Bản Thể Luận Phật Giáo Trong Kinh Viên Giác, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm

18/10/20174:01 SA(Xem: 2477)
Bản Thể Luận Phật Giáo Trong Kinh Viên Giác, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm

BẢN THỂ LUẬN PHẬT GIÁO
TRONG KINH VIÊN GIÁC, KINH HOA NGHIÊM, KINH LĂNG NGHIÊM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
ĐINH QUANG HỔ
(THÍCH QUẢNG TÙNG)
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội

2016

 

TOÀN VĂN LUẬN ÁN XIN XEM BẢN PDF ĐÍNH KÈM:
pdf_download_2Bản Thể Luận Phật Giáo (Luận án Tiến Sĩ)

 

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

 

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Bản thể luận là một trong những nội dung cơ bản của triết học luôn được các nhà triết học đề cập đến bất luận theo quan điểm, trường phái nào. Những quan niệm về bản thể luận có thể rất khác nhau, nhưng tựu trung lại theo cách này hay cách khác, ở trình độ lý luận hay chỉ là những quan niệm rời rạc thì đều nhằm tới việc lý giải cho sự tồn tại hiện thực trên lát cắt cội nguồn, khởi nguyên của nó.

Nghiên cứu về bản thể luận phật giáo để làm rõ khía cạnh triết học của một tôn giáo lớn, khai thác những giá trị tích cực của quan điểm này để hoằng dương giáo hóa mọi người hiểu biết về giá trị của giáo lý phật giáo luôn là mối quan tâm không chỉ của các nhà tu hành trong giáo hội phật giáo mà của đông đảo các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Kinh Viên giác, Kinh Hoa NghiêmKinh Lăng Nghiêm là những bộ kinh đồ sộ trong kho tàng kinh điển của phật giáo thuộc phái đại thừa. Đây là những bộ kinh hàm chứa nội dung tính “nhất thừa viên giáo”, không thiên lệch giữa các pháp môn tu hành, không có sự phân cách giữa đại thừatiểu thừa, mà chỉ có “kiến tính thành Phật”. Ba bộ kinh này thường được đánh giá là những bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo, ở đó Đức Phật muốn khai thị về tự tính Viên giác, về “Nhất chân pháp giới” của mọi người. Con người ai cũng có sẵn trong mình sự giác ngộ viên mãn như một bản thể không đổi mà sự hiện hữu trên cõi đời chỉ là diệu dụng, tuỳ duyên được sinh ra từ bản thể thanh tịnh đó. Khi con người tìm được các pháp môn tu hành thích hợp để giác ngộtrở về tự tính Viên giác. Khi con người tiến được tới Nhất chân pháp giới thì đó là thế giới đã vượt lên mọi sự đối đãi, bản thể tức là hiện tượng và ngược lại, tuyệt đối bình đẳng, đạt được sự tự do tuyệt đối về mặt tâm linh.v.v.. Với những tư tưởng như vậy nên các bộ kinh này mặc dù là sự chuyển tải những lời thuyết giảng của Đức phật cho các vị Bồ tátchúng sinh trên con đường tu tập để đạt đến Viên giác, nhưng trong đó lại bao hàm nhiều triết lý sâu xa của Đạo Phật liên quan đến vấn đề bản thể luận trong triết học.

Để góp phần làm rõ tính triết học trong những triết lý của Phật Giáo thông qua những quan niệm của đạo phật về thế giới, về con người, nhằm chỉ ra những giá trị học thuật của tư tưởng phật giáo không chỉ từ phương diện tôn giáo, lại là nhà tu hành đang theo học ngành triết học, tôi mạnh dạn chọn vấn đề: Bản thể luận Phật giáo qua Kinh Viên Giác, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm” làm công trình nghiên cứu của mình.

2. Mục đíchnhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích

Mục đích của luận án là trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về bản thể luận và bản thể luận trong triết học phật giáo, luận án phân tích sự thể hiện quan điểm về bản thể luận trong triết học phật giáo qua Kinh Viên giác, Kinh Hoa nghiêm, Kinh Lăng nghiêm, từ đó chỉ ra những giá trị của những quan điểm này trong kho tàng kinh điển Phật giáo.

2.2. Nhiệm vụ

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về bản thể luận và bản thể luận Phật giáo.

 - Giới thiệu về Kinh Viên giác, Kinh Hoa nghiêm, Kinh Lăng nghiêm và phân tích quan niệm về bản thể luận Phật giáo thể hiện qua các bộ Kinh này.

     - Đánh giá ý nghĩa, giá trịhạn chế trong quan niệm về bản thể luận của triết học phật giáo được thể hiện trong các bộ Kinh này.

3. Cơ sở lý luậnphương pháp nghiên cứu

3.1. Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận án là các quan điểm của các nhà kinh điên Mác- Lênin về tôn giáo; các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về nghiên cứu tôn giáo nói chung và Phật Giáo nói riêng cùng với Kinh, luận Phật giáo.

3.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu của phép biện chứng duy vật như thống nhất logic - lịch sử; đi từ trừu tượng đến cụ thể...kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích, tổng hợp, khái quát hoá...

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng bản thể luận của triết học Phật Giáo.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Kinh Viên Giác, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng nghiêm.

5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

    - Trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản trong quan niệm của triết học Phật Giáo về bản thể luận.

- Khái quát những tư tưởng bản thể luận Phật giáo qua Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Viên giác, Kinh Lăng nghiêm, đặc biệtsự luận giải con đường trở về bản thể của Phật Giáo thể hiện qua Kinh Viên giác. Quan niệm về “Nhất chân pháp giới” trong Kinh Hoa nghiêmquan niệm về “Chân Tâm thường trụ” của Kinh Lăng nghiêm.

6. Ý nghĩa lý luậnthực tiễn của luận án

    6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần làm sáng tỏ những tư tưởng cơ bản trong triết học Phật Giáo về bản thể luận, để chỉ ra những giá trịhạn chế của những quan điểm này trong xã hội ngày nay.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh trong những nghiên cứu liên quan đến triết học, tôn giáo học, triết học Phật Giáo

7. Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luậndanh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương, 13 tiết.

 

CHƯƠNG 1
 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Những công trình nghiên cứu về Phật Giáo nói chung

Một số công trình tiêu biểu liên quan đến lĩnh vực này như của Kimura Taiken: Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận, người dịch là Thích Quảng Độ. Công trình “Triết học và tôn giáo phương đông” của  Diane Morgan, Công trình Đạo Phậtđời sống hiện đại của K. Sri Dhammananda (Thích Tâm Quang dịch), công trình Những điểm đặc sắc của Phật giáo của Lâm Thế Mẫn (Thích Chân Tính dịch, công trình: “Tứ diệu đế” của Đức Đạt – Lai Lạt Ma XIV, Trần Trọng Kim với 3 công trình tiêu biểuPhật lục  Phật học, Phật giáo (2010),  Nguyễn Đăng Thục Lịch sử triết học phương đông, (tập 3) ….đều là các công trình trình bày những nét khái quát về lịch sử, giáo lý và những đặc điểm cơ bản của phật giáo. Ngoài ra, còn phải kể đến một số công trình như: Cuốn “Đối thoại giữa Triết họcPhật giáo của Jean Francois Revel và Matthieu Ricard do Hồ Hữu Hưng dịch, Phật giáo những vấn đề Triết học của Ngô Văn Doanh và Nguyễn Hùng Hậu dịch, Đức PhậtPhật pháp do Phạm Kim Khánh dịch, Phật học cơ bản của Ban Hoằng pháp Trung ương, Cuốn Bước đầu học Phật của Hòa thượng Thích Thanh Từ, Con đường thành Phật của Pháp sư Ấn Thuận, Tôn giáo khái niệm và lịch sử của Thích Nguyên Hạnh, Tìm hiểu Đạo Phật của Khantipalo do Tỳ kheo Thích Chơn Thiện dịch, Triết học Phật giáo của Nguyễn Duy Hinh..v..v…những công trình này, tùy ở góc độ tiếp cận và cách phân tích có thể khác nhau, nhưng nhìn chung đều cung cấp những kiến thức cơ bản và có hệ thống về phật giáo với tư cách là một tôn giáo, đồng thời thể hiện những tư tưởng triết học. Đây là những công trìnhgiá trị tham khảo quan trọng để tác giả luận án định hưởng và triển khai nội dung nghiên cứu của mình.

Nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt nam có  “Việt Nam phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang, nhà xuất bản Văn học Hà nội, 1994; “Lịch sử phật giáo Việt Nam” do Nguyễn Tài Thư (chủ biên), nhà xuất bản KHXH, HN, 1998; Nguyễn Duy Hinh với “Tư tưởng Phật giáo Việt Nam”, Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Viện Triết học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản (Nxb. Khoa học Xã hội, 1988),  “Một số tôn giáoViệt Nam” của  Nguyễn Thanh Xuân; NXBTG, HN 2009; “Mấy vấn đề về phật giáo trong lịch sử Việt Nam” của Nguyễn Đức Sự, lê Tâm Đắc, NXBCTQG, HN 2010; Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát (3 tập), Nxb TPHCM, 2005, 2006  v.v… Đây là những công trình nghiên cứu rất công phu về Phật giáo tại Việt Nam từ khi mới du nhập. Trong các công trình trên, các tác giả đã tập trung làm rõ sự hình thành và phát triển của Phật giáo, những nội dung giáo lý, tư tưởng cơ bản của đạo Phật, đặc biệt là quá trình du nhập, dung hội và những đặc điểm nổi bật của Phật giáo Việt Nam, khẳng định vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội.

1.2. Những công trình nghiên cứu về bản thể luận trong triết họctriết học Phật giáo

Có thể thấy, những công trình nghiên cứu riêng về nội dung này rất ít, nó chủ yếu được nghiên cứu trong các nghiên cứu chung về triết học hay về Phật giáo và trong những công trình khoa học có liên quan gần. Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu sau: Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên): “Lịch sử triết học” đã giới thiệu toàn bộ những quan niệm trong lịch sử triết học phương đông và phương tây, trong đó đề cập đến quan niệm về bản thể luận của các trường phái triết học qua giai đoạn lịch sử khác nhau; Bài viết “Bản thể luận và cách tiếp cận bản thể luận trong triết học phương tây” của tác giả Nguyễn Chí Hiếu (Triết học số 6/2007): “Lý giải tôn giáo" của Trác Tân bình, NXB Hà nội năm 2007, “Mười tôn giáo lớn trên thế giới” của Hoàng Tâm Xuyên chủ biên, NXBCTQG, HN 2012, .v.v..đều đưa ra những luận giải khác nhau trong quan niệm về bản thể luận của các trường phái triết học.

Bàn về những nội dung của bản thể luận Phật giáo, có các công trình: “Tính không, cốt tủy triết học Phật giáo (nghiên cứu về Trung Quán Tông)tác giả T.R.V. Murti (Huỳnh Ngọc Chiến dịch), công ty sách Thời đại và nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản năm 2013, “Vấn đề bản thể luân trong triết học Phật giáo thời Trần” của Đỗ Hương Giang, Tạp chí Triết học số 7/2010; “Những vấn đề triết học Phật giáo” của O.O Rozenberg do Nguyễn Hùng Hậu và Ngô Đăng Doanh dịch, đặc biệt là phần thứ 8 của công trình này “Bản thể luận và nhận thức luận Phật Giáo - tính hai nghĩa của những thuật ngữ”; “Đại cương triết học phật giáo Việt Nam”, tập một: từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV của Nguyễn Hùng Hậu, NXBKHXH, HN, 2002; “Tu tuệ” của Đạt Lai Lạt Ma, NXB Hồng Đức, 2013.v.v... Ngoài ra, còn một loạt các công trình, bài viết có liên quan đến vấn đề này như: Phật giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thầnViệt Nam của Lê Hữu Tuấn, Luận án tiến sĩ triết học, Ảnh hưởng của các hệ tư tưởngtôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), “Trung Quán luận” (Thích Thiện Siêu dịch và giới thiệu), Lâm Như Tạng: “Thức thứ tám”, Nguyễn Thanh Tuấn: “Phật Giáo với văn hóa Việt NamNhật Bản qua một cách tham chiếu”... và nhiều bài viết được đăng tải trên các báo, tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Công tác tôn giáo, Tạp chí thông tin khoa học xã hội, Tạp chí Triết học…. cũng ít nhiều đều có đề cập đến quan niệm về bản thể luận của triết học Phật giáo.

1.3. Những công trình nghiên cứu về Kinh Viên giác, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm

Các bộ kinh điển của Phật giáo gồm: Bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm, nhà xuất bản tôn giáo ấn hành 2009, người biên dịchTâm minh Lê Đình Thám. Bộ Kinh Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinhTrung Quốc có ba bản dịch từ tiếng Phạn. Bộ kinh Đại phương quảng viên giác tu-đa-la-liễu nghĩa có nguồn gốc từ tiếng Phạn, khi truyền sang Trung quốc được dịch ra chữ Hán. Ngoài các bộ kinh điển gốc của Phật giáo thì các bộ kinh trên cũng được nhiều vị tu hành, các nhà nghiên cứu biên dịchchú giải ở các góc độ khác nhau. Có thể kể ra một số công trình như: “Kinh Viên giác: Giáo án học viện Phật giáo Việt Nam” và “Kinh Viên Giác: Giáo án Trường cao cấp Phật học Việt Nam (dịch và chú giải: Thích Thanh Kiểm), “Kinh Viên giác: Giảng giải” (Thích Thanh Từ), “Kinh Viên Giác: Luận giảng” (Thích Thông Huệ); “Kinh Viên Giác luận giải” của Nghiêm Hoài Cẩn (Mai Xuân Hải, Lương Gia Tĩnh biên dịch); Thích Từ Thông: “Như lai viên giác kinh - trực chỉ đề cương”; Về bộ Kinh Lăng nghiêm có công trìnhKhai thị luận Kinh Thủ Lăng Nghiêm” của Sa môn Thích Huệ Đăng, NXBTG, 2013; Về Bộ Kinh Hoa Nghiêm có “Triết học Phật giáo Hoa Nghiêm Tông” của Garma C.C.Chang, “Siêu hình học tiến trình và triết học Phật giáo Hoa nghiêm tông” của Steve Odin, nhà xuất bản tôn giáo, 2010 ;Bộ “Kinh Hoa nghiêm đại phương quảng phật “từ tập 1 đến tập 7 của Hòa thượng Tuyên Hóa. v..v...Các công trình trên chủ yếu tập trung vào việc giới thiệugiảng giải những nội dung của các Bộ Kinh, ý nghĩa, cách thức hiểu và thực hành theo nó.

