8. Thân quyến của Ngài Xá-Lợi-Phất

22/04/20153:11 CH(Xem: 1606)
8. Thân quyến của Ngài Xá-Lợi-Phất

MỘT CUỘC ĐỜI, MỘT NGÔI SAO

TRUYỆN NGÀI XÁ LỢI PHẤT

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

 

Thân quyến của Ngài Xá-Lợi-Phất

Mấy ngày hôm nay Tăng chúng bàn tán sôi nổi chuyện tín nữ Visàkhà về việc bà cho kiến tạo một tịnh xá tên là Pubbàràma tại phía Đông Kỳ Viên. Và chính đích thân Tôn giả Xá-Lợi-Phất lại đứng ra, chăm sóc, coi ngó công trình đẹp đẽ này.

Đức Phật có lần viếng thăm quốc độ Anga, thành phố Bhaddiya, ông ngoại của cô bé Visàkhà bảo cô bé tập trung năm trăm tớ gái, năm trăm cỗ xe và năm trăm thị nữ để đi đón tiếp Đức Phật. Trong dịp này, sau thời Pháp của Đức Phật, cô bé đắc quả Tu-Đà-Huờn. Lớn lên, Visàkhà có đủ năm vẻ đẹp của người phụ nữ là: tóc, da, xương, vóc và tuổi trẻ. Nhà chồng của bà ở Xá-Vệ lại theo phái lõa thể, nhưng bà đã tìm cách đưa gia đình chồng về với đức tin Tam Bảo.

Bà Visàkhà để bát cho Chư Tăng hằng ngày tại nhà, có lúc lên đến hai ngàn vị. Trưa, chiều bà dến tịnh xá để cúng dường và thính Pháp. Bà Visàkhà giàu lòng giàu lòng bố thí và tận tình hộ trì Chư Tăng không kém gì trưởng giả Cấp Cô Độc. Bà xin Đức Thế Tôn tám điều:

- Dâng y cho Chư Tăng cho đến mãn đời,
- Để bát cho Chư Tăng đến thành Xá-Vệ,
- Để bát cho Chư Tăng rời thành Xá-Vệ,
- Dâng vật thực đến Chư Tăng đau ốm,
- Dâng vật thực những vị chăm sóc bệnh nhân,
- Dâng những thuốc men đến những vị sư đau ốm,
- Dâng lúa mạch đến chư sư,
- Dâng y tắm mưa đến tỳ-khưu ni.

Đức Phật nhận lời. Một lần đến chùa bà bỏ quên chiếc áo khoác trị giá chín triệu đồng tiền vàng, Đại Đức Ànanda không biết của ai nên cất giữ. Người tì nữ trở về trình lại tự sự. Bà đến hầu Phật và tỏ ý muốn làm một việc thiện với số tiền bán chiếc áo ấy. Đức Phật bảo nên cất một tịnh xá nằm tại phía Đông cổng vào. Không ai có đủ tiền mua áo nên bà phải bỏ tiền ra mua lại chiếc áo ấy. Thế là với số tiền lớn, bà xây dựng một tịnh xá rộng rãi, khang trang, đẹp đẽ.

Khi công việc xong, Tôn giả Xá-Lợi-Phất tự nghĩ:

"- Lúc này Giáo Hội đã phát triển vững mạnh. Cận sự nam nữ thì đã có hai vị đại thí chủ Cấp Cô Độc và Visàkhà lo lắng mọi sự. Chư Tăng dẫu đông đúc bao nhiêu, vật thực vẫn đầy đủ để nuôi mạng. Những vật dụng khác thuộc tứ sự từ đây sẽ không còn thiếu thốn. Người bệnh hoạn, đau ốm, già cả đều có người chăm nom, săn sóc. Giới chúng sa-di lúc này cũng đã nhiều người lớn tuổi, đã biết rõ trách nhiệm và phận sự của mình. La-Hầu-La là một quản chúng tốt được bạn đạo kính trọng và nể phục.

Ta vừa nghe tin cha ta mới qua đời. Vậy đây là phải lúc, hợp lẽ ta đến xin Đức Thế Tôn về thăm gia đình."

Đức Thế Tôn nhìn người Đại Đệ Tử dấu yêu tóc đã điểm bạc, bao năm nay chỉ nghĩ đến người khác, lo cho người khác, chu toàn xuất sắc những phần việc được giao phó mà không hề nghĩ đến bản thân, Ngài ân cần nói:

- Ông nên làm vậy, này Xá-Lợi-Phất. Cuối cùng cả gia đình ông đều tốt đẹp, viên mãn, sẽ như ý nguyện của ông.

Tôn giả Xá-Lợi-Phất đến thăm Đại Mục-Kiền-Liên, Tôn giả Ànanda, Đại Ca-Diếp, A-Nậu-Đà-La... và cố ý gởi gắm việc hầu hạ Đức Tôn Sư cùng việc thay Ngài chăm sóc Giáo Hội. Năm trăm đệ tử của Tôn giả đồng xin được tháp tùng.

La-Hầu-La bịn rịn nắm tay thầy:

- Bạch thầy, về quê nhà thầy hãy thận trọng. Mẫu thân của thầy chưa có đức tin với Chánh Pháp, bà làm nhục con thì được nhưng nếu làm nhục thầy thì con sẽ đau xót lắm!

Chuyện La-Hầu-La bị làm nhục một lần tại Nàlaka thì từ Đức Phật đến Tăng chúng không ai mà không biết.

"Thuở đó, ở Vương-Xá thành, La-Hầu-La cùng với một số huynh đệ sa-di đi bộ hành về quê của Tôn giả Xá-Lợi-Phất để khất thực. Mẹ của Tôn giả thấy rõ là Sa môn nên đem tâm ghét cay, ghét đắng; bà cho người mời vào rồi hỏi:

- Các vị là học trò của ai?

- Chúng tôi là học trò của Tôn giả Xá-Lợi-Phất.

- Thế à! bà vồn vã nói - Xá-Lợi-Phất là con trai của ta, các vị là học trò của con trai ta, vậy ta phải xem các vị như cháu nội của ta vậy.

Nói xong, bà quát tả hữu:

- Bây đâu! Hãy mau ra tiếp bát các cháu nội của ta!

Đám gia nhân vâng lời, xin thỉnh bát, rồi mời mấy vị sa-di vào phòng khách an tọa. Bà hỏi lung tung:

- Các cháu nội của ta, các cháu đã đói bụng chưa?

Các sa-di im lặng.

- Về đây là như về nhà của các cháu vậy! Các cháu ưa ăn gì nào, cứ thật tình nói đi?

Các sa-di im lặng.

Bà Sàrì biết các sư không bao giờ than đói bụng, không gợi ý thích ăn món gì nên bà mới hỏi vậy.

- Hay là ta nói nhé! Các cháu có thích ăn món thịt gà không? Bọn nô lệ đâu, hãy làm thịt mấy con gà béo mập nhé!

Đến nước nầy La-Hầu-La phải nói:

- Không được đâu, thí chủ!

- Hay là các cháu chê thịt gà. Vậy thì thịt heo nhé! Hãy thịt một chú lợn choai choai nghe bọn bây, các cháu của ta thích món ấy!

- Không được đâu, thí chủ!

- Vậy thì cá nhé! Hãy ra hồ bắt mấy con lý ngư mang vào đãi các cháu ta!

- Không được đâu, thí chủ!

