp Số, quyển 41 lại giảng: ‘Tiếng Phạn là bạt triết ra, Tàu dịch là Kim Cang. Thứ vật báu này từ vàng sanh ra, màu như tử anh, đem nung trăm lần cũng chẳng tiêu hủy, cứng nhất, bén nhất, cắt được cả ngọc, rất hiếm trong đời nên được coi là quý’ (tức là đá kim cương, tục gọi là cô thạch, độ cứng rất cao (9)).

Kim Cang còn là cách gọi tắt chữ ‘kim cang xử’. Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 1 nói: ‘Phạt triết ra chính là kim cang xử’. Kim cang xử nguyên là binh khí của Ấn Độ, Mật tông dùng nó để biểu thị trí cứng chắc, sắc bén. Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 1 còn giảng thêm: ‘Phạt triết ra là kim cang trí ấn của Như Lai’. Nhân Vương Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ quyển 1 lại bảo: ‘Tay cầm kim cang xử để biểu thị phát khởi chánh trí giống như kim cang’. 

Xử có vô lượng thứ khác nhau: vàng, bạc, đồng, sắt, đá, thủy tinh, gỗ pháp đà la v.v... Xử của Đế Thích làm bằng kim cang. Vị lực sĩ cầm kim cang xử được gọi là Chấp Kim Cang, hay gọi gọn là Kim Cang. Sách Hạnh Tông Ký, quyển 2 chép: ‘Kim Cang là vị lực sĩ theo hầu, do tay bưng kim cang xử nên thành tên’.

‘Na La Diên’ (Narayana) dịch là Thắng Lực, hoặc Kiên Lao, có bốn nghĩa:

a. Là tên khác của Phạm thiên vương.

b. Là như La Thập đại sư bảo: ‘Lực sĩ cõi trời gọi là Na La Diên, đoan chánh, hùng mạnh’.

c. Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 10 giảng: ‘Na La Diên là một trong nhiều biệt danh của Tỳ Nữu thiên (Vishnu), tức là biệt danh của Na La Diên thiên. Vị trời này do Phật hóa ra’. Sách Bí Tạng Ký lại bảo: ‘Na La Diên thiên có ba mặt, thân sắc xanh pha vàng, tay phải cầm bánh xe, cỡi chim ca lâu la’.

d. Niết Bàn Kinh Sớ, quyển 7 nói: ‘Na La Diên: Tàu dịch là Kim Cang’ là một trong mười chín vị Chấp Kim Cang, kinh Duy Ma Cật ghi là Na La Diên Bồ Tát.

Đa phần các nhà chú giải kinh thời trước cho rằng thân và tâm chúng sanh ảnh hưởng lẫn nhau: hễ thân có sự sướng, khổ, tâm ắt cũng vui, buồn theo; hễ tâm mừng, lo, thân cũng sẽ khỏe khoắn hay hao tổn theo. Ngài Pháp Cứu nói: ‘Như Lai thân lực vô biên như tâm lực vậy’. Kinh Bí Mật Lực Sĩ cũng chép: ‘Thân của Như Lai chắc chắn như kim cang, cứng chắc vô cùng chẳng thể phá hoại được’. Vì vậy, Phật nguyện chúng sanh trong nước ba nghiệp trang nghiêm, thân cứng chắc như kim cang, sức mạnh mẽ như Na La Diên, đều cùng được thân nghiệp thù thắng vậy.

Trong Mật giáo, Chấp Kim Cang, Kim Cang Thủ, Kim Cang Tát Đỏa v.v... chỉ là những cách dịch khác nhau của cùng một tên. Nhân Vương Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ, quyển thượng chép: ‘Vị Kim Cang Thủ ấy chính là Phổ Hiền Bồ Tát. Tay cầm kim cang xử tiêu biểu phát khởi chánh trí giống như kim cang đoạn được chướng ngã pháp vi tế’. Kinh Thánh Vô Động Tôn Đại Oai Nộ Vương Bí Mật Đà Ra Ni cũng chép: ‘Vị Kim Cang Thủ này là Pháp Thân Đại Sĩ nên có tên là Phổ Hiền, liền từ đức Như Lai mà được kim cang xử. Kim cang xử ấy do ngũ trí hợp thành nên ngài có tên là Kim Cang Thủ’.

Với lời nguyện ‘thân kim cang na la diên’ trong kinh đây, nếu hiểu theo quan điểm Hiển giáo, ta có thể hiểu theo các cách giải thích ở phần trước: thân kiên cố đại lực như thân của Na La Diên lực sĩ hay thân của thần Na La Diên; nếu hiểu theo mật nghĩa thì kim cangna la diên đều là Chấp Kim Cang.

Xét về ý nghĩa gốc trong Mật giáo, Kim Cang Na La DiênKim Cang Tát Đỏa, tức là Phổ Hiền, là Pháp Thân đại sĩ. Hơn nữa, Mật giáo gọi Kim Cang là tướng oai mãnh do Phật thị hiện. Vì vậy, câu ‘thân Kim Cang Na La Diên’ có thể hiểu là được thân kim cang hoặc ‘kim cang thể’ giống hệt như đức Phật.

Chữ ‘kim cang thân’ chỉ thân kim cang bất hoại tức là thân Phật. Kinh Niết Bàn nói: ‘Thân của Như Lai là thân thường trụ, thân chẳng thể hoại, là thân kim cang’‘chư Phật Thế Tôn siêng năng tu tập chứng được thân kim cang’. Bản Tân dịch kinh Nhân Vương ghi: ‘Thế Tôn đạo sư kim cang thể, tâm hạnh tịch diệt chuyển pháp luân’. Sách Lương Phần Sớ chép: ‘Kim cang thể kiên cố trọn vẹn, thể là thân. Thân Phật kiên cố giống như kim cang’.

Nếu hiểu theo quan điểm Mật giáo thì những kẻ được vãng sanh sẽ đạt được thân kim cang bất hoại như Phật nên họ đều thọ mạng vô lượng, thân có sức kim cang kiên cố.

Câu ‘thân đảnh đều có quang minh chói rực, thành tựu hết thảy trí huệ, đạt được vô biên biện tài’ là nguyện 31 ‘quang minh trí huệ biện tài’. Đức Phật ấy thọ mạng vô lượng, trời người trong nước cũng thọ mạng vô lượng. Đức Phật ấy quang minh cũng vô lượng nên nhân dân cõi ấy thân và đảnh đều có quang minh chiếu rực. Chủ (Phật) và bạn (hết thảy hiền thánh, nhân dân trong nước) đều như một.

Thêm nữa, tự chiếu sáng gọi là Quang, chiếu sáng vật khác là Minh. Quang minh có hai công dụng: một là trừ tối, hai là hiện pháp. Quang minh của Phật là tướng trí huệ (xem Vãng Sanh Luận, quyển hạ). Kinh Siêu Nhật Minh Tam Muội, quyển hạ cũng dạy: ‘Nên biết rằng: đại trí phát ra ngoài chiếu soi pháp giới thì gọi là quang minh’. Kinh Niết Bàn cũng nói: ‘Quang minh là trí huệ’. Đại Huệ thiền sư còn bảo: ‘Chỉ dùng ánh sáng này để tuyên thuyết diệu pháp, pháp này chính là quang minh ấy, chẳng lìa khỏi quang minh này mà thuyết pháp ấy’.

Thân và đảnh của trời và người cõi kia đều có thường quang chính là do trí huệ thành tựu. Do được Phật lực gia hộ, bảo hựu nên trí huệ thù thắng. Với những trí: Phật trí, bất khả tư nghị trí, bất khả xưng trí, Đại Thừa quảng trí, trí thù thắng tối thượng không ai bằng không ai sánh nổi đều hiểu rõ cả nên bảo ‘thành tựu hết thảy trí huệ’ và ‘đạt được vô biên biện tài’. ‘Biện tài’ là khả năng diễn thuyết pháp nghĩa một cách hay khéo. Tịnh Ảnh Sớ giảng chữ ‘biện tài’ như sau: ‘Nói năng biện luận rành rẽ, chữ dùng tài tình nên gọi là biện tài’. Ngoài ra, các trí biện tài thuyết pháp của Bồ Tát được gọi chung là tứ vô ngại trí, tứ vô ngại giải hoặc tứ vô ngại biện. Tứ vô ngại là:

 a. Pháp vô ngại: Giáo pháp được giảng ra luôn gồm: danh (tên gọi của sự vật), cú (câu nói, câu văn), văn (đoạn văn). Giáo pháp không bị úng trệ thì gọi là pháp vô ngại.

 b. Nghĩa vô ngại: hiểu biết nghĩa lý của giáo pháp được giảng nhưng không vướng mắc vào đó thì gọi là nghĩa vô ngại.

 c. Từ vô ngại: Thông đạt rành rẽ các ngôn ngữ của từng địa phương thì gọi là từ vô ngại.

 d. Nhạo thuyết vô ngại: dùng ba thứ trí trên để giảng nói theo ý muốn của chúng sanh một cách tự tại. Nhạo thuyết vô ngại còn gọi là biện vô ngại. Thuận theo chánh lý phát ra lời nói vô ngại nên gọi là biện vô ngại.

 Nhân dân trong cõi ấy do thành tựu hết thảy trí huệ nên đắc vô ngại biện tài, dùng tứ vô ngại biện tài để hoằng diễn pháp yếu.

Câu ‘khéo bàn các pháp bí yếu’ là nguyện 34 ‘khéo bàn pháp yếu’. “Bí” nghĩa là bí áo, tức là điểm sâu xa, huyền diệu của pháp môn. Bí cũng có nghĩa là bí mật, tức là những điểm ẩn mật của pháp môn, chẳng dễ chỉ bày cho người khác. Sách Pháp Hoa Văn Cú, quyển 5 giảng chữ ‘bí yếu’ như sau: ‘Điều Phật canh cánh trong tâm hơn bốn mươi năm, người khác chẳng hề biết là Bí. Đạo dẫn thẳng đến Nhất Thừa nhiếp trọn các pháp môn khác gọi là Yếu’. Trong Pháp Hoa Sớ, quyển 9, ngài Gia Tường lại giảng rằng: ‘Do ngôn ngữ giản dị, tinh yếu nhưng chứa đựng trọn vẹn nghĩa lý nên bảo là Yếu. Trước đây vốn đã giấu kín chẳng truyền ra nên gọi là Bí’. Phẩm Pháp Sư kinh Pháp Hoa có câu: ‘Kinh này là tạng bí yếu của chư Phật, chẳng thể lưu truyền, dạy bừa bãi cho người khác’.

Ngoài ra, Mật tông còn được gọi là Bí Mật tôngMật pháp chính là tạng bí yếu của chư Phật, chẳng thể đem dạy cho người khác một cách khinh xuất được. Nay các vị Bồ Tát cõi Cực Lạc ‘khéo bàn các pháp bí yếu’ nghĩa là các vị khéo khai diễn hết thảy pháp bí yếu rất sâu dù hiển hay mật.

‘Hành đạo’kinh hành. Vừa đi kinh hành vừa tụng kinhpháp Thường Hành tam muội của tông Thiên Thai

‘Chuông’ là một trong những loại được gọi là ‘kiền chùy’ trong tiếng Phạn. Chuông là pháp khí để nhóm chúng, dùng tiếng chuông làm hiệu lệnh nhóm chúng. Tiếng chuông lại có công đức thù thắng như kinh Tăng Nhất A Hàm dạy: ‘Khi đánh chuông, hết thảy các nỗi khổ trong ác đạo được ngưng nghỉ’. Sách Phật Tổ Thống Kỷ, quyển sáu cũng có chép: ‘Người lúc sắp chết nghe tiếng chuông, tiếng khánh thì chánh niệm được tăng thêm’. Câu ‘tiếng vang như chuông’ ý nói thanh âm của người thuyết pháp như tiếng hồng chung trong trẻo, thánh thót, hùng hồn, liên tục vang xa, khua tan đêm dài, đánh thức những kẻ đang mê mệt khiến họ phát sanh thiện tâm, ngưng ngớt các khổ. Âm thanh thuyết phápcông đức như tiếng chuông. Ngoài ra, trên thân chuông còn khắc những chơn ngôn, những chữ chủng tử, kinh kệ Đại Thừa. Gióng một tiếng chuông khác nào đọc lên hết thảy kinh pháp Hiển, Mật được ghi trên thân chuông. Dùng những điều đó để sánh ví người thuyết pháp: trong mỗi một âm thanh đều hàm chứa vô biên diệu nghĩa.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, tất cả chúng sanh sanh trong nước tôi rốt ráo ắt đạt bậc Nhất Sanh Bổ Xứ, ngoại trừ [những người có] bổn nguyện vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ, hóa đạo hết thảy hữu tình khiến chúng đều phát tín tâm, tu Bồ Đề hạnh, hành Phổ Hiền đạo. Tuy sanh trong thế giới phương khác nhưng vĩnh viễn thoát khỏi đường ác, hoặc thích thuyết pháp, hoặc thích nghe pháp, hoặc hiện thần túc, tùy ý tu tập không gì chẳng viên mãn. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 35: Nhất Sanh Bổ Xứ; nguyện 36: giáo hóa tùy ý)

 Giải: Trong chương này, câu ‘tất cả chúng sanh sanh trong nước tôi rốt ráo ắt đạt bậc Nhất Sanh Bổ Xứ’ là nguyện 35: Nhất Sanh Bổ Xứ.

Nhất sanh Bổ Xứ’ là chỉ còn một đời nữa sẽ thành Phật như hiện tại Di Lặc Đại Sĩ đang ở nội viện trời Đâu Suất chỉ còn một đời nữa là thành Phật, tức là như kinh Pháp Hoa nói: ‘Chỉ còn một đời nữa, sẽ đắc Nhất Thiết Trí’ nên gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ. Sách Hội Sớ lại bảo: ‘Nhất Sanh Bổ Xứđịa vị Đẳng Giác. Do vẫn còn một phần vô minh (nói đủ là một phần Sanh Tướng Vô Minh) chưa phá nên bảo là Nhất Sanh. Thế lực của phẩm vô minh ấy lớn nhất. Dùng kim cang trí phá được cái tâm duy nhất còn lại sau cùng ấy thì liền đạt địa vị Diệu Giác nên gọi là Bổ Xứ’.