1.4. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án

 Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về bản thể luận phật giáo và các bộ kinh, nhưng nhìn chung, đó đều là những nghiên cứu tản mạn, chưa có tính hệ thống. Đặc biệt, khi nghiên cứu về các bộ kinh thì các công trình trên đều chủ yếu tập trung vào phân tích và giảng giải các nội dung của từng kinh mà ít lẩy ra những tư tưởng triết học từ các bộ kinh này. Vấn đề đặt ra là:  Thứ nhất, có nhiều quan niệm khác nhau về bản thể trong kinh điển Phật giáo như: Tâm, Chân Như, Viên Giác, Chân tâm thường trụ, Nhất chân pháp giới.v.v..Vậy điểm tương đồng và thống nhất của chúng là gì? Đây chính là một trong những nội dung cơ bản mà luận án hướng tới để giải quyết. Thứ hai, là tôn giáo, nhưng những nội dung của giáo lý Phật giáo cũng thấm đẫm những tư tưởng triết học thể hiện trong các quan niệm về bản thể luận và nhận thức luận. Nghiên cứu các bộ đại kinh như Kinh Viên giác, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng nghiêm để lẩy ra những tư tưởng triết học trong đó, đặc biệtquan niệm về bản thể luận cũng là nhiệm vụ trọng tâm của luận án. Thứ ba, để có cơ sở khái quát những giá trị căn bản của triết học Phật giáo thì việc luận giải quan niệm về bản thể luận của triết học phật giáo qua ba bộ kinh, từ đó chỉ ra ý nghĩagiá trị của những quan điểm này là rất cần thiết, trên cơ sở đó khẳng định những giá trị tư tưởng to lớn của triết học Phật giáo.

 

CHƯƠNG 2
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢN THỂ LUẬN,
BẢN THỂ LUẬN PHẬT GIÁO

2.1. Vấn đề bản thể luận trong lịch sử triết học

2.1.1. Quan niệm về Bản thể luận trong lịch sử triết học phương Tây

Khái niệm “Bản thể luận”

Thuật ngữ bản thể luận có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. Nó là sự kết hợp giữa hai từ: on (on): cái thực tồn, và logos (logoV): lời lẽ, học thuyết.. tạo thành “Học thuyết về tồn tại”. Theo nghĩa này bản thể luận được hiểu là học thuyết triết học về thực tồn nói chung, hoàn toàn độc lập với các dạng tån t¹i cụ thể của nó, đến thế kỷ XVII thuật ngữ này mới chính thức xuất hiện và đưa ra những cách hiểu đặc thù về nó với tư cáchquan niệm, luận thuyết về tồn tại.

Có nhiều quan điểm khác nhau về tồn tại. Pácmênít – nhà triết học Hy lạp cổ đại, được coi là người đầu tiên đề cập đến khái niệm “tồn tại” khi đồng nhất tư duy với tồn tại là một. Arixtốt thì coi các phạm trù chính là nội dung của tồn tại. Xôcrát lại cho rằng tồn tại không phải là giới tự nhiên. Điểm xuất phát của tồn tại chỉ có trong ý thức, tư duy. Đó là tồn tại- tự ý thức. Với Platôn, từ học thuyết trọng tâm về ý niệm, ông cũng quy tồn tại là tổng thể những ý niệm về thế giới. Sự tồn tại của các sự vật cảm tính chẳng qua chỉ là bản sao của ý niệm. Chỉ có ý niệm mới là cái tồn tại đích thực...

Thời trung cổ, các nhà triết học theo quan điểm nhà thờ đã mưu toan lợi dụng tư tưởng của Arixtốt về siêu hình học để xây dựng học thuyết về tồn tại nhằm chứng minh về mặt triết học cho các chân lý của tôn giáo. Thời cận đại người ta bắt đầu hiểu bản thể luận là một bộ phận đặc biệt của siêu hình học, là học thuyết về cơ cấu siêu cảm giác, phi vật chất của tất cả những gì đang tồn tại. Thuật ngữ “Bản thể luận” do nhà triết học Đức Hôclêniút (1613) đưa ra và được tiếp tục trong triết học của Vônphơ. Lúc này học thuyết bản thể luận được tách rời hoàn toàn khỏi các nội dung của khoa học cụ thể và được xây dựng bằng cách phân tích trừu tượng các khái niệm như: tồn tại, khả năng và hiện thực, lượng và chất, nguyên nhântác động... coi nó như là bộ môn triết học cao nhất. Ngược lại, các nhà duy vật thời kỳ này như: Hôbơ; Xpinôda; Lốccơ (thế kỷ XVIII) đã dựa trên các dữ kiện của khoa học thực nghiệm, với những nội dung tích cực của các quan điểm này đã chứng minh về mặt khách quan rằng bản thể luận không thể là bộ môn triết học cao nhất, là “triết học đầu tiên”, tách rời khỏi nhận thức luận và logic học.

Đến triết học cổ điển Đức, họ cho rằng bản thể luận là không có nội dung và lặp lại; đồng thời học đòi hỏi tạo ra một bản thể luận (siêu hình học) mới, hoàn thiện hơn, thay thế nó bằng triết học tiên nghiệm (Căng) hay bằng hệ thống chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm (Selinh) hay bằng logic học (Hêghen).

Triết học phương Tây hiện đại thế kỷ XX, phản ứng trước việc phổ biến những trào lưu duy tâm chủ quan (chủ nghĩa Căng mới; chủ nghĩa thực chứng) có ý thức xây dựng một cách hiểu mới về Bản thể luận trên cơ sở duy tâm khách quan như quan niệm về bản thể luận tiên nghiệm của Huxéclơ; bản thể luận phê phán của Háctman; bản thể luận cơ bản của Heidegger; bản thể luận hiện tượng học của Sartre.... Trong học thuyết bản thể luận mới, người ta hiểu bản thể luận là một hệ thống những khái niệm phổ biến về tồn tại mà có thể hiểu được nhờ một số trực giác siêu cảm tính và siêu lý tính.

2.1.2. Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Đông

Một trong những quan điểm tiêu biểu của người Trung quốc cổ đại về bản thể luận là quan điểm về Đạo của Lão Tử.  Theo Lão tử, “Đạo” là cái có trước trời đất, trống không và lặng yên nhưng lại có ở mọi nơi, là nguồn gốc của vạn vật. Nó là sự thống nhất của thế giới, là bản nguyên sâu kín, huyền diệu mà từ đó vạn vật có danh tính, có hình thể được sinh ra. Đạo là thực thể vật chất của khối “hỗn độn”, “mập mờ”, “thấp thoáng” không có đặc tính, không có hình thể, nhìn không nhìn thấy, nghe không nghe thấy, bắt không bắt được, chẳng thể gọi tên. Nó tồn tại bất luận con người nhận thức được hay không. Ở khía cạnh bản thể luận, khái niệm “đạo” của Lão tử được đề cập ở ba khía cạnh là thể, tướng và dụng. Những quan điểm này của Lão tử, nếu gạt bỏ những điểm hạn chế về thế giới quan và lập trường duy tâm, đã phần nào tiêu biểu cho cho những quan niệm biện chứng đầy tinh tếbí hiểm của người phương đông. Quan điểm này vừa thể hiện quan điểm trực quan nguyên sơ của người trung quốc cổ đại nhưng lại hàm chứa trong đó những đoán định, cảm nhận sâu sắc về sự tồn tạibiến hoá của vũ trụ, điều chỉ xuất hiện khi tư duy trừu tượng đạt tới trình độ cao. Học thuyết Âm dương - Ngũ hành lại hướng đến việc lý giải sự tồn tại của thế giới trong sự tương tác của các yếu tố tự nhiên trong thế giới mà thành. Các quan điểm này hướng tới việc phân tích sự tác động của các yếu tố cơ bản có trong tự nhiên tạo thành sự vật (học thuyết ngũ hành) hay là sự liên hệ, tương tác giữa hai mặt đối lập, hai thế lực vật chất cơ bản để tạo nên vũ trụ (học thuyết âm dương).               