Bà Sàrì chợt làm mặt giận, nói lẫy:

- Cái gì cũng không được, không được! Món ăn ngon béo bổ cũng không muốn. Thôi được rồi, bà nội cũng không ép.

Bà bỏ đi vào trong một lát, khi đi ra thì gia nhân ôm theo những bình bát đầy ở trên tay. Bà bảo trao bát cho mấy vị, rồi nói:

- Heo suốt đời thích ăn cám, chó suốt đời thích ăn phẩn, trâu bò suốt đời thích ăn cỏ. Các Sa môn Thích tử, Sa môn con trai ta, đệ tử con trai ta suốt đời thích ăn cơm thừa, canh cặn, nước cháo chua, nước cháo thiu thì biết làm thế nào? Thôi, dù sao ta cũng là bà nội, chiều theo ý các cháu nên các món mà các cháu ưu thích, ta đã sai gia nhân trộn lẫn với nhau rồi, cho dễ ăn, cho dễ nuốt! Trời cũng đã trưa, thôi các cháu đi đi. Ta già cả rồi, không đưa tiễn được!"

Nghĩ lại chuyện cũ, Tôn giả Xá-Lợi-Phất buồn lòng cho sự "đáo để" của mẹ. Ngài nói lời an ủi với La-Hầu-La rồi cùng hội chúng lên đường.

Về đến quê, Ngài để năm trăm tỳ-khưu ở rải rác trong các rừng cây rồi một mình trở lại thăm nhà. Đây đó vắng tanh. Sân gạch thênh thang phủ một lớp rêu dày. Cả một cơ ngơi khang trang, vĩ đại chỉ mới mười mấy năm mà đã có vẻ điêu tàn, hoang phế. Ngài tần ngần, đứng lặng. Một chú bé chừng sáu, bảy tuổi chạy ra, Tôn giả biết đấy là Revata, em trai út của Ngài.

- Này em! ta là Xá-Lợi-Phất đây!

Revata nhìn sững: "Đây là anh trai cao cả, tôn quý của ta? Đâu đâu người ta cũng thán phục, ca tụng ông anh vĩ đại này! Ồ! mà sao anh trai ta đẹp quá, uy nghiêm quá, lại dễ mến nữa!"

Revata chạy lại. Tôn giả thân mến ôm trẻ trong vòng tay, xoa đầu, mỉm cười hỏi:

- Em nhận ra ta chứ?

- Em nhận ra anh ngay! Anh yêu quý!

- Sau này em sẽ xuất gia như ta chứ?

- Vâng, em sẽ xuất gia theo anh. Không những xuất gia theo anh mà xuất gia theo cả anh Cunda, anh Upasena, xuất gia theo các chị Càlà, Upacàlà, Sìsupacàlà nữa!

Tôn giả Xá-Lợi-Phất tự nghĩ: "Hai em trai lớn của ta xuất gia thì đúng rồi vì ta hướng dẫn họ, khuyến khích họ. Nhưng còn ba người em gái, ta vừa nghe tin họ mới lấy chồng kia mà? Sao Revata lại nói vậy?"

Bèn hướng tâm đến, Tôn giả thấy rõ, liền nói với Revata.

- Em nói đúng. Sau này cả bảy đứa con của gia đình Vaganta sẽ xuất gia hết. Giờ thì em nghe lời anh dặn đây: phía Tây ngôi làng này có mấy chục vị tỳ-khưu đang tu hạnh đầu đà trong một khu rừng. Khi nào em muốn xuất gia thì hãy đến đấy, giới thiệu em là em trai của ta, họ sẽ vui vẻ nhận em vào Giáo Hội. Em nhớ không?

- Dạ em nhớ! Em sẽ xuất gia trong khu rừng ấy.

Khi câu chuyện vừa dứt thì bà Sàrì đã đứng bên ngưỡng cửa, tóc bà đã bạc trắng, lưng đã còng, trên tay cầm chiếc gậy trúc đầu rắn.

- Ông về đây làm cái gì?

- Thưa mẹ!

Tôn giả cúi đầu.

Bà Sàrì gắt:

- Thưa mẹ cái gì? Ai là mẹ của ông?

- Thưa mẹ! Con hay tin ba vừa mất!

Bà chống gậy, quay lưng đi:

- Mất cái gì! Ông chết nhăn răng, ông chết tức tửi vì con cái bỏ đi theo ông Cồ-Đàm hết, bỏ đi theo đám ăn xin đầu đường xó chợ hết!

Tôn giả lại cúi đầu, không dám nói một lời.

Revata nói:

- Sao mẹ lại mạt sát anh trai của con? Anh trai của con dù sao là một bậc vĩ đại, danh vọng nổi tiếng khắp toàn cõi Châu Diêm Phù Đề này! Anh trai của con vì thương cha, nhớ mẹ mà về thăm! Anh trai con im lặng, vòng tay, cúi đầu như vậy, có dám nói gì đâu mà mẹ lại đối xử quá thậm tệ...

Tôn giả Xá-Lợi-Phất gắt em:

- Revata! Em không được nói với mẹ như thế!

Revata giận dỗi bỏ đi. Bà Sàrì cũng chống gậy vào nhà sau. Tôn giả Xá-Lợi-Phất lặng lẽ bước lên nhà trên, vào điện thờ. Ngài đứng vòng tay, mặc niệm trước chỗ thờ của cha, thốt lời cầu nguyện trong tâm:

"- Thưa vong linh cha! Hãy nghe lời con đây! Cuộc đời này con không báo đáp gì được trước ân đức sinh thành, dưỡng dục của cha vì chánh kiến bất đồng. Bây giờ cha mất rồi, con nguyện rằng, phước đức tu hành cả trọn kiếp này của con, và vô lượng kiếp trước nữa, con hồi hướng đến cho cha. Mong nhờ phước báu ấy hỗ trợ cho cha, để cha được nhiều yên vui và lợi lạc."

Bà Sàrì đã đứng bên lưng, giọng nói dịu lại:

- Ông về được bao lâu?

Ngài quay lại:

- Thưa mẹ! ất hôm thôi, con lại phải đi!

- Ông về với bao nhiêu tỳ-khưu?

- Thưa mẹ! Năm trăm vị.

- Hiện giờ họ ở đâu?

- Thưa mẹ! Rải rác trong các khu rừng, quanh ngôi làng này.

- Ta sợ ông mất mặt với họ, dù sao gia đình của chúng tagia đình danh giá, vọng tộc, lại là cự phú ở trong làng. Vậy thì ngày mai, ông mời hết tất cả họ đến đây, ta sẽ dâng cúng vật thực một cách tươm tất, đàng hoàng. Ta muốn rằng, dầu là vua chúa cũng không thể cúng dường vật thực sang trọng hơn dòng họ Vaganta!

- Thưa mẹ! Con xin vâng!

- Y áo có thiếu không? Nhân tiện, ta cúng dường luôn năm trăm bộ y - để xứng đáng là một cuộc làm phước trọng thể.

- Thưa mẹ! Tất cả đều đã có đủ y.

- Thêm một bộ nữa, không được sao?

- Thưa mẹ! Mỗi vị thường sống hạnh tri túc với tam y của mình.

- Vậy thì ta không ép.

Bà lại chống gậy bỏ đi.

- Thưa mẹ...

- Gì nữa đó?

- Con muốn nhân tiện mẹ làm phước, mẹ thỉnh Chư Tăng tụng kinh hồi hướng phước báu đến cho cha!

- Đấy là tín ngưỡng của ông, chứ không phải tín ngưỡng của tôi. Tôi không phải thưa thỉnh ai hết!