Nếu xét theo Mật giáo thì ‘nhất’ là lý Nhất Thật. Trong Mật tông, Sơ Địa Bồ Tát trước hết chứng đắc tịnh Bồ Đề tâm, rồi từ cái lý Nhất Thật ấy xuất sanh vô lượng tam muội tổng trì môn, dần dần đạt đến địa vị Thập Địa (thập địa trong Mật giáo khác với Thập Địa trong Hiển giáo). Lại có địa vị thứ mười một là Phật địa. Do trong đời kế tiếp sẽ thành Phật nên gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ. Sách Đại Sớ, quyển sáu chép: ‘Tông của kinh này là nhất sanh, nghĩa là: ‘từ nhất mà sanh’. Nơi Sơ Địa, lúc đạt được tịnh Bồ Đề tâm, bèn từ nơi Nhất Thật phát sanh vô lượng vô biên tam muội tổng trì môn. Trong mỗi một địa vị như thế cũng lần lượt tăng trưởng giống như vậy cho đến khi hoàn mãn địa vị thứ mười, nhưng chưa đạt đến địa vị thứ mười một. Khi ấy, từ trong cảnh giới Nhất Thật mà phát sanh trọn vẹn hết thảy trang nghiêm, chỉ còn mỗi địa vị Như Lai là chưa chứng tri, phải một phen chuyển pháp tánh sanh (10) mới thành Phật nên gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ.

Đàm Loan đại sư lại nghĩ rất có thể là Bồ Tát cõi Cực Lạc chẳng lần lượt đạt từng địa vị mà chứng ngay địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ: ‘Cứ theo kinh này mà suy thì rất có thể Bồ Tát cõi ấy chẳng từ địa vị này đạt đến địa vị kia. Thứ tự thập địa của Bồ Tát chỉ là do Thích Ca Như Lai ứng theo căn cơ cõi Diêm Phù Đề mà dạy như vậy thôi. Tịnh độ phương khác không bắt buộc phải giống vậy’. Thuyết của ngài Đàm Loan đã thể hiện sâu xa sự viên giải viên tu của Bồ Tát cõi Cực Lạc: một địa vị chính là hết thảy địa vị vậy. Do đó, người sanh về Cực Lạc đều được bất thối chuyển, nhanh chóng vượt khỏi các địa vị, chứng trọn vẹn địa vị Bổ Xứ. Điều này thể hiện Phật Di Đà đại nguyện sâu xa, diệu đức khó lường.

Kế đó là nguyện 36 ‘giáo hóa tùy ý’. Như lời nguyện 35 đã nói: sanh về cõi ấy, ở yên trong cõi vui sướng, đều đạt địa vị Bổ Xứ, thành Đẳng Chánh Giác, nhưng mỗi vị Bồ Tát thành Phật đều có nguyện lực. Chẳng hạn như nếu có thệ nguyện mặc giáp hoằng thệ, trở vào uế độ phổ lợi quần sanh, giáo hóa hữu tình thì họ sẽ được nguyện lực của Phật Di Đà gia trì để tùy ý giáo hóa, không điều gì chẳng được viên mãn. Đấy chính là ý nghĩa của nguyện 36. Giáp là vật dụng được các chiến sĩ thời cổ khoác vào khi giao chiến để bảo vệ thân thể, chống lại tên, đá v.v... (áo chống đạn thời nay cũng là một loại giáp). Bồ Tát vào trong sanh tử hàng phục ma quân thì lấy thệ nguyện sâu rộng của chính mình làm giáp trụ. Do cái tâm hoằng thệ cứng rắn hơn sắt đá nên có thể dùng tâm ấy xông vào trận sanh tử. Với những kẻ được giáo hóa, kinh nói ‘đều khiến họ phát tín tâm’; ấy là do tín tâm là nguồn đạo, là mẹ của công đức vậy.

Bản Tiểu Bổn kinh này nói: ‘Vì các chúng sanh nói pháp hết thảy thế gian khó tin nổi này’. Đó là vì pháp môn Tịnh Độ cực viên, cực đốn, siêu tình ly kiến nên Tịnh Độ là pháp mà hết thảy thế gian khó tin tưởng được nổi. Kinh Tiểu Bổn còn chép: ‘Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này’ và: ‘Các ông đều nên tin nhận lời ta và lời chư Phật nói’. Do đó, bậc Đại Sĩ cõi Cực Lạc khi hoằng hóa trong thập phương đều lấy việc phát khởi lòng tin làm đầu.

Do ba bậc vãng sanh đều phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm nên câu ‘tu Bồ Đề hạnh’ gồm hai ý nghĩa trọng yếu: phát Bồ Đề tâmchuyên niệm. Tu Bồ Đề đại hạnh ắt phải do phát khởi Bồ Đề đại tâm, mà trong Bồ Đề hạnh thì nhất hướng chuyên niệm là quan trọng bậc nhất. Hết thảy Bồ Tát tu trọn muôn điều lành nhưng các vị Bồ Tát trong thập địa, dù ở địa vị nào vẫn chẳng hề rời bỏ việc niệm Phật.

Hơn nữa, Phổ Hiền Bồ Tát là bậc nhất trong các vị đại hạnh Bồ Tát nên phải giáo hóa hết thảy hữu tình ‘tu Phổ Hiền đạo’. Khuê Phong đại sư giảng chữ Phổ Hiền như sau: ‘Một là xét trên tự thể: thể tánh trọn khắp là Phổ, tùy duyên thành đức là Hiền. Hai là xét trong các địa vị thì khắp trọn tất cả không sót là Phổ, gần bằng với bậc đại thánh (Phật) là Hiền. Ba là xét về đương vị: đức không gì chẳng trọn vẹn là Phổ, điều phục, hòa nhã, thiện thuận là Hiền’. Vì vậy, trong kinh này, các vị đại Bồ Tát cùng đến tham dự pháp hội đều tuân tu đức hạnh của Phổ Hiền đại sĩ. Phổ Hiền đức chính là mười đại nguyện vương dẫn dắt về Cực Lạc, là đức tự lợi lợi tha chẳng có cùng tận. Đại sĩ cõi Cực Lạc chính mình đã tu hành Phổ Hiền hạnh đức lại còn dạy chúng sanh cõi khác cùng thực hành Phổ Hiền đạo.

Các vị Đại Sĩ như vậy của cõi Cực Lạc mặc giáp hoằng thệ, vào trong biển sanh tử ‘tuy sanh trong mười phương thế giới’ hoặc hiện thân trong uế độ nhưng được nguyện lực của Phật Di Đà gia trì nên ‘vĩnh viễn thoát khỏi ác đạo’, mỗi vị tùy theo ý mình thích mà thuyết pháp, hoặc nghe pháp, hoặc hiện thần thông v.v... ‘tùy ý tu tập’ đều được viên mãn. Chúng sanh được họ giáo hóa cũng đều chí tâm tin ưa, cầu sanh Tịnh Độ, phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, [người] sanh trong nước tôi, tất cả thức ăn, y phục, các thứ vật cúng, nghĩ tới liền có, không điều gì chẳng được mãn nguyện. Mười phương chư Phật ứng niệm nhận lấy sự cúng dường của người ấy. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 37: y thực tự đến; nguyện 38: ứng niệm thọ cúng)

 Giải: Đoạn này nói về nguyện 37: ‘Y thực tự đến’.

Chữ ‘thức ăn, y phục’ trích trong bản Tống dịch, ‘các thứ vật cúng’ trích từ bản Đường dịch. Nguyện hăm ba trong bản Hán dịch được ghi như sau: ‘Các vị Bồ Tát trong nước ta lúc muốn ăn thì cơm trăm vị tự nhiên hóa sanh trong bát bằng bảy báu hiện ra trước mặt. Ăn xong, bát tự nhiên biến mất’ (nguyện thứ hăm bốn trong bản Ngô dịch chép giống vậy). Nguyện thứ băm tám trong bản Ngụy dịch lại chép như sau: ‘Trời người trong nước muốn được y phục, hễ nghĩ đến liền có, tự nhiên trên thân khoác áo đẹp đẽ đúng pháp như Phật khen ngợi. Nếu còn phải cắt, may, đập, nhuộm, giặt giũ thì chẳng lấy Chánh Giác’. Bản hội tập này chọn lấy những nghĩa trọng yếu của năm bản dịch để tổng hợp thành nguyện này, đặt tên là nguyện ‘y thực tự đến’.

Sách Hội Sớ chú giải lời nguyện của bản Ngụy dịch như sau: ‘Vì sao Phật lại phát ra lời nguyện này? Vì ngài thấy trong các cõi, con người khổ sở muôn bề vì cái ăn cái mặc, bốn mùa chẳng được yên ổn, cả một đời nhọc nhằn tham cầu. Huống hồ cấy cây lúa xuống là vùi chết mấy ngàn sanh mạng, trong vạc đun vô lượng kén tằm, cứ thế mà chìm đắm mãi không biết đâu là bến bờ, chịu khổ vô cùng. Vì vậy, Phật nguyện rằng thánh chúng trong cõi ngài cơm, áo, nhà cửa tùy ý hiện ra trước mặt. Áo mặc, cơm ăn đều là pháp để trợ đạo’.

‘Các thứ vật cúng’ là hoa hương, tràng phan, lọng báu, chuỗi ngọc, đồ trải để nằm, thiên nhạc v.v… hết thảy vô lượng vô biên các thứ vật dùng để cúng dường thù thắng như vậy đều tùy ý hiện đến nhằm thỏa nguyện cúng dường như bản Ngô dịch chép: ‘Muốn được tự nhiên có muôn vật thì chúng đều hiện ra trước mặt để cầm đem cúng dường chư Phật’ hoặc như bản Tống dịch chép: ‘Ta dùng thần lực khiến các vật cúng này tự nhiên đến trước chư Phật ở phương khác, cúng dường mỗi đức Phật’. Vì vậy, hội bản ghi là: ‘Nghĩ tới liền có, không gì chẳng được mãn nguyện’.

Tiếp đó là nguyện 38 ‘ứng niệm thọ cúng’. Bản Tống dịch ghi nguyện này như sau: ‘Tất cả Bồ Tát phát đại đạo tâm muốn dùng chơn châu, anh lạc, lọng báu, tràng phan, y phục, ngọa cụ, thức ăn, thuốc men, hương hoa, kỹ nhạc để thừa sự, cúng dường vô lượng vô biên chư Phật Thế Tôn trong thế giới phương khác mà chẳng qua được chỗ các ngài thì ta ngay trong khi ấy khiến cho các đức Phật Thế Tôn đó đều duỗi cánh tay đến tận cõi ta nhận lấy sự cúng dường ấy khiến cho các Bồ Tát ấy mau chứng a nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề’. Lời nguyện trong bản Tống dịch thật đã hiển thị sâu xa thần lực của Phật. Còn như bản Ngụy dịch ghi: ‘Trong khoảng khởi lên một niệm, cúng dường vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn chư Phật Thế Tôn mà chẳng mất định ý’ là nói về tự lực. Như vậy, nhân dân cõi Cực Lạc hoặc do Phật lực gia bị hoặc do tự lực viên mãn đều có thể tùy lòng nghĩ tưởng cúng dường khắp các đức Phật.

Câu kinh: ‘Thập phương chư Phật ứng niệm nhận lấy sự cúng dường của người ấy’ đã hiển thị sâu xa ý nghĩa Phật và chúng sanh bất nhị, cảm ứng đạo giao: ý niệm cúng Phật vừa khởi lên, chư Phật đã nhận lấy rồi. Đốn tu, đốn chứng, nhân quả đồng thời.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, vạn vật trong nước nghiêm tịnh, quang lệ, hình sắc thù đặc, cùng vi cực diệu, chẳng thể tính kể. Các chúng sanh tuy có thiên nhãn mà có thể phân biệt được hình sắc, quang tướng, danh số và nói tổng quát được [những sự trang nghiêm ấy] thì chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 39: trang nghiêm vô lượng)

 Giải: Từ nguyện 39 đến nguyện 43 là những nguyện nói về công đức của cõi Phật.

Nguyện 39 là nguyện ‘trang nghiêm vô lượng’.

Sách Hội Sớ giảng nguyện này như sau: ‘Nghiêm là trang nghiêm, tịnh là thanh tịnh. Quang là quang minh, lệ là hoa lệ. Nghiêm tịnhthể không nhơ, quang lệ là hình tướng đặc biệt, lạ lùng. Dài, ngắn, vuông, tròn, lớn, nhỏ v.v... là Hình. Xanh, đỏ, trắng đen, đậm, nhạt là Sắc. Chẳng phải là thứ thế gian có được nên bảo là Thù Đặc’. Ý của sách Hội Sớ là: Thể của vạn vật chẳng cấu nhiễm nên bảo là ‘nghiêm tịnh’. Hình tướng, quang minh kỳ lạ, đẹp rực rỡ nên bảo là ‘quang lệ’. Những hình sắc ấy chẳng phải là thứ thế gian có nổi nên bảo là ‘hình sắc thù đặc’.

Sách Hội Sớ giảng tiếp: ‘Sự như cái chấm (sự tướng nhỏ nhặt như cái chấm nhỏ) đã tương tức diệu lý nên bảo là cùng vi. Tướng vô lậu, tướng Thật Tướng nên bảo là cực diệu’. Ý nói: Hết thảy sự tướng trong Cực Lạc dẫu một điểm nhỏ nhặt như mảy lông, hạt bụi đều từ Thật Tế lý mà hiển hiện, chúng là diệu lý, diệu lý là chúng (hạt bụi, mảy lông) hoàn toàn bất nhị, nên bảo là ‘cùng vi’. ‘Cùng’ là tột bực, ‘vi’ là nhỏ nhiệm.

Vả lại, hết thảy hình tướng do tâm thanh tịnh hiện ra, do công đức vô lậu của Phật Di Đà biến hiện nên tướng của chúng là vô lậu. Mỗi mỗi hình tướng đều viên minh cụ đức, mỗi thứ đều viên viên quả hải (chữ ‘viên viên quả hải’ lấy từ sách Hiển Mật Viên Thông, có nghĩa là biển vô thượng viên mãn thánh giác quả đức), thể của chúng chính là Thật Tướng: có tướng nhưng vô tướng, vô tướng nhưng là tướng. Vì vậy, bảo là ‘cực diệu’.