 Nho giáo, với nội dung chủ yếu thiên về giải quyết các vấn đề chính trị- xã hộicon người nên đưa ra những quan niệm khác khi lý giải về bản nguyên của tồn tại. Theo Mạnh Tử cái nội tâm chủ quan bên trong là bản thể tự tại, thuộc về tiên nghiệm, vượt ra khỏi phạm trù không gian, thời gian, vật chất, vận động. Đạt đến đó là con người có thể thông quan với trời đất, hoá sinh ra vạn vật. Tâm là cái chủ thể trong mỗi con người, là cái thần linh có đủ mọi lý mà trời phú cho con người để hiểu biết, ứng đối với vạn vật, vạn sựTâm có quan hệ với Tính. Tính là cái lý hoàn toàn của tâm. Đem cái tâm tính ấy mà ứng xử với vạn vật bên ngoài là tình. Chỉ có cái tâm đó thì mới biết được tính của ta và của vạn vật..v.v..

Các nhà triết họcẤn độ cổ đại ban đầu lại quan niệm bản thể của thế giới chính là các vị thần có tính chất tự nhiên. Họ tin tưởng, gửi gắm tâm hồn, cuộc sống tự nhiên của mình vào thế giới các vị thần ấy. Về sau, quan niệm tự nhiên về các vị thần dần dần mờ nhạt, thay vào đó “là những nguyên lý trừu tượng duy nhất tối cao được coi là nguồn gốc vũ trụđời sống con người. Đó là “thần sáng tạo tối cao” Brahman và một tinh thần tối cao Brahman”. Bước chuyển về mặt nhận thức này của người Ấn độ cổ thể hiện bước chuyển từ thế giới quan thần thoại (với việc giải thích tính muôn vẻ, cụ thể của thế giới qua biểu tượng các vị thần có tính chất tự nhiên) đến thế giới quan triết học (bằng việc dần phát hiện ra cái chung, cái bản chất như là bản nguyên tối cao của thế giới).

2.2. Những phạm trù cơ bản về bản thể luận trong triết học Phật Giáo

2.2.1. Quan niệm về “Tâm”, “Chân như - Thực tướng”, “Pháp”, “nhân duyên”, “sắc - không”

Theo quan niệm của phật giáo, bản thểcăn bản tự thể của các pháp, mà pháp là từ chỉ chung hết thảy mọi sự vật, hiện tượng, dù là to nhỏ, hữu hình, vô hình, chân thực, hư vọng. Từ bản thể hay chân không, do vô minh, vọng động mà xuất hiện chúng sinh, các chúng sinh sau khi giải thoát lại trở về hoà nhập với bản thể tuyệt đối này. Bản thể  được hiểu là Tâm. Đây chính là bản chất tồn tại của thế giới. Cái Tâm ban đầu vốn tròn đầy, yên tĩnh, chưa xao động. Bản thể của Tâm được ví như mặt nước lặng trong, do gió thổi (vọng tâm sinh khởi) mà tạo ra sóng to, sóng nhỏ, bọt, bong bóng… Gió ngừng thổi thì sóng hết, bọt tan chúng lại trở về với mặt nước yên lặng. Đó chính là bản thể của nó. Vậy Tâm là cái bất biến, có sẵn, không thay đổi. Những biểu hiện biến đổi của tâm là do có tác động từ bên ngoài, có sự tiếp xúc của “lục căn” (cơ quan cảm giác chủ quan) với “lục trần” (thế giới khách quan) làm xuất hiện tâm với tính cáchý thức chủ quan làm tâm xao động, chạy theo cái ảo, giả mà sinh ra “tham”, “sân”, “si”... Phật giáo còn đưa ra quan niệmNhân duyên” như là một yếu tố cấu thành nên tồn tại. Theo quan niệm của phật giáo, tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ trụ từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn đều không thoát khỏi sự chi phối của luật nhân duyên. Nhân duyên là những điều kiện cần thiết để phát triển.

2.2.2. Tư tưởng về “Vô ngã”, “ Vô thường”

Tư tưởng về bản thể luận của triết học Phật giáo còn được thể hiện qua các tư tưởng: “vô ngã” , “ vô thường”. Phật dạy vạn vật chuyển biến không ngừng trong từng satna (từng giây, từng phút. Thậm chí chỉ bằng cái nháy mắt). Từ con người cho đến vũ trụ vạn vật đều vận hành theo quy luật: thành, trụ, hoại, không (hoặc sinh, trụ. dị, diệt) được ví như bốn mùa xuân, hạ, thu, đông hay sinh, già, bệnh, chết. Trong bốn thời kỳ đó, thời kỳ Trụ lại là hết sức ngắn ngủi, chỉ bằng một satna. Tức là mọi hiện tượng đang tồn tại thực tế trước mắt không phải là cố định mà ở trên một dòng biến đổi thường xuyên, vĩnh viễn vô thủy, vô chung. Vì thế gian vô thường nên mọi vật đều vô tự tính (không có tự tính hay là không có bản thể riêng). Đó chính là sự vô ngã (anatman) ở con người. Phủ nhận Atman và thuyết linh hồn vĩnh cửu của Upanishad, Phật giáo cho rằng không có một cái ngã thường hằng, bất biếncon ngườivạn vật trong vũ trụ. Trong dòng chảy của đời sống, con người chỉ là tập hợp của ngũ uẩn thập nhị sứ, thập bát giới tạo thành cái ngã giả tạm với hai phần: thân và tâm. Thân là sự kết hợp của tứ đại (địa, thuỷ, hoả, phong). Tâm là sự phối hợp của sáu căn tiếp xúc với sáu trần và sáu thức phân biệt được chia thành bốn loại: thọ, tưởng, hành, thức. Các yếu tố đó kết hợp, luân chuyển cho nhau mà tạo thành. Khi nhân duyên đầy đủ thì hợp thành, khi nhân duyên hết thì tan ã.  .

CHƯƠNG 3
KINH VIÊN GIÁC, KINH HOA NGHIÊMKINH LĂNG NGHIÊMQUAN NIỆM VỀ CON ĐƯỜNG, CÁCH THỨC


ĐỂ THẤY RA BẢN THỂ TRONG CÁC BỘ KINH NÀY

3.1. Giới Thiệu chung về kinh Viên Giác, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm

3.1.1. Giới thiệu về Kinh Viên Giác

Kinh Viên Giác thuộc hệ tư tưởng liễu nghĩa Đại thừa. Tên đầy đủ của kinh là: Đại phương quảng viên giác tu-đa-la-liễu nghĩa. Bộ kinh có nguồn gốc từ tiếng Phạn, khi truyền sang Trung quốc được dịch ra chữ Hán. Khi vào Việt Nam, kinh viên giác cũng đã được dịch ra tiếng việt. Viên giác có nghĩa là: “Viên tức là viên mãn tròn đầy, không một chút khuyết thiếu, không phải là sứt mẻ, mà là viên dung vô ngại, không có cái gì lọt ra ngoài được (sâm lậu). “Viên” còn có nghĩa không thời nào không tồn tại, không có nơi nào không có mặt. Dù ở bất cứ thời gian, không gian nào cũng có thể thành Phật. Tùy thời cảnh mà luôn luôn tròn đầy giác tính (tức tính giác ngộ sẵn có) tùy thời, tùy cảnh mà ngộ đạo.  “Giác là có đầy đủ giác tính cũng là Phật tính. Kinh Viên giác ghi lại lời thuyết giảng của đức thế tôn cho các vị Bồ Tát, nên cuốn Kinh được bố cục theo pháp danh của 12 vị Bồ Tát đã trực tiếp vấn đáp đức thế tôn về vấn đề tu chứng. Nội dung chủ yếu trong kinh Viên giácđức Phật chỉ dạy cho chúng sinh thấy tự tính Viên giác sẵn có của mọi người. Rằng con người ai cũng có cái tính giác ngộ viên mãn, thanh tịnh, không có tội lỗi, nhiễm ô. Dù ở Thánh thì tính Viên giác đó không thêm, ở phàm nó cũng không hề hao bớt. Chúng sinh hiện hữu trên cõi đời này chỉ là diệu dụng tùy duyên vốn sinh khởi từ bản thể tự tính Viên giác bất biến.