Thấy mẹ vẫn cố chấp như thuở nào, Tôn giả Xá-Lợi-Phất nín lặng.

Chợt bà hỏi vọng ra:

- Chiều và tối nay ông nghỉ đâu?

- Thưa mẹ, ngoài rừng cùng với chúng tỳ-khưu!

- Thôi được rồi, tùy ý ông.

Ngày hôm sau, giữ đúng lời hứa, bà bảo mấy trăm gia nhân chuẩn bị cơm nước, bánh trái, đầy đủ các món ăn thượng vị loại cứng, loại mềm, cao sang nhất cúng dường cho Tăng chúng năm trăm vị. Quả thật, danh vọng của gia đình dòng họ Vaganta quá lớn nên một tiếng hô của bà là "nhất hô bá ứng", trên dưới, trong ngoài tuân lệnh răm rắp. Bà cũng hoan hỷ cùng với gia nhân sớt vật thực vào từng bát cho mỗi vị. Tuy nhiên, nỗi buồn khổ của người mẹ "mất con" vẫn hậm hực trong lòng bà, nên khi để bát cho một vài nhóm tỳ-khưu coi bộ lớn tuổi, bà tức giận nói nhỏ vào tai họ:

"- Cũng vì mấy ông trọc đầu đê tiện này! kể cả ông Sa môn Cồ-Đàm điên khùng kia nữa mà ta phải vĩnh viễn mất đi đứa con trai! Hãy ăn cho no bụng rồi cút đi! Cút cho khuất mắt ta!"

Khi để bát cho Tôn giả Xá-Lợi-Phất, bà cũng nói nhỏ bên tai như hơi gió thoảng:

"- Chỉ có ông là ngu si nhất trên cuộc đời này! Chỉ có ông là bị ông Cồ-Đàm cho ăn "cháo lú" nên mới bỏ cả gia tài tám chín trăm triệu đông tiền vàng để đổi lấy cái đời sống thân tàn ma dại ngốc nghếch!"

Tôn giả Xá-Lợi-Phất cùng Chư Tăng không ai hé miệng nửa lời, vẫn cẩn trọng, từ tốn, khiêm cung, lặng lẽ độ thực. Dùng xong, Chư Tăng năm trăm vị cùng đọc kinh phúc chúc và quán tưởng. Lời kinh trầm hùng và cao cả như hải triều âm cuồn cuộn đổ tràn ra không gian. Uy lực của lời kinh, của âm thanh làm cho ngôi làng như lặng ngắt, mấy trăm gia nhân tự động chắp tay lên ngực. Bà Sàrì cao ngạo là vậy mà cũng phải chống gậy thẳng lưng lên, có một sự tôn kính nào đó thoáng gợn lên làn da mặt của bà...

Tôn giả Xá-Lợi-Phất nghĩ rằng vậy là mình đã báo đáp được phần nào ân đức của cha, nên chào mẹ, em trai Revata rồi lên đường. Bà Sàrì trông theo, trên đôi mắt ứa ra mấy giọt lệ.

Tôn giả Xá-Lợi-Phất tự nghĩ:

"- Rồi một lúc nào đó, mẹ cũng đến được bến bờ an vui, sẽ không còn đau khổ nữa!"

Tôn giả còn ở lại trong làng một ngày nữa, Ngài đi đến khu rừng Đầu Đà, nơi có những tỳ-khưu đang sống hạnh tĩnh cư, cốt ý gởi gắm Revata sau này. Nghe Tôn giả đến, mấy chục vị tỳ-khưu hớn hở, vui mừng ra tiếp rước y bát, nước rửa chân và giẻ chùi chân. Tôn giả vắn tắt vài lời, thăm hỏi sức khỏe, sự an vui trong tu tập rồi nói:

- Thưa chư hiền! Tôi có một đứa em trai, bảy tuổi, tên là Revata; nếu sau này, khi nào em tôi tìm đến đây thì chư hiền hãy làm lễ xuất gia cho nó, tôi sẽ vô cùng biết ơn.

- Thưa vâng, chúng con sẽ y lời, thưa Bậc Tướng Quân Chánh Pháp.

Các vị khác lại thưa:

- Không mấy khi Tôn giả ghé chân đến đây! Ôi! Cả khu rừng này đều được hạnh phúc. Việc Revata là việc nhỏ, chúng con sẽ chu toàn! Bây giờ xin Tôn giả ban cho một thời Pháp để được lợi lạc lâu dài cho chúng con.

Tôn giả vui vẻ hỏi:

- Về vật thực, y áo chư hiền có đầy đủ không?

- Dạ đầy đủ.

- Về sàng tọa, thuốc men, chư hiền có đầy đủ không?

- Dạ đầy đủ.

- Về học giới, chư hiền có gì thắc mắc không?

- Dạ không, chúng con sống rất hòa thuận nhờ tôn trọng, nhắc nhở, khuyến khích, sách tấn nhau từng học giới.

- Vậy về pháp hành chư hiền đã có đầy đủ bên mình cả chưa?

- Dạ chúng con đều đầy đủ. Chúng con, mỗi người đều xin được pháp hành từ Đức Đạo Sư!

Nhìn quanh hội chúng, Tôn giả lại hỏi:

- Chư hiền sống với nhau giữa rừng núi. Vậy sống giữa rừng núi, chư hiền cần phải thành tựu bao nhiêu pháp? Mà nhờ thành tựu những pháp ấy chư hiền đi bất cứ đâu cũng không hỗ thẹn mình là một vị tỳ-khưu sống ẩn cư giữa rừng già, hành theo Pháp Đầu Đà cao thượng?

Chư Tăng ngơ ngác nhìn nhau một hồi rồi họ đồng thanh nói:

- Quả thật chúng con chưa được nghe, chúng con chưa được học hỏi. Mong Trưởng lão bi mẫn chỉ giáo, soi rọi chỗ tối tăm cho chúng con.

Tôn giả Xá-Lợi-Phất bèn giáo giới như sau:

- Này chư hiền! Trước đây nhiều năm, tại Vương-Xá thành có vị tỳ-khưu tên là Gulissani sống tại rừng núi, nhưng khi vào các tịnh xá trong thành phố thì thường có hành động thô tháo. Nguyên nhân của các hành động thô tháo ấy là vì tỳ-khưu Gulissani chưa thành tựu được những pháp ở núi rừng. Bây giờ chư hiền hãy lắng nghe, ta sẽ giảng.

Khi thấy Chư Tăng đang cung kính, chăm chú lắng nghe, Tôn giả đã giảng như sau:

- Này chư hiền! Khi từ núi rừng đến trú với Chư Tăng trong các tịnh xá ở làng hoặc trong thành phố, pháp thứ nhất, chư hiền phải thực hành là biết cung kính các vị đồng phạm hạnh, đừng tự cao, ngã mạn; phải biết vị nào cao hạ để đối xử cho phải lẽ; phải biết vị nào là Trưởng lão, là bậc thầy để tôn trọng, đảnh lễ!

Pháp thứ hai, chư hiền nên thực hành là phải biết khéo léo về chỗ ngồi, đừng chiếm lấy chỗ ngồi của các vị Trưởng lão tỳ-khưu, đừng đuổi chỗ ngồi của các vị tỳ-khưu niên thiếu. Cả hai pháp ấy, chư hiềnthực hành được không?

- Chúng con thực hành được.