Sách Hội Sớ giảng tiếp rằng: ‘Rộng hẹp dung nhập lẫn nhau nên bảo là chẳng thể tính kể’. Ý nói: Cực Lạc thế giới hiển thị trọn vẹn sự sự vô ngại pháp giới, một tức là nhiều, nhiều tức là một, lớn nhỏ chứa đựng lẫn nhau, rộng vào trong hẹp, hẹp vào trong rộng, trùng trùng vô tận vượt khỏi khả năng nhận thức của tâm tưởng, kiến giải và khả năng diễn giải của ngôn ngữ nên chẳng thể bàn luận nổi. Vượt khỏi khả năng suy nghĩ nên chẳng nghĩ nổi. Nói năng, suy nghĩ chẳng thấu suốt nổi thì làm sao tính kể nổi? Vì vậy bảo là ‘chẳng tính kể nổi’.

Hiển nhiên là chỉ có Phật với Phật mới thấu suốt trọn hết nổi Cực Lạc Tịnh Độ. Ngoại trừ mình đức Phật ra, hết thảy chúng sanh: trên thì đến bậc Đẳng Giác, giữa thì như hết thảy phàm, thánh chúng sanh thuộc Tiểu Thừa hay Đại Thừathiên nhãn đều chẳng thể bàn định hình sắc, quang tướng, tên tuổi, số lượng cũng như chẳng thể nào liệt kê một cách tổng quát được những sự trang nghiêm đó. Vì vậy, kinh nói: ‘Có thể phân biệt được hình sắc, quang tướng, danh số và nói tổng quát được thì chẳng lấy Chánh Giác’.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, cây trong cõi nước có vô lượng màu hoặc cao đến trăm ngàn do tuần; cây Đạo Tràng cao bốn trăm vạn dặm. Trong các Bồ Tát, dù kẻ thiện căn kém cỏi vẫn có thể biết rõ. Muốn thấy sự trang nghiêm nơi Tịnh Độ chư Phật thì đều thấy rõ nơi thân cây ấy như nơi gương sáng thấy rõ vẻ mặt. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 40: cây vô lượng sắc; nguyện 41: nơi cây hiện cõi Phật)

 Giải: Chương này gồm hai nguyện, từ đầu đến ‘vẫn có thể biết rõ’ là nguyện 40: ‘Cây vô lượng sắc’, từ chữ ‘muốn thấy’ trở đi là nguyện 41: ‘Trong cây hiện cõi Phật’.

Trong câu ‘cây trong cõi nước có vô lượng màu, hoặc cao đến trăm ngàn do tuần’, cây có vô lượng màu vì hết thảy các cây báu trong nước do bảy báu hóa thành, màu sắc rực rỡ, quang minh chói lọi, mọc thành hàng lối thẳng thớm, thân cây ngang nhau. Các cây báu ấy mọc đầy khắp cõi nước, cây cao từ trăm do tuần cho đến ngàn do tuần. Một do tuần là từ 40 dặm đến 60 dặm, phần trên đã giải thích rõ. Nơi đạo tràng lại có một thọ vương (cây chúa) gọi là Đạo Tràng Thọ, tức là cây Bồ Đề.

Tây Vực, từ phía Tây Nam của núi Chánh Giác đi khỏi bốn mươi dặm, có một cây tất bát la (pipala), Phật từng ngồi dưới gốc cây ấy thành Chánh Giác nên cây được gọi là cây Bồ Đề. Trong bản chú giải kinh Duy Ma Cật của ngài Tăng Triệu, phần giảng về phẩm Bồ Tát Hạnh có ghi: ‘Phật thành đạo dưới cội cây, cây được gọi tên là Bồ Đề. Cây ấy: quang minh không đâu chẳng chiếu đến, mùi hương không đâu chẳng thơm ngát, hình sắc vi diệu tùy theo ý thích mà thấy [sai khác]. Cây vang ra tiếng pháp theo ý thích của mỗi người. Đây là cây báo (quả báo) ứng (ứng hóa) của Như Lai vậy. Chúng sanh gặp được cây ấy tự nhiên ngộ đạo’.

Phần nói về thành tựu sở nguyện của kinh Vô Lượng Thọ đây cũng chép: ‘Lại do thấy được cây ấy nên tự nhiên đạt được ba thứ nhẫn, một là Âm Hưởng Nhẫn, hai là Nhu Thuận Nhẫn, ba là Vô Sanh Pháp Nhẫn’. Cây Bồ Đề ấy có thể làm cho người trông thấy nó tự nhiên ngộ đạo, chứng nhập Vô Sanh Pháp Nhẫn. Công đức của cây ấy thật vô thượng hy hữu, vi diệu khó nghĩ tưởng nổi. Vì vậy, cây ấy chính là do tâm trang nghiêm bí mật của đấng Di Đà nguyện vương hóa hiện ra. Mật giáo phán định tâm ấy thuộc về trụ tâm thứ mười, là tâm được đức Như Lai chứng đắc trong địa vị thứ mười ba: Phật quả rốt ráo. Do vậy, tâm ấy có thể rốt ráo ban cho chúng sanh cái lợi chơn thật. Cây ấy cao vòi vọi nên những Bồ Tát thiện căn kém cỏi trong cõi ấy khó thấy biết hết nổi, nhưng do đức Di Đà rủ lòng từ, dùng đại nguyện gia bị nên họ đều được thấy biết rành rẽ cả.

Nguyện thứ 41 là ‘cây hiện cõi Phật’. Nguyện ‘trong cây hiện cõi Phật’ này giống như pháp quán thứ tư trong Quán kinh. Xin trích dẫn lời kinh tóm tắt như sau: ‘Các cây báu ấy... sanh các diệu hoa’, ‘sanh ra các quả’, ‘có đại quang minh hóa thành tràng phan, vô lượng lọng. Trong các lọng báu ấy ảnh hiện hết thảy Phật sự trong tam thiên đại thiên thế giới. Mười phương cõi Phật cũng hiện trong ấy’. Những cây báu được nói đến trong phép quán cây báu trong Quán kinh chính là do nguyện này thành tựu. Trong cõi Cực Lạc cây báu vô lượng, trong quang minh của mỗi cây hóa hiện vô lượng lọng báu, trong mỗi lọng báu hiện bóng mười phương cõi Phật sáng sạch thanh khiết như tấm gương sáng. Nơi những cây ấy, ta thấy được mười phương cõi Phật rõ ràng trọn vẹn như đối mặt với tấm gương sáng tự nhìn thấy rõ vẻ mặt mình. Như vậy, cõi Cực Lạc hàm nhiếp hết thảy cõi Phật, tương nhập, tương tức chẳng thể nghĩ bàn.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, cõi Phật tôi ở rộng rãi nghiêm tịnh, sáng ngời như gương, chiếu tỏ mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật. Chúng sanh trông thấy sanh tâm hy hữu. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 42: chiếu tỏ mười phương)

 Giải: Đây là nguyện thứ 42: ‘Chiếu tột mười phương’.

‘Quảng bác’ (tạm dịch là rộng rãi) nghĩa là rộng rãi vô biên, ‘nghiêm tịnh’trang nghiêm thanh tịnh. ‘Quang oánh’ (tạm dịch là sáng ngời) nghĩa là quang minh chiếu rực rỡ. ‘Triệt chiếu’ (tạm dịch là chiếu tỏ) nghĩa là không vật gì nhỏ nhặt mà chẳng được chiếu rõ, không vật gì xa cách mấy mà chẳng thấy nổi. ‘Hy hữu’ là như kinh Niết Bàn nói: ‘Ví như trong nước mọc lên hoa sen thì chẳng phải là chuyện hy hữu. Hoa mọc trong lửa mới là hy hữu’.

Cõi nước Cực Lạc trang nghiêm thanh tịnh, sáng ngời thanh khiết như tấm gương chiếu tường tận mười phương, giống như Quán kinh nói mão trời của Đại Thế Chí Bồ Tátcó năm trăm hoa báu. Trong mỗi hoa báu có năm trăm đài báu. Trong mỗi một đài, tướng rộng lớn của các cõi nước tịnh diệu của mười phương chư Phật đều hiện rõ cả’. Do vậy, ta biết được cõi Cực Lạc lớn nhỏ dung hợp lẫn nhau, rộng hẹp vô ngại, một mảy bụi, một sợi lông đều hiện bóng mười phương.

Vãng Sanh Luận Chú ghi: ‘Nơi cung điện và các lầu gác xem thấy mười phương một cách vô ngại’. Đàm Loan pháp sư giảng câu ấy như sau: ‘Như gương sáng trong sạch, hết thảy các tướng tịnh, uế, nghiệp duyên thiện, ác của mười phương quốc độ đều hiện ra cả’.

Kinh Hoa Nghiêm cũng nói: ‘Ví như gương kim pha lê sáng sạch tỏa ánh sáng, đối với mười phương thế giới đều bình đẳng. Nơi gương sáng ấy thấy vô lượng cõi. Hết thảy núi, sông, hết thảy chúng sanh, địa ngục, ngạ quỷ dù tốt hay xấu, các hình loại nhiều như thế ấy đều hiện trong đó’.

Các kinh luận vừa dẫn trên đã giảng rõ ý nghĩa câu ‘quang oánh như kính, triệt chiếu thập phương vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới’ (sáng ngời như gương, chiếu tỏ mười phương vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật).

Chữ ‘chúng sanh’ chỉ nhân dân trong cõi Cực Lạcchúng sanh trong mười phương thế giới: hễ ai thấy được tướng chiếu tỏ cùng tột mười phương của thế giới Cực Lạc đều phát tâm Bồ Đề thù thắng vô thượng. Tâm ấy hy hữu như sen nở trong lửa nên bảo là ‘sanh tâm hy hữu’. Đã sanh được tâm ấy thì sẽ được như bản Tống dịch nói: ‘Chẳng lâu sẽ đắc a nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề’.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, dưới từ mặt đất, trên đến hư không, cung điện, lầu, quán, ao chảy, cây hoa, tất cả hết thảy vạn vật trong cõi nước đều dùng vô lượng hương báu hợp thành. Hương ấy xông khắp mười phương thế giới. Chúng sanh ngửi thấy đều tu Phật hạnh. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 43: hương báu xông khắp)

 Giải: Đây là nguyện 43 ‘hương báu xông khắp’.

Sách Hội Sớ bảo trong thế giới Sa Bà, ‘vàng bạc tuy lóng lánh nhưng chẳng có mùi hương chiên đàn. Trầm, xạ tuy thơm ngát nhưng không có ánh sáng của châu, ngọc’. Trong cõi Cực Lạc, hết thảy vạn vật nghiêm tịnh, sáng đẹp, lại còn có mùi thơm kỳ diệu ngào ngạt xông khắp mười phương làm đủ các Phật sự nên bảo là “kỳ diệu”.

Trong kinh Hoa Nghiêm, trưởng giả Chúc Hương bảo: ‘Nơi bờ ao A Na Bà Đạt sanh ra một loại trầm thủy hương tên là Liên Hoa Tạng. Nếu thiêu một hoàn to bằng một hạt mè thì mùi hương xông khắp cõi Diêm Phù Đề. Chúng sanh ngửi được lìa hết thảy tội, giới phẩm thanh tịnh.

Núi Tuyết có loại hương tên là Cụ Túc Quang Tướng. Nếu có chúng sanh ngửi được mùi hương tâm quyết định lìa các nhiễm trước.

Trong cõi La Sát có loại hương tên là Hải Tạng, hương ấy chỉ mình Chuyển Luân Vương dùng. Nếu đốt một hoàn, mùi hương bốc lên, vua và tứ chúng đều bay lên hư không, du hành tự tại.

Trong Thiện Pháp Đường có loại hương tên là Hương Tánh Trang Nghiêm, nếu thiêu một hoàn, hương xông thiên chúng khiến cho họ đều phát khởi tâm niệm Phật.

Trời Tu Dạ Ma có loại hương tên là Tịnh Tạng Tánh, nếu thiêu một hoàn, hương xông thiên chúng thì không ai là chẳng vân tập đến chỗ thiên vương, cung kính nghe vua thuyết pháp.

Trời Đâu Suất có loại hương tên là Tín Độ Phạ La, nếu thiêu một hoàn trước tòa của bậc nhất sanh sở hệ Bồ Tát liền biến thành đám mây hương lớn che khắp pháp giới, mưa xuống khắp hết thảy các thứ vật cúng dường để cúng dường hết thảy Như Lai, đạo tràng, Bồ Tát chúng hội.

Trời Diệu Biến Hóa có loại hương tên Phấn Ý Sanh, nếu thiêu một hoàn thì trong vòng bảy ngày mưa khắp hết thảy các vật trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn’.

Những thứ hương thế gian vừa thuật trên đây còn có công dụng thù thắng đến như thế huống là thứ hương vạn đức của pháp giới do bổn nguyện của Phật Di Đà hóa hiện.

Phẩm Hương Tích Phật của kinh Duy Ma có chép như sau: ‘Lúc bấy giờ, ngài Duy Ma Cật hỏi Chúng Hương Bồ Tát:

- Hương Tích Như Lai thuyết pháp bằng cách nào?

Bồ Tát đáp: - Như Lai trong cõi tôi chẳng dùng văn tự để nói, ngài chỉ dùng các thứ hương khiến các trời người thâm nhập luật hạnh, mỗi vị Bồ Tát ngồi dưới gốc cây có mùi thơm, nghe mùi diệu hương ấy liền đạt được hết thảy đức tạng tam muội’.

Diệu hương cõi Cực Lạc cũng giống như vậy, có công đức vô biên, xông khắp mười phương làm đủ các việc ích lợi, khiến cho những chúng sanh ngửi được mùi hương ấy ‘đều tu Phật hạnh’, ‘trần lao cấu tập tự nhiên chẳng khởi’. Vạn vật Cực Lạc đều do vô lượng hương báu hợp thành, hương ấy lại xông khắp mười phương thế giới, đều hiển thị sự sự vô ngại pháp giới.