3.1.2. Giới thiệu về Kinh Lăng Nghiêm

Kinh Thủ Lăng Nghiêm thuộc Đại Thừa Viên đốn giáo, chỉ thẳng tâm người, thấy rõ chân tâm thường trụ. Đây là bộ Kinh được đức Phật khai thị cho ngài A Nan. Kinh Lăng nghiêm nhằm mục đích khai thị cho chúng sinh chân tâm thường trụ đều có ở mỗi người. Chân tâm vốn bình đẳng, không sinh, không diệt. Chân tâm chân thật xưa nay không biến đổi, do mê lầm mà bị lạc vào mê đạo không thể giải thoát, chỉ khi nhận được chân tâm chính mình thì thành tựu phật đạo.

Kết cấu của Bộ Kinh gồm 10 quyển, trong đó quyển 1 nêu ra bảy chỗ gạn hỏi, Ý Phật là muốn đưa A Nan thẳng đến chỗ tự ngộ. Phật dùng thuốc giả để chỉ bệnh giả cho A Nan. Quyển 2 luận giải về Thanh tịnh pháp thân và kiến tinh, về ngũ ấm vốn vô sanh. Quyển 3 giải thích về Lục nhập như là Như Lai tạng hay là Diệu Tính chân. Quyển 4 dựa vào quan niệm về Tứ đại để luận giải về sự tồn tại của con ngườiVô minh để nói đến những phiền não của con người.v.v..

3.1.3. Giới thiệu về Kinh Hoa Nghiêm

Trong kho tàng kinh điển của Phật giáo thi Kinh Hoa nghiêm được coi là Vua của các Bộ kinh. Để giảng bộ kinh này, đức Phật phải thay đổi bảy địa điểm và trải qua chín lần hội tụ. Ở Trung quốc, kinh Hoa nghiêm có ba bản dịch từ tiếng Phạn gồm Lục Thập Hoa Nghiêm (60 cuốn) Bát thập Hoa nghiêm (80 cuốn), Tứ thập Hoa nghiêm (40 cuốn). Những nội dung cơ bản của kinh Hoa Nghiêm nằm trong các nội dung triết lý về bản thể như: Nhất thiết duy tâm tạo, Nhất tâm chân như pháp giới duyên khởi. Đức Phật muốn khai thị cho mọi người cái bản thể thành Phật có trong mỗi người được tạo ra từ Tâm của chúng ta, ngộ ra điều đó để tinh tiến trên con đường tu tập mỗi người đều thành Phật. Cấu trúc của kinh Hoa nghiêm: bản Bát thập (80 quyển) gồm 9 hội và 39 phẩm. Mỗi hội gồm nhiều phẩm khác nhau. Ví dụ, hội thứ nhất gồm 6 phẩm là: Thế chủ diệu nghiêm, Như lai hiện tướng, Phổ hiền tam muội, Thế giới thành tựu, Hoa tạng thế giới, Tỳ lô giá na.v.v..

3.2. Quan niệm của Phật giáo về bản thểhiện tượng trong Kinh Viên giác, Kinh Hoa nghiêmKinh Lăng nghiêm

3.2.1. Điểm xuất phát để thấy ra bản thể.

Theo quan niệm của Phật giáo, chúng sinh xưa nay vốn thanh tịnh không nhiễm ô. Khi vào đời sống, do sáu căn tiếp xúc sáu trần và sáu thức phân biệt nên vọng tưởng, điên đảo đã che lấp chân tính vốn thanh tịnh. Nay muốn thấy đạo phải tu tập để trở về với tâm thanh tịnh với chân tính vốn có của mình. Điều cốt yếu là phải luôn giữ cho thân và tâm lúc nào cũng ở trong trạng thái thanh tịnh. Khi tâm con người đã thanh tịnh thì mới nhận thấy tất cả thế giới này đều là một, từ một bản thể chân tâm là gốc, là cái làm nên (sinh ra) mọi vật. Trở lại tìm kiếm ngay cái giác tâm (tâm viên giác) của chính mình, và chính lúc đó là ngộ đạo.

Quan điểm về cái gốc của tồn tại như thế đã làm cho những luận giải của Phật giáo về những biểu hiện vô cùng phong phú của thế giới hiện tượng chẳng qua là do vọng tâm mà ra là một sự giải thích ít nhiều thuyết phục. Kinh Hoa Nghiêm cho rằng, bản thê chỉ tồn tạihiện tại, chỉ có hiện tạithực tại, còn quá khứ là thuộc về thực tại đã qua, vị laithực tại sau này mới có, phàm những thứ hiện tại không tồn tại, chỉ là sự tồn tại với tư cách là một dạng chủng tử (hạt giong) mà thôi. Kinh này còn cho rằng, tác dụng của tri giác là khoảnh khắc, chỉ có thế nhận thức được sự tồn tại của khoảnh khắc hiện tại.

Với quan niệm như vậy, triết lý Phật giáo, cho rằng để thấy được bản thể thì trước hết phải đạt được sự tịnh tâm, hay chính là cái tâm thanh tịnh. Với sáu giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý có cái biết thanh tịnh (cái biết của trí) ta ứng dụng tu tính thấy, tính nghe… không dính mắc vào sắc trần, thanh trần… thì sáu căn này là nơi GIẢI THOÁT.

3.2.2. Cách thức thấy được bản thể

Theo quan niệm của Phật giáo, con người chỉ có thể trở lại chính mình hay là trở về bản thể khi phải phá bỏ được vô minh. Vậy “vô minh” là gì? Đó chính là cái làm cho con người từ vô thuỷ đến nay bị điên đảo, bị sinh tử luân hồi; nó làm mờ tính viên giác sẵn có. Trong tông Tiểu thừa, vô mình là duyên đầu tiên trong Thập nhị nhân duyên. Tất cả tư tưởng, tình cảm của chúng ta đều do vô minh mà sinh ra. Đó là sự nhầm lẫn, nhận giả làm chân, là sự mê loạn, vọng nhận tứ đại làm thân. Vô minh là gốc của luân hồi. Vì chúng ta thấy thân này thật nên chúng ta sống trong vô minh mà không biết rằng đời người thật hữu hạn mà lại cứ chạy theo những khát khao vô hạn thì thật hão huyền, phù du. Vì thế, vô minh là cội nguồn của nỗi khổ con ngườinếu không diệt trừ được nó thì chúng sinh chẳng bao giờ chạm được tới cõi niết bàn. Vậy, làm thế nào để nhận biết vô minh. Đức Phật đã luận chứng điều này bằng quan điểm phải Dùng trí tuệ để nhận biết vô minh. Chỉ có trí tuệ mới hóa giải được vô minh để được giải thoát. Nhưng với trí tuệ đó phải giác ngộ tu vô tu tu, hành vô hành hành, chứng vô chứng chứng. Khi chưa tới được Niết bàn thì vô minh vẫn còn hiện hữu, nhờ trí tuệ, những vọng động của thân tâm dần bị dập tắt, chìm dần vào sự yên tĩnh vĩnh hằng. Con đường giác ngộ đã khai mở để trở về trạng thái tồn tại chân thực như nó vốn có.