Tôn giả lại nói tiếp:

- Pháp thứ ba, là khi về trú giữa Tăng chúng, chư hiền đừng bao giờ đi khất thực quá sớm và trở về quá trưa; vì như vậy mọi người sẽ bàn tán: các vị tỳ-khưu đi la cà đâu đó, ghé nhà thiện tín này, ghé nhà thiện tín kia, để tà mạng, gợi ý ăn món này, món nọ...; thân thiện quá nhiều với giới tại gia cư sĩ. Vậy chư hiền nên đi khất thực đúng giờ và trở về khi vật thực vừa đủ no lòng. Chư hiền nhớ rõ như vậy chứ?

- Chúng con nhớ rõ.

- Pháp thứ tư, chư hiền khi về trú giữa Tăng chúng, đừng bao giờ ghé nhà thiện tín trước bữa ăn hoặc sau bữa ăn; làm như vậy, người ta sẽ bàn tán: mấy ông Sa môn này đến kiếm chác cái gì đây mà trước bữa ăn đến chầu chực và sau bữa ăn chẳng để người ta nghỉ ngơi! Chư hiền có thấy sự dị nghị khó nghe như vậy chăng?

- Đúng là như vậy.

- Pháp thứ năm, chư hiền khi về sống giữa Tăng chúng phải luôn luôn ổn định thân, ổn định khẩu, ý - đừng vung tay vung chân; nói năng điềm đạm, luôn luôn biết tự chế, đừng phóng dật, đừng dao động, đừng nói quá nhiều lời, đừng sa đà vào những câu chuyện phù phiếm, tạp nhạp, rỗng không, vô ích.

- Thưa vâng, bạch Tôn giả!

- Lại nữa, Pháp thứ sáu mà chư hiền nên có là luôn luôn mềm mỏng, chứng tỏ người dịu dàng, dễ dạy; đừng cứng đầu và đừng bao giờ biểu hiện ra ngoài dù là một hành động ác nhỏ; làm sao chứng tỏ mình là một người bạn lành, một thiện trí.

- Chúng con xin ghi nhớ.

- Pháp thứ bảy là phải thường phòng hộ các căn, biết tri túc, tiết độ trong ăn uống, ngủ nghỉ.

- Thưa vâng!

- Pháp thứ tám là phải kiên trì, tinh cần, không được dễ duôi, buông xuôi, biếng nhác... Pháp thứ chín là phải chú tâm, cảnh giác, không thất niệm, phải có thiền định. Pháp thứ mười là luôn luôn chánh niệm, tỉnh giác, có trí tuệ, biết quán chiếu ngũ uẩn.

- Vâng, bạch Tôn giả.

- Pháp thứ mười một là chư hiền cần phải học tập cho thông suốt, rốt ráo... để ai hỏi về thắng Pháp, thắng Luật, chư hiền đều có thể trả lời được.

- Thưa vâng!

- Pháp thứ mười hai là các Pháp tịch tịnh, giải thoát, vượt khỏi sắc pháp, vượt khỏi vô sắc pháp, chư hiền đều có thể giảng giải rành rẽ cho người cầu học. Và pháp thứ mười ba là các thắng trí của bậc thượng nhân, chư hiền cũng cần phải thành tựu.

Thấy hội chúng thảy đều im lặng, Tôn giả Xá-Lợi-Phất khích lệ, sách tấn:

- Thưa chư hiền! Không phải là tôi đã đòi hỏi quá nhiều, mà thật đúng là vậy, có mười ba pháp, vị tỳ-khưu sống ở rừng núi cần phải được học hỏi, y chỉ, thực hành, thành tựu. Khi mà có được mười ba pháp ấy thì chư hiền đi bất cứ đâu, đồng đạo cũng cung kính, ái mộ, mà cận sự nam nữ cũng thảy đều cung kính, ái mộ. Chư hiền đến đâu cũng là bóng mát nương tựa cho Chư Thiênloài người.

Vậy chư hiền hãy cố gắng, kham nhẫn tấn tu, hãy thương yêu nhau, đùm bọc nhau, nhắc nhở nhau để tất cả cùng thành đạt cứu cánh tối thượng của Sa môn hạnh. Là mục đích xán lạn và cao cả, xứng đáng cho những thiện gia nam tử xuất gia cần cầu an ổn mọi ách phược.

Chư Tăng ở trong Rừng Đầu Đà thảy đều hoan hỷ, họ đã nghe một thời pháp chưa từng được nghe: trọn vẹn và toàn hảo. Họ vô cùng tri ân, cung kính tiễn đưa Tôn giả Xá-Lợi-Phất lên đường.

* * *

Dừng ở ngã ba vào Vương-Xá thành, Tôn giả Xá-Lợi-Phất suy nghĩ: "Ta có nên vào kinh đô xứ Ma-Kiệt-Đà chăng? Trong thân bằng, quyến thuộc ở đây, biết ai còn có duyên để dẫn họ vào Chánh Pháp chăng?"

Rồi Ngài tự trả lời:

"- Ta có một ông cậu có duyên với Chánh Pháp. Ông cậu này thường cúng dường đến các đạo sĩ lõa thể, và ông ta nghĩ rằng, làm như vậy là thực hành con đường cộng trú với phạm thể. Ông cậu này, ta đã dẫn đến Đức Đạo Sư, và Đức Thế Tôn đã đặt ông ta vào đức tin Tam Bảo.

Ta cũng có một đứa cháu trai, tháng ngày chuyên giết thú và chăm sóc ngọn lửa tế thần. Y làm như vậy và tin tưởng rằng đấy là con đường dẫn đến cõi Phạm Thiên. Ta đã dẫn cháu ta đến bên chân Đức Đạo Sư và y đã có đức tin Tam Bảo từ đấy.

Ta cũng có một người bạn hữu duyên. Y theo ngoại đạo, hằng ngày tốn tiền bạc mua súc vật, giết súc vật để cúng dường thần lửa. Người bạn này cũng đã được Đức Tôn Sư đặt y vào đức tin chơn chánh rồi.

Vậy chẳng còn ai hữu duyên ở Vương-Xá thành này nữa mà thăm viếng, ngoại trừ gia đình, và người hiện thời mà ta phải quan tâm là Revata!"

Nghĩ thế xong, Tôn giả Xá-Lợi-Phất cùng với đồ chúng bộ hành trở lại Kỳ Viên tịnh xá.

* * *

Bà Sàrì chống gậy nhìn theo hình bóng người con trai thân yêu, mắt già hoen lệ. Cả một cơ ngơi trù phú, thạnh mãn, đông vui mà bây giờ trở nên trống không. Cả hàng trăm gia nô, kẻ hầu người hạ mà lúc nào bà cũng cảm thấy hoang vắng. Tiền rừng bạc bể, sơn hào hải vị cũng trở nên vô ích, nhạt nhẽo...

Revata ra đứng bên cạnh, nắm tay bà, đôi mắt nó cũng nhìn ra hướng xa xăm. Động tâm, bà Sàrì nghĩ:

"- Hay là cái giọt máu cuối cùng này cũng không muốn nối truyền tông hệ? Nó nhìn anh trai trưởng của nó với đôi mắt đầy khâm phục và tôn kính! Nó đã cãi lại ta, bênh vực anh nó, và cảm mến cả lũ Sa môn đầu trọc nữa!