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các cõi nước mười phương nghe danh hiệu tôi xong ắt đều đạt được thanh tịnh, giải thoát, Phổ Đẳng tam muội, các tổng trì sâu, trụ tam ma địa thậm chí thành Phật. Trong định thường cúng vô lượng vô biên hết thảy chư Phật, chẳng mất định ý. Nếu chẳng được vậy, chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 44: Phổ Đẳng tam muội, nguyện 45: trong định cúng Phật).

 Giải: Trong đoạn này, từ đầu đến chữ ‘cho đến thành Phật’ là nguyện thứ 44 ‘Phổ Đẳng tam muội’, từ chữ ‘trong định’ trở đi là nguyện 45 ‘trong định cúng Phật’. Các nguyện kể từ nguyện 44 trở đi là những nguyện khiến cho các vị Bồ Tát ở ngoài thế giới Cực Lạc nghe danh hiệu Phật A Di Đà được hưởng những lợi ích thù thắng nơi pháp.

Trước hết là nguyện thứ 44: nghe danh hiệu Phật đắc các tam muội nhẫn đến thành Phật.

Theo sách Hội Sớ, người nghe Phật danh ngay lập tức đắc các tam muội nên bảo là ‘ắt đều đạt được’. Bản Tống dịch ghi lời nguyện này như sau: ‘Tất cả các hàng Bồ Tát trong hết thảy cõi Phật mười phương nghe danh hiệu tôi ngay lập tức chứng đắc tịch tĩnh tam ma địa’. Chữ ‘ngay lập tức chứng đắc’ trong lời nguyện trên chính là ý nghĩa của câu‘ắt đều đạt được’ trong bản kinh này.

‘Thanh tịnh’ là ý nói các tam muộiBồ Tát đang trụ vào đều vô nhiễm, vô trước nên gọi là ‘thanh tịnh tam muội’. Sách Hội Sớ giảng: ‘Tịch tĩnh tam ma địa vô phược, vô trước nên gọi là thanh tịnh’.

‘Giải thoát’: do tam muộiBồ Tát trụ đó đã lìa hết thảy triền phược, tự tại nên bảo là Giải Thoát tam muội; sách Hội Sớ bảo: ‘Chỉ, Quán vô ngại nên gọi là Giải Thoát’. Sách còn bảo: ‘Niệm Phật tam muội trừ được hết thảy phiền não, giải thoát sanh tử nên phải gọi là Thanh Tịnh Giải Thoát tam muội’.

Trong danh từ Phổ Đẳng, Phổ là phổ biến, Đẳng là bình đẳng. Kinh Bi Hoa gọi tam muội này là Biến Chí tam muội, kinh Phân Đà Lợi gọi là Phổ Chí tam muội, bản Tống dịch ghi là Phổ Biến tam ma địa, bản Đường dịch gọi là Bình Đẳng tam ma địa môn. Sách Hội Sớ giảng như sau:

‘Nếu theo ý kiến các sư thì Phổ Đẳng tam muội chỉ là một thứ tam muội được Bồ Tát chứng đắc. Ngài Cảnh Hưng bảo: “Phổ nghĩa là phổ biến; Đẳng nghĩa là bình đẳng. Cái thấy rộng lớn, Phật Phật đều thấy, cho nên gọi cái định họ trụ vào đó là Phổ Đẳng”. Ngài Huyền Nhất bảo: “Do sức của tam muội này thấy khắp tất cả chư Phật Thế Tôn nên bảo là Phổ, hiện bình đẳng không gì chẳng đạt đến nên gọi là Đẳng”. Nếu xét theo chánh ý tuyển trạch bổn nguyện (11) thì Phổ Đẳng tam muội chính là Niệm Phật tam muội.

Phổ có nghĩa là phổ biến, phàm thánh cùng chứng nhập được. Đẳng là bình đẳng, công đức niệm một vị Phật cũng bằng với công đức niệm hết thảy Phật. Kinh Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội bảo: “Ví như chúng sanh nếu ở bên núi Tu Di kim sắc thì thân họ cũng cùng màu với núi ấy. Vì cớ sao vậy? Là do thế lực của núi vậy. Lại như các dòng nước đã vào trong biển cả thì có cùng một vị, vì sao thế? Do sức của biển vậy. Người đắc niệm Phật tam muội cũng giống như thế”. Đấy là ý nghĩa Phổ Biến của chữ Phổ trong Phổ Đẳng.

Kinh Văn Thù Bát Nhã dạy: “Niệm một đức Phật công đức vô lượng vô biên, chẳng khác gì công đức niệm vô lượng chư Phật”. Tán A Di Đà Phật Kệ có câu: “Tôi dùng nhất tâm quy một Phật, nguyện nhập khắp thập phương vô ngại”. Đấy là ý nghĩa Bình Đẳng’.

Như vậy, sách Hội Sớ hiểu Thanh Tịnh tam muội, Giải Thoát tam muộiPhổ Đẳng tam muội đều là Niệm Phật tam muội. Vì Niệm Phật tam muộiBảo Vương tam muội, đầy đủ công đức của hết thảy tam muội nên đương nhiên nó phải mang nhiều tên gọi của các tam muội khác nhau.

‘Tam muội’ tức là tam ma địa, dịch là Chánh Định, Chánh Thọ (đã giải thích tường tận trong phẩm thứ hai). ‘Tổng trì’ là đà ra ni, nghĩa là giữ gìn sự lành chẳng để mất, có khả năng gìn giữ vô tận (chữ “tổng trì” đã được giảng chi tiết trong phẩm 2). Tổng trì thâm diệu nên gọi là ‘tổng trì sâu’. Mười phương Bồ Tát do nghe danh hiệu nên đắc các tam muộitổng trì thâm diệu, an trụ trong định, được thành Chánh Giác nên bảo là ‘thậm chí thành Phật’.

Nguyện 45 là ‘trong định cúng dường Phật’. Ý nghĩa của việc trong định cúng dường Phật mà chẳng mất định ý, tương đồng ý nghĩa câu ‘thâm trụ thiền định, đều thấy vô lượng chư Phật’ trong phẩm Đức Tuân Phổ Hiền. Đây chính là cảnh giới rất sâu của Phổ Hiền đại sĩ. Sách Vãng Sanh Luận Chú bảo: ‘Bậc Bồ Tát từ Bát Địa trở lên thường trụ tam muội. Do sức tam muội, thân chẳng rời khỏi chỗ mình mà đến khắp mười phương cúng dường chư Phật, giáo hóa chúng sanh’.

Sư Vọng Tây nhận định: ‘Xét về thường hạnh, “trong định cúng Phật” là hạnh của bậc Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên’ ‘bậc Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên tuy đã có đức này, nhưng phải từ Bát Địa trở lên mới [có thể thực hành hạnh ấy] một cách vô công dụng’. Ý ngài nói: Bậc Sơ Địa Bồ Tát tuy đã có thể ‘trong định cúng Phật’ nhưng vẫn còn phải dụng công, phải là bậc Bồ Tát từ Bát Địa trở lên mới có thể vô công dụng đạo.

Sách Hội Sớ bảo các vị tân phát ý Bồ Tát ở những phương khác do nghe danh hiệu Di Đà nhanh chóng dự vào những ngôi vị trong thập địa, đắc các tam muội, trụ trong định cúng Phật. Sách viết: ‘Dẫu là hạng tân phát ý Bồ Tátnghe được danh hiệu liền có thể định huệ tương tức (định tức là huệ, huệ tức là định, không còn cách ngại gì nữa), chơn, tục soi chiếu lẫn nhau, nhanh chóng chứng đắc các ngôi vị trong thập địa’.

Kinh Văn Thù Bát Nhã cũng bảo: ‘Công đức niệm một đức Phật vô lượng vô biên, chẳng khác gì công đức niệm vô lượng chư Phật. Phật pháp bình đẳng vô sai biệt chẳng thể nghĩ bàn, đều nương theo Nhất Như thành tối Chánh Giác, đều đầy đủ vô lượng công đức biện tài. Nhập được Nhất Hạnh tam muội (tức là Niệm Phật tam muội) thì biết hết tất cả các tướng pháp giới sai biệt của hằng sa chư Phật’. Nói ‘trong tam muội biết tất cả tướng pháp giới sai biệt của chư Phật’ chính là nói ‘trụ trong định cúng Phật’. 

 Chánh kinh: Lúc tôi thành Phật, các hàng Bồ Tát trong các thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi liền chứng ly sanh pháp, đắc đà ra ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức, ngay lập tức chẳng đạt được một, hai, hay ba thứ nhẫn; với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay được bất thối chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác.

(nguyện 46: đắc đà ra ni; nguyện 47: nghe danh đắc nhẫn; nguyện 48: chứng bất thối trong hiện đời)

 Giải: Chương này gồm cả ba nguyện: Từ chữ ‘đắc đà ra ni’ trở lên là nguyện 46 ‘đắc đà ra ni’, từ chữ ấy đến ‘một, hai hay ba thứ nhẫn’ là nguyện 47 ‘nghe danh đắc nhẫn’; phần còn lại là nguyện 48 ’chứng được bất thối ngay trong hiện đời’.

Chữ ‘ly sanh’ trong nguyện thứ 46 nghĩa là thoát khỏi sanh tử. Hành nhân trong ba thừa do đạt địa vị Kiến Đạo, thấy được Đế Lý (lý chơn thật) nên đoạn được kiến hoặctư hoặc, vĩnh viễn không bị sanh trong tam giới nữa nên bảo là ‘chánh pháp tánh sanh’. Sách Vạn Thiện Đồng Quy Tập bảo: ‘Cùng lên cửa giải thoát, cùng xiển dương đạo ly sanh’. Mười phương Bồ Tát do nghe danh hiệu Di Đà nên đều chứng được pháp ly sanh ấy và đắc ‘đà ra ni’. Đà ra ni chính‘tổng trì’ (xem giải thích ở phần trước). Đà ra ni có bốn loại:

a. Pháp đà ra ni: nghe, giữ giáo pháp của Phật chẳng quên.

b. Nghĩa đà ra ni: tổng trì nghĩa lý Phật pháp chẳng quên.

c. Chú đà ra ni (chú đà ra ni lại có năm tên. Theo Bí Tạng Ký, năm tên ấy là: đà ra ni, minh, chú, mật ngữ, chơn ngôn. Đà ra ni là khi Phật phóng quang, trong quang minh vang ra thần chú nên gọi là đà ra ni hay minh. Vì vậy, ‘đà ra ni’ và ‘minh’ có cùng một nghĩa. Người trì đà ra ni có thể phát khởi thần thông, trừ được tai hoạn. Đà ra ni gần tương tự với các thứ chú thuật của Tàu nên đà ra ni cũng gọi là ‘chú’. Vì phàm phuNhị Thừa chẳng biết được nổi nên gọi là ‘mật ngữ’. Chơn ngôn: Lời của đức Như Lai chơn thật chẳng dối nên gọi là chơn ngôn).

d. Nhẫn đà ra ni: an trụ trong Thật Tướng của Phật thì gọi là Nhẫn. Giữ được lòng nhẫn nên gọi là Nhẫn Đà Ra Ni.

Đại sĩ trong mười phương nghe danh hiệu Phật đều đắc các đà ra ni như trên, an trụ trong Thật Tướng của các pháp nên bảo là ‘đắc đà ra ni’.

Trong lời nguyện 47 ‘nghe danh đắc nhẫn’, chữ ‘thanh tịnh’ có nghĩa là vốn sẵn không nhiễm trước, ‘hoan hỷ’ là trong lòng vui sướng, tịch diệt là vui. Ở đây, kinh dùng chữ ‘bình đẳng’nói vắn tắt. Thoát khỏi những ý tưởng sai biệt: cao, thấp, cạn, sâu, lớn, nhỏ, thân, sơ, trí, ngu, mê, ngộ thì gọi là “bình đẳng”.

Hiểu ở mức cao hơn, bình đẳng chính là Chơn Như trọn khắp, vạn pháp như một, cả ba thứ: tâm, Phật, chúng sanh không sai biệt. Vãng Sanh Luận Chú nói: ‘Bình đẳng là thể tướng của các pháp’ và: ‘Chúng sanh trông thấy thân có tướng tốt và quang minh của Phật Di Đà đều giải thoát được hết các thứ ràng buộc nơi thân nghiệp, vào nhà Như Lai, rốt ráo được thân nghiệp bình đẳng. Nghe danh hiệu chí đức của A Di Đà Như Lai, nghe âm thanh thuyết pháp thì đều giải thoát khỏi hết các thứ ràng buộc nơi khẩu nghiệp, vào nhà Như Lai, rốt ráo được khẩu nghiệp bình đẳng. Nếu gặp được quang minh của A Di Đà Như Lai chiếu đến hoặc nghe ý nghiệp bình đẳng của A Di Đà Như Lai thì các chúng sanh ấy đều giải thoát khỏi hết thảy các thứ ràng buộc nơi ý nghiệp, vào nhà Như Lai, rốt ráo được ý nghiệp bình đẳng’. Ý nói: Nếu thấy được hình tướng, nghe danh, thấy quang minh, biết được tâm ý của A Di Đà Như Lai thì đều chứng nhập nhà Như Lai. Do nghe pháp nên được nghiệp bình đẳng rốt ráo.

Đoạn văn trên của Vãng Sanh Luận Chú hoàn toàn có cùng ý nghĩa với câu: ‘Nghe danh hiệu ta, chứng ly sanh pháp, đắc đà ra ni, thanh tịnh, hoan hỷ, đắc bình đẳng trụ’ trong kinh này. Do nghe danh hiệu nên trụ trong pháp bình đẳng, nghĩa là trụ trong Thật Tướng của các pháp. Bản Hán dịch còn gọi Phật A Di ĐàVô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác. Như vậy, mười phương Đại Sĩ nghe danh hiệu Phật chí tâm tin ưa, dùng tâm bình đẳng niệm Bình Đẳng Giác, an trụ như thế thì chính là ‘đắc bình đẳng trụ’.