Tóm lại trí tuệbước đầu tiên trên con đường học Phật và khâu cuối cùng của học Phật cũng chính là trí tuệ. Phật phápthành tựu của trí tuệ chứ không phải là vấn đề mê tín mù quáng. Vấn đề dứt trừ vô minh vọng tưởng cần hiểu là cái làm nên vọng tưởng phiền não vốn là yên tĩnh là viên giác Diệu Tâm, là hư không Thanh tịnh. Vậy cần gì phải trừ diệt nó. Nếu đã đạt được sự thanh tịnh, thấy được tính khôngtrở về bản thể, là đã chứng đạo, là hết vô minh.

3.2.3. Bản thểhiện tượng

Có thể thấy mọi kinh điển phật giáo đều đưa ra những quan niệm của mình về bản thể. Không hiểu quan niệm về bản thể của phật giáo thì khó có thể nắm được những ý tưởng thâm diệu của giáo lý này trong những tư tưởng của nó. Cái gọi là bản thể chính là sự tồn tại cùng cực đằng sau hiện tượng vũ trụ.

Trong Kinh Viên giác, bản thể chính là Viên giác như lai.  Cái bản thể khởi nguyên của thế giới luôn bất động, không thay đổi như nước lặng, trong không hình không tướng. Còn thế giới hiện tượng chẳng qua chỉ là hình, tướng của bản thể mà thôi. Nếu ví bản thể như nước, thì bản chất của nó là tĩnh lặng. Khi nước bị khuấy tạo thành sóng hay bọt: đó là dụng. Đó là cái đã có hình, tướng (là thế giới hiện tượng). Cái hình, tướng vì thế là giả, có thể mất đi, nhưng cái thật (bản thể) thì không mất. Cái hình tướng có thể khác nhau, nhưng bản thể là như nhau.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, bản thể chính là chân tâm, là cái bất biến. Thế giới hiện tượng là do tâm thức tái hiện. Xoay quanh tâm hữu vật không, kinh Lăng nghiêm triển khai trình bày về duy thức quan với cốt lõi là tâm “ngũ pháp”, “Tam tự tính”, “bát thức”, Nhị vô ngã”.

Kinh Hoa nghiêm coi bản thể của vũ trụchân như. Mọi sự vật đều từ Chân không diện hữu hay Nhất chân pháp giới mà phát sinh. Các hình tướng phong phú trong hiện thực đều xuất phát từ đều xuất phát từ cái bản thể tuyệt đối vô biên này. Vì thế, mọi sự vật đều phải nương tựa lẫn nhau, làm nhân, làm duyên cho nhau mà biến dịch sinh tồn trong mối tương quan mật thiết của lý: Pháp giới trùng trùng duyên khởi. Thế giới của Hoa nghiêmNhất chân pháp giới hiện ra từ Tâm của vạn hữu chư pháp. Đây là thế giới mà ở đó chân vọng đều biến mất không phân chia chúng sinh hay chư phật, là thế giới vượt qua mọi sự đối đãi, bản thể chính là hiện tượng và ngược lại. Đó là sự bình đẳng tuyệt đối có thể chứng ngộ được sự vĩnh hằng bất diệt của sinh mệnh. Vì thế, một không tính là ít, vạn ức không tính là nhiều. Hạt bụi nhỏ không tính là nhỏ, coi hư không không tính là lớn, Sát na không tính là ngắn, kiếp ba không tính là dài. Có chưa hẳn thực là có, không chưa hẳn thực là không, thanh tịnh hay ô uế cũng chỉ là tương đối...tóm lại, một là tất cả và tất cả là một.

Đây là quan niệm thể hiện tính thần biện chứng sâu sắc của triết học Phật giáo. Ở đó, sự phân biệt bản thể với hiện tượng là sự phân biệt bản chất giữa cái tồn tại khó có thể thực chứng với tư cách là cái tồn tại đích thực với cái hiện tồn như là những biểu hiện hiện tượng, sai khác của cái bản thể 

Với cách quan niệm như vậy, triết học phật giáo đã đem lại một cách tiếp cận mới trong việc lý giải sự tồn tại của thế giới hiện hữu ở một tầng bậc sâu xa nhất, với một linh cảm trực giác không thể lý giải mà cũng khó có thể bác bỏ. Và như thế, sự tồn tại của các mặt đối lập, các trạng thái khác nhau của thế giới hiện thực mặc dù có tướng rất khác nhau nhưng lại chung một bản thể. Ví dụ: Niết bàn (yên vui) - Sinh tử (đau khổ) – đó là tướng khác nhau, nhưng thực ra chúng là giống nhau vì cùng một bản thể và tất cả thế giới này là như thế.

CHƯƠNG 4

CON ĐƯỜNG TRỞ VỀ BẢN THỂ VÀ TIẾN TRÌNH ĐI ĐẾN SỰ GIẢI THOÁT TRONG KINH VIÊN GIÁC, KINH HOA NGHIÊMKINH LĂNG NGHIÊM

4.1. Con đường trở về bản thể

4.1.1 Cái “biết” bằng tuệ giác và cái “biết” bằng khái niệm

Theo Phật giáo, trên con đường tìm về bản thể, trước hết phải dùng trí tuệ để phá trừ mọi sự phân biệt so sánh. Tuệ giác lúc này phải vượt thoát khỏi cách hiểu các khái niệm thông thường.

Để không bị nhầm lẫn hiện tượng với bản chất, cần có tuệ giác. Hầu hết chúng ta bị những tư tưởng, tình cảm, cảm giác trong cuộc sống hàng ngày lừa dối, nó là hư huyễn không có thực. Duy chỉ có một cái trước sau không biến dịch, không suy giảm, đó là chính bạn ngồi đây, trong lòng chỉ còn một cái mà “không có chỗ để trả về” (tự tính). Nhận thức được như vậy, khi tư tưởng phiền não, bạn không phải cố tâm trừ khử nó, bởi nó là huyễn cảnh, tự nó sẽ hết, bạn sẽ thanh tịnh như cũ. Nếu như vọng tưởng lại tiếp tực đến ta không quan hệ, mặc nó trong cảnh giới đi đến, đến đi.

Một trong những đặc trưng của cái biết bằng tuệ giác là chữ tri. Qua Kinh Viên giác, Phật dặn Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hãy quan tâm đắc biệt đến chữ tri, nghĩa là biết vô minh không có thực thể, nó như hoa đốm trong hư không để không chiều theo nó, sẽ không phải nhận lấy sự sinh tử luân hồi, dù sự luân hồi như huyễn.

Về tâm cũng vậy, tâm là cái duyên theo bóng dáng của sáu trần mà cứ chấp thật. Bởi chấp tâm là thật nên tất cả những cái tôi huân tập được thì đều cho là đúng, còn thấy ai nói khác, làm khác với sự huân tập đó thì cho là sai. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm Đức Phật gạn hỏi Ngài ANan tới bảy lần về tâm nó nằm ở chỗ nào, nhằm phá chấp cho ANan về tâm ở trong thân, ngoài thân và ở sau con mắt v.v.. Vì chấp tâm ở chỗ nhất định nên Phật nói không đúng. Nếu bệnh chấp chưa hết thì có thể nêu ra vô số chỗ. Khi không còn chấp nữa thì một chỗ cũng không huống chi là bảy chỗ. Vì tự tính vốn bất nhị (bản thể) vốn không hai nên chấp theo lời nói chẳng ở trong, chẳng ở ngoài là nhị. Khi có ở chỗ này thì chỗ kia không có. Tất cả lời nói không phải là nghĩa chân thật. Khi có trí tuệ sáng suốt phá trừ ngã chấp, pháp chấp thì chứng được Bồ Đề, Niết Bàn.