Thôi phải rồi, nguy rồi! Ta phải cứu con trai út của ta! Ta phải cứu cho cả dòng họ Vaganta! Phải cưới vợ cho nó thôi! Revata bảy tuổi, ta sẽ cưới cho nó một cô gái chừng mười bốn mười lăm tuổi, và cô gái ấy sẽ thay ta kềm kẹp nó, ngăn giữ nó, không cho nó có ý nghĩ ngông cuồng chạy theo bọn không cửa không nhà! Gia sản phải có người gìn giữ, huyết thống phải có người kế thừa!"

Nghĩ là làm ngay. Ngày hôm sau, bà cho mời mấy người trưởng thượng trong quyến thuộc, trình bày lý do, sao đó, nhờ họ dò hỏi ở những gia đình cùng tập cấp và vai vế, cùng danh vọng và gia sản. Một cô gái mười bốn tuổi xinh đẹp được tìm ra. Lễ dạm hỏi được tiến hành nhanh chóng. Gia đình bà Sàrì giàu có nên không cần của hồi môn của cô gái.

Revata còn bé quá nên không biết gì. Đến ngày cử hành hôn lễ, cậu bé được mặc trang phục xinh đẹp, mang đồ trang sức quý giá, cùng với hàng trăm tùy tùng bước lên những cỗ xe sang trọng đi đến nhà gái. Revata được người ta cho biết là hôm nay cậu cưới vợ, và cô gái kia sẽ ăn ở với cậu trọn đời. Đến đây thì cậu đã hiểu tuy còn rất mơ hồ.

Thân bằng quyến thuộc của hai họ tề tựu đông đủ. Cờ, đèn, hoa và màu sắc chỗ này chỗ kia làm cậu ta hoa mắt. Đến giờ lành, giờ tốt, người ta cử hành lễ rước dâu. Cậu đứng bên một cô gái cao hơn cậu cả một cái đầu - mặt được trùm kín bởi một chiếc khăn mỏng - không thấy mặt mũi cô gái ra sao, chỉ nghe người ta nói là đẹp lắm!

Vị Trưởng lão chủ hôn, đặt tay trong bát nước, rảy nước rồi công bố phúc lành:

"- Cầu cho các con trăm năm tơ hồng thắm thiết. Cầu cho các con được phúc thọ khang ninh như bà ngoại của cô dâu vậy."

Sau lời cầu chúc tốt đẹp của hai họ, Revata tự nghĩ: "Bà ngoại của nàng là ai vậy?" Khi được biết rằng, đấy là một cụ bà sống một trăm hai mươi tuổi, răng rụng, tóc bạc, da nhăn đầy những vết đồi mồi, lưng còng như một cái kèo uốn cong hình chữ U...! Revata bèn thăm hỏi người hầu thân tín: "Này, cô dâu xinh đẹp trẻ trung của tôi, khi già thì trông cũng giống như bà ngoại của nàng chăng?" Người ta đáp: "Đấy là điều dĩ nhiên. Bệnh, già, chết là định luật cậu ạ, chẳng ai tránh thoát được đâu!"

Khi sự thật đã được xác nhận, đã được thấy rõ, Revata kinh hãi, tự nghĩ:

"- Đấy có lẽ là sự thật mà các anh trai của ta đã nhận thức nên họ đã từ bỏ gia đình để làm những vị Sa môn. Vậy ngay bây giờ ta phải tìm cách, lập kế mà trốn đi kẻo không còn kịp nữa. Ta phải xuất gia!"

Thế rồi trên đường trở về cùng với cô dâu trên chiếc xe hoa sực nức mùi hương, Revata chợt la lên:

- Hãy dừng xe lại một chút. Tôi bị đau bụng!

Revata bước ra khỏi xe, tất tả đi vào một đám cây rậm rạp, một lát, cậu chậm rãi trở lại. Lần thứ hai, lần thứ ba Revata cũng viện cớ như vậy.

Lần thứ tư, khi còn cách nhà không bao xa, Revata nói một cách rất tự nhiên:

- Rõ là cái bụng nó đang hành hạ tôi. Nhà cũng sắp đến rồi, vậy quý vị cứ chầm chậm cho xe đi trước, tôi sẽ theo kịp ngay tức khắc.

Không ai nghi ngờ gì cả, họ đánh xe đi. Revata đi vào một đám cây khuất bóng, rồi cậu co giò chạy một mạch vào hướng Tây khu rừng. Trời gần tối, đói meo, mệt lã, cậu tìm ra ngôi Rừng Đầu Đà, nơi có ba mươi vị tỳ-khưu mà trước đây Tôn giả Xá-Lợi-Phất đã dặn dò. Gặp họ, Revata đảnh lễ:

- Thưa Chư Đại Đức! Hãy cho con xuất gia, hãy thâu nhận con vào Tăng chúng.

- Này cậu bé! Một vị Trưởng lão nói - với những trang sức quý giá và với những y phục cao sang, đẹp đẽ như vậy, không biết cậu bé là con vua hay cháu chúa làm sao chúng ta dám nhận vào Tăng đoàn này, nơi những Sa môn sống đời ẩn cư khổ hạnh?

- Bạch Ngài, con là em trai út của Upatissa.

- Upatissa là ai?

- Bạch Ngài! Upatissa là tên của anh trai con thuở còn là gia chủ. Từ khi xuất gia đến nay, anh trai con có tên là Xá-Lợi-Phất!

Các vị Trưởng lão, Đại Đức, thất kinh cùng đứng đậy:

- Sao? Đúng là em trai Tôn giả Xá-Lợi-Phất đấy chứ?

- Dạ đúng vậy! Anh trai con là Xá-Lợi-Phất, xuất thân trong gia đình trưởng giáo Bà la môn, dòng họ Vaganta con bà Sàrì. Một ngôi làng phía Đông, cách đây gần một ngày đường.

- Đúng rồi, không hoài nghi gì nữa! Này cậu bé! Trưởng lão Xá-Lợi-Phất có dặn bảo chúng tôi, chờ đợi cậu và làm lễ xuất gia cho cậu. Ngài là anh cả của chúng tôi, là thầy của chúng tôi, là cái mặt trời, mặt trăngchúng tôi hằng ngưỡng mộ!

Thế rồi, Revata được cởi ra những y phụctư trang, mặc vào mảnh y của người khất sĩ, làm lễ cạo tócxuất gia.

Một vị tỳ-khưu trong Rừng Đầu Đà bộ hành về Kỳ Viên tịnh xá báo lại sự việc cho Tôn giả Xá-Lợi-Phất nghe. Ngài muốn đi thăm em, nhưng lần thứ nhất, lần thứ hai Đức Thế Tôn đều nói:

- Này Xá-Lợi-Phất! Bây giờ là chưa phải thời! Hãy kham nhẫn!

Trong lúc ấy, sa-di Revata tự nghĩ:

" Nếu ta tiếp tục trú ngụ ở đây, dầu chỉ một ngày thôi, thì trước sau gì gia đình cũng tìm thấy."

Bèn xin đề mục thiền quán từ vị Trưởng lão rồi mang y và bát, Revata khởi sự một chuyến du hành rất xa, ba mươi dặm đường, một mình vào trú trong khu rừng xiêm gai. Revata nhập hạ ở đây trong ba tháng mùa mưa, Revata thành tựu được mục đích của Sa môn hạnh cùng với những thắng trí của bậc thượng nhân!

Hôm ấy, Đức Thế Tôn nói với Tôn giả Xá-Lợi-Phất:

- Bây giờ là phải thời, Như Lai sẽ cùng ông đi thăm sa-di Revata.