Một câu Phật hiệu đây chính là Thật Tướng, chính là toàn thể của pháp giới, chính là thể tánh bình đẳng của các pháp. Chỉ cần niệm niệm tiếp nối, niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm nên bảo là ‘đắc bình đẳng trụ’. Tâm hạnh như thế là ‘Bồ Tát hạnh’, lần lượt dạy dỗ cho nhau cùng quay về Cực Lạc, ban bố cho mọi chúng sanh cái lợi chơn thật nên bảo là ‘tu Bồ Tát hạnh’.

Tu hành như vậy tự nhiên trọn vẹn hết thảy cội rễ của công đức Phật quả nên bảo là ‘đầy đủ cội đức’. Sách Hội Sớ giảng chữ ‘cội đức’ như sau:

‘Lục độ của Bồ Tát là gốc của hết thảy công đức nên gọi là cội đức. Chọn lựa, giữ lấy quả hiệu (danh hiệu của Quả Giác, tức là danh hiệu nam mô A Di Đà Phật) lưu xuất lục độ vạn hạnh là nguồn gốc cho mọi đức nên gọi là đức bổn’.

Trong câu ‘một, hai, hay ba thứ nhẫn’, chữ Nhẫn có nghĩa là chịu đựng. Bản Ngụy dịch ghi như sau: ‘Đệ nhất, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn’. ‘Pháp nhẫn’: pháp là lý đã chứng đắc, tâm an trụ nơi pháp là Nhẫn. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển 9 giảng: ‘Huệ tâm an pháp thì gọi là nhẫn’.

Với những thứ ‘pháp nhẫn’ vừa được nêu trên, các nhà chú giải kinh nêu nhiều thuyết sâu hoặc cạn khác nhau. Xin nêu một thí dụ:

Kinh Nhân Vương bảo có năm thứ nhẫn: Phục Nhẫn, Tín Nhẫn, Thuận Nhẫn, Vô Sanh Pháp Nhẫn, và Tịch Diệt Nhẫn.

Sách Nhân Vương Tư Ký lại giảng: ‘Sơ địa, nhị địa, tam địa chứng đắc vô lậu tín thì gọi là Tín nhẫn. Tứ địa, ngũ địa, lục địa hướng đến vô sanh nên gọi là Thuận nhẫn. Thất địa, bát địa, cửu địa chẳng sanh các niệm nên gọi là Vô Sanh nhẫn. Thập địa, Diệu Giác đắc quả Bồ Đề nên gọi là Tịch Diệt nhẫn’.

Trong các nhà chú giải kinh thời cổ, có vị cho rằng ba thứ nhẫn được nói đến trong kinh Vô Lượng Thọ đây là Phục Nhẫn, Tín NhẫnThuận Nhẫn; thậm chí có vị cho rằng ba mức thượng, trung, hạ của loại nhẫn đầu tiên (Phục nhẫn) chính là ba thứ nhẫn được kinh này nhắc đến. Hiểu như vậy nghĩa là chẳng thừa nhận việc Bồ Tát nơi phương khác nghe danh hiệu Phật liền ngay lập tức chứng đắc một thứ nhẫn, hai thứ nhẫn, cho cho đến Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Nếu dựa theo kinh văn, quả thật ‘trong ba thứ nhẫn ấy ắt phải có Vô Sanh Pháp Nhẫn’ là điều chẳng thể còn nghi ngờ chi nữa. Nguyện thứ ba mươi bốn trong bản Ngụy dịch được ghi như sau: ‘Nếu tôi thành Phật, các loài chúng sanh trong mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các thế giới Phật nghe danh hiệu tôi mà chẳng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn của Bồ Tát, các tổng trì sâu xa thì chẳng lấy Chánh Giác’. Bản Tống dịch cũng ghi: ‘Nghe danh hiệu tôi thì ngay lập tức đắc sơ nhẫn, nhị nhẫn cho đến Vô Sanh Pháp Nhẫn, thành tựu a nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề’. Rõ ràng, pháp nhẫn thứ ba được nói trong lời nguyện này phải là Vô Sanh Pháp Nhẫn!

Hơn nữa, những câu trong sách Luận Chú như: ‘Hễ thấy đức Phật ấy thì những vị Bồ Tát chưa chứng tịnh tâm (chỉ những vị Bồ Tát từ Sơ Địa đến Thất Địa) liền rốt ráo chứng được Pháp Thân bình đẳng’ (Sách còn chép: ‘Bình đẳng Pháp Thânpháp tánh sanh thân Bồ Tát từ Bát Địa trở lên’) và: ‘Nghe danh hiệu chí đức của A Di Đà Như Lai thì... rốt ráo được khẩu nghiệp bình đẳng’. Những câu như vậy đủ chứng minh nghe danh hiệu Phật liền chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Vô Sanh Pháp Nhẫn gọi tắt là Vô Sanh Nhẫn. Chơn trí an trụ trong Thật Tướng lý thể vô sanh vô diệt nhưng chẳng động thì gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Trí Độ Luận, quyển 5 giảng: ‘Vô Sanh Pháp Nhẫn: tin nhận, thông đạt Thật Tướng vô sanh vô diệt của các pháp một cách vô ngại bất thối thì là Vô Sanh Nhẫn’. Trong quyển bảy mươi ba của Trí Độ Luận, ngài Long Thọ lại viết: ‘Vô Sanh Pháp Nhẫn là ngay cả những thứ nhỏ nhiệm còn bất khả đắc, huống là những thứ lớn lao. Đấy là vô sanh. Đắc pháp vô sanh này thì chẳng làm, chẳng khởi các nghiệp hạnh. Đấy là Vô Sanh Pháp Nhẫn’. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển 12 cũng nói: ‘Lý lặng lẽ chẳng khởi gọi là vô sanh. Huệ an trụ trong lý này thì gọi là Vô Sanh Nhẫn’. Lăng Nghiêm Kinh Trường Thủy Sớ, quyển 1 lại giảng: ‘Hiểu rõ pháp vô sanh, ấn khả quyết định thì gọi là Vô Sanh Nhẫn’.

Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển 12 còn bảo: ‘Như ngài Long Thọ nói, từ Sơ Địa trở lên cũng đắc vô sanh. Nếu căn cứ vào kinh Nhân Vương và kinh Dữ Địa thì chỉ trong Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa mới có vô sanh’. Bản Tống dịch của kinh Vô Lượng Thọ chép rằng: ‘Nghe danh hiệu tôi, chứng Vô Sanh Nhẫn, thành tựu hết thảy thiện căn bình đẳng, trụ vô công dụng. Do lìa gia hạnh nên chẳng bao lâu sẽ đắc A-nậu Bồ Đề’. Ngài Vọng Tây chú giải câu này như sau: ‘[Kinh] nói là đã trụ nơi vô công dụng thì đủ biết bậc Bồ Tát ấy đã chứng Bát Địa’. Như vậy, pháp nhẫn thứ ba trong kinh đây chính là Vô Sanh Pháp Nhẫn như kinh Nhân Vương đã nói. Theo ngài Vọng Tây, Bồ Tát ấy đã chứng địa vị Bát Địa.

Ngài Vọng Tây còn nói: ‘Hỏi: Vì sao do thế lực của việc nghe danh hiệu lại chứng được vô sanh? Đáp: Là vì Phật nguyện lực vậy, như Thập Trụ Luận bảo: “Quá khứ vô số kiếp, có biển công đức danh hiệu Phật. Mỗi vị Phật trong thập phương hiện tại thành Chánh Giác đều là từ lời phát nguyện ‘nghe danh hiệu được thành Phật’ ấy [mà được thành Phật]”.

Những luận chứng vừa dẫn trên đã trình bày Tha Lực một cách khéo léo: Người nghe danh hiệu Phật được Phật nguyện gia bị nên chứng được Vô Sanh Nhẫn, quyết định sẽ thành Phật, nhưng “nghe” không có nghĩa là chỉ nghe xuông mà còn phải phát khởi cái hạnh như Niết Bàn Sớ, quyển 20 bảo: ‘Nếu nghe đến hai chữ Thường Trụ thì đời đời chẳng đọa. Có nhiều thứ nghe, nếu có thể suy nghĩ sâu xa, thực hành đúng như lời dạy thì đời đời chẳng bị đọa’. Ý câu trên là: Nghe xong phải suy nghĩ sâu xatu hành đúng như lời dạy thì đời đời mới chẳng bị đọa. Như vậy, một chữ ‘nghe’ còn hàm nghĩa ‘tin nhận’ chẳng phải là nghe lọt qua tai rồi thôi.

‘Một, hai, hay ba thứ nhẫn’ được nêu trong lời nguyện này chính là ba thứ nhẫn sẽ nói trong phẩm 15 ‘Bồ Đề đạo tràng’: một là Âm Hưởng Nhẫn, hai là Nhu Thuận Nhẫn, ba là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Sách Quán Vô Lượng Thọ Kinh Diệu Tông Sao, quyển 5 giảng như sau:

‘a. Âm Hưởng Nhẫn là do âm thanh, tiếng vangngộ giải được chơn lý.

b. NhuThuận Nhẫn là huệ tâm nhu nhuyễn, thuận theo chơn lý.

c. Vô Sanh Pháp Nhẫn là chứng được thật tánh của vô sanh nhưng lìa khỏi các tướng. Đây là chỗ cao tột nhất trong việc ngộ đạo’.

Ba thứ nhẫn này sẽ được giảng tường tận trong phẩm thứ mười lăm.

Nguyện thứ bốn tám là ‘ngay trong hiện tại chứng được bất thối’. Lời nguyện như sau: ‘Với các Phật pháp nếu chẳng thể chứng ngay bất thối chuyển thì chẳng lấy Chánh Giác’.

Bất thối chuyển nghĩa là những công đức thiện căn mình tu tập ngày càng tăng tấn, chẳng hề lui sụt, mất đi. Bất thối chuyển gọi tắt là bất thối, gọi theo tiếng Phạn là ‘a bệ bạt trí’.

Hạnh nguyện Bồ Tát tuy khó phát nhưng dễ bị thối thất. Theo kinh Nhân Vương, bậc Bồ Tát thuộc Tín vị trong Biệt giáo được gọi là Khinh Mao Bồ Tát vì giống như vật bị gió thổi bay. Kinh Niết Bàn bản Nam (*) cũng chép: ‘Vô lượng chúng sanh phát tâm a nậu Bồ Đề nhưng thấy chút duyên trái nghịch liền thối chuyển A-nậu Bồ Đề như ánh trăng trong nước, nước vừa xao động, ánh trăng liền động’.

Kinh còn ví von: Ví như cá mẹ sanh nhiều cá con, nhưng khôn lớn chỉ được chút ít; như cây am la hoa nhiều, trái ít. Chúng sanh phát tâm tuy là vô lượng, nhưng người thành tựu quá ít ỏi chẳng đáng nói đến; kinh chép: ‘Cá con, hoa am la, Bồ Tát sơ phát tâm, ba thứ ấy nhân thì nhiều nhưng kết quả lại ít’.

Kinh Thập Trụ Bồ Tát Đoạn Kết cũng nói: ‘Khi ấy, ngài Xá Lợi Phất bảo các Bồ Tát đến dự hội: “Bọn chúng tôi khi xưa từ nhất trụ đạt tới ngũ trụ rồi lại thối chuyển xuống sơ trụ, rồi lại từ sơ trụ đạt đến ngũ trụ, lục trụ; trải qua sáu mươi kiếp như thế trọn chẳng đạt đến bậc bất thối chuyển”.

Kinh Bảo Vũ cũng nói: ‘Có thế giới tên là Sa Bà, cõi ấy có Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni. Các hữu tình nếu nghe danh ngài thì chẳng thối chuyển A-nậu Bồ Đề, đó là do sức bổn nguyện của đức Như Lai ấy vậy’.

Xưa kia, ngài Trừng Hiến đã từng ca ngợi lời nguyện ấy như sau: ‘Trong năm trăm đại nguyện của đấng Thích Tôn, nguyện này thù thắng nhất’. Rõ ràng, cả hai bậc đạo sư hai cõi cùng phát ra nguyện tối thắng này, thật là ‘cùng một đường dẫn đến cửa Niết Bàn’ vậy.

Vô lượng Bồ Tát chưa đạt địa vị bất thối, dẫu cực kỳ dũng mãnh như cứu đầu cháy nhưng bởi chướng duyên bời bời dồn tới nên lần lần bị thối chuyển đến nỗi người học đạo nhiều như lông bò, kẻ đắc đạo hiếm tựa vảy lân. Khi còn tu nhân, Phật Di Đà thương xót họ nhọc khổ nên phát vô thượng nguyện. Do oai đức của Phật nên người được nghe danh hiệu liền chứng đắc ba thứ nhẫn, chứng được bất thối chuyển. Vốn ở địa vị bất thối, nương theo nguyện lực của Phật nên chỉ tiến chẳng lùi, mau chứng được Bồ Đề. Đây thật là nỗi mừng rỡ lớn. Lời bình của Hội Sớ: ‘Nguyện lực khó nghĩ bàn, hễ được một thứ thì được hết thảy mọi thứ vì cùng một lúc được đầy đủ bất thối và tam nhẫn’ thật đã nêu rõ diệu dụng của phương tiện rốt ráo phát xuất từ Nhất Thừa nguyện hải của Phật Di Đà một cách sâu xa.

Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận lại nói: ‘Nếu ai muốn mau chóng đạt đến địa vị bất thối chuyển thì nên dùng tâm cung kính chấp trì danh hiệu’.

Kinh Tiểu Bổn cũng nói: ‘Nếu có người đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về cõi Phật A Di Đà thì những kẻ ấy đều được bất thối chuyển nơi a nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề’.

Sách Hội Sớ cũng nói: ‘Tam nhẫn, bất thối đều nằm trong danh hiệu. Khi xưng danh, do danh và nghĩa chẳng rời nhau nên liền tự đạt được những đức như thế’.

Rõ ràng, nếu được nghe danh hiệu, chỉ cần tín, nguyện, trì danh thì ắt có thể ngay trong hiện đời chứng được bất thối. Diệu đức của Di Đà Nhất Thừa nguyện hải thật khó nghĩ suy nổi, sáu chữ hồng danhphương tiện rốt ráo. Bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng nhiếp độ chúng sanh, nguyện nào cũng hiển thị lẽ chơn thật. Phân ra thì đến bốn mươi tám nguyện, hợp lại chỉ là một pháp cú. Một pháp cúthanh tịnh cú: chơn thật trí huệ vô vi Pháp Thân.