4.1.2. Tứ diệu đế - con đường nhận chân về bản thể và đi tới sự giải thoát

Trong Kinh viên giác giải thích rõ rằng: Tất cả chúng sinh vốn là Phật, nhưng chúng ta không là Phật được bởi ánh sáng trong tự tính của chúng ta bị che mờ mất. Muốn vậy, trước hết phải nắm được lý thuyết về Tứ diệu đế. Tự tính của chúng ta lau chùi, tẩy trừ những thứ bụi bặm ô nhiễm ấy đi thì sẽ khôi phục lại được tự tính trong sáng vốn có ban đầu của nó. Đó chính là cái tâm viên mãn thanh tịnh, tức là đã thành Phật. Như vậy, vấn đề đầu tiên là phải hiểu và xác định rõ ràng chúng ta vốn là Phật, rồi sau đó mới công phu tu hành để trừ bỏ những uế tạp, trở về trạng thái thanh tịnh.

Khi phân biệt được giữa bản thể với hiện tượng tức là con đường trở về đã gần đạt đích. Ngược lại, nếu còn mê lầm thì con đường trở về bản thể còn mờ mịt. Theo quan niệm của Phật giáotâm thanh tịnh cho nên lục căn của con người thanh tịnh, do lục căn thanh tịnh nên lục trần của thế giới vật chất bên ngoài cũng thanh tịnh. Đầu tiên là dùng trí tuệ để ngộ đạo, đến chuyển biến tâm niệm, tiếp theotu trì để chuyển hoá rồi mới có tác động ảnh hưởng đến toàn cảnh của thế giới vật chất xung quang làm cho nó chuyển biến theo. Thực tướng tức là vô tướng, tất cả đều trở về bản tính thanh tịnh vốn có là bản thể Viên Giác diệu tâm. Do vậy, một cá nhân thanh tịnh cho đến hết thảy chúng sinnh đều thanh tịnh.

Bản chất của sự giải thoát chính là Chân như thoát khỏi vòng tồn tại luân hồi, vô thủy, vô chung. Khi các nhân giải thoát mình, về thực chấtgiải thoát toàn bộ Chân như mà các cá thể chỉ là một bộ phận trong đó. Xét đến cùng, đích của sự tồn tại là sự yên tịnh vĩnh hằng.

Như vậy, giải thoát của con người là sự tự giải thoát của Chân như. Đức Phật giải thoát chúng sinh cũng là giải thoát mình. Chúng sinh giải thoát mình cũng là giải thoát Phật. Trong cái Chân như vĩnh hằng đó, mỗi một cá thể là một phần của cái toàn bộ đó, vì thế, sự giải thoát của từng cá thểgiải thoát từng phần của Chân như. Các cá thể hướng tới sự giải thoát không phải cho riêng mình mà là cho toàn bộ cái Chân như đó. Nó là sự tồn tại của cái siêu tồn tại, ví như, khi đèn tắt thì chỉ có lửa tắt, đèn vẫn còn, khi bão yên thì song tan, nhưng nước vẫn còn. Đó chính là thực tại Chân như. Con đường trở về tồn tại đích thực này, dường như không phải là trở về cái đã có mà là đạt tới cái mới sâu sắc hơn, vượt qua mọi tầm nhận thứcngôn ngữ.

4.2. Một số giá trịhạn chế trong quan niệm về bản thể của triết học Phật giáo trong kinh Viên Giác, kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm

4.2.1. Giá trị

Phật giáo được gọi là Đạo giác ngộ. Là một tôn giáo - triết học, nhưng với tâm từ bi, cứu khổ của Đức phật mong giải thoát hết thảy mọi chúng sinh bằng con đường giải thoát vô chấp, vô trụ, không phân biệt đẳng cấp, tầng lớp hay giới tính, vượt lên mọi đối nghịch nên những quan niệm về bản thể luận trong triết học phật giáo cũng hướng tới việc lý giải về sự tồn tại của thế giới, những biểu hiện và sự biến dịch không ngừng của vạn vật nhằm đạt tới mục đích cuối cùng đó.

Những quan niệm về bản thể luận trong triết học Phật giáo đã có những đóng góp có giá trị vào sự phát triển của tư tưởng nhân loại nói chung và tư tưởng phương đông nói riêng.

Thứ nhất, với quan niệm bản thể của thế giới là sự thống nhất trong một bản nguyên duy nhấtNhư Lai Viên Giác, như là chân tâm, thế giới đã được lý giải dưới con mắt Phật giáo là một sự thống nhất trong tận cùng xuất phát điểm của nó. Nó thể hiện tư tưởng biện chứng và khái quát vô cùng sâu sắc của người phương Đông trong những lý giải về thế giới mà càng trải nghiệm người ta dường như càng cảm thấy nó đúng, bất chấp những đòi hỏi về những bằng chứng cụ thể trong hiện thực chỉ có thể cảm nhận một cách trực quan.

Thứ hai, đạo Phật là một tôn giáo trí tuệ, vì vậy quan niệm về giải thoát của Phật giáo cũng hướng nhiều vào việc giải thoát đời sống tâm linh con người qua trí tuệ. Và sự giải thoát đó bắt đầu bằng việc người ta quan niệm thế nào về sự tồn tại của thế giới. Chính những quan niệm về “vô ngã” , “vô thường” đã giúp cho đời sống tâm linh con người được giải thoát khỏi những “vô minh” ngáng trở con người đạt tới hạnh phúc ngay trong “cõi tạm” của hành trình hướng đến cõi cực lạc. Đến với Phật giáo, con người dường như được thoát ra vòng quay khốc liệt của đời sống mưu sinh, được thoát khỏi sự xung đột giữa cái tôi cá nhân hữu hạn và sự mong muốn vô hạn trong vòng xoáy tham, sân, si, làm dịu đi những ham muốn để tìm thấy trạng thái cân bằng nội tâm cho một cuộc sống thanh bình. Nó giúp cho con người có thể an nhiên trực diện cùng những vô thường của đời sống, xua tan những muộn phiền thế tục, thiết lập mối qua hệ hài hoà giữa con người với con ngườicon người với thế giới. Khi chúng ta nỗ lực để giải thoát tâm linh thì tâm hồn con người sẽ trở nên thanh sạch, đời sống tinh thần thuần khiết, cao thượng hơn. Đó chính là nguồn gốc của sự lương thiện và những giá trị đạo đức hướng tới tha nhân nhiều hơn. Những tư tưởng này giúp cho hành giả diệt trừ ngã chấppháp chấp, sống cuộc đời vô ngã, vị tha để: “Sống mình vì mọi người”, xây dựng xã hội an lạc bằng cách hoàn thiện nhân cách từ mỗi cá nhân cho đến cả xã hội mà tạo thành thế giới Cực Lạc ngay tại thế gian.