Đại chúng hay tin, chư phàm Tăng không ngớt bàn tán, cho rằng Đức Thế Tôn thiên vị vì Revata là em trai của Bậc Tướng Quân Chánh Pháp. Họ nói:

- Chúng ta hãy xem! Một chú sa-di bảy tuổi, lại ở cách xa biết bao dặm đường, thế mà Đức Thế Tôn phải đích thân đi thăm viếng, hẳn là một sự kiện hy hữu!

Biết được tâm ý của một số tỳ-khưu như vậy, nhưng Đức Thế Tôn không nói gì, Ngài bảo Tôn giả Xá-Lợi-Phất tập hợp đại chúng rồi lên đường. Đến một ngã tư, Trưởng lão Ànanda thưa rằng:

- Có hai con đường dẫn đến rừng xiêm gai của sa-di Revata. Con đường tốt được bảo vệ, có dân cư và nhà cửa đông đúc, dài sáu mươi do-tuần. Một con đường xấu, không được ai bảo vệ, nhiều phi nhânác thú, hoang vắng người và nhà cửa, nhưng rất ngắn, chỉ có ba mươi do-tuần. Vậy chúng ta đi con đường nào, bạch Đức Thế Tôn?

Đức Phật hỏi Ngài thị giả:

- Có Sìvali đi cùng đấy không, Ànanda?

- Thưa có, có Trưởng lão Sìvali trong số năm trăm tỳ-khưu.

- Vậy chúng ta đi con đường ngắn.

Tôn giả Ànanda băn khoăn:

- Bạch Đức Thế Tôn! Con đường này thật không dễ dàng khất thực cho một hội chúng đông đúc!

- Này Ànanda! Đức Phật nói - ông đừng nên quá lo xa như vậy, sẽ có nhân, duyên, quả nó làm việc.

Con đường ngắn thật hiểm trở, cheo leo, vất vả.

Nhưng ngạc nhiên làm sao, con đường ấy hôm nay lại bằng phẳng, phong quang! Và cứ cách một do-tuần là có những căn nhà nghỉ to, rộng, thoáng mát. Nơi những cằn nhà nghỉ đầu tiên, có những cư dân không biết ở đâu xuất hiện, ăn mặc sang trọng, mang những mâm vật thực sang trọng, tỏa ngát mùi hương đi tìm Trưởng lão Sìvali và dâng cúng vật thực cho vị ấy.

Trưởng lão Sìvali lại bảo họ dâng cúng đến Đức Thế TônTăng chúng. Suốt ba mươi do-tuần, Bậc Đạo Sưđại chúng được nghỉ ngơi và thọ dụng vật thực kỳ lạ như vậy.

Đến khu rừng xiêm gai, sa-di Revata trang nghiêm, tề chỉnh ra đảnh lễ Đức Thế TônTăng chúng. Mọi người đưa mắt nhìn quanh, chẳng còn thấy đâu là khu rừng già đầy gai góchoang dã nữa. Kia là hương phòng dành cho Đức Đạo Sư đẹp đẽ như cung điện của cõi trời. Rải rác cả mấy khu rừng là năm trăm chỗ ngụ có tháp nhọn, mỗi chỗ ở trang trọng như vậy được dành cho một vị tỳ-khưu! Ngoài ra có năm trăm con đường đi kinh hành có mái che xanh mát bởi dây leo và hoa nở; lại có cả năm trăm khu vực dành cho ban ngày và ban đêm...

Chư Tăng không ngớt bàn tán, chỉ chỏ. Tôn giả Xá-Lợi-Phất ân cần nắm tay sa-di Revata:

- Ta hoàn toàn mãn nguyện, em có biết không, Revata?

Revata kính cẩn nắm tay anh, và biết rằng, mọi nhân, mọi duyên hôm nay mà được chín muồi đều do nhờ ân đức của người anh trai cao quý này.

Tại đây, Đức Thế Tôn ở lại một tháng để giáo giới Chư Tăng. Ngài tán thán hạnh độc cư, thiền định, tán thán những nỗ lực tấn tu phạm hạnh của Revata, khuyên Chư Tăng nên lấy đó làm gương, làm cái đích để tiến hóa.

Trong thời gian ở đây, Đức PhậtTăng chúng được số dân cư xa lạ dâng cúng vật thực đầy đủ. Trước khi rời khu rừng xiêm gai, Đức Thế Tôn đã xóa tan mọi nghi hoặc trong tâm của đại chúng:

- Này các thầy tỳ-khưu! Suốt ba mươi do-tuần và cả thời gian một tháng ở đây, Như Lai và các thầy được dâng cúng vật thực thượng vị đều do nhờ phước báu của một người: đấy là tỳ-khưu Sìvali! Sự kiện hy hữu ấy các thầy phải thấy rõ để tăng trưởng đức tin chơn chánh vào Giáo Pháp!

Chư Tăng im lặng, họ đã hiểu lý do cuộc lên đường xa xôi của Đức Phật.

- Bạch Đức Thế Tôn - một vị hỏi - do nhân gì, do duyên gì mà Trưởng lão Sìvali có phước báu thù thắng như vậy?

Đức Phật lại phải vén bức màn quá khứ đã bị che lấp:

- Này các tỳ-khưu! Cách đây chín mươi mốt đại kiếp, vào thời Đức Phật Tì-Bà-Thi (Vipassi), tỳ-khưu Sìvali là một nông dân nghèo. Hôm kia, y lấy được một ổ mật ong tươi. Ôi mật ong ấy trị giá chỉ có mấy xu nhưng người ta trả giá mua đến một ngàn đồng tiền vàng. Khi biết rằng, họ mua là để cúng dường, người nông dân ấy đã không bán để lấy tiền mà phát tâm hoan hỷ hùn phước. Y đã cúng dường mật ong đến Đức Phật Tì-Bà-Thi và Tăng chúng sáu mươi tám ngàn vị. Do nhân ấy, do duyên ấy mà nhiều đời kiếp cho đến hôm nay, Sìvali bao giờ cũng sung mãn vật thực, trong Giáo Hội không ai bằng được, kể cả Nhu Lai.

Sau này, khi các thầy bộ hành qua các làng mạc xa xôi, gặp lúc đói kém, mất mùa - hãy tháp tùng với Sìvali, dầu năm vị, mười vị hay hơn thế nữa các thầy vẫn được no đủ. Thí chủ của tỳ-khưu Sìvali ở khắp nơi, không phải chỉ có loài người mà còn có cả chư thiên và thọ thần nữa!

Im lặng một lát, Đức Thế Tôn đứng dậy, nắm tay sa-di Revata rồi nói rằng:

- Còn đây là con trai của Như Lai, con trai thù thắng của Như Lai! Các thầy biết tại sao mà Như Lai yêu mến Revata như vậy không? Nếu biết chuyện của Revata thì trong các thầy, ai cũng phải yêu mến và đều muốn đi viếng thăm Revata cả!

Này các thầy tỳ-khưu! Mặc dầu mới bảy tuổi nhưng Revata đã phải lên xe hoa với cô dâu. Thế nhưng, khi sắp về đến nhà, Revata đã tìm cách trốn đi, nhịn đói, nhịn khát vượt qua con đường dài, đến khu Rừng Đầu Đà với quyết chí xuất gia. Ngày hôm sau, Revata đã vội vã lên đường làm một cuộc bộ hành xa xăm hơn nữa, đến đây, với y và bát, an cư mùa mưa và khởi tâm đạt cho được quả vị A-La-Hán. Thế rồi, cuối mùa mưa, Revata thành đạt được ý nguyện cùng với những thắng trí. Hương phòng của Như Lai, năm trăm chỗ ngụ có tháp nhọn, năm trăm đường đi kinh hành... cùng mọi tiện nghi ăn ở khác, tất cả đều do năng lực của Revata!