7. Ắt thành Chánh Giác:

 Trước đức Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai, Pháp Tạng tỳ kheo nói bốn mươi tám nguyện xong lại đối trước Phật nói kệ tụng để nhắc lại các nguyện ấy và thỉnh Phật chứng minh. Do đại nguyện của ngài chơn thành, sâu rộng nên ngay khi ấy cảm được trời mưa hoa, đất chấn động. Trên không trung có tiếng khen rằng ‘nhất định thành Phật’. Đấy là nội dung của phẩm thứ bảy này.

 Chánh kinh:

Đức Phật bảo A Nan: ‘Khi ấy, Pháp Tạng tỳ kheo nói lời nguyện ấy xong, dùng kệ tụng rằng:

Con lập chí siêu thế

Ắt đạt vô thượng đạo

Chẳng trọn vẹn nguyện ấy

Thề chẳng thành Đẳng Giác

Lại làm đại thí chủ

Phổ tế các cùng khổ

Khiến các quần sanh ấy

Đêm dài chẳng ưu não

Xuất sanh các thiện căn

Thành tựu Bồ Đề quả

Nếu con thành Chánh Giác

Lấy hiệu: Vô Lượng Thọ

Chúng sanh nghe hiệu ấy

Đều sanh trong nước con

Thân sắc vàng như Phật,

Diệu tướng đều viên mãn

Cũng dùng tâm đại bi

Lợi ích các quần phẩm

Ly dục, chánh niệm sâu

Tịnh huệ tu phạm hạnh

Giải: Chữ ‘chí siêu thế’ được các nhà giải thích kinh hiểu theo nhiều cách khác nhau. Ngài Tịnh Ảnh bảo: ‘Những nguyện đã phát trong đời trước: nguyện đắc Pháp Thân, cầu sanh Tịnh Độ gọi là nguyện siêu thế’.

Ngài Tịnh Ảnh gọi các nguyện quang minh vô lượng, thọ mạng và chư Phật khen ngợi ghi trong bản Ngụy dịch là những nguyện thuộc về Pháp Thân; nguyện cõi nước thanh tịnh và nguyện cõi nước trang nghiêmTịnh Độ nguyện. Ngài Tịnh Ảnh chỉ coi năm nguyện ấy là siêu xuất thế gian, ngài Cảnh Hưng cũng nghĩ như vậy. Các vị Nghĩa Tịch, Vọng Tây lại cho rằng cả 48 nguyện đều là nguyện siêu thế. Thuyết sau rất đúng.

Sách Bình Giải nhận xét: ‘Sư tổ chúng ta (ngài Thiện Đạo) bảo bốn mươi tám nguyện chẳng thể nghĩ bàn, cũng gọi là thệ nguyện vô ngại. Người đời cho rằng bốn mươi tám nguyện ấy mỗi nguyện riêng rẽ giống như những trái lật và trái hồng đặt cạnh nhau, đấy đều là những kiến giải hạn hẹp chẳng dung thông mà thôi! Chẳng phải như vậy! Ví như một bức gấm Tứ Xuyên khéo dệt thành hoa, quả, cành, lá giống như là có rễ, thân, cành, lá sai khác nhưng thật sự chỉ là một bức gấm mà thôi. Phật nguyện cũng vậy, tuy có đến 48 nguyện, nhưng chỉ là do một trí Chánh Giác thiện xảo trang nghiêm nên gọi là thệ nguyện vô ngại. 48 nguyện còn được gọi là nguyện chẳng thể nghĩ bàn vì mỗi nguyện trong 48 nguyện đều đầy đủ công đức chẳng thể nghĩ bàn. Các nguyện dung nhập lẫn nhau, không bị chướng cách nên gọi là vô ngại’. Do đây ta thấy được rằng 48 nguyện dung nhập lẫn nhau, nguyện nào cũng đều là nguyện siêu thế cả.

Trong quyển Pháp Sự Tán, tổ Thiện Đạo còn bảo: ‘Tuy hoằng thệ nhiều đến bốn mươi tám nguyện, nhưng chỉ để nói lên Niệm Phật là việc thiết yếu nhất’, nghĩa là: nguyện nào cũng vì niệm Phật cả. Vãng Sanh Luận bảo ba thứ trang nghiêm vào trong một pháp cú, một pháp cú là chơn thật trí huệ vô vi Pháp Thân. Đại nguyện của Bồ Tát Pháp Tạng bao gồm cả ba thứ trang nghiêm, viên mãn một cách rốt ráo, hoàn toàn nhập vào một pháp cú là chơn thật trí huệ vô vi Pháp Thân.

Vả lại, ‘tiếng, chữ đều là Thật Tướng’ nên một câu danh hiệu NamA Di Đà Phật’ chính là bổn thể của Pháp Thân, chính là viên viên quả hải. Bốn mươi tám nguyện chỉ là để hiển thị danh hiệu A Di Đà Phật nên danh hiệu A Di Đà có đủ hết thảy các công đức diệu dụng của Di Đà bổn nguyện. Danh hiệu ấy là bản thể của tánh đức, do tu đức viên thành, nhiếp trọn cả tánh đức và tu đức không sót.

Bốn mươi tám nguyện chỉ là để đề cao Niệm Phật. Nguyện nào cũng bao hàm quả đức của Phật, nguyện nào cũng phơi bày trọn vẹn vô vi Pháp Thân nên ta có thể nói nguyện nào cũng là nguyện Pháp Thân cả. Các nguyện dung nhập lẫn nhau không bị cách ngại; nguyện nào cũng chứa đựng vô lượng nguyện thù thắng vô thượng chẳng thể nghĩ bàn, chẳng hề có hạn lượng. Nói cách khác, cái được gọi là bốn mươi tám nguyện ở đây cũng chỉ là giả danh nhằm để tùy thuận chúng sanh, chứ thật ra bổn nguyện vô lượng. Hơn nữa, bổn nguyện tuy vô lượng nhưng rốt ráo chỉ là một pháp cú mà thôi.

Ngay cả chữ ‘siêu thế’ cũng được các vị chú giải kinh giải thích mỗi người một khác. Ngài Nghĩa Tịch giảng ‘siêu thế’ là không còn ở trong những địa vị thuộc thế gian nhưng chưa chứng Sơ Địa, nên gọi là “siêu thế”. Ngài Cảnh Hưng bảo ‘siêu thế’ là đã viên mãn địa vị Thập Hướng. Cả hai thuyết này đều bảo ngài Pháp Tạng khi ấy vẫn còn chưa chứng Sơ Địa.

Các vị Thiện Đạo, Đàm Loan… lại có kiến giải khác hẳn. Đại sư Đàm Loan bảo: ‘Pháp Tạng Bồ Tát ở nơi đức Thế Tự Tại Vương Phật ngộ được Vô Sanh Pháp Nhẫn, địa vị của ngài ngay khi ấy là thánh chủng tánh (theo kinh Anh Lạc, thánh chủng tánh là loại thứ bốn trong sáu chủng tánh. Thánh chủng tánh là Thập Địa Bồ Tát). Từ trong tánh ấy phát ra bốn mươi tám nguyện’.

Thiện Đạo đại sư cũng cho rằng ngài Pháp Tạng khi phát tâm đã thuộc hàng Thập Địa Bồ Tát. Như vậy, ‘siêu thế’ là vượt khỏi địa vị địa tiền (quan điểm này coi những giai vị trước khi chứng được Sơ Địa đều thuộc về thế gian cả).

Hơn nữa, nguyện của ngài không những chỉ vượt trội nguyện của tất cả người trong tam thừa mà còn thù thắng hơn nguyện của chư Phật. Kinh nói Pháp Tạng Bồ Tát trước khi phát tâm đã nói: ‘Tôi lập nguyện này đều thù thắng hơn vô số các cõi nước Phật’. Hậu Xuất Kinh Kệ cũng chép: ‘Phát nguyện trỗi hơn chư Phật, lời thệ gồm hăm bốn chương’, phần nói về sở nguyện thành tựu trong kinh Vô Lượng Thọ đây cũng chép: ‘Vi diệu lạ lùng, đẹp đẽ, trang nghiêm thanh tịnh vượt xa hết thảy thế giới trong mười phương’‘quang minh của A Di Đà Phật tôn quý nhất trong các quang minh, ngài là vua trong các vị Phật’ chứng tỏ lời nguyện siêu thế của Pháp Tạng Bồ Tát cũng thù thắng hơn lời nguyện của chư Phật.

Thế giới Cực Lạc vô lượng thanh tịnh trang nghiêm, hiển lộ trọn vẹn tự tánh của đương nhân. Tâm này là Phật, tâm này làm Phật, lý sự vô ngại; nước, chim, cây cối cùng tuyên dương chánh pháp; sắc, thanh, mùi hương, ánh sáng đều khiến cho đạo niệm tăng trưởng; trùng trùng vô tận, tự tại vô ngại, toàn là viên minh cụ đức chẳng thể nghĩ bàn. Toàn thểsự sự vô ngại pháp giới. Nghe danh hiệu lại chứng được bất thối; trông thấy cây liền khế ngộ vô sanh; mười niệm ắt sanh về Tịnh Độ; phàm phu cũng lên được địa vị bất thối. Những sự như vậy khắp các cõi nước mười phương không nơi nào khác có nổi, chỉ mình cõi Đồng Cư Cực Lạc riêng có nên gọi là nguyện vô thượng thù thắng siêu thế vậy.

Chữ Đạo trong câu ‘Ắt đạt vô thượng đạo’ chỉ Bồ Đề. Bồ Đề là đạo được Như Lai chứng đắc. Lại do đạo ấy không có gì hơn được nổi nên gọi là vô thượng, tức là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Thọ Lượng Phật nói: ‘Ta luôn suy nghĩ: nên dùng cách nào khiến chúng sanh được chứng nhập vô thượng đạo, chóng thành tựu Phật thân’. Cũng giống như vậy, Pháp Tạng Bồ Tát muốn cho chúng sanh chứng được vô thượng đạo. Vì vậy, chữ ‘ắt đạt’ có thể hiểu theo hai cách như sau:

a. ‘Ắt đạt vô thượng đạo’ là chủ thể của bổn nguyện. Trong mỗi nguyện, ngài đều dùng Chánh Giác tự thề như hai câu kệ kế tiếp có nói: ‘Chẳng trọn vẹn nguyện này, thề chẳng thành Đẳng Giác’. Như vậy, xét về toàn thể các nguyện thì tuy mỗi nguyện sai khác nhưng các đại nguyện đều xuất phát từ một điểm căn bản: nhằm làm cho chúng sanh chứng nhập vô thượng đạo, cùng thành Chánh Giác. Vì vậy, phẩm Khuyến Trì của kinh Pháp Hoa có câu: ‘Ta chẳng quý thân mạng, chỉ tiếc vô thượng đạo’. Do đó, ‘vô thượng đạo’ là chủ thể của đại nguyện.

b. Coi vô thượng đạo là cái quả của đại nguyện. Tịnh Ảnh Sớ giảng: ‘Quyết định đắc quả nên bảo là ắt đạt vô thượng đạo’.

 ‘Lại làm đại thí chủ, phổ tế các cùng khổ’: Đại thí chủ là người bố thí cho hết thảy mọi người, nhưng thí những gì: thí tài vật hay là thí pháp? Sư Tịnh Ảnh bảo: ‘Pháp hóa lợi ích’ nghĩa là pháp thí. Trái lại, ngài Cảnh Hưng cho rằng: ‘Muốn cứu vớt kẻ nghèo khổ ắt phải dùng tài thí’. Tông Kính Lục, quyển 95 lại viết: ‘Do chẳng có pháp tài nên gọi là bần cùng’. Như vậy, ‘phổ tế bần khổ’ là thí cho cả pháp lẫn tài vật.

Do đó, câu: ‘Luôn dùng hạnh sáu độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ để giáo hóa, an lập chúng sanh trụ nơi đạo vô thượng chánh chơn’ trong phẩm Tích Công Lũy Đức là nói về pháp thí; còn câu: ‘Trong tay thường tuôn ra vô tận các báu, vật trang nghiêm, hết thảy các vật cần dùng tối thượng để lợi lạc hữu tình’ là nói về tài thí.

Như vậy, đại thí chủ phải tu cả hai loại pháp thítài thí như sách Hội Sớ bảo: ‘Dùng của cải để cứu giúp kẻ nghèo trong thế gian, dùng pháp độ khắp kẻ thiếu phước nên gọi là đại thí chủ’. Ý nói: dùng tài thí cứu vớt những kẻ bần cùng khốn khổ trong thế gian, dùng pháp thí để lợi lạc khắp tất cả những kẻ không có phước được nghe pháp nên gọi là ‘đại thí chủ’.

‘Khiến các quần sanh ấy, đêm dài không phiền não’: Chúng sanh mãi trầm luân trong sanh tử nên ví như đang ở trong ‘đêm dài’ như kinh thường nói: ‘Đêm dài sanh tử’. Đêm tượng trưng cho tối tăm không ánh sáng. Tâm chúng sanh bị vô minh che lấp nên hôn mê chẳng giác ngộ, chìm trong biển sanh tử, chịu mãi các khổ. Vì muốn khiến họ vĩnh viễn thoát khỏi hết thảy lo, buồn, khổ não, thoát khỏi đêm dài sanh tử nên thí cho hai thứ pháp và tài, nhưng do lòng từ bi cùng cực nên lại khiến cho họ được ‘xuất sanh các thiện căn, thành tựu Bồ Đề quả’.

Trong hết thảy các loại bố thí, cách bố thí sau đây là tối thượng: làm cho hết thảy chúng sanh rốt ráo lìa được khổ, được cái vui rốt ráo. Nhưng muốn làm cho chúng sanh phát sanh được các thiện căn, thành tựu Bồ Đề thì không chi hơn được pháp trì danh hiệu Phật, cầu sanh Cực Lạc. Do vậy, ngài nói tiếp rằng: ‘Nếu tôi thành Chánh Giác, lập hiệu Vô Lượng Thọ, chúng sanh nghe hiệu ấy đều sanh trong nước tôi’. Bốn câu này chính là tâm tủy của đại nguyện, là tròng mắt của toàn bộ kinh, là cánh tay mầu nhiệm độ sanh của mười phương Như Lai, là thuyền báu để hết thảy chúng sanh thoát khổ. Cả bốn mươi tám đại nguyện chỉ nhằm khai diễn ý nghĩa của bốn câu kệ trên, đúng như ngài Thiện Đạo bảo: nguyện nào cũng là để chỉ bày pháp Niệm Phật.