Thứ ba, với quan niệm dùng trí tuệ để phá bỏ vô minh, đạo Phậttôn giáo đã biết đề cao giá trị của tri thức trên con đường tìm kiếm chân lý. Mặc dù Tuệ trong cách hiểu của Phật giáo không chỉ là trí tuệ hiểu theo nghĩa thông thường (học nhiều, biết rộng, hiểu sâu) mà là cái biết trên sự thực hành, cái biết qua trực giác, cái biết của trí tuệ Bát nhã. Nhờ Tuệ đó mà con người mới có thể nhận thức được quy luật và sông hài hoà với quy luật (quy luật về vô ngã, vô thường, lý nhân duyên...). Đó là quá trình lấy minh để hoá giải vô minh, nó được ví như ánh đèn xua tan bóng tối vô minh, là chiếc chìa khoá để mở cánh cửa đến Niết bàn giải thoát. Sự lý giải như thế này trong tư tưởng Phật giáo thực sự là một cách đặt vấn đề có tính nhập thế và khoa học.

4.2.2. Hạn chế

Từ trong lịch sử, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc Việt Nam với rất nhiều những đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội cả trong quá khứhiện tại. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, những tư tưởng của triết học phật giáo cũng còn một số hạn chế. Những hạn chế trong quan niệm về bản thể luận của Phật giáo thể hiện qua kinh Viên giác là:

Thứ nhất, trong tư tưởng Phật giáo, con người phải tìm giải thoátcuộc đời là bể khổ, nỗi khổ nhiều hơn cát sông Hằng. Khát vọng đạt tới niết bàn vừa “ phản ánh sự nghèo nàn hiện thực” vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèp nàn hiện thực ấy. Lý tưởng niết bàn là một lý tưởng đẹp đẽ. Tuy nhiên, sự lý giải về bản thể duy nhất này, tuy là sự đoán định tinh tế từ trực giác tâm linh về tính thống nhất của thế giới, nhưng lại như một yếu tố không dễ thực chứng nên rất khó nắm bắt. Sự giải thoát chỉ thuần tuý về mặt tâm linh sẽ chưa làm thay đổi thực sự cuộc sống con người nơi trần thế. Để an lạc, con người cần tìm thấy hạnh phúc cả trong cuộc sống thực tại chứ không chỉ là “vầng hào quang nơi thần thánh”. Muốn vậy, ngoài giải thoát tâm linh, con người phải hành động và tạo lập ra hạnh phúc cho chính mình và nhân loại bằng việc bắt tay vào xây dựng và cải biến hiện thực để đạt tới ấm no hạnh phúc cả về mặt vật chấttinh thần. Con người phải nhận thấy rằng được sinh ra trên đời và được sống làm người là một hạnh phúc lớn lao chứ không phải là “giả tạm”, để con người sống yêu đời hơn, gắn bó với đời hơn chứ không chối bỏ cuộc đời vì những khổ đau, bất hạnh.

Thứ hai, quan niệm rằng thế giới hiện tượngsự thể hiện muôn màu từ bản thể duy nhất không phải không chính xác. Nhưng sự đoán định về cái bản chất nằm sâu trong vô vàn các hiện tượng phong phú, phức tạp lại là những luận giải quá cao siêu nên chỉ những người có trí tuệ bát nhã mới có thể thấu hiểu. Vì thế, các bộ Kinh trên được đánh giá là một bộ kinh trừu tượng, khó hiểu ngay cả với nhiều người trong quá trình tu tập.

Thứ ba, quan niệm về con đường để trở về bản thể thông qua việc tu tập thân tâm, loại trừ phiền não, thông qua tuệ giác không nên coi là con đường duy nhất. Đây dường như chỉ là phép tu luyện tinh thần, thực hành đạo đức của con người trong lộ trình sâu thẳm tìm về cõi tâm linh bí ẩn trong chính bản thân mình. Nó là điều cần thiết nhưng chưa đủ để giải thoát triệt để con người khỏi những nỗi khổ của cuộc đời.

Như vậy, Phật giáo, để thực sự là một tôn giáo - triết học không thể thiếu cho đời sống tâm linh của con ngườixã hội rất cần có sự phản tỉnh chính mình, tự điều chỉnh cả trong tư tưởnggiáo lý để có thể hoà nhập và thực hiện trọn vẹn khát vọng giải thoát của mình trong thế giới.

 

KẾT LUẬN

Phật giáo là một tôn giáo lớn, đồng thời cũng là một học thuyết mang đậm tính triết học với những lý giải sâu sắc những vấn đề liên quan đến bản thể luận và nhận thức luận. Những quan niệm về bản thể luận của triết học Phật giáo thể hiện được những nét đặc sắc tiêu biểu của tư tưởng phương đông: đó là tính biện chứng và những linh cảm trực giác tâm linh sâu sắc và thâm thuý khi luận bàn về sự tồn tại của thế giới cũng như những biến đổi khôn cùng trong nó.

Kinh Viên giác, Kinh Hoa nghiêmkinh Lăng nghiêm là những bộ kinh quan trọng trong kho tàng kinh điển của Phật giáo đại thừa. Những quan niệm bản thể luận của Phật giáo được thể hiện trong các bộ kinh này vừa như một sự giảng giải đầy thuyết phục về cái bản nguyên đầu tiên của vạn vật được nhận thức ra khi có tâm thanh tịnh và cách thức có thể trở về bản thể. Đó dường như là cuộc hành trình đi từ chính mình để tìm ra chính mình và trở về với chính mình. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, nhưng những quan niệm về bản thể luận của phật giáo đã có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của tư tưởng nhân loại trên con đường kiếm tìm những tri thức chân lý đúng đắn để phục vụ cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của con người cả trên phương diện vật chấtđời sống tâm linh.

Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, với những vấn đề xã hộitâm linh đang ngày càng phức tạp trong sự hưng thịnh của Phật giáo và một số tôn giáo khác càng cần những nghiên cứu nhiều hơn, sâu sắc hơn, khách quan hơn về những giá trịhạn chế của các tư tưởng tôn giáo để có thể khai thác khía cạnh tích cựchạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo nói chung và phật giáo nói riêng, góp phần cho sự ổn định và phát triển của đời sống xã hội.

Đó cũng chính là con đường để nhân loại tìm ra chính mình trong sự tồn tại hiện hữu một cách tích cực nhất.

 

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Đinh Quang Hổ (2016), Quan niệm về bản thể của Phật giáo qua Kinh Viên Giác, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo
Đinh Quang Hổ (2016), Quan niệm về Bản thể luận trong lịch sử triết học (241), tr. 20- 25,  Tạp chí Giáo dục lý luận 

Link gốc: http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/33897/1/02050004718%281%29.pdf 

Kính bạch thầy Quảng Tùng,

Luận án Tiến sĩ của thầy (bản PDF) lưu trữ tại thư viện đại học không được đầy đủ (chỉ có chương thứ nhất). Khi thầy đọc được tin này xin thày gửi nguyên bản PDF luận án ủa thầy về info@thuvienhoasen.org hay thuvienhoasen@gmail.com

Ban biên tập TVHS





Tạo bài viết
Vừa qua, được sự ủy nghiệm của Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới từ ngày 08 tháng 7 đến 15 tháng 7 năm 2018 tại Như Lai Thiền Tự, San Diego đã trang nghiêm tổ chức khóa An Cư Kiết Hạ 2018 với gần 200 Chư Tôn Đức Tăng –Ni đến từ các truyền thống Phật giáo trở về cấm túc an cư tu học.
Chùa Hương Sen hôm cuối tuần đã nhận một món quà tặng quý giá: 120 thùng sách Phật học. Đó là toàn bộ thư viện Phật học của Cư sĩ Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả lưu giữ trong nhiều thập niên tu học, hoạt động.
Khi 12 chàng trai trẻ Thái Lan bị mắc kẹt trong một hang động và được giải cứu từng người một được phát hiện đầu tiên bởi các thợ lặn người Anh cách đây một tuần, được báo cáo là đang thiền định.