Vậy các thầy có thấy đấy là sự kiện hy hữu không?

Khi Chư Tăng hoan hỷ cất tiếng "lành thay" thì Chư Thiên, thọ thần khắp núi rừng đồng loạt tán thán theo làm chấn động đến cả cõi trời.

* * *

Revata sau này đến tuổi, thọ đại giới. Ba người chị của Revata, mỗi nàng sinh được một người con trai, được đặt những tên có nghĩa là "theo chân người mẹ". Rồi họ xuất gia.

Các cậu con trai khi được bảy tuổi, bèn "theo chân người mẹ", họ cũng xuất gia luôn. Và chính Đại Đức Revata nhận họ, làm thầy truyền sa-di giới. Những vị tỳ-khưu ni Càlà, Upacàlà và Sisupacàlà đều đắc quả A-La-Hán. Các con trai của các nàng đều có hạnh kiểm tốt đẹp.

Tôn giả Xá-Lợi-Phất dường như đã chu toàn xong những bổn phận cao cả đối với gia đình, quyến thuộc, bằng hữu; nhưng Ngài còn một nỗi bên lòng: ấy là mẹ Ngài, đang còn theo ngoại đạo, vẫn giữ vững đức tin với Đấng Phạm Thiên của bà, không gì lay chuyển nổi!

Với Nữ đạo sĩ tóc quăn

Được biết rằng nàng là một cô gái xinh đẹp tuyệt trần, con của một thương nhân giàu có ở Vương-Xá thành, phải lòng một tên cướp đang bị dẫn ra xử trảm ở pháp trường.

Vì thương con, cha mẹ nàng phải hối lộ một ngàn đồng tiền vàng để người ta đánh tráo tên cướp, mang về nhà và sắp đặt một cuộc hôn nhân. Nàng và tên cướp bắt đầu sống chung với nhau trong cảnh vinh hoa phú quý. Chẳng được bao lâu, tên cướp khởi lên ác tâm, muốn giết nàng để lấy đi tất cả đồ nữ trang quý giá. Hắn lập mưu nói là muốn làm một cuộc lễ tạ ơn đến vị thần bổn mạng hộ trì, đấy là "ngọn núi thiêng của những tên cướp". Hôm kia, sau khi sắm sửa lễ vật trọng thể, hắn dẫn nàng lên núi cao. Tại đây, tên cướp lột tất cả đồ trang sức của nàng rồi định giết nàng. Hắn đã nói thật dã tâm của hắn. Chán nản người chồng ác đức, tương kế tựu kế, nàng đã xô anh ta xuống vực sâu tan xác.

Đã thấm thía tình duyên phản trắc, cô gái quăng đồ nữ trang, xé rách y phục sang trọng, khoác một mảnh vải tìm đến một phái đạo sĩ khổ hạnh.

Các nữ đạo sĩ hỏi nàng:

- Cô muốn xuất gia khổ hạnh bậc gì?

- Bậc thượng!

Thế là thay vì cạo tóc bằng những bẹ nứa, người ta nhổ từng sợi tóc cho nàng, máu chảy thành dòng. Các nữ đạo sĩ lấy bùn đất do uế trát lên y áo của nàng, trao cho một cái bát bằng đất rồi dạy giáo pháp, tu tập, thiền định... Không bao lâu sau, cô gái bây giờ là nữ đạo sĩ - đã chứng tỏ sự thông minh kỳ đặc, một ý chí sắc thép, một đầu óc siêu việt, một lý trí sắc bén - nên sớm được đồng đạo nể phục. Người ta muốn nàng lên đường để xiển dương giáo pháp, đem chuông trống đi đánh xứ người... Từ đấy, nữ đạo sĩ sống đời ta bà vô trú, không bao lâu đã nổi tiếng khắp nơi về tài hùng biện...

Từ quốc độ này sang quốc độ khác, từ thành phố này sang thị trấn nọ, nữ đạo sĩ đã trổ tài vô địch trong những cuộc tranh luận về các môn triết học, tư tưởng trong và ngoài truyền thống Vệ-Đà; giương cao ngọn cờ minh triết cho một môn phái khổ hạnh, chủ trương diệt dục bằng lối sống khắc kỷ. Đến ở đâu, nữ đạo sĩ cắm lên đấy một nhành liễu xanh. Nhưng rồi, đến một lúc nào đó, nhành liễu này khô đi lại được thay bằng một nhành liễu mới, chẳng có ai dám nhổ nhành liễu để tranh luận với nàng nữa!

Hôm nọ, bước chân ta bà ấy đến Xá-Vệ, nữ đạo sĩ cắm một nhành liễu ngay trước cổng thành. Một số trẻ em tò mò vây quanh...

Tôn giả Xá-Lợi-Phất, sau khi đi khất thực, trên đường trở về tịnh xá, thấy đám trẻ và nhành liễu, Ngài dừng chân:

- Của ai đấy, các con?

- Của nữ đạo sĩ tóc quăn, thưa Trưởng lão.

- Nữ đạo sĩ à?

- Dạ phải, nữ đạo sĩ tuy ăn mặc xấu xí, tóc quăn, nhưng đẹp lắm.

Tôn giả nói:

- Vậy thì các con hãy nhổ nhành liễu ấy và quăng đi!

- Chúng con sợ!

- Không sao, có ta đây! Khi nữ đạo sĩ hỏi, các con bảo là đệ tử của Đức Thế Tôn nhổ đấy!

Đám trẻ reo hò, chúng đến, không phải là nhổ mà là dẫm đạp lên nhành liễu, đá tung bụi, bẻ vụn nhành liễu, và quăng tơi tả đó đây.

Nữ đạo sĩ tóc quăn đi khất thực trở về thấy vậy bèn quát:

- Ai cả gan như thế?

- Không phải là chúng con mà là Ngài Trưởng lão cao quý của chúng con, Ngài đứng kia kìa!

Quay nhìn Trưởng lão, nữ đạo sĩ thấy một Sa môn tướng mạo đoan nghiêm, thần sắc thanh thoáttrầm tĩnh. Chợt dưng nàng cảm nghe hơi chột dạ. Nàng chưa biết ai, thấy ai toát ra được cái tự chủ và tự tin như thế.

- Có phải ông là đ? tử của Sa môn Cồ-Đàm đấy không?

- Vâng, thưa nữ đạo sĩ!

- Ông chấp nhận một cuộc tranh luận không khoan nhượng chứ?

- Vâng, thưa nữ đạo sĩ!

- Ông có biết rằng chấp nhận tranh luận là một sự mạo hiểm? Ông mà thất bại thì danh dự, tiếng tăm của ông và cả Sa môn Cồ-Đàm sẽ biến thành mây khói?

- Bần đạo biết rõ, thưa nữ đạo sĩ!

Nhìn xung quanh, nữ đạo sĩ nói với mọi người:

- Vậy thì chiều nay, tại trú xứ của ông Cồ-Đàm, sẽ có một cuộc tranh luận về giáo pháp. Thành phố này, ai là người có tai, có óc thì hãy đến đấy mà nghe!

Tôn giả Xá-Lợi-Phất khiêm tốn:

- Đúng vậy, chiều nay, tại cổng tịnh xá Kỳ Viên, kẻ ngu hèn này xin được hầu đáp nữ đạo sĩ - một biện sĩ lỗi lạc!