A Di Đà thánh hiệuvô lượng nghĩa: vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng thanh tịnh, vô lượng trang nghiêm, vô lượng trí huệ, vô lượng Bồ Đề cho đến vô lượng điều vô lượng. Vô lượng thọ biểu thị Pháp Thân thường trụ nên vô lượng thọ bao gồm hết thảy mọi thứ vô lượng. Vì vậy, danh hiệu của Như Lai vang khắp mười phương, chúng sanh được nghe danh đều sanh trong nước ngài. Do xưng danh liền có nhiều thiện căn, được sanh Tịnh Độ nên chắc chắn chứng Bồ Đề. Thật là phương tiện rốt ráo thù thắng viên mãn. Di Đà đại nguyện sở dĩ siêu thế và Phật được xưng tụng là đấng Nguyện Vương chính là do bởi những điều trên.

‘Thân sắc vàng như Phật, diệu tướng đều viên mãn’: nguyện người sanh về nước tôi, thân được giống như Phật, thân đều có sắc vàng đủ cả băm hai tướng tốt. Hai câu này nhắc lại nguyện thứ ba và thứ tư, chỉ nói thêm là thù thắng, viên mãn, ngụ ý thân chúng sanh giống hệt thân Phật.

‘Cũng dùng tâm đại bi, phổ lợi các quần phẩm’: Hai câu kệ trước nói về thân đức, hai câu kệ này nói đến tâm đức. Cần chú ý hai chữ ‘cũng dùng’ trong hai câu này. Chữ ‘cũng dùng’ ngụ ý: nguyện rằng những người đã sanh về cõi tôi cũng đều giống như tôi (Pháp Tạng) dùng tâm đại bi lợi ích khắp các loài chúng sanh. Lại nguyện rằng nhân dân cõi Cực Lạc đều giống như đức Phật: xem các chúng sanh như chính thân mình, cùng phát khởi tâm đồng thể đại bi như phẩm Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm nói: ‘Nhân nơi chúng sanh mà khởi đại bi, do đại bi mà sanh tâm Bồ Đề, do tâm Bồ Đề thành Đẳng Chánh Giác’. Vì vậy, nguyện chúng sanh sanh về cõi tôi phát tâm đại bi lợi ích khắp muôn loài. Chữ ‘phẩm’ có nghĩa là phẩm loại. ‘Phổ lợi quần phẩm’ nghĩa là làm lợi ích khắp hết thảy vô số chúng sanh muôn loài.

‘Ly dục, chánh niệm sâu; tịnh huệ, tu phạm hạnh’: Dục là tham dục. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: ‘Ly dục thanh tịnh là tối thắng’. ‘Chánh niệm’ là một trong Bát Chánh Đạo: lìa tà phân biệt, niệm thật tánh của pháp thì gọi là chánh niệm. Quán Kinh Sớ giảng: ‘Xả Tướng nhập Thật gọi là chánh niệm’.

Sách Hội Sớ giảng chữ ‘tịnh huệ’ như sau: ‘Tịnh huệ chính là Bát Nhã ba la mật, chẳng phải là trí huệ bất tịnh của nhân, thiên, Tiểu Thừa nên gọi là tịnh huệ’.

‘Phạm hạnh’ là hạnh thanh tịnh vô dục, là một trong năm hạnh kinh Niết Bàn dạy, là hạnh lợi tha để đối trị hết thảy điều bất thiện, lìa lầm lỗi được thanh tịnh nên gọi là phạm hạnh. Vạn hạnh để chứng Niết Bàn cũng gọi là phạm hạnh.

Sách Hội Sớ nói: ‘Dục là nguyên nhân của các khổ, dùng thí độgiới độ để xa lìa, chánh niệm để khéo gìn giữ như mặc áo giáp vào thành. Nhẫn độ, định độ để tu hành [hạnh ly dục]. Tịnh huệ là Bát Nhã độ, tinh tấn hiện diện trong cả năm độ. Đấy là lục độ của Bồ Tát’.

Ngài Vọng Tây hiểu hơi khác, ngài coi ‘ly dục’ là thí, giới, nhẫn, ‘chánh niệm’thiền định. Nói chung, ly dục, chánh niệm và tịnh huệ đều là lục độ của Bồ Tát.Tu sáu độ này lìa được ba độc tham, sân, si nên bảo là ‘phạm hạnh’.

Ngài Vọng Tây lại bảo: ‘Ly dục chính là không tham, khéo chánh niệm là không sân, tịnh huệ là không si; đó gọi là phạm hạnh’.

 Chánh kinh:

Nguyện trí huệ quang tôi

Chiếu khắp mười phương cõi

Tiêu trừ tối tam cấu

Độ khắp các ách nạn,

Đều bỏ tam đồ khổ

Diệt các tối phiền não

Mở được mắt trí huệ

Đạt được thân quang minh

Bế tắc các đường ác

Thông đạt thiện thú môn

Vì chúng khai pháp tạng

Rộng thí báu công đức

 Giải: Đoạn trước nói về vô lượng thọ, đoạn này nói về vô lượng quang. Vô lượng thọ là thể, vô lượng quang là tướng dụng. Từ công dụng của thể tướng sanh ra vô biên đức giáo hóalợi ích.

Trong phần Định Thiện Nghĩa của tác phẩm Quán Kinh Sớ, đại sư Thiện Đạo đã bảo: ‘Mỗi một nguyện đều vì chúng sanh’. Bài kệ này đã thể hiện rõ cái tâm ấy. Trong hai câu: ‘Nguyện trí huệ quang của tôi chiếu khắp mười phương cõi’, chữ ‘trí huệ quang’hai nghĩa:

a. Một là như kinh Niết Bàn dạy: ‘Quang minh là trí huệ’. Kinh Siêu Nhật Minh Tam Muội cũng dạy: ‘Đại trí phát ra ngoài, chiếu soi pháp giới thì gọi là quang minh’, xin xem lại lời giải thích chi tiết về chữ ‘quang minh’ ở phần trước; ở đây tôi chẳng nhắc lại.

b. Hai là như Đàm Loan đại sư viết trong tác phẩm Tán A Di Đà Phật Kệ: ‘Phật quang chiếu tan tăm tối vô minh nên Phật hiệuTrí Huệ Quang’.

Câu đầu (tức là câu: Phật quang chiếu tan tăm tối vô minh) giống với thuyết trên; câu sau (tức là câu ‘nên Phật hiệuTrí Huệ Quang’) ý nói Trí Huệ Quang là một trong những thánh hiệu của Phật A Di Đà và cũng là một trong mười hai thứ quang minh của ngài.

Câu ‘nguyện trí huệ quang tôi’ trích trong bản Tống dịch, câu này được bản Đường dịch ghi là ‘nguyện được Như Lai vô lượng quang’. Theo đó, Trí Huệ QuangVô Lượng Quang. Vả lại, đức Di Đà tuy có 12 danh hiệu, nhưng thật ra trong mỗi danh hiệu đều gồm trọn các đức tánh quang minh khác. Vì vậy, ‘Trí Huệ Quang’ cũng là Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Đẳng Quang, Thường Chiếu Quang, Thanh Tịnh Quang…. Vì vậy, trong câu kệ tiếp theo ngài nói: ‘Chiếu khắp mười phương cõi’. Vô lượng quang trọn khắp mười phương theo chiều ngang nên không cõi nào chẳng chiếu thấu.

Hơn nữa, quang minh ấy chính là trí huệ, chiếu tan tối tăm vô minh nhơ bẩn của chúng sanh nên trong những câu kệ tiếp đó, ngài bèn nhắc lại những diệu dụng của quang minh như ‘tiêu trừ tam cấu minh’ v.v...

‘Tiêu trừ tam cấu minh, độ khắp các ách nạn’: Tam cấu là tên gọi khác của ba độc tham, sân, si. ‘Minh’ (tăm tối) là vô tri. Luận Câu Xá bảo: ‘Do các thứ vô tri che lấp thật nghĩa và chướng ngại cái thấy đúng đắn nên gọi là Minh’.

Trong cụm chữ ‘minh tế’ (tạm dịch là “độ khắp”), Minh có nghĩa là sáng suốt, đầy đủ, đông nhiều, Tế là độ, là cứu. Sách Hội Sớ bảo ‘minh tế nghĩa là quảng tế’ nên ‘minh tế’ nghĩa là cứu độ một cách rộng lớn (vì vậy, tạm dịch là “độ khắp”). ‘Ách’chướng ngại, trói buộc, là khổ sở. ‘Nạn’khổ nạn, tai nạn, khốn khổ.

Vì vậy, hai câu kệ này có thể hiểu một cách thô thiển như sau: tiêu trừ ba độc tham sân si tăm tối, nhơ bẩn của chúng sanh, rộng cứu các thứ đau khổtai nạn. Các ách nạn nhiều đến vô số nên bảo là ‘các ách nạn’. Trí quang của Phật có thể cứu vớt khắp tất cả.

Sách Hội Sớ giảng: ‘Tam cấu là tham, sân, si. Ba cấu này làm ô nhiễm tâm tánh nên gọi là Cấu. Tam cấu khiến chúng sanh mù tối nên gọi là Minh, chúng là cái nhân làm ta lưu chuyển trong sanh tử. Các ách nạn là quả, tức là: sáu đườngbốn loài vậy.

Phật quang có đức tánh thanh tịnh, trí huệ, hoan hỷ chiếu rộng khắp, tiêu trừ sự tối tăm do ba chướng gây ra. Do Tập đã diệt (tiêu diệt được hết cái nhân khổ não của Tập Đế) nên khổ quả bèn dứt (chấm dứt cái khổ vì lưu chuyển) nên bảo là độ khắp’.

‘Đều bỏ tam đồ khổ, diệt các tối phiền não’ là hai câu tiếp nối ý hai câu kệ trước. Tiêu trừ ba độc thì thoát khỏi ba ác đạo. Sự khổ trong tam đồ rất nặng nề nên Đại Thánh rủ lòng thương xót nguyện khiến chúng sanh được xa lìa. Vì vậy, trong bốn mươi tám nguyện, hai nguyện đầu tiên là trong cõi nước không có ba ác đạo và chẳng còn đọa vào ác đạo nữa. Câu ‘đều bỏ tam đồ khổ’ ở đây có cùng một ý nghĩa với hai nguyện trên.

‘Tối’thí dụ: Vô minh, phiền não che lấp nguồn tâm của chúng sanh khiến họ tối tăm, mù lòa không thấy được nên bảo là ‘tối’. Trí huệ quang của Phật như mặt trời, Phật trí chiếu tan vô minh, phiền não, như ánh mặt trời xua tan tăm tối nên bảo là ‘diệt các tối phiền não’.

‘Mở con mắt trí huệ, đạt được thân quang minh’: Công dụng của con mắt là để thấy nên ta thường dùng con mắt tiêu biểu cho cái Thấy. Kinh thường ví: Bát Nhã như con mắt, các độ khác như mù. Nhà Thiền thường nói: ‘Hễ tham Thiền thì phải nắm được tròng mắt của lẽ Thiền, hễ học hỏi kinh giáo thì phải nắm được con mắt của kinh giáo’ Những câu như vậy đều dùng con mắt để ví cho chánh kiến Bát Nhã.

Phẩm Ly Thế Gian của kinh Hoa Nghiêm có nói đến thập nhãn: ngoài ngũ nhãn, con mắt thứ sáu là trí nhãn vì nó thấy được các pháp. Con mắt thứ bảy là quang minh nhãn vì thấy được quang minh của Phật. Con mắt thứ tám là xuất sanh tử nhãn vì thấy được Niết Bàn. Con mắt thứ chín là vô ngại nhãn vì thấy mọi pháp vô ngại. Con mắt thứ mười là nhất thiết trí nhãn, còn gọi là phổ nhãn vì thấy được phổ môn pháp giới. ‘Mắt trí huệ’ nói trong kinh đây có thể hiểu là huệ nhãntrí nhãn trong thập nhãn vừa nói trên, cũng có thể hiểu là ‘Như Lai trí huệ đức tướng’chúng sanh sẵn có, nghĩa là Phật nhãn.

Sách Hội Sớ viết: ‘Mắt trí huệ chính là trí huệ, nghĩa là con mắt trí huệ sẵn có trong tâm chúng sanh. Do vô minh hư huyễn che lấp nên nhận lầmtối tăm, mê muội. Trụ trong tối tăm, mê muội nên lầm tưởng Phật nhãnnơi khác. Phật quang phổ chiếu khai mở con mắt sẵn có trong tâm chúng sanh, diệt tan sự tối tăm, hôn ám từ vô thủy đến nay nên bảo là ‘mở’; nghĩa là: Chúng sanh hôn ám, mù lòa, vô tri, chẳng biết mình sẵn có Phật nhãn, tự lầm nhận là mình mù tối, tưởng rằng chỉ mình Phật có Phật nhãn. Nay do Phật quang phổ chiếu mà con mắt trí huệ sẵn có trong tâm chúng sanh được mở sáng nên tiêu diệt được hôn ám, tăm tối.

Sách Tam Tạng Pháp Số, quyển 13 bảo có ba thứ ‘quang minh’ như sau:

a. Ngoại quang minh như quang minh của mặt trời, mặt trăng, châu, lửa v.v... trừ được tăm tối.

b. Pháp quang minh: diệu pháp trừ được sự tối tăm do ngu si.

c. Thân quang minh: Thân chư Phật, Bồ Tátchư thiênquang minh trừ được tối tăm như kinh nói: ‘Thân, đảnh đều có quang minh chói ngời’.