Không mấy chốc, câu chuyện đồn đãi khắp cả thành Xá-Vệ. Buổi chiều, người ta vây quanh khu đất trống trước cổng tịnh xá Kỳ Viên. Không những là dân chúng, cư sĩ các tôn giáo mà còn có bóng dáng hàng trăm đạo sĩ của nhiều giáo phái, hàng trăm vị tỳ-khưu đồng tham dự nữa.

Người ta bàn tán với nhau:

- Trên đời này, có ai tranh luận hơn vị Trưởng lão đ? nhất của Giáo Hội Đức Tôn Sư?

- Thật là con đom đóm muốn khoe ánh sáng với mặt trời!

- Biết đâu có một kỳ nhân, dị sĩ xuất hiện?

- Eo ôi! Đúng là đem trống đánh trước cửa nhà sấm!

Đám đông chợt yên lặng khi nữ đạo sĩ tóc quăn xuất hiện. Mặc dầu y áo xộc xệch, vấy bẩn bùn đất nhưng cũng không che dấu được vẽ đẹp tuyệt trần của nàng.

Trưởng lão Xá-Lợi-Phất trang nghiêm, từ tốn từ trong tịnh xá bước ra. Mọi người hồi hộp, yên lặng.

Nữ đạo sĩ nói:

- Ngài lấy tư cách cá nhântranh luận hay lấy tư cách Giáo Hội ông Cồ-Đàm mà tranh luận?

- Là cá nhân, thưa nữ đạo sĩ! Tư cách Giáo Hội thuộc về Đức Tôn Sư. Không ai ở trên đời này có thể đại diện một Đức Chánh Đẳng Chánh Giác , thưa nữ đạo sĩ!

- Thế cũng được. Bây giờ cho tôi được hỏi đây. Ông Sa môn cần những câu hỏi có giới hạn hay không có giới hạn?

Tôn giả Xá-Lợi-Phất xót thương cho sự cống cao, ngã mạn của nàng nên nói:

- Đối với tôi không thành vấn đề. Nhưng đối với nữ đạo sĩ thì nên đặt những câu hỏi sở trường nhất của nàng!

- Tại sao?

- Như vậy sẽ có lợi cho nữ đạo sĩ hơn. Vì tất cả mọi triết học, tư tưởng trong và ngoài truyền thống Vệ-Đà tôi đều biết rõ, thấy rõ; nhưng về Giáo Pháp của Đức Tôn Sư, nữ đạo sĩ không hề hay biết dầu là một tí chút ở ngoài da!

Đám đông cười ồ! Chỉ mới câu nói đầu tiên của Trưởng lão, dường như đã minh định được sự hơn thua của cuộc tranh luận. Nữ đạo sĩ thấy mình bị xem thường nên tức giận:

- Thôi đừng nhiều lời, ông Sa môn, hãy nghe ta hỏi đây!

Tôn giả ân cần nhắc nhở:

- Đừng nôn nóng, hãy bình tỉnh! Hãy đặt những câu hỏi nào mà nữ đạo sĩ cảm thấyhóc búa nhất về Vệ-Đà và không Vệ-Đà, cả về thiên văn, địa lý, đạo đức, thuật số, luận lý, ngôn ngữ... thế học, đạo học... hoặc về tất cả những gì mà đầu óc uyên bác của nữ đạo sĩ suy nghĩ ra!

Kinh sách không ghi lại nội dung chi tiết của cuộc tranh luận lý thú này, chỉ nói là nữ đạo sĩ đã cật vấn Trưởng lão một ngàn câu hỏi. Thật là kinh khiếp! Từng câu hỏi một, Trưởng lão đã như một nhà thông thái giải thích, phân tích, đi từ ngoài vào trong, đi từ trong ra ngoài, không những trả lời rất đầy đủ những câu hỏi của nàng mà còn làm cho nàng thấy rõ kiến thức nông cạn, hời hợt của mình nữa.

Nữ đạo sĩ say mê lắng nghe. Tất cả những ngạo khí thảy đều tiêu tan. Mọi sự khôn ngoan, sắc bén của nàng đều thui chột. Mọi kiến thức uyên bác của nàng rõ là trò trẻ con đối với Trưởng lão.

Tôn giả nói:

- Còn câu hỏi nào nữa không, thưa nữ đạo sĩ?

Nữ đạo sĩ im lặng. Tôn giả cất lời dịu dàng:

- Một ngàn câu hỏi nữ đạo sĩ đã hỏi tôi, vậy bây giờ tôi hỏi nàng nhé, một câu duy nhất thôi!

- Vâng, thưa Trưởng lão.

- Thưa nữ đạo sĩ! Nữ đạo sĩ hỏi huyên thuyên trên trời dưới đất. Bây giờ là câu hỏi của tôi: Gì là "Một"? - nói đi, nữ đạo sĩ - một là gì nào?

Câu hỏi của Tôn giả thật là lạ lùng không ai ngờ được. Đại chúng sau một hồi lặng ngắt, chợt cười reo, thú vị. Nữ đạo sĩ bàng hoàng. Thời gian trôi qua. Nữ đạo sĩ toát mồ hôi mà tượng đá cũng toát mồ hôi!

Tôn giả Xá-Lợi-Phất chậm rãi thả từng tiếng:

- "Một" mà nữ đạo sĩ cũng không biết thì đòi biết cái gì? "Một" của số học, lượng học, hay triết học thì cũng là cái "Một" ấy thôi! Mà quả thật, cái "Một" ấy là ra sao, thưa nữ đạo sĩ?

- Tôi không trả lời được. Tôi đã thua cuộc.

- Vậy là đúng, vậy là chính xác, vậy là chân thực. Cho dẫu nàng có trả lời được, biết được thì cũng chẳng đi đến đâu, chẳng đưa đến chấm dứt khổ đau và phiền não!

- Nhưng tôi muốn biết "Một" ấy là gì?

- Nếu nữ đạo sĩ từ bỏ giáo pháp ấy - cái giáo pháp rỗng không và phù phiếm của nàng - xuất gia dưới chân của Đức Tôn Sư, rồi nàng sẽ biết cái "Một" ấy là gì.

- Vậy hãy cho tôi gia nhập Ni chúng!

Thế là cuộc tranh luận chấm dứt. Khi được biết rằng người luận thắng nàng là Đại Đệ Tử của Đức Phật, Bậc Tướng Quân Chánh Pháp, vị Thượng Thủ của Giáo Hội, nữ đạo sĩ không thấy xấu hổ nữa. Sau đó, Tôn giả Xá-Lợi-Phất cho nhắn tin đến Giáo Hội Tỳ-khưu Ni, và nữ đạo sĩ tóc quăn được xuất gia với Trưởng lão Ni Gotamì, có tên là tỳ-khưu ni Kundalakesì. Nàng nhận được đề mục thiền quán từ Đức Tôn Sư và chỉ sau ba ngày, nàng đắc quả A-La-Hán. Tri ân xiết bao, tỳ-khưu ni Kundalakesì tìm đến đảnh lễ dưới chân Tôn giả Xá-Lợi-Phất, rồi nói:

- Nếu hôm ấy, con biết được trên đời có một Giáo Hội minh triết với những con người minh triết như thế này thì con sẽ không dám đặt ra một câu hỏi nào cả!

Tôn giả Xá-Lợi-Phất mỉm cười:

- Này Kundalakesì! "Một" là gì nào?

Tạo bài viết
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.