Nếu chỉ hiểu ‘thân quang minh’ là thân có quang minh thì chỉ là hiểu ở mức độ nông cạn. Hiểu sâu hơn, câu ‘đạt được thân quang minh’ có đến ba nghĩa:

a. Một là như kinh Thiên Thủ Đà Ra Ni nói: ‘Nên biết kẻ ấy chính là Quang Minh Tạng vì được quang minh của hết thảy Như Lai chiếu đến’. Do Phật quang phổ chiếu nên chúng sanh cấu diệt, thiện sanh, huệ nhãn mở sáng, tịnh tâm trì niệm. Ngay khi ấy được quang minh của mười phương Như Lai chiếu soi hộ trì, tự thân của hành giả liền thành tạng quang minh.

b. Hai là như sách Vãng Sanh Luận Chú ghi: ‘Quang minh của Phật là tướng trí huệ’ nên thân quang minh và mắt trí huệbất nhị. Mắt trí huệ được mở sáng nên thấy tánh rõ ràng, thành tựu thân quang minh một cách nhanh chóng.

c. Ba là như kinh Tư Ích bảo: ‘Thân Như Lai chính là tạng vô lượng quang minh’, nghĩa là nguyện tất cả chúng sanh đều do chơn thật trí huệ mà chứng được Pháp Thân Như Lai vậy.

‘Bế tắc các đường ác’: Đường ác là như kinh Địa Trì nói: ‘Đi theo hạnh ác nên gọi là ác đạo’, tức là thực hành hạnh ác sẽ sa vào con đường này, còn gọi là “ác thú”, tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ngoài ba ác thú vừa kể trên, cũng có kinh tính cả a tu laác thú nên gọi là tứ ác thú. ‘Bế’ là đóng chặt, cũng có nghĩa là ngăn lấp khiến cho chúng sanh khỏi bị sa vào ác nạn ba đường ác hoặc bốn đường ác. Đấy là cách giải thích thô thiển ý nghĩa câu ‘bế tắc các đường ác’.

Sách Hội Sớ giải thích câu này ở mức độ sâu sắc hơn như sau: lục đạo đều là ác đạo. Sách viết: ‘Lục đạo đều bị lưu chuyển nên gọi là ác đạo’. Thuyết của Hội Sớ quả thật có kinh văn làm chứng, bản Ngụy dịch kinh này ghi: ‘Vượt ngang năm đường ác’. Do tính gộp Tu La vào trong các đường khác nên chỉ còn năm đường. Kinh bảo ‘năm đường ác’ là đúng như Hội Sớ đã hiểu: lục đạo đều là ác đạo. Vì vậy, ‘bế tắc các đường ác’ là đoạn trừ nẻo luân hồi của chúng sanh, khiến họ thoát biển sanh tử. Phẩm 32 trong hội bản cũng bảo: ‘Vượt ngang khỏi năm đường, ác đạo tự bế tắc’ (câu này tổng hợp từ hai bản Hán dịch và Ngụy dịch).

‘Thông đạt thiện thú môn’: “Thông đạt” là thông suốt, không úng tắc. ‘Môn’hai nghĩa: một là sai biệt, hai là tiến nhập. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển 1 giảng: ‘Phân định thành từng loại sai biệt nên gọi là Môn. Lại vì có thể nhập vào, tiến vào nên cũng gọi là Môn’. Pháp có nhiều thứ sai biệt, tức là có nhiều môn giúp chúng sanh chứng nhập Niết Bàn. Đấy là ý nghĩa của chữ ‘môn’. Do vậy, pháp được giảng trong mỗi kinh được gọi là môn hay pháp môn. Sách Tứ Giáo Nghi, quyển 1 chép: ‘Môn có nghĩa là thông suốt. Bốn cú pháp chơn chánh (khổ, không, vô thường, vô ngã hoặc thường, lạc, ngã, tịnh) trong giáo pháp của đức Phật đã dạy đều khiến cho hành nhân lãnh hộiThật Tướng chơn tánh nên gọi là Môn’. Chữ ‘môn’ trong kinh này nên được hiểu theo nghĩa nói trong Tứ Giáo Nghi

Nói chung, chữ ‘thiện thú’ chỉ ba đường lành trong sáu đường, nhưng trong kinh này, không thể hiểu chữ ‘thiện thú’ như vậy được. Như trong phần trên, chúng ta đã thấy cả sáu đường đều là ác đạo, nên thiên đạo, nhân đạo cũng chẳng được coi là ‘thiện thú’. Như vậy, ‘thiện thú’ chẳng phải là con đường hướng đến cõi trời, cõi người, mà là con đường quy hướng đến điều lành bậc nhất như sách Hội Sớ giảng: ‘Bồ Đề là chỗ quy hướng của sự lành bậc nhất nên gọi là thiện thú môn’.

Như vậy, pháp môn giúp ta chứng nhập được Bồ Đề diệu giác mới gọi là ‘thiện thú môn’. Môn này chỉ những bậc thượng thiện nhân đã phát tâm Bồ Đề mới chứng nhập nổi, mới hiểu biết một cách thông suốt nên gọi là ‘thông đạt thiện thú môn’. Tu pháp nào để thông đạt? Chỉ có mình pháp môn Tịnh Độ phổ độ quần sanh thành tựu tịnh quốc mà thôi.

‘Vì chúng khai pháp tạng’ là câu tiếp nối ý những câu trên. ‘Bế tắc các đường ác’ là khiến chúng sanh đều thoát khỏi biển sanh tử, ‘thông đạt thiện thú môn’ là đều lên được bờ Niết Bàn. Để thực hiện được lời nguyện ấy, trước hết phải khai thị tri kiến Phật nên bảo ‘vì chúng khai pháp tạng’.

Diễn rộng diệu pháp khiến cho đại chúng được ngộ nhập, dẫn về Cực Lạc cứu cánh Bồ Đề nên bảo là ‘rộng thí báu công đức’. Chữ ‘chúng’ chỉ cửu giới chúng sanh gồm: Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn và hết thảy chúng sanh trong lục đạo.

‘Khai’ là khai Phật tri kiến, ý nghĩa như chữ ‘khai thị’ thường dùng.

‘Pháp tạng’ còn gọi là Phật pháp tạng chính là lý thể của pháp tánh, cũng chính là Như Lai tạng tánh sẵn có của người nghe pháp. Pháp tánh hàm tàng vô lượng tánh đức nên bảo là ‘pháp tạng’. Pháp tạng còn là giáo pháp của đức Phật dạy. Giáo pháp hàm tàng nhiều nghĩa nên gọi là ‘pháp tạng’; nhiều pháp tích tụ lại nên gọi là ‘pháp tạng’, có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn. Phẩm Bảo Tháp kinh Pháp Hoa ghi: ‘Trì tám vạn bốn ngàn pháp tạng vì người khác diễn thuyết’.

Luận Câu Xá cũng bảo: ‘Tất cả hữu tình có tám vạn bốn ngàn phiền não: tham, sân, si v.v... nên để đối trị, đức Thế Tôn nói ra tám vạn pháp uẩn’. Do vậy, Phật nguyệnvô lượng chúng sanh khai hiển pháp tánh chơn thật, lại giảng ra tám vạn bốn ngàn diệu pháp để đối trị phiền não của chúng sanh. Trong tám vạn bốn ngàn pháp ấy, chỉ có mỗi diệu pháp Tịnh Độ có thể ban cho chúng ta cái lợi chơn thật, khiến cho khắp hết thảy hàm linh đều được độ thoát. Như vậy, giáo thuyết chủ yếu trong ‘pháp tạng’ chính là kinh này.

‘Rộng thí’cấp cho, ban cho khắp tất cả mọi loài, lợi lạc khắp hết thảy chúng sanh nên bảo là ‘rộng thí’. Vật dùng để thí là báu công đức.

Sách Nhân Vương Kinh Sớ của tông Thiên Thai giảng chữ ‘công đức’ như sau: ‘Thí vật là công, quy về mình là đức’. Sách Thắng Man Bảo Quật lại giảng: ‘Ác hết là công, viên mãn điều lành là đức. Đức lại có nghĩa là có được, do tu công mà đạt được nên gọi là công đức’. Tổng hợp hai thuyết trên thì lợi lạc chúng sanh và diệt ác là ‘công’, cái quả của công ấy gọi là ‘đức’. Đức còn có nghĩa là đạt được, do tu công nên đạt được quả ấy. Bên chữ công đức thêm chữ ‘báu’ chính là điểm ta cần phải hết sức lưu ý. Chữ ‘báu’ này khác nào như vẽ rồng xong bèn điểm tròng mắt cho rồng. Cái được ngài Pháp Tạng khai hiển chính là của ‘báu’. Cái ta dùng để ‘rộng thí’ cho chúng sanh cũng chính là của ‘báu’ ấy. Chữ ‘báu’ này có ba nghĩa:

a. Một là mỹ hiệu để tôn xưng, như xưng tụng Phật là Bảo Vương Như Lai, ca tụng Niệm Phật tam muộiBảo Vương tam muội, tôn xưng ấn khế của chư Phật, Bồ Tátbảo ấn v.v...

b. Báu (bảo) là dịch nghĩa của chữ Phạn ‘ma ni’. Nhân Vương Kinh Lương Phận Sớ giảng: ‘Tiếng Phạn gọi là Ma Ni, Tàu dịch là Bảo, nếu dịch theo ý nghĩa thì là Như Ý Bảo Châu do nó thỏa mãn bất cứ điều mong cầu nào’. Trong quyển 9 kinh Niết Bàn còn bảo: ‘Châu ma ni bỏ trong nước đục, nước liền trong’. Sách Di Đà Sớ Sao cũng viết: ‘Minh châu gieo vào nước đục, nước đục chẳng thể chẳng trong. Phật hiệu gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể chẳng thành Phật’. Đây cũng là đem bảo châu ví với danh hiệu Phật.

c. Ba là như Trí Độ Luận, quyển 47 nói: ‘Trong các pháp, pháp bảocủa báu chơn thật làm lợi ích cho đời này, đời sau cho đến khi chứng được Niết Bàn’.

Chữ ‘báu’ trong kinh này có đủ những nghĩa như trên vừa thuật. Pháp được giảng là pháp bảo chơn thật, pháp này mầu nhiệm đến cùng tột không chi hơn nổi nên gọi là ‘báu’. Pháp này mãn nguyện chúng sanh nên được ví với báu như ý.

Nói đích xác, báu ấy chính là pháp Trì Danh Niệm Phật. Tâm ấn của pháp niệm Phật kiên cố chẳng hoại khác nào kim cang nên được xưng tụng là ‘báu’. Kinh Quán Phật Tam Muội Hải có nói:

‘Ví như có kẻ nghèo cùng dựa dẫm kẻ giàu có để kiếm cái ăn, cái mặc. Khi ấy, có một vương tử ra ngoài chơi, mang theo bình báu lớn, trong bình đựng ấn báu của vua. Kẻ nghèo vờ đến thân cận, cướp bình bỏ chạy. Vương tử biết được, sai sáu tên lính khỏe mạnh cỡi sáu con voi đen đuổi theo. Kẻ nghèo ôm bình chạy vào chốn đầm lầy hoang vắng, rắn độc từ bốn phía bổ tới toan mổ gã ôm bình khiến hắn hoảng sợ chạy rảo Đông, Tây.

 Thấy trong đồng hoang có một cây to um tùm, hắn đầu đội bình báu, vin cành leo lên. Khi ấy, sáu tên lính vùn vụt đuổi đến dưới gốc. Gã nghèo thấy vậy liền nuốt ấn vua, dùng tay bưng mặt. Sáu con voi đen dùng vòi cuốn cây quật xuống. Gã nghèo té xuống đất, thân thể nát nhừ, chỉ còn ấn vàng trong bình báu tỏa sáng. Rắn độc thấy ánh sáng chạy tứ tán. Phật bảo: Người trụ vào niệm Phật thì tâm ấn chẳng hoại cũng giống như thế’

(Trong quyển 95 sách Tông Kính Lụcchú giải đoạn kinh này tường tận, chẳng dẫn ra đây).

Nay chỉ bàn về câu cuối trong đoạn kinh trên. ‘Phật bảo A Nan: Trụ trong niệm Phật, tâm ấn chẳng hoại, cũng giống như thế’: rõ ràng, pháp môn Niệm Phậtpháp bảo chơn thật chẳng hoại. Diệu pháp niệm Phật ‘tâm này là Phật, tâm này làm Phật’ toàn từ tánh khởi tu, hoàn toàn tu nơi tự tánh, tự tâm khởi niệm để niệm trở lại tự tâm, dùng Quả Giác của Phật làm cái nhân tâm của chúng ta nên cái nhân tâm ấy mau chóng đồng nhất với Quả Giác.

‘Trụ trong niệm Phật, tâm ấn chẳng hoại’: báu công đức chính là tâm này nên cái tâm ấn này được gọi là bảo ấn. Đại nguyện của Phật Di Đà là nguyện phổ độ chúng sanh thành Phật. Để thực hiện nguyện ấy nên mở toang pháp tạng, rộng thí báu vô thượng trang nghiêm bằng vô tận công đức. Báu ấy chính là pháp bảo chơn thật: tín, nguyện, trì danh. Câu ‘trụ trong niệm Phật, tâm ấn chẳng hoại’ đúng là tròng mắt của cả một Đại Tạng giáo vậy.

Lúc trì danh niệm Phật chính là lúc tâm ấn phóng quang nên: ‘Một tiếng niệm Phật là một tiếng tâm’. Do vậy, kinh Đại Tập dạy: ‘Người nếu chỉ niệm đức A Di Đà thì đó chính là vô thượng thâm diệu thiền’. Nếu có thể tin nhận được lời nói này thì chính là hưởng được thâm ân của Phật, được ngài mở con mắt trí huệ, đắc thân quang minh. Tâm ấn vừa nói đó chính là tâm ấn của các Như Lai, chính là cái gọi là ‘dĩ tâm truyền tâm’ của chư Tổ. Được nghe ấn báu này nát thân khó báo đền nổi.

 Chánh kinh:

Như Phật vô ngại trí

Sở hành từ mẫn hạnh

Thường làm thầy trời người

Làm đấng Tam Giới Hùng

Thuyết pháp sư tử hống

Rộng độ các hữu tình

Viên mãn nguyện xưa kia

Hết thảy đều thành Phật

 Giải: Hai bài kệ này